Nhưng hiện nay, hầu hết trong các tiết dạy Lịch sử giáo viên chỉ chú ý đến truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa cho học sinh sao cho đầy đủ nhất, phù hợp với lượng thời gian tiết họ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1954) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên em xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo hướng dẫn Th.s Trương Trung Phương – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo
em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô giáo khoa Lịch sử, gia đình, bạn
bè, luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ em trong những lúc khó khăn
Em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Thái Phiên và trường THPT Thanh Khê – Thánh phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện để em tiến hành thực nghiệm sư phạm những biện pháp đề cập trong khóa luận
Em xin gởi lời cảm ơn đến Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng, Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế đã giúp đỡ em tìm hiểu, khai thác nguồn tài liệu cần thiết, đây là một phần quan trọng giúp cho để tài nghiên cứu đạt kết quả cao nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, Tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục đề tài 5
N I DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1954) Ở TRƯỜNG THTP TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT 6
1.1.2 Quan niệm về tích hợp và tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở trường THPT 10
1.1.3 Vai trò của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở trường THPT 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Xu thế dạy học tích hợp thực tiễn trên thế giới và Việt Nam 14
1.2.2 Thực tiễn dạy học tích hợp ở trường THPT nước ta hiện nay 16
CHƯƠNG 2: KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945 – 1954 Ở TRƯỜNG THPT 19
2.1 Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam ( 1945 – 1954) ở trường THPT 19
2.1.1 Nước Việt Nam dân chủ cộng (Từ sau 2/9/1945 đến trước 19/12/1946) 19
2.1.2.Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp (1946 – 1950) 19
2.1.3 Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953) 20
2.1.4 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954) 20
2.2 Quy trình lựa chọn, xây dựng nội dung bài học tích hợp 20
2.2.1 Lựa chọn nội dung tích hợp kiến thức liên môn 20
2.2.2 Xác định mục tiêu của bài học 21
2.2.3 Dự kiến thời lượng dạy học tích hợp và thời điểm thực hiện bài dạy tích hợp. 22
Trang 42.2.4 Xây dựng nội dung dạy học tích hợp 22
2.2.5 Xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp 23
2.3 Hệ thống kiến thức liên môn được tích hợp để dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT 25
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1954) Ở TRƯỜNG THPT 29
3.1 Yêu cầu lựa chọn nội dung tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT 29
3.1.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học 29
3.1.2 Góp phần khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học 29
3.1.3 Đảm bảo tính khoa học 30
3.1.4 Đảm bảo tính vừa sức 30
3.2 Một số biện pháp tổ chức dạy học tích hợp kiến thức liên môn lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT 30
3.2.1 Tích hợp kiến thức địa lý trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)ở trường THPT 30
3.2.2 Tích hợp kiến thức văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)ở trường THPT 35
3.2.3 Tích hợp kiến thức giáo dục công dân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)ở trường THPT 39
3.2.4 Tích hợp kiến thức âm nhạc trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)ở trường THPT 41
3.3 Phần thực nghiệm sư phạm 43
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 43
3.3.2 Nội dung và phương pháp tiến hành 43
3.4.3 Kết quả thực nghiệm 46
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 1 54
PHỤ LỤC 2 56
PHỤ LỤC 3 58
PHỤ LỤC 4 60
PHỤ LỤC 5 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử là một trong những môn khoa học cơ bản được giảng dạy ở trường phổ thông Dạy học lịch sử ở trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử thế giới và dân tộc, mà qua đó còn giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm đúng đắn Đó là giáo dục lòng yêu nước, trung thành với dân tộc, với cách mạng, với Đảng… là việc noi gương người xưa để hành động trong ngày hôm nay, đồng thời giúp các em phát triển toàn diện Song muốn thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của môn học, cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo tinh thần : Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sang tạo của học sinh, bồi dưỡng học sinh năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên
Nhưng hiện nay, hầu hết trong các tiết dạy Lịch sử giáo viên chỉ chú ý đến truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa cho học sinh sao cho đầy đủ nhất, phù hợp với lượng thời gian tiết học mà chưa quan tâm đến nhu cầu tìm hiểu, học tập lịch sử của học sinh nên chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh dẫn đến việc học sinh vốn đã không mấy quan tâm đến môn lịch sử, nay lại thêm tâm lý nhàm chán, rơi vào tình trạng học thụ động, đối phó trong học lịch sử, làm cho mỗi giờ học lịch sử trở nên khô khan, nặng nề
Việc thực hiện mục tiêu giáo dục không chỉ là nhiệm vụ của môn lịch sử, mà đòi hỏi sự kết hợp của tất cả các môn học trong chương trình Dạy học tích hợp trong môn lịch sử là hình thức liên kết những kiến thức giao thoa với môn lịch sử như Ngữ văn, Địa lí, Tin học, Giáo dục công dân Góp phần làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh Nhưng các giáo viên ở trường phổ thông rất ít sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử, mặc dù bài học có thể sử dụng tài liệu tham khảo này Đó cũng là một hạn chế lớn cần được khắc phục để bộ môn lịch sử hấp dẫn hơn, cuốn hút học sinh hơn
Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử trong trường phổ thông là nhiệm vụ hết sức cần thiết trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử là một trong những biện pháp quan trọng trong dạy học lịch sử hiện nay
Trang 7Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng.” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề tích hợp KTLM thông qua dạy học lịch sử không phải là vấn đề mới
Đã được các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục lịch sử trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu và đề cập ở nhiều góc độ khác nhau
2.1 Tài liệu nước ngoài
I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” đã nêu rõ tác dụng, ý nghĩa của việc vận dụng kiến thức các môn học:
“Việc giáo viên có khả năng tìm được mối liên hệ giữa các vấn đề mà các nhà bác
học đã nghiên cứu với điều mà các em đã học ở nhà trường thuộc một môn học nào
đó cũng gây cho học sinh niềm hứng thú đặc biệt đối với việc học tập tài liệu mới”[25,tr.102] Những kiến thức mới, phong phú thuộc nhiều ngành khoa học khác
nhau vừa làm sáng tỏ nội dung mà HS đang học, vừa tạo hứng thú cho các em trong học tập
Tác phẩm kể trên đã đề cập đến một số khía cạnh của việc sử dụng phương pháp tích hợp như vai trò, ý nghĩa, tác dụng của phương pháp tích hợp trong một số trường hợp Nhìn chung, công trình đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, tuy nhiên, đó mới chỉ là cái nhìn khái quát, chung chung hay chỉ là một khía cạnh nào đó của đề tài Tuy vậy, những tài liệu trên đây chính là cơ sở, là nền tảng để tôi học tập, tham khảo nhằm hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Giáo trình lịch sử
Tác giả Phan Ngọc Liên ( chủ biên) trong cuốn “ Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” đã trình bày những vấn đề liên quan đến đổi mới cách dạy, cách học và tổ chức quá trình học tập của HS Trong đó, tác giả chỉ rõ cần đổi mới tổ chức dạy học theo hướng cho HS tiếp cận nhiều hơn với nguồn sử liệu, chú ý rèn luyện phương pháp, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học
Trang 8Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1 do GS TS Phan Ngọc Liên (chủ biên), PGS.TS Trịnh Đình Tùng, GS.TS Nguyễn Thị Côi, đã trình bày một
cách rất khái quát về nguyên tắc liên môn: “… việc nắm vững các sự kiện lịch sử
liên quan chặt chẽ với việc hiểu biết tri thức về nhiều môn khoa học xã hội và nhân văn (văn học, giáo dục công dân, triết học, địa lý) và cả về khoa học tự nhiên…”.[35,tr.259] Bên cạnh đó giáo trình còn đề cập tới tư tưởng tích hợp và
phân biệt giữa nguyên tắc liên môn và nguyên tắc tích hợp
2.2.2 Các sách chuyên khảo
Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của hội giáo dục lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội do GS Phan Ngọc Liên chủ biên có các bài viết về việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh, sử dụng tài liệu văn kiện Đảng… đây cũng là một khía cạnh của vấn đề sử dụng phương pháp tích hợp trong dạy học lịch sử
Điều này chứng tỏ, nếu giáo viên khai thác tốt nguồn kiến thức thông qua phương pháp tích hợp không chỉ khắc sâu nội dung lịch sử mà còn bổ sung cho học sinh kiến thức về những lĩnh vực khác, các em thấy được mối liên hệ giữa các nguồn kiến thức
2.2.3 Các tạp chí khoa học chuyên ngành
Bên cạnh các cuốn giáo trình và sách chuyên khảo, nhiều bài viết trên các tạp chí cũng đề cập tới nội dung sử dụng phương pháp tích hợp Bài “Mấy biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục qua một bài học lịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 -1988)
Những tài liệu kể trên đã khẳng định tính phổ biến của vấn đề sử dụng phương pháp tích hợp trong dạy học Các tác giả đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa của việc kết hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học trong học tập một bộ môn nhất định Việc làm đó góp phần phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập Đồng thời, các tác phẩm khẳng định, vận dụng linh hoạt nhiều nguồn kiến thức là khả năng cần có ở một giáo viên Những nguồn tài liệu trên nhấn mạnh sự cần thiết của nhiệm vụ giáo dục
