1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tôn giáo thời gia long (1802 1819)

54 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vua Gia Long - người khai sinh ra vương triều nhà Nguyễn, sau khi lên ngôi ông đã dựa vào Nho giáo để giải quyết vấn đề chính trị - xã hội và cũng giống như các vị vua thời kì trước, ôn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài : Chính sách tôn giáo thời Gia Long

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận là kết quả cho những nỗ lực và cố gắng của em trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Sư phạm Để hoàn thành khóa luận này ngoài những nỗ lực của bản thân thì em cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân, đơn vị Đầu tiên, em xin gởi lời cám ơn chân thành đến cô Nguyễn Duy Phương- Giảng viên khoa Lịch sử đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành khóa luận

Em cũng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong khoa Lịch Sử - trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng cùng các bạn lớp 13 Sls, bạn bè và gia đình đã động viên, quan tâm, đóng góp những lời khuyên và ý kiến quý báu trong quá trình làm khóa luận để em có thể hoàn thành tốt đề tài

Cuối cùng, em cũng xin cảm ơn đến thư viện trường Đại học Sư phạm, phòng học liệu khoa Lịch sử, thư viện Tổng hợp thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho em có thể tìm kiếm tư liệu phục vụ cho khóa luận của mình một cách tốt nhất

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

để khóa luận được hoàn thiện

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017

Người thực hiện

Lương Thị Tú

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO THỜI GIA LONG (1802 – 1819) 5

1.1.Vài nét thân thế và sự nghiệp vua Gia Long .5

1.2 Tình hình Việt Nam dưới thời vua Gia Long .7

1.2.1Về chính trị - Xã hội 7

1.2.2 Kinh tế - Văn hóa .10

1.3 Khái quát các tôn giáo ở Việt Nam 12

1.3.1 Thế kỉ X – XIV .12

1.3.2 Thế kỉ XV 15

1.3.3 Thế kỉ XVI – XVIII 16

Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA VUA GIA LONG ĐỐI VỚI TÔN GIÁO 19

2.1 Nho giáo .19

2.2 Phật giáo 24

2.3 Đạo giáo .28

2.4 Thiên Chúa giáo .31

2.5 Một số nhận xét đánh giá .34

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

I Sách, tạp chí 41

II Website: 45

PHỤ LỤC 1

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU

Tôn giáo ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay, sẽ tồn tại cùng với loài người trong một thời gian khó mà xác định được Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia Từ đó, Ph.Ăngghen – người bạn

trung thành của C Mác khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh

hư ảo vào trong đầu óc con người của những lực lượng ở bên ngoài đang chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó, những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế” [12, tr.4] Tôn giáo dưới sự phản biện của xã hội

loài người đã thắt chặt mọi vấn đề tương quan và gắn bó, giống như bóng tối và ánh sáng, xã hội và tinh thần cũng như vậy.Trong cuộc sống, tôn giáo không phải là hư ảo hay là thần quyền, mà nó là món ăn tinh thần và cũng là động lực để phát triển xã hội Hiện nay ở nước ta, tôn giáo đang là vấn đề liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp Bởi vì, tôn giáo

là một phần của cuộc sống ngày nay và cũng là một vấn đề khá nhạy cảm về mặt chính trị, nó chứa đựng nhiều mối liên hệ đa chiều mang tính lịch sử, xã hội, văn hóa tâm linh… Vì vậy, nhà nước nào cũng đều phải quan tâm đến tôn giáo

Vua Gia Long - người khai sinh ra vương triều nhà Nguyễn, sau khi lên ngôi ông

đã dựa vào Nho giáo để giải quyết vấn đề chính trị - xã hội và cũng giống như các vị vua thời kì trước, ông rất quan tâm đến các tôn giáo khác Chính vì thế, ông đã cho ban hành chính sách đối với từng loại tôn giáo

Với tất cả những lý do trên, kế thừa nguồn tài liệu của các học giả đi trước, chúng

tôi quyết định chọn đề tài “Chính sách tôn giáo thời Gia Long (1802 – 1819)” làm đề

tài khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chính sách tôn giáo của các triều đại phong kiếntrong lịch sử là một vấn đề luôn được các giới Sử học quan tâm nghiên cứu Vấn đề chính sách tôn giáo thời Gia Long cũng đươc đề cập trong một số tác phẩm và công trình nghiên cứu lịch sử như sau:

Trang 5

Trong bài viết “Chính sách của vua Minh Mạng đối với Phật giáo (1820 – 1840)” của Nguyễn Duy Phương đăng trong Kỷ yếu hội thảo “ Quốc sử Khuông Việt và Phật

giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập”, trang 98 – 104, năm 2011 Bài viết đã đề cập

đến những chính sách của vua Minh Mạng đối với Phật giáo Chính điều này đã chi phối khá lớn đến sự phát triển của Phật giáo trong những năm ông lên ngôi

Trong cuốn “ Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (1848 – 1883)”, của Nguyễn

Ngọc Quỳnh, NXB Chính trị Quốc gia năm 2010 Đối với tác phẩm này đã đề cập đến tình hình sinh hoạt tôn giáo và những chính sách đối với các tôn giáo lớn ở thời Tự Đức như Nho giáo, Đạo giáo và Công giáo Ngoài ra, cũng phân tích những nguyên nhân cơ bản, những nghịch lý trong chính sách tôn giáo thời Tự Đức rút ra những điểm tích cực

và hạn chế của vị vua này đối với tôn giáo trong thời gian trị vị vủa mình

Trong tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử luận” của nhà nghiên cứu Nguyễn Lang,

NXB Văn học, Hà Nội, năm 2000 Cuốn lịch sử về quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam Đồng thời, tác phẩm này cũng đề cập đến đặc điểm của Phật giáo cũng như các tông phái của đạo Phật trải qua các giai đoạn trong lịch sử Đối với Phật giáo trong giai đoạn nhà Nguyễn trị vì chỉ nhắc đến các vị sư tăng mà không đi sâu vào tìm hiểu những sinh hoạt trong cung đình lúc bầy giờ

Trong cuốn “Sự du nhập của Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế kỉ XVII – XIX”,

PGS Nguyễn Văn Kiệm đã dành riêng chương V để bàn về chính sách của triều Nguyễn đối với Công giáo Tác giả đã đi từ nội dung, diễn biến cho đến các biện pháp của triều Nguyễn đối với Thiên Chúa giáo

Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu về tam giáo Nho – Phật – Đạo ở Việt Nam từ khi lập quốc cho đến thời kì cận đại, trong đó có một số cuốn như : Nho giáo của Trần Trọng Kim, Một số vấn đề về Nho giáo của GS.Phan Đại Doãn (chủ biên), Đạo giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy…Như vậy,các đề tài này hầu hết có chung một đặc điểm đó là đề cập đến tình hình sinh hoạt tôn giáo, tư tưởng, giáo lý,lịch sử của tôn giáo

Tóm lại, với đề tài chính sách tôn giáo thời Gia Long cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu và các tạp chí quan tâm đến Nhưng các đề tài đó chỉ tìm hiểu cả một giai đoạn lịch

sử dài, mà không đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống của vấn đề, đồng thời chỉ nghiên

Trang 6

cứu một cách chung chung, sơ lược Nhìn chung, các tác phẩm, công trình nghiên cứu

đã đề cập ở trên là nguồn tư liệu tham khảo quý giá, đáng tin cậy để chúng tôi hoàn thành tốt việc nghiên cứu với đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn chính sách tôn giáo, đồng thời cho thấy sự chuyển biến cũng như tác động tích cực, hạn chế của chính sách tôn giáo này đối với đời sống xã hội

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, Công giáo và Đạo giáo dưới thời Gia Long

5 Pham vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu chính sách tôn giáo trên phạm vi cả nước

Về thời gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1802 – 1819

6 Nguồn tài liệu

Nguồn tư liệu mà chúng tôi sử dụng cho việc nghiên cứu chủ yếu gồm các bộ do triều Nguyễn biên soạn như: Khâm định đại Nam Hội điển sử lệ, Đại Nam thực lục, Hoàng Việt luật lệ, Châu bản triều Nguyễn; một số bài viết liên quan đến đề tài được lưu trữ tại thư viện Khoa học – Tổng hợp Đà Nẵng, Thư viện Đại học Sư pham Đà Nẵng, Thư viện Đại học Sư phạm Huế, Phòng học liệu của khoa học Lịch sử Đại học Sư phạm

Đà Nẵng

7 Đóng góp đề tài

Đề tài khóa luận đạt được mục đích nghiên cứu sẽ có những đóng góp sau:

Sưu tầm các nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề chính sách của triều Nguyễn đối với các tôn giáo để góp phần xây dựng một thư mục tương đối đầy đủ phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Trình bày khái quát chính sách tôn giáo trước thời Gia Long

Trình bày một cách cụ thể tình hình tôn giáo dưới thời Gia Long, nêu ra được những chính sách cấm đạo của vua Gia Long đối với các tôn giáo.

