1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một giải pháp ký âm cho nhạc truyền thống việt nam

23 575 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một giải pháp ký âm cho nhạc truyền thống Việt Nam
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 2

: ''

điều kiện, có

1 n

.v.v

nghệ nhân,

Trang 3

sát thực những đặc điểm, yêu cầu thể hiện của âm nhạc dân tộc

,

Trang 4

c

Trang 5

: -

Trang 7

CÁC PHƯƠNG THỨC KÝ ÂM CỔ TRUYỀN

TRONG LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM

Theo các tư liệu lịch sử từ những thời kỳ phong kiến trước kia để lại và kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam như GS.TS.Trần Văn Khê, GS-Nhạc sĩ Tô Vũ, PGS.TS Nguyễn Thụy Loan.v.v âm nhạc thành văn Việt Nam(bộ phận âm nhạc có sự ghi chép trên bản phổ) đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV

Theo kết quả khảo sát, nghiên cứu của chúng tôi đã được trình bày trong công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ “Chữ nhạc cổ truyền Việt Nam” (nghiệm thu năm 2002)

mặc dù chưa tìm được đủ những cứ liệu cụ thể để chứng minh nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy, việc ký âm trong âm nhạc cổ truyền ở nước ta có thể đã có

từ thời Lý – Trần (khoảng thế kỷ XI đến thế kỷ XIV)

Thời kỳ đầu trong quá trình hình thành các lối ký âm cổ truyền, người Việt Nam đã tiếp thu lối ký âm bằng Công Xê phổ của Trung Hoa, trong đó sử dụng chữ Hán để làm ký hiệu ghi cao độ Với tinh thần tự cường dân tộc và những hiểu biết về sự khác biệt giữa bản chất âm nhạc dân tộc Việt Nam với

âm nhạc dân tộc Trung Hoa, người Việt nam đã biết chọn lọc và từng bước Việt hóa để tìm ra những cách ghi phù hợp cho âm nhạc của mình Trên cơ sở

đó, những phương thức ký âm cụ thể cho nhạc cụ Dây, nhạc cụ Hơi, nhạc cụ

Gõ và cho Thanh nhạc đã ra đời

1.1.Phương thức ký âm cổ truyền cho nhạc cụ Dây

Các cách ký âm cổ truyền cho nhạc cụ Dây đều sử dụng kiểu Văn tự phổ (Letter

Notation), trong đó dùng chữ Hán, chữ Nôm làm ký hiệu ghi cao độ, với hệ thống tên âm Hò(合) Xư (四) Xang (上) Xê (尺) Công (工) Liu (六) U (五)

Về trình thức bản phổ, từ thế kỷ XIX trở về trước, các ký hiệu cao độ được viết theo hàng dọc với thứ tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, giống như cách viết văn tự của chữ Hán Khoảng đầu thế kỷ XX trở đi có thêm lối viết theo chiều ngang trên dòng kẻ hoặc biểu đồ, đọc từ trái sang phải và lối viết theo chiều ngang không dùng dòng kẻ hoặc biểu đồ nhưng có kèm theo phiên

âm bằng chữ quốc ngữ cách đọc các tên âm ký hiệu bằng chữ Hán và chữ Nôm Các bản nhạc cổ truyền được ký âm theo phương pháp ký âm lòng bản, tức là chỉ ghi phần giai điệu cốt lõi, tập trung biểu thị những yếu tố chính của tác phẩm; còn những yêu cầu chi tiết khác như :âm tô điểm, sắc thái, dấu lặng, trường độ chính xác của từng âm.v.v thì do người biểu diễn tùy cơ mà

xử lý sao cho hợp với hơi, điệu phong cách vùng miền,phong cách thể loại Trong lối viết ký hiệu cao độ theo chiều dọc, không hề có ký hiệu chỉ trường

độ và loại nhịp mà chỉ đánh dấu vị trí phách mạnh ở đầu nhịp bằng một dấu

Trang 8

huyền viết ở bờn phải, phớa dưới ký hiệu cao độ của õm nằm ở phỏch mạnh, hoặc chừa ra một khoảng trống ở phớa dưới ký hiệu cao độ nằm ở phỏch mạnh Cũng cú trường hợp người ta vừa ghi dấu huyền vừa chừa khoảng trống để đỏnh dấu phỏch mạnh

