Luận văn
Trang 1ĐOÀN TRỌNG TRUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LIÊN QUAN TỚI UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Trang 2ĐOÀN TRỌNG TRUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LIÊN QUAN TỚI UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêmtúc, là một phần của “Nghiên cứu cứu bệnh chứng ung thư ở Việt Nam” doTrường Đại học Y Thái Bình chủ trì thực hiện mà tôi là một nghiên cứu viênchính Các số liệu và kết quả nêu trong luận án đã được cơ quan nghiên cứucho phép tôi sử dụng trong luận án Các số liệu đảm bảo sự trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu sai tôixin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Đoàn Trọng Trung
Trang 4
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc Học viên Quân y, Bộ môn Vệ sinh Y học dự phòng, các Bộ môn Khoa học có liên quan, Phòng Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, đồng thời giúp đỡ tôi hoàn thành luận án tiến sỹ này.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Trung tâm nghiên cứu Dân
số và Sức khoẻ Nông thôn, Bộ môn có liên quan Trường Đại học Y Thái Bình
đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập, công tác và hoàn thành luận án tiến
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và ủng hộ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô, các nhà khoa học trong Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp Trường.
Hà nội, tháng 3 năm 2012
Tác giả
Đoàn Trọng Trung
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình/sơ đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 4
1.1.1 Giải phẫu cổ tử cung 4
1.1.2 Bệnh lý ung thư cổ tử cung 5
1.2 TÌNH HÌNH MẮC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 8
1.2.1 Ung thư cổ tử cung trên thế giới 8
1.2.2 Ung thư cổ tử cung ở Việt Nam 15
1.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 18
1.3.1 Các yếu tố môi trường xã hội liên quan đến ung thư cổ tử cung 18
1.3.2 Một số yếu tố khác liên quan đến ung thư cổ tử cung 32
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 36
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 36
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 37
Trang 62.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 38
2.2.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán, kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 43
2.2.4 Nội dung, biến số nghiên cứu và một số khái niệm được sử dụng 44
2.2.5 Công cụ thu thập số liệu và tổ chức nghiên cứu 47
2.2.6 Các biện pháp khống chế sai số 53
2.2.7 Xử lý số liệu 54
2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 54
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 THỰC TRẠNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 56
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học, y tế của phụ nữ ung thư cổ tử cung 57
3.1.2 Phân loại và tỷ lệ hiện mắc ung thư cổ tử cung 61
3.2 YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 63
3.2.1 Liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với ung thư cổ tử cung 63
3.2.2 Liên quan giữa việc hút thuốc với ung thư cổ tử cung 65
3.2.3 Liên quan giữa đặc điểm sinh sản với ung thư cổ tử cung 69
3.2.4 Liên quan giữa tình trạng còn kinh / đã mãn kinh, một số bệnh mắc phải với ung thư cổ tử cung 72
3.2.5 Liên quan giữa nạo hút thai, sử dụng các biện pháp tránh thai với ung thư cổ tử cung 77
3.2.6 Liên quan giữa một số yếu tố khác với ung thư cổ tử cung 80
3.2.7 Phân tích hồi quy logistic yếu tố liên quan 81
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 84
4.1 THỰC TRẠNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 84
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học, y tế của phụ nữ ung thư cổ tử cung 84
4.1.2 Phân loại và tỷ lệ hiện mắc ung thư cổ tử cung 89
Trang 74.2.2 Liên quan giữa việc hút thuốc với ung thư cổ tử cung 94
4.2.3 Liên quan giữa đặc điểm sinh sản với ung thư cổ tử cung 98
4.2.4 Liên quan giữa tình trạng còn kinh / đã mãn kinh, một số bệnh mắc phải với ung thư cổ tử cung 103
4.2.5 Liên quan giữa nạo hút thai, sử dụng các biện pháp tránh thai với ung thư cổ tử cung 106
4.2.6 Liên quan giữa một số yếu tố khác với ung thư cổ tử cung 110
4.2.7 Phân tích hồi quy logistic yếu tố liên quan 111
4.3 PHẠM VI VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 112
KẾT LUẬN 114
KIẾN NGHỊ 116 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8CIN Cervical Intraepithelial Neoplasia
(Loạn sản nội biểu mô cổ tử cung)
FHI Family Health International
(Tổ chức Gia đình Thế giới)HPV Human papolloma virus
(Vi rút gây u nhú bộ phận sinh dục ở người)IARC International Agency for Research on Cancer
(Tổ chức quốc tế nghiên cứu về ung thư )KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
MIF Macrophage migration inhibitory factor
(Yếu tố ức chế di chuyển đại thực bào) WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 9Bảng Tên bảng Trang
3.1 Phương pháp chẩn đoán ung thư được áp dụng 56
3.2 Tỷ lệ phụ nữ ung thư cổ tử cung hút thuốc chủ động (n=611) 60
3.3 Các loại ung thư cổ tử cung được phát hiện 61
3.4 Liên quan giữa nghề nghiệp của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 63
3.5 Liên quan giữa trình độ học vấn của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 64
3.6 Liên quan giữa việc hút thuốc lá của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 65
3.7 Liên quan giữa việc hút thuốc lào của phụ nữ với ung thư cỏ tử cung 65
3.8 Liên quan giữa việc hút thuốc lá của chồng với ung thư cổ tử cung 66
3.9 Liên quan giữa mức độ hút thuốc lá của chồng với ung thư cổ tử cung 66
3.10 Liên quan giữa thời gian hút thuốc lá của chồng với ung thư cổ tử cung 67
3.11 Liên quan giữa việc có hút thuốc lào của chồng với ung thư cổ tử cung 67
3.12 Liên quan giữa mức độ hút thuốc lào của chồng với ung thư cổ tử cung 68
3.13 Liên quan giữa thời gian hút thuốc lào của chồng với ung thư cổ tử cung 68
3.14 Liên quan giữa tuổi quan hệ tình dục lần đầu của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 69
3.15 Liên quan giữa tuổi mang thai lần đầu của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 69
3.16 Liên quan giữa số bạn tình/chồng của phụ nữ với ung thư 70
3.17 Liên quan giữa việc mang thai với ung thư cổ tử cung 70
3.18 Liên quan giữa việc sảy thai của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 71
3.19 Liên quan giữa việc thai chết lưu của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 71
3.20 Liên quan giữa số con hiện có của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 72
3.21 Liên quan giữa tình trạng còn kinh / đã mãn kinh với ung thư cổ tử cung 72
3.22 Liên quan giữa điều trị hoóc-môn sau mãn kinh với ung thư cổ tử cung 73
3.23 Liên quan giữa một số bệnh khác với ung thư cổ tử cung 74
3.24 Liên quan giữa viêm âm đạo do trùng roi, lậu cầu và ung thư cổ tử cung 75
Trang 103.25 Liên quan giữa tiền sử phẫu thuật cắt buồng trứng và ung thư cổ tử cung 76
3.26 Liên quan giữa số bên buồng trứng bị cắt và ung thư cổ tử cung 76
