luận văn
Trang 11 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Việc tạo lập và động viên các nguồn lực cho ngân sách quốc gia, tạo tiền
đề quyết định để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đờisống nhân dân và củng cố an ninh quốc phòng được xem là một trong nhữngnhiệm vụ chính trị hàng đầu Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, do đó, nângcao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế là yêu cầu mang tính cấp thiết
Để thực hiện thành công công cuộc này, bên cạnh sự phối hợp, nỗ lực của toàn
bộ hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, cần phải triển khai đồng bộ,quyết liệt các giải pháp, trong đó có việc phát triển dịch vụ thuế
Dịch vụ thuế là một khái niệm đã xuất hiện khá lâu trong quản lý thuế củacác quốc gia tiên tiến trên thế giới Đặc biệt, trong những năm gần đây đã xuấthiện khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ thuế, qua đó đã thuhút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý thuế ở nhiều nước Tuynhiên, các công trình chỉ mới nghiên cứu về dịch vụ thuế trong bối cảnh về quản
lý thuế nói chung, xem xét về dịch vụ thuế trong mối quan hệ đan xen với cácbiện pháp, chức năng quản lý thuế khác, ít có công trình nghiên cứu chuyên sâu,riêng biệt cũng như đầy đủ và toàn diện về dịch vụ thuế Một số vấn đề quantrọng đến nay vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ, cụ thể như: Vai trò của dịch vụthuế trong quản lý thuế; Tại sao phải triển dịch vụ thuế; Các tiêu chí đánh giáchất lượng và hiệu quả dịch vụ thuế; Các mô hình phát triển dịch vụ thuế; Cácđiều kiện về pháp lý cho việc phát triển dịch vụ thuế; Yêu cầu cho việc phát triểndịch vụ thuế
Ở nước ta dịch vụ thuế là khái niệm mới xuất hiện, nó tồn tại từ khi nềnkinh tế thực hiện mở cửa và hội nhập Với tư cách là một trong những phươngtiện hỗ trợ thiết thực cho công tác quản lý thuế, đồng thời cũng là một loại hìnhkinh doanh mới, tìm hiểu về dịch vụ thuế là được xem là vấn đề quan trọng vàcần thiết Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, hiện vấn đề này vẫn chưa được nghiêncứu, phân tích và hệ thống hóa một cách đầy đủ và xuyên suốt Chưa đánh giá
Trang 2tổng thể về thực trạng cung cấp dịch vụ thuế ở nước ta, kể cả việc dịch vụ thuếđược cung cấp từ cơ quan quản lý hay dịch vụ thuế được cung cấp từ các tổchức, cá nhân trong xã hội cho người nộp thuế Thực tế này đã dẫn đến việcchưa có một hệ thống các giải pháp hữu hiệu để tạo điều kiện khuyến khích, thúcđẩy dịch vụ thuế phát triển ở Việt Nam trong thời gian qua Đây là một hạn chếđang đặt ra và cần khắc phục, nhất là trong điều kiện như hiện nay khi mà ViệtNam đang ngày càng tham gia mạnh mẽ việc hợp tác kinh tế, thương mại và đầu
tư với nhiều quốc gia và vũng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới Nhận thức
được tầm quan trọng đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ thuế ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay” để tiến hành nghiên cứu làm luận án tiến sĩ.
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Các mục đích nghiên cứu chủ yếu của Luận án là:
- Hệ thống hóa, góp phần bổ sung và hoàn thiện các vấn đề lý luận vềdịch vụ thuế
- Đánh giá xác đáng thực trạng phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam để tạo điềukiện thuận lợi cho việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế và gópphần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế (haygọi là dịch vụ thuế công) và hoạt động cung cấp dịch vụ thuế của các doanhnghiệp ở Việt Nam (hay gọi là dịch vụ thuế tư)
Trang 3nghiên cứu trong lĩnh vực thu thuế nội địa, không nghiên cứu đối với lĩnh vựcthu thuế xuất nhập khẩu.
- Đối với dịch vụ thuế tư, luận án nghiên cứu ở các đối tượng cung cấpdịch vụ thuế (sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu vào các Đại lý thuế bởi vì trongthực tế các công ty tư vấn về tài chính, kế toán, kiểm toán, công ty tư vấn luật đã
và sẽ hoàn thành các điều kiện để trở thành các đại lý thuế)
- Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tình hình cungcấp dịch vụ thuế từ năm 2007 (gắn với việc ra đời của Luật Quản lý thuế) đếnnăm 2012, một số chỉ tiêu có mở rộng đến năm 2013 Tác giả nghiên cứu đứngtrên giác độ của một nhà nghiên cứu kinh tế độc lập
- Về không gian nghiên cứu: Luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu ởnhững địa bàn kinh tế trọng điểm, nơi đóng góp chủ yếu số thu cho NSNN như:
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương,
Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương Đồng thời, các giảipháp được nêu ra trong Luận án nhằm phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam đếnnăm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học,trong đó chủ yếu là phương pháp logic - biện chứng, phương pháp phân tích -tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về dịch vụ thuế phục vụ chocông tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy của các trường đại học, cũng nhưcông tác điều hành quản lý của cơ quan thuế các cấp; Phân tích rõ vai trò và
sự cần thiết phát triển dịch vụ thuế ở nước ta trong bối cảnh đẩy mạnh côngtác cải cách hiện đại hoá ngành Thuế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộngnhư hiện nay; Nghiên cứu kinh nghiệm về việc phát triển dịch vụ thuế ở một
số quốc gia và rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 4Phân tích, đánh giá thực trạng của dịch vụ thuế trên hai góc độ: Dịch vụthuế do cơ quan thuế cung cấp cho người nộp thuế với tư cách là dịch vụ hànhchính công xuất phát từ vị trí của cơ quan quản lý nhà nước đối với đối tượngchịu sự quản lý Dịch vụ thuế do các tổ chức, cá nhân có chức năng trong xãhội được pháp luật thừa nhận cung cấp cho người nộp thuế Cả hai góc độ đềuđược xem xét, đánh giá qua thực tế từ năm 2007 trở lại đây Trên cơ sở đó,Luận án đã phân tích, đánh giá kết quả đã đạt được và những tồn tại hạn chếcũng như tìm ra những nguyên nhân của sự tồn tại, hạn chế đó.
Luận án đã đóng góp những giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thuế ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay và cả trong thời gian dài ở tương lai theocác nội dung: xác lập vị trí pháp lý, tổ chức bộ máy/mô hình cung cấp dịch vụthuế công/tư, đào tạo nguồn nhân lực của cơ quan thuế cũng như nâng caochất lượng của dịch vụ thuế tư, ban hành quy chế giám sát, kiểm tra nhằmđánh giá, kiểm soát chất lượng dịch vụ thuế công/tư, tăng cường quảng bá,giới thiệu rộng rãi trong xã hội về ý nghĩa, lợi ích của việc phát triển dịch vụthuế tư Các giải pháp được trình bày súc tích, ngắn gọn và dễ hiểu, bên cạnh
ý nghĩa thực tiễn, những giải pháp còn gợi mở những ý tưởng, tạo tiền đề chocác nghiên cứu phát triển dịch vụ thuế trong tương lai xa hơn
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được kết cấu thành bốn chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phát triển dịch vụ thuế
- Chương 2: Một số vấn đề lý luận và sự cần thiết phát triển dịch vụthuế ở Việt Nam
- Chương 3: Thực trạng dịch vụ thuế ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012
- Chương 4: Giải pháp phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam giai đoạn
2013 - 2020
Trang 5
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THUẾ
1.1 Các công trình nghiên cứu trước đây
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo khảo sát, tìm hiểu của tác giả, trên thế giới hiện nay có khá nhiều tàiliệu liên quan đến dịch vụ thuế, trong đó chủ yếu được trình bày trong mối tươngquan với các nội dung khác, ít có tài liệu độc lập, hoặc chỉ mới nghiên cứu mộttrong hai nội dung chính của loại dịch vụ thuế thuế (công và tư), điển hình như:
1.1.1.1 Otake Kenichiro (2011), “Lịch sử, vai trò của kế toán công tại
Nhật Bản” (Chủ tịch Hiệp hội kế toán công Nhật Bản, tài liệu Hội thảo tháng
8/2011 tại Việt Nam): Đây là tài liệu trình bày về lịch sử ra đời và phát triểnnghề kế toán thuế công (đại lý thuế) tại Nhật Bản, nêu lên các loại hình dịch vụ
do kế toán công cung cấp cũng như đề xuất đến tổ chức và phương thức hoạtđộng của Hiệp hội kế toán thuế công Nhật Bản Qua đó đưa đến cái nhìn toàncảnh về lịch sử hình thành, phát triển của dịch vụ thuế tại Nhật Bản, cho thấyquy mô, vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ thuế Đồng thời, nói lên ý nghĩacủa Hiệp hội kế toán thuế công, đó là nơi tập hợp những đại lý thuế và chịu tráchnhiệm quản lý việc đăng ký hành nghề của đại lý thuế (các đại lý thuế muốnhành nghề phải đăng ký tham gia thành viên với Hiệp hội) Ngoài ra, tài liệu đềcập đến chức năng của Hiệp hội kế toán công, mối quan hệ giữa hiệp hội và cơquan quản lý thuế Nhật Bản Tài liệu này ý nghĩa với việc lựa chọn mô hìnhquản lý, theo dõi hoạt động, đăng ký thành viên đại lý thuế ở nước ta Tuy nhiên,đây chỉ là tài liệu tổng kết thực tiễn thuần túy, chưa có cái nhìn tổng quan vềdịch vụ thuế, chưa đề cập đến dịch vụ thuế công do cơ quan thuế cung cấp [53]
1.1.1.2 Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2007, Tạp chí Thuế
quốc tế đã khảo sát thực tế tại một số quốc gia ở khu vực Nam Mỹ về “Dịch
vụ thuế đang thay đổi như thế nào” (How tax services are changing) Nội
Trang 6dung của cuộc khảo sát là đặt ra các câu hỏi đối với những người có liên quanđến lĩnh vực dịch vụ thuế như công chức thuế, doanh nghiệp, doanh nghiệpcung cấp dịch vụ thuế… Các vấn đề chủ yếu mà công trình khảo sát nàynghiên cứu là: Các hình thức cung cấp dịch vụ thuế đã được tiến hành như thếnào; đối tượng nộp thuế có thỏa mãn với dịch vụ đã được cung cấp không;các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có thu nhập như thế nào; loại dịch vụthuế nào phát triển nhanh nhất… Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả côngtrình này đã có những nhận định về sự thay đổi của dịch vụ ở khu vực này và
xu hướng thay đổi trong thời gian tới Như vậy, đây chỉ là một công trìnhnghiên cứu thực tiễn thuần túy, không tiến hành nghiên cứu có hệ thống vềdịch vụ, đặc biệt là các vấn đề lý luận về dịch vụ thuế trong quản lý thuế [51]
1.1.1.3 Công trình nghiên cứu của Amardeep Dihllon và Jan G Buovwer
về “Cải cách quản lý thuế ở các nước đang phát triển” năm 2005 (Tax
administration reform in developing nations) Công trình này chủ yếu nghiêncứu về sự cần thiết, hiệu quả, mục tiêu và định hướng cải cách quản lý thuế ởcác nước đang phát triển Tuy nhiên, có một phần nội dung khá quan trọng có
đề cập đến dịch vụ thuế Theo đó, dịch vụ thuế được coi là một yếu tố quantrọng quyết định đến hiệu quả của cải cách thuế Tuy nhiên, do không tậptrung chuyên sâu nghiên cứu về dịch vụ thuế nên công trình này không phântích sâu những yếu tố cần thiết để phát triển dịch vụ thuế ở các nước đangphát triển [49]
1.1.1.4 Công trình nghiên cứu của Glenn Jenkins, Rup Khadka (1998) về
“Cải cách thuế ở Singapore” (Tax reform in Singapore) Đây là một công
trình nghiên cứu toàn diện về cải cách thuế ở Singapore Trong đó, vấn đềdịch vụ thuế cũng được đề cập khá sâu sắc Nội dung chủ yếu có liên quanđến dịch vụ thuế là các vấn đề về Chương trình giáo dục đối tượng nộp thuếcủa Singapore, Chương trình giáo dục công chúng về thuế, Chương trình tạođiều kiện phát triển các công ty tư vấn thuế… Công trình này cung cấp những
Trang 7kinh nghiệm hay về việc tạo chính sách phát triển dịch vụ thuế Tuy vậy, côngtrình này không nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về dịch vụ thuế [50], [52].
