1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum

195 317 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Tác giả Bùi Ngọc Quang
Người hướng dẫn PGS.TS Lâm Bá Nam, TS. Trần Văn Hà
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Nhân học Văn hóa
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 11,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Viện HÀN LÂM khoa học xã hội việt nam

Học viện khoa học xã hội

Bùi Ngọc Quang

Hôn nhân và gia đình

của người brâu ở làng đắk mế

xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum

luận án tiến sĩ Nhân học

Hà Nội, 2013

Trang 2

Viện HÀN LÂM khoa học xã hội việt nam

Học viện khoa học xã hội

Bùi Ngọc Quang

Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở làng Đắk Mế

xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

PGS.TS Lâm bá Nam TS Trần Văn Hà

Hà Nội , 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và nội dung này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 8 năm 2013

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Bùi Ngọc Quang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận án Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, tôi luôn được sự quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Học viện Khoa học xã hội, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các đồng nghiệp, bạn bè và người dân làng Đắk Mế Tác giả luận án xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Ban Lãnh đạo khoa Dân tộc học, các thầy cô giáo, cán bộ, viên chức của Học viện, đặc biệt là các thầy hướng dẫn khoa học – PGS.TS Lâm Bá Nam,

TS Trần Văn Hà đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Lãnh đạo Văn phòng Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Ban Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, các đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện về thời gian, tư liệu và những góp ý quý báu để tôi hoàn thành luận án Tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến người Brâu làng Đắk Mế đã cưu mang, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong cả quá trình dài đến nghiên cứu tại cơ sở từ những năm 1995 đến nay, để tôi có đầy đủ thông tin, tư liệu phục vụ cho học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Trân trọng

Hà Nội, tháng 8 năm 2013

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Bùi Ngọc Quang

Bùi Ngọc Quang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI

BRÂU Ở TỈNH KON TUM

5

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5 1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 10 1.3 Khái quát về tỉnh Kon Tum và tộc người Brâu 25

2.1 Quan niệm của người Brâu về hôn nhân 39 2.2 Nguyên tắc trong hôn nhân 44 2.3 Tính chất của hôn nhân 50 2.4 Các nghi thức trong hôn nhân 50 2.5 Các trường hợp hôn nhân đặc biệt 57 2.6 Các trường hợp ly hôn 64

3.1 Phân loại và cấu trúc gia đình Brâu 67 3.2 Quy mô gia đình Brâu 71 3.3 Chức năng của gia đình Brâu 74 3.4 Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Brâu 81 3.5 Nghi lễ gia đình 88

Trang 6

Tiểu kết chương 3 92 CHƯƠNG 4 BIẾN ĐỔI VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI BRÂU 93 4.1 Biển đổi về hôn nhân 93 4.2 Biến đổi về gia đình 102 4.3 Nguyên nhân của biến đổi 113

Danh mục công trình khoa học đã công bố của tác giả 141

Trang 7

12 VHDT Văn hoá dân tộc

13 KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình

14 Tr Trang

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ

Bảng số 3.1 Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp 86 Bảng số 3.2 So sánh số lượng công việc nhà phải làm giữa chồng và vợ 87 Bảng số 4.1 Hôn nhân hỗn hợp tộc người giữa người Brâu với các dân

tộc khác trong nước và nước ngoài (năm 1995)

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ Dân số Brâu qua các năm 128 2.Tháp tuổi Tháp tuổi của người Brâu 129

