Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016.Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016.Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016.Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016.Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THỊ HOÀN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XUẤT BẢN
TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Trần Văn Hải
2 PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án
Đào Thị Hoàn
Trang 4ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
24
TÁC XUẤT BẢN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2004 28
2.1 MỘT
SỐKHÁI NIỆM 28
2.2 NHỮNG YẾU TỐTÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC XUẤT BẢN 29
2.3 CHỦTRƯƠN GCỦA ĐẢNG VỀCÔNG TÁC XUẤTBẢN (1990-2004) 39
2.4 QUÁ TRÌNH CHỈĐẠO CÔNG TÁC XUẤTBẢN 45
CẢNH MỚI (2004-2016) 70
3.1 YÊU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XUẤT BẢN TRONG TÌNH HÌNH MỚI 70
ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC XUẤT BẢN, ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU MỚI
81
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 118
4.1 MỘT SỐ NHẬN XÉT 118
4.2 MỘT
SỐKINH NGHIỆMCHỦYẾU 135
Trang 5KẾT LUẬN 151
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN (2017-2020) 154 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155 PHỤ LỤC 172
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện đặt hàng trợ giá qua các năm
(1992-2002) (cấp qua Bộ Văn hóa Thông tin)
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TrangBiểu đồ 2.1 Sơ đồ quy trình xuất bản trước năm 1990 36
Biểu đồ 2.3 Năng lực trang in qua các năm (1991-2002) 58Biểu đồ 2.4 Tổng số sách phát hành sách trong nước (1996-2003) 59
Biểu đồ 3.1 Sơ đồ Quy trình biên tập bản thảo trên bông của NXB Tư pháp 92
Biểu đồ 3.3 Cơ cấu mô hình hoạt động của các NXB (2015) 94Biểu đồ 3.4 Lực lượng lao động tại các NXB (2008-2012) 95
Biểu đồ 3.7 Số lượng sách phát hành sách trong nước (2005-2009) 102Biểu đồ 3.8 Doanh thu phát hành sách trong nước (2005-2009) 106Biểu đồ 3.9 Chương trình đào tạo tại Khoa Xuất bản, Học viện Báo chí và
Biểu đồ 4.3 Đánh giá vai trò chỉ đạo của Cục Xuất bản - In - Phát hành,
Sở Thông tin và Truyền thông trong chỉ đạo các đơn vịXuất bản, In và Phát hành thực hiện chính sách, pháp luậtcủa Đảng, Nhà nước đối với xuất bản và quản lý hoạt độngxuất bản
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi ra đời đã sử dụng sách, báo làm công
cụ tuyên truyền, vận động, giáo dục quần chúng cách mạng, tập hợp, tổ chức lựclượng và đấu tranh đối với kẻ thù Công tác xuất bản dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng, kháng chiến, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện cơ chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự định hướng, chỉ đạo của Đảng đối vớicông tác xuất bản càng sâu sắc, thiết thực và cụ thể hơn Tại Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần VI (1986), Đảng đã chỉ rõ: “Quản lý chặt chẽ công tácxuất bản, công tác điện ảnh và công tác phát hành sách, báo, phim ảnh Phát triểncác phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng thông tin” [99, tr.92]…Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng tiếp tục khẳng định:
“Phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí, xuất bản theo hướng nâng cao chấtlượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân…Quản lý chặt chẽ công tác xuất bản, thông tin, báo chí…” [100, 84] Đồng thời,
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng nhấn mạnh việc “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo củacông dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng,nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích” [101, tr.14-15] Đại hội Đảng lần thứ
IX (2001), Đảng đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của báo chí, xuất bản trongtình hình mới: “Hướng báo chí, xuất bản làm tốt chức năng tuyên truyền đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới,cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điểnhình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệchlạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; Nâng cao tính chân thực, tính giáodục và tính chiến đấu của thông tin; khắc phục khuynh hướng “thương mạihóa” trong hoạt
Trang 10động báo chí, xuất bản”[110, tr.144] Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII(2016), Đảng tiếp tục khẳng định, cần "Làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý báo chí,xuất bản Các cơ quan truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đốitượng phục vụ, nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm
xã hội, nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng văn hóa và con người Việt Nam"[123]
Với tinh thần đổi mới toàn diện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạongành xuất bản xác định phương hướng hoạt động phù hợp, từng bước đưa hệthống các đơn vị xuất bản, in, phát hành từng bước thích ứng với cơ chế thị
trường Hoạt động xuất bản đã góp phần tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền những mô hình tiêu biểu thực hiện
nhiệm vụ chính trị; cổ vũ, tạo sự đồng thuận xã hội; nâng cao kiến thức của nhân
dân về chính trị, lý luận và pháp luật, phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, XBP là công cụ đấu tranh chống các tư tưởng phản động, thù địch trong và ngoài nước; công cụ quảng bá hình ảnh đất nước Việt
Nam hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển năng động, giàu tiềm năng hợptác và là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; góp
phần thông tin về Việt Nam, giúp nhân dân thế giới và người Việt Nam ở nước
ngoài hiểu đúng về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhànước, về đất nước, con người Việt Nam Chú trọng đảm bảo định hướng chính trị
và hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất bản
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lãnh đạo, quản lý hoạt độngxuất bản thời kỳ đổi mới còn những hạn chế: Nhận thức của nhiều cấp ủy về vaitrò của hoạt động xuất bản còn chưa đúng, nhiều nơi buông lòng, chưa sâu sát; tổchức bộ máy quản lý xuất bản còn nhiều bất cập; trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của đội ngũ làm công tác xuất bản còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; tìnhtrạng nhà xuất bản xa rời tôn chỉ mục đích, “thương mại hóa” gia tăng; chủtrương phát triển lĩnh vực xuất bản của Đảng trong một số trường hợp chưa được
cụ thể hóa, thể chế hóa; chưa có biện pháp kịp thời, kiên quyết để ngăn chặnnhững ấn phẩm có nội
Trang 11dung độc hại; hoạt động liên kết xuất bản ở một số nhà xuất bản (NXB) tổ chứcthiếu chặt chẽ, không quản lý tốt nội dung sách liên kết; tình trạng vi phạm bảnquyền, sách lậu, sách kém chất lượng vẫn còn, gây bức xúc dư luận xã hội…Ngày nay, trước bối cảnh toàn cầu hóa, khoa học công nghệ phát triểnmạnh mẽ, sự bùng nổ của dữ liệu, số hóa, kết nối internet, với những thành tựuđột phá về công nghệ thông tin, hoạt động xuất bản của các quốc gia trên thế giới
có sự phát triển nhanh chóng, hiện đại, đặt ra hàng loạt vấn đề và thách thức đốivới ngành xuất bản Việt Nam Khi công nghệ và tự động hóa phát triển, các đơn
vị xuất bản phải đối mặt với áp lực nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến và đổimới dây chuyền công nghệ, nguồn nhân lực cần có năng lực về công nghệ cao,…Công nghệ, nhân lực nguồn vốn, năng lực, quy mô, trình độ của các NXB cònnhiều hạn chế, mô hình tổ chức chưa phù hợp Công tác chỉ đạo, quản lý nhànước về xuất bản trên một số mặt chưa hiệu quả, nhất là quản lý xuất bản điệntử,
Vì vậy, công tác xuất bản đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết trên cảphương diện lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu toàn diện, đầy
đủ, có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác xuấtbản trong thời kỳ đổi mới Việc tổng kết thực tiễn, đánh giá quan điểm, chủtrương của Đảng trong công tác xuất bản, đúc rút các kinh nghiệm chủ yếu làyêu cầu cần thiết, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng và Nhànước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách cho công tác xuất bảnhoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác xuất bản tư năm 1990 đến năm 2016” làm luận án tiến