1.1.1.5 Cơ quan thuế và hải quan Estonia với công trình nghiên cứu có tiêu
đề “Dịch vụ khách hàng ở cơ quan thuế và hải quan Estonia” (Customer service
in Estonian tax and customs) Công trình này giới thiệu khái quát về tổ chức bộmáy và các hình thức cung cấp dịch vụ thuế thực hiện bởi cơ quan thuế và hảiquan Estonia Công trình này không trình bày về các dịch vụ thuế do các doanhnghiệp thực hiện và không trình bày đầy đủ cơ sở lý luận của dịch vụ thuế [56]
1.1.1.6 Cơ quan thuế và ngân khố quốc gia Latvia có công trình mang tiêu
đề “Chiến lược quản lý thuế và thu ngân sách quốc gia gia” (Nguyên bản tiếng
Anh “State revenue service tax administration strategy”) Trong nghiên cứu này,các tác giả đã nghiên cứu khá công phu về dịch vụ thuế với những phân tích sâusắc về chiến lược hướng tới đối tượng nộp thuế như là khách hàng của cơ quanthuế; các mục tiêu, nhiệm vụ của cơ quan trong việc cung cấp dịch vụ thuế chođối tượng nộp thuế… Tuy nhiên, công trình này không nghiên cứu đầy đủ vềdịch vụ thuế do khu vực tư nhân thực hiện [56]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có Luận án Tiến sĩ, Giáo trình, công trìnhnào được nghiên cứu, xuất bản một cách đầy đủ về dịch vụ thuế Đối với cơquan quản lý Nhà nước về thuế - Tổng cục Thuế, chỉ có các tài liệu liên quanđến dịch vụ tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế - dịch vụ thuế công Đối với dịch
vụ thuế tư, gần như không có tài liệu về cơ sở lý luận, rất ít tài liệu về thực trạngphát triển Tuy nhiên có một số bài báo, công trình nghiên cứu liên quan, đề cậpđến những khía cạnh nhất định đến vấn đề này như:
1.1.2.1 “Luật hóa dịch vụ tư vấn thuế: Doanh nghiệp và cơ quan thuế
cùng có lợi” Thuế Nhà nước số 10 (80), Hà Nội của Mai Thanh [34] Bài viết
này phân tích những luận cứ chủ yếu phải xây dựng hành lang pháp lý cho dịch
vụ thuế ở Việt Nam cũng như đề xuất những hướng xây dựng văn bản phápluật về dịch vụ thuế ở Việt Nam trong thời gian trước mắt
Trang 81.1.2.2 “Vai trò của dịch vụ tư vấn trong công tác quản lý thuế” Thuế
Nhà nước, số 6/2004 của Lê Xuân Trường [32] Bài viết này đã đề cập đến
những vấn đề lý luận về dịch vụ thuế như lựa chọn mô hình dịch vụ thuế, cáccách thức tư vấn của cơ quan thuế, những nội dung cơ bản của dịch vụ thuế,các điều kiện để phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình nàychỉ trình bày những giải pháp mang tính ngắn hạn để phát triển dịch vụ thuế,chưa nghiên cứu những giải pháp trung và dài hạn phát triển dịch vụ thuế ởViệt Nam Đồng thời, công trình cũng chưa đề cập sâu đến khía cạnh pháp lýcần giải quyết để phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnhhiện nay
1.1.2.3 “Tư vấn hỗ trợ người nộp thuế - Dịch vụ cần được xã hội hóa”
Thuế Nhà nước số 6/2006 của Lê Duy Thành [33] Bài viết này đã nêu lên
luận cứ cần phải xã hội hoá dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, tuy nhiên với cáchtiếp cận coi dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế là một dịch vụ công cộng, tách bạchhẳn chức năng quản lý và giám sát của cơ quan thuế trong bối cảnh hiện nay làchưa phù hợp, đặc biệt với trình độ hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật thuế nóiriêng và pháp luật nói chung ở Việt Nam Mặt khác, dưới góc độ lý luận, chứcnăng hỗ trợ trong một số trường hợp độc lập với chủ thể quản lý và được đảmtrách bởi lực lượng chuyên môn hoá khác Tuy nhiên, nó không hoàn toàn táchrời, nó gắn liền với chức chức năng quản lý của cơ quan thuế, hơn nữa, nếutrong trường hợp các lực lượng khác thực hiện hỗ trợ người nộp thuế cũng cần
có sự giám sát, quản lý sát sao của cơ quan nhà nước có liên quan, trong đó có
cơ quan thuế
1.1.2.4 “Phát triển dịch vụ thuế để nâng cao hiệu lực quản lý thuế và cải
thiện môi trường đầu tư” (2009), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do TS Lê
Xuân Trường chủ nhiệm [29] Đây là một trong những công trình nghiên cứu
về dịch vụ thuế khá đầy đủ ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay Đề tài đãnghiên cứu những vấn đề căn bản về dịch vụ thuế, trình bày về kinh nghiệm pháttriển dịch vụ thuế ở một số nước, đã đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ ở
Trang 9nước ta cũng như trình bày những giải pháp để phát triển dịch vụ thuế tại ViệtNam Tuy nhiên, đề tài này tập trung chủ yếu nghiên cứu dịch vụ thuế trong mốiquan hệ với việc cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu lực quản lý thuế.Mặt khác, nghiên cứu này đưa ra những kết luận trong bối cảnh cũ, không cònphù hợp trong điều kiện hiện nay Ngoài ra, với số liệu khảo sát bị hạn chế đốivới một vài tỉnh trên địa bàn lân cận Thành phố Hà Nội, công trình cũng bị hạnchế bởi số liệu thực tế thu thập được Bên cạnh đó, mặc dù đã đề cập hệ thốngcác giải pháp phát triển dịch vụ thuế, tuy nhiên, do thực hiện trọng bối cảnh cũnên tính khả thi để áp dụng trong giai đoạn hiện nay là chưa cao Một số giảipháp chưa luận giải chi tiết và cụ thể, như các giải pháp về mô hình tổ chức cungcấp dịch vụ thuế của cơ quan thuế, giải pháp về hoàn thiện quy trình quản lýthuế Ngoài ra, với số liệu thực tế về dịch vụ thuế tư, đề tài thu được rất ít, đề tàichưa phản ánh xác thực nhất bức tranh tổng thể về thực trạng của dịch vụ thuếcông cũng như dịch vụ thuế tư ở nước ta.
1.1.2.5 “Phát triển đại lý thuế trong điều kiện Việt Nam hiện nay” (2010),
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện Tài chính, do TS Nguyễn Thị ThanhHoài chủ nhiệm [30] Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đại lý thuế vàvai trò của đại lý thuế Đánh giá khái quát và cơ bản về thực trạng đại lý thuế ởViệt Nam, qua đó phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập về chính sách vàcác điều kiện phát triển đại lý thuế ở Việt Nam Đồng thời đã đề xuất, kiến nghị
hệ thống chính sách, giải pháp phát triển đại lý thuế ở Việt Nam đến năm 2015.Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn đối với đại lý thuế - dịch vụ thuế tư, chưa nêu lêntoàn bộ về dịch vụ thuế Ngoài ra, cũng như trên đã đề cập, đề tài bị giới hạn bởi
số liệu thực tế thu thập được còn hạn chế, chưa có cái nhìn toàn cảnh về thựctrạng đại lý thuế ở nước ta và điều kiện, bối cảnh nghiên cứu của đề tài khôngcòn phù hợp với điều kiện nghiên cứu hiện nay của Luận án
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh nhấtđịnh của dịch vụ thuế như:
Trang 10- “Tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế: biện pháp thiết thực ngăn
chặn, phòng ngừa sai phạm” Thanh tra Tài chính số 21, Hà Nội, 2004 của
Hạnh Phương [35]
- “Dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế – thí điểm để nhân rộng” Thuế Nhà nước, số 1/2004 của PGS.TS Đặng Quốc Tuyến [36].
- “Dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế – Nội dung quan trọng của cải cách
hành chính thuế” Thuế Nhà nước, số 12/2001 của TS Đặng Quốc Tuyến [37].
Như vậy, mặc dù có đề cập đến các vấn đề lý luận của dịch vụ thuế, song các công trình nêu trên vẫn chưa đề cập đến vai trò của dịch vụ thuế trong quản lý thuế, rằng tại sao phải triển dịch vụ thuế và chưa đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả dịch vụ thuế Nội dung nghiên cứu của các công trình nêu trên được diễn ra trong bối cảnh cũ, không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay Mặt khác, dù đã đề cập đến các giải pháp để phát triển dịch vụ thuế, tuy nhiên lại đặt trong mối quan hệ với việc cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu lực quản lý thuế hoặc chỉ mới nêu lên các giải pháp
để phát triển đối với đại lý thuế, không đề cập đến dịch vụ thuế công Chỉ trình bày những giải pháp mang tính ngắn hạn để phát triển dịch vụ thuế, chưa nghiên cứu những giải pháp trung và dài hạn phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam Đồng thời, cũng chưa đề cập sâu đến khía cạnh pháp lý cần giải quyết
để phát triển dịch vụ thuế ở nước ta.
1.2 Khoang hở cho các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Như vậy, vai trò của dịch vụ thuế trong quản lý thuế là gì và giải phápphát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam ra sao? Đây là những câu hỏi nghiên cứu vàcâu hỏi quản lý cần phải có lời giải đáp
Xuất phát từ tổng quan nghiên cứu cũng như xuất phát từ các câu hỏi quản
lý, câu hỏi nghiên cứu nêu trên, tác giả xác định hướng tiếp cận của đề tài là:Phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam được thể hiện thông qua việc nâng cao chấtlượng, đảm bảo tính chuyên nghiệp, kịp thời và hiệu quả trong việc cung cấpdịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; sự mở rộng quy mô các đại lý thuế với sự tham
Trang 11gia sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp ngày càng gia tăng gắn với sự kiểmsoát và quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
1.2.1 Nghiên cứu sẽ tìm ra điều gì?
Nghiên cứu sẽ xác định vấn đề phát triển dịch vụ thuế cần được lựa chọn
từ cơ sở lý luận về dịch vụ thuế, các loại dịch vụ thuế, vai trò và sự cần thiếtphải phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra những vấn đềcăn bản trong việc phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam hiện nay như: Lựa chọnloại hình dịch vụ nào để phát triển? Tổ chức bộ máy của dịch vụ thuế côngđược sắp xếp như thế nào? Khung pháp lý cho dịch vụ thuế tư? Nâng cao chấtlượng cung cấp dịch vụ thuế, tiêu chí đánh giá? Hệ thống thông tin, cơ sở dữliệu về người nộp thuế? Hình thức của Đại lý thuế, điều kiện pháp lý và cơ chếkiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước đối với hoạt động của Đại lý thuế?
Cơ chế tuyên truyền, khuyến khích người nộp thuế sử dụng dịch vụ thuế?
1.2.2 Điều đó khác các nghiên cứu khác ở đâu?