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Dòng phụ hệ 19

Sơ đồ 1.2 Dòng mẫu hệ 19

Sơ đồ 1.3 Quá trình di cư của người Brâu 27

Sơ đồ 1.4 Cấu trúc làng Brâu truyền thống 30

Sơ đồ 1.5 Cấu trúc làng Brâu năm 2010 33

Sơ đồ 1.6 Hệ thống nghi lễ vòng đời người 35

Sơ đồ 1.7 Hệ thống nghi lễ sản xuất cây lúa rẫy 35

Sơ đồ 1.8 Hệ thống hành động của lễ /lễ hội 36

Sơ đồ 2.1 Hôn nhân con chú con bác 45

Sơ đồ 2.2 Hôn nhân con chú con bác 46

Sơ đồ 2.3 Hôn nhân anh em vợ 58

Sơ đồ 2.4 Hôn nhân chị em chồng 59

Sơ đồ 2.5 Trường hợp đa phu 60

Sơ đồ 2.6 Trường hợp 3 đời chồng 62

Sơ đồ 2.7 Trường hợp lấy 2 đời vợ 62

Sơ đồ 2.8 Trường hợp lấy 3 đời vợ 63

Sơ đồ 3.1 Cấu trúc tiểu gia đình Brâu 68-69

Sơ đồ 3.2 Cấu trúc gia đình Nàng Pan 70

Sơ đồ 3.3 Gia đình ông Thao Pem 72

Sơ đồ 3.4 Mối quan hệ trong gia đình theo chiều dọc 83

Sơ đồ 3.5 Mối quan hệ trong gia đình theo chiều ngang 83

Sơ đồ 4 Các trường hợp ly hôn trong gia đình nàng Pan 100

Trang 11

MỞ ĐẦU

Trang 12

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Brâu là một trong số 16 tộc người (La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô

Lô, Mảng, Cơ Lao, Bố Y, Cống, Si La, Pu Péo, Ơ Đu, Rơ Măm, Brâu) ở nước ta có

dân số dưới 10.000 người (Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam ngày 1/4/2009) Những tộc người này cư trú chủ yếu tại các tỉnh biên giới (Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Đắk Lắk, Kon Tum), thuộc diện khó khăn về phát triển

về kinh tế - xã hội, quy mô dân số và chất lượng dân số đang đặt ra nhiều vấn đề đối với sự phát triển bền vững Những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có một số chính sách đặc biệt để phát triển đối với các tộc người này

Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam ngày 1/4/2009, dân số Brâu của cả nước là 397 người, chủ yếu cư trú tập trung tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Brâu là một trong các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me phía nam Theo tài liệu điền dã, cộng đồng người Brâu làng Đắk

Mế có nguồn gốc ở Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, một bộ phận nhỏ người

Brâu di cư sang Việt Nam sinh sống khoảng 150-160 năm (từ 6-7 thế hệ) Từ đó

đến nay, người Brâu sinh sống trong khu vực ngã ba biên giới của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia Tại địa bàn ngã ba Đông Dương này, ngoài Brâu còn có một số tộc người khác cùng sinh sống như Xơ-đăng, Giẻ-Triêng, Rơ-măm, Gia-rai,

và sau này các tộc người Tày, Mường, Thái, di cư đến Đây là những tộc người

có mối quan hệ về kinh tế, văn hóa - xã hội trực tiếp với người Brâu, đặc biệt là từ những năm sau đổi mới (1986) đến nay

Cùng với sự biến đổi kinh tế, văn hóa - xã hội ngày càng mạnh mẽ, nhất là từ tháng 11 năm 2005, khi Chính phủ Quyết định thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y thuộc xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, thì khu vực sinh sống của tộc người Brâu từ một vùng rừng núi hoang vu đã trở thành khu kinh tế thương mại với tốc độ đô thị hóa diễn ra hết sức nhanh chóng Điều này đã tác động trực tiếp đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa của các tộc người trong khu vực ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Campuchia nói chung, người Brâu nói riêng Chính tác động này đã dẫn tới sự biến đổi văn hóa truyền thống của

Trang 13

người Brâu, trong đó hôn nhân và gia đình là lĩnh vực biến đổi đáng kể nhất

Nghiên cứu hôn nhân và gia đình các tộc người thuộc ngôn ngữ Môn-Khơme vùng Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung và người Brâu nói riêng có nhiều ý nghĩa

về khoa học, vừa góp phần tìm hiểu những vấn đề quan hệ tộc người trong nước và xuyên biên giới, vừa góp phần nhìn nhận sự biến đổi của các hình thức hôn nhân và gia đình; đồng thời cung cấp thêm nguồn tư liệu quý và hiểu biết về các tộc người thuộc nhóm ngữ hệ Môn – Khơ me Mặt khác, nghiên cứu này còn làm cơ sở khoa học tham góp cho việc hoạch định những chính sách xã hội cụ thể về dân số và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), xây dựng quy mô gia đình và văn hóa gia đình, Trên