Trang 122.2 Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án giải quyết một số nhiệm vụ
cơ bản:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
- Làm rõ bối cảnh lịch sử và những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảngđối với công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
- Làm rõ những chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
- Phân tích quá trình Đảng chỉ đạo công tác xuất bản qua hai giai đoạn 1990- 2004 và giai đoạn 2004-2016
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; đúc kết những kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo công tác xuất bản của Đảng từ năm 1990đến năm 2016
- Về thời gian: Bắt đầu tư năm 1990 - là năm Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa VI) ban hành Chỉ thị số 63/CT-TW, ngày 25-7-1990, Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, xuất bản Đây được coi là văn kiện
quan trọng đánh dấu mốc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với công tác báo chí, xuất bản Mốc thời gian kết thúc nghiên cứu: năm 2016 - là
năm Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 19-TB/TW, ngày
29-12-2016, Về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư khóa IX
“Về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản”.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác xuất bản trên phạm vi cả nước, trong đó, tập trung khảo sát một số cơ quanchỉ đạo, quản lý xuất bản trên cả nước và một số NXB, cơ sở in, đơn vị pháthành sách trên địa bàn Hà Nội
Trang 13- Về nội dung: Luận án nghiên cứu toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác xuất bản trên các mặt: định hướng lãnh đạo, quản lý hoạt động xuấtbản; chỉ đạo hoạt động kiểm tra, giám sát công tác xuất bản; công tác đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác xuất bản
4.Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận để tiếp cận vấn đề là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về công tác xuất bản
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic Bêncạnh đó là các phương pháp: phân tích, tổng hợp, kết hợp các phương pháp liênngành như phương pháp điều tra bảng hỏi,…
- Phương pháp lịch sử- logic trong nghiên cứu lịch sử Đảng là phương pháp
dựa trên những tư liệu, cứ liệu lịch sử, trình bày quá trình phát sinh, vận động, biếnđổi và phát triển của thực tiễn từ khi Đảng ra đời, lãnh đạo công tác xuất bản; kháiquát hóa, mô tả, tái hiện thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng nhằm làm rõ chủ
trương và luận chứng các mặt chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất bản từ quahai giai đoạn 1990-2004 và 2004-2016: Văn kiện của Đảng, Nhà nước; những bàinói, bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu của tổ chức, cá nhân về sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác xuất bản; Niên giám thống kê, báo cáo của ngành xuất bản
từ năm 1990 đến nay; Kết quả nghiên cứu từ các bài báo khoa học, đề tài khoahọc, hội thảo khoa học liên quan đến chủ đề Luận án
Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh hoạt động lãnh đạo của
Đảng đối với công tác xuất bản giữa các giai đoạn
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra bảng hỏi; Thời điểm khảo sát:
năm 2019 và năm 2020; Địa bàn: Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố trên cảnước; Sở Thông tin và Truyền thông một số tỉnh, thành phố; Một số NXB, cơ sở
in, công ty phát hành sách, nhà sách trên địa bàn Hà Nội; Đối tượng: là cán bộlãnh đạo,
Trang 14quản lý, cán bộ, biên tập viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lýhoạt động xuất bản, trong đó thâm niên công tác chủ yếu trên 10 năm.
4.3 Nguồn tài liệu
- Các văn kiện Đảng gồm: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, Văn kiện Hộinghị BCH Trung ương Đảng; các chỉ thị, nghị quyết, thông tri, thông báo, kếtluận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; chương trình, kế hoạch, báo cáo, văn bản quyphạm pháp luật của Nhà nước và các bộ, ban, ngành có liên quan; báo cáo kếtquả công tác xuất bản của các cơ quan, các cấp tại Văn phòng và Cục Xuất bản,
In và Phát hành thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông,…
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của tập thể, cá nhân cácnhà khoa học trong nước và nước ngoài tại liên quan đến đề tài luận án,…
- Nguồn tài liệu, số liệu khảo sát thực tế ở một số NXB, cơ quan quản lýhoạt động xuất bản
5 Đóng góp mới của Luận án
- Phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về công tác xuất bản từnăm 1990 đến năm 2016
- Làm rõ quá trình phát triển của hoạt động xuất bản ở Việt Nam dưới sựlãnh đạo của Đảng từ năm 1990 đến năm 2016
- Đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học về những ưu điểm, hạn chế
và phân tích nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế qua thực tiễn quá trìnhĐảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
- Làm rõ hiệu quả triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, thông báo kếtluận của Đảng; các luật, nghị định, thông tư của Nhà nước về công tác xuất bản;đúc rút kinh nghiệm, góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc bổ sung,hoàn thiện chủ trương, chính sách đối với công tác xuất bản
- Luận án còn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạychuyên ngành lịch sử Đảng, chuyên ngành xuất bản
Trang 156 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm 4 chương, 11 tiết
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án
- Chương 2: Đảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2004
- Chương 3: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh công tác xuất bản trong bối cảnh mới (2004-2016)
- Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong quá trình đấu tranh cách mạng, cùng với báo chí, các xuất bản phẩm(XBP) đóng vai trò là công cụ tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, tậphợp lực lượng cách mạng và là vũ khí sắc bén, tấn công trực diện kẻ thù, phục vụđắc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, báo chí, xuất bản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trìnhtruyền tải thông tin, là "kênh" quan trọng thực hiện nhiệm vụ phổ biến, tuyêntruyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nướcđến với nhân dân; cung cấp tri thức khoa học; đấu tranh chống các quan điểm saitrái, thù địch, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội,
Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, công tác xuất bản vừa thuộc lĩnhvực tư tưởng lý luận vừa thuộc lĩnh vực kinh tế, có vai trò quan trọng trong lĩnhvực lý luận, tư tưởng, văn hóa của Đảng, vừa có vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế - xã hội Do đó, Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác xuấtbản, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, không tư nhân hóa xuất bản lànguyên tắc thống nhất của Đảng
Do vị trí, vai trò quan trọng của xuất bản trong sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đến nay
đã có nhiều công trình nghiên cứu về xuất bản Việt Nam, hoạt động xuất bản và
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác xuất bản, với quy mô
và mức độ khác nhau, trên các phương diện: Nhận thức của các cấp ủy về vai trò của hoạt động xuất bản; Việc thể chế hóa quan điểm của Đảng bằng các văn bản quy phạm pháp luật; Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý những sai phạm trong
lĩnh vực xuất bản - in - phát hành; những biểu hiện “thương mại hóa” xuất bản;
Công tác đào
Trang 17tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ làm công
tác xuất bản
Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với từng lĩnh vực cụthể của hoạt động xuất bản, in và phát hành khá đa dạng cả về phương diện lý luậncũng như thực tiễn; nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về hoạt động xuất bản,
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản ở ViệtNam
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1.Các công trình nghiên cứu về hoạt động xuất bản
1.1.1.1 Các học giả trong nước nghiên cứu về hoạt động xuất bản