Phát triển dịch vụ thuế trên cơ sở bám sát định hướng, quan điểm về pháttriển kinh tế - xã hội đã được Đảng, Nhà nước đề ra, từ đó xác định quan điểm,yêu cầu, mục tiêu phát triển dịch vụ thuế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, ýthức tuân thủ pháp luật, thu hút đầu tư là cách tiếp cận chưa được nghiên cứusâu, có hệ thống ở các công trình trước đây đã công bố
1.3 Điểm yếu và điểm mạnh của nghiên cứu
1.3.1 Điểm yếu của nghiên cứu này: Đây là vấn đề rất mới ở Việt Nam,
do vậy chưa có nhiều người nghiên cứu, từ các tài liệu liên quan cho đến cácvăn bản pháp quy đề cập đến nội dung này vẫn còn rất hạn chế Do đó, ở cảgiác độ lý luận và thực tiễn, vấn đề này còn khá mới mẻ với Việt Nam, chưa cóđánh giá đầy đủ thực trạng về phát triển dịch vụ thuế ở nước ta
1.3.2 Điểm mạnh của nghiên cứu này: Đây là cách tiếp cận mới, với
nguồn số liệu mới cập nhật và tính chính xác cao, đầy đủ được thu thập từnguồn đáng tin cậy, chất lượng Mặt khác, dịch vụ thuế là một nội dung đãđược đề cập trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020,
Trang 12mục tiêu đã rõ ràng, vấn đề còn lại là cần có sự đánh giá sâu sắc, chi tiết vềthực trạng phát triển hiện nay, từ đó đề ra những giải pháp sát thực, phù hợp.
1.4 Đóng góp mới của nghiên cứu này
Nội dung này đã được đề cập tại Mục 6, Lời mở đầu, theo đó những đónggóp mới của đề tài này mang ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
1.4.1 Về ý nghĩa khoa học: Thông qua việc sưu tầm, tổng hợp và phân
tích đánh giá từ các nguồn tài liệu liên quan sẽ hệ thống hoá được các vấn đề cơ
sở lý luận về dịch vụ thuế
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn: Đã nghiên cứu, đề xuất được các giải pháp phát
triển dịch vụ thuế ở Việt Nam hiện nay (định hướng đến năm 2020) nhằm nângcao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế, xã hội hoá dịch vụ hỗ trợ ngườinộp thuế, nâng cao ý thức pháp luật của xã hội nói chung, góp phần tạo ra công
bằng trong xã hội Cụ thể đã đưa ra được các giải pháp để phát triển dịch vụ thuế công: Hoàn thiện khung pháp lý; Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông
tin về người nộp thuế theo từng cấp quản lý; Đổi mới và nâng cao chất lượngcán bộ làm công tác hỗ trợ người nộp thuế; Xây dựng tiêu chí đánh giá và biệnpháp kiểm soát chất lượng công tác hỗ trợ người nộp thuế của cán bộ thuế và bộphận hỗ trợ người nộp thuế; Tăng cường đầu tư cho công nghệ thông tin nhằmphục vụ công tác hỗ trợ người nộp thuế; Thực hiện tốt công tác thống kê nhu cầudịch vụ thuế của người nộp thuế; Cần có chính sách đào tạo, đãi ngộ phù hợp đối
với cán bộ thuế làm công tác hỗ trợ người nộp thuế và các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thuế tư: Hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm phát triển và quản lý hoạt
động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế; Hoàn thiện hình thức tổ chứcchuyên cung cấp dịch vụ làm thủ tục về thuế tư (đại lý thuế); Ban hành quy chếkiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các tổ chức cungcấp dịch vụ thuế (doanh nghiệp, công ty, đại lý…); Hoàn thiện quy trình quản lýthuế, công khai những nội dung của quy trình có liên quan đến người nộp thuế;Nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thủ tục vềthuế
Trang 13Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THUẾ Ở VIỆT NAM
2.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ thuế
2.1.1 Khái niệm dịch vụ
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và quá trình phân công lao động
xã hội dẫn đến việc xuất hiện ngày càng nhiều hơn chủng loại sản phẩm hànghóa, dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Trên thế giới ngàynay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản phẩm vật chất cụ thể, màbên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ Dịch vụ được coi là ngànhcông nghiệp không khói Xã hội càng phát triển thì các loại hình dịch vụ càng
đa dạng và phong phú
Nếu như sản xuất hàng hóa tạo ra các vật phẩm cụ thể, có hình thái vậtchất rõ ràng với những giá trị sử dụng nhất định thì hoạt động dịch vụ cũngthỏa mãn được yêu cầu nào đó của con người, dù nó không thể hiện dưới hìnhthức hiện vật Dịch vụ theo nghĩa hẹp không sản xuất ra vật chất, người bỏsức lao động cung cấp hiệu quả vô hình mà không có sản phẩm hữu hình Tuynhiên, theo nghĩa rộng, thì dịch vụ bao hàm cả việc đưa lao động vào sảnphẩm vật chất, dịch vụ hoàn thành còn bao gồm cả những vật phẩm, hàng hóa
để thoả mãn nhu cầu của người trả tiền mua nó [2]
Dịch vụ nói chung trong nền kinh tế thị trường được nhà kinh tế họcPhilip Kotler cho rằng: Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên cóthể cung ứng cho bên kia chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyểnquyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với sản phẩm vật chất [33]
Cùng với sự phát triển và đa dạng hóa nhu cầu tiêu dùng xã hội, sự pháttriển nền kinh tế trong bối cảnh phân công lao động xã hội theo hướng chuyênmôn hóa chuyên sâu, tăng cường hợp tác hóa trên phạm vi toàn cầu, cơ cấugiữa sản xuất và dịch vụ cũng có sự thay đổi đáng kể Theo đó, ở các nước
Trang 14phát triển, các nước có thu nhập cao, giá trị dịch vụ thường chiếm tỷ trọng caotrong GDP hơn nhiều so với các nước có thu nhập thấp Ngay cả ở nhữngnước kém phát triển, các ngành dịch vụ cũng đóng góp không dưới 35 - 40%GDP Dịch vụ mang tính vô hình nhưng lại đóng vai trò quan trọng để thúcđẩy hoạt động kinh tế Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh giúp tăng cường tínhchuyên môn hóa Theo nhận định của nhiều nhà sản xuất hàng hóa và cungcấp dịch vụ, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ chuyên môn là những yếu
tố đầu vào quan trọng, giúp cho doanh nghiệp cắt giảm chi phí, nâng cao hiệuquả kinh doanh Vì vậy, chú trọng phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh sẽ cólợi cho nền kinh tế
Như vậy, từ sự phân tích trên, ta có khái niệm: Dịch vụ là sản phẩm không có hình thái vật chất của tổ chức hoặc cá nhân này cung cấp cho tổ chức hoặc cá nhân khác có thu tiền hoặc không thu tiền nhằm mang đến một giá trị nhất định cho cả bên cung cấp và bên nhận được dịch vụ.
2.1.2 Khái niệm dịch vụ thuế
Có quan điểm cho rằng, dịch vụ thuế là dịch vụ tư vấn thuế và kê khaithuế Hoặc dịch vụ thuế là dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế,theo đó, đây là loại dịch vụ công do cơ quan thuế cung cấp miễn phí để hỗ trợngười nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, bao gồm các dịch vụ giảithích và tư vấn pháp luật, hỗ trợ việc chuẩn bị kê khai, tính thuế và xác địnhnghĩa vụ thuế; qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tácquản lý thuế
Cũng có cách hiểu về dịch vụ thuế đang chủ yếu nghiêng về xu hướngxem xét dịch vụ thuế như là sản phẩm được cung cấp bởi các tổ chức, cá nhânngoài nhà nước và chưa đề cập đến dịch vụ thuế do cơ quan thuế cung cấp.Với quan điểm điểm này, việc xem xét dịch vụ thuế được tiếp cận thông quakhái niệm về dịch vụ làm thủ tục về thuế và đại lý thuế - chủ thể cung cấp chủyếu dịch vụ làm thủ tục về thuế trong xã hội Trên thực tế có một số kháiniệm như:
Trang 15- Ở Nhật Bản, theo quy định của Luật Kế toán công có chứng chỉ, đại
lý thuế là những chuyên gia về thuế với công việc là hỗ trợ các đối tượng nộp
thuế có sứ mệnh là “những người có chuyên môn về thuế, đứng trên lập trường độc lập và công bằng, dựa theo quan điểm của chế độ kê khai, đóng thuế, có trách nhiệm đáp lại sự tín nhiệm của đối tượng nộp thuế và đảm bảo hướng dẫn thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật” [53].
- Theo điều 20, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 có quy định “Tổ chức kinh doanh dịch vụ thủ tục về thuế là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
có điều kiện được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thỏa thuận với người nộp thuế” [3].
- Theo Thông tư số 117/2012/TT-BTC ngày 19/7/2012 của Bộ Tài
chính hướng dẫn hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế “Dịch vụ làm thủ tục
về thuế là hoạt động của đại lý thuế thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục hành chính thuế khác thay người nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và hợp đồng dịch vụ đã ký kết” và “Đại lý thuế là doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [22].
- Theo Hội tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA): “Dịch vụ làm các thủ tục về thuế là hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn về thuế của các cá nhân, chịu sự điều chỉnh của pháp luật và quản lý của cơ quan nhà nước”.