3.27 Liên quan giữa việc nạo hút thai với ung thư cổ tử cung 77
3.28 Liên quan giữa việc sử dụng thuốc tránh thai với ung thư cổ tử cung 78
3.29 Liên quan giữa việc áp dụng vòng tránh thai với ung thư cổ tử cung 78
3.30 Liên quan giữa việc triệt sản thắt vòi Fallopian với ung thư 79
3.31 Liên quan giữa việc ăn trầu của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 80
3.32 Liên quan giữa việc thụt rửa âm đạo bằng nước trầu không với ung thư cổ tử cung 81
3.33 Các yếu tố nghiên cứu có liên quan với ung thư cổ tử cung 82
3.34 Các yếu tố nghiên cứu không liên quan với ung thư cổ tử cung sau khi phân tích hồi quy logistic 83
Trang 11Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
3.1 Độ tuổi của phụ nữ ung thư cổ tử cung (n=611) 57
3.2 Trình độ học vấn của phụ nữ ung thư cổ tử cung (n=611) 57
3.3 Nghề nghiệp của phụ nữ ung thư cổ tử cung (n=611) 58
3.4 Tình trạng hôn nhân và việc làm của phụ nữ ung thư cổ tử cung (n=611) 59
3.5 Số con hiện có của phụ nữ ung thư cổ tử cung (n=611) 59
3.6 Tỷ lệ phụ nữ ung thư cổ tử cung có thẻ bảo hiểm y tế (n=611) 60
3.7 Tỷ lệ hiện mắc ung thư cổ tử cung của phụ nữ trong diện nghiên cứu, chia theo các tỉnh (n=611) 62
3.8 Liên quan giữa viêm nhiễm đường sinh dục của phụ nữ với ung thư cổ tử cung 75
3.9 Liên quan giữa số lần nạo hút thai với ung thư cổ tử cung 77
3.10 Liên quan giữa việc triệt sản bằng Quinacrine với ung thư cổ tử cung 79
3.11 Liên quan giữa việc từng thụt rửa âm đạo với ung thư cổ tử cung 80
Trang 12Hình Tên hình Trang
1.1 Cấu tạo giải phẫu cổ tử cung 41.2 Cổ tử cung bình thường và ung thư 6
DANH MỤC HÌNH SƠ ĐỒ
Sơ đồ Tên sơ đồ Trang
2.1 Thiết kế nghiên cứu và kết quả chọn ca bệnh, ca chứng 402.2 Quy trình thu thập số liệu 53
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới, trong mô hình bệnh tật của thế
kỷ 21, các bệnh không nhiễm trùng, trong đó có bệnh ung thư, là nhóm bệnhchủ yếu đe dọa sức khỏe con người Bệnh ung thư đã và đang tạo ra gánhnặng về bệnh tật trong cộng đồng Ung thư là nguyên nhân của 12% trong số
56 triệu trường hợp tử vong hàng năm trên thế giới do tất cả các nguyên nhânkhác nhau [89] Tại Việt Nam, ước tính hàng năm có khoảng 100.000-150.000 trường hợp mắc mới ung thư và có khoảng 70.000 người chết vì cănbệnh này [13]
Ung thư cổ tử cung là loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao ở nữ giới sau ungthư vú, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [28] Theo Tổ chức Y tế Thếgiới, mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mới đượcphát hiện và gây tử vong cho khoảng 233.000 người Đó là một thách thứctrong công tác chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế cũng như tại cộng đồng[137] Tỷ lệ tử vong của ung thư cổ tử cung ở các nước đang phát triển hiệnđứng hàng thứ 6 sau các loại ung thư khác Mặc dù, ở các nước này có xuhướng giảm mạnh cả tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong trong những năm qua nhưngung thư cổ tử cung hiện vẫn là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ởphụ nữ các nước đang phát triển [28]
Ở Việt Nam, phụ nữ hiện vẫn là lực lượng rất quan trọng trong cơ cấulực lượng lao động, nhất là trong lao động nông nghiệp, chăn nuôi trồng trọt,dệt, thủ công nghiệp [46]… Đa số điều kiện lao động các ngành nghề nàychịu nhiều tác động bất lợi và là ngành nghề lao động nặng nhọc Bên cạnh đóphải kể đến việc có một tỷ lệ lớn phụ nữ hiện sử dụng các biện pháp kế hoạchhoá gia đình như đặt vòng tránh thai, dùng thuốc tránh thai, triệt sản bằng thắtvòi trứng và bằng đặt thuốc Quinacrine vào trong buồng tử cung [21]
Trang 14Chính vì thế, một trong những vấn đề liên quan tới ung thư cổ tử cungđang được quan tâm nhiều hiện nay là liệu các yếu tố môi trường xã hội cótác động lên sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung ở phụ nữ Việt Nam Tớinăm 2001, thời điểm trước khi thực hiện đề tài luận án, vẫn chưa có nghiêncứu nào đi sâu phân tích mô hình ung thư cổ tử cung ở phụ nữ Việt Nam vàcác yếu tố liên quan trong đó có việc triệt sản bằng Quinacrine Mới chỉ cómột số ít nghiên cứu tập trung vào việc ghi nhận ung thư cổ tử cung tại cácbệnh viện, hay tiến hành nghiên cứu sàng lọc tiền ung thư cổ tử cung ở cộngđồng trong địa bàn còn hẹp
Do vậy, cần có những nghiên cứu về bệnh ung thư phụ khoa nói chung,đặc biệt là ung thư cổ tử cung nói riêng, và những yếu tố liên quan đến nónhằm tìm ra các giải pháp khả thi có thể hạn chế các yếu tố nguy cơ gây ungthư, phát hiện sớm và điều trị kịp thời để kéo dài tuổi thọ cho người bệnh Đểgóp phần có được cơ sở khoa học giải quyết những vấn đề nêu trên, tác giả
luận án tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố môi trường xã hội liên quan tới ung thư cổ tử cung tại một số tỉnh phía Bắc”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài được mong đợi giúp ngành Y tế có đượccác phát hiện mới về mối liên quan với ung thư cổ tử cung của một số yếu tốtrước đây chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ ở Việt Nam.Địa bàn nghiên cứu gồm 12 tỉnh là một yếu tố đảm bảo các phát hiện của đềtài có tính đại diện vùng miền cao, là cơ sở khoa học góp phần cho các nhàhoạch định các chính sách xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp, nângcao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân nói chung, phụ nữnói riêng ở nước ta
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng ung thư cổ tử cung tại 12 tỉnh phía Bắc Việt Nam,2001-2006
2 Xác định một số yếu tố môi trường xã hội liên quan tới ung thư cổ tửcung tại địa bàn nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
1.1.1 Giải phẫu cổ tử cung
Cổ tử cung (CTC) là một bộ phận của hệ thống sinh dục ở phụ nữ Nó lànơi tạo ra chất nhầy giúp tinh trùng di chuyển từ âm đạo vào CTC hoặc giữtinh trùng đi vào tử cung Hàng tháng trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ
nữ thường xuất hiện một ít máu ở tử cung qua CTC ra ngoài âm đạo Trongsuốt quá trình mang thai, CTC đóng để giữ thai nhi trong tử cung, và đến khisinh, CTC mở rộng ra nhờ đó mà thai nhi có thể ra ngoài
Cổ tử cung gồm 2 phần: cổ ngoài và cổ trong Trong đó, ở cổ ngoài làcác tế bào biểu mô lát giống tế bào biểu mô lát của âm đạo nhưng trơn lánghơn, còn cổ trong là biểu mô tuyến gần giống như biểu mô của nội mạc tửcung Chỗ tiếp giáp giữa biểu mô lát của cổ ngoài và biểu mô tuyến của cổtrong được gọi là lỗ cổ ngoài mô học và đây là vùng chuyển tiếp của 2 loạibiểu mô
Hình 1.1 Cấu tạo giải phẫu cổ tử cung
Nguồn: Phết tế bào cổ tử cung Bách khoa toàn thư Wikipedia (2009)
Trang 17Các mô của CTC phần lớn là mô xơ cơ, trong đó mô xơ chiếm ưu thế.Biểu mô CTC được chia thành các loại sau:
- Biểu mô vảy: có nhiều tầng ở cổ ngoài
- Biểu mô trụ: có ở vùng cổ trong và lớp các tuyến
- Biểu mô vảy dị sản
Cổ tử cung bình thường nhẵn và hồng không thấy mạch máu khi soiCTC Biểu mô vảy tăng sinh, trưởng thành và bong dưới ảnh hưởng củaoestrogen Trái lại progesteron hạn chế sự trưởng thành của biểu mô vảy Sựtăng sinh tế bào được giới hạn ở tế bào đáy và cận đáy Sự biệt hóa tế bào xảy