Trần Văn Phượng (1997), Vì sự nghiệp xuất bản, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho:VV97.03531,VV97.03532 Với dung lượng 179 trang, cuốn sách tập hợp 48 bài viết của tácgiả trong quá trình nghiên cứu về xuất bản, nghiên cứu quan điểm của các nhàkinh điển, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam vềcông tác xuất bản - in - phát hành; nghiên cứu các văn bản liên quan đến xuấtbản; nghiên cứu hoạt động xuất bản sách ở nước ngoài Cuốn sách cung cấp mộtphần lịch sử cũng như diện mạo của ngành xuất bản, in và phát hành trong tiếntrình lịch sử
Tạ Ngọc Tấn (2003), “Đào tạo cán bộ báo chí, xuất bản ở nước ta hiện
nay”, Tạp chí Giáo dục, số 61, tháng 6 Bài viết trình bày những nét cơ bản về
thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí và xuất bản ở Việt Nam,những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ báo chí, xuất bản, đồngthời kiến nghị một số vấn đề nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả củacông tác này trong thời gian tiếp theo
Đỗ Quý Doãn (2005), “Thực trạng hoạt động báo chí, xuất bản và công tác
quản lý nhà nước năm 2004”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 4, tr.3-9 Tác giả
nêu bối cảnh tình hình và những nét chủ yếu trong hoạt động báo chí xuất bản,đồng thời phân tích thực trạng công tác quản lý báo chí, xuất bản trong năm2004
Trang 18Bài viết khẳng định những ưu điểm trong công tác quản lý báo chí, xuất bảnvới nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời cũng nêu những hạn chế trong việc
dự báo, thông tin, gợi ý, xây dựng mô hình, phương thức hoạt động đối với hoạtđộng báo chí, xuất bản Qua đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm tăngcường công tác quản lý báo chí, xuất bản, tiến tới thực hiện nhiệm vụ tuyêntruyền cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và những ngày kỷniệm trọng đại của đất nước
Đinh Xuân Dũng (2008), “Vấn đề quy mô, năng lực và mô hình của xuất
bản Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo, số 10, tr.51-54 Tác giả bài viết
phân tích mô hình hoạt động của hệ thống xuất bản Việt Nam, đánh giá quy mô,năng lực hoạt động của toàn ngành và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caonăng lực hoạt động của xuất bản Việt Nam trong tình hình mới
Trần Hùng Phi (2009), “Hoạt động xuất bản ở thành phố Hồ Chí Minh
những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động”, Tạp chí Khoa học chính trị, số 5, tr.67-73 Bài viết nêu thực trạng hoạt động xuất bản sách trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra một số phương hướng và giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất bản sách trên địa bàn trong thời gian tới
Trần Văn Hải (2010), Vấn đề xã hội hóa hoạt động xuất bản ở nước ta hiện nay, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, Hà Nội Trên cơ sở làm rõ khái niệm, nội dung xã hội hóa hoạt động xuấtbản, đề tài đi sâu phân tích tình hình xã hội hóa xuất bản, những ưu điểm và hạnchế của nó trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, từ đótìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chủ trương xãhội hóa, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của hoạt động xuất bản
Trần Anh Vũ (2012), Bảo vệ an ninh trong lĩnh vực xuất bản ở nước ta: thực trạng và giải pháp trong tình hình hiện nay, NXB Công an Nhân dân, Hà
Nội Sách trình bày khái quát cơ sở lý luận về xuất bản, hoạt động xuất bản vàvấn đề bảo vệ an ninh trong lĩnh vực xuất bản; thực trạng tình hình công tácbảo vệ an
Trang 19ninh trong lĩnh vực xuất bản Các tác giả đưa ra dự báo xu hướng và đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh đối với lĩnh vực xuất bảntrong tình hình mới
Phạm Thị Phương, Đỗ Thị Như Quỳnh và Ngô Thị Vân Anh (2013), Hoạt động liên doanh, liên kết xuất bản sách truyện tranh nước ngoài dành cho thiếu nhi tại NXB Kim Đồng hiện nay, Đề tài khoa học, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, Hà Nội Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt độngliên doanh, liên kết xuất bản nói chung, hoạt động liên doanh liên kết xuất bảnsách truyện tranh nước ngoài nói riêng Thực trạng của hoạt động xuất bản và đềxuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động liên doanh, liên kếtxuất bản sách truyện tranh nước ngoài trong giai đoạn hiện nay
Phạm Thị Thanh Tâm, Thái Thu Hoài (2014), "Ngành xuất bản - xu hướng
phát triển và vấn đề quản lý", Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 362, tháng 8 Bài
viết phân tích bối cảnh toàn cầu hóa xuất bản tạo cơ hội cho quá trình sản xuất vàlưu thông XBP phát triển nhanh chóng, đa dạng và phong phú Ngành xuất bảnViệt Nam đã đáp ứng khá tốt nhu cầu XBP của nhân dân, góp phần tích cực vàoviệc thực hiện định hướng tư tưởng và giáo dục Bên cạnh đó, tác giả cũng nêunhững bất cập trong quản lý xuất bản trước xu thể toàn cầu hóa, công tác quản lýxuất bản chưa tiến kịp so với yêu cầu thực tiễn, qua đó tác giả đề xuất một sốgiải pháp quản lý xuất bản trong tình hình mới như: Hoàn thiện chính sách, luậtpháp về xuất bản; Nâng cao năng lực cán bộ quản lý xuất bản; Đổi mới phươngpháp kiểm tra, thanh tra trong hoạt động xuất bản
Nguyễn An Tiêm-Nguyễn Nguyên (đồng chủ biên, 2015), Xã hội hóa hoạt động xuất bản - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, lưu tại Thư viện Quốc Gia
Việt Nam, Tổng kho: VV15.06236 Sách có dung lượng 367 trang, gồm 4chương nội dung, tập trung làm rõ cơ sở lý luận của chủ trương xã hội hóa hoạtđộng xuất bản; khái quát về tình trạng xuất bản và công tác chỉ đạo, quản lý việcthực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động xuất bản Qua đó, các tác giả đã dựbáo xu hướng
Trang 20phát triển, quan điểm chỉ đạo và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện
chủ trương này
Trên từng khía cạnh cụ thể của hoạt động xuất bản, có các công trình:
Thanh tra Bộ Văn hóa - Thông tin (2007), Bàn về công tác phòng và chống in
lậu XBP, Hội thảo chuyên đề, Hà Nội; NXB Chính trị quốc gia - Học viện Báo
chí và Tuyên truyền (2018), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ biên tập, xuất
bản trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà
Nội
1.1.1.2 Công trình của các học giả nước ngoài về hoạt động xuất bản
Tác giả G Philíp Altbach và Damfew Teferra (1999), Xuất bản và phát
triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Các tác giả khẳng định: Xuất bản vừa là
một nghệ thuật vừa là một ngành kinh doanh Xuất bản vừa thực sự liên quan
đến ý tưởng và truyền thông, lại vừa thực sự liên quan đến lợi nhuận, đặc biệt
trong điều kiện các nước đang phát triển Nếu muốn tồn tại, xuất bản phải hoạt
động trên nguyên tắc kinh doanh Nguyên tắc tài chính cơ bản này sẽ dần thấm
vào các tổ chức xuất bản ở các nước đang phát triển Đồng thời, xuất bản phải
làm việc với các ý tưởng, và ở phần cốt lõi của nó, với hoạt động truyền thông
Emmanuel Pierrat (2007), Quyền tác giả và hoạt động xuất bản (In lần thứ 3),
NXB Hội Nhà văn, Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam, cuốn sách đánh
giá hoạt động xuất bản ở một số quốc gia; hệ thống các tác phẩm được bảo hộ
quyền tác giả; các loại hình tác phẩm được bảo hộ Bên cạnh đó, sách cập nhật
nhiều nội dung mới liên quan đến truyền thông đa phương tiện, quyền đối với hình
ảnh, thời hạn các quyền tác giả, kể cả việc nhượng lại quyền
Xu và Fang (2008), trong đề tài “Công nghiệp xuất bản Trung Quốc hướng
tới toàn cầu: Bối cảnh và Hiệu suất” (Chinese Publishing Industry Going
Global: Background and Performance) phân tích thị trường mua bán, giao dịch
bản quyền sách tại Trung Quốc, đánh giá, so sánh số lượng sách được mua và
dịch cũng như số lượng sách Trung Quốc được bán ra thị trường quốc tế Các số
liệu phân tích của tác giả cho thấy sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa nhập
khẩu và xuất khẩu
Trang 21trong vấn đề thương mại sách bản quyền của Trung Quốc, nhập khẩu hoặc mualại bản quyền dịch thuật, in lại vượt trội so với xuất khẩu hoặc bán các quyền đó.Grigoriev và Adjoubei (2009), Đề tài “Khảo sát xuất bản sách ở Nga”
(Survey of Book Publishing in Russia), đánh giá về ngành công nghiệp xuất bản
ở Nga, vị trí, số lượng, quy mô của các đơn vị xuất bản ở Nga Sự suy giảm vănhóa đọc trong thanh niên, sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông kỹthuật số là thách thức đối với công nghiệp xuất bản của Nga Đề tài đánh giá,xuất bản sách ở Nga là một ngành công nghiệp có lợi nhuận, khá năng động, có