Trong lối viết theo chiều ngang khụng cú dũng kẻ hoặc biểu đồ, phỏch mạnh được đỏnh dấu bằng một dấu khuyờn (vũng trũn nhỏ) viết ở phớa dưới, bờn phải ký hiệu cao độ của õm nằm ở phỏch mạnh Cũn lối viết theo chiều ngang trờn biểu đồ gồm những ụ vuụng ghộp lại (mồi dũng gồm 4 ụ vuụng) thỡ phỏch mạnh được đỏnh dấu bằng một dấu khuyờn viết ở gúc trỏi, phớa trờn của mỗi ụ vuụng Ngoài ra, cũng đó cú một số ký hiệu chỉ kỹ thuật biểu diễn như : phi, nhấn, xắp.v.v được viết ở phia dưới ký hiệu cao độ

1.2 Phương thức ký õm cổ truyền cho nhạc cụ Hơi

Cú 2 loại chớnh, chủ yếu dựng để ký õm cho Kốn dăm kộp(kốn Búp, kốn Bầu…):

- Loại thứ nhất : Sử dụng chữ Hỏn Nụm làm ký hiệu ghi cao độ theo hệ thống tờn õm Hũ(合)Xư (四)Xang (上) Xờ (尺)Cụng (工)Liu(六) U(五).Cỏch ghi của loại này giống như cỏch ký õm cho nhạc cụ Dõy viết theo hàng dọc

- Loại thứ hai : Sử dụng chữ Hỏn Nụm để ghi cao độ bằng cỏc từ tượng thanh ở vần

“ H” Tuy nhiờn, do ngữ điệu và một số từ ở mỗi địa phương khỏc nhau, nờn mỗi vựng lại sử dụng một số từ khỏc nhau

+ Cỏc nhạc sĩ ở miền Nam hay dựng cỏc chữ như :

-Chữ Hán: 亥 吁 呵

-Cách đọc: Hô họi hu ha hi

-Ứng với các âm: Hò Xự Xang Xê Cống

-Ứng với cao độ: Đồ rê pha xon la

+ Cỏc nhạc sĩ ở miền Trung hay dựng cỏc chữ như :

- Chữ Hán: 合 何 夏 希 吁 呼

- Cách đọc: hù hò ha hê hy hu hô

- Ứng với cỏc õm: Cồng Hũ Xự xang Xờ Cụng Liu

- Ứng với cao độ: Là Đồ Rờ Pha Xon La Đụ

Việc đỏnh dấu phỏch mạnh ở đầu nhịp cú 3 qui ước:

- Khụng đỏnh dấu phỏch mạnh, để cho người biểu diễn tự xử lý

- Đỏnh dấu phỏch mạnh bằng một dấu huyền (hoặc cú thể là dấu phảy) viết ở phớa dưới, bờn phải ký hiệu ghi cao độ nằm ở phỏch mạnh

- Đỏnh dấu phỏch mạnh bằng một gạch dọc viết ở phớa dưới ký hiệu cao độ nằm ở phỏch mạnh

Trang 9

1.3 Phương thức ký âm cổ truyền cho nhạc cụ Gõ

Khi ký âm cho nhạc cụ Gõ(chủ yếu là ký âm cho Trống), người ta đã vận

dụng luật bằng trắc cùng với những qui luật về dấu giọng, ngữ điệu trong tiếng Việt để tạo ra qui ước ghi tiếng trống Trong cách ký âm cổ truyền cho nhạc cụ gõ, phân chia thành 2 loại khác nhau: Ký âm cho nhạc cụ gõ trong tác phẩm khí nhạc và ký âm cho nhạc cụ gõ trong ban nhạc đệm cho hát

1.3.1.Ký âm cho nhạc cụ gõ trong tác phẩm khí nhạc

Sử dụng một loại nhạc phổ kết hợp giữa tấu pháp phổ (Tablature) và Động

cơ phổ(Ecphonetic Notation), trong đó dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm ghi các

từ tượng thanh để biểu thị âm sắc và kỹ thuật diễn tấu (vị trí gõ, cách gõ…), cùng với một số mô hình tiết tấu đặc trưng trong từng thể loại, làn điệu mà các nhạc công đã thuộc lòng trong trí nhớ Phách mạnh được đánh dấu bằng dấu phảy viết ở phía dưới, bên phải ký hiệu âm thanh hoặc để chừa ra một khoảng cách ở vị trí phách mạnh đầu nhịp Cách ghi cụ thể như sau :