ra ở vùng trung gian và biểu lộ sự tăng của bào tương với sự tích lũyglycogen Lớp tế bào bề mặt là những tế bào biểu mô vảy biệt hóa cuối cùnggọi là tế bào vảy bong Mức độ biệt hóa khác nhau phụ thuộc vào tình trạnghoóc-môn của từng người Ở những trẻ gái và phụ nữ mãn kinh, biểu mô vảy
ít biệt hóa và sự biệt hóa chỉ xảy ra ở hầu hết tế bào đáy và cận đáy Biểu môtrụ cổ trong CTC bao gồm biểu mô phủ bề mặt cổ trong CTC và các tuyếnđược tạo bởi các khe sâu của biểu mô bề mặt gấp nếp lại vào dưới mô đệm vàkhoảng 5mm [110]
Trong hình ảnh cắt ngang có nhiều nếp gấp phức tạp xuất hiện, hìnhthành những tuyến tách biệt Biểu mô tuyến được phủ bởi cấu trúc giống lông
tơ, chúng chứa trục nhú ở trung tâm, những lông tơ được tập trung thành từngđám giống chùm nho Có khoảng 70% phụ nữ đang trong tuổi hoạt động tìnhdục thì biểu mô tuyến có xu hướng phát triển ra phía cổ ngoài [105]
1.1.2 Bệnh lý ung thư cổ tử cung
1.1.2.1 Bệnh lý ung thư cổ tử cung
Ung thư CTC là ung thư xẩy ra tại vị trí của CTC Ung thư CTC thườngxuất phát từ vùng chuyển tiếp giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy, bắt đầu từ tổn
Trang 18thương tiền ung thư tiến triển thành ung thư tại chỗ, sau đó là ung thư vi xâmnhập và cuối cùng kết thúc bằng ung thư xâm lấn [51] [123] Ung thư CTC
đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng cơ chế bệnh sinh của nó hiện vẫn còn chưađược biết rõ Nhiều tác giả đã đi sâu về nghiên cứu ung thư CTC và nhận thấytiến triển của ung thư CTC là một quá trình liên tục trên tổn thương của CTC[11], [25]
Hình 1.2 Cổ tử cung bình thường và ung thư
Nguồn: Phết tế bào cổ tử cung Bách khoa toàn thư Wikipedia (2009)
Tổn thương loạn sản tại CTC thường bắt đầu từ một hay một nhóm tếbào biểu mô, tiến triển trong 10-15 năm từ loạn sản nhẹ, loạn sản trung bình,loạn sản nặng rồi thành ung thư tại chỗ và ung thư xâm nhập
Các thể mô bệnh học của ung thư CTC:
- Ung thư biểu mô vảy
- Ung thư biểu mô tuyến
- Ung thư biểu mô tuyến vảy
- U dạng Carcinoid, u hắc bào ác tính, Sarcoma cơ trơn, Sarcoma môđệm… là các thể hiếm gặp [50]
Trang 191.1.2.2 Phát hiện và phòng bệnh ung thư cổ tử cung
Có nhiều nghiên cứu về các biện pháp phòng và phát hiện sớm ung thưCTC trong cộng đồng Tác giả Nguyễn Bá Đức đã nghiên cứu 10.439 phụ nữ
là cán bộ công nhân và nhân dân đã có chồng được khám và xét nghiệm tếbào âm đạo CTC, soi CTC áp dụng kỹ thuật LEEP để nghiên cứu các biệnpháp cơ bản trong dự phòng và phát hiện sớm ung thư CTC đã phát hiện1,33% có tổn thương mức độ thấp, 0,06% có tổn thương mức độ cao và0,02% ung thư CTC xâm nhập [16]
Việc phát hiện sớm ung thư CTC góp phần rất lớn trong công tác phòng
và điều trị bệnh [14], [113], [135] Nguyễn Vượng đã nghiên cứu phát hiệnsớm ung thư CTC qua sàng lọc tế bào Qua khảo sát 26.492 phụ nữ ở cộngđồng trên cả 3 miền và 3 bệnh viện (Hà Nội và Cần Thơ) bằng kỹ thuậtnhuộm Giêm-sa thông thường những trường hợp cần thiết được nhuộm bằng
kỹ thuật Papanicolaou Kết quả đã phát hiện có tổn thương 3,36% trong đóloạn sản nhẹ CTC là 2,49%, loạn sản nặng 0.87%, ung thư xâm nhập 0,029%.Riêng ở cộng đồng Cần Thơ: loạn sản nhẹ 2,71%, loạn sản nặng 0,98%, ungthư xâm nhập 0,05% Việc phát hiện sớm ung thư CTC về tế bào học đã gópphần trong việc điều trị tích cực ung thư CTC [52]
Qua điều tra 1.245 đối tượng để tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ và khámphụ khoa và bằng những xét nghiệm PAS, lấy máu thử phản ứng khángnguyên kháng thể HPV để chẩn đoán ung thư CTC cho thấy: nhiễm trùngchiếm 43%, tổn thương qua khám lâm sàng CIN là 0,3% còn tổn thương tếbào CIN I chiếm 3,1% và CIN II, III là 0,1% Như vậy, qua khám lâm sàng vàxét nghiệm đã sàng lọc được những tổn thương tiền ung thư và nhất là pháthiện được tỷ lệ lớn đang viêm nhiễm đường sinh dục đó cũng là những yếu tốthuận lợi cho quá trình phát triển ung thư phụ khoa [15], [20]
Trang 20Ở Việt Nam công trình nghiên cứu “Chương trình Việt-Mỹ thí điểmphòng chống ung thư CTC tại thành phố Hồ Chí Minh những kết quả và kinhnghiệm” báo cáo năm 2000 có khoảng 3,58% Pap smear có tổn thương tiềnung thư CTC [54] Ngày càng có nhiều người quan tâm đến việc sử dụng xétnghiệm HPV trong các chương trình phòng chống ung thư CTC, tiến hànhxác định những người mắc loạn sản độ thấp, xác định những phụ nữ có tổnthương về mặt tế bào và những phụ nữ trên 35 tuổi có nguy cơ cao mắc loạnsản nặng [26], [27], [53].
1.2 TÌNH HÌNH MẮC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
1.2.1 Ung thư cổ tử cung trên thế giới
Hàng năm trên thế giới ước tính có khoảng 471.000 ca ung thư biểu môCTC mới được chẩn đoán, trong đó có khoảng 380.000 ca mắc mới là ởnhững nước đang phát triển và có trên 273.000 ca tử vong [83], [84] Hiệnnay trên thế giới, ung thư CTC chiếm gần 10% trong số các loại ung thư ở nữgiới Về tần số xuất hiện, ung thư CTC đứng vị trí thứ 7 trong số các loại ungthư và đứng thứ 3 trong số các loại ung thư ở nữ giới [105]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã dự báo về mô hình bệnh tật trong thế
kỷ 21, các bệnh không lây nhiễm trong đó có ung thư sẽ trở thành nhóm bệnhchủ yếu đe dọa đến sức khỏe con người và chiếm tới 54% nguyên nhân gây tửvong Theo ước tính của WHO, hàng năm trên thế giới có khoảng 11 triệungười mắc bệnh ung thư và 6 triệu người chết do bệnh này Dự báo vào năm
2015 mỗi năm trên thế giới sẽ có 15 triệu người mới mắc bệnh ung thư và 9triệu người chết do ung thư, trong đó 2/3 là ở các nước đang phát triển Ở khuvực châu Á Thái Bình Dương, ung thư là một trong 3 nguyên nhân chính gây
tử vong ở người Tỉ lệ chết do ung thư lên tới 100/100.000 dân ở Trung Quốc,Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore [131], [132, [134]
Trang 21Ung thư CTC ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người phụ nữ trên thếgiới đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, đây là những nước có tỷ lệmắc ung thư cao nhất đồng thời là những nước mà nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong ở phụ nữ là do ung thư Ước tính tỷ lệ ung thư mới ở những nước nàychiếm khoảng 80% số ca ung thư mới trên toàn thế giới [18],[106], [133]
Tỷ lệ mắc và tử vong của ung thư CTC năm 2002 trên toàn thế giới là493.243 ca mắc mới và số trường hợp chết là 273.505 trường hợp, trong đó ởcác nước phát triển tỷ lệ mắc và chết thấp hơn so với các nước đang phát triển[19] Mặc dù hiện nay đã có nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn sự phát triểncủa ung thư CTC nhưng gánh nặng bệnh tật và ảnh hưởng còn lại của cănbệnh này là khá cao ở những nước đang phát triển, nơi mà có khoảng 85%trường hợp mắc ung thư CTC bị tử vong [84] Theo báo cáo gần đây củaWHO thì trong năm 2000 ước tính có khoảng 233.000 ca tử vong do ung thưCTC trên thế giới [83]
Số ca bị ung thư CTC được chẩn đoán trong vòng 5 năm (1996-2000)vào khoảng 1.401.400 trường hợp so sánh với 3.860.300 trường hợp ung thư