sự tăng trưởng hàng năm
Kulesz (2011), Đề tài “Xuất bản kỹ thuật số ở các nước đang phát triển: Sự
nổi lên của các mô hình mới?” (Digital Publishing in Developing Countries: The Emergence of New Models?), phân tích về xuất bản điện tử tại các nước đang phát
triển Các nước đang phát triển với kinh nghiệm xuất bản truyền thống gặp nhiềuthách thức khi xuất hiện xuất bản điện tử Hoạt động xuất bản ngày nay chuyểnsang sử dụng phương tiện kỹ thuật số nên các khâu xuất bản được thực hiện rấtnhanh, hiệu quả cao Đề tài đã đề ra các giải pháp để phát triển xuất bản kỹ thuật
số trong thời kỳ mới
N.D.Eriasvili (2013), Xuất bản: Quản trị và Marketing, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội Tác giả phân tích hoạt động xuất bản trong điều kiện kinh tếthị trường ở Nga, một số nội dung tham khảo tình hình kinh doanh sách ở Mỹ vàmột số quốc gia, từ đó tổng hợp nội dung quan trọng về nghiệp vụ xuất bản, thịtrường sách Qua phân tích, tác giả cuốn sách đã đúc kết một số phương pháp,nguyên tắc, hình thức kinh doanh sách, báo trong điều kiện kinh tế thị trường, có
sự cạnh tranh giữa các mô hình kinh doanh
Châu Úy Hoa (2017), Truyền thông số và chuyển đổi mô hình xuất bản
(sách tham khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện quốc giaViệt Nam, KH Kho: VV18.00517, VV18.00518 Tác phẩm này do Công tyTNHH NXB Đại học Bắc Kinh xuất bản, NXB Chính trị quốc gia Sự thật dịch.Sách dày 670 trang,
Trang 22với 8 chương nội dung, đi sâu nghiên cứu một cách tổng thể quy luật và đặcđiểm thay đổi, phát triển của các phương tiện xuất bản, cũng như quy trình xuấtbản trong điều kiện truyền thông số; phân tích những vấn đề và thách thức đặt ratrong quá trình chuyển đổi mô hình xuất bản và đối sách của ngành truyền thông
số của thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc), chỉ ra những nhân tố gây trở ngại đốivới sự phát triển của xuất bản ở thành phố Bắc Kinh; Phân tích các nhân tố kéochậm sự phát triển của xuất bản số tại Trung Quốc và đề xuất các giải pháp xử lýmang tính thực tiễn
Tại Trung Quốc, quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, hoạtđộng xuất bản là sự nghiệp văn hóa tư tưởng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnhđạo Mục tiêu xuất bản của Trung Quốc là xuất bản xã hội chủ nghĩa không đơnthuần là công cụ kiếm tiền của cá nhân hay tập thể Vì vậy, sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Trung Quốc đối với công tác xây dựng kế hoạch đề tài xuất bản cũngnhư công tác xây dựng chiến lược phát triển sự nghiệp xuất bản là một nội dungquan trọng
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác xuất bản
Vụ Báo chí - Xuất bản, Ban Tư tưởng Văn hóa - Trung ương (1992), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo chí, xuất bản, NXB Tư tưởng - Văn hóa,
Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho: VN92.01747,VN92.01748 Sách có dung lượng 262 trang, tập hợp những bài viết, bài phátbiểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về công tác báo chí xuất bản.Đồng thời, tập hợp những văn bản chỉ đạo của Đảng, văn bản quy phạm phápluật của Nhà nước về công tác tác xuất bản trong các năm 1990 đến 1992
Đường Vinh Sường (1993), Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động của các NXB trong bước chuyển sang cơ chế thị trường - Luận án PTS kinh tế Luận
án nghiên cứu và đề xuất cách thức quản lý nhà nước đối với các NXB trong bối
Trang 23cảnh Quốc hội thông qua Luật Xuất bản năm 1993 Tác giả Luận án đã đề xuất kiếnnghị về việc xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản 1993.
Vũ Mạnh Chu (1996), Pháp luật xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện
và đổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Luận
án Phó tiến sĩ năm 1996, chuyên ngành: Lý luận nhà nước và pháp quyền Luận
án hệ thống hóa quy định pháp luật Việt Nam về xuất bản, làm rõ quá trình thểchế hóa quan điểm của Đảng về lĩnh vực báo chí xuất bản, thực hiện pháp luật vềxuất bản Việt Nam trong điều kiện mới và đề xuất những giải pháp để thực hiệntốt hơn trong thời gian tiếp theo
Nhà xuất bản Lao động (2000), Đảng - Bác Hồ khai sinh ngành xuất bản cách mạng Việt Nam thế kỷ XX, NXB Lao động, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc
gia Việt Nam, KH Kho:VV00.01222, VV00.01223 Cuốn sách giới thiệu các vănkiện, các bài nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về xuất bản; các Nghịquyết, Chỉ thị của Đảng; văn bản của Nhà nước về hoạt động xuất bản Sách dày
262 trang, gồm hai phần: Phần 1: Các văn kiện của C Mác, V.I.Lênin, Chủ tịch
Hồ Chí Minh về xuất bản; một số văn kiện của Đảng chỉ đạo công tác xuất bản;Một số văn bản của Nhà nước về công tác quản lý xuất bản Phần 2: Hình ảnhmột số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trực tiếp chỉ đạo công tác xuất bản
Khuất Duy Hải (2001), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức quản lý ở các NXB nước ta hiện nay, Luận án chuyên ngành Kinh tế Luận án nghiên cứu vấn
đề hoàn thiện tổ chức quản lý ở các NXB, đề xuất cách thức tổ chức quản lý, tổchức hoạt động của các NXB
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hội Nhà báo
Việt Nam (2002), Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho:VV02.03375, VV02.03376 Cuốn sách có dung lượng khá lớn với 429 trang là Kỷyếu Hội nghị báo chí, xuất bản toàn quốc từ ngày 29 đến 31-10-2001, với 34 bảnbáo
Trang 24cáo, cung cấp bức tranh toàn cảnh sinh động về báo chí, xuất bản, cung cấp hệthống tài liệu, ý kiến đa chiều giúp các cơ quan chủ quản cũng như các đơn vị báochí, xuất bản quán triệt hơn nữa Chị thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII)trong giai đoạn mới.
Nguyễn Đình Nhã (2002), “Tăng cường quản lý hoạt động xuất bản”, Tạp chí Cộng sản, số 15, tháng 5 Tác giả bài viết đánh giá thực trạng hoạt động xuất
bản sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 22/CT-TW, ngày 17-10-1997 của Bộ Chính
trị (Khóa VIII) về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Bài viết tập trung phân tích những nội dung nêu trong Chỉ thị,
kết quả triển khai, công tác quản lý xuất bản Bài viết khẳng định, thực hiện Chỉthị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị, hoạt động xuất bản đã đạt được những bướctiến mạnh mẽ và vững chắc Hoạt động xuất bản trong 5 năm (1997-2002) đãvượt qua nhiều khó khăn, thử thách, bước đầu thích ứng với cơ chế thị trường,ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và quản lý, tạo nên sựphát triển mới của toàn ngành
Trần Văn Phượng (2002), Quá trình xây dựng Luật Xuất bản (Kỷ yếu),
NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH.Kho: VN02.07475, VN02.07474, VN02.07473 Sách dày 276 trang, tác giả sưutầm, hệ thống hóa tất cả các văn bản như Báo cáo, công văn, tờ trình, bài phátbiểu, về quá trình khởi thảo, xây dựng, xin ý kiến, chỉnh sửa, bổ sung, hoànthiện Luật Xuất bản (1993) Thông qua các Chương, Điều, ngôn ngữ được chọnlọc, chắt lọc trong Luật thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và
sự đóng góp trí tuệ của toàn dân thông qua các đại biểu Quốc hội khóa VIII vàkhóa IX, với 2.858 ý kiến đóng góp và 30 lần chỉnh lý, bổ sung Luật Xuất bảnđược Quốc hội khóa IX thông qua năm 2003
Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển Báo chí - Xuất bản (Management and Development for journalism - publication), NXB Chính trị
quốc gia Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH Kho: VN04.07085,
Trang 25VN04.07084 Sách dày 350 trang đề cập đến các vấn đề lý luận chung về báo chí
- xuất bản, nêu thực trạng tình hình báo chí - xuất bản Việt Nam và thế giớinhững năm đầu thế kỷ XX Tác giả chỉ ra xu hướng thương mại hóa dẫn đến sự
xa rời tôn chỉ, mục đích hoạt động của một số cơ quan báo chí – xuất bản là mộttrong những nguyên nhân gây khó khăn trong công tác quản lý Từ đó, tác giả đềxuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tronglĩnh vực báo chí - xuất bản
Trần Văn Hải (chủ nhiệm) (2005), Xuất bản sách lý luận chính trị với việc nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Phân viện
Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội
Trần Thu Hà (2005), Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh Đề tài đã phân tích thực trạng, làm rõ những hạn chế về quản lýnhà nước đối với hoạt động xuất bản, như: mô hình tổ chức và cơ chế chính sáchcho hoạt động xuất bản còn nhiều hạn chế, bất cập; nội dung một số XBP có nộidung không phù hợp với thuần phong mỹ tục bị dư luận phê phán; nạn in lậu, intrái phép chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời; thị trường XBP chưa được quản
lý chặt chẽ; hệ thống phát hành XBP Nhà nước không được quan tâm đúng mức
và đang có nguy cơ bị thu hẹp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.Hồng Vinh (2006), “Một số vấn đề đặt ra từ công tác lãnh đạo, quản lý hoạt
động báo chí, xuất bản trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Tư tưởng- văn hóa, số
7 Tác giả đi sâu phân tích lý do phải tăng cường lãnh đạo, quản lý hoạt độngbáo chí, xuất bản Trước hết, đó là đòi hỏi tự thân sự phát triển mạnh mẽ của hệthống báo chí, xuất bản trong hai mươi năm đầu đổi mới đất nước (1986-2006);
do yêu cầu phát triển phải đi đôi với quản lý tốt; do yêu cầu phát triển báo chí,xuất bản của từng địa phương, từng ngành đặt ra những yêu cầu quản lý cụ thể.Bài viết nêu những căn cứ để tiền hành công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuấtbản, như: các
Trang 26văn bản của Đảng, Nhà nước đề cập công tác báo chí, xuất bản Sau đó, bài viếtnêu một số vấn đề đáng chú ý trong hoạt động báo chí, xuất bản và đề xuất một
số trọng tâm trong công tác chỉ đạo, quản lý xuất bản hiện thời, trong đó nhấnmạnh “ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là tăng cường chỉ đạo củachính cơ quan tuyên giáo các cấp với tư cách vừa là người tham mưu đề xuất,vừa là người tác chiến cụ thể trên lĩnh vực này”
Nguyễn Duy Bắc (2009), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác báochí - xuất bản trong thời kỳ đổi mới”, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh Đề tài làm rõ quan điểm của Đảng về báo chí và xuất bản, phântích những thành tựu, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động báo chí xuất bản,
đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với công tácbáo chí - xuất bản trong tình hình mới
Lê Minh Nghĩa (2009), Xuất bản sách lý luận chính trị phục vụ hiệu quả cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ của Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng
Trung ương Đề tài phân tích cơ sở lý luận và những nhân tố tác động đến hoạtđộng xuất bản sách lý luận chính trị Đồng thời, đánh giá thực trạng xuất bản sách
lý luận chính trị bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu nhữngvấn đề đặt ra đối với việc xuất bản loại sách này Đề tài xây dựng phương hướng vàgiải pháp chủ yếu, đề xuất các kiến nghị làm cơ sở để thực hiện các giải pháp đó
Đỗ Quý Doãn (2010), “Thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng về báo
chí, xuất bản thành chính sách, pháp luật của Nhà nước”, Tạp chí Cộng sản, số 4.
Bài viết khẳng định, báo chí, xuất bản là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọngtrong công tác tư tưởng, lý luận Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) chỉ rõ côngtác tư tưởng, lý luận và báo chí là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọngtrong toàn bộ hoạt động của Đảng Bài viết đưa ra một số giải pháp nâng caochất lượng công tác thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về báo chí, xuấtbản trong xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 27Nhiều tác giả - sách tuyển chọn (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí xuất bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, VN01789 Cuốn sách sưu tầm, tuyển chọn bài nói, bàiviết của Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản, trong đó phần các bài theo tuyến nộidung gồm: Lên án chủ nghĩa thực dân đế quốc trong lĩnh vực báo chí, xuất bản; Vịtrí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí, xuất bản; Đặc trưng của báo chí, xuấtbản cách mạng; Nhà báo cách mạng; Những lĩnh vực công tác xuất bản cần coitrọng Cuốn sách dày 176 trang do NXB Chính trị quốc gia ấn hành, khẳng định,
tư tưởng của Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản đến nay còn nguyên giá trị, lànhững chỉ dẫn quý báu đối với quá trình phát triển của báo chí, xuất bản Việt Nam
Nhiều tác giả (2011), Xuất bản Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, lưu tại Thư viện Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh,VN7535 Cuốn sách có dung lượng 176 trang, các tác giả nêu
rõ hoạt động xuất bản gồm 3 bộ phận: xuất bản - in và phát hành, thuộc lĩnh vựcvăn hóa
- tư tưởng của Đảng, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo,bồi dưỡng nhân tài và xây dựng nhân cách con người Việt Nam; phân tích quátrình ra đời của ngành xuất bản Việt Nam, bước đầu đánh giá thành tựu và hạnchế của xuất bản Việt Nam qua 25 năm đổi mới
Nhiều tác giả (2012), Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế, NXB Thời đại, Hà Nội, lưu tại Thư viện Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, VN4131 Cuốn sách có dung lượng lớn với 552 trang,các tác giả nghiên cứu tương đối toàn diện từ cơ sở lý luận chung, thực trạng,đánh giá sự tác động của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đến hoạt độngxuất bản Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu của 5 đề tài nhánh với 54 chuyên đềnghiên cứu chuyên sâu, dựa trên kết quả điều tra xã hội học, báo cáo khảo sátcủa Đề tài Khoa học cấp Nhà nước, cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu
về hoạt động xuất bản Việt Nam thời kỳ đổi mới
Nhiều tác giả (2012), Một số nghiên cứu về xuất bản nước ta trong những năm gần đây, NXB Thời đại, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH
Trang 28Kho: VV13.03735, VV13.03736 Cuốn sách dày 526 trang, chủ biên và các tácgiả đã tuyển chọn, biên soạn một số công trình nghiên cứu của các cá nhân, tổchức, những nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực hiện hoạt động xuất bản.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2012), 60 năm ngành xuất bản, in, phát hành sách Việt Nam (1952-2012), sách xuất bản song ngữ Việt - Anh, NXB Từ
điển bách khoa, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, KH: VL13.01516 Sách dày 222 trang, tổng quát quá trình hình thành và phát triển của ngành xuất bản, in,
phát hành trong 60 năm, giới thiệu chức năng, nhiệm vụ, năng lực sản xuất, kinhdoanh và thành tích của 64 NXB, số lượng lớn cơ sở in và đơn vị phát hành sách,hoạt động trên các vùng miền trong cả nước, được độc giả trong và ngoài nướcquan tâm
Nguyễn Duy Hùng (2012), Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận chính trị, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hội
đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương Đề tài tập trung phân tích thực trạngcông tác xuất bản sách lý luận chính trị từ khi có Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27-1-
2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, công tác phát hành sách lý luậnchính trị Đặng Vũ Huân (2013), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý báo
chí,
xuất bản của cơ quan chủ quản”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6, tác giả nêu
một số yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản trong tìnhhình mới, trong đó khẳng định, công tác quản lý báo chí, xuất bản phải được đặtdưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trong khuôn khổ của phápluật, đồng thời phải bắt kịp trình độ phát triển cao của kỹ thuật, công nghệ truyềnthông hiện đại Sau khi phân tích thực trạng quản lý báo chí của một số cơ quanchủ quản cũng như mối quan hệ hữu cơ giữa cơ quan chủ quản và cơ quan xuấtbản, tác giả đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báochí, xuất bản của cơ quan chủ quản Trong đó nhận định, “muốn nâng cao hiệuquả quản lý, cần xác định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp của các cơ quan quản
lý nhà nước về báo chí, xuất bản với cơ quan chủ quản báo chí, xuất bản”
Trang 29Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Một số vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội.