Trang 7

Khóa luận này có thể là tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu về các tôn giáo dưới thời Gia Long

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1: BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO

THỜI GIA LONG (1802 – 1819)

1.1.Vài nét thân thế và sự nghiệp vua Gia Long

Vua Gia Long hay còn gọi là Nguyễn Ánh Ông sinh vào ngày 15 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (tức ngày 8 tháng 2 năm 1762), là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân và Nguyễn Thị Hoàng Khi còn nhỏ Ông còn có tên khác là Nguyễn Phúc Chủng Năm Vua 4 tuổi, cha ông bị quyền thần Trương Phúc Loan bắt giam và chết trong ngục Năm Gia Long 9 tuổi (1771), khởi nghĩa Tây Sơn bùng nỗ

Năm ông 13 tuổi (1775), chúa Nguyễn bị chúa Trịnh và quân Tây Sơn đánh kép

từ hai mặt Ông và bốn anh em trong nhà đi theo chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam rồi vượt biển vào Gia Định Trong thời gian nội bộ chúa Nguyễn đang xảy

ra tranh chấp giữa phe ủng hộ Nguyễn Phúc Thuần của Đỗ Thanh Nhơn và phe ủng hộ Nguyễn Phúc Dương của Lý Tài, Vua trú tại Ba Giồng với quân Đông Sơn Năm 1777,

cả Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân ChínhVương Nguyễn Phúc Dương, vài người anh em ruột của ông và nhiều người khác trong gia tộc chúa Nguyễn bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ bắt giết hết, chỉ có một mình ông thoát nạn ở Long Xuyên (khu vực Cà Mau hiện nay) Ông chạy ra đảo Thổ Chu và được Bá Đa Lộc, một Giám mục người Pháp, che chở Sau chừng một tháng trốn chạy, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ

đã về Quy Nhơn thì ông lại xuất hiện ở Long Xuyên, tiến lên Sa Đéc với Đỗ Thanh Nhơn và Lê Văn Quân; Ông ra hịch cáo quân và thu nhận được thêm một đội quân cùng các tướng NguyễnVăn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông và Hồ Văn Lân Tháng 11năm 1777, Ông tập hợp một đạo quân mặc toàn áo tang bất ngờ tấn công dinh Long Hồ và sau đó nhanh chóng đuổi quan trấn thủ Tây Sơn tại Gia Định là Tổng đốc Chu (hay Tổng đốc Châu), lấy lại thành Sài Côn tháng 12 cùng năm

Năm 1778, khi Vua Gia Long được 17 tuổi, các tướng tôn ông làm Đại nguyên soái Nhiếp quốc chính Và cũng chỉ trong tháng 2 năm 1778, Tây Sơn phái Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy và Hộ giá Phạm Ngạn vào đánh Gia Định Họ nhanh chóng đánh chiếm các vùng Trấn Biên, Phiên Trấn và một số khu vực ven biển Ông để ĐỗThanh Nhơn giữ Gia Định rồi cùng Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Hoằng đi đánh nhau ở khu

Trang 9

vực Bến Lức.Tại Bến Lức, quân Nguyễn chặn được Tây Sơn rồi sau đó mở cuộc phản công, ngăn chặn và đẩy lùi được thủy binh Tây Sơn do Tư khấu Uy chỉ huy ở Bến Nghé rồi chiếm lại được Trấn Biên Thủy binh của Phạm Ngạn thì bị Lê Văn Duyệt phá, buộc ông phải rút về lại Quy Nhơn

Tháng 1 năm 1780, ông xưng vương, dùng theo niên hiệu Cảnh Hưng của nhà Lê

và lấy ấn "Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bửu" làm ấn truyền quốc Đến thời điểm mùa hè năm 1781, quân đội của ông phát triển lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền lớn và 2 tàu đánh thuê Bồ Đào Nha do Giám mục Bá Đa Lộc giúp ông mời được Ông bèn tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn

Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam tiến.Tây Sơn chiến trận dữ dội ở sông Ngã Bảy và cửa biển Cần Giờ với quân Nguyễn

do chính ông chỉ huy Dù lực lượng thuyền của Tây Sơn yếu hơn, nhưng nhờ lòng can đảm họ đã phá tan quân Nguyễn Ông thất trận bỏ chạy về Ba Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp (rừng Romdoul là khoảng khu vực phía bắc tỉnh Svay Rieng) Tây Sơn đuổi theo vào cuối tháng 4, bắt vua quan Chân Lạp hàng phục và buộc tất cả những người Việt ở đấy phải về nước nhưng ông lại trốn kịp

Sau khi Vua Quang Trung mất, triều đình Tây Sơn lâm vào bối rối, chia rẽ và suy yếu Con trai của Vua Quang Trung là Nguyễn Quang Toản mới tuổi được đưa lên ngôi.Trong khi vua còn nhỏ tuổi, lợi dụng chức vụ Thái Sư, Bùi Đắc Tuyên đã rasức lộng hành, tự quyền sinh sát và tìm cách bắt bớ, giết hại những người chống lại mình Cùng lúc đó ở triều đình Phú Xuân các triều thần cũng đang xung đột, tìm cách hãm hại lẫn nhau Tướng sĩ nhiều người nãn lòng Đối với nhân dân họ không nhìn Tây Sơn như những đại diện của mình nữa Loạn lạc chiến tranh quá nhiều khiến cho họ quá đỗi cực khổ và quá chán nãn Lợi dụng tình hình rối ren đó Ông đem quân đánh Tây Sơn Sau khi thắng trận ông cử các tướng coi giữ Đồng Hới và sông Gianh rồi đem quân về Phú Xuân lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Gia Long(1/2/1802), chính thức lập ra nhà Nguyễn

Ngay sau khi lên ngôi, ông sai Trịnh Hoài Đức cầm đầu một sứ bộ mang quốc thư, phẩm vật, sách ấn của vua Thanh phong cho nhà Tây Sơn sang triều đình Trung Quốc để cầu phong vương cho mình Vào tháng 3 năm 1804 Vua Gia Long đổi quốc

Trang 10

hiệu nước ta là Việt Nam Gia Long làm vua được 18 năm (1802 – 1819) hưởng thọ 58 tuổi Sau khi mất bài vị của vua Gia Long được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có niên hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng Đế Vua có 31 người con (13 con trai và 18 con gái)

1.2 Tình hình Việt Nam dưới thời vua Gia Long

1.2.1Về chính trị - Xã hội

Thành lập và trị vì trong thế kỉ XIX, nhà Nguyễn thừa hưởng được thành quả to lớn từ phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một vùng lãnh thổ trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài

Nhà Nguyễn ra đời và tồn tại trong một bối cảnh đặc biệt của đất nước nói chung

và tình hình thế giới có nhiều biến chuyển lớn nói riêng Thắng lợi của chủ nghĩa tư bản

ở Tây Âu đã kéo theo sự phát triển của chủ nghĩa thực dân và sự giao lưu buôn bán quốc

tế Hàng loạt nước châu Á lần lượt rơi vào ách đô hộ của thực dân và Việt Nam cũng không tránh khỏi mối đe dọa đó

11 trấn Bắc Thành được tập hợp một tổng trấn, 5 trấn cực Nam hợp thành 1 tổng trấn gọi là Gia Định thành