vú, ở các nước đang phát triển số ca bị ung thư CTC và ung thư vú lần lượt là1.064.000 và 1.522.000 trường hợp [83] Như vậy, mặc dù ung thư vú đanggia tăng đồng thời cũng là một vấn đề khá quan trọng đối với những nướcđang phát triển, nhưng ung thư CTC là một nguyên nhân chính gây nên bệnhtật và tử vong ở nữ giới [130]
Năm 2005 có trên 7,5 triệu người trên thế giới đã tử vong vì ung thư vàtrên 70% trong số đó thuộc về những nước có thu nhập thấp và trung bình.Trong số các dạng ung thư thì ung thư CTC là dạng ung thư phổ biến thứ 2đối với phụ nữ [137]
Cũng theo thống kê của WHO thì trong năm 2005 có trên 500.000 caung thư CTC mới trong đó 90% thuộc về những nước đang phát triển Đồng
Trang 22thời, ung thư CTC cũng gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ trong năm
2005, khoảng 80% trong số đó thuộc về những nước đang phát triển.Ước tính
có trên 1 triệu phụ nữ trên thế giới hiện đang bị ung thư CTC, đa số họ khôngđược chẩn đoán, hoặc không được tiếp cận với kỹ thuật điều trị nhằm giúpchữa khỏi hoặc kéo dài được cuộc sống [62], [73], [137]
Nghiên cứu của Abdoul Hossain Madani [56] đã cho thấy khói thuốc lá
là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ gây ung thư đường miệng Đốivới ung thư CTC, tác giả Brinton [71] cũng đã phát hiện thấy việc hút thuốc lálàm tăng nguy cơ mắc ung thư và tăng khả năng xâm lấn của ung thư CTC Một số nghiên cứu khác ở trên thế giới cho thấy, có nhiều yếu tố gây nênbệnh ung thư CTC trong số đó phải kể đến là việc nền kinh tế xã hội thấp,quan hệ tình dục sớm, có nhiều bạn tình, mang thai sớm, sử dụng hoóc-môntránh thai [66], [76], [79] Người ta cũng đã và đang quan tâm nhiều đến việcliệu phụ nữ dùng thuốc uống tránh thai có mối liên hệ với việc nhiễm vi rútHPV, loại vi rút đã được chứng minh là căn nguyên cơ bản gây ung thư CTC
ở phụ nữ [96]
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ Trung Quốc sống ở Mỹ có tỷ lệmắc và tử vong do ung thư CTC cao hơn so với người Mỹ Một nghiên cứutại Los Angeles ước tính số lượng mắc ung thư CTC là 12,3/100.000 đối vớingười Trung Quốc so với 7,2/100.000 ở những người da trắng không phải gốcLatin [104]
Một nghiên cứu tại Colombia cho thấy tỷ lệ ung thư CTC của quần thểngười Trung Quốc tăng gấp 2 lần so với quần thể người Caucasia [60] Nhữngphụ nữ Trung Quốc sống ở Mỹ mặc dù hiện nay có điều kiện thuận lợi hơntrong việc tiếp cận với các phương pháp phòng chống bệnh ung thư CTC sovới những người Caucasia
Trang 23Ở Mỹ, ung thư CTC đứng hàng thứ 10 trong số các dạng ung thư ở phụ
nữ với ước tính khoảng 128.000 ca mắc mới trong năm 2000 Số ca ung thư
cổ cung mới ở nữ giới thuộc các nhóm chủng tộc và các tộc người là cao hơn
so với những phụ nữ da trắng, ước tính trên 4.600 phụ nữ Mỹ tử vong do ungthư CTC năm 2000 [92] Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy so với phụ nữ da trắng,phụ nữ da đen bị ung thư CTC có tỷ lệ tử vong vì bệnh này cao hơn khoảng30%; phụ nữ gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ tử vong do ung thư CTC thấp hơnmức trung bình khoảng 30%; phụ nữ gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ tử vong doung thư CTC thấp hơn so với phụ nữ da trắng [82], [75]
Ung thư CTC chiếm khoảng 1,7% trong số các dạng ung thư gây tửvong ở phụ nữ Ước tính có khoảng 12.000 phụ nữ trên toàn nước Mỹ vàkhoảng 1.600 phụ nữ ở bang California sẽ được chẩn đoán bị nhiễm ung thưCTC trong năm [58] Có khoảng 4.200 phụ nữ ở Mỹ và 500 phụ nữ ởCalifornia tử vong do ung thư CTC mỗi năm California là bang có tỷ lệ ungthư CTC cao nhất: trên 11% so với toàn nước Mỹ Cũng tại Mỹ, có khoảng13.000 phụ nữ bị ung thư CTC vào năm 2002, trong số đó có 4.100 trườnghợp tử vong [57]
Ấn Độ là một trong 6 quốc gia có dân số lớn nhất thế giới, và cũng là 1trong 5 nước đang chịu hậu quả của gánh nặng ung thư CTC cao nhất trên thếgiới [114] Có khoảng 130.000 ca mắc ung thư CTC mới mỗi năm tại Ấn Độ
và căn bệnh này chiếm khoảng 20% trong số những người bị tử vong ở nướcnày Ung thư CTC ở Ấn Độ có tỷ lệ mắc theo tuổi là 30,7/100.000 và tỷ lệchết theo tuổi là 17,4/100.000 cao nhất trong vùng Nam Trung Á [84] Tỷ lệmắc ung thư CTC ở Mumbai trong mấy năm gần đây có xu hướng giảmnhưng không đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ mắc tuyệt đối vẫn ở mức cao đặc biệt
là ở những vùng nông thôn Số lượng ca mắc bệnh đang tăng là do sự gia tăngnhanh của dân số cùng với sự gia tăng của đại dịch HIV [101],[114] Tổ chức
Trang 24phòng chống AIDS quốc gia Ấn Độ ước tính số người bị HIV là khoảng 5,1triệu người (chiếm 38% phụ nữ ở nước này) [100].
Tại Canada trong giai đoạn 1971-1995, tỷ lệ tử vong trên 100.000 phụ
nữ do ung thư CTC đã giảm 65% So sánh tỷ lệ tử vong với một số nướctrong cùng thời kỳ cho thấy tỷ lệ chết do ung thư CTC ở Anh và Na Uy giảmlần lượt là 50% và 46%, tỷ lệ này ở Pháp là 42%, Phần Lan là 74% Ở Anh,năm 1971 tỷ lệ tử vong thấp hơn không đáng kể so với Canada, tỷ lệ tử vong
ở 2 nước này cùng giảm mạnh cho đến năm 1983, sau đó gần như không giảm
ở Anh nhưng nó tiếp tục giảm ở Canada, tuy nhiên đến năm 1996 tỷ lệ này ởAnh là 26% cao hơn so với ở Canada [97]
Năm 2000 ước tính có khoảng 1.500 phụ nữ ở Canada được chẩn đoán
là bị mắc ung thư CTC và khoảng 430 phụ nữ tử vong do ung thư CTC.Trong số tất cả các loại ung thư ở phụ nữ Canada thì ung thư CTC có tỷ lệmắc đứng thứ 12 và tỷ lệ tử vong đứng thứ 14 [97] Còn trong năm 2003, tạiCanada ước tính có khoảng 1.400 phụ nữ bị ung thư CTC Các tỉnh có tỷ lệmắc cao nhất là Nova Scotia, Newfoundland và Labrador và P.E.I với tỷ lệmắc trên 10/100.000 phụ nữ; Nova Scotia và Newfoundland và Labradorcũng là các tỉnh có tỷ lệ tử vong cao nhất so với toàn quốc [98]
Tỷ lệ mắc ung thư CTC tùy thuộc vào từng khu vực địa lý Ung thư CTCxuất hiện trên toàn thế giới nhưng tỷ lệ bị mắc cao nhất được biết đến làTrung và Nam Mỹ, Nam và Đông Phi và Caribê, đây là những nơi có tỷ lệmắc trung bình là trên 40/100.00 phụ nữ mỗi năm [18], [83]
Ung thư CTC là một dạng ung thư phổ biến nhất ở Đông Phi và Caribê,chiếm từ 20% - 30% trong số các dạng ung thư ác tính [83], trong khi đó nguy
cơ bị ung thư CTC ở Tây Âu và Bắc Mỹ là rất thấp, chỉ khoảng hơn 10 camắc mới hàng năm trên 100.000 phụ nữ, trong khi đó ở những nước trên có tỷ
Trang 25lệ mắc cao hơn 10 lần so với các nước ở Tây Âu và Bắc Mỹ Đối với nhữngnước này, tỷ lệ ung thư CTC có xu hướng giảm mặc dù gần đây tỷ lệ nàygiảm ở mức độ chậm hơn nhiều [63]
Ung thư CTC cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư đốivới phụ nữ ở châu Mỹ Latin và Caribê [83] Khu vực này có tỷ lệ chết do ungthư CTC cao nhất trên thế giới cùng với khu vực tiểu Sahara ở châu Phi vàkhu vực Đông Nam Á Tại khu vực này, ước tính hàng năm có khoảng 72.000
ca mắc mới và gây chết khoảng 33.000 trường hợp Những quốc gia ở khuvực tiểu Sahara ở Châu Phi có tỷ lệ chết do ung thư CTC đứng hàng đầu thếgiới Ví dụ, năm 1997 tại Kampala, Uganda tỷ lệ chết do ung thư CTC là40,8/100.000 dân [127] Tỷ lệ mắc và chết do ung thư CTC tại những vùngnày cao hơn 7 lần so với khu vực Bắc Mỹ Gánh nặng bệnh tật lớn nhất đốivới những người phụ nữ ở Caribê và Trung Mỹ là việc sinh đẻ, ước tính tỷ lệchết ở Caribê là 16/100.000 và ở Trung Mỹ là 15/100.000 phụ nữ Haiti có tỷ