[21] Quan điểm này đã chỉ rõ được tính chất của dịch vụ thuế, xem đó là mộthoạt động chuyên nghiệp đảm bảo theo một cấp độ chuyên môn nhất định,đồng thời đặt ra yêu cầu có sự quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng.Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ đề cập đến đối tượng cung cấp dịch vụ thuế
là các cá nhân và cũng chưa đưa ra được nội dung của dịch vụ bao gồmnhững vấn đề gì
Trang 16Hoặc dịch vụ thuế được hiểu là dịch vụ tư vấn thuế, theo quan điểm này,dịch vụ tư vấn được cung cấp bởi các tổ chức, cá nhân có trình độ chuyênmôn giúp người nộp thuế hiểu biết rõ ràng hơn về các quy định của pháp luậtthuế hoặc đảm bảo sự thuận lợi, mang lại lợi ích tối ưu nhất cho người nộpthuế khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Người nộp thuế nhận được nhữnglời khuyên từ các nhà tư vấn và nhà tư vấn cũng không chịu trách nhiệm vềkết quả xảy ra khi người nộp thuế thực hiện theo lời khuyên đó Cơ chế ràngbuộc trong trường hợp này, hầu như lỏng lẻo, tùy thuộc vào hợp đồng giao kếtgiữa các bên Tuy nhiên, nếu hiểu dịch vụ thuế theo chiều hướng này, việcquản lý, tạo ra hành lang pháp lý để giám sát hoạt động của người nộp thuếrất khó khăn bởi thuế là lĩnh vực đặc thù, liên quan trực tiếp đến quyền lợi
“sát sườn” của cả người nộp thuế và nhà nước Quản lý thuế nói chung và tưvấn thuế nói riêng cần đặt trong khuôn khổ pháp luật nghiêm ngặt và có cáinhìn toàn diện
Có thể nói hiện nay có khá nhiều cách hiểu khác nhau về dịch vụ thuế.Song, tựu chung lại, tất cả các quan điểm trên đúng nhưng chưa đầy đủ, chưaphản ánh đúng nội hàm của khái niệm dịch vụ thuế Các quan điểm chưa phảnánh hết nội dung về chủ thể cung cấp dịch vụ thuế, nội dung của dịch vụ thuếcũng như tính chất của dịch vụ thuế
Từ những phân tích kể trên, theo quan điểm của tác giả, dịch vụ thuế là sản phẩm do nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân cung cấp cho người nộp thuế trong quá trình chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế Theo khái
niệm này, dịch vụ thuế là những hoạt động liên quan đến toàn bộ hoạt độngcủa doanh nghiệp, cá nhân trong quá trình chấp hành pháp luật thuế, thực hiệnnghĩa vụ với ngân sách nhà nước Đó là những sản phẩm do Nhà nước, doanhnghiệp hoặc cá nhân cung cấp cho người nộp thuế về các thủ tục thuế nhưđăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế và các dịch vụ khác có liênquan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế như tư vấn hoặc lập
Trang 17kế hoạch kinh doanh phù hợp với pháp luật thuế, tư vấn giải quyết các tranhchấp về thuế…
Cách hiểu như trên phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm dịch vụthuế Nói lên cụ thể chủ thể cung cấp dịch vụ, bao gồm cả nhà nước và các tổchức, cá nhân ngoài nhà nước Đồng thời cũng nói lên nội dung của dịch vụthuế, không chỉ là dịch vụ làm thủ tục về thuế mà cả những dịch vụ tư vấn,lập kế hoạch thuế, giải quyết tranh chấp thuế Tuy vậy, ở đây cần lưu ý rằng,
có những khoảng giao thoa nhất định về phạm vi của các loại dịch vụ (mà cóngười cho rằng có sự trùng lắp về nội dung dịch vụ) do chúng có mối quan hệhữu cơ với nhau Chẳng hạn như, dịch vụ tư vấn thuế với nội dung cụ thể là tưvấn lựa chọn mặt hàng nhập khẩu cho phù hợp với pháp luật về thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu, nếu xét ở một giác độ khác có thể coi là dịch vụ pháp lý.Điều này là hiển nhiên vì tư vấn thuế thực chất là “lời khuyên, sự góp ý” củađối tượng này với đối tượng khác thông qua việc vận dụng tư duy kinh tế đểgiải quyết bài toán kinh doanh theo pháp luật thuế
Trong quá trình thực thi pháp luật thuế, cơ quan thuế có nhiệm vụtuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế với các hình thức khác nhau, một mặtgiúp cho xã hội hiểu và nắm được những quy định của pháp luật thuế, nhất lànhững chính sách thuế mới, nhằm nâng cao ý thức, nâng cao việc chấp hànhtrong quá trình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Mặt khác, thôngqua việc tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ giúp cho cơ quan thuế nắm bắtđược các thông tin, sự phản hồi từ phía người dân, để có cơ sở tổng hợp vàsửa đổi, bổ sung kịp thời cả về cơ chế chính sách thuế và quy trình, thủ tục
về quản lý thuế
Dịch vụ thuế do các doanh nghiệp, cá nhân có chức năng cung cấp đã
và đang rất phát triển ở các nước tiên tiến, khi mà việc áp dụng cơ chế tự tính,
tự khai, tự nộp thuế đã được thực hiện từ rất lâu Theo đó, các tổ chức, cánhân là đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ phải kê khai và xác định đúng số thuếphải nộp và chịu trách nhiệm về số liệu đã kê khai theo qui định của pháp
Trang 18luật Chính cơ chế này là một trong những động lực thúc đẩy nhu cầu tư vấn,
hỗ trợ về thuế của người nộp thuế tăng lên và như vậy, các dịch vụ làm thủtục về thuế có thể được thực hiện thông qua các doanh nghiệp hoặc cá nhâncung cấp dịch vụ thuế
Như đã nêu trên, ở Việt Nam, từ khi Luật Quản lý thuế lần đầu tiên cóhiệu lực (1/7/2007), Nhà nước cho phép các tổ chức kinh doanh thực hiện cácdịch vụ làm thủ tục về thuế như: Thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khaithuế, nộp thuế, quyết toán thuế, khiếu nại về thuế, lập hồ sơ đề nghị miễnthuế, giảm thuế, hoàn thuế thay người nộp thuế theo qui định của Luật Quản
lý thuế và hợp đồng dịch vụ đã ký kết với người nộp thuế
Các doanh nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ thuế cũng giống như cácchủ thể sản xuất kinh doanh khác, được pháp luật ghi nhận, bảo hộ để thựchiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nhất định khi tham gia vào các quan hệpháp luật dưới hai góc độ: thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm với đốitác kinh doanh - người ủy thác; thực hiện nghĩa vụ với vai trò như một doanhnghiệp, cũng có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật nói chung và thực hiện chấphành các quy định của pháp luật thuế nói riêng
2.1.3 Phân loại dịch vụ thuế
Có nhiều loại dịch vụ thuế khác nhau, tuỳ thuộc vào các tiêu thức xácđịnh, tuy nhiên tất cả đều có chung một đặc điểm đó là đều được cung cấp bởimột tổ chức (thuộc Nhà nước hoặc không thuộc Nhà nước), cá nhân này cho
tổ chức, cá nhân khác, hay nói cách khác là việc cung cấp dịch vụ của cơ quanthuế hoặc tổ chức, cá nhân cho người nộp thuế trong việc tìm hiểu về chínhsách pháp luật thuế cũng như trong quá trình thực thi pháp luật thuế, thực hiệnnghĩa vụ với NSNN Có một số tiêu thức cụ thể như sau:
2.1.3.1 Căn cứ vào đối tượng, chủ thể cung cấp dịch vụ, dịch vụ thuế
được phân loại thành dịch vụ công và dịch vụ tư
* Dịch vụ thuế công là dịch vụ do cơ quan quản lý thuế cung cấp, gắn
liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thuế nhằm nâng cao
Trang 19ý thức tuân thủ pháp luật về thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuếthực hiện nghĩa vụ của mình.
Với khái niệm nêu trên, dịch vụ thuế công có thể được hiểu là dịch vụ
tư vấn và cung cấp các ứng dụng tiện ích cho NNT thực hiện nghĩa vụ nộpthuế Đó có thể là hoạt động tuyên truyền, quảng bá thông tin về chính sách,thủ tục về thuế cho người nộp thuế và cộng đồng xã hội; hoặc cũng có thể làmột loại dịch vụ hành chính công thực hiện giải quyết các hồ sơ thuế, cấpgiấy chứng nhận, chứng thực,
Cho dù được hiểu theo nghĩa nào thì cũng có thể khẳng định tráchnhiệm chính của việc cung cấp dịch vụ công thuộc về Nhà nước Việc cungcấp dịch vụ có thể do Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc do các đối tác trong
xã hội thực hiện nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật, dưới sự giám sát,quản lý của Nhà nước và do Nhà nước trả tiền Cơ quan thuế là một bộ phậntrong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công chongười nộp thuế và cả cộng đồng Dịch vụ công do cơ quan thuế cung cấp baogồm cả các dịch vụ công ích như cung cấp thông tin pháp luật, cung cấp cácdịch vụ tư vấn miễn phí về thuế và cũng có cả các dịch vụ hành chính côngnhư chứng nhận thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Chính vì vậy, trongbối cảnh và phạm vi nghiên cứu luận án, cách hiểu dịch vụ thuế công là dịch
vụ cung cấp bởi cơ quan thuế hoặc cách hiểu dịch vụ thuế công là dịch vụthuế do nhà nước trả tiền để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ là nhữngquan niệm phù hợp
* Dịch vụ thuế tư là dịch vụ do các tổ chức, cá nhân hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thuế cung cấp Dịch vụ thuế tư có liên quan trựctiếp đến lợi ích của doanh nghiệp mua dịch vụ, của bản thân doanh nghiệpcung cấp dịch vụ thuế và của nhà nước Không phải bất kỳ doanh nghiệp nàotrong nền kinh tế cũng có thể cung cấp được dịch vụ thuế tư, mà cần phải cónhững tiêu chuẩn, điều kiện nhất định và được điều chỉnh bởi các văn bản quyphạm pháp luật Do đó, dịch vụ thuế tư phải được coi là ngành nghề kinh
Trang 20doanh có điều kiện và cần một khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý hoạtđộng kinh doanh này, cụ thể yêu cầu cơ bản đối với tổ chức cung cấp dịch vụthuế tư bao gồm:
Thứ nhất, về thủ tục thành lập và cấp phép hoạt động Như đã nêu ở trên,
dịch vụ thuế tư được xem là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do đócần một khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý hoạt động kinh doanh này.Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế tư với tư cách là một tổ chức kinh doanhnên mọi thủ tục hành chính bao gồm cả thủ tục hành chính về thuế tương tựnhư đối với một doanh nghiệp Tuy nhiên, đây là ngành nghề kinh doanh cóđiều kiện nên tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thuế phải cóchứng chỉ đảm bảo các điều kiện qui định về trình độ yêu cầu cũng như có đủ
tư cách đạo đức nghề nghiệp Nếu doanh nghiệp vi phạm một trong hai điềukiện này đều bị đình chỉ hoạt động
Thứ hai, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế tư phải đáp ứng điều kiện
về cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để đảm bảo thực hiện thủ tục kê khai, tưvấn thuế Một trong những giải pháp hiệu quả nhất để phát triển dịch vụ thuế
là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ, trong đó
có các dịch vụ điện tử do cơ quan thuế cung cấp trực tiếp cho người nộp thuếnhư: cơ sở dữ liệu văn bản điện tử, khai thuế điện tử, nộp thuế, hoàn thuế điện
tử, trao đổi thông tin thuế điện tử qua hệ thống thư điện tử, tin nhắn qua điệnthoại di động Nhiều cơ quan thuế các nước còn triển khai các hình thức hỗtrợ điện tử đặc biệt dành riêng cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế tư,điển hình là cổng thông tin dành riêng, theo đó, doanh nghiệp tư vấn có thểtruy cập kê khai thuế điện tử cho nhiều người nộp thuế, tra cứu tờ khai thuế,xem tài khoản thuế của nhiều người nộp thuế, nhận các thông báo liên quanđến người nộp thuế qua hệ thống thư điện tử Cấu phần quan trọng nhất làmnền tảng cho việc cung cấp dịch vụ điện tử là hệ thống cơ sở dữ liệu ngườinộp thuế tích hợp Để có được cơ sở dữ liệu tích hợp cần phải có một hệthống ứng dụng đồng bộ, hệ thống đường truyền đủ mạnh để có thể kết nối và
Trang 21duy trì thông tin liên lạc giữa cơ quan thuế với người nộp thuế cũng như cácđại lý thuế Do vậy, trong điều kiện phát triển dịch vụ tài chính điện tử, doanhnghiệp cung cấp dịch vụ thuế tư phải có các điều kiện vật chất cần thiết để nốimạng với cơ quan thuế cũng như hệ thống doanh nghiệp để có thể thực hiệnđược các qui trình, thủ tục kê khai và thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN.