Nguyễn An Tiêm, Nguyễn Nguyên (Đồng chủ biên) (2013), Tổ chức, quản
lý và chính sách xuất bản của một số quốc gia - kinh nghiệm đối với Việt Nam, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn
sách 308 trang, giới thiệu về tổ chức, quản lý xuất bản của một số quốc gia nhưAnh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Đây làcác quốc gia có ngành công nghiệp xuất bản phát triển lâu đời Từ kết quảnghiên cứu, các tác giả tham chiếu với các vấn đề của xuất bản Việt Nam trongbối cảnh mới, từ đó đề xuất một số giải pháp vĩ mô về tổ chức, quản lý và xâydựng chính sách đối với ngành xuất bản Việt Nam Đồng thời, các tác giả đã đúckết một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xuất bản,trong đó nhấn mạnh nội dung cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo củaĐảng đối với công tác xây dựng chính sách cho phù hợp đặc thù của hoạt độngxuất bản ở Việt Nam
Đường Vinh Sường (2013), Công tác xuất bản - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thông tin - Truyền thông, Hà Nội, lưu tại Thư viện Quốc gia
Việt Nam, KH Kho: VV13.08431, VV13.08430 Cuốn sách gồm 318 trang, tậphợp các công trình đã được tác giả công bố trong nhiều năm trên các lĩnh vựccủa công tác xuất bản Nội dung sách phân tích cơ sở lý luận, những quan điểm
và đề xuất giải pháp nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng, chính sách của Nhànước đối với hoạt động xuất bản trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế Một phần sách tập trung nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng và đặcđiểm hoạt động xuất bản; một số vấn đề về tổ chức kinh tế xuất bản, đặc biệt làhiệu quả kinh tế trong xuất bản sách lý luận chính trị; xu hướng xuất bản sáchđiện tử
Lê Văn Yên (2013), Quản lý nhà nước đối với hoạt động in và phát hành sách ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ của Hội động Khoa học các cơ
quan Đảng Trung ương Nhóm tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quảnlý
Trang 30nhà nước về lĩnh vực in ấn, phát hành XBP Qua đó, phân tích những thành tựu,hạn chế và nguyên nhân, xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lýnhà nước với hoạt động in và phát hành sách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.Phạm Thị Vui (2013), “Một số vấn đề về chính sách xuất bản ở nước ta
hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9, tr 68-72 Bài viết tập trung bàn về
một số chính sách xuất bản, như: chính sách tài trợ đặt hàng; chính sách trợ cướcvận chuyển, đặc biệt là trợ cước vận chuyển sách cho các tỉnh miền núi, hải đảo;chính sách thuế; chính sách nhuận bút; chính sách xã hội hóa hoạt động xuất bảncủa Đảng và Nhà nước Tác giả bài viết nhấn mạnh, xuất bản là lĩnh vực hoạtđộng tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước, nhưng thực tế các NXB vẫn phảinộp các khoản thuế như các doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, nên gặp nhiềukhó khăn Bài viết đề xuất Chính phủ áp dụng thuế suất ưu đãi cho hoạt độngxuất bản, trong đó có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhậpkhẩu hàng hóa (giấy), tạo điều kiện cho các NXB thực hiện tốt nhiệm vụ chínhtrị mà Đảng và Nhà nước giao
Nguyễn An Tiêm (2015), "Để khắc phục những tiêu cực trong hoạt động
xuất bản", Tạp chí Tuyên giáo, số 3 Bài viết chỉ ra những yếu kém, hạn chế
trong hoạt động xuất bản đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của những yếu kém, hạnchế đó Tác giả đề xuất 8 nội dung quan trọng nhằm khắc phục những tiêu cựctrong hoạt động xuất bản: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán
bộ trong NXB; Xây dựng, bổ sung và thực hiện các quy định của Đảng, phápluật của Nhà nước đối với xuất bản trước yêu cầu mới; Xây dựng quy hoạch,
kế hoạch phát triển mạng lưới xuất bản dựa trên quan điểm định hướng pháttriển của Đảng, Nhà nước; Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nănglực chuyên môn cho đội ngũ làm công tác xuất bản; tăng cường trách nhiệm của
cơ quan chủ quản; Vai trò của tổ chức Hội Xuất bản; Đổi mới nội dung đào tạo,bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo cán bộ xuất bản; Tăng cường nâng cấp, hiện đại
hóa cơ sở vật chất cho các NXB, Nguyễn Anh Tú (2015), Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý
kinh tế (Khoa học quản lý), Đại học
Trang 31kinh tế quốc dân, Hà Nội Luận án đã đưa ra dự báo về hoạt động xuất bản, quản
lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, trong đó nói đến xu hướng của sách điện
tử và xuất bản trực tuyến Luận án nêu quan điểm về quản lý nhà nước đối vớihoạt động xuất bản, đưa ra 4 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lýnhà nước đối với hoạt động xuất bản Trong đó, nhấn mạnh việc nâng cao vai trò,trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với phòng chống sách giả, sáchlậu là yêu cầu cấp bách đối với hoạt động xuất bản Việt Nam
Vũ Thùy Dương (2016), Nhận diện các sai phạm trong hoạt động xuất bản sách hiện nay - thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp cơ sở trọng điểm,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Đề tài đã đánh giá thực trạng các saiphạm và xử lý các sai phạm trong hoạt động xuất bản hiện nay Qua đó đề ra cácgiải pháp nâng cao hiệu quả xử lý các sai phạm này
Kiều Thúy Nga (2016), “Tác động của Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bíthư Về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản với hoạt động thư
viện và việc thúc đẩy văn hóa đọc”, Tạp chí Thư viện Việt Nam, Số 5 (61) Bài
viết làm rõ mối quan hệ chặt chẽ, sự tác động lẫn nhau giữa hoạt động xuất bản
và công tác thư viện Quá trình thực hiện Chỉ thị số 42 đã góp phần quan trọngtrong việc từng bước đáp ứng nhu cầu đọc của độc giả, giúp hoạt động thư viện
có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Bên cạnh những kết quả đạt đượcsau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị, còn nhiều nội dung chưa được triển khai thựchiện, ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động xuất bản, tác động trực tiếp tớihoạt động thư viện Tác giả kiến nghị: Tăng cường chỉ đạo, giám sát việc thựchiện Chỉ thị số 42-CT/TW đối với ngành Xuất bản, In và Phát hành ; Đối vớingành Xuất bản, In và Phát hành cần đổi mới công nghệ, phát triển mạng lướixuất bản, in và phát hành rộng khắp cả nước Phối hợp chặt chẽ với ngành thưviện xây dựng cộng đồng đọc rộng lớn
Học viện Báo chí và Tuyên truyền – NXB Chính trị quốc gia (2019), Vai trò của báo chí, xuất bản trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa ở Việt Nam hiện nay,
Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, Hà Nội
Trang 32Hội Xuất bản Việt Nam- Vụ Báo chí - Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trungương) - Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), NXBChính trị Quốc gia (2019), Hội thảo khoa học “Cải cách thủ tục hành chính tronglĩnh vực xuất bản, phát hành nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghệ 4.0”.
Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Thông tin vàTruyền thông (2019), Hội thảo “Đặt hàng XBP sử dụng ngân sách Nhà nước”,
TP Hồ Chí Minh
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước khá phong phú, của cả cácnhà khoa học và các nhà lãnh đạo quản lý, những người hoạt động trực tiếp tronglĩnh vực xuất bản các công trình không chỉ nêu rõ quan điểm của Đảng, những quyđịnh của Nhà nước về xuất bản, mà còn nêu rõ thực trạng hoạt động xuất bản trênnhững nội dung cụ thể, những khó khăn, vấn đề cần tháo gỡ đối với hoạt độngxuất bản
1.2 KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
1.2.1.Kết quả các công trình nghiên cứu
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác xuất bản khá
đa dạng cả về mặt lý luận và thực tiễn Những công trình nghiên cứu liên quan
đã đề cập ở những góc độ khác nhau về hoạt động xuất bản, sự lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đã làm rõ một số vấn đề:
- Luận chứng sự cần thiết và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt độngxuất bản và công tác quản lý nhà nước về xuất bản; Điểm qua những quan điểm,chủ trương của Đảng về công tác xuất bản
Tuy nhiên, các công trình trên chưa hệ thống được các quan điểm chủtrương của Đảng về công tác xuất bản; chưa phân tích có hệ thống và đầy đủ vềquá trình hoàn thiện quan điểm, chủ trương, cũng như chưa nghiên cứu cụ thể vềvai trò định hướng của Đảng đối với công tác xuất bản trong cơ chế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 33- Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuấtbản đã nêu được một cách khái quát thực trạng quản lý nhà nước về công tácxuất bản trong thời kỳ đổi mới; phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và bướcđầu đưa ra được một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạtđộng xuất bản - in - phát hành.