lệ chết do ung thư CTC cao nhất trong khu vực châu Mỹ Latinh và Caribê(48/100.000 phụ nữ) [106]
Mặc dù ung thư CTC là một bệnh có thể ngăn chặn được nhưng hiện nay
nó vẫn còn là một gánh nặng đối với sức khỏe cộng đồng ở khu vực tiểuSahara Năm 2005, ước tính có hơn 90% trường hợp mắc ung thư CTC thuộc
về những nước có mức thu nhập thấp và trung bình, đây là những nơi rất hạnchế trong việc chẩn đoán và điều trị ung thư CTC và là những nước khôngđược tiếp cận hoặc tiếp cận không đầy đủ với những loại thuốc điều trị Theo
dự đoán của WHO, số ca tử vong do ung thư CTC sẽ tăng lên 320.000 ca vàonăm 2015 và 435.000 ca vào năm 2030 [137]
Nghiên cứu tỷ lệ tử vong do ung thư CTC giữa những người Ấn Độ di
cư sang Mỹ và người Alaska bản địa sống ở Bắc và Nam Dakota trong giai
Trang 26đoạn từ 1989 đến 1993 cho thấy tỷ lệ tử vong ở những người Ấn Độ di cưsang Mỹ cao gấp 5 lần so với người Alaska bản địa (lần lượt là 15,6/100.000
và 3,1/100.000) Qua nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ mắc và chết hàng nămcủa người Ấn Độ di cư sang Mỹ là 11,5/100.000 và 4,5/100.000 Tỷ lệ nàyđối với người Alaska bản địa chỉ là 8,5/100.000 và 2,7/100.000 [109]
Năm 1960, ở châu Mỹ Latinh và Caribê thì tỷ lệ tử vong do dung thưCTC vẫn còn ở mức khá cao, vào khoảng 5-6/100.000 phụ nữ Ở Mêxicô,Chilê và Costa Rica, tỷ lệ ung thư CTC lại tăng theo thời gian, đặc biệt là đốivới những phụ nữ từ 40 tuổi trở lên Ở một số nước thuộc châu Mỹ Latin có
sự thay đổi rất lớn về tỷ lệ nhiễm cũng như tỷ lệ tử vong do ung thư CTC[111] Đối với Mỹ và Canada, mặc dù có tỷ lệ tử vong do ung thư CTC thấpnhưng khi so sánh giữa tỷ lệ tử vong cao nhất và thấp nhất ở mọi lứa tuổi chothấy trong giai đoạn 1965-1969 hơn kém nhau 3 lần nhưng lại tăng lên trên 4lần vào cuối những năm 80 [67]
Các nước châu Mỹ Latin là những nước có tỷ lệ mắc ung thư CTC caonhất so với toàn thế giới cùng với các nước thuộc khu vực tiểu Sahara ChâuPhi, Nam và Đông Nam Á Tỷ lệ mắc ung thư CTC giữa các quốc gia này có
sự dao động khá lớn Các nước có tỷ lệ ung thư CTC cao là: Haiti(93,9/100.000), Nicaragua (61,1/100.000) và Bolivia (58,1/100.000 [61]
Trong những năm cuối thập niên 90, tỷ lệ tử vong do ung thư CTC giữacác nước Đông Âu chênh nhau khoảng 10 lần, cao nhất là ở Romania(10,6/100.000 phụ nữ ở độ tuổi 20-44), thấp nhất là Phần Lan (0,5/100.000)
và Thụy Sĩ (0,9/100.000) Đối với các nước thuộc Hội đồng chung Châu Âu,
sự dao động này chỉ trên 6 lần, nước có tỷ lệ tử vong cao nhất là Ireland(3,4/100000) và Bồ Đào Nha (3,2/100000) [93]
Theo hiệp hội Ung thư Mỹ thì trong năm 2007 ở Mỹ có khoảng 11.150trường hợp ung thư CTC được chẩn đoán Trong đó, 50% số ca chẩn đoán
Trang 27ung thư CTC xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi từ 35-55 tuổi và có khoảng hơn20% xảy ra ở những phụ nữ ngoài 65 tuổi Một số phụ nữ (15%) bị ung thưCTC trước tuổi 30 Mặc dù ung thư CTC rất hiếm gặp ở phụ nữ dưới 20 tuổi,tuy nhiên tỷ lệ ung thư ở nhóm phụ nữ này là có xu hướng gia tăng Nhiềuphụ nữ trẻ bị nhiễm nhiều loại HPV có thể làm tăng những nhân tố nguy cơgây nên bệnh ung thư CTC [24]
Một vài số liệu về tỷ lệ ung thư nói chung và ung thư phụ khoa nóiriêng cũng có sẵn tại Phòng Ghi Nhận Ung Thư Hà Nội, đây là một Dự ánDân số được thành lập cuối năm 1987, và Phòng Ghi Nhận Ung thành phố HồChí Minh [108] Phòng Ghi Nhận Ung Thư Hà Nội đã chỉ ra rằng trongnhững năm từ 1991-1993 ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất đối vớiphụ nữ, ung thư dạ dày đứng hàng thứ hai, và ung thư CTC, ung thư phổi cócùng một tỷ lệ gần như nhau và đứng hàng thứ ba Tỷ lệ ung thư CTC (6,1trên 100.000) cũng thấp so với vùng dân cư khác Số liệu từ Phòng Ghi NhậnUng Thư thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ ung thư CTC tại thành phố
Hồ Chí Minh cao hơn gấp 4 lần so với tỷ lệ này tại Hà Nội (tỷ lệ tuổi tiêuchuẩn là 26,0) Tỷ lệ ung thư buồng trứng và tử cung tại thành phố Hồ ChíMinh cao hơn một chút so với Hà Nội
1.2.2 Ung thư cổ tử cung ở Việt Nam
Trên thế giới, nhất là ở hầu hết các nước phát triển đều có đầy đủ cơ sở
dữ liệu về ung thư CTC, tuy nhiên ở các nước đang phát triển, trong đó cóViệt Nam, vì nhiều lý do khác nhau, các số liệu trên không đầy đủ và chưa có
hệ thống cơ sở dữ liệu Tại Việt Nam, trước những năm 90, các số liệu về tìnhhình ung thư được công bố rất ít và thường là các thống kê về số lượng cácbệnh nhân ung thư đến khám điều trị ở một vài bệnh viện lớn Ung thư CTCtại nước ta là một loại ung thư phổ biến nhất trong các nước Đông Nam
Á Đặc biệt, tại Thành phố Hồ Chí Minh và miền Nam nói chung, tỉ lệ phát
Trang 28sinh ung thư hàng năm (khoảng 26 trên 100.000 phụ nữ) cao gấp 4 lần so với
tỉ lệ ở Hà Nội và phụ nữ phương Tây [59]
Báo cáo ghi nhận ung thư giai đoạn 2001- 2004 cho thấy ung thư CTCtại miền Bắc đứng thứ 5 trong các ung thư ở phụ nữ với 9,5 trên 100.000 dân.Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê của trung tâm ung bướu (2003) thìung thư CTC đứng hàng thứ 2 trong số các ung thư gặp ở phụ nữ với 16,5trường hợp trên 100.000 dân [17]
Ở Việt Nam, đối với nam giới, ung thư phổi đứng hàng đầu, đứng thứhai là ung thư dạ dày Còn ở nữ giới, ung thư vú đứng hàng đầu rồi đến ungthư CTC Tỷ lệ mắc ung thư vú và ung thư CTC ở các tỉnh phía Bắc là27,3/100.000 dân, còn ở phía Nam là 17,1/100.000 dân [4] Hỗ trợ cho việctầm soát ung thư CTC, người ta đã áp dụng nhiều phương pháp để chẩn đoántrong đó có phương pháp bôi acid acetic để xác định các tổn thương thực thểđặc hiệu [30]
Một nghiên cứu khác cũng cho thấy ung thư CTC là loại ung thư phổbiến thứ hai ở phụ nữ Việt Nam; tuy nhiên, tỷ lệ mắc rất gần với ung thư vú
Tỷ lệ mắc ung thư CTC ở thành phố Hồ Chí Minh rất đặc thù cho các quầnthể có nguy cơ cao trong khu vực nhưng lại cao gấp 4 lần so với tỷ lệ này ở
Hà Nội Tỷ lệ mắc ung thư CTC ở Hà Nội gần với của các quần thể có nguy
cơ thấp [19] Điều này càng được chú ý hơn khi số người mắc ung thư ở ViệtNam có chiều hướng đang gia tăng, hiện có khoảng 120.000 người mắc ungthư được phát hiện, trong số đó có tới một nửa trong số họ đang ở vào giaiđoạn cuối của bệnh [5], [7]
Theo thống kê của Bệnh viện K Hà Nội năm 1994, ung thư CTC đứnghàng thứ ba trong số các ung thư ở phụ nữ, chiếm tỷ lệ 7,7 trường hợp trên100.000 dân Ngược lại, theo thống kê năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh,ung thư CTC đứng hàng đầu trong các ung thư gặp ở nữ giới với tỷ lệ là
Trang 2922/100.000 dân [27] Ở thành phố Hồ Chí Minh ung thư CTC đứng hàng thứnhất trong các loại ung thư ở phụ nữ với tỷ lệ là 22,0/100.000 dân [15],[28].Nguyễn Mạnh Quốc (1996) tiến hành nghiên cứu: ghi nhận ung thư quần thểtại 26 trung tâm, bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1995-1996với tổng cộng 1.057 ca ung thư CTC mới xuất hiện trên tổng số 8.418 ca ungthư (chiếm tỷ lệ 12,55% các dạng ung thư; 24,4% ở nữ giới) [32].