- Dùng những từ không dấu như: tung, tang, tong, tinh, ding, rang… để biểu thị

âm thanh phát ra tiếng “tung” do gõ vào dìa mặt trống lớn hoặc gõ vào giữa mặt trống nhỏ

- Dùng những từ mang dấu sắc như : giá, ký, cá…để biểu thị âm thanh phát ra tiếng “cắc” do gõ vào tang trống, gõ phách hoặc gõ Song loan

- Có những từ chỉ rõ cả âm sắc, kỹ thuật diễn tấu và mô hình tiết tấu, chẳng hạn như : tùng hoặc tòng (從)- đánh từng tiếng chậm hoặc vừa phải vào giữa mặt trống, phát ra âm “tùng”; Tòng kình (從 惊)- lần lượt đánh 2 dùi lên mặt trống

dùi trái trước, dùi phải kế tiếp sau, phát ra 2 âm “tùng tùng” với tiết tấu: 

 ; Cà rồng kình (了奄 惊) – đánh vào giữa mặt trống, phát ra 3 tiếng, 2 tiếng nhah, 1 tiếng chậm, theo mô hình tiết tấu :  .v.v

1.3.2 Ký âm cho nhạc cụ gõ trong tác phẩm thanh nhạc (nhạc cụ gõ trong ban nhạc đệm cho hát)

- Phần lời ca được viết bằng chữ Hán Nôm theo hàng dọc, đọc theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái rồi điền vào đó những ký hiệu biểu thị phần đệm do nhạc cụ gõ đảm nhiệm

- Để biểu thị vị trí có gõ phách hoặc song loan, người ta dùng một dấu khuyên viết ở bên phải hoặc phía dưới chữ ghi ca từ

- Để biểu thị vị trí có đánh trống, người ta dùng dấu chấm đỏ hoặc dấu phảy ghi ở bên phải hoặc phía dưới ca từ Ghi 1 dấu là đánh 1 tiếng, 2 dấu là 2 tiếng…

- Để ký hiệu một hồi trống, người ta ghi một hàng gồm nhiều dấu chấm.v.v

1.4 Phương thức ký âm cổ truyền cho tác phẩm thanh nhạc

Có 6 cách ghi cơ bản cho tác phẩm thanh nhạc:

Trang 10

- Cách 1 : Chỉ ghi phần lời ca, không ghi phần nhạc (phần nhạc được thuộc theo cách truyền khẩu)

- Cách 2 : Chỉ ký âm phần nhạc (lời ca được thuộc theo cách truyền khẩu)

- Cách 3: Ghi nhạc kèm theo lời Nhạc ghi bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm viết

to, với hệ thống âm Hò Xư Xang…Lời ca ghi bằng chữ nhỏ hơn, viết ở phía dưới ký hiệu ghi nhạc

- Cách 4 : Ghi toàn bộ phần nhạc trước rồi ghi phần lời sau

- Cách 5 : Ghi một đoạn lời rồi đến một đoạn nhạc, 1 trổ thơ rồi đến 1 trổ nhạc

- Cách 6 : Ghi 1 câu lời ca rồi đến 1 câu nhạc

Tiểu kết chương 1:

- Từ thuở ban đầu tiếp thu lối ký âm bằng Công Xê phổ của Trung Hoa rồi từng bước đổi mới, cải tiến, người Việt Nam đã tạo ra được các lối ký âm cho từng loại nhạc cụ của mình trong thời kỳ âm nhạc cổ truyền(từ 1945 trở về trước)

- Nhìn chung, các phương thức ký âm cổ truyền cho nhạc cụ Dây, nhạc cụ Hơi hay cho thanh nhạc cũng đều có một nguyên tắc chung là: sử dụng chữ Hán Nôm làm ký hiệu để ghi cao độ theo hệ thống tên âm Hò Xư Xang Xê Công Cách viết có thể theo hàng dọc từ trên xướng dưới, từ phải sang trái; có thể viết theo hàng ngang có hoặc không có dòng kẻ hay biểu đồ.Trong hầu hết các trường hợp đều rất ít hoặc không có ký hiệu chỉ trường độ của các âm mà chỉ đánh dấu các phách mạnh ở đầu nhịp bằng cách ghi một dấu huyền ở phía dưới, bên phải ký hiệu cao độ của âm nằm ở vị trí phách mạnh, hoặc chừa ra một khoảng trống ở phía dưới ký hiệu cao độ nằm ở phách mạnh, cũng có khi vừa chừa khoảng trống vừa ghi dấu huyền

