Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ ĐẾN QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 62 85 01 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN THANH TRÀ
2 PGS.TS HỒ THỊ LAM TRÀ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những tư liệu được sử dụng trong Luận án có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Ban Quản lý đào tạo, Khoa Tài nguyên và Môi trường (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội); UBND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; tập thể và cá nhân những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trong và ngoài ngành Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
PGS.TS Nguyễn Thanh Trà, Trưởng bộ môn Quản lý đất đai, Khoa Tài nguyên và Môi trường; PGS.TS Hồ Thị Lam Trà, bộ môn Quản lý đất đai, Khoa Tài nguyên và Môi trường (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội); những người Thầy hướng dẫn hết mực nhiệt tình, làm việc với tinh thần chu đáo, trách nhiệm cao, đã chỉ dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận án
Các thầy giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý đào tạo (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã giúp đỡ tôi rất nhiều và đóng góp những
ý kiến quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận án
Lãnh đạo và cán bộ, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh; UBND huyện Quế Võ đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập thông tin, số liệu để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu
Tập thể lãnh đạo và các thầy, cô Khoa Quản lý đất đai (Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội), anh Chu Phúc Thi, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi, cũng như hỗ trợ, động viên tôi thực hiện đề tài nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn về tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 41.1.3 Nội dung công nghiệp hoá ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 16 1.2 Kinh nghiệm công nghiệp hóa ở một số nước đang phát triển
1.2.4 Một số bài học từ quá trình công nghiệp hoá ở các nước trong
1.3 Tình hình thực hiện công nghiệp hóa ở nước ta 34 1.3.1 Những thành tựu chủ yếu của quá trình công nghiệp hóa 34
Trang 51.3.2 Những hạn chế chủ yếu của quá trình công nghiệp hóa 36 1.4 Tác động của công nghiệp hóa đến kinh tế, xã hội và môi trường
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 49 2.1.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 49 2.1.3 Đánh giá thực trạng quá trình công nghiệp hóa huyện Quế Võ,
2.1.4 Tác động của quá trình công nghiệp hóa đến quản lý, sử dụng đất
2.1.5 Tác động của quá trình công nghiệp hóa đến đời sống người dân
2.1.6 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất
nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân trong quá trình
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu 50
2.2.4 Phương pháp lấy mẫu phân tích môi trường 55
2.2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 59
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 60
Trang 63.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 64 3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 73
3.4.1 Tác động của quá trình công nghiệp hóa đến quản lý đất nông nghiệp 92 3.4.2 Tác động của quá trình công nghiệp hoá đến sử dụng đất nông nghiệp 103 3.5 Tác động của quá trình công nghiệp hóa đến đời sống của người dân 120 3.5.1 Tác động của công nghiệp hóa đến thu nhập, việc làm của người dân 120 3.5.2 Tác động của công nghiệp hóa đến đời sống xã hội 130 3.5.3 Tác động của công nghiệp hóa đến môi trường sống của người dân 139 3.6 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất
nông nghiệp, nâng cao đời sống của người dân trong quá trình
Danh mục công trình đã công bố có liên quan đến luận án 159
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CN - TTCN công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.3 Tổng hợp phân loại nhóm hộ điều tra, phỏng vấn 54
3.1 Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh huyện Quế Võ 63 3.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện giai đoạn 2000 – 2010 66 3.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 67 3.4 Tình hình dân số huyện Quế Võ giai đoạn 2000 - 2010 70 3.5 Thực trạng lao động huyện Quế Võ giai đoạn 2000 - 2010 72
3.7 Diện tích các loại đất thu hồi để chuyển mục đích sử dụng 77 3.8 Tình hình công nghiệp hoá trên địa bàn huyện Quế Võ 80 3.9 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 81 3.10 Tỷ trọng các ngành kinh tế công nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 81
3.13 Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các khu, cụm công nghiệp 89 3.14 Một số chỉ tiêu về sản xuất công nghiệp 90 3.15 Kết quả ban hành văn bản dưới luật về quản lý đất đai trung bình
Trang 93.18 Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế năm 2010 101 3.19 Quy mô sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình 103 3.20 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp đến năm 2010 104 3.21 Biến động đất nông nghiệp trong giai đoạn 2000 - 2010 108 3.22 Bình quân diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000-2010 109 3.23 Tổng hợp chỉ tiêu bình quân đất nông nghiệp 110 3.24 Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi để xây dựng các khu, cụm công
3.25 Tổng hợp diện tích đất thu hồi để xây dựng một số dự án, công
3.26 Tỷ lệ số hộ, diện tích bị thu hồi theo tiểu vùng 112
3.28 Diện tích, năng suất, sản lượng, tỷ lệ sử dụng sản phẩm của một
3.29 Một số chỉ tiêu chủ yếu của trang trại năm 2010 119 3.30 Thu nhập bình quân của hộ gia đình giai đoạn 2000-2010 121 3.31 Tỷ lệ các mức thu nhập của hộ gia đình theo tiểu vùng 122 3.32 Sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất 123 3.33 Tổng hợp các hình thức sử dụng tiền bồi thường 124 3.34 Nguồn thu nhập của các hộ gia đình giai đoạn 2000-2010 125 3.35 Tổng hợp các hình thức hỗ trợ cho người bị thu hồi đất 126 3.36 Kết quả đào tạo nghề và giải quyết việc làm 127 3.37 Thông tin về lao động nông nghiệp tại các tiểu vùng 128 3.38 Tổng hợp việc làm của người lao động giai đoạn 2000-2010 129 3.39 Các kiểu kiến trúc nhà ở trước và sau khi bị thu hồi đất 130 3.40 Các loại tài sản trong gia đình người nông dân bị thu hồi đất 132
Trang 103.41 Số lượng các công trình cơ sở hạ tầng xã hội tại các khu dân cư
3.42 So sánh số lượng các công trình cơ sở hạ tầng giai đoạn 2000 -
3.43 Tổng hợp đánh giá cơ sở hạ tầng tại địa phương 136 3.44 Số người nhiễm các tệ nạn xã hội năm 2010 138 3.45 Kết quả phân tích nước thải tại các khu, cụm công nghiệp 140
3.47 Kết quả phân tích chất lượng không khí xung quanh khu, cụm