Về chính quyền trung ương, Gia Long giữ nguyên hệ thống cơ quan cũ của các triều đại trước Vua nắm mọi quyền hành một cách độc đoán Giúp vua giải quyết giấy

tờ, văn thư và ghi chép có Thị thư viện Về việc quân quốc trọng sự thì có Tứ trụ đại thần sau chính thức hóa thành viện Cơ mật Ngoài ra, nhà Nguyễn đặt thêm Tông nhân phủ phụ trách cho các viện của Hoàng gia

Bên dưới là 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước và Ngũ quân đống đô thống phủ phụ trách quân đội Bên cạnh đó có Đô sát viện phụ trách thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách sắc dụ, công

Trang 11

văn, 5 Tự phụ trách một số công tác sự vụ, phủ nội vụ phụ trách kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện phụ trách thuốc thang, chữa bệnh, cùng với một số ti, cục Đáng chú ý là bộ phận trông coi Hoàng gia khá phức tạp, bao gồm cả quân sự và dân sự Để đề cao hơn nữa uy quyền của nhà vua, Gia Long đặt lệ “Tứ bất” tứ là không đặt tể tướng, không lập hoàng hậu, không lấy trạng nguyên trong thi cử, không phong tước vương cho người ngoài họ vua Các chức tam thái, tam thiếu trở thành vinh hàm gia phong cho các đại thần

Về chính quyền địa phương, năm 1802 khi làm chủ được Bắc Hà và quyết định xem Phú Xuân là quốc độ, Gia Long buộc phải tạm thời hợp 11 trấn phía bắc thành một tổng trấn với tên cũ là Bắc Thành, do tổng trấn đứng đầu

* Hệ thống luật pháp

Để quản lý đất nước và cai trị nhân dân cho nên các vua Nguyễn đã thi hành chế

độ luật pháp hà khắc nhằm trấn áp các phong trào chống đối và nhanh chống ổn định tình hình chính trị xã hội Pháp luật thời Nguyễn thể hiện tính chất chuyên chế cực đoan

đối với nhân dân Năm 1815, Vua Gia Long ban hành bộ luật “Hoàng Việt Luật Lệ”

(hay còn gọi là luật Gia Long) Bô luật bao gồm 398 điều, chia làm 22 quyển, các điều khoản được sắp xếp theo thẩm quyền của bộ luật Bộ luật này được sao chép từ bộ luật nhà Thanh Tư tưởng chủ đạo chỉ phối trong luật là ý niệm trấn áp nhân dân, ý thực phục thù giai cấp và giữ vững nền trật tự phong kiến của họ Nguyễn Tính chất dân tộc, tiến

bộ trong bộ luật Hồng Đức, đến luật Gia Long thì không còn nữa

*Quân Đội

Về binh lực, các vua triều Nguyễn hết sức quan tâm đến việc tổ chức một lực lượng quân đội mạnh Quân đội được huấn luyện và tổ chức chặt chẽ ngay từ thời chiến tranh chống Tây Sơn Quân đội bao gồm các bộ phận chính: Thân binh (hộ vệ vua), Cấm binh (phòng thủ hoàng thành), Tinh binh hay Bền binh (ở kinh đô hay các địa phương) Theo Đại Nam thực lục thì tổng số quân thường trực của nhà Nguyễn khá đông, lên đến

20 vạn quân (1820: 204.220 người; 1840: 212.290 người) Ngoài ra, quân đội còn được chia làm bốn binh chủng: bộ binh, thủy binh, kị binh và tượng binh Đối với chế độ binh dịch nặng nề hầu như cứ 3 hoặc 4 suất đinh thì lấy 1 lính Để binh lính luôn luôn gắn bó

và trung thành với triều đình, nhà Nguyễn đã đưa ra chế độ lương bổng rất hậu “Mỗi

Trang 12

người được nhận lương bằng ruộng với một diện tích từ 7 sào đến 1 mẫu, thêm vào đó

là mức ruộng khẩu phần cao” [19, tr.440]

Về đối ngoại, các vua Nguyễn vẫn giữ thái độ “thần phục” đối với nhà Thanh

như nhận sắc phong, thực hiện nghĩa vụ cống nạp…Ngoài ra, quan hệ đối với các nước lân cận trong khu vực thì không giữ được hòa khí như với Trung Quốc Ngược lại, đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào nhà Nguyễn thường sử dụng vũ lực để khống chế và bắt các nước này thần phục Còn đối với Xiêm La thì quan hệ bất thường

và rất phức tạp

Các nước phương Tây, nhà Nguyễn tỏ ra nghi ngại, dè dặt Giai đoạn đầu, vua Gia Long đã thi hành chính sách tương đối cởi mở với Pháp và đạo Thiên Chúa Bởi vì, nước Pháp đã giúp đỡ triều Nguyễn cuộc chiến tranh chống lại triều Tây Sơn

Tình hình xã hội lúc bấy giờ chứa đựng nhiều mâu thuẫn đối kháng song song tồn tại với nhau Đặc biệt là mâu thuẫn giữa triều đình phong kiến nhà Nguyễn với quần chúng nhân dân Bởi vì, sự ra đời của triều Nguyễn dựa vào sự giúp sức của các thế bên ngoài nhằm để tiêu diệt triều Tây Sơn nên không được quần chúng nhân ủng hộ

Trong tình thế xã hội – chính trị phức tạp rối ren như vậy nhằm ổn định xã hội

và phát triển đất nước, triều Nguyễn đã thi hành chính sách cai trị hà khắc, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Chính điều này, đã gây nên sự phán kháng kiên quyết của nhân dân đối với triều đình và làm cho tình hình xã hội trở nên căng thẳng, rối loạn.Thực tế lịch sử cho thấy, những chính sách này chưa mang lại hiệu quả rõ nét đối với đời sống nhân dân Bắt nguồn từ nguyên nhân của nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của địa chủ, nạn tham nhũng của quan lại, cường mà triều đình chưa khắc phục và hạn chế được Chính vì vậy, mà có hiện tượng nông dân không có đất sản xuất, phải bỏ làng đi tha

phương cầu thực là nét phổ biến dưới triều Nguyễn “Ngay từ những năm 1802, 1803,

Gia Long đã nhiều lần hạ lệnh cho quan lại khuyến khích nhân dân, quân sĩ phục hóa, thế nhưng năm 1806, nghe báo cáo của quan lại Bắc Thành, nhân dân tiếp tục phiêu tán hơn 370 thôn xã, năm 1826 theo quan lại Bắc Thành 13 huyện trong hạt trấn Hải Dương, nhân dân vì đói phiêu tán đến 108 xã thôn, ruộng bỏ hoang hơn 12.700 mẫu cho đến cuối những năm 30 diện tích ruộng đất hoang hóa dã lên đến 1.314.927 mẫu”

Trang 13

Thêm vào đó là chế độ thuế khóa và lao dịch đã trở thành gánh nặng đối với nhân dân Ngoài việc nông dân đóng thuế thân ra còn phải nộp thêm tô thuế ruộng đất bằng hiện vật Đối với những năm mất không đủ lúa để đóng tô thuế và nhà nước không muốn mất khoản thu đã cho nông dân nộp tiền (gọi là “đại nạp”) chính hình thức này đã đẩy

người nông dân vào cảnh bần cùng “Thuế nhân đinh cũng được chia theo khu vực và

hạng người Mức thuế từ 3 – 4 tiền đến 1 quan 8 tiền” [19, tr.452] Một giáo sĩ Pháp là

Gheerra (Gúerard) nhận định “Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách Sự bất

công và lộng hành làm cho người ta rên xiết hơn cả ở thời Tây Sơn: thuế khóa và lao dịch thì tăng lên gấp ba” [19, tr.452]

Ngoài chế độ thuế khóa ra còn có chế độ lao dịch Trong luật nhà Nguyễn có quy định, mỗi năm một dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch Tuy nhiên trên thực tế nhân dân

phải làm việc quá mức trong những năm nhà Nguyễn xây dựng lại kinh thành “Năm

1807, kinh thành Huế vừa xây xong, Gia Long lại điều động hàng ngàn dân đinh, quân lính Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Thành vào sữa chữa liên miên hàng chục năm” [19,

tr.452]