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (
1945 – 1954) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng
Trang 94 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học LS, tôi đề xuất biện pháp tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945 – 1954 ở các trường THPT góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học
bộ môn Lịch sử
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) tại trường THPT
- Đề xuất một số biện pháp cụ thể trong việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) tại trường THPT nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
- Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các biện pháp tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) tại trường THPT
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu:
- Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng tài liệu từ các sách chuyên khảo, một số công trình nghiên cứu, các tư liệu liên quan đến các trang wed, báo điện tử, tạp chí
nghiên cứu khoa học, một số tài liệu khác cũng như kết quả thực tế, khảo sát được
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tài liệu: Đọc, sưu tầm và phân tích những tài liệu từ sách báo, tạp chí, Internet… về lý luận tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử,
Trang 10kĩ năng dạy học
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra cơ bản: tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu điều tra đối với giáo viên và học sinh
+ Thực nghiệm sư phạm: Soạn và giảng theo dự kiến để kiểm tra giả thuyết và hiệu quả của các biện pháp đề xuất Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954) (tiết 1) Địa bàn thực nghiệm: trường THPT Thái Phiên và trường THPT Thanh Thê – quận Thanh Khê – Thành phố Đà Nẵng
+ Sử dụng phương pháp toán học thống kê trên cơ sở so sánh các giá trị thu được giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá hiệu quả của những biện pháp dạy học mà đề tài đưa ra
6 Đóng góp của đề tài
- Khẳng định vị trí và vai trò của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử và ý nghĩa của nó khi vận dụng để truyền đạt kiến thức lịch sử để tạo hứng thú cho học sinh
- Phản ánh được thực trạng của việc dạy học Lịch sử ở trường THPT hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm để tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT, nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Chương 2: Kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)
ở trường THP ttrên địa bàn Đà Nẵng
Chương 3: Tổ chức dạy học tích hợp kiến thức liên môn phần lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng
Trang 11
N I DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 –
1954) Ở TRƯỜNG THTP TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
1.1.1.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Giai đoạn trước đổi mới, Đảng ta chưa ban hành nghị quyết Trung ương có tính chuyên đề về giáo dục và đào tạo Đường lối và các chính sách của Đảng về lĩnh vực này được thể hiện trong các văn kiện của các đại hội Đảng và các nội dung được đưa vào các nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Nghị quyết Đại hội IV nêu rõ: “ Tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển giáo dục phổ thông, sắp xếp, từng bước mở rộng và hoàn chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, phát triển rộng rãi các trường dạy nghề”
Đây là nghị quyết đầu tiên về chuyên đề giáo dục sau khi đất nước được thống nhất, có nhiều vấn đề cần cụ thể hoá bằng các chính sách, các đề án để thực hiện,
từ xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại cơ cấu hệ thống cho đến vấn đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học bậc học
Đến Nghị quyết Đại hội VII nêu rõ: mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Đến Đại hội VIII, về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nhấn mạnh với những nội
dung chủ yếu: cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục vàđào tạo là quốc sách
hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng
cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nhân
Trang 12dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo
Tại Đại hội IX, về vấn đề giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nêu rõ: “ Tiếp tục
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào tự học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”
Tại Đại hội X, Đảng chủ trương: Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao Có những điểm cần chú ý:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản
lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
- Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình
xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng
xã hội trong giáo dục
- Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông bảo đảm tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều kiện cụ thể của Việt Nam Kết hợp việc tổ chức phân ban với tự chọn ở trung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ trung học cơ sở Bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng phổ cập giáo dục
- Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực
và cho việc xuất khẩu lao động
- Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tích cực,
Trang 13sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều Hoàn thiện hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục Cải tiến nội dung và phương pháp thi cử nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập Khắc phục những mặt yếu kém và tiêu cực trong giáo dục
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục
- Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục Phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện việc miễn giảm đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi
- Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo Tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam, tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới Có cơ chế quản lý phù hợp đối với các trường
do nước ngoài đầu tư hoặc liên kết đào tạo
1.1.1.2 Định hướng vận dụng quan điểm tích hợp trong giáo dục sau năm 2015 của
bộ giáo dục và đào tạo
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Năm học mới 2014-2015, Bộ GD&ĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục khuyến khích giáo viên dạy học theo hướng “tích hợp,liên môn”
Để giúp các trường có định hướng đúng về đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh từ dạy học theo hướng “Tích hợp, liên môn”, Phòng GD&ĐT làm rõ một số nội dung cụ thể như sau:
Dạy học tích hợp, liên môn thuộc về nội dung dạy học, không phải là phương pháp dạy học Dạy học tích hợp, liên môn thì là do yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức
Trang 14tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp, liên môn
Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn
Đối với giáo viên, ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do:
Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có
sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó
Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức một chiều mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp Thế hệ giáo viên tương lai sẽ được đào tạo
về dạy học tích hợp, liên môn ngay trong quá trình đào tạo giáo viên ở các trường
sư phạm
Về dạy học kiến thức liên môn, Bộ GD&ĐT cũng đã tổ chức tập huấn giáo viên về rà soát chương trình, sách giáo khoa, xây dựng các chủ đề liên môn Để chuẩn bị cho năm học này, vừa qua Bộ GD&ĐT cũng đã tập huấn giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Trang 15học sinh, trong đó tập trung xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và chủ
đề tích hợp, liên môn phù hợp với phương pháp dạy học tích cực và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, nhà trường
Thực hiện dạy học tích hợp, liên môn, giáo viên không phải trang bị thêm nhiều về mặt kiến thức vì bản chất vẫn là dạy học môn học mà mình đang dạy Mặt khác, trong những năm qua giáo viên cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực Vấn đề hiện nay là phải vận dụng những kiến thức đó để: xây dựng các chủ đề dạy học, xác định những năng lực có thể phát triển cho học sinh trong mỗi chủ đề, biên soạn các câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học; thiết kế tiến trình dạy học thành các hoạt động học của học sinh, tổ chức dạy học để dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm Đó chính là nội dung trọng tâm sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn được nêu trong hướng dẫn nói trên
1.1.2 Quan niệm về tích hợp và tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử
ở trường THPT
Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
1.1.2.1 Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp
Bộ môn lịch sử với chức năng cung cấp kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, tồn tại và pháy triển của xã hội loài người, chính vì vậy nắm vững kiến thức lịch sử là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi học sinh Để góp phần giảm tải nội dung, chương trình, giúp học sinh có điều kiện đi sau, nắm vững kiến thức thì việc tiến hành biện pháp tích hợp trong dạy học lịch sử là cần thiết và nên được chú trọng
“ Tích hợp” là thuật ngữ xuất hiện nhiều trong giáo dục hiện đại – nó tương
đương với các từ intégration ( tiếng Pháp ) hay intergration (tiếng Anh) Nội hàm của khái niệm tích hợp có thể hiểu là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép cộng đơn giản của các thuộc tính ở các thành phần ấy Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành
Trang 16một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống Đạii từ điển
Bách khoa Xô viết định nghĩa “ Tích hợp là một khái niệm của lý thuyết hệ thống,