3.48 Kết quả phân tích chất lượng không khí xung quanh khu vực dân cư 145
Trang 112.2 Sơ đồ vị trí các điểm lấy mẫu phân tích môi trường 57 3.1 Biểu đồ cơ cấu lao động phân theo ngành năm 2010 71 3.2 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất khu, cụm công nghiệp 86 3.3 Biểu đồ số lượng dự án và diện tích khu, cụm công nghiệp huyện
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá VI 1986) đã đề ra đường lối: “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chuyển từ cơ chế
(12-kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã thông qua
"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" Cương lĩnh đã xác định, mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam (1996), đã xác định “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”, “mục tiêu của công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có
cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (6/2011) đã thông qua
"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (bổ sung sửa đổi 2011); Cương lĩnh đã xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Trang 13Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư (Hội nghị BCH TW Ðảng lần thứ 7 (Khóa X) "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn", đã xác định mục tiêu tổng quát
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Trong quá trình đổi mới từ 1986 đến nay, nước ta đã chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cùng với việc từng bước xác lập thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng các lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nền kinh tế Việt Nam
đã có bước phát triển vượt bậc, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được cải thiện, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao
Tuy nhiên, bên cạnh những khu công nghiệp (KCN), đô thị mới hình thành khang trang và hiện đại, phần lớn khu vực nông thôn vẫn còn trong tình trạng kém phát triển cả về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, điều kiện sản xuất, sinh hoạt còn thiếu thốn, tỉ lệ hộ thu nhập thấp khá cao, môi trường bị ô nhiễm, nhiều bệnh tật phát sinh ảnh hưởng đến sức khoẻ của dân cư và sự phát triển bền vững của nông thôn
Trong quá trình CNH, một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển mục đích để đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng, công nghiệp và đô thị là điều không tránh khỏi Hậu quả là người nông dân bị mất đất sản xuất, thiếu việc
Trang 14làm Các KCN chưa thu hút được nhiều lao động nông nghiệp tại địa phương, đặc biệt là lao động từ các hộ gia đình bị thu hồi đất Vì vậy, theo những quan điểm hiện nay, để quá trình CNH thành công, hay nói rộng hơn là để phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, cần nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng CNH ở các khu vực nông thôn, tạo điều kiện người dân tham gia vào quá trình phát triển, đặc biệt các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm của họ như quản lý, quy hoạch, giải phóng mặt bằng và tái định cư Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Đồng bằng sông Hồng, có tốc độ CNH cao, trong đó Quế Võ là một huyện điển hình Quế Võ có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 1 thị trấn và 20 xã, với tổng diện tích tự nhiên: 15.484,82 ha; và tổng dân số là 139.525 người (Cục Thống
kê Bắc Ninh, 2010) Trong những năm qua, tốc độ CNH trên địa bàn huyện diễn ra với tốc cao Các KCN trên địa bàn huyện đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thu hút việc làm Tuy nhiên quá trình này cũng làm mất diện tích đất nông nghiệp đáng kể, điển hình là các xã nằm trên trục Quốc lộ 18, nơi tốc độ CNH cao, sự hình thành của KCN Quế Võ đã ảnh hưởng đến quá trình quản
lý, sử dụng đất nông nghiệp cũng như đời sống người dân nông thôn
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu tác động của quá trình công nghiệp hoá đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh"
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng và tác động của quá trình CNH đến tình hình quản
lý, sử dụng đất và đời sống của người dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý,
sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình CNH, góp phần nâng cao đời sống người dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần đóng góp xây dựng cơ sở khoa học về
Trang 15đánh giá tác động của quá trình CNH đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
và đời sống, việc làm của người dân
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất chính sách tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống người nông dân cho huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và các địa phương có điều kiện tương tự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình CNH;
- Các yếu tố về kinh tế xã hội liên quan đến đời sống người dân trong quá trình CNH
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: Các xã, thị trấn thuộc huyện Quế Võ sau khi đã thực hiện Nghị định số 60/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Yên Phong, huyện Quế Võ, huyện Tiên Du
để mở rộng thành phố Bắc Ninh;
- Thời gian: các đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn 2000 - 2010
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã chỉ ra được các tác động tích cực và tiêu cực của quá trình CNH đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân huyện Quế Võ, từ đó rút ra một số quy luật về tác động của quá trình CNH đến tam nông tại các địa bàn thuần nông đang thực hiện CNH nhanh Các quy luật đó bao gồm:
- Đất nông nghiệp giảm nhiều nhưng diện tích đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp tăng Có hiện tượng thiếu lao động nông nghiệp, nông dân giảm đầu tư, tự chuyển đổi nghề nghiệp, chỉ còn lao động lớn tuổi làm nông nghiệp nên sản xuất kém hiệu quả Như vậy, các huyện thuần nông thực hiện CNH sẽ đối mặt với vấn đề xã hội là dân cư nông thôn già hóa nhanh hơn, chính sách xã hội cần hoạch định phù hợp với quy luật tác động này
Trang 16- CNH giúp nâng cao mức sống ở nông thôn theo phong cách đô thị
là biểu hiện tích cực, nhưng nâng cao mức sống mà mất sinh kế do mất đất
là biểu hiện tiêu cực Các doanh nghiệp được thuê đất chỉ hỗ trợ người dân
bị thu hồi đất chứ chưa hỗ trợ được khu vực nông thôn Khu dân cư nông thôn có phong cách sống đô thị làm nông nghiệp là phương thức canh tác mới trên cơ sở công nghệ cao và đòi hỏi nhiều động lực
Từ những quy luật tác động trên, đề xuất một số giải pháp mới có thể
áp dụng cho các địa phương phát triển CNH nhanh trong hoàn cảnh là một huyện thuần nông tương tự Quế Võ