Thứ ba, phải có đội ngũ nhân lực cần thiết hội đủ điều kiện hành nghề
trong lĩnh vực khai báo và làm thủ tục về thuế theo qui định của cơ quan thuế
Do đặc điểm của hoạt động doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế tư, ngườikhai thuế phải là người nắm vững đầy đủ chuyên môn, nghiệp vụ, qui trình,thủ tục về thuế Nếu đội ngũ nhân viên không giỏi về nghiệp vụ sẽ rất dễ mắcsai sót khi thực hiện nghiệp vụ, khi đó không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế
mà nhiều khi còn bị xử lý về mặt luật pháp Vì vậy, đòi hỏi những người hoạtđộng trong lĩnh vực này phải có kiến thức tổng hợp về pháp luật thuế, kế toáncũng như các kiến thức khác có liên quan cần thiết để đảm bảo thực hiện tốtnghĩa vụ của mình Ngoài yêu cầu ngoại ngữ, kỹ năng vi tính, họ còn có các
kỹ năng lắng nghe, phân tích yêu cầu, trình bày quan điểm và thuyết phục.Phong cách ứng xử văn minh, lịch sự, mềm mỏng, khéo léo, linh hoạt cũng lànhững yêu cầu cần thiết đối với người hành nghề dịch vụ thủ tục về thuế, tưvấn thuế Đây là điều kiện có tính quyết định đến việc chấp hành quyền vànghĩa vụ của người khai thuế đối với doanh nghiệp tư vấn Ngoài năng lựctrình độ thì yêu cầu đặt ra đối với người thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụthuế là người có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp trong thái độ và hành vi Cónhư vậy, chất lượng của các hoạt động dịch vụ thuế mới đảm bảo chính xác,khách quan và trung thực
Thứ tư, đạo đức nghề nghiệp của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế
tư Để đảm bảo quyền lợi giữa nhà nước - doanh nghiệp - người nộp thuế thìmột trong những yêu cầu cơ bản đối với doanh nghiệp tư vấn là vấn đề đạođức nghề nghiệp Theo đó, doanh nghiệp phải có tính trung lập, tức là có tínhđộc lập với khách hàng và cơ quan thuế trong các quyết định của mình khi
Trang 22cung cấp các dịch vụ về thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tuânthủ pháp luật thuế Việc chấp hành tốt pháp luật về thuế nhằm góp phần quantrọng trong việc thúc đẩy tiến trình cải cách và hiện đại hoá công tác quản lýthu thuế Hơn nữa, quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp tư vấn phảichịu sự quản lý của cơ quan thuế Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình,nếu vi phạm pháp luật thuế thì ngoài việc bị xử lý theo qui định của pháp luật,đền bù thiệt hại vật chất cho người nộp thuế, doanh nghiệp đó đó sẽ bị cấmhoạt động dịch vụ trong lĩnh vực này trong một thời gian nhất định.
Thứ năm, về giám sát kiểm tra Để đảm bảo định hướng cho dịch vụ
thuế tư phát triển theo một lộ trình phù hợp, đồng thời để thiết lập và duy trìmột trật tự xã hội nhất định, trong quá trình hoạt động của các tổ chức, cánhân cung cấp dịch vụ, đòi hỏi việc kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động củacác đơn vị này là yêu cầu rất quan trọng, nhằm xử lý nghiêm các hành vi viphạm pháp luật Ngoài việc được cơ quan thuế giám sát kiểm tra hoạt độngcủa mình như những người nộp thuế thông thường khác, doanh nghiệp, cánhân cung cấp dịch vụ thuế tư còn phải được kiểm tra, giám sát đặc biệt dướicác hình thức khác để đảm bảo tính trung thực, minh bạch, chính xác, đầy đủđối với các hồ sơ kê khai của khách hàng Bên cạnh đó, Nhà nước mà đặc biệt
là cơ quan thuế cũng áp dụng nhiều biện pháp, cách thức để đảm bảo mọi hoạtđộng cung cấp dịch vụ thuế của các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp dịch vụthuế tư là minh bạch, đúng pháp luật, đảm bảo độ tin cậy để người nộp thuế
ký kết hợp đồng
Khi xã hội phát triển, kéo theo việc phân công lao động xã hội diễn racàng mạnh mẽ, các hoạt động của doanh nghiệp cần phải chuyên môn hóa,người kinh doanh chỉ tập trung kinh doanh, sản xuất, còn lại các công việckhác thì phải do các bộ phận chuyên trách làm Hơn nữa, xuất phát từ thựctiễn phát sinh trong tiến trình phát triển của xã hội, ngày càng có nhiều hìnhthức kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh mới ra đời và hoạt động Tổng hợp lại
có thể thấy, việc xuất hiện dịch vụ thuế tư là yêu cầu tất yếu, khách quan và sẽ
Trang 23xuất hiện rất nhiều các loại hình dịch vụ như: tư vấn quản lý, tư vấn đầu tư, tưvấn luật, và đặc biệt là tư vấn thuế và đại lý thuế…
Cách phân loại này cũng cho thấy, vì dịch vụ thuế có thể được cung cấpbởi cả cơ quan thuế và doanh nghiệp nên nếu dịch vụ thuế tư (dịch vụ thuế docác doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ thuế thực hiện) phát triển mạnh
mẽ thì một mặt sẽ có tác động góp phần nâng cao hiệu lực quản lý thuế (như
sẽ phân tích trong mục 2.2 dưới đây), mặt khác sẽ giúp giảm bớt khối lượngcông việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế Hai dịch
vụ này có mối quan hệ biện chứng và thúc đẩy nhau cùng phát triển, khi dịch
vụ thuế công phát triển trong đó có việc cơ quan thuế tuyên truyền, phổ biến
về dịch vụ thuế tư, về việc khuyến khích doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thuế
tư, điều đó sẽ tạo ra cơ sở cho dịch vụ thuế tư phát triển Đến lượt mình, khidịch vụ thuế tư phát triển, các doanh nghiệp thực hiện sử dụng ngày càngnhiều dịch vụ tư vấn, hỗ trợ từ các doanh nghiệp sẽ giúp cho cơ quan thuếgiảm tải công việc, không mất nhiều thời gian hướng dẫn, đối soát, để có thờigian tập trung vào các chức năng khác hoặc tập trung hỗ trợ chuyên sâu,chuyên nghiệp hơn
Để phân biệt dịch vụ thuế công và dịch vụ thuế tư, chúng ta cần nhìnnhận, đánh giá hai loại hình dịch vụ này dựa trên các tiêu thức cụ thể như:Thứ nhất, về trách nhiệm, dịch vụ thuế công có tính trách nhiệm cao, cơ quancung cấp không thể không làm và người sử dụng dịch vụ thuế công khôngphải trả phí Còn dịch vụ thuế tư, có thể làm hoặc có thể không làm và người
sử dụng dịch vụ thuế tư phải trả phí theo thoả thuận; Thứ hai, về cơ sở pháp lý
và nội dung dịch vụ, dịch vụ thuế công mang tính chất công quyền, trong đócung cấp các dịch vụ hỗ trợ là chính, việc tư vấn có mức độ và có thể không
có đại lý Dịch vụ thuế tư nặng về chuyên môn, nghiệp vụ, mang tính chuyênnghiệp, bao gồm cả dịch vụ, tư vấn và đại lý Thứ ba, dịch vụ thuế công vàdịch vụ thuế tư cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau trên tinh thần, cơ sở càngphát triển mạnh mẽ dịch vụ thuế tư thì càng giới hạn phạm vi dịch thuế công
Trang 24và tiến tới là dịch vụ thuế công giữ vai trò chủ đạo trong việc chỉ đạo, điềuhành, dẫn dắt, kiểm soát và làm trọng tài, chế tài trong công tác quản lý thuế.
2.1.3.2 Căn cứ vào phương thức cung cấp dịch vụ, dịch vụ thuế được
phân loại thành dịch vụ thuế thủ công và dịch vụ thuế điện tử Dịch vụ thuếthủ công là dịch vụ được cung cấp thông qua các phương thức thủ công, chưa
có sự hỗ trợ của máy móc, phương tiện hiện đại Dịch vụ thuế điện tử đượccung cấp dựa trên hệ thống máy móc, thiết bị tiên tiến đặc biệt là ứng dụngmạnh mẽ công nghệ thông tin Mục tiêu của hiện đại hóa công tác quản lýthuế đó là đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển các dịch vụ thuế điện tử (dịch vụ
kê khai thuế qua mạng Internet, dịch vụ kê khai thuế qua các nhà trung gianT-VAN, dịch vụ nộp thuế điện tử, nộp thuế qua máy ATM, qua tin nhắnSMS ) Cùng với thời gian, dịch vụ thuế điện tử sẽ ngày càng phát triển,ngày càng chiếm ưu thế và thay thế dần các dịch vụ thuế thủ công Tất nhiên,trong một số trường hợp, dịch vụ thuế thủ công và dịch vụ thuế điện tử có thểđan xen nhau chứ không nhất thiết phải tách rời nhau Chẳng hạn như để cungcấp một dịch vụ thuế điện tử thì ở khâu chuẩn bị có thể có một số công việcphải tiến hành thủ công; hoặc khi tiến hành tư vấn trực tiếp (dịch vụ thuế thủcông) thì người ta có thể sử dụng những kỹ thuật điện tử để phối hợp…
2.1.3.3 Căn cứ vào nội dung của dịch vụ được cung cấp, dịch vụ thuế
được phân loại thành dịch vụ làm thủ tục thuế (đăng ký thuế thuê, khai thuếthuê…) và dịch vụ tư vấn thuế (dịch vụ giảng dạy, giới thiệu pháp luật thuế,dịch vụ hướng dẫn làm thủ tục thuế, dịch vụ kế toán thuế và xây dựng kếhoạch thuế) Từ cách phân loại này cho thấy, tùy theo đặc điểm tình hình sảnxuất kinh doanh, quy mô kinh doanh, điều kiện hoàn cảnh và khả năng củatừng người… mà các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về các loại dịch vụ khácnhau Chẳng hạn như, những cơ sở kinh doanh nhỏ thì thường có nhu cầu vềdịch vụ làm thủ tục thuế, còn những doanh nghiệp lớn thì có nhu cầu cao vềdịch vụ xây dựng kế hoạch thuế Dịch vụ tư vấn thuế nói chung là cần thiếtđối với mọi lọai hình người nộp thuế
Trang 252.1.3.4 Căn cứ vào trách nhiệm tài chính của đối tượng thụ hưởng dịch vụ, dịch vụ thuế được phân loại thành dịch vụ thuế có thu phí và dịch vụ
thuế không thu phí Cách phân loại này cho thấy, loại dịch vụ không thu phíchỉ có thể cung cấp bởi cơ quan nhà nước do có nguồn tài trợ từ ngân sáchnhà nước Khu vực tư nhân không cung cấp dịch vụ không thu phí do đây làhoạt động kinh doanh, muốn thu hồi vốn và có lợi nhuận, khi cung cấp dịch
vụ phải thu phí [29]
2.1.4 Các hình thức cung cấp dịch vụ thuế
2.1.4.1 Các hình thức cung cấp dịch vụ hỗ trợ của
cơ quan thuế
(i) Xuất bản các ấn phẩm về thuế
Cơ quan thuế phát hành các ấn phẩm về thuế như các tờ rơi, các cuốn
sổ tay về chính sách pháp luật thuế để phát miễn phí cho người nộp thuế Nộidung của các ấn phẩm này thường được soạn thảo ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu.Mục tiêu chủ yếu của hình thức hỗ trợ này là nâng cao nhận thức của ngườinộp thuế và giúp người nộp thuế nắm bắt những nội dung thiết yếu của phápluật thuế Những ấn phẩm này có thể đặt để phát miễn phí tại trụ sở cơ quanthuế hoặc ở một số nơi công cộng và cũng có thể phát miễn phí trực tiếp chongười nộp thuế Hình thức này thuận tiện với những người không có nhiềuthời gian để đọc toàn bộ văn bản luật nhưng cần biết những vấn đề cơ bảnnhất Tuy nhiên, hình thức này có hạn chế là không giới thiệu được đầy đủ nộidung các sắc thuế, không giải quyết được các trường hợp cụ thể, không đếnđược với các người nộp thuế ngại đọc hoặc thậm chí không biết đọc
(ii) Hỗ trợ người nộp thuế thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Đây là hình thức hỗ trợ được thực hiện thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng (báo, đài phát thanh, đài truyền hình) Việc hỗ trợ ngườinộp thuế thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng lại nhằm mụcđích nâng cao nhận thức của người nộp thuế và giải quyết những vướng mắcpháp luật của người nộp thuế Các ưu điểm cơ bản của hình thức hỗ trợ này là
Trang 26cách thức thực hiện hấp dẫn, đa dạng; mọi người nộp thuế có nhu cầu đều cóthể tiếp cận do sự linh hoạt về thời gian và hình thức thể hiện Các nhượcđiểm chủ yếu của hình thức này là khá tốn kém về thời gian và công sức thựchiện, đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều tổ chức, cá nhân có liên quan… Cácdạng thức cụ thể của hình thức hỗ trợ trên các phương tiện thông tin đạichúng là:
- Các bản phụ trương về thuế, các chuyên mục thuế trên báo, tạp chí
Với hình thức này, cơ quan thuế phối hợp với các báo phát hành cácchuyên mục về thuế dưới dạng phụ trương của báo, tạp chí Đó có thể làchuyên mục giới thiệu tóm tắt văn bản pháp luật, có thể là các chuyên mụcđăng tải những văn bản trả lời vướng mắc của người nộp thuế mà cơ quanthuế đã trả lời trực tiếp cho người hỏi sau đó được biên soạn lại để đưa lênphụ trương giúp những người nộp thuế trong các trường hợp tương tự có thểbiết để vận dụng cho trường hợp của mình Đó cũng có thể là chuyên mụcgiải đáp vướng mắc thuế do các chuyên gia thuế thực hiện
- Các trung tâm sản xuất chương trình truyền hình về thuế
Cơ quan thuế phối hợp với các đài truyền hình sản xuất các chương trìnhtruyền hình về thuế Các chương trình này có hình thức đa dạng, nội dungphong phú, mà chủ yếu là: các chuyên mục giới thiệu văn bản mới, chính sáchmới, các chuyên mục trao đổi, giải đáp vướng mắc, gặp gỡ chuyên gia…
- Bản tin hệ thống thông tin tài chính
Các bản tin thuế có thể được thực hiện khá đa dạng, có thể là bản tinphát thanh, bản tin truyền hình, bản tin viết trên báo… Dạng thức cụ thể nàychủ yếu nhằm mục tiêu cập nhật thông tin pháp luật thuế cho người nộp thuế
- Băng video, đĩa hình
Các băng video, đĩa hình này được sản xuất dưới hình thức các đoạnphim ngắn giải quyết những tình huống thường gặp trong thực tiễn, các đoạngiới thiệu tóm tắt chính sách thuế, bản ghi các cuộc đối thoại giữa cơ quanthuế và người nộp thuế, các cuộc giải đáp vướng mắc của người nộp thuế…
Trang 27Các băng, đĩa hình này có thể sử dụng để chiếu trước các cuộc hội họp chínhthức, vào giờ giải lao của các cuộc họp, các hội nghị, hội thảo có sự tham giacủa các doanh nghiệp; cũng có thể phát miễn phí cho các doanh nghiệp hoặcthậm chí có thể truyền đi qua hệ thống internet.