Dưới thời Nguyễn, các cuộc khởi nghĩa của nông dân diễn ra liên tục, kéo dài và

liên miên “Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, dưới thời Nguyễn có đến gần 500

cuộc khỏi nghĩa lớn nhỏ các loại, riêng thời Gia Long có khoảng 90 cuộc, thời Minh Mạng khoảng 250 cuộc, thời Thiệu Trị có 50 cuộc…” [19, tr.454] Một hiện tượng đáng

quan tâm là sự tham gia của binh lính triều Nguyễn vào phong trào đấu tranh của nhân dân Qua sự kiện này chứng tỏ sư bất bình đẳng của mọi tầng lớp xã hội, kể cả bộ phận công cụ bạo lực của nhà nước mà một chức năng chủ yêu của nó là đàn áp các cuộc nổi dậy

Tuy nhiên các phong trào của nhân dân đều bị triều Nguyễn ra sức đàn áp, khủng

bố và huy động những lực lượng quân đội to lớn dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu Chính biện pháp này đã góp phần làm cho mâu thuẫn ngày càng trở nên gây gắt, khó điều tiết được

1.2.2 Kinh tế - Văn hóa

*Về nông nghiệp

Trang 14

Nhà Nguyễn hết sức coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp cho nên

đã thi hành chính sách “dĩ nông vi bản”, do đó nông nghiệp được đặc biệt ưu tiên phát triển

Thưc hiện việc đo đạc lại ruộng đất lớn vào năm 1803 và cho lập “ địa bạ”, năm

1804 Gia Long ban hành chính sách quân điền Nhưng số lượng công điền ít ỏi (đồng bằng Bắc Bộ, ruộng đất tư hữu chiếm khoảng 65 -70 %, ở Nam Kỳ tỉ lệ còn cao hơn), nên chính sách quân điền chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, thể hiện rõ sự ưa đãi của nhà nước đối với quan lại và binh lính

Nhìn chung trên thực tế chính sách quân điền của nhà Nguyễn chỉ là biện pháp trói buộc người nông dân vào tổ chức thôn xã để thực hiện nghĩa vụ tô thuế, lao dịch và binh dịch Nhưng chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn không xuất phát từ yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu nhằm gia cố bệ đỡ kinh tế cho một nhà nước tập quyền chuyên chế lấy nông nghiệp làm nền tảng Vì vậy, chính sách này đã trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của kinh tế hàng hóa

Các vua nhà Nguyễn rất quan tâm đến đê điều, nhưng do thiếu quản lý và quy hoạch một cách thống nhất và đặc biệt là nạn tham nhũng vẫn diễn ra phổ biến, kèm theo thiên tai, lũ lụt… nên việc tu bổ, sữa chữa đê điều gặp nhiều khó khăn Chính vì thế

đã xảy ra nạn vỡ đê liên miên làm cho mất mùa, đói kém

Thế nhưng, nhà Nguyễn có khuynh hướng tăng cường xây dựng các công xưởng

Vũ khí chế tạo là cơ quan quản lý thủ công nghiệp nhà nước bao gồm 57 cục Bên cạnh

đó là các cơ quan chức năng chuyên trách về từng lĩnh vực như ty thuyền chính, ty tu tạo, ty thương bác hỏa dược,… Những thợ giỏi được trưng tập từ các địa phương được làm việc trong những công xưởng đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng kỹ thuật cao Ngoài ra, hoạt động thủ công nghiệp dân gian còn hạn chế về nguồn tiêu thụ và chính sách khuyến khích của nhà nước, chịu nhiều ràng buộc về quy cách sản xuất và thể lệ thuế nên các nghề thủ công không phát triển mạnh, hoạt động còn bị phân tán, chưa phát huy hết khả năng để đóng góp quan trọng vào nền kinh tế hàng hóa đương thời

Những ngành doanh quan trọng đều bị triều đình nhà Nguyễn độc quyền, đặc biệt

là ngành khai mỏ.Tuy nhiên, phần lớn các mỏ được giao cho thương nhân, tù trưởng miền núi, hàng năm nộp thuế cho nhà nước Nhưng đối với các mỏ quan trọng thì nhà

Trang 15

Nguyễn trực tiếp khai thác Tuy nhiên, do áp dụng phương thức canh tác theo lối thủ công truyền thống cho nên dẫn đến năng suất thấp Việc khai thác không xuất phát từ chính sách đẩy mạnh và phát triển ngành khai mỏ nhằm mục đích thâu tóm nguồn lợi này nên trong quá trình khai thác Đối với thương nghiệp, đất nước thống nhất, chất lượng tàu bè ngày càng được nâng cấp, đường cái quang nối liền Nam – Bắc và các tỉnh với nhau được sữa chữa và nhờ hàng loạt trạm dịch của nhà nước mà an ninh được tương đối đảm bảo Đây là tiền đề cho sự phát triển kinh tế hàng hóa Nhưng thương nghiệp lại có chiều hướng suy giảm Do chính sách “trọng nông ức thương” cũng ảnh hưởng đến ngành thương nghiệp của nước ta và nhà nước sẽ không có chính sách khuyến khích phát triển ngành này

Hoạt động buôn bán được nhà Nguyễn thi hành chính sách thuế khóa phức tạp

và chế độ kiểm soát chặt chẽ Thuyền chở gạo từ Nam Định đến Nghệ An phải nộp thuế

9 lần, thuyền buôn thì hàng năm nhà nước trưng dụng theo định năm 1807 “phàm thuyền

vận tải, cứ một năm chở của công thì một năm đi buôn” [19, tr.450] Đấy là chưa kể sự

hạch sách của nhân viên thu thuế Thậm chí năm 1834, do sợ phong trào nông dân nổ

ra, Minh Mạng ra lệnh cấm họp chợ Một số thương cảng và thành thị trước kia (Phố Hiến, Hội An, Gia Định…) cũng dần suy tàn

Về thương mại, nhà Nguyễn thi hành chính sách độc quyền Triều đình thường

bố trí cho các phái bộ đi công cán kết hợp mua hàng hóa ở nước ngoài Tàu buôn Anh,

Mỹ, Pháp,… nhiều lần đến xin đặt quan hệ thông thương nhưng đều bị triều đình khước

từ

Những chính sách về kinh tế trong những năm nữa đầu thế kỉ XIX, mặc dù đạt được một số thành tựu nhưng nhìn chung đã không tạo điều kiện hay thúc đẩy hàng hóa phát triển, thậm chí còn cảng trở nền kinh tế hàng hóa phát triển

1.3 Khái quát các tôn giáo ở Việt Nam

1.3.1 Thế kỉ X – XIV

Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, nước ta đã bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc Từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIV, là thời kỳ hình thành và phát triển bước đầu của chế độ phong kiến Việt Nam Chế độ phong kiến Việt Nam được hình thành và phát triển theo hướng tập quyền đã tạo ra nhu cầu sử dụng và đề cao Nho

Trang 16

giáo như một vũ khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị văn hóa - tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo có cơ sở tồn tại ở giai đoạn trước, nay có điều kiện mở rộng ảnh hưởng cả trong dân chúng và triều đình

Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, Nho giáo thời kỳ này hết sức mờ nhạt trong xã hội cũng giống như trong triều đình.Trong khi đó, Phật giáo tiếp tục phát triển và các triều vua Đinh – Tiền Lê đều có chính sách nâng đỡ đối với tôn giáo này Năm 970, vua Đinh Tiên Hoàng cho quy định về tổ chức triều chính, chia cấp bậc các quan lại, mời một số Cao tăng về triều để thuyết giảng và tham khảo ý kiến của các vị sư đó, trong đó có vị Thiền sư Ngô Chân Lưu đối đáp hợp ý, được vua phong chức Tăng thống Năm 995, vua Lê Đại Hành dựng một cột đá bát giác (8 cạnh) cao 3 m, ở trước chùa Nhát Trụ tại kinh đô Hoa Lư, trên đó khắc bài chú trong Kinh Lăng Nghiêm