chỉ trạng thái liên kết của các phần tử riêng rẽ thành cái toàn thể , cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”, theo từ điển Tiếng Việt thì : Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp Như vậy,
có thể hiểu “ Tích hợp” là sự liên kết, phối hợp giữa các phần tử có mối quan hệ gần gũi, chặt chẽ, tác động qua lại tạo thành một thể thống nhất hỗ trợ cho nhau cũng lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống cụ thể
Trong lý luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, cá kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các
hợp phần của bộ môn đó Theo từ điển Giáo dục học : Tích hợp là hành động liên
kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học Mục tiêu của dạy học theo
hướng tích hợp là làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách kết hợp nhiều nguồn kiến thức vào nội dung giảng dạy, giúp học sinh nắm vững và vận dụng có hiệu quả kiến thức đã học để xử lý các tình huống, các vấn đề nảy sinh trong đời sống Đồng thời, dạy học tích hợp cũng giúp học sinh thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa các môn học, giữa các nội dung trong từng môn học, phân biệt được đâu là kiến thức cốt lõi, đâu là kiến thức bổ trợ từ đó phát triển kĩ năng thực hành cho học sinh
1.1.2.2 Khái niệm tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử
- Kiến thức liên môn
Kiến thức liên môn là những kiến thức giao thoa giữa các môn học, những
kiến thức ở những môn học khác nhau nhưng cùng đề cập đến một vấn đề Do đó, trong bất kì môn học nào cũng có thể sử dụng KTLM vì mọi mặt của đời sống đều
Trang 17có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Sử dụng KTLM trong dạy học có ba mức độ: ở mức độ thấp, GV nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi HS nhớ lại và vận dụng kiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi HS phải độc lập giải quyết các bài tập nhận thức bằng vốn kiến thức đã
biết
- Kiến thức liên môn trong DHLS
Chức năng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp cho HS những tri thức về sự phát sinh, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội loài người Vì vậy, kiến thức lịch sử có liên quan chặt chẽ đến kiến thức của các ngành khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội Trong quá trình giảng dạy, GV lịch sử phải tìm ra những khái niệm, những nội dung từ những môn học khác có thể sử dụng làm nổi bật kiến thức lịch sử HS cần lĩnh hội Có như vậy, HS nắm kiến thức lịch sử mới vững chắc và việc giáo dục tư tưởng thông qua môn học mới đạt hiệu quả cao Đối với HS, KTLM giúp các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử Điều này khắc phục tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của HS Nắm được mối liên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệ thống giữa các tri thức lịch sử, giúp HS có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử
Để sử dụng KTLM vào DHLS đạt hiệu quả cao, người GV lịch sử không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử mà còn phải nắm vững nội dung, chương trình các môn học được giảng dạy trong trường phổ thông có liên quan đến môn lịch sử, trước hết chính là những môn học “gần gũi” với lịch sử như: Văn học, Địa lí, Giáo dục công dân…Học sinh có vai trò chủ động, tích cực trong việc học tập vì khi học lịch sử theo phương pháp này HS phải huy động những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện Đồng thời, HS được ôn tập, củng cố, tổng hợp các kiến thức ở mức cao hơn và biết vận dụng thông minh kiến thức
- Dạy học tích hợp liên môn
Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học Đã dạy học "tích hợp" thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp
Trang 18Chủ đề tích hợp liên môn là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội Ví dụ: Kiến thức Vật lí và Công nghệ trong động cơ, máy phát điện; kiến thức Vật lí và Hóa học trong nguồn điện hóa học, kiến thức Lịch sử và Địa lí trong chủ quyền biển, đảo; kiến thức Ngữ văn và Giáo dục Công dân trong giáo dục đạo đức, lối sống…
1.1.3 Vai trò của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở
trường THPT
Dạy học từng môn riêng rẽ giúp HS hình thành kiến thức khoa học một cách
hệ thống, dạy học tích hợp giúp HS liên hệ kiến thức trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống Việc tích hợp kiến thức liên môn đóng vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Thứ nhất, dạy học tích hợp giúp HS trở thành người lao động tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống Dạy học theo hướng tích hợp cho phép rút ngắn được thời gian dạy học, đồng thời tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tin của chương trình và nội dung SGK phổ thông Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các bộ môn trong nhà trường phổ thông, nhất là tình trạng biệt lập giữa chương trình và SGK ở các cấp học, đặc biệt ở một số chương trình đồng tâm Việc giảng dạy tích hợp rèn cho HS ý thức và kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập Đối với một số nội dung kiến thức, người GV chỉ nên giới thiệu ở chừng mực cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập Nhờ đó, có thể qua đó khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của người học Cần đánh giá cao những HS biết sử dụng kiến thức phân môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của phân môn khác Đó là những thói quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện tiếp thu và vận dụng để dễ dàng hơn phương pháp nghiên cứu liên ngành ở các bậc học cao hơn, cũng như khi vào đời, có khả năng giải quyết dễ dàng hơn các vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là tình huống tích hợp
Thứ hai, dạy học tích hợp giúp HS sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã học ở tất cả các môn vào giải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong nhà trường gần lại với kiến thức xã hội Dạy học tích hợp giúp HS học tập thông minh
Trang 19và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại
Thứ ba, dạy học tích hợp còn đảm bảo cho HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách có hữu ích một tình huống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa gặp HS có thể được học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các
tư liệu học tập được biên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa học một cách hợp lý HS có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu PPDH của thầy thực sự chuyển hóa thành phương pháp dạy cách học cho trò, theo cách tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề mà HS là trung tâm, tập dượt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn
Thứ tư, dạy học tích hợp giúp HS rèn luyện tư duy khái quát, năng lực liên
hệ và mở rộng kiến thức, giúp HS dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức, giảm cường
độ học tập cho HS… Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học tạo điều kiện cho
HS phát triển tốt các kỹ năng Khi tích hợp kiến thức liên môn vào dạy học, các quá trình học tập không tách
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Xu thế dạy học tích hợp thực tiễn trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Dạy học tích hợp trên thế giới
Trên thế giới, dạy học tích hợp (DHTH) đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại bên cạnh các trào lưu sư phạm như: dạy học theo mục tiêu, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học phân hoá, tương tác Trào lưu sư phạm DHTH xuất phát từ quan niệm coi học tập là một quá trình góp phần hình thành ở học sinh (HS) những năng lực rõ ràng, trong đó HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác đã lĩnh hội được
Dạy học tích hợp được tiếp cận theo hai hướng:
- Hướng thứ nhất coi dạy học tích hợp là "một cách trình bày các khái niệm
và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực KH khác nhau" (Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972)
Trang 20- Hướng thứ hai lại quan niệm: dạy học tích hợp là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành, qua đó người học hình thành một năng lực nào đó
Khi xây dựng chương trình GDPT, xu hướng chung của các nước trên thế giới hiện nay là tăng cường tích hợp, đặc biệt ở cấp tiểu học và trung học cơ sở Theo thống kê của UNESCO (từ năm 1960 – 1974) có 208/ 392 chương trình môn Khoa học trong chương trình GDPT các nước thể hiện quan điểm tích hợp ở các mức độ khác nhau Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
về chương trình GDPT 20 nước cho thấy 100% các nước đều xây dựng chương trình theo hướng tích hợp
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là một trong những quan điểm
GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong DH và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định
1.2.1.2 Dạy học tích hợp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trong một số môn ở trường tiểu học như môn «Cách trí », sau đổi thành môn « Khoa học thường thức » Môn học này còn được dạy một số năm ở trường cấp I của miền Bắc nước
ta
Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng chương trình của các môn học theo quan điểm tích hợp đã được các nhà nghiên cứu như Trần Bá Hoành, Nghiêm Đình Vỳ chú ý Theo các nhà nghiên cứu này, “ tích hợp” chính là lồng ghép các nội dung của các môn khác ( hơn nữa là nội dung thực tiễn) vào việc dạy học các môn học.Vào những năm 90 của thế kỷ XX, việc đưa nội dung ( của nhiều môn học) vào xây dựng môn tự nhiên – xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết kế để đưa vào DH ở trường cấp I từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình năm 2000 đã được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong CT & SGK và các hoạt động DH ở tiểu học Tuy nhiên khái
Trang 21niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều GV Một số đã có nhận thức ban đầu nhưng còn hạn chế về kĩ năng vận dụng
Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập như cũ và giảng dạy như cũ theo chương trình và sách giáo khoa (CT & SGK) gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn
đề mới DH cần phải đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi trường, GD dân số, GD pháp luật, phòng chống ma túy, GD sức khỏe, an toàn giao thông…, nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học lên được Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm vụ GD nhiều mặt cho HS mà không quá tải
Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả
năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổ sung lẫn nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận đựợc để tạo nên tính bền vững của quá trình
DH các môn học
Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với các mức độ thấp
và khác nhau như: Lồng ghép - là đưa thêm nội dung cần học tương tự với môn học chính; tích hợp - là sự kết hợp tri thức của nhiều môn học tạo nên môn học mới Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã được GV tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn GV lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn hoặc tích hợp “nội môn Các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng
1.2.2 Thực tiễn dạy học tích hợp ở trường THPT nước ta hiện nay
Trên thực tế, việc sử dụng kiến thức các môn học khác để phục vụ cho việc dạy học lịch sử đã có từ lâu, được không ít giáo viên vận dụng và mang lại hiệu quả thiết thực trong quá trình dạy học Thực tế ở một số trường phổ thông cho thấy, các bài sọan để DH theo hướng tích hợp kiến thức liên môn đã giúp cho GV tiếp cận tốt nhất với CT & SGK mới Bài dạy linh hoạt, HS học được nhiều, được chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kĩ năng Muốn tiến hành có hiệu quả, cần phải chú trọng đến việc bồi dưỡng GV GV phải hiểu được thế nào là tích hợp, phải nghiên cứu chương trình, tài liệu xem nó dựa trên môn khoa học xác định nào, có
Trang 22thể mở rộng quan hệ tương tác với các khoa học khác như thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra sao? Từ thực tiễn trên, thấy được thực trạng của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay:
Khó Khăn:
- Đối với giáo viên:
+ Giáo viên phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác + Vấn đề tâm lý chủ yếu vẫn quen dạy theo chủ đề đơn môn nên khi dạy theo chủ đề tích hợp, liên môn, các giáo viên sẽ vất vả hơn, phải xem xét, rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa (SGK) hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp Nội dung của phương pháp dạy tích hợp, liên môn cũng yêu cầu GV cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực học sinh nên không tránh khỏi làm cho giáo viên có cảm giác ngại thay đổi
+ Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ cho việc dạy học trong nhà trường còn nhiều hạn chế nhất là các trường ở nông thôn
- Đối với học sinh:
+ Dạy tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến THPT nên giai đoạn đầu này, đặc biệt là thế hệ HS hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp
+ Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay và việc quy định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học sinh và phụ huynh kém mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn phụ)
Thuận lợi:
- Đối với giáo viên:
+Trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó hay nói cách khác đội ngũ giáo viên chúng ta
đã dạy tích hợp liên môn từ lâu rồi nhưng chúng ta chưa đi sâu và chưa có khái niệm tên gọi cụ thể mà thôi
+ Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, giáo viên các bộ
Trang 23môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học
+ Trong những năm qua giáo viên cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực: như phương pháp bàn tay nặn bột hoặc kĩ thuật khăn trải bàn, dạy học theo dự án ……
+ Môi trường " Trường học kết nối rất thuận lợi để giáo viên đổi mới trong dạy tích hợp, liên môn
+ Nhà trường đã đầu tư nhiều phương tiện dạy học có thể đáp ứng một phần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
+ Sự phát triển của CNTT, sự hiểu biết của đội ngũ giáo viên của nhà trường
là cơ hội để chúng ta triển khai tốt dạy học tích hợp, liên môn
- Đối với học sinh:
Học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn nhất là các bộ môn tự nhiên ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo hướng “mở ”nên cũng tạo điều kiên, cơ hội cũng như môi trường thuận lợi cho học sinh phát huy tư duy sáng tạo
Từ thực tiễn GD trung học phổ thông ở nhiều nước và Việt Nam cho thấy, DH theo hướng tích hợp là xu thế mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương GV trung học phổ thông khi đã quen với cách dạy tích hợp thì việc xử lí các tình huống GD trở nên mềm dẻo hơn
DH theo hướng tích hợp kiến thức liên môn phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp DH ở trường THPT
Trang 24CHƯƠNG 2: KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945 – 1954 Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG 2.1 Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam ( 1945 – 1954) ở trường THPT
Khóa trình LSVN (1945 – 1954) nằm trong phần 2 của chương trình lịch sử lớp 12 (chương trình chuẩn) Đây là giai đoạn đầu của LSVN hiện đại, đánh dấu nước ta giành được độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc Trong 9 năm dân tộc ta
đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp – một trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân thời hiện đại Đây là giai đoạn có nhiều sự kiện và biến
cố lịch sử quan trọng mà học sinh cần nắm trong chương trình lớp 12 Khóa trình lịch sử này bắt đầu từ sau ngày 2 – 9 – 1945 đến hết Hội nghị Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (7- 1954)
2.1.1 Nước Việt Nam dân chủ cộng (Từ sau 2/9/1945 đến trước 19/12/1946)
Sau thành công của cách mạng tháng Tám, nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Đảng và Bác đã củng cố chính quyền, từng bước khắc phục khó khăn Thực dân Pháp và quân Tưởng ồ ạt kéo vào nước ta Để có thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ta tạm hòa hoãn với Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước
2.1.2.Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp (1946 – 1950)
Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950) Sau nhiều lần nhân nhượng với Pháp nhưng “chúng vẫn quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”, ngày 19 – 12 – 1946 theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Mở đầu cuộc kháng chiến ta đã có cuộc chiến đấu 60 ngày đêm trong các đô thị từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, giam chân địch trong các đô thị, làm thất bài bước đầu kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp Năm 1947, quân ta đập tan cuộc tấn công lên Việt Bắc của Pháp, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp, buộc chúng phải đánh lâu dài với ta Thu – Đông 1950, ta chủ động phản công và giành thắng lợi trong chiến dịch Biên giới, thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, giành thế chủ động trên chiến trường chính (Bắc Bộ)
Trang 252.1.3 Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953)
Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953) Trong giai đoạn này, Mĩ can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương, Pháp đẩy mạnh hơn nữa chiến tranh xâm lược Trong hoàn cảnh đó Đại hội Đại biểu lần thứ II của Đảng (2 – 1951) đã diễn ra Dưới sự chỉ đạo của Đảng, trong thời gian này, hậu phương kháng chiến phát triển mạnh về mọi mặt Để giữ vững quyền chủ động trên chiến trường, ta đã mở những chiến dịch tấn công địch trên nhiều địa bàn
và giành được những thắng lợi nhất định
2.1.4 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954) Bước vào Đông – Xuân 1953 – 1954, Pháp với sự hỗ trợ của Mĩ triển khai kế hoạch Na-va nhằm tìm kiếm một chiến thắng quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự” Ta từng bước làm phá sản kế hoạch Na-va của địch với những cuộc tiến công chiến lược Đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn
kế hoạch Na-va, buộc Pháp phải kí với ta Hiệp định Giơ-ne-vơ về kiết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương, mở ra một thời kì mới cho cách mạng Việt Nam
Trên đây là những nội dung cơ bản nhất của khóa trình LSVN (1945 – 1954),
HS cần nắm vững những nội dung này để có cái nhìn hoàn thiện và xuyên suốt tiến trình LSVN
2.2 Quy trình lựa chọn, xây dựng nội dung bài học tích hợp
2.2.1 Lựa chọn nội dung tích hợp kiến thức liên môn
Các công việc chính mà giáo viên cần thực hiện trong bước lựa chọn nội dung tích hợp là rà soát, đối sánh chuẩn kiến thức, kĩ năng, chương trình các môn học để tìm kiếm và chọn lọc các bài học, các nội dung học vấn có liên quan, từ đó xây dựng thành bài học tích hợp Công việc này không quá khó khăn nhưng cũng không hề đơn giản, bởi để tìm ra sự liên hệ giữa các bài học, các nội dung học vấn
từ các môn học khác nhau đòi hỏi người giáo viên vừa phải am tường vẽ chuyên môn (nắm chắc chuẩn kiến thức, kĩ năng, chương trình các môn học, hiểu sâu sắc nội dung học vấn từng môn học), đồng thời phải có ít nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp (tức là năng lực sư phạm)
Trang 26Tìm kiếm ý tưởng để xây dựng bài học tích hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng vì chỉ khi có ý tưởng thì mới có bài học và ý tưởng có hay, có sáng tạo thì mới có bài học hấp dẫn và hiệu quả Để thực hiện thành công bước này giáo viên cần liên kết các bài học, các nội dung đã được chọn lựa để tích hợp với các sự kiện, hiện tượng trong thực tiễn cuộc sống xung quanh học sinh, từ đó hình thành nên ý tưởng trung tâm về bài học tích hợp Nếu không có ý tưởng trung tâm để triển khai bài học thì nội dung của mỗi môn học dù có được đặt chung, xếp kế nhau cũng vẫn thiếu sự “kết dính” cần thiết để tạo thành một vấn đề có tính chỉnh thể và thông suốt trong một bài học
(Bước này có thể thực hiện từ đầu năm học với sự phối hợp của nhiều giáo viên.)