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những vấn đề cơ bản về công nghiệp hóa
1.1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp hóa
1.1.1.1 Khái quát về lịch sử phát triển của nhân loại
Lịch sử phát triển của nhân loại gắn liền với công cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng nguồn năng lượng hóa thạch và các sản phẩm sinh học cho con người Khai khẩn đất đai mở mang diện tích canh tác là mục tiêu hàng đầu của con người trong cuộc đấu tranh này
Theo ATofler lịch sử nhân loại đã trải qua 3 làn sóng Văn minh:
- Làn sóng thứ nhất: Chỉ ra cuộc cách mạng nông nghiệp cách đây hàng vạn năm như một đột biến căn bản trong lịch sử loài người khi người cổ đại chuyển từ “săn bắt, hái lượm” sang “trồng trọt và chăn nuôi”, đã mở ra một thời đại mới với sụ xuất hiện của nền Văn minh Nông nghiệp Cách mạng nông nghiệp như một đột biến căn bản trong lịch sử loài người, từ các nền Văn minh thế giới đã
ra đời: Ai Cập - Thiên niên kỷ (TNK) thứ IV trước Công nguyên (TCN); Hy lạp (TNK thứ III TCN); La Mã (TNK thứ II, III TCN); Lưỡng Hà (TNK thứ III TCN); Andes ở Nam Mỹ (TNK thứ III TCN); Ấn Độ (TNK thứ III TCN); Trung Hoa (TNK thứ III, IV TCN) (Almanach, 1997), Việt Nam - nền Văn minh Lúa nước (TNK thứ IV,V TCN); Maya (thế kỷ I SCN)
- Làn sóng thứ hai: chỉ ra 2 cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
và lần thứ hai (từ cuối thế kỷ XVII đến những năm 50 của thế kỷ XX đã gây
ra nhiều đảo lộn lớn về kinh tế, xã hội loài người), việc phát minh ra động cơ hơi nước (năm 1770) đã mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới Tại các đô thị, than đá bắt đầu thay thế sức nước và trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng nhất của tài nguyên năng lượng Hầu như ở khắp mọi nơi (đặc
Trang 18biệt là ở châu Âu), cách mạng công nghiệp đã tràn ngập cấu trúc đô thị truyền thống với các sáng kiến cải tiến kỹ thuật Thế giới bước vào Thời đại Văn minh Công nghiệp
- Làn sóng thứ ba: Khởi đầu từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay, với cuộc cách mạng về khoa học, công nghệ mới (cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba), đã làm thay đổi cơ bản đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Sau chiến tranh thế giới thứ II, thời kỳ 1950-1970 các nước trên thế giới tập trung khôi phục phát triển kinh tế Nước Mỹ không chịu ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh, nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh với việc mở rộng quy mô sản xuất các trang trại, phát triển công nghiệp và đô thị; các nước châu Âu khôi phục công nghiệp và xây dựng lại các đô thị bị tàn phá trong chiến tranh (Đức, Anh, Pháp), các nước Đông Á khôi phục sản xuất nông nghiệp với việc tiến hành cải cách ruộng đất (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc) Đến những năm 70 của thế kỷ trước, kinh tế các nước đã hồi phục và bước vào thời kỳ phát triển hưng thịnh; tuy nhiên lại phải đương đầu với những thách thức mới của quá trình đô thị hoá với tốc độ cao (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2013) Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, năm
2000 dân cư của thế giới là 6.600 triệu người; trong số đó dân cư đô thị có 2.900 triệu người (chiếm 48%); dự báo vào năm 2030, dân cư đô thị sẽ là 5,0
tỷ, chiếm 60% dân số thế giới(Hammond World Attlas Corpoartion, 2010)
1.1.1.2 Khái quát về công nghiệp hóa
i) Phát triển kinh tế và công nghiệp hóa
Phạm trù trung tâm và tổng quát diễn tả sự chuyển biến cách mạng trong tiến trình kinh tế, xã hội của nhân loại là phạm trù phát triển kinh tế CNH với tính cách là sự thay đổi triệt để trong nội dung vật chất của nền kinh
tế trong bước chuyển từ kinh tế kém phát triển thành kinh tế phát triển
Trang 19Phát triển kinh tế là một khái niệm đặc thù của của lĩnh vực kinh tế, dùng để chỉ bước chuyển cách mạng từ kinh tế tiểu nông, kém phát triển thành kinh tế công nghiệp phát triển
Theo quan điểm của K Marx: “Xuất phát từ nguyên lý duy vật lịch sử xem xét sự vận động, phát triển của xã hội là sự thay thế nhau của phương thức sản xuất, của hình thái kinh tế, xã hội” K Marx chia xã hội thành 5 phương thức sản xuất, 5 hình thái kinh tế, xã hội hay 5 thời đại gồm: nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Theo kinh tế học phát triển: căn cứ vào trình độ kinh tế, chia thế giới loài người thành hai thế giới, thế giới của các nước phát triển và thế giới của các nước kém phát triển (chưa hay chậm phát triển) “Phát triển kinh tế với với tính cách là một phạm trù lịch sử, là quá trình chuyển nền kinh tế với chỉnh thế nông nghiệp thành kinh tế phát triển với chỉnh thể công nghiệp” (Lê Cao Đàm, 2009)
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện, với những bước chuyển biến có tính quy luật của nó, tất yếu đưa sản xuất dựa trên kỹ thuật thủ công lên hiện đại, công nghiệp đại cơ khí Vì vậy, đặc trưng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá với trình độ khoa học - kỹ thuật cao Đối với những nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một trong những nhiệm vụ kinh
tế to lớn và là một yêu cầu khách quan Bởi vì, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ ngày càng cao hơn, hiện đại hơn Điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ, những yếu tố của tư liệu sản xuất được cơ khí hoá và ngày càng HĐH, mà còn ở trình độ công nghệ tiên tiến và thường xuyên đổi mới (Nguyễn Xuân Dũng, 2003)
ii) Công nghiêp hóa là quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước trong quá trình phát triển
Trang 20Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại là quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước trong quá trình phát triển CNH chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về CNH:
* Quan điểm đơn giản nhất cho rằng: CNH là đưa tính đặc thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy, các loại hình công nghiệp
Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử CNH của các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Theo quan điểm này, có những điểm chưa hợp lý vì: nội dung quan niệm này gần như đồng nhất quá trình CNH với quá trình phát triển công nghiệp; không thể hiện được tính lịch sử của qúa trình CNH; không thể hiện được mục tiêu của quá trình CNH Vì vậy quan niệm này
ít được vận dụng trong thực tiễn (Đặng Kim Sơn, 2001)
* Quan điểm của Liên Xô (cũ) và các nước XHCN trước đây thì khi tiến hành CNH là nhấn mạnh pháp triển công nghiệp nặng