Thời Lý – Trần – Hồ, Phật giáo chiếm địa vị chủ đạo trong đời sống xã hội, có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh, văn hóa của dân tộc Sự phát triển rộng rãi trong

cả nước, tầng lớp tăng sĩ đóng vai trò quan trọng trong xã hội Thời Lý – Trần từ vua quan đến nhân dân đều theo đạo Phật Hoàng đế khai mở triều Lý là Lý Công Uẩn, chẳng những có lý lịch xuất thân gắn liền với nhà chùa mà còn có nhiều mối liên quan với Phật giáo Các vị vua nhà Lý – Trần nổi tiếng với đường lối nhân đức Có nhiều vị vua vừa

là Phật tử vừa là Phật học uyên bác, tham gia vào việc thành lập các tông phái thiền Thời kì này, số tăng ni Phật tử trong cả nước tăng lên rất nhiều Đặc biệt, tầng lớp tăng

ni rất được đề cao trong xã hội và có nhiều nhà sư nổi tiếng như: Vạn Hạnh, Đa Bảo, Viên Thông, Trí Thông, Pháp Loa.Việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông Phật đặc biệt được coi trọng Có rất nhiều chùa tháp với quy mô to lớn và kiến trúc độc đáo: Chùa Phật Tích, chùa Đại Lãm, chùa Một Cột… Ngoài ra, sự phát triển của đạo Phật thời kì này còn thể hiện qua việc các vua thường tổ chức những cuộc tế lễ rất quan trọng Tuy nhiên, vào cuối triềuTrần, Phật giáo bị suy giảm dần trên địa hạt chính trị nhường chỗ cho Nho giáo

Bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo dưới thời Lý- Trần cũng rất phát triển Trong guồng máy nhà nước, từ trung ương đến địa phương có một bộ phận quan lại xuất thân là Đạo

sĩ Thời kì này số lượng đền miếu, đạo quán được xây dựng ngày càng nhiều, quy mô

Trang 17

Bên cạnh tăng quan có cả chức đạo quan Ở thời kì này, các đạo sĩ của Đạo giáo

các núi sông trong nước, vào cung làm lễ trống trừ ma đêm ba mươi tết, làm nhép

cầu đảo chống nạn, giảng giải cho vua về phép tu luyện “sự kiện vua Trần với

đạo sĩ núi Yên Tử đi về kinh hỏi phép tu luyện” [6, tr.437] Vua Trần cũng thi

hành chính sách phong chức Tả nhai cho những đạo sĩ thông thạo tôn giáo của mình Trong xã hội, số lượng các đạo sĩ, Pháp sư, chân nhân, thầy cúng, thầy phù thủy… khá đông Họ thực sự là một lực lượng gắn bó chặt chẽ với xã hội đương thời Cùng với hàng loạt những người tu hành theo Phật giáo, các giáo sĩ đã tác động ít nhiều đến đời sống tư tưởng của các tầng lớp nhân dân

Trong dân gian, Đạo giáo càng thịnh Không chỉ trong cuộc sống thường

ngày, mà cả trong văn học cũng thấm đượm tinh thần của Đạo giáo, “đoàn kết thể

hiện qua sách Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện Từ Thức kết duyên với nàng tiên Gíang Hương rất phổ biến, ly kì” [5, tr.14] Qua đó nói lên tầm ảnh hưởng của

Đạo giáo

Còn Nho giáo dưới thời Lý – Trần có thể coi là thời kì bước đầu phát triển của nó ở Việt Nam Điều đó được thể hiện qua việc quán triệt tư tưởng triết học, đạo đức của Nho giáo Theo thuyết “mệnh trời” và thuyết “thiên nhân cảm ứng”, bản thân việc nhà Lý thay thế nhà Lê được tuyên truyền là làm theo mệnh trời Hoặc sau khi lên làm vua Lý Công Uẩn đã đặt niên hiệu là Thuận Thiên cũng

muốn thể hiện rằng việc làm của mình là do vâng mệnh trời “Để đề cao trung

hiếu, Lý Thái Tông (1028 – 1054), ngay khi mới lên ngôi đã tổ chức cho các quan làm lễ tuyên thệ ở miếu Đồng Cổ Lời thề viết: “làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết” [5, tr.7] Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng sâu sắc

của Phật giáo, thời kì Lý – Trần việc thực hiện các quan niệm đạo đức của Nho giáo trong triều đình chưa thật chặt chẽ Nhiều triều vua Lý – Trần thi hành đường lối chính trị nhân chính, thường tỏ ra rất nhân từ trong việc trị nước Như vậy, mặc dù dưới thời Lý, Nho giáo được nhà nước chấp nhận là một thành tố của hệ

Trang 18

tư tưởng Nho – Phật – Đạo, mở mang nên giáo dục khoa học Nho học và như Trần Văn Giàu khẳng định: “Nhà Lý ngày càng dựa vào Nho giáo”, nhưng Nho giáo vẫn giữ một vị trí khá khiêm tốn Sự phát triển Nho giáo thời Lý – Trần được biểu hiện rõ rệt ở mặt giáo dục và thi cử Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ hình thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng Thái tử được đưa đến đây để học tập Năm 1075, lần đầu tiên nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học Tam trường… Sang thời Trần, Nho giáo phát triển hơn so với thời Lý Do nhu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước, ở thời Trần các khoa thi được mở đều đặn hơn

Có thể thấy, đến thời Lý – Trần , Nho giáo bắt đầu có chỗ đứng trong xã hội Tuy vậy, trong thời gian này Nho giáo chủ yếu được tiếp thu trong tầng lớp cầm quyền, ở triều và cả lộ phủ, còn trong dân gian Phật giáo, Đạo giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo và có ảnh hưởng sâu đậm hơn nhiều so với Nho giáo Tuy nhiên theo thời gian, mặc dù cùng tồn tại với Phật giáo, nhưng Nho giáo thời Trần lại

có xu hướng phát triển ngược lại với Phật giáo

1.3.2 Thế kỉ XV

Thế kỷ XV là thời kỳ xác lập và phát triển cao độ chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế và bộ máy Nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu Đặc biệt, dưới triều Lê Thánh Tông chế độ phong kiến Việt Nam đã phát triển tới giai đoạn

toàn thịnh và cùng với đó là việc độc tôn Nho giáo

Trước việc độc tôn Nho giáo, Phật giáo chuyển sang ảnh hưởng chủ yếu trong dân gian, trong nhu cầu tinh thần của dân chúng nói chung, trong đó có cả trí thức Nho học Phật giáo không bị chối bỏ một cách cực đoan Phật giáo, Đạo giáo thời kỳ này tồn tại như những nhân tố bổ sung trong đời sống tâm linh

Thời Lê là một giai đoạn lịch sử có diễn biến phức tạp cả về chính trị xã hội và hệ tư tưởng Qua các nguồn sử liệu, chúng ta nhận thấy rằng, trong thời kỳ nhà Lê cực thịnh (1428 -1527), Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống của vương triều và phổ cập trong đại bộ phận dân cư làng xã

Trang 19

Năm 1435, Lê Thái Tông sai Thiếu bảo Lê Quốc Hưng chọn ngày làm lễ cúng Khổng Tử ở Văn Miếu Sang thời Lê Thánh Tông, Nho giáo đạt đến đỉnh cao thịnh vượng Dù vẫn quan tâm đối với Phật giáo và Đạo giáo nhưng tư tưởng chủ đạo của Lê Thánh Tông là Nho giáo Lê Thánh Tông đưa Nho giáo lên vị trí hàng đầu trong đời sống văn hóa tinh thần của thời đại.Trong giáo dục và thi Nho giáo chiếm nội dung chủ yếu Nho học thời Hậu Lê áp dụng theo kiểu nhà Tống, còn gọi là Tống Nho Năm 1467, ông đặt ra chức Ngũ Kinh bác sĩ tức là chọn người giỏi giao cho nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu về Ngũ Kinh để giảng dạy cho học trò, truyền bá Nho giáo trong xã hội Ông đề cao “tam cương”: quân thần, phụ tử, phu phụ và chữ “hiếu”, ít bàn về phạm trù “nhân nghĩa” Các vua Lê từ

Lê Thái Tổ trở đi rất sùng đạo Nho, dùng đường lối này làm tư tưởng chính thống

để cai trị quốc gia Trong giáo dục và thi cử, Nho giáo chiếm nội dung chủ yếu

Thế kỷ XV, Phật giáo bắt đầu suy thoái ở giai đoạn này Tuy nhiên, với tư cách là tôn giáo – tín ngưỡng Phật giáo vẫn có sức sống, đặc biệt trong đời sống nhân dân