2.2.2 Xác định mục tiêu của bài học
Khi xác định mục tiêu cho bài học tích hợp, giáo viên cần xuất phát từ các nội dung được chọn lựa để tích hợp và từ ý tưởng trung tâm để thiết kế bài học tích hợp, cần lượng hoá được các mục tiêu (các đích cụ thể) mà người học cần đạt được sau bài học Những mục tiêu này cần phải bao quát được nhiều lĩnh vực học tập, nhiều môn khoa học khác nhau
Ngoài những mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và giá trị thuộc các lĩnh vực khoa học được chọn để tích hợp, giáo viên cần xác định thêm những mục tiêu hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng xã hội cho học sinh
Thông thường, bài học tích hợp không đặt quá cao mục tiêu trang bị kiến thức, mà chú trọng các mục tiêu hình thành và phát triển kĩ năng sống, năng lực hoạt động xã hội cho học sinh
Đối với bài học tích hợp thì mục tiêu dạy học cũng là mục tiêu tích hợp Sự tích hợp trong mục tiêu dạy học được thể hiện ở việc tích hợp các kiến thức của các lĩnh vực khoa học, tích hợp các kĩ năng và năng lực học sinh cần đạt được, tích hợp những giá trị nhân văn định hướng cho sự phát triển của học sinh
Khi thiết kế mục tiêu cho bài học tích hợp, giáo viên cần lưu ý:
+ Không nên đưa quá nhiễu mục tiêu về kiến thức thuộc nhiểu lĩnh vực khoa học khác nhau mà cân chắt lọc các mục tiêu trọng tâm nhất
+ Nên thể hiện rành mạch nội dung đặc thù của bài học “chính” và mục tiêu tích hợp
Trang 27+ Tập trung vào các mục tiêu phát triển năng lực cho người học, nhất là các mục tiêu vế kĩ năng sống, năng lực xã hội
2.2.3 Dự kiến thời lượng dạy học tích hợp và thời điểm thực hiện bài dạy tích hợp
- Xác định thời lượng cho bài học tích hợp là việc rất cần thiết Bởi lẽ, dự kiến được thời lượng cho hoạt động học tập của học sinh một cách phù hợp cũng có nghĩa là giáo viên đã lượng hoá được các hoạt động tương ứng với khả năng thực hiện của học sinh Công việc này đảm bảo cho học sinh có thể thực hiện được các hoạt động học tập tích hợp đúng với tính chất của nó chứ không phải là gắng “nhồi” cho đủ lượng kiến thức, cũng không phải là lướt qua cho có hoạt động
Tuy nhiên, củng cần lưu ý rằng, thời lượng được xác định chỉ có tính chất dự kiến Trong thực tiễn triển khai hoạt động, không nên gò thời lượng theo dự kiến một cách cứng nhắc mà cần linh hoạt điểu chỉnh thời lượng này cho phù hợp với điều kiện thực tế Như vậy, cả giáo viên và học sinh đểu có cơ hội để phát triển bản thân, để thử thách khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong các tình huống cụ thể
Việc dự kiến thời lượng của bài học cần căn cứ vào những yếu tố sau:
+ Năng lực thực tế của học sinh
+ Mục tiêu và nội dung bài học tích hợp
+ Điểu kiện dạy học thực tế
- Cũng cần xác định thời điểm thực hiện bài học tích hợp, bởi vì trong nội dung bài học tích hợp có những kiến thức, kĩ năng cần điều kiện tiên quyết là những kiến thức, kĩ năng khác Do vậy, cần xác định thời điểm học sao cho người học có
đủ các kiến thức, kĩ năng nển tảng để có thể tham gia bài học tích hợp một cách hiệu quả
2.2.4 Xây dựng nội dung dạy học tích hợp
Có thể nói, sự chuẩn bị của giáo viên chính là chìa khoá để đảm bảo cho sự thành công cho mỗi bài học, mỗi hoạt động dạy học Đối với dạy học tích hợp thì việc chuẩn bị của giáo viên, và đặc biệt là của học sinh còn có ý nghĩa nhiều hơn thế, nó được xem là một phần quan trọng trong kế hoạch học tập Để bài học được thực hiện một cách hiệu quả, giáo viên và học sinh không chỉ cần chuẩn bị điều kiện, phương tiện vật chất mà còn cần chuẩn bị cả tư liệu cho bài học, tái hiện hoặc
Trang 28tìm kiếm những kiến thức nền tảng phục vụ cho nhiệm vụ học tập mới Với quan niệm về chuẩn bị cho bài học tích hợp như vậy, giáo viên cần:
- Hướng dẫn học sinh làm quen dẩn với việc chuẩn bị tài liệu, nghiên cứu bài học, sưu tầm và xử lí thông tin liên quan đến bài học
- Hình thành cho học sinh một số kĩ năng nghiên cứu ban đầu như: dự đoán, phỏng vấn, quan sát, tham khảo ý kiến chuyên gia, phân tích, để việc chuẩn bị ngày càng tốt hơn
- Kết hợp với gia đình học sinh để trợ giúp tốt nhất cho hoạt động chuẩn bị của các em Nếu phối hợp tốt, gia đình không chỉ tạo điểu kiện cho học sinh chuẩn
bị các đồ dùng hay học liệu mà còn trao đổi, thảo luận với học sinh để các em có một nền tảng kiến thức tốt trước khi tham gia vào các hoạt động học tập
- Cùng học sinh dành ra một khoảng thời gian để nghiên cứu trước mỗi bài học tích hợp để có những chuẩn bị tốt nhất, đồng thời lường trước những khó khăn
sẽ gặp trong bài học
2.2.5 Xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp
Thiết kế hoạt động học tập cho người học là khâu quan trọng nhất của quá trình thiết kế dạy học Vì xét đến cùng, mọi thiết kế đều phải hướng vào việc hoạch định các chiến lược học tập cụ thể cho người học Xét về bản chất, thiết kế hoạt động học tập chính là quá trình thiết kế hoạt động tìm tòi, khám phá tri thức, thực hành luyện tập cho học sinh, thiết kế phương pháp dạy học, thiết kế môi trường dạy học, thiết kế phương tiện dạy học, thiết kế công cụ và lập kế hoạch đánh giá người học
Để thiết kế được các hoạt động học tập thú vị và hiệu quả, giáo viên phải kết hợp được nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, kết hợp tri thức, kĩ năng chuyên môn với vốn sống phong phú, biết “hoạt động hoá” các mục tiêu và nội dung dạy học
Khi thiết kế hoạt động học tập cho học sinh, giáo viên cần chú ý:
+ “Trung thành” với mục tiêu dạy học đã xác định
+ Bao quát những đặc điểm chung vể sự phát triển của lứa tuổi của học sinh, đồng thời chú ý tới đặc điểm riêng về tư duy, ngôn ngữ, kinh nghiệm sống của mỗi em
Trang 29+ Đưa vào bài học những thông tin cốt lõi của môn học, đồng thời chú ý mối liên hệ giữa những mảng kiến thức liên quan đến nhau, không chỉ hướng tới việc hình thành kiến thức, kĩ năng mà còn quan tâm tới việc gầy dựng, trau dồi cho các
em nhận thức và tình cảm đúng đắn, giá trị nhân văn, hình thành ở các em những năng lực phù hợp trình độ và lứa tuổi
+ Tạo ra môi trường hoạt động đa dạng, đa chiều cho học sinh, kích thích tính ham hiểu biết, mong muốn khám phá, tìm tòi của các em
+ Chỉ dẫn cụ thể cho học sinh về phương thức hoạt động, cách đánh giá hoạt động học tập hay sản phẩm của quá trình hoạt động
Mỗi hoạt động học tập thường có cấu trúc như sau:
b Xác định hình thức đánh giá, xây dựng bộ công cụ đánh giá: bộ công cụ này thực chất chính là nội dung đánh giá được cụ thể hoá từ các tiêu chí đánh giá Thông thường các bộ công cụ đánh giá này được trình bày hành các phiếu đánh giá
để học sinh và giáo viên tiện sử dụng trong quá trình dạy học
c Lập kế hoạch đánh giá: xác định các thời điểm đánh giá và cách thức đánh giá ở mỗi thời điểm đó trong quá trình dạy học Thông thường, trong dạy học tích hợp chúng ta sử dụng đánh giá thường xuyên (trong dạy học) bằng quan sát hay các yêu cầu đơn giản và đánh giá tổng kết (sau khi kết thúc bài học) dựa vào sản phẩm của học sinh
Đánh giá trong dạy học nói chung và trong dạy học tích hợp nói riêng có một số đặc trưng sau:
- Mục đích đánh giá: nhằm giúp cả thầy và trò có cơ sở và định hướng điểu chỉnh hoạt động dạy học ngày càng hiệu quả
Trang 30- Nội dung hay tiêu chí đánh giá: đánh giá toàn diện cả kiến thức, kĩ năng, thái độ
- Phương thức đánh giá: kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá kết quả của hoạt động
- Đối tượng tham gia đánh giá: học sinh, bạn học, giáo viên, gia đình và xã hội
Tổng kết hoạt động là việc giáo viên tóm lược cô đọng vấn đề chính trong bài học Tuy nhiên, tổng kết không phải là đóng lại một quá trình học tập, đó chỉ là việc hoàn thành một mắt xích trong một chuỗi các hoạt động đa dạng Sau khi tổng kết, giáo viên cần tiếp tục hướng dẫn học sinh học tập: gợi mở thêm các vấn đề mới hoặc để học sinh tự đề xuất vấn đề mới và những vấn đề học tập mới này lại trở thành điểm khởi đầu cho quá trình học tập tiếp theo Ở bước này, giáo viên cũng cần tổng kết về phương pháp học của học sinh, giúp các em tự trả lời câu hỏi:
- Mình đã học và làm bằng những cách nào?
- Ưu và nhược điểm của những cách làm đó
- Những cách làm đó đặc trưng cho các loại công việc nào / dạng hoạt động nào?
- Nếu làm lại cùng công việc đó thì mình sẽ chọn cách nào? Vì sao?
- Nếu làm việc khác thì cần nghiên cứu như thế nào để lựa chọn được cách làm phù hợp?
Để học sinh thực hiện được điều này, cần nhiều thời gian và có sự hỗ trợ đắc lực của giáo viên Bằng năng lực sư phạm của mình, giáo viên dần dần giúp các em học cách học, học đánh giá tính hiệu quả của cách học Hướng dẫn cho học sinh tìm ra cách học hiệu quả, tức là giáo viên “đã trao cho học sinh chìa khoá để các em tự mở cửa mọi kho báu mà không dừng lại ở việc tặng cho các em một viên ngọc”
2.3 Hệ thống kiến thức liên môn được tích hợp để dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT
Lịch sử Việt Nam giai đoạn (1945 – 1954) có thể tích hợp KTLM rất phong phú đa dạng để khắc sâu, bổ sung, mở rộng kiến thức cơ bản trong SGK Tuy nhiên, không phải nội dung nào cũng có thể tích hợp KTLM Dưới đây tôi đã lựa chọn một
số nội dung tiêu biểu nhất có thể tích hợp KTLM để dạy học cho học sinh
Trang 31Bài 17: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946
- Kiến thức giáo dục công dân:
con người là chủ thể của lịch
sử và là mục tiêu của sự phát triển xã hội, tính cộng đồng
- Bài thơ “Ngọn quốc kì” của Xuân Diệu (phụ lục 6)
- Giáo dục niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng
- Giáo dục lòng căm thù trước tội ác của quân Pháp
- Thực dân Pháp trở
lại xâm lược Nam Bộ
nhân dân cả nước sát
-Hòa hoãn với Pháp
để đuổi quân Trung
Hoa Dân quốc
Kiến thức giáo dục công dân:
khuynh hướng phát triển của
sự vật hiện tượng đôi khi không theo đường thẳng, cái tiến bộ tạm thời bị lấn át nhưng theo quy luật chung cái tiến bộ cuối cùng sẽ chiến thắng
- Giáo dục niềm tin vào thắng lợi của ta
Trang 32Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950)
- Cuộc chiến đấu của quân
dân Hà Nội trong 60 ngày
đêm
- Hồi kí “Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa” – Vương Thừa Vũ
- Phấn khởi, tự hào trước thắng lợi của quân ta
- Trung đoàn thủ đô rút khỏi
- Chiến dịch Việt Bắc thu –
đông năm 1947
- Kiến thức địa lí về căn cứ địa Việt Bắc
- Bài thơ “Cá nước” –
- Bài thơ “Đăng sơn”
và bức điện gửi họ Nguyễn Sinh của Hồ Chí Minh
- Khâm phục, tự hào tài chỉ huy quân sự của Đảng
Bài 19: Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951-1953)
- Hậu phương
kháng chiến phát
triển mọi mặt
- Kiến thức giáo dục công dân:
mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả
- Bài hát “Đóng nhanh lúa tốt” –
Lê Lôi [44 ,tr.217]
- Giáo dục truyền thống cần cù trong lao động, đoàn kết trong chiến đấu
Trang 33Bài 20: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954)
- Cuộc Tiến công
chiến lược Đông –
- Kiến thức văn học: Tấm gương anh hùng Bế Văn Đàn
- Giáo dục lòng tự hào với điều kiện tự nhiên của đất nước
- Trân trọng, biết ơn sự hi sinh của các anh hùng liệt
sử dụng Tùy vào điều kiện cụ thể từng trường và đối tượng HS, GV có thể sử dụng những nguồn KTLM khác để nâng cao chất lượng bài giảng
Trang 34CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1954) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ
NẴNG 3.1 Yêu cầu lựa chọn nội dung tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT
Tích hợp kiến thức liên môn có thể sử dụng trong DHLS nói chung và DHLS Việt Nam (1945 – 1954) nói riêng rất phong phú và đa dạng Muốn vận dụng tích hợp kiến thức liên môn để dạy học lịch sử cho học sinh lớp 12 THPT, cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
3.1.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học
Tất cả các khâu trong quá trình dạy học, các biện pháp được áp dụng đều hướng tới thực hiện mục tiêu chung Đó là cái đích mà thầy và trò phải đạt được trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ
Để đạt được mục tiêu đó không thể chỉ sử dụng những kiến thức trong SGK hoặc trong những tài liệu lịch sử, mà còn cần sử dụng những tài liệu, kiến thức của những môn học khác có liên quan đến nội dung lịch sử cần truyền đạt đến HS Trong quá trình giảng dạy, GV cần xác định mục đích sử dụng, khai thác chọn lọc nguồn kiến thức phù hợp để có thể áp dụng quan điểm tích hợp hiệu quả nhất vào bài học lịch sử
3.1.2 Góp phần khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học
Kiến thức cơ bản là những kiến thức cần thiết nhất, quan trọng nhất giúp HS biết, hiểu lịch sử Kiến thức cơ bản của bài học là những sự kiện lịch sử, niên đại quan trọng, khái niệm cơ bản…hoặc là những phương pháp học tập, nghiên cứu lịch sử và phương pháp vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Kiến thức lịch sử nằm trong các tài liệu liên môn là một nguồn kiến thức quan trọng và có giá trị lớn Tuy nhiên, khi sử dụng nguồn kiến thức này, GV cần xác định mục tiêu bài học chính xác, để áp dụng quan điểm tích hợp nhằm khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học chứ không phải sa đà vào nghiên cứu kiến thức những môn học khác Yêu cầu này đòi hỏi GV phải xác định những kiến thức trọng tâm, nội dung cơ bản cần truyền đạt cho HS, từ đó chọn lọc những kiến thức phù hợp để khắc sâu những kiến thức cơ bản đó Bên cạnh đó, loại bỏ những phần kiến thức ít quan trọng trong SGK không cần thiết phải đưa vào bài giảng
Trang 35- Tránh sử dụng những kiên thức có tính chuyên môn cao, mất thời gian giải thích, hay những tài liệu bằng tiếng nước ngoài, điều này làm cho việc lĩnh hội kiến thức của HS gặp khó khăn
- Quan điểm tích hợp sử dụng trong DHLS phải ngắn gọn, súc tích, sát với nội dung lịch sử cần trình bày trong bài giảng, tránh rườm rà, lan man, xa rời nội dung chính
Bảo đảm tính vừa sức đối với HS trong DHLS là yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Trong DHLS, không có biện pháp nào là vạn năng nên GV cần có sự kết hợp linh hoạt nhiều biện pháp để làm cho giờ học thêm hấp dẫn, sinh động Áp dụng quan điểm tích hợp trong dạy học không chỉ dừng lại ở việc giúp HS lĩnh hội kiến thức, quan trọng là rèn luyện khả năng thực hành cho các em, bao gồm cả thực hành trong học tập và trong cuộc sống Đó mới là mục tiêu cao nhất của DHLS