cơ sở đó, Đảng và Nhà nước có những quy định phù hợp với đặc điểm riêng đối với những tộc người có dân số ít, đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Bản thân tôi đã có thời gian công tác trong ngành văn hóa hơn 25 năm tại tỉnh Kon Tum, vừa làm công tác quản lý văn hóa ở địa phương, vừa tham gia nghiên cứu, sưu tầm về văn hóa các tộc người và đã tham gia viết một số công trình nghiên cứu về văn hóa các tộc người ở Kon Tum, sưu tầm và biên tập một số sử thi Tây Nguyên Từ kết quả ban đầu, với lòng say mê khoa học, gắn bó với con người và lịch sử của

vùng đất này, tôi đã quyết định chọn đề tài Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở

làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum làm luận án tiến sĩ, chuyên

ngành nhân học văn hóa

2 Mục tiêu nghiên cứu

Một là, tìm hiểu về hôn nhân và gia đình truyền thống của người Brâu và những

biến đổi qua các thời kỳ trước và sau năm 1975, đặc biệt là sau khi thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y từ năm 2005 đến thời điểm nghiên cứu

Hai là, chỉ rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự biến đổi và xu

hướng hôn nhân và quan hệ gia đình của tộc người này trong bối cảnh phát triển kinh tế

- xã hội, giao tiếp văn hóa với các tộc người ở Tây Nguyên và các nước láng giềng

Ba là, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý tham khảo trong việc hoạch định chính

sách, xây dựng các giải pháp khả thi nhằm phát triển dân số, chất lượng dân số, gắn với bảo tồn, xây dựng văn hóa gia đình truyền thống của người Brâu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu

Trang 14

Trên cơ sở tìm hiểu nguồn gốc lịch sử, cảnh quan cư trú, đặc điểm dân cư, dân

số và điều kiện kinh tế- xã hội của người Brâu tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, luận án tập trung nghiên cứu về hôn nhân và gia đình, phân tích chức năng, qui mô, cấu trúc của gia đình tộc người Brâu; những quy tắc, các hình thức, quan hệ hôn nhân và những biến đổi của nó dưới tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội mới Đồng thời, luận án bước đầu so sánh với tình trạng hôn nhân và gia đình của tộc người này trong mối liên hệ với người Brâu ở Lào và Campuchia

Về không gian: Người Brâu tập trung chủ yếu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, có quan hệ xuyên biên giới với người Brâu ở Lào và Campuchia, nên tôi đã lựa chọn nơi đây làm mẫu nghiên cứu

Do những biến đổi về đơn vị hành chính và điều kiện lịch sử cũng như quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, vì vậy luận án cũng lưu ý đến các mốc thời gian: Trước năm 1975, từ 1975 đến 1991 Đây là giai đoạn sau khi di cư sang Việt Nam, cộng đồng người Brâu tụ cư trong làng Đắk Mế, có kết cấu truyền thống rất chặt chẽ Từ năm 1991 đến 2004, nhất là sau khi làng Đắk Mế bị cháy trụi (tháng 4 năm 1991), kết cấu làng truyền thống bị phá vỡ hoàn toàn, dẫn đến sự thay đổi cơ bản về kinh tế, văn hóa - xã hội của cộng đồng người Brâu Từ tháng 11 năm 2005 đến nay, khi cửa khẩu Quốc tế Bờ Y chính thức đi vào hoạt động thì cộng đồng người Brâu nơi đây chịu sự tác động trực tiếp, toàn diện về mọi mặt kinh tế, văn hóa - xã hội của quá trình hội nhập, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các tộc người trong khu vực, quốc gia

và cả với bên kia biên giới

4 Nguồn tư liệu và tài liệu của luận án

Để hoàn thành luận án, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu và tài liệu chủ yếu sau đây:

Tư liệu do chính tác giả thu thập được qua nhiều đợt điền dã dân tộc học trong quá trình nghiên cứu thực tế tại xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Đáng kể nhất là các đợt nghiên cứu dài ngày vào các năm 1995, 1997, 2000, 2004 và mới đây nhất là tháng 4 năm 2011