1.3.3 Thế kỉ XVI – XVIII

Trong thời kì trị vì ở Thăng Long, nhà Mạc nhiều lần đã cho tu bổ Văn

Miếu Quốc Tử Giám như năm 1536: “Họ Mạc sai Đông quận Đô đốc phủ tả Đô

đốc Khiêm Quận Công Mạc Đình Khoa trung tu Quốc Tử Giám” Nhà Mạc ngay

sau khi ổn định chính quyền, liền tổ chức kì thi Hội đầu tiên vào năm 1529 tại Văn Miếu và định lệ duy trì đều đặn ba năm một kì thi Hội Trong thời gian trị vì

ở Thăng Long (1527-1592), nhà Mạc đã tổ chức đều đặn được 22 khoa thi Hội, lấy đỗ 485 tiến sĩ và 13 trạng nguyên

Thời Lê - Nguyễn: Cũng giống Phật giáo, Đạo giáo trong giai đoạn này bị nhà nước hạn chế những vẫn duy trì trong chừng mực có lợi cho sự thống trị của giai cấp phong kiến, nhất là nhánh đạo phù thủy Cũng ở thế kỷ XVII, dưới thời

Lê Thánh Tông, xuất hiện một trường phái Đạo giáo Việt Nam có quy mô rất lớn

Trang 20

Đến thế kỷ XVI, sự ra đời phát triển của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện yêu cầu cải cách tôn Kitô giáo Với những sự cái cách của Mactin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546) đã làm xuất hiện Giáo hội cải cách gọi là Tin Lành Cũng thời kì này vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo

Đạo Thiên Chúa truyền vào Việt Nam từ những thập niên đầu của thế kỷ

XVI Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng " Nam Nguyên

Hoà, đời vua Lê Trang Tôn (năm 1533) có một thương nhân tên là Ineekhu (Ignatio) đi đường biển lén vào giảng đạo Giatô ở Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chấn và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy” nay thuộc tỉnh Nam

Định.Thời kỳ từ 1533 đến 1645, chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phanxitô Bồ Đào Nha

và dòng Đa Minh Tây Ban Nha theo những thuyền buôn vào nước ta truyền giáo Khi đạo Thiên Chúa đã phát triển ở Việt Nam, năm 1645, Giám mục Alxexandre

de Rhodes (Giáo dân quen gọi là cha Đắc Lộ), là giáo sĩ người Pháp đầu tiên được

cử sang Việt Nam Thái độ của các vương triều phong kiến Việt Nam đối với đạo Thiên Chúa qua các thời kỳ có khác nhau Trong thế kỷ XVII, chính quyền Trịnh – Nguyễn nhiều lần ra lệnh cấm đạo, trục xuất giáo sĩ Tuy vậy, nhiều giáo sĩ vẫn lén lút hoạt động truyền đạo, trong đó có một số giáo sĩ hoạt động chuẩn bị cơ sở cho những hoạt động xâm lược của thực dân Pháp Chính sách với đạo Thiên Chúa nhà Nguyễn lúc thì cho phép, lúc thì cấm đoán ngặt nghèo

Trải qua quá trình lịch sử, đạo Thiên Chúa ở Việt Nam đã tồn tại với tư cách là một tôn giáo trong đời sống tư tưởng văn hóa Với đường lối thích nghi thờ đạo của mình, Giáo hội Thiên Chúa cho phép dân Việt Nam theo đạo nhưng vẫn được thờ cúng tổ tiên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, động viên giúp đỡ các giáo dân hoạt động theo tinh

thần“Kính Chúa yêu nước”, “ Đẹp Đạo và Đời” Một số nhà thờ Thiên Chúa giáo

đã được xếp hạng là Di tích nghệ thuật kiến trúc, điển hình là Nhà thờ đá Phát

Trang 21

Ngày nay,Thiên chúa giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo Theo thống kê của Giáo hội Công giáo (2004), đạo Công giáo có 1.045.057.000 tín đồ, 3.475 giám mục, 405.187 linh mục, 218.196 giáo xứ ở 185 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trang 22

Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA VUA GIA LONG ĐỐI

VỚI TÔN GIÁO

2.1 Nho giáo

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời “Bắc thuộc” phải đến thời Lý, Trần

mới bắt đầu phát triển và đã phát triển đến đỉnh cao, trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước vào thời Lê Sơ Cuối cùng, sau đó nó bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, suy thoái vào thế kỉ XVII, XVIII

Trong đó các tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo cùng tác động vào sinh hoạt tinh thần, tâm linh của người dân Việt và ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống và các hoạt động chính trị của các vị vua Đặc biệt là Nho giáo ăn sâu vào nếp sống và chiếm một địa vị khá quan trọng trong đời sống các vua triều Nguyễn Đến triều Nguyễn, chế độ phong kiến nhà nước, quan liêu cũng được phục hồi, đồng thời xây dựng nhà nước trung ương tập quyền nặng về chuyên chế, các vua Nguyễn tăng cường phục hồi địa vị của Nho giáo trong xã hội Triều Nguyễn coi Nho giáo là quốc giáo, được sử dụng như một công cụ đắc lực để củng cố địa vị, duy trì bảo vệ chế độ phong kiến Mặt khác, cũng được xem là nền tảng tư tưởng cho triều đại mình, dùng học thuyết Nho giáo để trị nước

Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long cho dựng văn miếu có quy mô lớn tại kinh

đô Huế, với tư cách là văn miếu chính thống của cả nước, đến năm 1808 thì mới hoàn tất Để chấn hưng Nho giáo việc ban hành cơ chế pháp luật được triều Nguyễn rất chú ý Sau khi lên ngôi vua Gia Long dã ban hành hơn 100 điều lệ như: điều kiện chấn chỉnh tục ở hương đảng, làm sổ hộ tịch…, và quan trọng nhất

là cho ra đời bộ luật Gia Long – Hoàng Việt, các nội dung về trung hiếu, lễ nghĩa được cụ thể hóa trong điều luật thông qua các điền chế và pháp luật ra đời dưới thời Gia Long

Tuy nhiên, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn này đã có sự kế thừa những thành quả của các triều đại trước đã làm được bên cạnh đó ông cũng đã mở rộng ,xây dựng nhiều đền miếu, văn miếu để củng cố giáo lý, lấy Nho giáo làm hệ tư

Trang 23

tưởng Năm 1804 Gia Long cho xây dựng nhà Thái Miếu để thờ cúng tổ tiên dòng

họ Nguyễn, cũng năm đó Gia Long sai lập danh sách các công thần gồm 1015 người, chế bài vị thờ ở đền Hiền Trung (Gia Định), về sau chuyển về kinh đô Huế

Thái Miếu có tên đầy đủ là Thái Tổ Miếu đây là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần Miếu nằm ở góc đông nam trong hoàng thành, đối xứng với Thế Miếu ở phía Tây Nam Miếu được xây dựng

từ Gia Long 3 (1804) và được tu sữa vào các đời vua Thành Khánh, Khải Định Trước tiên, vua Gia Long đưa tổ tiên mình lên phối hưởng tế tự cùng với tế Trời: Ngày Tân mão, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao Rước Thái tổ Gia Dụ hoàng đế (Nguyễn Hoàng) lên phối hưởng [38, tr.325] Điều này được biểu hiện rõ qua lời

dụ của vua Minh Mạng rước Gia Long lên phối tự với Trời: “Lễ rước lên phối tự

ở đàn Nam Giao là để truy tôn tổ tiên cao sánh với Trời… Trẫm từ khi nối ngôi đến nay, kính nhớ tổ tiên, tưởng như giáng lâm sáng tỏ ở trên, nên càng nghĩ làm cho lừng lẫy nghiệp lớn để tỏ lòng hiếu kính Hiếu kính nói rằng: “Tôn kính cha không gì bằng đem phối với trời” Như vậy chỉ có tế Giao lễ lớn, kính rước phối

lên mới có thể nêu được đức tôn, tỏ rõ đạo hiếu về sau… nay chuẩn y lời tâu bàn của bộ Lễ, mùa xuân sang năm làm lễ Nam giao, kính rước Thế tổ Cao Hoàng đế phối tự Việc này chép lại thành hội điển truyền lại vô cùng, để tỏ rõ tấm lòng hiếu nối dõi của trẫm và đưa nhà nước đến cõi phúc lâu đời Còn đồ thờ và lễ vật

do hữu ty kính cẩn sắm sửa [40, tr.241 – 243]