Quan điểm này thường nhấn mạnh vào phát triển công nghiệp nặng, cho rằng CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với trung tâm là chế tạo máy Với quan điểm như vậy, công nghiệp nặng có vai trò đặc biệt quan trọng và trong một chừng mực nhất định nó phù hợp với hoàn cảnh Liên Xô khi bước vào thời kỳ CNH: chủ nghĩa đế quốc bao vây, chống đối, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, trong khi yêu cầu phải xây dựng một nền sản xuất lớn, hiện đại và bảo vệ Chủ nghĩa xã hội (Đặng Kim Sơn, 2001)
* Quan điểm của tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) về CNH:
Trang 21Năm 1963, UNIDO đã đưa ra khái niệm: CNH là quá trình phát triển kinh tế Trong quá trình này, một bộ phận nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận công nghiệp chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế -xã hội (Đỗ Hoài Nam, 2004)
Với quan điểm này, CNH không chỉ là quá trình phát triển nền kinh tế dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ hiện đại mà còn là quá trình phát triển, đảm bảo tạo ra cơ cấu sản phẩm vật chất, bao gồm các điều kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt, đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội
* Quan điểm về CNH ở Việt Nam
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, CNH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
1.1.2 Đường lối công nghiệp hóa ở Việt Nam
1.1.2.1 Chủ trương, đường lối của Đảng về công nghiệp hóa
i) Thời kỳ trước năm 1986
Đường lối CNH đất nước đã được hình thành từ Đại hội III (tháng 1960) của Đảng Quá trình CNH của nước ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều Như vậy, trước thời kỳ đổi mới, nước ta có trên 25 năm tiến hành CNH theo 2 giai đoạn: từ 1960 đến 1975 CNH ở miền Bắc và từ 1975 - 1985 CNH trên phạm
Trang 229-vi cả nước, hai giai đoạn này có mục tiêu, phương hướng rõ rệt Tuy nhiên, trên thực tế chính sách này vẫn không có nhiều thay đổi rõ rệt, còn có những sai lầm trong nhận thức và chủ trương CNH thời kỳ 1960-1985, mà trực tiếp
là 10 năm từ 1975 đến 1985
ii) Thời kỳ từ năm 1986 đến nay
a) Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá VI 1986) đã đề ra đường lối: “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chuyển từ cơ chế
(12-kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Đại hội VI đã cụ thể hóa nội dung chính của CNH XHCN trong chặng đường đầu tiên là thực hiện cho bằng được 3 chương trình lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu trong những năm còn lại trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ Ba chương trình này liên quan chặt chẽ với nhau Phát triển lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng là nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho đời sống nhân dân sau mấy chục năm chiến tranh ác liệt và trong bối cảnh của nền kinh tế còn đang trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, góp phần ổn định kinh tế, xã hội; phát triển hàng xuất khẩu là yếu tố quyết định để khuyến khích sản xuất và đầu tư trong nước, tạo nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất Xác định thứ tự ưu tiên đó đã cho phép phát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài để phát triển kinh tế xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986)
Thực chất, đây là sự thay đổi trong lựa chọn mô hình chiến lược CNH, chuyển từ mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu) trước đây bằng mô hình hỗn hợp (hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu) đang được áp dụng phổ biến và khá thành công tại các nước Châu Á lúc bấy giờ Như vậy, chính sách CNH của Đại hội VI đã:
Trang 23- Đưa ra một thứ tự ưu tiên mới: nông nghiệp - công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu - công nghiệp nặng
- Tạo một sự chuyển biến quan trọng cả về quan điểm nhận thức cũng như tổ chức chỉ đạo thực hiện CNH đất nước Đó là sự chuyển biến hướng chiến lược CNH từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có
sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước; cơ chế khép kín sang cơ chế mở cửa kinh tế;
từ xây dựng ngay từ đầu một cơ cấu kinh tế đầy đủ, tự cấp tự túc sang cơ cấu
bổ sung kinh tế và hội nhập
- Mục tiêu “ưu tiên phát triển công nghiêp nặng” đã chuyển sang “lấy nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm” Từ đó dẫn đến sự đổi mới trong cơ cấu đầu tư: “Đầu tư có trọng điểm
và tập trung vào những mục tiêu và các ngành quan trọng, trước hết đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, cho chế biến nông sản và một số ngành công nghiệp nặng trực tiếp phục vụ 3 chương trình kinh
tế lớn” Phát huy nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986)
b) Đại hội VII (năm 1991) Đảng ta tiếp tục có những nhận thức mới, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về CNH gắn với HĐH
Đại hội đã xác định rõ vai trò “mặt trận hàng đầu” của nông nghiệp, và trên thực tế đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách đã tăng lên Đại hội đề cập đến lĩnh vực dịch vụ kinh tế - kỹ thuật trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốc tế; đưa ra chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung cả nước Thực hiện đường lối CNH của Đại hội VII, nền kinh tế đã có những bước phát triển cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực chất hơn so với nhiều năm trước (Đảng Cộng sản Việt Nam,1991)
c) Đại hội Đảng VIII (năm 1996) nhìn lại đất nước sau 10 năm đổi mới Đại hội đã nhận định: “Nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã
Trang 24hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền
đề cho CNH đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH đất nước Đại hội VIII đã điều chỉnh chính sách CNH theo hướng lấy nông nghiệp làm khâu đột phá, coi nông nghiệp kết hợp với công nghiệp chế biến là mặt trận hàng đầu Tiếp tục thực hiện rộng rãi hơn chính sách mở cửa, phát triển kinh tế nhiều thành phần, nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Gắn CNH với HĐH, lấy khoa học, công nghệ làm động lực, lấy nguồn lực con người làm yếu tố trung tâm của CNH, HĐH Đặt ra nội dung cụ thể của CNH trong những năm trước mắt (1996-2000) là
“đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996)
d) Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006)
Đảng ta tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới trong tư duy
về CNH Con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại qua hội nhập quốc tế để rút ngắn thời gian Tuy nhiên, tiến hành CNH theo lối rút ngắn so với các nước đi trước, chúng ta cần thực hiện các yêu cầu như: Phát triển kinh tế và công nghệ phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn CNH với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho CNH (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001)
Trang 25Hướng CNH ở nước ta là phải phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; CNH đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành CNH trong một nền kinh