Tuy nhiên, các công trình này mới dừng lại ở việc phân tích thực trạng quản
lý nhà nước về xuất bản; kết quả hoạt động cụ thể các NXB, cơ sở in, đơn vị pháthành mà chưa xây dựng được các giải pháp mang tính toàn diện và khả thi nhằmlập lại trật tự trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là lĩnh vực in và phát hành sáchcòn nhiều yếu kém, bất cập
- Các công trình nghiên cứu về xuất bản và hoạt động xuất bản đã hệ thốngquan điểm về vị trí, vai trò và chức năng của xuất bản và hoạt động xuất bản;đưa ra những khái niệm, đặc điểm, nội dung và đặc trưng, đặc thù hoạt động xuấtbản Việt Nam Các nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn củahoạt động xuất bản với tư cách là một lĩnh vực khoa học đặc thù
Những đề xuất, kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt độngxuất bản về mặt nghiệp vụ như: công tác xây dựng kế hoạch đề tài, công táccộng tác viên, công tác in ấn, phát hành sách đã được đề cập đến Tuy nhiên, đó
là những nghiên cứu riêng rẽ về mặt nghiệp vụ xuất bản là chủ yếu
- Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu về hoạt động xuất bảncho thấy, xuất bản là lĩnh vực đặc thù, các nước có quan điểm khác nhau về quản
lý hoạt động xuất là do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau Đối với cácnước phát triển, doanh nghiệp xuất bản hoạt động thuần túy trong cơ chế thịtrường thì mục tiêu hoạt động xuất bản tập trung giải quyết mối quan hệ giữanhà sản xuất và người tiêu dùng chủ yếu mang tính chất kinh doanh, do vậy nhànước không có cơ chế, chính sách riêng cho hoạt động này Vì vậy, nghiên cứuhoạt động xuất bản và phương thức quản lý xuất bản ở các quốc gia này thườngtập trung vào vấn đề tiếp cận thị trường, quan hệ công chúng, trào lưu xuất bảnmới,
Trang 34Do đó, các công trình nêu trên có ý nghĩa tham khảo hữu ích cho triển khainghiên cứu đề tài luận án, đặc biệt là có thể kế thừa về cách tiếp cận, phươngpháp và một số tư liệu, tài liệu.
1.2.2.Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết
Đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình, đề tài nào nghiên cứu mộtcách đầy đủ, có hệ thống về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuấtbản giai đoạn 1990-2016 Vì thế, luận án sẽ tập trung giải quyết các vấn đề cơbản như:
Một là, phân tích những yếu tố tác động, yêu cầu đặt ra đối với sự lãnh đạo
của Đảng về phát triển hoạt động xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
Hai là, phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác xuất bản từ
năm 1990 đến năm 2016 một cách toàn diện, có hệ thống Luận án tập hợp, hệthống hóa các văn bản chỉ đạo của Đảng đối với công tác xuất bản qua mỗi giaiđoạn, trong đó, tập trung làm rõ sự phát triển trong nhận thức và chủ trương củaĐảng về công tác xuất bản
Ba là, làm rõ sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với công tác xuất bản, thể
hiện ở những điểm sau: Vai trò định hướng của Đảng trong việc quy hoạch pháttriển, xây dựng chiến lược, chương trình mục tiêu hoạt động xuất bản; Vai tròcủa các cơ quan tham mưu cấp ủy từ Trung ương đến các cơ quan chủ quan, cáctỉnh, thành phố; Vai trò định hướng chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng, đoàn tại
cơ quan chủ quản, các NXB, cơ sở in và các đơn vị phát hành sách; Sự chỉ đạocủa Đảng trong việc thể chế hóa, xây dựng, ban hành và thực thi những văn bảnpháp quy về lĩnh vực xuất bản đã góp phần trực tiếp định hướng và điều chỉnhhoạt động xuất bản như thế nào; Cơ chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan chỉ đạovới cơ quan quản lý trong công tác thanh tra, kiểm tra lĩnh vực xuất bản; Vai tròcủa Đảng trong việc định hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành xuấtbản
Bốn là, nhận xét khách quan, khoa học về những ưu điểm, hạn chế; phân
tích nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế; đúc kết những kinh nghiệm chủyếu từ quá trình Đảng lãnh đạo công tác xuất bản từ năm 1990 đến năm 2016
Trang 35Tiểu kết
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản tại Việt Nam là đề tài thuhút sự quan tâm của nhiều cơ quan tham mưu, cơ quan quản lý, các NXB vànhững người nghiên cứu về hoạt động xuất bản Liên quan đến vấn đề này, đã cónhiều bài viết, các công trình nghiên cứu, tổng kết, các cuộc hội thảo, các luậnvăn, luận án đề cập tới nhiều góc độ, từ các vấn đề chung, khái quát đến cụ thểtrong từng lĩnh vực xuất bản - in - phát hành Từ nguồn tư liệu phong phú, quanhiều cách tiếp cận khác nhau cho thấy, công tác xuất bản trong thời kỳ đổi mới,đặc biệt từ năm 1990 đến năm 2016, đã được quan tâm nghiên cứu Đó là nhữngnội dung về quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng, sự quản lý của Nhà nướctrong lĩnh vực xuất bản; về thực trạng phát triển mạnh mẽ của ngành xuất bảntrong thời kỳ đổi mới; về kết quả và nguyên nhân của những thành tựu cũng nhưhạn chế của hoạt động xuất bản, qua đó luận giải rõ hơn vai trò định hướng củaĐảng trong công tác xuất bản
Những nguồn tư liệu cơ bản của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nướcnêu trên đã đề cập tới những vấn đề liên quan đến hoạt động xuất bản nói chung,
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với công tác xuất bản nóiriêng, có nhiều nội dung, vấn đề luận án có thể kế thừa Từ đó, tác giả luận ántiếp tục nghiên cứu, luận giải những vấn đề về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảngđối với công tác xuất bản, thực trạng quản lý xuất bản và kết quả hoạt động xuấtbản - in
- phát hành qua từng giai đoạn, từ năm 1990 đến năm 2016; đồng thời, đưa ranhững nhận xét, đúc rút một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảngđối với vấn đề có ý nghĩa quan trọng này
Trang 36Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XUẤT BẢN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2004
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Xuất bản: Khái niệm xuất bản được định nghĩa qua những lần sửa đổi Luật Xuất bản các năm 1993, 2004, 2008 (sửa đổi), 2012 Luật Xuất bản (2012)
quy định:
Xuất bản “là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản
mẫu để in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện
điện tử”
Xuất bản phẩm “là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật đượcxuất bản thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phépxuất bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh, âm thanh và đượcthể hiện dưới các hình thức sau đây: a) Sách in; b) Sách chữ nổi; c) Tranh,ảnh, bản đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp; d) Các loại lịch; đ) Bản ghi âm, ghihình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách [188,1]
So với các Luật Xuất bản trước đó, “xuất bản phẩm” theo Luật Xuất bảnnăm 2012 có nội hàm rộng hơn
Công tác xuất bản: Khái niệm về công tác xuất bản được hiểu là tổng thể
các hoạt động: lãnh đạo, quản lý xuất bản; sản xuất, phân phối, tiêu dùng XBP(hoạt động xuất bản: biên tập - in - phát hành XBP); đào tạo nhân lực xuất bản;thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất bản
Hoạt động xuất bản: Thuật ngữ “hoạt động xuất bản” và “công tác xuất bản”
được sử dụng phổ biến, đều chỉ một đối tượng, quy trình chung, các khâu xuất bản,
nhưng có nội hàm khác nhau: Hoạt động xuất bản, là công việc của NXB, cơ sở in,
đơn vị phát hành XBP Trong cơ chế thị trường, hoạt động xuất bản vừa là hoạt động
sự nghiệp công ích, vừa là dịch vụ công cộng, hoạt động kinh doanh sản phẩm vănhóa
Trang 37Như vậy, công tác xuất bản có nội hàm bao trùm hoạt động xuất bản ở khâu lãnh đạo, quản lý xuất bản, công tác lãnh đạo, quản lý xuất bản, là hoạt
động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạtđộng xuất bản Trong đó, Đảng cầm quyền là cơ quan lãnh đạo, định hướng pháttriển xuất bản; Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô các hoạt động xuấtbản Công tác lãnh đạo, quản lý xuất bản định hướng, tạo môi trường pháp lý vàkinh tế cho hoạt động xuất bản phát triển Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản và Nhànước là chủ thể lãnh đạo, quản lý hoạt động xuất bản, tạo điều kiện để xuất bảnphục vụ nhân dân lao động, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc
Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản là nghiên cứu nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trên các mặt: công tác định hướng, chỉ đạo của Đảng; công tác quản lý của Nhà nước (thể chế hóa và chỉ đạo hoạt động xuất bản); hoạt động xuất bản (biên tập - in ấn - phát hành); công tác đào tạo nhân lực xuất bản; công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất bản.