(iii) Hỗ trợ người nộp thuế qua điện thoại
Các vướng mắc về thuế (chính sách, thủ tục ) có thể được thực hiệntrực tiếp trên điện thoại bởi nhân viên của cơ quan thuế hoặc có thể thực hiệnqua hộp thư trả lời tự động do cơ quan thuế thiết kế
Việc trả lời trực tiếp qua điện thoại có thuận lợi là đáp ứng ngay tức thìnhu cầu tư vấn của người nộp thuế đối với từng trường hợp cụ thể, từng nhucầu cụ thể Tuy nhiên, hình thức này có các nhược điểm cơ bản là số lượngđược trả lời hạn chế hoặc trong một thời gian ngắn không thể trả lời đượcnhững vấn đề phức tạp, khó kiểm soát nội dung trả lời và trách nhiệm pháp lýtrong giải đáp của cán bộ thuế Vấn đề quan trọng của tư vấn, trả lời qua điệnthoại là phải xây dựng được một văn hóa giao tiếp qua điện thoại của cơ quanthuế, cán bộ thuế; phải có cơ chế kiểm soát và ràng buộc trách nhiệm của cán
bộ hỗ trợ, tư vấn qua điện thoại
Đối với việc trả lời tự động qua hộp thư thoại, cơ quan tư vấn thuế tậphợp các nhu cầu tư vấn thường xuất hiện nhất để ghi âm sẵn vào hộp thư thoại
tự động của bưu điện (kiểu hộp thư trả lời tự động qua tổng đài của các nhàcung cấp thông tin di động như hiện nay); khi có nhu cầu tư vấn, người nộpthuế chỉ cần ấn số hộp thư này là có thể thoả mãn nhu cầu thông tin về thuếcủa mình Hình thức này có ưu điểm là chi phí giao dịch thấp và có thể thoảmãn khá nhanh chóng nhu cầu thông tin của người nộp thuế; không đòi hỏicán bộ tư vấn thuế phải thực hiện các thao tác nghiệp vụ khi có nhu cầu tưvấn Tuy nhiên, nó có hạn chế là không giải quyết được các nhu cầu tư vấn cụthể Loại hình này phù hợp với việc giới thiệu các chính sách thuế một cáchvắn tắt, nêu tên các văn bản pháp luật mới để người nộp thuế tham khảo, trảlời một số ít các vướng mắc thường gặp…
Trang 28(iv) Các cuộc tư vấn trực tiếp
Các cuộc tư vấn trực tiếp có thể là tư vấn giữa một người nộp thuế cónhu cầu với một cán bộ trong bộ phận hỗ trợ người nộp thuế (tư vấn mặt đốimặt), cũng có thể là việc tư vấn theo nhóm giữa một hoặc một vài cán bộ thuếvới một nhóm người nộp thuế Cụ thể như sau:
Tư vấn mặt đối mặt (face to face) là hình thức tư vấn truyền thống, đó
là sự trao đổi, hướng dẫn trực tiếp của cán bộ tư vấn và người nộp thuế Ưuđiểm của hình thức tư vấn này là người cần tư vấn có thể hỏi nhiều vấn đềmột lúc, có thể được hướng dẫn cách thực hành cụ thể, khi chưa hiểu cặn kẽ
họ có thể hỏi lại để thực sự nắm chắc vấn đề cần biết Tuy nhiên, hình thứcnày có nhược điểm là tốn thời gian công sức của cả người nộp thuế và cán bộ
tư vấn thuế (tốn kém chi phí đi lại, giao dịch và đòi hỏi một lực lượng đôngđảo cán bộ làm công tác tư vấn thuế) Vì vậy, hình thức tư vấn này phù hợpvới một số người nộp thuế có nhu cầu tư vấn rất cụ thể, với một sự việc, hồ sơđặc thù hoặc tư vấn lần đầu… Nó vẫn cần được duy trì như là một hình thứckhông thể thiếu, song không nên lạm dụng mà cần chuyển các đối tượng cần
tư vấn sang các hình thức tư vấn khác phù hợp và hiệu quả hơn
Tư vấn theo nhóm đối tượng là hình thức tư vấn mà cán bộ tư vấnhướng dẫn hoặc tư vấn cho một nhóm đối tượng có nhu cầu tư vấn giốngnhau Tất nhiên, đây cũng vẫn là một dạng tư vấn có tính chất trực tiếp, songgiao diện của tư vấn theo nhóm đối tượng rộng hơn So với hình thức tư vấn
“mặt đối mặt”, tư vấn theo nhóm đối tượng khắc phục được nhược điểm làkhông cần nhiều lực lượng cán bộ tư vấn và giảm bớt ùn tắc ở các phòng tưvấn Tuy nhiên, nó có hạn chế là chỉ giải quyết tốt các vấn đề chung, còn cácvấn đề cụ thể chỉ giải quyết được ở một mức độ nhất định Hình thức này thíchhợp với việc triển khai một chính sách, chế độ, quy định mới hoặc hướng dẫnnội dung luật thuế cho các người nộp thuế mới tiến hành kinh doanh…
(v) Trả lời qua thư
Trang 29Việc trả lời qua thư có thể là trả lời qua thư công tác (chủ yếu là côngvăn trả lời của cơ quan thuế) hoặc có thể là trả lời qua thư điện tử.
Trả lời bằng hình thức công văn được thực hiện khi người nộp thuế cócông văn hoặc thư công tác gửi cho cơ quan thuế yêu cầu được trả lời bằngvăn bản Việc trả lời này mặc dù thường không nhanh, không kịp thời nhưngvẫn được nhiều người nộp thuế ưa thích vì nó giúp họ lưu lại bằng chứng pháp
lý về ý kiến của cơ quan thuế trong việc giải quyết những tình huống cụ thểtrong kê khai thuế, tính thuế mà pháp luật thường là chưa có quy định rõ ràng
Trả lời qua thư điện tử là một phương thức giao dịch hiện đại Với hìnhthức này người nộp thuế và cơ quan hỗ trợ người nộp thuế giao dịch qua thưđiện tử (Email) của mạng máy tính điện tử (internet) Hình thức này có ưuđiểm là chi phí giao dịch thấp, có thể thoả mãn các nhu cầu tư vấn rất cụ thểcủa người nộp thuế và tiết kiệm sức lực của cán bộ tư vấn Để thực hiện hìnhthức này, đòi hỏi có sự trang bị kỹ thuật cao của cả cơ quan tư vấn thuế vàngười nộp thuế Hình thức tư vấn qua thư điện tử có thể biến thể thành dạng
tư vấn điện tử nhóm Tức là, cơ quan tư vấn thuế tập hợp các nhu cầu tư vấncủa các người nộp thuế theo những nhóm giống nhau rồi soạn thảo các mẫutrả lời, khi có nhu cầu cụ thể của một đối tượng nào đó thì chỉ cần kiểm tracâu hỏi và có thể chuyển ngay câu trả lời đã chuẩn bị sẵn, chẳng hạn như nhucầu về các bản mẫu tờ khai và hướng dẫn kê khai thuế, về nội dung các luậtthuế, các mẫu sổ sách kế toán…
(vi) Các chương trình tư vấn tình nguyện
Các chương trình tư vấn tình nguyện có thể là những hoạt động thườngxuyên hoặc các chiến dịch với sự tham gia của các chuyên gia đã nghỉ hưunhưng muốn tham gia hoạt động, có thể là có sự tham gia của các sinh viênchuyên ngành thuế của các trường đại học, cao đẳng Những sinh viên thamgia chương trình tư vấn tình nguyện này chủ yếu là sinh viên năm cuối, nhữngsinh viên đang tham gia thực tập ở cơ quan thuế hoặc các học viên cao học…
Trang 30ở hình thức này, cơ quan thuế đóng vai trò là người tổ chức, tạo điều kiệnthực hiện các hoạt động tư vấn, hỗ trợ thuế.
(vii) Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về thuế
Với hình thức này, cơ quan thuế mời người nộp thuế đến trụ sở hoặcmột địa điểm do cơ quan thuế lựa chọn để đào tạo, bồi dưỡng về thuế, chẳnghạn như: giới thiệu cách thức sử dụng phần mềm hỗ trợ khai thuế, giới thiệunhững quy định pháp luật mới, hướng dẫn kê khai thuế
(viii) Trợ giúp kê khai và tính thuế thông qua hỗ trợ cơ sở vật chất
Việc trợ giúp khai thuế, tính thuế thông qua hỗ trợ cơ sở vật chất là việc
cơ quan thuế cung cấp miễn phí một số thiết bị giúp người nộp thuế thuận tiệntrong kê khai, tính thuế Điển hình cho loại hỗ trợ này là việc cơ quan thuếcung cấp phần mềm hỗ trợ khai thuế miễn phí cho người nộp thuế
2.1.4.2 Các hình thức cung cấp dịch vụ thuế tư (i) Tư vấn thuế
Lịch sử kinh tế của các nước phát triển đã chứng minh rằng, trong nềnkinh tế thị trường, tư vấn nói chung đã, đang và sẽ trở thành nhân tố vô cùngquan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và doanh nhân,trong đó có tư vấn thuế Về nguyên tắc, chính sách thuế và quản lý thuế phảibao quát các quan hệ kinh tế Sự mở rộng về quy mô của nền kinh tế cũngnhư gia tăng tính phức tạp của các quan hệ kinh tế đang ngày càng tạo ra áplực lớn đối với công tác xây dựng chính sách thuế cũng như quy trình quản lýthuế Điều này càng thể hiện rõ ở các quốc gia đang phát triển, các quốc giađang thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế Để doanh nghiệp nắm bắtkịp thời các chính sách thuế cũng như tối ưu hóa kết quả đầu tư, sản xuất kinhdoanh, rõ ràng nhu cầu về tư vấn thuế là rất lớn Do đó, rất cần đến sự cungcấp dịch vụ tư vấn của các doanh nghiệp có chức năng
Mặc dù trong một mức độ, phạm vi nhất định, cơ quan thuế cũng cungcấp các dịch vụ tư vấn thuế, song để phản ánh các vấn đề mang tính chủ yếucủa đối tượng nghiên cứu cũng như đảm bảo tính minh bạch, khách quan, “tư
Trang 31vấn thuế” chỉ được xem là một hình thức của dịch vụ thuế tư, không phải củadịch vụ thuế công.