Mặt khác, vua Gia Long cho xây dựng và tiếp tục phục chế lại hệ thống Văn Miếu ở các dinh, trấn, thành Đối với các dinh trấn đều cho lập nhà Văn Miếu, trong đó mỗi miếu đặt hai người điển hiệu, lễ sinh và miếu phu đều 30 người [36, tr.49] Ngoài ra, cho phép bộ Lễ bàn quy thức Văn Miếu ở các thành, dinh, trấn…[38, tr.373]

Nhà Lê xây dựng Văn miếu ở Thăng Long sau này trở thành Văn miếu địa phương Do lấy các điển lễ tại văn miếu Huế làm chuẩn mực, cho nên Gia Long bãi bỏ việc thờ tự các bậc Nho giáo của nước ta như Sĩ Nhiếp, Chu Văn An, vì đã

Trang 24

có đền thờ do dân sở tại trông coi Về sau, vua Minh Mệnh lại đưa Sĩ Nhiếp và Chu Văn An vào thờ ở Văn miếu [39, tr.8]

Nơi thờ tự Văn miếu kinh đô gồm có Tiên sư – Khổng tử và toàn là các gương mặt Nho giáo Trung Quốc Tuy nhiên, theo tục lệ cũ tượng thờ Khổng Tử được đặt hiệu là Văn tuyên vương, Gia Long cho rằng tước vương tuy quý nhưng không hợp với nghĩa thầy, thần tượng tuy cổ nhưng gần như khinh lớn…Việc thờ thần tượng trong Văn miếu được thay thế bằng bài vị

Ngoài ra, hệ thống thờ cúng Nho giáo của Nhà nước còn bao gồm việc cúng

tế trời đất, điều này được thể hiện rõ qua việc tế Nam Giao (tế Giao) và tế Xã Tắc, được liệt vào Đại tự (lễ tế lớn) Điều này được biểu hiện rõ đó là cứ vào mùa xuân, nhà vua đích thân đứng ra tổ chức tế trời đất ở Đàn Nam Giao, phối hưởng trên Đàn Nam Giao là các thần Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì tinh tú, thần kỳ trên toàn cõi Trong việc Tế Nam Giao có mối liên hệ với quan niệm về Thiên mệnh của Nho giáo Bởi vì, vua được mệnh danh là con của trời cho nên thay trời hành đạo, trị dân và thực hiện mệnh lệnh của trời Chính vì vậy, nhà vua phải trực tiếp tế trời giao thoa với trời đất để tỏ lòng tôn kính và cầu khẩn trời gia hộ cho

Việc tế Đàn Nam Giao của triều Nguyễn bắt đầu từ năm Gia Long thứ năm (1806), nhà vua cho dựng đàn Nam Giao và đàn Xã Tắc về quy mô, kích thước, hình dáng, cấu trúc cho đến hệ thống thần linh đều theo đúng sách Lễ Quy định chỗ thờ, phép thờ tự và ngày tế hàng năm (trước đó chỉ khi có việc đại sự thì lập đàn tế Trời Đất) Như vậy, từ đó thành lệ, mùa xuân nhà vua đích thân cử hành tế

lễ Trời Đất ở đàn Nam Giao [36, 265,266] Các vị vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và cho đến Tự Đức sau này cũng lần lượt tổ chức lễ rước Đàn Nam Giao phối hưởng thờ tự với trời đất Cách thức tổ chức tế tự ở Đàn Nam Giao từ vua Gia Long đến Tự Đức luôn được quan tâm, bổ sung để hoàn thiện thành điển lễ

và thực hiện một cách nghiêm ngặt

Nghề nông được Nho giáo coi là gốc của thiên hạ cho nên việc cúng tế để

tỏ lòng biết ơn đối với các vị thần liên quan đến sự thịnh suy của nghề này luôn

Trang 25

được các vua triều Nguyễn đặc biệt rất quan tâm và chú trọng Điều này được thể hiện rõ qua nghi thức như: lễ thần Xã Tắc, tế Tiên Nông, lễ tịch điền chủ yếu do các vị vua triều Nguyễn đứng ra thực hiện Vào năm Gia Long thứ 5 được xây dựng Đàn Xã Tắc (thờ thần Đất và thần Lúa) ở Kinh đô Huế Cứ mỗi năm ở các địa phương phải cống nạp một phần đất sạch nhằm để thực hiện việc đắp đàn Việc tế Đàn Xã Tắc được thực hiện mỗi năm hai lần xuân thu và được xem là lễ lớn của nhà nước lúc bấy giờ, về sau tế Nam Giao

Phong tục thờ cúng tổ tiên (nhà Tôn miếu) đối với các vương triều phong

kiến là cực kỳ quan trọng Bởi vì chữ “Hiếu” là một trong những nguyên tắc cốt

lõi của Nho giáo nhằm nuôi dưỡng con người lòng hiếu thảo với nhân sinh của mình Chữ “Hiếu” là nền tảng cấu tạo thành chữ “Trung” hai yếu tố này luôn đi đôi với nhau thể hiện sự trung thành của thần dân đối với triều đình Ngoài ra, việc thờ cúng tổ tiên theo nghi lễ là sự thể hiện lòng biết ơn đối với ông cha ta đã khai sinh ra dòng họ và đồng thời cũng đề cao uy quyền của vương triều

Để giành thắng lợi quân Tây Sơn vương triều Nguyễn đã phải nhờ đến sự giúp đỡ đắc lực của đội ngũ công thần và nghĩa sĩ… Các vua Nguyễn đã cho xây dựng các miếu thờ để tưởng nhớ sự hi sinh của các vị công thần đã có công với triều đại Đồng thời, qua việc làm này cũng thể hiện sự đền đáp công ơn sâu đậm của các vị công thần, nghĩa sĩ và được xem như một chính sách lớn

Gia Long thứ 4 chiếu rằng: “Từ các đấng thánh vương trước mở mang bờ

cõi, trong khoảng đó những bề tôi thân huân hết sức hiến mưu, cùng nhau giúp

đỡ, đều chung một lòng để vững cơ nghiệp nhà vua Thế cho nên sống được tiếng

vẻ vang, chết được hiệu rạng rỡ, thờ cúng tôn sùng, ấm đến con cháu, cùng nước vui buồn, truyền đi mãi mãi… Nay nước nhà dựng lại… theo pháp thường báo đền, nên tra xét lễ lớn Vậy sai quan bộ Lễ khảo rõ các công thần khai quốc mà

từ trước đã dựng đền thờ và ban cấp tự dân tự điền, có ấn tích bằng cứ thì bàn

Trang 26

Trong các miếu thờ, ngoài các bậc công thần lập quốc có tên tuổi, đặc biệt trong đó có một số lượng lớn (hàng trăm, hàng nghìn) các tướng sĩ, nghĩa quân cũng được tôn thờ Điều này cho thấy sự quan tâm và quý trọng của triều Nguyễn đối với tất cả người đã hy sinh vì nước nói chung

Vua Gia Long ban lệnh cho Bình Định, Phú Yên dựng miếu công thần Bình Định 2 miếu, một thờ Võ Tánh, Ngô Chu Tông và những người chết trận chết bệnh, cả thảy hết 260 người….Trần Phú Yên miếu thờ Mai Đức Nghi và những người chết trận chết bệnh, cả thảy hết 526 người…

Ngoài ra, sai bộ Lễ bàn định nơi thờ các công thần ở đền Hiển Trung Gia Định, cộng 1.015 người [38, tr.51,61,193] Đồng thời, việc thờ cúng các công thần, nghĩa sĩ tại kinh đô Huế: Lúc chưa có miếu công thần, Gia Long lệnh cứ 4 tháng 1 lần tế công thần tại đàn Tiêu Sơn.[38, tr.139] Sau khi lập ra vương triều Nguyễn, các năm kế tiếp vị vua Gia Long đã cho xây dựng miếu Công thần tại kinh đô Huế, tiến hành định thứ vị Công thần gồm: Công thần khai quốc có 4 người, Công thần trung tiết 114 người, Công thần trung hưngcó 258 người [38, tr.66] Vua Gia Long đã thực hiện chuyến Bắc tuần đầu tiên đến yết miếu Lê Thái