- Trong phương thức ký âm cho nhạc cụ Hơi, ngoài cách dùng chữ Hán Nôm

để ghi cao độ như trong nhạc phổ cho nhạc cụ Dây, còn có cách dùng chữ Hán Nôm với các từ tượng thanh ở vần “H” như :Hò Họi Ha Hu Hô Hy.v.v.để ghi cao độ

- Trong cách ký âm cổ truyền cho nhạc cụ Gõ, đã biết cách vận dụng qui luật bằng trắc và dấu giọng để tạo ra một kiểu ký âm kết hợp giữa tấu pháp phổ (tablature) và Động cơ phổ(ecphonetic notation) Nội dung cơ bản trên bản phổ của nhạc cụ Gõ(chủ yếu là cho Trống) là biểu thị âm sắc và kỹ thuật diễn tấu

- Trong phương thức ký âm cho thanh nhạc, vẫn sử dụng chữ Hán Nôm để ghi

ca từ và giai điệu nhưng chia thành 6 cách ghi khác nhau: Ghi lời không ghi nhạc; ghi nhạc không ghi lời; ghi một chữ lời kèm theo một chữ nhạc; ghi hết phần lời rồi đến phần nhạc; ghi một đoạn lời một đoạn nhạc, một câu lời một câu nhạc

- Chỉ có các bản ký âm cho nhạc cụ dây là có một số ký hiệu chỉ kỹ thuật biểu diễn(ví dụ như : rung, nhấn, mổ…) còn lại là hầu như chưa sử dụng được ký hiệu chỉ kỹ thuật biểu diễn cũng như sắc thái và các yêu cầu khác

Trang 11

- Do chỉ ký âm lòng bản nên trên bản phổ có nhiều yếu tố chưa được rõ ràng(nhịp, tiết tấu, sắc thái, cường độ…) vì vậy, để có thể hình dung và trình diễn được tác phẩm trong bản ký âm, nhất thiết phải được chỉ dẫn cụ thể hoặc phải được nghe người khác trình diễn qua tác phẩm trong bản phổ

- Các phương thức ký âm cổ truyền trong lịch sử chủ yếu là dùng trong nhạc cung đình

Chương 2

CÁC KHUYNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU, CẢI TIẾN

CÁCH KÝ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

Có 3 khuynh hướng chính: Cải tiến từ lối ký âm cổ truyền; kết hợp lối ký âm

cổ truyền với lối ký âm Phương Tây; cải tiến từ lối ký âm Phương Tây

2.1 Khuynh hướng cải tiến từ lối ký âm cổ truyền

Chia làm 2 dạng, trong đó sử dụng chữ quốc ngữ ghi tên âm theo hệ thống

Hò Xư Xang; đánh dấu phách mạnh bằng cách gạch dưới tên âm hoặc cho tên

âm vào trong ngoặc đơn Các con số chỉ ngón tay và ký hiệu chỉ kỹ thuật biểu diễn được viết ở trên tên âm

- Dạng thứ nhất : Không sử dụng khuông nhạc hoặc biểu đồ(có 2 cấp độ)

- Dạng thứ hai : Có sử dụng khuông nhạc hoặc biểu đồ

2.2 Khuynh hướng kết hợp lối ký âm cổ truyền với lối ký âm Phương Tây

Có 2 phương pháp cơ bản:

2.2.1.Phương pháp thứ nhất : Ghi cao độ theo kiểu dân tộc (có cải tiến),

ghi trường độ và nhịp theo kiểu Phương Tây(có cải tiến), đọc bản ký âm theo kiểu dân tộc

2.2.2 Phương pháp thứ hai : ghi cả cao độ và trường độ theo kiểu Phương

Tây(có cải tiến), đọc bản ký âm bằng tên âm và cao độ kiểu dân tộc

2.3 Khuynh hướng cải tiến từ lối ký âm Phương Tây

Thực ra, cách làm cơ bản của khuynh hướng này là sử dụng lối ký âm

Phương Tây để ghi cao độ, trường độ, tiết tấu, nhịp phách; kết hợp thêm những ký hiệu riêng do các nhạc sĩ Việt Nam sáng tạo ra để ghi chép những cao độ non già tinh tế và những kỹ thuật diễn tấu đặc thù trong âm nhạc cổ truyền dân tộc như : rung, nhấn, mổ, vuốt, á, phi