3.2 Một số biện pháp tổ chức dạy học tích hợp kiến thức liên môn lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) ở trường THPT
3.2.1 Tích hợp kiến thức địa lý trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)ở trường THPT
Tích hợp kiến thức địa lý trong DHLS có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hóa địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với sự kiện lịch sử Học sinh hiểu được tầm quan trọng của yếu tố địa lí đối với lịch sử, các em càng trân trọng mỗi tất đất của Tổ quốc, từ đó có ý thức giữ gìn
Trang 36và bảo vệ lãnh thổ quốc gia Trong quá trình DHLS ở trường THPT, có thể kết hợp
sử dụng kiến thức Địa lí ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:
3.2.1.1 Sử dụng kiến thức địa lí kết hợp lược đồ để cụ thể hóa địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử
Việc cụ thể hóa không gian xảy ra sự kiện lịch sử có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu lịch sử nói chung và DHLS nói riêng Hơn nữa, trong một số sự kiện, biến cố lịch sử, điều kiện địa lý còn là nhân tố chi phối, ảnh hưởng lớn đến diễn biến, kết quả của sự kiện Để cụ thể hóa địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử, sử
dụng lược đồ là một biện pháp có nhiều ưu thế
Lược đồ là một loại đồ dùng trực quan quy ước, giúp học sinh xác định chính xác địa điểm xảy ra sự kiện trong thời gian và không gian nhất định Đồng thời, lược đồ giúp các em suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử Ngoài ra, lược đồ còn giúp học sinh củng cố, khắc sâu và ghi nhớ kiến thức Giống như các loại đồ dùng trực quan khác, lược đồ có tác dụng rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục Lược đồ chính là hình ảnh thu nhỏ của mỗi khu vực trên đất nước, học sinh kết hợp quan sát lược đồ, tìm hiểu những sự kiện lịch sử diễn ra qua đó tái hiện lại bức tranh quá khứ sinh động
Ví dụ: Khi dạy học bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950)”, phần III, mục 1: Chiến dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947, giáo viên sử dụng lược đồ “ Chiến dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947” để cụ thể hóa không gian xảy ra sự kiện lịch sử bằng cách cho HS quan sát lược đồ và đặt các câu hỏi gợi mở:
- Em hãy xác định vị trí của căn cứ địa Việt Bắc trên bản đồ? Vì sao Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc?
- Pháp tấn công Việt Bắc bằng những con đường nào?
- Quân ta đã phản công như thế nào?
Học sinh quan sát lược đồ, nhớ lại những kiến thức đã học về căn cứ địa Việt Bắc để trả lời: Căn cứ địa Việt Bắc bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang Địa hình chủ yếu là rừng núi Phía Bắc giáp Trung Quốc, thuận lợi cho việc liên lạc với phong trào Cộng sản quốc tế Phía Nam giáp vùng trung du, đồng bằng, là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến
Trang 37Theo các triền núi phía Đông, khu giải phóng có thể liên lạc với vùng biển và Hải Phòng Theo các triền núi phía Tây, có thể liên lạc với khu Tây Bắc và các tỉnh miền núi Trung bộ Tóm lại, khu giải phóng có vị trí rất cơ động, “tiến có thể đánh”, “lui có thể giữ” Nhân dân các dân tộc Việt Bắc có truyền thống yêu nước, khao khát độc lập tự do Do có những điều kiện thuận lợi về nhiều mặt như vậy nên trước khi Cách mạng tháng Tám thành công và sau khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, Trung ương Đảng vẫn quyết định chọn Việt Bắc làm căn cứ địa kháng chiến, nơi đặt cơ quan đầu não của chúng ta
Vì thế, thực dân Pháp mới quyết định tấn công lên căn cứ địa Việt Bắc nhằm khóa chặt biên giới Việt –Trung, cắt đứt liên lạc giữa cách mạng nước ta với thế giới, tiêu diệt cơ quan đầu não và bộ đội chủ lực của ta
Học sinh quan sát lược đồ, dựa vào những kí hiệu để trả lời câu hỏi Giáo viên
sử dụng lược đồ phân tích: địa hình tác chiến bao gồm 8 tỉnh, là khu vực có nhiều núi cao, rừng rậm, sông suối chia cắt hết sức phức tạp Với địa hình như vậy, có nhiều thuận lợi cho bộ đội ta cơ động bí mật Trên cơ sở thực tế chiến trường, ta đã xác định đúng hướng phản công Chiến dịch đã tổ chức thế trận phù hợp với 3 mặt trận, bẻ gãy từng gọng kìm của địch, phá thế hợp vây của chúng:
Qua đó, HS không những nắm được những kiến thức lịch sử cơ bản, xác định
vị trí căn cứ địa Việt Bắc, hiểu được mục đích Pháp tấn công và diễn biến cuộc phản công của ta, mà còn rèn luyện được kĩ năng quan sát lược đồ, kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào việc tiếp thu kiến thức mới Những hình ảnh trực quan đem lại khi quan sát lược đồ sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh
Để cụ thể hóa địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử, việc sử dụng kiến thức địa lí kết hợp lược đồ là biện pháp mang lại hiệu quả cao Biện pháp này có tác dụng lớn trong việc truyền tải “không khí” chân thực, sinh động của mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch đến học sinh, giúp các em ghi nhớ, khắc sâu sự kiện lịch sử đó, phân biệt
Trang 38với sự kiện lịch sử khác Những hình ảnh chân thực như chính bản than học sinh tham gia vào sự kiện lịch sử có tác dụng hình thành xúc cảm lịch sử và giáo dục rất lớn đối với HS
3.2.1.2 Sử dụng kiến thức địa lí xác định mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với
sự kiện lịch sử
Trong DHLS, quá trình nhận thức của học sinh đi từ tri giác tài liệu, tạo biểu tượng lịch sử, hình thành khái niệm lịch sử, nêu quy luật và rút ra bài học Tuy nhiên, việc học tập lịch sử không thể chỉ dừng lại ở đó, điều quan trọng là học sinh phải biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống Bất cứ sự kiện, hiện tượng lịch sử nào cũng có mối liên hệ nhân quả hoặc chi phối những sự kiện khác
Vì vậy để HS có thể hiểu được bản chất, vận dụng đúng những kiến thức lịch sử, thì việc giải thích trong DHLS là biện pháp chiếm ưu thế Cách giải thích phù hợp với trình độ giúp HS phát triển tư duy lí luận, tư duy logic
Lịch sử và địa lí là hai ngành khoa học có liên quan chặt chẽ đến nhau, mỗi sự kiện lịch sử đều xảy ra tại một địa điểm nhất định, có những sự kiện yếu tố địa lí chính là điều kiện, chi phối quyết định kết quả của sự kiện lịch sử Trong DHLS, đối với những sự kiện mà yếu tố điều kiện địa lí có ảnh hưởng lớn tới diễn biến, kết quả của sự kiện, GV cần giải thích để HS hiểu được bản chất của vấn đề Việc giải thích sẽ hiệu quả hơn khi sử dụng kèm theo các đồ dùng trực quan như lược đồ, tranh ảnh Sử dụng kiến thức địa lí để giải thích giúp HS hiểu bản chất, khắc sâu sự kiện lịch sử, rèn luyện kĩ năng phân tích, phát triển tư duy lí luận
Ví dụ: K hi dạy bài 20: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954), GV sử dụng kiến thức địa lí kết hợp lược đồ giải thích nguyên nhân Pháp chọn Điện Biên Phủ làm nơi xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương Trước khi giải thích, GV cho HS quan sát lược đồ và đặt một số câu hỏi gợi mở:
- Em biết gì về Điện Biên Phủ?