Tổ, sai bộ Lễ đặt đàn tế các thần sông núi Tiếp đó, lại ra lệnh tìm hậu duệ nhà Lê

để giữ gìn việc thờ cúng, phong tước, cấp cho tự điền, tự dân để thờ phụng: Ngày Quý Sửu, xa giá đến Thanh Hóa… với những người già ở làng Bố Vệ (thuộc huyện Đông Sơn) hỏi về sự tích cũ miếu nhà Lê Những người dòng dõi họ Lê tranh nhau đêm trầu rượu đến lạy mừng, vua an ủi rồi cho về…[38, tr.36]

Tóm lại, chúng ta thấy rõ học thuyết chính trị xã hội nói về thế giới hiện thực, triều Nguyễn đã bao trùm lên Nho giáo một gam màu tôn giáo thần bí Bởi

vì, tôn giáo này có chức năng đặc biệt đối với triều Nguyễn Bắt nguồn từ hoàn cảnh chính trị - xã hội phức tạp, các phong trào của nhân dân nổ ra đe dọa đến sự thịnh vượng của vương triều …Để khắc phục tình hình này nhà Nguyễn muốn nhân dân lãng quen đi sự đau khổ, mẫu thuẫn đối kháng mà cuộc sống thực tại đang tái diễn, cho nên triều Nguyễn đã hướng mọi người đến với một thế giới tâm

Trang 27

linh Tuy nhiên, tư tưởng trung quân ái quốc, chữ hiếu và quan hệ tam cương ngũ thường… luôn được triều Nguyễn hết sức quan tâm Bởi vì, đây là một trong những đặc điểm nổi trội nhất trong tư tưởng Nho giáo thời kỳ này

2.2 Phật giáo

Tư tưởng Phật giáo luôn hướng con người làm những việc thiện, đạo với đời song hành với nhau Ngoài ra, Phật giáo còn khuyên con người phải nuôi dưỡng lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh ở cõi ta bà Mặt khác, Phật giáo không mang tư tưởng tranh giành quyền lực mà còn góp phần ổn định trật tự và đời sống trong xã hội Tuy nhiên, đối với các vị vua của triều Nguyễn lại có những cách ứng xử cùng với những chính sách rất khác nhau đối với Phật giáo

Vua Gia Long (1802 – 1820) người đã lập ra vương triều Nguyễn trong hoàn cảnh bất lợi, tình hình xã hội rối ren, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, cùng với đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, kinh tế khủng hoảng, mâu thuẫn giai cấp gay gắt… Hoàn cảnh đó, đặt ra một nhiệm vụ vô cùng khó khăn đó là phải ổn định xã hội, giữ vững được ngai vàng, đồng thời xây dựng và phát triển đất nước mà Gia Long đã và đang phải gánh chịu Trong 2 thế kỉ nội chiến đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề đối với Phật giáo, khủng hoảng nghiêm trọng làm cho việc ổn định trật tự xã hội của Gia Long gặp nhiều trở ngại Bởi vậy, vua Gia Long luôn tỏ thái độ không mấy thiện cảm đối với Phật giáo là điều hiển nhiên Điều này được biểu hiện qua việc công kích Phật giáo về mặt giáo lý bảo vệ chữ

Trung, chữ Hiếu của Nho giáo, Gia Long cho rằng: “Thờ cha mẹ chẳng ra gì, tuy

hàng ngày ăn chay, niệm Phật cũng vô ích” Năm 1798, “có nhà sư tên Cao Phạm Tội Vua tức Gia Long lúc ấy chương lên ngôi, muốn giết ngay, có kẻ nói sư là người chân tu, Vua bèn nói: “Có chân tu thì có ích gì cho nước đâu” [37, tr.298]

Chính vì vậy, Phật giáo thời kì này đã không còn được Gia Long tôn sùng như các triều đại trước

*Xây dựng cơ sở thờ tự

Ngày đăng: 11/05/2021, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm, Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Văn hoá Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo xứ Huế
Nhà XB: Nxb Văn hoá Sài Gòn
2. Đỗ Bang (2006), “Chính sách tôn giáo của triều Nguyễn, những bài học kinh nghiệm lịch sử”, Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 77, tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tôn giáo của triều Nguyễn, những bài học kinh nghiệm lịch sử”, Tạp chí "Huế Xưa và Nay
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2006
3. Lê Cung (1996), Chính sách của triều Nguyễn đối với Phật giáo trong Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc, Thành hội Phật giáo, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chính sách của triều Nguyễn đối với Phật giáo trong Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc
Tác giả: Lê Cung
Năm: 1996
4. Minh Chi (2003), Truyền thống văn và Phật giáo Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn và Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2003
5.TrầnThị Giang, Vũ Thị Hòa, Nguyễn Thị Trà Mi (2011), “Mối quan hệ giữa Nho -Phật-Đạo ở Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế kỉ XIX)”, Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học, Trường ĐHSP Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa Nho -Phật-Đạo ở Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế kỉ XIX)
Tác giả: TrầnThị Giang, Vũ Thị Hòa, Nguyễn Thị Trà Mi
Năm: 2011
6. Trần Văn Giàu (2003), Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
7. Nhiều tác giả (1995), Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, Viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1995
8. Đỗ Quang Hưng (2001), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
9. Phan Phát Huồn (1958), Việt Nam Giáo sử, Tập I, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Giáo sử
Tác giả: Phan Phát Huồn
Năm: 1958
10. Trần Trọng Kim (1950), Phật giáo, Nxb Tôn giáo Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Tôn giáo Hà Nội
Năm: 1950
11. Nguyễn Văn Kiệm (1993), “Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn nữa đầu thế kỉ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6, tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn nữa đầu thế kỉ XIX”, Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Năm: 1993
12. Đỗ Quang Khắc (2009), “Quan điểm Mácxít về tôn giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2,tr.3 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm Mácxít về tôn giáo”, Tạp chí "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Đỗ Quang Khắc
Năm: 2009
13. Nguyễn Lang (2000), “Việt Nam Phật giáo sử luận”, Tập 1,2,3, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Phật giáo sử luận
Tác giả: Nguyễn Lang
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
14.Trần Hồng Liên (1992), Vài nét về Phật giáo thời Nguyễn, trong những vấn đề văn hoá xã hội thời Nguyễn, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về Phật giáo thời Nguyễn, trong những vấn đề văn hoá xã hội thời Nguyễn
Tác giả: Trần Hồng Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
15.Tạ Ngọc Liễn (1993), “Mấy nét về vai trò, đặc điểm của Nho giáo thời Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6, trang 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét về vai trò, đặc điểm của Nho giáo thời Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX”, Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Tạ Ngọc Liễn
Năm: 1993
16. Nguyễn Cảnh Minh (2005), “Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn trong bối cảnh lịch sử thế kỉ XIX ở nước ta”, in trong Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn trong bối cảnh lịch sử thế kỉ XIX ở nước ta”, in trong "Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới
Tác giả: Nguyễn Cảnh Minh
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2005
17. Nguyễn Duy Phương (2011), “Chính sách của vua Minh Mạng đối với Phật giáo (1802 – 1884)”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của vua Minh Mạng đối với Phật giáo (1802 – 1884)”
Tác giả: Nguyễn Duy Phương
Năm: 2011
18. Nguyễn Duy Phương (2014), “Chính sách đối với tăng sĩ thời Minh Mạng”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 11, tr.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối với tăng sĩ thời Minh Mạng”, Tạp chí "Nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Phương
Năm: 2014
19. GS.Trương Hữu Quýnh (Chủ biên) (2010), Đại cương lịch sự Việt Nam toàn tập, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sự Việt Nam toàn tập
Tác giả: GS.Trương Hữu Quýnh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
20. Nguyễn Ngọc Quỳnh (2010), Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (1848 – 1883), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (1848 – 1883)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quỳnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w