Một số nghiên cứu cho thấy có sự phân bố ung thư theo khoảng tuổi.Khoảng tuổi thường gặp nhất là 55-64 tuổi (34,4%), dưới 40 tuổi chỉ có20,3% Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu của các tác giảkhác Ung thư CTC tại TP Hồ Chí Minh có xuất độ cao so với các dữ liệutương ứng trong vùng Đông Nam Á cũng như trên thế giới và đứng hàng thứ
9 trên thế giới [32],[105],[124] Người Việt sống tại Los Angeles, Mỹ và tạiPháp cũng có tỷ lệ ung thư CTC cao hơn so với người bản xứ [32]
Theo nghiên cứu về tình hình ung thư CTC ở Hà Nội tại 24 bệnh viện và
cơ sở y tế tuyến trung ương và thành phố giai đoạn 1996-1999, ung thư CTCchỉ đứng hàng thứ năm ở phụ nữ Hà Nội [55] Đặc điểm này rất khác biệt sovới đặc điểm ung thư của các nước đang phát triển, nơi mà trong phần lớn cáctrường hợp, ung thư CTC chiếm vị trí hàng đầu
Nghiên cứu về tình hình ung thư ở Thái Nguyên giai đoạn 2001-2003cho tại 15 bệnh viện và cơ sở y tế trong tỉnh cho thấy: tỷ lệ mắc ung thư ở nữgiới là 41,9/100.000 dân trong đó ung thư CTC có tỷ lệ mắc thô và mứcchuẩn lần lượt là 2,9 và 3,6/100.000 dân, đứng hàng thứ năm trong tổng sốcác bệnh ung thư ở nữ giới Nghiên cứu cũng cho biết tỷ lệ mắc bệnh ung thưCTC thường gặp ở độ tuổi từ 50-54 tuổi, tỷ lệ này giảm sau 55 tuổi [23].Nghiên cứu tình hình mắc ung thư quần thể tại Hải Phòng giai đoạn2001-2003 cho thấy: trong số 1968 ca mắc ung thư mới (năm 2003 chưa thuthập đủ số liệu) nữ giới có 848 ca (43,1%) [17] Trong số những ca mắc ung
Trang 30thư ở nữ giới, ung thư CTC có tỷ lệ mắc chuẩn là 2,9/100.000 dân đứng hàngthứ 5, tỷ lệ này thấp hơn so với ở Hà Nội giai đoạn 1996-1999 (5,5/100.000dân), đồng thời cũng thấp hơn so với thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-
1996 (26,0/100.000 dân) [32]
Theo điều tra ghi nhận ung thư tại Thừa Thiên Huế trong 3 năm
2001-2003 đã ghi nhận được ung thư ở cơ quan sinh dục nữ chiếm 13,7%, ung thưCTC có tỷ lệ mắc trung bình trong một năm là 5,1/100.000 dân và được xếpthứ 3 trong tất cả các loại ung thư [49] Nghiên cứu ghi nhận ung thư tại CầnThơ trong 2 năm 2002-2003 đã phát hiện được 352 trường hợp ung thư CTC,
đó là ung thư hay gặp nhất trong 10 loại phổ biến và đứng hàng thứ 3 sau ungthư gan và ung thư đại trực tràng [35]
Một nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện tại cộng đồng thành phố
Hồ Chí Minh từ 15/8/2003 đến 15/11/2003 bằng phương pháp phỏng vấn trựctiếp, khám phụ khoa và làm tế bào CTC-âm đạo cho 1615 phụ nữ 40-65 tuổi
có quan hệ tình dục Kết quả cho thấy có 1,9% số trường hợp có tế bào CTCbất thường (gồm 30 trường hợp) [29]
1.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
1.3.1 Các yếu tố môi trường xã hội liên quan đến ung thư cổ tử cung
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới bệnh tật của con người nói chungtrong đó có ung thư Các số liệu về tình hình mắc ở tất cả các nước trên thếgiới cho thấy ung thư ở vùng đô thị gặp nhiều hơn ở vùng nông thôn Cácnguồn ô nhiễm không khí ở đô thị là do công nghiệp, giao thông và tiêu thụnhững sản phẩm có chứa các chất gây ung thư Các mẫu không khí lấy từ cácthành phố công nghiệp lớn cho thấy thành phần một số loại hợp chất gây ung thưcao, các hydrocarbon thơm đa vòng, Benzen, Asen, SO2, Cadmium, [3], [49].Một số nghiên cứu dịch tễ cho thấy rằng có trên 80% tác nhân gây ung thư bắtnguồn từ môi trường sống Trong đó hai tác nhân lớn nhất là chế độ ăn uống
Trang 31(35%), thứ hai là do uống rượu và hút thuốc lá (40%); những tác nhân này cóảnh hưởng xấu rất nhiều đối với sức khỏe con người nói chung, đặc biệt là đốivới phụ nữ và trẻ em [80], [101], [139].
Một số yếu tố xã hội như: tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, dân tộc,nơi cư trú, các yếu tố tiền căn sản phụ khoa (tuổi lấy chồng, tuổi sinh con lầnđầu, số lần sinh con, số con, số lần quan hệ tình dục, tuổi quan hệ tình dục lầnđầu), hút thuốc, là những yếu tố nguy cơ cao gây ung thư nói chung và ungthư CTC nói riêng Nhiều yếu tố gây nên bệnh ung thư CTC như: điều kiệnkinh tế, xã hội thấp, quan hệ tình dục sớm, có nhiều bạn tình, mang thai sớm,
sử dụng hoóc-môn tránh thai và hút thuốc lá [64], [66], [71]
Vấn đề tôn giáo, ăn uống (những thức ăn giàu Vitamin A và Vitamin C
có tác dụng bảo vệ và chống lại ung thư CTC), hút thuốc lá, suy giảm miễndịch và dùng thuốc tránh thai bằng đường uống liên tục đã được nghiên cứucũng là những nhân tố có liên quan đến ung thư CTC Song quan trọng nhấtvẫn là nhiễm HPV, quan hệ tình dục sớm và với nhiều bạn tình, đẻ dày và nạohút thai nhiều lần [94], [125], [128]
Một số nghiên cứu khác cũng đã cho thấy hút thuốc lá và viêm CTC do
vi rút HPV là những nguyên nhân phổ biến của ung thư CTC: Nguyễn BáĐức và cộng sự (2007) đã chỉ ra hút thuốc lá thụ động ngoài việc bị coi là mộtnguyên nhân ung thư nói chung, ung thư CTC nói riêng [19] Nội dung báocáo về ung thư CTC của Viện Y tế quốc gia Mỹ (1996) cho thấy sự nhiễm virút HPV làm tăng nguy cơ bị ung thư CTC và là nguyên nhân gây ung thưCTC đối với hầu hết phụ nữ Mỹ [99] Năm 2008, nhà khoa học người Đức làHarald zur Hausen đã đạt được giải Nobel Y học cho việc phát hiện ra cơ chếHPV gây ung thư CTC Phát hiện này giúp hiểu hơn về cơ chế gây ung thư và
là cơ sở để chế tạo các vắc-xin phòng ung thư CTC Việc cho phép ứng dụngvắc xin HPV phòng ung thư CTC đã được chấp thuận tại Việt Nam
Trang 32Các kết quả nghiên cứu về mối liên quan giữa HPV và ung thư CTC sẽđược tập hợp chi tiết hơn trong mục riêng ở phần sau của chương này Phầndưới đây trình bày kết quả nghiên cứu về một số yếu tố môi trường xã hội cónguy cơ gây ung thư CTC:
1.3.1.1 Yếu tố nhân khẩu học liên quan tới ung thư cổ tử cung
Tuổi là yếu tố nguy cơ của phần lớn các bệnh ung thư; tuy nhiên, khôngphải bao giờ cũng quan sát được hiện tượng này vì tỷ lệ chẩn đoán ung thư ởngười cao tuổi thường thấp vì nhiều lý do [1]
Theo các nghiên cứu và y văn về ung thư CTC thì ung thư CTC thườngtìm thấy ở những phụ nữ ở tuổi trung niên, đỉnh cao là từ 50-65 tuổi; tuynhiên, độ tuổi ở các nghiên cứu khác nhau cũng có sự khác biệt:
Nghiên cứu của Lê Phúc Thịnh cho thấy nhóm tuổi thường gặp ung thưCTC nhất là 40-69 và đỉnh cao là 50-59, số tuổi trung bình của các bệnh nhântrong nghiên cứu này là 55 [39] Một nghiên cứu khác của Carlos cho thấyđỉnh tuổi cao nhất của phụ nữ mắc ung thư CTC ở mức thấp hơn đôi chút,trong khoảng 40-55 tuổi, trung bình là 48 tuổi [72]
Nghiên cứu của tác giả Hirohiko Tsujii lại ghi nhận tuổi thường gặp nằmtrong khoảng 50-59 [88] Tác giả Đặng Thị Phương Loan cũng ghi nhậnkhoảng tuổi thường gặp là 40-49, tuổi trung bình là 52 [27] và một nghiêncứu khác của Lê Phúc Thịnh tại TP Hồ Chí Minh cho thấy tuổi hay gặp ungthư CTC là 40-50 tuổi [40]
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mạnh Quốc, khoảng tuổi thườnggặp ung thư CTC nhiều nhất ở phụ nữ từ 55-64 tuổi, dưới 44 tuổi chỉ có20,3% Đặc trưng theo tuổi của ung thư CTC tăng nhanh và đạt đỉnh cao ở60-65 tuổi, sau đó giảm nhẹ [32]
Trang 33Theo nghiên cứu của Đặng Thị Phương Loan, nhóm tuổi có tỷ lệ bệnhnhân ung thư CTC thấp nhất là nhóm từ 29 tuổi trở xuống và cao nhất là ởnhóm tuổi từ 40-49 trong tổng số bệnh nhân ung thư CTC tham gia nghiêncứu Tuổi trung bình mắc ung thư CTC là 51,42±11,53 tuổi [28]