tế mở, hướng ngoại; đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh CNH phải tính toán đến yêu cầu phát triển bền vững trong tương lai (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006)
1.1.2.2 Chủ trương, đường lối của Đảng về CNH nông nghiệp, nông thôn
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu để chuyển một nền nông nghiệp lạc hậu thành một nền nông nghiệp hiện đại Trên thế giới, quá trình này diễn ra và đã thành công ở nhiều nước Mấy thập kỷ gần đây, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở những nước công nghiệp mới (NICs) cũng được luận bàn, khái quát thành kinh nghiệm và
mô hình hấp dẫn Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, mạnh mún, lạc hậu Bởi vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta, cả trước mắt cũng như lâu dài, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, làm cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh công nông, đẩy nhanh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN Không thể đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong khi chưa thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Và đây cũng là khát vọng chính đáng của đông đảo đồng bào ở nông thôn và của cả dân tộc ta CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được hình thành và phát triển khá sớm trong quá trình đổi mới
Trang 26Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định: “Đặc biệt chú trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và Nghị quyết 06/NQ-TW của Bộ Chính trị khoá VIII tiếp tục khẳng định chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
Nghị quyết Đại hội Đảng khoá IX đã xác định cụ thể hơn về nội dung CNH, HĐH hoá nông nghiệp và nông thôn, Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX)
đã ra nghị quyết về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
2001 - 2010 Nhằm tạo ra sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân, Đại hội X của Đảng nêu rõ: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006)
Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được coi như “luồng gió mới” cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết nêu rõ: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh
tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008)
Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ đã thể chế hoá thành cơ chế, chính sách đã và đang được vận hành vào thực tiễn Các địa phương cũng đã tích cực triển khai thực hiện, bước đầu đã thu được một số kết quả Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình mới, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đang đứng trước nhiều thử thách lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp hữu hiệu hơn Mặt
Trang 27khác, về mặt lý luận cũng còn nhiều vấn đề cần được làm rõ, nhất là về nội dung, mô hình, bước đi, tổ chức thực hiện ở cả trung ương và địa phương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không đơn thuần là những vấn đề kinh
tế, kỹ thuật mà còn là những vấn đề xã hội nảy sinh khi thực hiện mặt kinh tế của CNH, HĐH (chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn) và có tác động trực tiếp đến nuôi dưỡng, bảo vệ, sử dụng, phát triển con người (trước hết và đông đảo là cư dân nông thôn, người nông dân)
Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo ra động lực mới để đưa kinh tế nông thôn phát triển lên một giai đoạn cao hơn và hướng tới một nền nông nghiệp bền vững là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ hiện nay Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là vấn đề thời sự, cấp bách, vừa có ý nghĩa trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài trong sự CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
1.1.3 Nội dung công nghiệp hoá ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.1.3.1 Thực hiện cuộc cách mạng khoa học, công nghệ để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
a) Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ ở nước ta hiện nay có thể khái quát gồm hai nội dung chủ yếu sau:
- Xây dựng thành công cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội để dựa vào đó mà trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân
- Tổ chức nghiên cứu, thu thập thông tin, phổ biến ứng dụng những thành tựu mới của khoa hoc, công nghệ hiện đại vào sản xuất, đời sống với những hình thức, bước đi, quy mô thích hợp
Trang 28b) Trong quá trình thực hiện cách mạng khoa học, công nghệ chúng ta cần chú ý:
- Ứng dụng những thành tựu mới, tiên tiến về khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, phục vụ CNH và từng bước phát triển nền kinh tế tri thức
- Sử dụng công nghệ mới gắn với yêu cầu tạo nhiều việc làm, tốn ít vốn, quay vòng nhanh, giữ được nghề truyền thống; kết hợp công nghệ cũ, công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại
- Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học, công nghệ
- Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp; ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, coi trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế, xã hội
1.1.3.2 Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội
a) Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tác phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới góc độ: cơ cấu ngành (như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ); cơ cấu vùng (các vùng kinh tế theo lãnh thổ)
và cơ cấu thành phần kinh tế Xây dựng một cơ cấu kinh tế được gọi là tối ưu khó đáp ứng được các yêu cầu sau:
i) Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh tế và xu hướng vận động phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
ii) Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng, công nghiệp và dịch vụ phải tăng dần về tỷ trọng
iii) Phù hợp với xu hướng tiến bộ của khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thế giới
Trang 29iv) Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế
v) Thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, do vậy, cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là "cơ cấu mở"
b) Tiến hành phân công lại lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa lao động, tức là chuyên môn hóa sản xuất giữa các ngành, trong nội bộ từng ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân Phân công lao động xã hội có tác dụng rất to lớn Nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệ và năng suất lao động; cùng với cách mạng khoa học và công nghệ, nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý Trong quá trình CNH, sự phân công lại lao động
xã hội phải tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau:
i) Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và
số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên
ii) Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội
iii) Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất (dịch vụ) tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất Ở nước ta, phương hướng phân công lại lao động xã hội hiện nay cần triển khai trên cả hai địa bàn: tại chỗ và nơi khác để phát triển về chiều rộng kết hợp phát triển theo chiều sâu (Đỗ Hoài Nam, 2004)
1.2 Kinh nghiệm công nghiệp hóa ở một số nước đang phát triển châu Á
Mấy thập kỷ qua, làn sóng CNH, HĐH diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển Do xuất phát điểm khi bước vào quá trình này có khác nhau
và những định hướng CNH, HĐH khác nhau nên CNH, HĐH có sự đa dạng
về quy mô và mô hình Lịch sử đã ghi nhận những thành công và thất bại của nhiều quốc gia trên thế giới trong CNH
Trang 301.2.1 Công nghiệp hoá ở Thái Lan
So với các nước đang phát triển ở châu Á như Nhật Bản hoặc các nước công nghiệp mới (NICs), Thái Lan là nước chậm phát triển về công nghiệp Tuy vậy, nước này đã nhận thức được tầm quan trọng của phát triển công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế, cũng như HĐH nền kinh tế
Trong suốt thập kỷ 60, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 10% Tuy vậy, chính sách CNH hướng nội ở Thái Lan cũng đã bộc lộ những hạn chế sau đây:
- Do công nghệ hạn chế, Thái Lan vẫn phải nhập máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất và nguyên liệu thô Điều này có nghĩa là chính sách thay thế nhập khẩu không đạt được mục đích đề ra mà chỉ làm thay đổi cơ cấu nhập khẩu
- Chính sách thay thế nhập khẩu còn tác động đến việc sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên trong nước do kỹ thuật lạc hậu và trình độ quản lý kinh
tế yếu kém, chi phí lao động cao, năng suất thấp
Trang 31- Thực hiện chiến lược này, nhà nước đã can thiệp quá sâu vào hoạt động của nền kinh tế và chính sách thay thế nhập khẩu làm cho công nghiệp trong nước phát triển chậm chạp, trì trệ do thiếu động lực cạnh tranh
đã có những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy tiến trình CNH như khuyến khích đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư trong nước, chính sách miễn thuế đối với hàng nhập khẩu và kinh doanh nguyên vật liệu và tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
Từ cuối thập kỷ 80, Thái Lan đã lấy CNH chất làm trọng tâm, chú ý đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, coi dầu tư nước ngoài là động lực để phát triển kinh tế Để thực hiện chiến lược CNH hướng về xuất khẩu, Thái Lan vừa chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực vừa nhập khẩu công nghệ mới từ Nhật Bản và phương Tây Thực tế cho thấy việc chuyển hướng chiến lược trong CNH đã mang lại những thành công đáng chú ý:
- Trong thập kỷ 70, tốc độ tăng trưởng GDP đạt khá cao trung bình 10%/ năm, từ 1980-1990 đạt 7,6%; 1991-1995 là 8,6%
- Từ 1987-1990, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp Thái Lan bình quân là 15% (Võ Đại Lược, 1999)
1.2.1.3 Giai đoạn 1990 – nay
Những năm đầu của thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan có chững lại nhưng tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn có xu hướng
Trang 32tăng Ngoại thương Thái Lan có xuất khẩu tăng nhanh, thu nhập quốc dân của Thái Lan cũng tăng nhanh đến năm 1998 đạt bình quân đầu người 2.450 USD Trong quá trình CNH, HĐH cơ cấu kinh tế của Thái Lan đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế có xu hướng giảm dần, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên
Sau hơn ba thập kỷ phát triển nhanh chóng, kinh tế Thái Lan đã bộc lộ những hạn chế Đó là sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài
và công nghệ nhập khẩu Trong phát triển, có tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa quy mô đầu tư và khả năng tài chính Tình trạng quá nóng của nền kinh tế, đặc biệt từ giữa thập kỷ 90, khiến nợ nước ngoài của Thái Lan gia tăng Trong hoàn cảnh ấy, vai trò điều tiết, kiểm soát của hệ thống tài chính, ngân hàng trong đầu tư và cung ứng tiền tệ bộc lộ nhiều yếu kém Đó chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan
và lan rộng sang các nước Đông Nam Á và Đông Á vừa qua Đối phó với tình hình ấy, Thái Lan buộc phải thực hiện điều chỉnh chiến lược công nghiệp hoá Chính vì vậy từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, Thái Lan đã xây dựng
mô hình CHN lấy thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Có thể nhận thấy sự kết hợp khéo léo giữa mục tiêu CNH và thu hút đầu
tư nước ngoài tại Thái Lan Chính sách thu hút FDI của Thái Lan rất năng động, liên tục được điều chỉnh để thích nghi với từng thời kỳ phát triển đất nước Điểm nổi bật của chính sách này là thông thoáng và bộ máy thực hiện rất có hiệu quả Thái Lan luôn xác định nước thu hút đầu tư trọng điểm, từ đó, xây dựng các bộ phận chuyên trách riêng biệt cho từng nguồn xuất xứ của nhà đầu tư Chính sự chuyên môn hóa và tổ chức này đã đáp ứng nhu cầu cụ thể của các nhà đầu tư nước ngoài có quốc tịch khác nhau, giúp cho Thái Lan thành công trong mục tiêu xây dựng một nước CNH của Châu Á (Ngô Đăng Thành, 2009)
Trang 331.2.2 Công nghiệp hoá ở Đài Loan
CNH ở Đài Loan được tiến hành trong điều kiện rất khó khăn cả về điều kiện trong nước và ngoài nước, không chỉ do nguồn tài nguyên hạn hẹp, trình độ kinh tế nói chung còn thấp kém, mà còn do ảnh hưởng của bối cảnh chính trị đặc biệt của hòn đảo này Về đối ngoại, Đài Loan không được sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế Thêm vào đó, Đài Loan luôn đứng trước khả năng phải đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng Đài Loan thống nhất đất nước của chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Điều đó càng làm cho tình hình Đài Loan bất ổn định, lòng dân không yên, công nghiệp hoá gặp thêm nhiều trở ngại Quá trình CNH, HĐH ở Đài Loan có thể chia làm 3 giai đoạn (Nguyễn Trung Nghĩa, 2004)
1.2.2.1 Giai đoạn thứ nhất (1953-1964):
Giai đoạn này tương ứng với 3 kế hoạch 4 năm phát triển kinh tế của
Đài Loan: 1953-1956, 1957-1960 và 1961-1964, thực hiện chiến lược hướng nội Mục tiêu chiến lược của Đài Loan giai đoạn này là phát triển công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân như ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, giải trí… Do vậy, CNH ở giai đoạn 1953-1964, thay thế nhập khẩu được coi
là nhiệm vụ trọng tâm Trong giai đoạn này, Đài Loan một mặt chủ trương phát triển các ngành sản xuất trong nước nhằm thay thế những sản phẩm nhập khẩu trước đây; mặt khác, đưa ra một loạt các biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu những mặt hàng tự sản xuất được