Tài liệu thứ cấp về địa lý, dân cư, các loại báo cáo, số liệu thống kê liên quan đến luận án lưu trữ tại địa phương

Trang 15

Luận án cũng kế thừa nguồn tài liệu đã công bố trong các công trình nghiên cứu, bài viết của các học giả trong và ngoài nước Đặc biệt, kế thừa và phát triển kết

quả nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ và công trình đã công bố trong cuốn Hôn nhân

và gia đình của tộc người Brâu của chính tác giả

Chương 4 Biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Brâu

Chương 5 Kết quả và bàn luận

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI BRÂU Ở TỈNH KON TUM

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình là vấn đề xã hội rộng lớn Theo Friedrich Engels, lịch sử nghiên cứu hôn nhân và gia đình bắt đầu từ năm 1861, khi Johann Jakop Bachofen

viết tác phẩm Mẫu quyền, và thiết chế xã hội đầu tiên chỉ có thể là mẫu quyền, về sau mẫu quyền mới nhường chỗ cho phụ quyền Năm 1866, qua Nghiên cứu lịch sử cổ

đại - Hôn nhân nguyên thủy, Mc.Lennan đã khám phá ra thiết chế ngoại hôn – một

loại hình thiết chế hôn nhân mang tính phổ biến của nhân loại Bên cạnh đó, phải kể

đến Morgan Louis Henry - nhà dân tộc học Mỹ, khi nghiên cứu về Xã hội cổ đại

(Ancient Society, Washington 1877), đã dựng lại lịch sử hôn nhân và gia đình của

loài người thông qua sáu hình thái Tác phẩm Nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu

và của nhà nước của Friedrich Engels là những đúc kết kinh nghiệm và tổng kết

những thành tựu của nền khoa học thế giới đương thời Dựa trên nền tảng những thành tựu khoa học này, nhiều học giả đã đi sâu nghiên cứu các quan điểm, lý thuyết

về hôn nhân và gia đình, hay các hình thái hôn nhân của từng tộc người cụ thể Đặc biệt trong những thập niên gần đây đã được nhiều ngành khoa học, nhiều nhà khoa học như: Nhân học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học, ở các nước Tây Âu, Châu

Mỹ và Châu Á tiếp cận và đã đạt được những thành tựu về mặt lý thuyết, phương pháp luận nghiên cứu Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về hôn nhân và gia đình, ngoài các luận văn khoa học, các bài viết trên tạp chí nghiên cứu khoa học, sách xuất bản cũng có không ít luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ về dân tộc học, nhân học văn hóa tìm hiểu về gia đình, hôn nhân của các tộc người [8, 20, 34, 55, 63, 76, 89, 93,…] Đó

là chưa kể đến những luận án phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ) của các nghiên cứu sinh Việt Nam viết về các tộc người ở nước ta vào những năm 80 của Thế kỷ XX được bảo vệ tại nước ngoài, hầu hết ở Liên Xô cũ

1.1.1 Nghiên cứu của học giả nước ngoài

Có thể nói, cho đến thời điểm nghiên cứu, những tài liệu mà tác giả tiếp cận được những công trình của các học giả viết về người Brâu ở Đông Dương nói chung

và Việt Nam nói riêng, đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân và gia đình còn rất ít ỏi Duy

nhất một công trình bằng tiếng Anh đề cập về người Brâu là tác phẩm The Ethnics

Trang 17

Groups in Lao P.D.R (Các dân tộc thiểu số ở Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân

Lào), xuất bản năm 2005 của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Lào Trong công trình này, các tác giả đã giới thiệu khái quát nguồn gốc lịch sử nghi lễ hôn nhân và gia đình của người Brâu như sau:

“Trai gái Brâu được tự do trong việc chọn người tình Người Brâu theo chế

độ phụ hệ, con trai có quyền và trọng trách hỏi cô gái về làm vợ Lễ cưới được tổ chức tại nhà cô dâu, sau lễ cưới người chồng phải ở lại nhà của người vợ trong ba năm, trước khi làm lễ đưa vợ về ở hẳn nhà mình Sau khi đưa vợ, con về nhà mình, nếu trong gia đình không có một ai ốm nặng thì họ

có thể ở đó với thời gian vô hạn định, nếu trong gia đình có người ốm nặng hoặc khi không khí gia đình không được vui vẻ, thì người chồng có thể đưa

cả gia đình mình trở lại nhà vợ Nếu người anh trai mất, người em có thể lấy người chị dâu làm vợ Tuy nhiên, nếu người em trai mất thì người anh trai lại không thể lấy người em dâu làm vợ”[136, tr.154-155]