Bản chất của tư vấn là việc đưa ra những lời khuyên về việc nên làm gì,không nên làm gì hoặc nên làm như thế nào trong những điều kiện hoàn cảnhnhất định nhưng không chịu trách nhiệm pháp lý về những lời khuyên đó Vìkhông chịu trách nhiệm về lời khuyên nên khách hàng sử dụng loại dịch vụnày thường là những người đã có những hiểu biết nhất định nhưng chưa chắcchắn, cần có thêm luận cứ để ra quyết định Những người không hiểu biếthoàn toàn về dịch thuế thường không sử dụng loại dịch vụ này Tư vấn thuế
có hai hình thức thực hiện cụ thể là tư vấn trực tiếp và tư vấn điện tử
- Tư vấn điện tử
Việc giải đáp những khúc mắc hoặc đưa ra lời khuyên có thể thực hiệnqua hệ thống điện tử bằng hoạt động trả lời qua thư điện tử hoặc trao đổi trựctuyến Phí tư vấn của loại dịch vụ này thường được thu theo kiểu phí thànhviên thường niên
(ii) Dịch vụ làm thủ tục về thuế
Đây là loại dịch vụ mà bên cung cấp dịch vụ chuẩn bị các hồ sơ thủ tục
về thuế cho bên thuê dịch vụ và đại diện cho bên thuê dịch vụ trong việc giaodịch và thực hiện các thủ tục về thuế với cơ quan thuế Dịch vụ làm thủ tục vềthuế là loại dịch vụ có liên quan trực tiếp đến lợi ích của cả bên thuê dịch vụ
và Nhà nước và đương nhiên nó liên quan đến cả trách nhiệm pháp lý của bênthuê dịch vụ và bên cung cấp dịch vụ trước nhà nước, trách nhiệm dân sự củabên cung cấp dịch vụ đối với bên thuê dịch vụ Chính vì vậy, hình thức cung
Trang 32cấp dịch vụ này cần được điều chỉnh bằng những quy định pháp lý chặt chẽ.Phí dịch vụ làm thủ tục về thuế thường được xác định trên cơ sở doanh thucủa bên thuê dịch vụ
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, đặc biệt sự phát triểnnhanh chóng của công nghệ thông tin Kéo theo sự xuất hiện của các loại hìnhdịch vụ thuế mới, mang lại tiện ích và hiệu quả cao cho cả người nộp thuế và cơquan thuế, đó là thông qua việc sử dụng các dịch vụ như: Kê khai thuế quamạng, qua T-VAN, nộp thuế điện tử, nộp thuế qua máy ATM, qua dịch vụ tinnhắn SMS
(iii) Lập kế hoạch thuế
Đây là công việc cần thiết trong chuỗi các công việc cần thực hiện thuộcnội dung quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị tài chính doanh nghiệp nóiriêng Để chủ động cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh,các nhà quản trị, những ông chủ doanh nghiệp (chủ yếu là những doanh nghiệp
có quy mô lớn) luôn quan tâm đến việc lập kế hoạch thuế Nội dung chủ yếu củahình thức dịch vụ này là lựa chọn và xây dựng dự án đầu tư tối ưu nhất, đảm bảophù hợp với pháp luật thuế, xây dựng các chiến lược kinh doanh, lựa chọn mặthàng, nguồn cung cấp hàng có lợi nhất xét dưới góc độ thuế Loại hình dịch vụthuế này có nhiều cách xác định mức phí khác nhau, có thể xác định theo quy
mô vốn đầu tư, có thể xác định theo ước định thời gian thực hiện
(iv) Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng về thuế
Hình thức cung cấp dịch vụ này có thể được thực hiện bởi cơ quan thuế,như đã nêu trên, và cũng có thể cung cấp bởi các tổ chức, cá nhân kinh doanhdịch vụ thuế Lợi thế của khu vực tư khi cung cấp loại dịch vụ này là người học
có thể hỏi người giảng những điều mà không thể hỏi trong trường hợp ngườicung cấp là cơ quan thuế, chẳng hạn như hỏi về việc vận dụng nội dung vừa học
để tránh thuế trong những trường hợp cụ thể
2.1.5 Tiêu thức đánh giá chất lượng và hiệu quả dịch vụ thuế
Trang 33Bởi cũng là một loại dịch vụ nên dịch vụ thuế cũng mang đầy đủ nhữngđặc điểm chung của dịch vụ Dịch vụ là sản phẩm vô hình nên không có tiêuchuẩn đánh giá chất lượng đồng nhất, không thể cất giữ trong kho, việc sảnxuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vàocảm nhận của người được phục vụ Tuy nhiên, đây là một hoạt động đặc thù,việc sử dụng nó làm gia tăng giá trị cho cả người được phục vụ và cơquan/đơn vị cung cấp, cuối cùng là mang đến lợi ích cho cả người nộp thuếcũng như cơ quan thuế trong việc thực thi pháp luật thuế Chính vì vậy, tiêuthức để đánh giá chất lượng, hiệu quả của dịch vụ thuế, được xem xét dướigóc độ cuối cùng mang lại (cả dịch vụ thuế công và dịch vụ thuế tư) cho cơquan thuế và cho người nộp thuế.
2.1.5.1 Đối với cơ quan thuế
Cơ quan thuế cung cấp dịch vụ thuế công cho cộng đồng xã hội xuấtphát từ vị trí, vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về các khoản thu từ thuế,phí, lệ phí và thu khác ngân sách Đó là tất cả các dịch vụ do cơ quan thuếcung cấp cho NNT để họ có thể hiểu về chính sách, pháp luật, thủ tục thuế và
tự nguyện tuân thủ thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Bên cạnh việc là công
cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, đời sống dân cư và gópphần tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo công bằng xãhội; thuế nói chung, quản lý thuế nói riêng đều hướng đến mục tiêu quantrọng là huy động đầy đủ, kịp thời nguồn lực cho NSNN và nâng cao ý thứctuân thủ pháp luật của người nộp thuế Do vậy, để đánh giá chất lượng và hiệuquả của dịch vụ thuế do cơ quan thuế cung cấp, chúng ta xem dưới các tiêuthức như sau:
(i) Tỷ suất chi phí dành cho việc cung cấp dịch vụ thuế công so với
tổng số thu do cơ quan thuế thực hiện qua các năm
Xuất phát từ nguyên lý hiệu quả của công tác quản lý là phần chênhlệch giữa kết quả thu lại và chi phí quản lý cần bỏ ra Trong trường hợp này,
để đánh giá hiệu quả của dịch vụ thuế công, cần thiết phải đánh giá chi phí
Trang 34dành cho việc cung cấp dịch vụ (đây là một bộ phận cấu thành trong chi phíquản lý thuế) và kết quả mang lại, đó chính là số thu do cơ quan thuế thựchiện (thu nội địa), bởi cũng giống như các chức năng, biện pháp quản lý thuếkhác, một trong những mục đích cuối cùng của việc cung cấp dịch vụ thuế làhướng đến đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, đảm bảo cho việc thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời các nguồn lực vào quỹ ngân sách tập trung của Nhà nước
Công thức áp dụng là : CF i
H i = - x 100%
T i
Trong đó : H i : Tỷ lệ % chi phí trên tổng thu nội địa
CF i : Chí phí cung cấp dịch vụ thuế công
T i : Số thu do ngành Thuế thực hiện
i : Năm đánh giá
Về nguyên lý, để đảm bảo công tác đánh giá được chính xác hơn cầnthiết phải bóc tách riêng kết quả mang lại (trong trường hợp này là số thu nộiđịa) do việc cung cấp dịch vụ thuế công Hay nói cách khác, phần kết quảmang lại do việc cung cấp dịch vụ thuế công trong tổng số kết quả chung doviệc sử dụng tổng thể các chức năng, biện pháp quản lý thuế khác Tuynhiên trong thực tế, việc làm này là rất khó khăn, mặt khác, xét về bản chất,thu thuế được thực hiện theo quy định của pháp luật và theo nghiệp vụ kinh
tế phát sinh Do đó, để đảm bảo phù hợp, trong trường hợp này, tổng thu nộiđịa nói chung là nhân tố được lựa chọn để so sánh
Công việc đánh giá, phân tích được thực hiện trên cơ sở so sánh tỷsuất nói trên qua các năm với nhau, tỷ suất này giảm có nghĩa là hiệu quảcủa dịch vụ thuế công tăng, ngược lại tỷ suất này tăng qua các năm có nghĩa
là hiệu quả giảm Tuy nhiên, khi xét tiêu thức nêu trên cần phải loại trừ cácnhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ này nhưng lại không liên quan đếnhiệu quả của dịch vụ thuế công: sự thay đổi về chính sách thuế, trong đó có
Trang 35việc tăng/giảm thuế suất hoặc tăng/giảm đối tượng chịu thuế; sự thay đổitrong các chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước, sự phát triển của nềnkinh tế; các khoản chi tiêu phát sinh bất thường do việc ban hành các chínhsách thuế mới cần triển khai
(ii) Tỷ lệ các văn bản tồn đọng (do người nộp thuế hỏi cơ quan thuế)
chưa trả lời trong tổng số các văn bản nhận được qua các năm
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ pháp luật thuế, người nộp thuế gặpcác khó khăn, vướng mắc và cần sự giúp đỡ của cơ quan thuế, một trong cáchình thức mà người nộp thuế sử dụng để đề nghị đó là có văn bản hỏi cơquan thuế Trường hợp này, theo thẩm quyền của mình cơ quan thuế cầnphải xem xét và trả lời kịp thời cho người dân và doanh nghiệp Tuy nhiên,
do khối lượng công việc phát sinh ngày càng nhiều và có thể do nguồn nhânlực còn thiếu, không phải lúc nào cơ quan thuế cũng đáp ứng kịp thời nhucầu của người nộp thuế Xuất phát từ những thực tế này, việc xem xét hiệuquả của dịch vụ công không thể không đánh giá đến chỉ tiêu này Mặt khác,trong quá trình cải cách hành chính mạnh mẽ, đây cũng là chỉ tiêu luôn được
cơ quan thuế quan tâm và mong muốn ngày càng giảm thiểu
Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế đã chuyển dần từ
cơ chế mệnh lệnh quyền uy, áp đặt sang cơ chế thực hiện theo phương châmxem người nộp thuế là khách hàng được phục vụ Triết lý quản lý này từ lâu
Trang 36đã trở nên quen thuộc đối với các nền quản lý hành chính công tại các quốcgia phát triển, trong đó quản lý thuế cũng là một thành phần Do đó, ngườinộp thuế có thể phản ánh kịp thời các vướng mắc phát sinh, cũng như phảnánh về thái độ phục vụ của cán bộ thuế, nghiêm trọng hơn có thể có đơn tốcáo về hành vi cố ý làm sai các quy định pháp luật của cán bộ thuế Ngoài ra,người nộp thuế có thể khiếu nại về các quyết định hành chính của cơ quanthuế khi cho rằng quyết định đó chưa thỏa đáng và làm ảnh hưởng đến quyềnlợi của mình.