Chính quyền Đài Loan còn áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ công nghiệp nội địa như miễn giảm thuế kinh doanh, cho vay với lãi suất thấp và các khoản trợ cấp khác Nhà nước đã có một loạt các biện pháp khẩn cấp để trấn
an lòng dân, ổn định kinh tế, tạo điều kiện để bước vào CNH Các biện pháp chủ yếu bao gồm:
- Chú trọng phát triển nông nghiệp: Ý thức được lợi thế vốn có của
Trang 34mình là nông nghiệp, Đài Loan đã tập trung cho lĩnh vực này Biện pháp cốt lõi để phát triển nông nghiệp giai đoạn 1950-1952 là cải cách ruộng đất Cải cách ruộng đất 1950-1952 không chỉ đem lại ruộng đất cho người nông dân
mà quan trọng hơn, nó kích thích sản xuất trong nông nghiệp, tạo nguồn nguyên liệu ổn định và có tích luỹ ban đầu đầu tư cho CNH
- Ổn định tài chính, kinh tế: Trong điều kiện lạm phát phi mã, không một nhà đầu tư nào dám bỏ vốn vào dự án công nghiệp Do vậy, Đài Loan rất chú trọng ổn định tài chính Để triển khai có hiệu quả biện pháp này, chính phủ Đài Loan đã thành lập "Uỷ ban quản lý sản xuất khu vực", thông qua cải cách tiền tệ để ngăn chặn lạm phát, tăng cường quản lý ngoại tệ, khôi phục các cơ sở công nghiệp…
- Tận dụng lợi thế địa lý - chính trị của mình trong quan hệ với Mỹ: Đài Loan rất chú trọng tranh thủ sự viện trợ và giúp đỡ của Mỹ và các nước phương Tây
Nhờ áp dụng các biện pháp tích cực nêu trên và huy động mọi nỗ lực của toàn xã hội, đến cuối năm 1952, nền kinh tế Đài Loan đã được khôi phục, đạt mức cao nhất trước chiến tranh Những kết quả nói trên tạo thuận lợi để Đài Loan bước vào quá trình CNH, HĐH Chiến lược CNH thay thế nhập khẩu với các biện pháp tích cực đã đem lại cho Đài Loan một số kết quả nhất định Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển công nghiệp của Đài Loan là giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 1956 đã bắt đầu vượt giá trị sản xuất nông nghiệp trong GDP Về mặt kinh tế - xã hội, chiến lược CNH thay thế nhập khẩu cũng có tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp và đời sống nông thôn Ngoài việc cung cấp các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, các ngành công nghiệp còn thu hút một lượng không nhỏ lao động dư thừa ở nông thôn, giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp, thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân
Trang 35Tuy nhiên, chiến lược CNH thay thế nhập khẩu kể từ đầu thập kỷ 60 cũng đã bộc lộ các mặt hạn chế của nó, sản phẩm công nghiệp của Đài Loan không có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, còn lại thị trường trong nước, sức mua của người dân rất hạn chế do thu nhập còn thấp Trong khi đó, việc nhập khẩu các nguyên liệu, thiết bị cần thiết cho CNH vẫn tiếp tục tăng lên khiến thâm hụt mậu dịch, thâm hụt ngoại tệ vẫn tiếp tục tăng Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ CNH Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp bắt đầu giảm dần Để thoát khỏi tình thế bất lợi này và tìm kiếm con đường phát triển cho Đài Loan, chính phủ và các nhà kinh tế, giới kinh doanh của hòn đảo này đã chuyển chiến lược CNH thay thế nhập khẩu sang CNH hướng về xuất khẩu (Đặng Kim Sơn, 2001)
1.2.2.2 Giai đoạn thứ 2 (1963-1970):
Triển khai chiến lược CNH về xuất khẩu, Đài Loan đã thực hiện một bước thay đổi căn bản về chiến lược phát triển, về quy chế và quản lý kinh tế, thông qua một loạt cải cách quan trọng như: Áp dụng chế độ một tỷ giá hối đoái; áp dụng nhiều biện pháp ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng phục vụ xuất khẩu Ngoài các nỗ lực huy động nguồn lực bên trong, Đài Loan ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút vốn và công nghệ từ bên ngoài Phương châm đề ra trong giai đoạn này là: "xuất khẩu để nhập khẩu", "nhập khẩu để thúc đẩy xuất khẩu" Do đó, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng Đài Loan đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 18,5% Điều quan trọng hơn là tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng lên đáng kể, đạt 41,3%, nông nghiệp đã giảm tương đối, chỉ còn 15,5%
Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Đài Loan GDP của Đài Loan giai đoạn này luôn tăng trung bình
là 10,1%/năm (Nguyễn Trung Nghĩa, 2004)
Trang 361.2.2.3 Giai đoạn thứ 3 (1974 đến nay):
Giai đoạn này Đài Loan tiếp tục CNH, song có một bước đầu chỉnh
quan trọng về cơ cấu ngành nghề, trong đó ưu tiên hàng đầu là tập trung phát triển các ngành công nghiệp cơ bản có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, tuy nhiên vẫn duy trì chính sách phát triển các ngành công nghiệp nhẹ hướng ra xuất khẩu CNH của Đài Loan giai đoạn này tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nâng cấp, cải tiến các trang thiết bị ở các ngành công nghiệp nhẹ nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, giảm nguyên liệu,
hạ giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
- Tăng cường đầu tư ra nước ngoài, đồng thời chuyển giao công nghệ, dùng nhiều lao động sang một số nước đang phát triển khác ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương
- Tập trung nghiên cứu, triển khai và nhập khẩu những dây chuyền công nghệ mới, đầu tư cho những ngành công nghiệp mới có triển vọng sáng sủa hơn, trong đó có các ngành tiêu biểu cho cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại như vi điện tử, máy tính, bán dẫn…
- Đẩy mạnh xây dựng các công trình công cộng và xí nghiệp công nghiệp có quy mô lớn
Nhờ sự chuyển hướng kịp thời, trong các kế hoạch 4 năm ở giai đoạn này: kế hoạch 4 năm lần thứ 6 (1973-1976), lần thứ 7 (1977-1980), lần thứ 8 (1981-1984), kế hoạch 6 năm (1985-1990) và kế hoạch 6 năm (1991-1996) kinh
tế Đài Loan không những giữ được tốc độ tăng trưởng cao, công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hoá với các sản phẩm có hàm lượng khoa học cao
Trong vòng 17 năm (1973-1990), sản xuất công nghiệp của Đài Loan vẫn tăng trung bình là 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến tăng gần 9%
Trang 37Tỷ trọng hàng xuất khẩu có hàm lượng khoa học cao ngày càng tăng Nếu năm 1976 loại hàng hoá này mới chỉ chiếm gần 11% tổng kim ngạch xuất khẩu thì có bước thay đổi căn bản
Trong giai đoạn 1991-1996, tăng trưởng công nghiệp Đài Loan đạt 9,9%/năm, công nghệ thông tin với những sản phẩm xuất khẩu năm 1994 xếp thứ 4 sau Mỹ, Nhật, Đức; công nghiệp đóng tàu vận tải đứng thứ 5 thế giới… Nhìn chung, sau gần 5 thập kỷ kể từ năm 1953, Đài Loan đã khôi phục kinh tế sau chiến tranh và quá trình CNH đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu đặt ra Quá trình CNH thành công tạo điều kiện cho Đài Loan giải quyết tốt các vấn đề xã hội, trong đó có việc nâng cao mức sống của người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Tất cả các thành tựu đạt được của Đài Loan đã tạo tiền đề cho sự đầu tư phát triển theo chiều sâu, để tiếp tục phát triển trong thiên niên kỷ mới