Người ta đã cũng đã nghiên cứu thấy rằng tuổi trung bình bị ung thưCTC xâm lấn ở phụ nữ là 48-52 tuổi Tỷ lệ mắc ung thư CTC có sự thay đổinhiều theo yếu tố địa lý Chẳng hạn như ở Châu Âu và Bắc Mỹ sự thay đổinày nằm trong khoảng từ 10-20 trường hợp mắc mới trên 100.000 phụ nữ mỗinăm [37], [89]
Nghiên cứu về liên quan giữa tỷ lệ ung thư CTC với một số yếu tố nguy
cơ được tiến hành tại Bệnh viện K Hà Nội trong giai đoạn 1996-1998 chothấy: tỷ lệ ung thư CTC có tỷ lệ cao nhất ở phụ nữ trong nhóm tuổi 40-49(32,4%), thấp nhất là phụ nữ ở nhóm tuổi dưới 29 (1,3%) Những bệnh nhân
có trình độ học vấn phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất (35,2%), trong khi
đó những bệnh nhân có trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trởlên chiếm 12,0% [28]
Bên cạnh các nghiên cứu về tuổi, nghề nghiệp của đối tượng cũng đãđược nhiều nghiên cứu đề cập đến như là một yếu tố liên quan Trong mốiquan hệ giữa ung thư CTC và nghề nghiệp, người ta thấy rằng những phụ nữ
là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất 53,6% [28]
Một nghiên cứu về mối liên quan giữa trình độ học vấn và ung thư CTCtrên 2204 ca ung thư CTC ở Quito, Ecuador trong giai đoạn 1985-1994 chothấy tỷ lệ mắc ung thư CTC trên 100.000 phụ nữ không biết chữ là 88; tỷ lệnày ở những phụ nữ học hết cấp 1 là 52,6; học hết cấp 2 là 28,8 và đối vớinhững người có trình độ đại học là 14,9 [72] Như vậy, có sự giảm dần tỷ lệmắc ung thư CTC ở phụ nữ có trình độ học vấn cao
Trang 34Theo kết quả nghiên cứu của Lê Phúc Thịnh, đa số bệnh nhân mới chỉhọc từ cấp 1 trở xuống, chiếm tới 87% [39] Cũng theo kết quả nghiên cứucủa “Chương trình Việt - Mỹ thí điểm phòng chống ung thư CTC giai đoạn1998-2000” tại Thành phố Hồ Chí Minh thì ung thư tế bào gai ở nhóm phụ nữkhông đi học cao hơn 27 lần so với nhóm có trình độ đại học [7]
Trong một nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Phương Loan, những bệnhnhân ung thư CTC có trình độ văn hoá trung học cơ sở trở xuống chiếm tỷ lệcao nhất (38,4% có trình độ văn hoá tiểu học và 35,2% có trình độ trung học
cơ sở), trong khi đó những bệnh nhân có trình độ văn hoá từ trung cấp, caođẳng, đại học trở lên chiếm chỉ chiếm 12% so với tổng số bệnh nhân tham gianghiên cứu [28]
Thông thường, những phụ nữ có trình độ học vấn thấp (từ trung học cơ
sở trở xuống) thường có nguy cơ mắc ung thư CTC cao hơn so với nhóm cótrình độ học vấn cao hơn [77] Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Đặng ThịPhương Loan lại cho kết quả ngược lại, tỷ lệ phụ nữ bị ung thư CTC có trình
độ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và cao đẳng, đại học khôngkhác biệt nhiều, nhóm phụ nữ có trình độ trung học phổ thông lại có tỷ lệ mắcbệnh cao nhất (41,2%) và thấp nhất là ở nhóm có trình độ trung học cơ sở(34,9%) [27]
Các tác giả Brinton LA, Schairer C, đã tiến hành nghiên cứu nghềnghiệp và ung thư CTC và nhận ra rằng, những phụ nữ làm việc và nội trợ cócùng nguy cơ mắc ung thư CTC thể xâm lấn, với một số nhóm làm dịch vụ vàcông nhân có nguy cơ mắc cao hơn [71] Một nghiên cứu khác lại cho kết quả
có sự khác nhau về nguy cơ mắc ung thư CTC giữa các nhóm nghề nghiệp (sựkhác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,001), cụ thể là những phụ nữ làm nôngnghiệp có nguy cơ mắc ung thư CTC cao hơn so với những phụ nữ là cán bộ,công nhân viên chức [27]
Trang 35Cũng có nghiên cứu khác đưa ra tỷ lệ bệnh nhân ung thư CTC là nôngdân chiếm tỷ lệ cao nhất, ở mức 53,6%; những bệnh nhân có nghề tiểu thủcông nghiệp, buôn bán hay hưu trí có tỷ lệ thấp nhất Trong khi đó nhómbệnh nhân là cán bộ viên chức chiếm tỷ lệ 25,1% [28] Kết quả nghiên cứucủa “Chương trình Việt - Mỹ thí điểm phòng chống ung thư CTC 1998-2000” tiến hành trên 10.112 phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy ởphụ nữ làm ruộng, ung thư gặp nhiều hơn 5-10 lần so với nhóm giáo viên,công nhân viên chức [7].
Các nghiên cứu trên các quần thể di cư cho thấy có sự kết hợp vai tròcủa các yếu tố di truyền và môi trường đối với nguy cơ ung thư qua việc sosánh tình hình ung thư của nhóm nhập cư với quần thể gốc và quần thể nơinhập cư Sự khác biệt về tình hình ung thư của những chủng tộc khác nhautrong cùng một quốc gia cho thấy tính mẫn cảm di truyền và các yếu tố vănhoá có thể ảnh hưởng lớn tới nguy cơ mắc ung thư Những người theo mộttôn giáo nào đó có thể có những nếp sống đặc biệt mang ảnh hưởng tới đặcđiểm bệnh ung thư ở nhóm người này [1], [75]
Phân theo khu vực thành thị và nông thôn, nghiên cứu của Đặng ThịPhương Loan cho thấy bệnh nhân ung thư CTC sống ở vùng nông thôn chiếmtới 61,3%, tỷ lệ này cao hơn so với nhóm bệnh nhân sống ở khu vực thànhphố, thị xã [28]
1.3.1.2 Chế độ ăn và lối sống liên quan tới ung thư cổ tử cung
Chế độ ăn liên quan tới 40% các loại ung thư, điển hình là 2 bệnh ungthư vú và ung thư đại trực tràng Rượu độ cồn cao, uống bia nhiều là tiền đềcho ung thư Những người phụ nữ uống nhiều rượu sẽ tăng nguy cơ mắc ungthư CTC và các ung thư khác hơn so với nhóm phụ nữ không uống rượuthường xuyên Bên cạnh đó, cân nặng vượt trên mức trung bình 40% làm tăng
Trang 36nguy cơ tử vong do ung thư lên 55% ở nữ giới và béo phì cũng có liên quanvới ung thư CTC [1].
Khói thuốc lá chứa hơn 4.000 chất hoá học trong đó có 43 chất là tác nhângây ung thư Khi hít khói thuốc lá tất cả các chất này sẽ đi vào cơ thể và gây ranhiều căn bệnh nguy hiểm trong đó có bệnh ung thư CTC Thuốc lá không chỉảnh hưởng trực tiếp tới người hút mà còn tới cả những người xung quanh [1].Nghiên cứu của tác giả Coker AL [74] cho thấy phụ nữ ung thư CTC có hútthuốc vào thời điểm phát hiện ra bệnh có nguy cơ tử vong về bệnh này cao hơncác phụ nữ khác Bên cạnh đó, phụ nữ không có bảo hiểm y tế hoặc tự chi trảcho việc khám chữa bệnh có nguy cơ tử vong vì căn bệnh này cũng cao hơn
1.3.1.3 Yếu tố y tế liên quan tới ung thư cổ tử cung
Hành vi tình dục đã được chứng minh có mối liên quan rất chặt chẽ đếnmột số bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư CTC Hành vi tình dục làm tăng cơhội tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư lây truyền qua đường sinh dục Nhữngphụ nữ nguy cơ mắc ung thư CTC cao là những người: có quan hệ tình dụclần đầu sớm khi CTC chưa thực sự ổn định; có quan hệ tình dục với nhiều bạntình hoặc người chồng có nhiều bạn tình; sinh đẻ nhiều lần; nạo hút thai, táihôn nhiều lần; tảo hôn (kết hôn với người có quan hệ họ hàng gần); uốngthuốc tránh thai nhiều hoặc đặt vòng và tháo vòng tránh thai nhiều Điều nàyđược thể hiện qua các nghiên cứu dưới đây:
Nghiên cứu của Martinez cho thấy quan hệ sớm (ở tuổi dậy thì) là mộttrong những yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi rút HPV [95] Một nghiêncứu khác cho thấy nếu người phụ nữ sinh hoạt tình dục trước 20 tuổi thì nguy
cơ ung thư CTC cao hơn 2,6 lần so với những người sinh hoạt tình dục sau 20tuổi; người có kinh trước 14 tuổi nguy cơ ung thư CTC cao hơn 2,2 lần so với
Trang 37những người có kinh sau 14 tuổi; người có 5 con trở lên nguy cơ ung thư CTCcao hơn 3-6 lần so với những người có từ 4 con trở xuống [34].