Mặc dù, việc mở rộng quyền khiếu nại về thuế (cùng với việc tăngcường tính pháp chế của luật) là một trong những nội dung mà Nhà nước phảiquan tâm để đảm bảo tính khách quan, công bằng của luật pháp, tuy nhiên,trong trường hợp này yếu tố nêu trên được cố định để đánh giá Vì vậy, đểxem xét hiệu quả của dịch vụ thuế công, chúng ta không thể không quan tâmđến tiêu thức số lượng các đơn thư khiếu nại, tố cáo mà cơ quan thuế nhậnđược hàng năm và so sánh chỉ tiêu này qua các năm Mặc dù trong chỉ tiêunày còn có sự tham gia, hiện diện của nhiều chức năng quản lý thuế khác(thanh tra, kiểm tra, quản lý đôn đốc nợ đọng thuế ), song để phù hợp tronggiới hạn, phạm vi của Luận án, điều này có thể xem là hợp lý Như vậy, sốlượng các đơn thư khiếu tố mà cơ quan thuế nhận được qua các năm trongmột phạm vi nhất định đã nói lên hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế hoặccũng phản ảnh thái độ, sự đánh giá của người nộp thuế đối với cơ quan thuế,trong đó có dịch vụ thuế công mà cơ quan thuế cung cấp
(iv) Mức độ hài lòng của người nộp thuế khi yêu cầu cơ quan thuế hỗ
trợ
Người nộp thuế được sử dụng các dịch vụ thuế từ cơ quan quản lý thuếtrong quá trình chấp hành pháp luật thuế Mọi thủ tục, vướng mắc, khó khăncủa người nộp thuế có thể được giải quyết thông qua cán bộ thuế (chủ yếu ở
bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ) Do đó, để đánh giá chất lượng, hiệu quả củadịch vụ thuế do cơ quan thuế cung cấp, cần phải xét đến yếu tố về mức độ hài
Trang 37lòng của người nộp thuế trong quá trình sử dụng các loại hình dịch vụ này.Nếu như các yêu cầu của người nộp thuế được cơ quan thuế quan tâm, giảiquyết thấu đáo, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho người nộpthuế, bên cạnh đó người nộp thuế luôn nhận được thái độ gần gũi, thân thiện
và hợp tác nhiệt tình của cán bộ thuế, ắt hẳn họ sẽ rất hài lòng và đánh giá caodịch vụ hỗ trợ của cơ quan thuế, từ đó góp phần nâng cao hình ảnh của cơquan thuế trong mắt người dân và toàn xã hội Mặt khác, nếu những đề nghịcần hỗ trợ của người nộp thuế không được giải đáp đến nơi đến chốn, thêmvào đó là thái độ thơ ơ, thậm chí hách dịch, cửa quyền của bộ thuế, không xử
lý kịp thời các vướng mắc, khó khăn cho người nộp thuế, làm ảnh hưởng đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh, trong trường hợp này mức độ hài lòng củangười nộp thuế là rất thấp, hiện tượng này không xử lý dứt điểm sẽ tạo ra hìnhảnh không tốt đẹp của ngành Thuế trong mắt người dân, dư luận
(v) Tính kịp thời trong hoạt động hỗ trợ của cơ quan thuế
Nền kinh tế càng phát triển sẽ kéo theo nhiều ngành nghề kinh doanh
và nhiều doanh nghiệp ra đời, mức độ gia tăng sự cạnh trạnh cũng như dànhgiật cơ hội làm ăn trên thị trường cũng sẽ ngày càng lớn Trong điều kiện đó,một trong những vấn đề đặt ra là yếu tố thời gian, thời gian để doanh nghiệplập dự án đầu tư, thời gian để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, thời gian đểthu xếp vốn kinh doanh, thời gian để hoàn thành đơn hàng theo đúng cam kếtvới khách hàng Tất cả đều phải được tính toán một cách căn cơ và khoa học.Việc hỗ trợ, giải quyết kịp thời các khó khăn liên quan đến cơ chế, chính sáchthuế là một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thời giantập trung sức lực để tính toán, lo lắng cho những hợp đồng làm ăn và có cơhội tiếp cận các hợp đồng kinh doanh thuận lợi hơn, tiến tới góp phần nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, tính kịp thờitrong việc hỗ trợ của cơ quan thuế có thể xem là một trong những tiêu thứcđánh giá chất lượng, hiệu quả của dịch vụ thuế
2.1.5.2 Đối với người nộp thuế
Trang 38Như đã đề cập ở trên, một trong những mục tiêu mà dịch vụ thuế hướngđến (cả dịch vụ thuế công và dịch vụ thuế tư) đó là nhằm nâng cao tính tuânthủ của người nộp thuế Và như vậy, để đánh giá chất lượng và hiệu quả củadịch vụ thuế, đồng thời để tránh những trở ngại do đặc tính vốn có của dịch
vụ nói chung, chúng ta nhìn nhận vấn đề này thông qua việc đánh giá mức độtuân thủ của người nộp thuế Trên thế giới hiện nay các cơ quan thuế sử dụngkhá nhiều phương pháp đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ Tùy thuộc vàođiều kiện thực tế của mỗi quốc gia, cơ quan thuế có thể lựa chọn các giải pháp
đo lường cho phù hợp Dưới đây là một số phương pháp đang được áp dụngphổ biến tại nhiều nước phát triển trên thế giới
(i) Phương pháp thống kê
Trên cơ sở các dữ liệu thống kê sẵn có, cơ quan thuế xây dựng các chỉtiêu để phân tính và đánh giá Các chỉ tiêu sẽ được quan tâm sử dụng như: Tỷ
lệ số tờ khai đúng hạn; Tỷ lệ các khoản nợ thuế được thanh toán đúng hạn; Tỷ
lệ số tiền bị truy thu so với số đã kê khai với cơ quan thuế,
Phương pháp thống kê có ưu điểm là sử dụng được các dữ liệu sẵn có
và dễ dàng cho việc triển khai xây dựng các ứng dụng phục vụ cho hoạt độngphân tích của cơ quan thuế Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm
là các chỉ tiêu thống kê chỉ được xây dựng dựa trên những dữ liệu sẵn có nênchưa phản ánh được một cách tổng thể và chính xác tình hình tuân thủ củangười nộp thuế Chẳng hạn như việc đo lường với chỉ tiêu tỷ lệ số tờ khai đãnộp so với tổng số tờ khai phải kê khai (Với các quốc gia có quy định ngưỡngthu nhập phải kê khai thuế, rất khó kiểm soát được số lượng tờ khai phải kêkhai là bao nhiêu) Thông thường với các chỉ tiêu như này, cơ quan thuế cóthể đưa ra dự báo số lượng tờ khai phải kê khai thông qua các điều tra, khảosát hoặc dựa trên số liệu của các cơ quan có liên quan như ngân hàng, cơ quanchi trả thu nhập,
(ii) Phương pháp điều tra chọn mẫu
Trang 39Cơ quan thuế thường thực hiện lựa chọn ngẫu nhiên các tờ khai trong
dữ liệu của mình, trên cơ sở đó sẽ thực hiện kiểm tra, đánh giá về tờ khai cóđược nộp đúng hạn không, có được kê khai đầy đủ, trung thực không, tờ khai
có bị mắc các lỗi kê khai không, lỗi kê khai nào thường mắc phải, Để đảmbảo tính chính xác cho kết quả thực hiện, cơ quan thuế phải đảm bảo được 2yêu cầu: Việc lựa chọn tờ khai là hoàn toàn ngẫu nhiên và việc phân tích mẫulựa chọn phải thật kỹ lưỡng, triệt để Phương pháp này được cho là có tínhkhoa học và độ chính xác cao nhưng cũng có nhiều nhược điểm là chi phíthực hiện cho hoạt động thanh tra, kiểm tra này không nhỏ vì để đảm bảo tínhđại diện, số lượng mẫu được lựa chọn so với tổng thể phải tương đối lớn
(iii) Phương pháp phân tích báo cáo tài chính
Phương pháp này được áp dụng để dự báo khả năng xảy ra trường hợpmột hoặc một nhóm người nộp thuế không tuân thủ pháp luật thuế thông quaviệc so sánh, phân tích một số nội dung trên báo cáo tài chính của người nộpthuế, cụ thể như sau:
- Phân tích theo chiều ngang: So sánh các chỉ tiêu trên báo cáo tài chínhqua các năm, qua đó xác định được xu hướng thay đổi ổn định và tìm ranhững vấn đề rủi ro trong việc xác định số thuế phải nộp
- Phân tích theo chiều dọc: Xác định tỷ lệ của các chỉ tiêu trên báo cáovới tổng số, sau đó so sánh với mức bình quân chung của ngành để đánh giárủi ro có thể có đối với với từng chỉ tiêu trên báo cáo tài chính
Khi thực hiện phương pháp này, thường có sự khác biệt giữa số liệu thunhập trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp và thu nhập phải chịu thuế do cơquan thuế xác định Điều này xảy ra có thể do sự không đồng nhất giữa quanniệm về thu nhập giữa kế toán và thuế Tuy nhiên, đây cũng là một phươngpháp rất hiệu quả để đánh giá mức độ trung thực của người nộp thuế trongviệc kê khai thuế
(iv) Một số phương pháp đo lường khác
Trang 40- Điều tra, khảo sát: Cơ quan thuế có thể phối hợp với các đơn vị, tổchức khác thực hiện điều tra, khảo sát về các vấn đề liên quan đến việc thựchiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Phương pháp này có ưu điểm là tiếp cậnđược với một số lượng lớn người nộp thuế và cũng cho thấy được trình độhiểu biết, thái độ tuân thủ cũng như những vấn đề khó khăn của người nộpthuế để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế Tuy nhiên số liệu thu thập được và độtin cậy với các số liệu thu được qua điều tra, khảo sát phụ thuộc rất nhiều vàocách thức xây dựng các bảng câu hỏi và cách thức tổ chức điều tra, khảo sát.
- Quan sát trực tiếp: Trường hợp thu thập được những số liệu tin cậy vàxác định được khá chính xác số thuế phải nộp của người nộp thuế, cơ quanthuế sẽ thực hiện so sánh số dự tính với số kê khai của người nộp thuế đểđánh giá mức độ trung thực trong việc kê khai của họ Phương pháp này cótính xác thực rất cao, tuy nhiên khó có thể áp dụng rộng rãi được do khó khăn
về việc khai thác và kiểm soát các nguồn thông tin cung cấp
- Xây dựng mô hình phân tích: Thông qua việc tổng hợp các số liệu, chỉtiêu liên quan đến tính tuân thủ của người nộp thuế qua nhiều năm, cơ quanthuế có thể xây dựng các ngưỡng giới hạn đối với các số liệu, chỉ tiêu này.Các trường hợp số liệu kê khai, tính toán vượt các ngưỡng giới hạn này đượccoi là có nhiều nguy cơ không đảm bảo tuân thủ pháp luật thuế
2.2 Vai trò và sự cần thiết phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam
2.2.1 Vai trò của dịch vụ thuế
2.2.1.1 Nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế
Bên cạnh việc đảm bảo nguồn lực cho ngân sách quốc gia, một trongnhững mục tiêu của quản lý thuế cần hướng đến là nâng cao nhận thức và ýthức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Mặt khác, trong điều kiện nềnkinh tế không ngừng vận động và phát triển, vấn đề đặt ra cho công tác quản
lý thuế không chỉ riêng những người nộp thuế mà rộng lớn hơn đó là toàn bộ