Tuy vậy, CNH ở Đài Loan cũng bộc lộ không ít yếu kém Sự can thiệp quá nhiều của Chính phủ đã tạo ra một khu vực tài chính khá lạc hậu và một nền công nghiệp thiếu các doanh nghiệp qui mô lớn có khả năng cạnh tranh quốc tế Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại quốc tế thì việc cải tổ cơ cấu kinh tế, tiếp tục HĐH nền kinh tế đặt ra nhiều vấn đề mà Đài Loan cần giải quyết Thực tế cho thấy, một số lợi thế phát triển mà Đài Loan có được trước đây đến nay đã giảm, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế có sự hẫng hụt về vấn đề công nghệ, kỹ thuật và nguồn nhân lực trong phát triển công nghệ cao Đài Loan vốn
có truyền thống tập trung vào công nghiệp chế tạo, chưa chú trọng nhiều đến dịch vụ và nghiên cứu triển khai Hiện nay Đài Loan chi tiêu khoảng 1,8% GDP cho nghiên cứu triển khai, thấp hơn nhiều so với tỷ trọng tương ứng của nền kinh
tế tiên tiến Điều đó cho thấy, Đài Loan cần đầu tư nhiều hơn cho phát triển công nghệ và nghiên cứu triển khai muốn duy trì sức mạnh cho nền kinh tế dựa trên tri thức mới (Ngô Đăng Thành, 2009)
Trang 381.2.3 Công nghiệp hoá ở Malaysia
Khi mới giành được độc lập, nền kinh tế Malaysia ở trong tình trạng thấp kém Cơ cấu kinh tế rất mất cân đối, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, năm 1960 nông nghiệp chiếm 34,6% GDP Nông nghiệp trong tình trạng độc canh, trồng trọt chủ yếu là cây cao su nên Malaysia vẫn phải nhập khẩu lương thực (năm 1961 phải nhập 2/3 lượng lương thực tiêu dùng trong nước) Công nghiệp còn rất nhỏ bé, sản lượng công nghiệp chế tạo năm 1961 chỉ chiếm 8,5% GNP, công nghiệp khai thác chiếm 5,9% GNP (Nguyễn Trọng Nghĩa, 2004) Giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp hầu như không có quan hệ tác động qua lại Hoạt động xuất khẩu của Malaysia đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhưng lại lệ thuộc vào tư bản nước ngoài, mà chủ yếu là tư bản Anh Nguồn cao su và thiếc chiếm 80% giá trị xuất khẩu của nước này Đứng trước thực trạng kinh tế khó khăn, Malaysia lựa chọn con đường CNH đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Quá trình CNH, HĐH ở Malaysia trải qua 3 giai đoạn chủ yếu sau:
1.2.3.1 Giai đoạn thay thế nhập khẩu và lấy nông nghiệp là ngành phát triển chủ đạo (1961-1970)
Khác với một số nước đang phát triển tiến hành CNH lấy công nghiệp
làm trọng tâm, sau khi giành độc lập Malaysia tiến CNH lấy nông nghiệp là ngành chủ đạo
Thời kỳ này Malaysia thực hiện các kế hoạch 5 năm (1961-1965) và (1966-1970) Mục tiêu CNH giai đoạn này là tăng nhanh sản lượng lương thực và đa dạng hoá các mặt hàng nông sản xuất khẩu, đồng thời nâng cao trình độ của ngành chế biến nguyên liệu xuất khẩu và xây dựng các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu Do vậy, nhà nước đã giành 50% ngân sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp, đồng thời đầu tư cho một số dự án phát
Trang 39triển công nghiệp, chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn
và xây dựng các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh để sơ chế nông phẩm Chương trình tập trung đầu tư cho nông nghiệp đã mang lại nhiều thành công, mức tăng trưởng hàng năm của nông nghiệp là 5,5% cao nhất ở châu Á trong thập niên 60 Đến năm 1970, Malaysia đã tự túc được 81% nhu cầu lương thực trong nước (Nguyễn Thị Luyến, 1998)
Trong lĩnh vực công nghiệp, Malaysia đã tạo ra hàng loạt doanh nghiệp sản xuất thay thế nhập khẩu như dệt, may, chế biến gỗ và một số loại máy móc
Từ năm 1961-1970, sản lượng công nghiệp đã tăng 2 lần bình quân hàng năm tăng 13,5% Cũng trong thời kỳ này, tỷ trọng của sản phẩm gỗ, dầu cọ tăng từ 5,4% và 1,7% lên 16,5% và 5,1% Thu nhập bình quân đầu người hàng năm liên tục tăng đạt trung bình gần 7%/năm (Nguyễn Thị Luyến, 1998)
1.2.3.2 Giai đoạn đa dạng hoá kinh tế và chiến lược hướng về xuất khẩu (1971-1985)
Trong 3 kế hoạch 5 năm 1971-1975, 1976-1980 và 1981-1985, Malaysia chủ trương xây dựng công nghiệp đa dạng với công nghiệp chế tạo được ưu tiên phát triển Nhà nước còn chú trọng xây dựng các ngành công nghiệp nặng như chế biến dầu mỏ, luyện kim và mở rộng các cơ sở chế biến xuất khẩu Vào thời kỳ này, các doanh nghiệp cũng chú trọng hướng về xuấtkhẩu do thị trường nội địa bị giới hạn Do đó, tỷ trọng hàng xuất khẩu đã tăng từ 11,9% năm 1970 lên 21,7% năm 1980 Đồng thời Malaysia cũng đẩy mạnh đầu tư vào ngành khai thác và chế biến dầu mỏ nên thu nhập nhờ xuất khẩu dầu mỏ rất đáng kể năm 1970 đạt 164 triệu ringit (chiếm 3,2%) tổng giá trị xuất khẩu), năm 1980 con số này là 6,7 tỷ (chiếm 23,8% tổng giá trị xuất khẩu), năm 1980 con số này là 6,7 tỷ (chiếm 23,8% tổng giá trị xuất khẩu)
Trang 401.2.3.3 Giai đoạn đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, ưu tiên phát triển công nghiệp cơ khí (1985-1995)
Bước sang giai đoạn phát triển mới, Chính phủ Malaysia đã soạn thảo
kế hoạch phát triển công nghiệp 10 năm (1986-1995) Trong ngành công nghiệp, Chính phủ đề ra kế hoạch phát triển tổng thể với các mục tiêu:
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân của công nghiệp chế tạo khoảng 9%/năm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 6%/năm Tăng cường phát triển công nghệ thông tin, các ngành công nghiệp chế tạo sử dụng nguyên liệu trong nước được ưu tiên phát triển
- Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khuyến khích nghiên cứu triển khai tại xí nghiệp để đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ khâu nghiên cứu đến khâu áp dụng
- Khuyến khích giáo dục đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ khoa học kỹ thuật để phát huy tối đa những lợi thế của đất nước (Đỗ Đức Định, 1999)
Từ kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1986-1990), Malaysia đã tập trung ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp nặng, nhất là những ngành sử dụng nguyên liệu trong nước sẵn có như xi mang, sắt thép… Các ngành công nghiệp quan trọng khác như điện, cơ khí chế tạo cũng được chú trọng đầu tư phát triển với việc áp dụng công nghệ mới 50 nhóm sản phẩm trong các ngành sử dụng nhiều lao động, sử dụng nguyên liệu tại chỗ như cao
su, dầu cọ, gỗ, thực phẩm, khai khoáng, điện tử, dệt may… được ưu tiên phát triển sản xuất, đặc biệt phục vụ xuất khẩu Trong sự phát triển công nghiệp, Chính phủ Malaysia đặc biệt chú trọng đầu tư vào khu vực tư nhân, coi khu vực này là chủ đạo của nền kinh tế Chính phủ đã chi một lượng vốn lớn cho