Người ta cũng thấy rằng xét theo theo số lần có thai, tỷ lệ bệnh nhân bịung thư CTC tăng tỷ lệ với số lần có thai, nhất là ở những phụ nữ có thai từ 5lần trở lên [28]
Bất cứ một biện pháp nhằm tránh xa sự nhiễm bệnh lây truyền quađường tình dục thì sẽ làm giảm nguy cơ ung thư CTC Đó là các biện phápsau: chỉ quan hệ tình dục lần đầu tiên khi từ 18 tuổi trở lên; chỉ quan hệ tìnhdục với một bạn tình; sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục; sinh đẻ ít; đẻcon lần đầu khi độ tuổi đạt khoảng từ 20-30 tuổi [65], [68], [91]
Người ta thấy rằng, nếu mắc phải bất kỳ một bệnh lây truyền qua đườngtình dục nào như mụn sinh dục, lậu, giang mai,… đều có thể làm tăng nguy cơung thư CTC ở người phụ nữ Ung thư CTC gặp nhiều ở những phụ nữ cóchồng, ít gặp ở những phụ nữ không có chồng, và hầu như không gặp ởnhững người không có quan hệ tình dục [102], [112]
Theo kết quả nghiên cứu của “Chương trình Việt - Mỹ thí điểm phòngchống ung thư CTC giai đoạn 1998-2000” tiến hành trên 10.112 phụ nữ tạiThành phố Hồ Chí Minh: Nguy cơ ung thư CTC ở những người sinh hoạt tìnhdục trước 20 tuổi cao hơn 2,6 lần so với những người sinh hoạt tình dục sau
20 tuổi; và phụ nữ có 5 con trở lên tỷ lệ nguy cơ ung thư CTC cao hơn 3-6 lần
so với những người chỉ có từ 4 con trở xuống [7]
Những người phụ nữ mang thai nhiều lần thì có nguy cơ làm ung thưCTC phát triển Người ta đưa ra giả thuyết là trong quá trình mang thai ngườiphụ nữ có sự thay đổi hoóc-môn, do đó rất dễ bị nhiễm HPV; chính điều đótạo điều kiện thuận lợi đối với sự phát triển của ung thư CTC Một số ý kiến
Trang 38cho rằng hệ thống miễn dịch của thai phụ yếu, do vậy đã tạo điều kiện cho sựnhiễm HPV và sự phát triển của ung thư CTC [103], [107]
Người ta thấy rằng bệnh ung thư CTC liên quan đến những kích thích từbên ngoài như sinh nở nhiều lần, nạo hút thai nhiều, nhiễm các bệnh lây quađường tình dục Tỷ lệ mắc bệnh được phát hiện ở mức cao ở những phụ nữtảo hôn và sinh con quá sớm (trước 18 tuổi), sinh con nhiều Đặc biệt, ở gáimại dâm, phụ nữ tái hôn trên 3 lần và phụ nữ bị viêm loét CTC, nguy cơ ungthư sẽ cao gấp 7 lần so với người bình thường Điều đáng quan tâm là số contrung bình cũng như số lần sinh con trung bình của phụ nữ Việt Nam hiện còn
ở mức cao [32], [45]
Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy ung thư CTCthường gặp ở phụ nữ có tuổi sinh hoạt tình dục sớm và phụ nữ có từ 5 con trởlên có tỷ lệ mắc bệnh này cao Lập gia đình sớm và sinh hoạt tình dục vớinhiều người cũng làm tăng nguy cơ ung thư CTC [25]
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Phúc Thịnh, đa số bệnh nhân ung thưCTC đều có tuổi lấy chồng rất sớm, trước 20 tuổi (chiếm trên 50%), thậm chí
có đến 13,8% bệnh nhân lấy chồng khi chưa đến tuổi trưởng thành Có tới26,7% sinh con lần đầu trước 20 tuổi và có gần 5% bệnh nhân sinh con đầulòng vào ở tuổi vị thành niên Chỉ có 30% bệnh nhân sinh từ 3 lần trở xuống,trong khi đó số bệnh nhân sinh từ 6 lần trở lên lại chiếm tới gần 50% Số bệnhnhân đã mãn kinh chiếm tỷ lệ rất cao, 61,5% [39]
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Quốc về đặc điểm dịch
tễ học của ung thư CTC tại Thành phố Hồ Chí Minh thì các yếu tố lập giađình sớm, quan hệ tình dục lần đầu của phụ nữ sớm và quan hệ với nhiều đànông không được xem như các yếu tố nguy cơ của ung thư CTC, các đối tượngtrong nghiên cứu này có tuổi lập gia đình trung bình 20,6 tuổi và có tới 76,1%
Trang 39đối tượng chỉ có 1 chồng Trong nghiên cứu này, số lần sinh trung bình củaphụ nữ ung thư CTC là 5,5 [32].
Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng ung thư CTC tại Bệnhviện K Hà Nội cho thấy đa số bệnh nhân ung thư CTC bắt đầu có kinh lần đầu
ở nhóm tuổi từ 14-17, tuổi trung bình có kinh của bệnh nhân tham gia nghiêncứu này là 16,37 ± 2,1 tuổi, tập trung chủ yếu ở những người phụ nữ còn kinhnguyệt (55,6%) Tỷ lệ bệnh nhân ung thư CTC tăng dần với số lần có thai, đạtđỉnh cao nhất là ở những phụ nữ có thai từ 5 lần trở lên (63,5%) và đẻ nhiềulần (từ 5 lần trở lên là 39,1%) Bệnh nhân ung thư CTC không đẻ lần nào (baogồm cả bệnh nhân chưa sinh con lần nào và bệnh nhân có thai nhưng nạo thaihay sẩy thai mà không sinh con) chiếm tỷ lệ rất thấp, 1,8% [28]
Khi phân tích liên quan giữa ung thư CTC với các biện pháp tránh thai,tác giả Đặng Thị Phương Loan phát hiện thấy những phụ nữ có tiền sử đặtvòng tránh thai có tỷ lệ mắc ung thư CTC cao hơn so với nhóm không có tiền
sử đặt vòng tránh thai (40,9% và 34,8%) [27] Một số nghiên cứu khác đã chỉ
ra rằng nếu phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài sẽ làm tăngnguy cơ ung thư CTC Những phụ nữ sử dụng viên uống tránh thai trên 10năm sẽ có nguy cơ bị ung thư cao gấp 4 lần so với những người phụ nữ kháckhông sử dụng biện pháp tránh thai này [90], [93], [115]
Tiền căn bệnh lý bao gồm tiền căn bệnh lý cá nhân (cao huyết áp, ungthư khác, các bệnh sản phụ khoa, ) và tiền căn bệnh lý gia đình (người thân:
mẹ, chị em ruột, dì ruột, ) Nếu một người phụ nữ có những bệnh lý khácnhư mắc ung thư khác, bị viêm phụ khoa, thì cũng sẽ có nguy cơ mắc ungthư CTC cao hơn so với những phụ nữ bình thường Ung thư CTC không cótính di truyền, tuy nhiên đối với những người phụ nữ mà trong gia đình cóngười thân (mẹ, chị, em gái ruột, dì ruột, ) bị ung thư CTC thì bản thân
Trang 40người phụ nữ đó cũng có khả năng phát triển bệnh cao gấp từ 2-3 lần so vớibình thường [39].
Việc nhiễm khuẩn đường sinh dục có liên quan đến ung thư CTC haykhông còn chưa đủ bằng chứng; tuy nhiên, nhiễm khuẩn đường sinh dục rõràng đã ảnh hưởng tới đời sống tình dục và đặc biệt có thể dẫn tới sự biến đổi
tế bào CTC Gần đây đã có nghiên cứu đã đề cập đến nhiễm Chlamydia
trachomatis và đã chứng minh sự có mặt của kháng thể kháng yếu tố ức chế
di chuyển đại thực bào (MIF) làm tăng yếu tố phát triển ung thư CTC dạng
biểu mô vảy Bên cạnh đó, DNA của Chlamydia trachomatis đã được tìm
thấy trong 40% trường hợp ung thư CTC dạng biểu mô vảy thông qua xétnghiệm bằng phản ứng chuỗi trùng hợp hay còn gọi là phản ứng khuếch đạigen (PCR) [109]
Có nhiều yếu tố môi trường xã hội có liên quan đến bệnh ung thư CTC
đã được chỉ ra, trong đó phải kể đến sự già đi của dân số do tuổi thọ trungbình ngày càng tăng, tình trạng ô nhiễm thực phẩm, sự phổ biến của các hành
vi có hại cho sức khỏe (thiếu vận động, chế độ ăn uống mất cân đối, thiếu rauquả,…) WHO cũng đã chỉ ra rằng việc chấp nhận một lối sống lành mạnh vàcác biện pháp y học cộng đồng do chính phủ và ngành y tế đưa ra có thể làmđảo ngược xu thế này, cho phép tránh được 1/3 trường hợp mắc mới ung thư
và chữa khỏi 1/3 trường hợp ung thư khác [89]
Ung thư nói chung và ung thư CTC nói riêng từ lâu đã được biết đến làbệnh nan y chưa có biện pháp điều trị hữu hiệu, do đó việc phòng bệnh ngay
từ ban đầu tại cộng đồng đã và đang giữ một vai trò hết sức quan trọng [12].Dấu hiệu tích cực cho thấy có các phương pháp điều trị hiện đại kết hợp hiệnnay, trong đó có xạ trị, đang được áp dụng rộng rãi và cho hiệu quả cao [36],[38], [39] Người ta đã chỉ ra rằng việc điều trị ung thư CTC hoàn toàn có thể