2.2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC XUẤT BẢN 2.2.1.Tình hình trong nước và quốc tế
Đầu những năm 90 thế kỷ XX, trên thế giới, sự biến đổi phức tạp, đột ngột
của tình hình quốc tế tác động sâu sắc đến Việt Nam Sự sụp đổ của mô hình chủnghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô và sự tan rã của hệ thống các nước XHCN ởĐông Âu đã tác động mạnh đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ,đảng viên và nhân dân Việt Nam
Hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch ở cả trong và ngoài nước diễnbiến phức tạp Các thế lực thù địch và phản động ráo riết chống phá CNXHnhằm tiến tới xoá bỏ CNXH bằng mọi thủ đoạn thâm độc Các thế lực thù địch,
cơ hội chính trị tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” thông quanhiều kênh thâm nhập khác nhau, trong đó sách, báo là công cụ đặc biệt quantrọng Hơn lúc nào hết, sách, báo là vũ khí sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhândân, góp phần giữ vững sự ổn định về chính trị, đẩy mạnh công cuộc đổi mới,nâng cao dân trí, phát huy dân
Trang 38quyền, [219, tr.46] Xu hướng đổi mới theo hướng dân chủ hóa xã hội ngày càng
cao, tác động không nhỏ đến lãnh đạo hoạt động xuất bản.
Ở trong nước, sau 4 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, các chủ
trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại những kết quả nhất định: Tình hìnhchính trị đất nước ổn định; nền kinh tế có những thay đổi rõ rệt khi tiến hànhthực hiện Ba chương trình kinh tế (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàngxuất khẩu); kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng hơn về quy mô, hìnhthức, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; bước đầu hình thành nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước,… Kết quả quan trọng nhất là đã từng bước đưa đất nước thoátkhỏi tình trạng khủng hoảng kính tế - xã hội Quyền làm chủ của nhân dân ngàycàng được phát huy Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảođảm, từng bước phá thế bao vây về kinh tế, chính trị Cùng với duy trì tốt quan
hệ truyền thống, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, tạo ra môi trường thuận lợi
để đẩy mạnh công cuộc đổi mới Đây là bối cảnh thuận lợi để đổi mới hoạt độngxuất bản, đổi mới các cơ quan xuất bản thích ứng với cơ chế thị trường
Bên cạnh những thuận lợi và những kết quả đã đạt được, những yếu kém vàkhó khăn còn rất lớn: Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết như lạm phát cao,nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài Số lao động thiếu việc làm tăng Chế độlương bất hợp lý Tốc độ tăng dân số còn quá cao; tình trạng vi phạm dân chủ cònnhiều; văn hoá xã hội có những mặt tiếp tục xuống cấp Tình trạng tham nhũng,tiêu cực, bất công trong xã hội gia tăng, an ninh trật tự và an tòan xã hội còn phứctạp, vẫn còn nhân tố gây mất ổn định chính trị, bộ máy nhà nước, Đảng và cácđoàn thể nhân dân cồng kềnh, quan liêu, hoạt động kém hiệu quả Một số tổ chứcĐảng chưa phát huy vai trò lãnh đạo Tình hình phức tạp đó tác động mạnh đến tưtưởng, tình cảm của nhân dân Bên cạnh đó, các ấn phẩm có nội dung độc hạitràn vào Việt Nam ngày càng nhiều Đã xuất hiện những ý kiến đòi tự do báo chí,
tự do xuất bản Một số cơ quan xuất bản chạy theo cơ chế thị trường, quá coitrọng mục tiêu kinh tế mà không chú ý
Trang 39đúng mức đến chất lượng ấn phẩm Thực tế đó đòi hỏi ngành xuất bản với tưcách là bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng, phải có những hoạt động tíchcực, với những ấn phẩm có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, định hướng tư tưởng
để nhân dân tin tượng và quan tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới
Bên cạnh những khó khăn, bối cảnh trong nước và thế giới cũng tạo ranhững thuận lợi cơ bản để các NXB hoạt động Cơ chế quản lý mới tháo gỡnhiều khó khăn, hạn chế, tạo điều kiện cho hoạt động xuất bản phát triển nhanh,chủ động hơn Nền kinh tế nhiều thành phần bước đầu phát huy tác dụng, tạo sựtăng trưởng, kích thích tính năng động xã hội, đời sống nhân dân bước đầu đượccải thiện, sức tiêu dùng xã hội tăng đáng kể, tác động, giúp hoạt động xuất bản
có thêm nguồn năng lượng mới, tạo đà cho sự phát triển của ngành Sự phát triển
và mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học-công nghệ, hội nhập với kinh tếthế giới, làm cho hoạt động xuất bản có điều kiện tiếp cận, hợp tác với hoạtđộng xuất bản thế giới
2.2.2 Thực trạng công tác xuất bản trước năm 1990
Nền xuất bản Việt Nam đã bước đầu được định hình sớm với dấu mốc quan
trọng là việc xuất bản cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc (viết năm
1927) Sau đó là sự hình thành một số nhà sách công khai trong phong trào
1936-1939, cung cấp sách, báo để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
Tiếp đó, nhiều tác phẩm cách mạng ra đời, như: Vấn đề dân cày (Qua Ninh và
Vân Đình) bút danh của đồng chí Trường - Chinh và đồng chí Võ Nguyên Giáp
(1938)), Đề cương về văn hóa Việt Nam (Tổng Bí thư Trường - Chinh khởi thảo (1943)), Con Dế mèn (Tô Hoài gồm 3 chương đầu do NXB Tân Dân, Hà Nội
phát hành năm 1941),… đã góp phần xây dựng nền tảng đầu tiên của ngành xuấtbản Việt Nam, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ
Giai đoạn 1945-1975: sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công năm
1945, Việt Nam giành được độc lập, đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc.Nhiệm vụ trọng tâm trong 30 năm là toàn Đảng, toàn dân tập trung cho côngcuộc bảo vệ nhà nước dân chủ nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc, thốngnhất đất nước Đây cũng là đặc điểm chi phối hoạt động của ngành xuất bản.Đối với công tác
Trang 40xuất bản, đây cũng là mốc đánh dấu thời kỳ tạo dựng nền móng, hình thành vàtừng bước phát triển nền xuất bản cách mạng Đối với công tác xuất bản, Đảnglần đầu tiên xác định khá toàn diện vai trò, vị trí, chức năng của xuất bản trongChỉ thị số 172-CT/TW, ngày 23-11-1959 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam về Công tác xuất bản [48, tr.18].
Giai đoạn này, một loạt các NXB được thành lập Các NXB ở Trung ươngcó: Lao động (23-11), Sự thật (5-12), Văn hóa cứu quốc, Giáo dục (1957), KimĐồng (1957), Ngoại văn (1957) - nay là NXB Thế giới Ccác NXB địa phương
ra đời như: Nhân dân miền Nam (1948) ở Nam Bộ, Vệ quốc quân (1947), Giảiphóng (1968) - nay là NXB Văn hóa Văn nghệ TP Hồ Chí Minh,… Các nhà inlần lượt xuất hiện: Công đoàn 91945), Ba Đình (1946), Tiến bộ (1946); Cơ quanTổng Phát hành sách báo Cứu quốc (1946), [48, tr.17-18)] Đặc biệt, ngày 10-10-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lênh 122/SL thành lập Nhà in quốc gia,được lấy làm ngày truyền thống của ngành Xuất bản, In, Phát hành sách Việt
Nam Các tác phẩm tiêu biểu những năm 1945-1975: Sửa đổi lối làm việc (bút danh XYZ (1947)); Kháng chiến nhất định thắng lợi (Trường - Chinh (1947)); Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc (1955)),…
Đến năm 1975, sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đấtnước, cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, Đảngluôn quan tâm đến công tác xuất bản để đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, đờisống văn hóa của nhân dân, đồng thời truyền bá sâu rộng chính trị, tư tưởng,đường lối, chủ trương của Đảng đến các tầng lớp nhân dân
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976), Đảng khẳng địnhnhiệm vụ trung tâm của cách mạng tư tưởng văn hóa là xây dựng nền văn hóamới và con người mới xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh nhiệm
vụ của các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có xuất bản: "Các ngành
báo chí, thông tấn, xuất bản, thông tin, truyền thanh, truyền hình, điện ảnh, nhiếp ảnh,
v.v phải kịp thời làm sáng tỏ quan điểm của Đảng về những sự kiện quan trọng
trong nước và thế giới, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, ý