Tiểu kết chương 2: Qua nội dung đã trình bày ở chương 2 cho thấy, con đường đi tìm một lối ký âm phù hợp cho nhạc truyền thống Việt Nam thực sự không phải là dễ Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân đẫn đến những vấn đề bất cập còn chưa được giải quyết thỏa đáng thì có nhiều, nhưng trong đó có một khâu quan trọng mà các tác giả ấy đã chưa chú ý quan tâm thấu đáo ngay từ đầu đó là, cần phải xác định rõ mục tiêu và phương hướng cũng như biện pháp thực hiện công việc này Trước hết là phải tìm cho được những yêu cầu của việc ký âm nhạc truyền thống trong thời đại ngày nay là như thế nào ?

Trang 12

Cần cái gì và không cần cái gì ? Để đạt được phương châm “Dân tộc, khoa học và đại chúng” thì lối ký âm ấy phải có nội dung và hình thức ra sao ? Trên cơ sở đó vạch ra phương hướng và biện pháp thực hiện cụ thể, phù hợp thì mới đạt được kết quả có ý nghĩa thiết thực

Chương 3

ĐỀ XUẤT MỘT PHƯƠNG THỨC KÝ ÂM ĐỔI MỚI

CHO NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

3.1 Xác định mục tiêu và phương hướng việc tạo dựng một phương thức

ký âm đổi mới cho nhạc truyền thống Việt Nam

3.1.1 Mục tiêu : Phương thức ký âm phù hợp dùng cho nhạc truyền thống Việt Nam ngày nay cần phải đạt được những mục tiêu sau đây

- Phải tạo ra được những bản ký âm phản ánh trung thành, đúng yêu cầu về

cao độ, trường độ, tiết tấu, nhịp, tốc độ, sắc thái, cường độ và kỹ thuật biểu diễn theo phương châm dân tộc – khoa học – đại chúng

- Có đủ điều kiện để ghi chép các tác phẩm khí nhạc cũng như thanh nhạc ,

từ một bè đến nhiều bè thuộc tất cả các thể loại trong âm nhạc truyền thống Việt Nam

- Đạt được sự thống nhất, đồng bộ, không tạo ra sự chồng chéo, nhầm lẫn dù

là sử dụng cho nhu cầu trong nước hay đem truyền bá ra nước ngoài

- Hệ thống các ký hiệu sử dụng để ký âm có thể đưa vào mã hóa để tạo tác

và in ấn bản phổ trên máy vi tính

3.1.2 Phương hướng : Phương thức ký âm đổi mới dùng ghi chép nhạc

truyền thống mà chúng tôi đề xuất được xây dựng theo phương hướng sau đây

- Phải đáp ứng được những yêu cầu sử dụng cũng như phù hợp với điều kiện,

hoàn cảnh của xã hội hiện nay

- Vận dụng được khả năng ghi chép chi tiết, chính xác của lối ký âm Phương Tây để khắc phục sự thiếu cụ thể, thiếu rõ ràng của lối ký âm Phương Đông

và lối ký âm cổ truyền Việt Nam trong cách thể hiện trường độ, tiết tấu, nhịp phách

- Đúc kết, chọn lọc và vận dụng có sáng tạo cách thể hiện cao độ trong các lối ký âm Phương Đông và Việt Nam (không theo nguyên lý của âm nhạc Phương Tây) để khắc phục những yếu tố cứng nhắc, những yếu tố chưa tương thích trong cách sử dụng nốt nhạc Phương Tây trên khuông nhạc 5 dòng kẻ để ghi chép, thể hiện cao độ kiểu Việt Nam

- Cần phải bổ sung thêm nhiều ký hiệu để hỗ trợ cho việc thể hiện những cao

độ, trường độ, cường độ, sắc thái, kỹ thuật biểu diễn…mà trong lối ký âm phương Tây không có, hoặc có nhưng không phù hợp khi sử dụng để ghi chép nhạc truyền thống Việt Nam

Ngày đăng: 04/12/2013, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w