- Vì sao Pháp chọn Điện Biên Phủ làm nơi xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương?
Học sinh dựa vào lược đồ, kiến thức địa lí đã học để trả lời câu hỏi
“Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn nằm ở phía tây vùng
núi rừng Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 300 km đường chim bay Thung lũng này có chiều rộng khoảng 8 km, chiều dài khoảng 18 km, nằm gần biên giới Việt
Trang 39Lào, trên một ngã ba của nhiều tuyến đường quan trọng: phía đông bắc giáp với Lai Châu; phía đông nam giáp Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản; phía tây thông với Luông Pha băng; phía nam thông với Sầm Nưa Xung quanh thung lũng là một vùng núi rừng trùng điệp bao bọc Núi có độ cao trung bình 500 m Thung lũng Điện Biên là cánh đồng bằng phẳng, đồng ruộng khô ráo về mùa khô Nhưng ngay sát thung lũng về phía đông bắc có một dải địa hình đặc biệt gồm một số điểm nổi lên cao hơn mặt cánh đồng trên dưới 30 m và hình thành một bức bình phong che chở cho thung lũng trên hướng Tuần Giáo - Điện Biên Phủ Trong thung lũng còn
có sông Nậm Rốm chảy theo hướng bắc nam đổ xuống sông Nậm Hu Điện Biên Phủ như một chiếc bàn xoay giữa ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Lào Đối với Pháp, đây là vị trí chiến lược then chốt, có thể trở thành căn cứ lục quân và không quân của chúng ở Đông Dương và Đông Nam Á Vì vậy, Điện Biên Phủ từ chỗ không có trong kế hoạch Na-va đã trở thành tâm điểm của kế hoạch này”.[14,tr.59]
Dựa trên những kiến thức địa lí đó, HS ghi nhớ những nét đặc trưng về điều kiện tự nhiên khu vực Điện Biên Phủ, hiểu mục đích của Pháp khi chọn nơi đây để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương Qua đó, HS rèn luyện kĩ năng phân tích, đánh giá để tìm ra bản chất của vấn đề Các em hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với sự kiện lịch sử, Pháp lợi dụng địa hình để xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với hi vọng thu hút chủ lực của ta Tuy nhiên, ta đã lợi dụng địa hình, bằng lòng quyết tâm của toàn quân, toàn dân, dưới sự chỉ huy tài tình của Đảng, ta đã biến Điện Biên Phủ thành mồ chôn quân thù Học sinh hiểu ý nghĩa chiến lược của Điện Biên Phủ đối với cả Pháp và quân ta, các em càng thêm
tự hào về điều kiện tự nhiên của đất nước mình
Tóm lại, mỗi sự kiện lịch sử đều diễn ra tại một địa điểm, không gian nhất định Đặc điểm địa hình, điều kiện tự nhiên luôn có mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến, kết quả của sự kiện lịch sử Để HS hiểu rõ bản chất của mối quan hệ này, sử dụng kiến thức địa lí để giải thích là biện pháp có thế mạnh Kiến thức địa lí kết hợp với phương pháp giải thích rõ ràng, dễ hiểu, ngôn ngữ trong sáng, giàu hình ảnh của GV giúp HS hiểu bản chất của sự kiện lịch sử, ghi nhớ, khắc sâu sự kiện Đồng thời, biện pháp này cũng có tác dụng phát triển tư duy lí luận, năng lực phân tích trong học tập của HS
Việc sử dụng kiến thức địa lí trong DHLS là biện pháp hiệu quả để cụ thể hóa
Trang 40địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử đồng thời giải thích mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với sự kiện lịch sử Để phát huy tối đa hiệu quả của biện pháp này, GV cần tìm hiểu kĩ những kiến thức địa lí liên quan đến sự kiện lịch sử, sử dụng hợp lí nguồn kiến thức đó Bên cạnh đó, GV cần rèn luyện ngôn ngữ sinh động, thao tác
sư phạm phù hợp để tạo sự hứng thú cho HS trong học tập Kết hợp những yếu tố trên giờ học mới trở nên hấp dẫn, đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
3.2.2 Tích hợp kiến thức văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954)ở trường THPT
Mỗi tác phẩm văn học ra đời đều dựa trên cơ sở hiện thực lịch sử Từng thời
kì lịch sử hay một sự kiện lịch sử tiêu biểu nếu được phản ánh dưới ngòi bút của các nhà văn sẽ trở nên sống động, dễ đi vào lòng người Lịch sử và văn học có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy, việc sử dụng kiến thức văn học trong DHLS đem lại hiệu quả cao trong thực hiện mục tiêu môn học Bên cạnh đó, với ưu thế về ngôn ngữ biểu cảm, giàu hình ảnh, kiến thức văn học tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của HS, thực hiện chức năng giáo dục của bộ môn Kiến thức văn học có thể vận dụng rất đa dạng trong DHLS tiêu biểu là sử dụng kiến thức văn học để tạo biểu tượng và trình bày miệng
3.2.2.1 Tích hợp kiến thức văn học để tạo biểu tượng nhân vật lịch sử
Quá trình nhận thức của HS trong học tập lịch sử trải qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, trong đó việc tạo biểu tượng lịch sử là giai đoạn cao của nhận thức cảm tính, đồng thời là cầu nối giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính Việc tạo biểu tượng trong DHLS có ý nghĩa rất quan trọng Về kiến thức, tạo biểu tượng lịch sử chính là cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử, những hình ảnh quá khứ được phản ánh trong đầu óc HS càng phong phú bao nhiêu thì kinh nghiệm HS thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu Tạo được biểu tượng đúng về nhân vật lịch sử sẽ giúp HS tránh “ hiện đại hóa lịch sử”, những nhận thức chủ quan, phiến diện và những đánh giá thiếu chính xác Những biểu tượng chân thực và sinh động về các nhân vật lịch sử giúp HS nhận định đúng vai trò của các
cá nhân trong lịch sử Về kĩ năng, việc tạo biểu tượng rèn luyện cho HS tư duy tái tạo, tư duy logic, khả năng phân tích Đặc biệt về mặt thái độ, biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng có tác dụng không nhỏ với HS Bởi vì, khi nhận thức về hiện thực quá khứ, các em không chỉ tri giác mà còn có