Mặc dù, cuốn sách chỉ nêu sơ lược về hôn nhân và gia đình của tộc người này, song đây là những tài liệu hiếm hoi, rất hữu ích để so sánh về hôn nhân và gia đình của người Brâu ở Lào với người Brâu ở Việt Nam mà tác giả chưa có cơ hội đến nghiên cứu

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam

Một trong những công trình nghiên cứu liên quan đến người Brâu đầu tiên của

các nhà nghiên cứu Việt Nam là cuốn Các tộc người tỉnh Gia Lai - Công Tum do Đặng

Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982, phần liên quan đến tộc người Brâu, tác giả Ngô Vĩnh Bình và Trần Mạnh Cát đề cập đến hôn nhân và gia đình Các tác giả viết:

“Trong xã hội Brâu, trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do yêu đương

và tìm hiểu Nếu cha mẹ đồng ý, lễ cưới được chuẩn bị Bước chuẩn bị đầu

tiên là nhà trai tìm một người mối (gia vư) đi hỏi Khi đi, phải mang theo

gà, heo Lễ này được gọi là đóoc gia vư Tiếp theo là lễ cưới được tổ chức

tại nhà gái, Cưới xong, người con trai phải ở nhà vợ 4-5 năm Sau thời kỳ này, nếu muốn đưa vợ mình về nhà bố mẹ đẻ, người con trai phải làm lễ

pơr ngo, Thời gian sau tùy thuộc vào hoàn cảnh của gia đình họ thay

nhau đi lại hoặc ở nhà bố mẹ người con gái hay bên người con trai, Trong hôn nhân, nếu vợ chết người chồng góa sẽ lấy em vợ nhưng không được lấy chị vợ Cũng có những trường hợp phụ nữ lấy hai chồng, Gia đình người Brâu là gia đình nhỏ phụ hệ Mỗi gia đình sinh sống trong một

Trang 18

ngôi nhà riêng Quyền lực tập trung trong tay người đàn ông là chủ gia đình (người cha, chồng) nhiều hơn Tuy thế, người vợ (người mẹ) cũng có những ý kiến mang tính quyết định Con gái được đối xử như con trai, khi lấy chồng được mang theo của hồi môn khá lớn, ”[121, tr 279]

Do những khó khăn sau 5 năm mới giải phóng, điều kiện giao thông còn nhiều trắc trở và tình hình an ninh chính trị vùng biên giới không thuận lợi nên việc khảo sát của các tác giả chỉ dừng lại ở miêu thuật và kế thừa các trang viết của người Pháp cũng là điều dễ hiểu

Ba năm sau, Viện Dân tộc học xuất bản cuốn sách: Các tộc người ít người ở

Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1984 Phần viết về

người Brâu, cũng được Trần Mạnh Cát đề cập đến tên gọi, dân số, địa bàn cư trú, lịch sử tộc người, kết cấu xã hội cổ truyền, kinh tế, đời sống tinh thần – tín ngưỡng

và văn hóa truyền thống Mặc dù chỉ được giới thiệu một cách khái quát (khoảng

4000 từ), song phần viết này cũng giúp cho người đọc hiểu được một cách cơ bản về

tộc người Brâu ở Việt Nam Tuy nhiên, phần viết về hôn nhân và gia đình của người Brâu vẫn chưa được cập nhật tư liệu mới so với trước đó

Nguyễn Thế Huệ có công trình Nghiên cứu về Dân số và phát triển của tộc

người Brâu và Rơ-măm ở Tây Nguyên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2001 Cuốn

sách này chủ yếu đề cập đến các lĩnh vực: Dân số, tác động của tập tục hôn nhân, sinh đẻ, nuôi dạy con, tang ma, vệ sinh môi trường, chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), tác động của các yếu tố kinh tế đến đời sống xã hội của người Brâu và Rơ-măm Đây là công trình nghiên cứu ở góc độ tập tục, những yếu tố kinh tế, y tế và các vấn đề chính sách xã hội, chính sách dân tộc ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến quy mô dân số và chất lượng dân số của hai tộc người này Khi đề cập đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Trần Văn Hà (tác giả của Chương II cuốn sách) đã viết:

“Theo tập tục Brâu và Rơ-măm xưa, con trai đến tuổi 12 đã phải lấy vợ, con gái ở tuổi 12-13 đã lấy được chồng Nếu như con gái, con trai ở độ tuổi

18 như hiện nay mới tìm hiểu thì trước đây coi như đã bị ế chồng, ế vợ rồi

Để có thể kết hôn ở tuổi quá sớm ấy, khi đến 9-10 tuổi, các đôi trai gái Brâu và Rơ-măm xưa đã biết tìm kiếm bạn gái, bạn trai cho mình, Lễ cưới của người Brâu và Rơ-măm đều được thu xếp ở gia đình nhà gái, thực

tế chứ không phải trên danh nghĩa Vì thế, dân gian vẫn gọi đám cưới là cưới con trai về làm rể nhà mình, [62, tr 55-57]

Trang 19

Khác với những công trình trước đó, đặc biệt phần viết về người Brâu của cuốn sách này có nhiều giá trị về thông tin, số liệu cần được tham khảo và kế thừa cho việc viết luận án về hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu Tuy nhiên, vì mục tiêu của cuốn sách là giải quyết vấn đề liên quan đến dân số và KHHGĐ dưới tác động của các tập tục truyền thống và quan hệ xã hội, văn hóa nên chưa đề cập một cách sâu sắc, toàn diện theo chiều rộng cũng như chiều sâu để giải quyết về lĩnh vực hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu, chưa có khảo sát, nghiên cứu sâu

về định tính, định lượng về tộc người này Đồng thời, do cách trình bày song song

về hôn nhân và gia đình của hai tộc người, nên người đọc khó nhận diện đâu là những đặc điểm hôn nhân và gia đình của người Brâu và đâu là đặc điểm hôn nhân

và gia đình của người Rơ-măm Trên thực tế, người Rơ-măm cư trú tại làng Le, xã

Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, theo mô hình làng định canh, định cư; tộc người Brâu cư trú tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, nằm trong qui hoạch khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y, chịu tác động trực tiếp của sự giao lưu kinh tế khu vực cửa khẩu nơi ngã ba Đông Dương, và hơn nữa có sự giao lưu rất mạnh mẽ với nhiều tộc người khác như Xơ-đăng, Giẻ-Triêng, Mường, Kinh, Những yếu tố này làm cho ngay cả một tộc người cũng chịu ảnh hưởng và

có thể ứng xử khác nhau chứ chưa nói đến hai tộc người ở hai địa vực và có nguồn gốc, lịch sử, văn hóa khác nhau như tộc người Brâu và Rơ-măm

Cuốn Tìm hiểu văn hóa người Giẻ-Triêng, Brâu, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

2009, của hai tác giả Nguyễn Thị Ngân và Tô Thị Thu Trang cũng trình bày một

cách khái quát về hai tộc người Brâu và Giẻ-Triêng trên các phương diện kinh tế, văn hóa – xã hội Những thông tin trong cuốn sách này còn thiếu tính cập nhật, chủ yếu sử dụng, kế thừa tư liệu nghiên cứu đã công bố, đặc biệt là tư liệu về tộc người

Brâu của tác giả Bùi Ngọc Quang

Cuốn Cấu trúc tộc người ở Lào (Ethnic Structure of Laos) của tác giả Nguyễn

Duy Thiệu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996, cũng nói đến người Brâu ở Lào, tuy

nhiên vì tập trung đi sâu phản ánh bức tranh phân bố dân cư, tộc người của nước Cộng hòa dân chủ nhân Lào sau hơn 10 năm giải phóng, nên những thông tin về tộc người này rất ít và đề cập chung trong sự phân bố vùng cư trú của cư dân nhóm ngữ

hệ Môn – Khơ me Do vậy, những thông tin về lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng

như lĩnh vực văn hóa xã hội của tộc người Brâu ở Lào còn hạn chế

Bên cạnh đó phải kể đến một số bài viết đăng tải trên tập san, báo liên quan đến

người Brâu ở Kon Tum Chẳng hạn, bài viết: Rơ-măm và Brâu họa diệt chủng, Báo

Trang 20

Lao động ngày 26 tháng 7 năm 1992, tác giả Vĩnh Quyền viết: “…Rơ-măm và Brâu có

chung những đặc điểm như: Sống cách biệt với thế giới bên ngoài, trình độ văn hóa thấp, phần lớn không biết tiếng Kinh và mù chữ, tổ chức xã hội bó hẹp, tồn tại tục vợ chồng đồng huyết, đồng chủng Phong hủi, bướu cổ, sốt rét ác tính, dịch tả, cùng đói muối, đói gạo triền miên đã vắt kiệt sức sống của hai tộc người này, ” [94]

Tác giả Hùng Páo Bảo có bài: Giới thiệu về tộc người Brâu, Tập san Miền núi

và tộc người, số 21 tháng 10 năm 1992, có viết: “Do cách làm ăn lạc hậu, sống du

canh, du cư, đặc biệt là hôn nhân cận huyết (cùng dòng họ lấy nhau) nên tộc Brâu đang suy giảm về dân số” [4]

Sau khi hai bài báo trên xuất hiện đã có một đoàn cán bộ thuộc các ngành hữu quan đến khảo sát thực tế và tìm ra các biện pháp thiết thực nhằm nhanh chóng ngăn chặn cái gọi là "họa diệt chủng gần kề" Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng quan điểm trong những bài báo này thiếu cơ sở khoa học, không đưa ra luận cứ, luận chứng thuyết phục mà đã đi đến nhận định người Brâu đang tồn tại một chế độ quần hôn hay hôn nhân cận huyết - nguyên nhân khiến tộc người Brâu suy giảm dân số và có nguy

cơ diệt chủng là hoàn toàn không đúng Đây là một trong những vấn đề lớn, hy vọng tác giả luận án sẽ đưa ra được đủ các luận cứ, luận chứng khoa học để góp phần làm sáng tỏ những băn khoăn này

Tác phẩm Hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu của tác giả Bùi Ngọc

Quang, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Kon Tum, 2004, đã trình bày về quá trình tộc người trong mối liên hệ khu vực và quốc gia cũng như những đặc điểm kinh tế - xã hội của người Brâu, làm cơ sở cho việc tiếp cận nghiên cứu vấn đề hôn nhân và gia đình Ở đây dấu vết của lễ thành đinh nguyên thuỷ (tục cà răng, căng tai), quá trình chuyển biến từ mẫu hệ sang phụ hệ (từ bắt chồng chuyển sang bắt vợ, cư trú luân phiên sau hôn nhân), quan hệ tình dục tiền hôn nhân, mối quan hệ hôn nhân theo dòng, tục nối dây, hiện tượng đa phu trước đây,… đã được tìm hiểu rất tỉ mỉ Thông qua hệ thống nghi lễ trong hôn nhân, chúng ta có thể nhận diện các giá trị văn hóa và nếp sống tộc người gắn liền với luật tục Tác giả đã cung cấp cho người đọc cấu trúc

và quy mô gia đình, mối quan hệ gia đình cũng như hệ thống nghi lễ có không ít tính đặc thù Bên cạnh hôn nhân đồng tộc, tác giả cũng đã cung cấp các thông tin khá chân thực về hôn nhân hỗn hợp tộc người giữa người Brâu với các tộc người khác như Xơ-đăng, Hrê, Mường, Thái, Kinh ở Việt Nam, Khơ me ở Campuchia và Lào Qua đây giúp cho chúng ta hiểu thêm về xu hướng phát triển trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của tộc người này

Trang 21

Trên cơ sở nghiên cứu về hôn nhân và gia đình truyền thống, tác giả trình bày những biến đổi trên lĩnh vực này và những vấn đề đang đặt ra Bằng các nguồn tư liệu khai thác từ thực địa đảm bảo độ tin cậy cao, tác giả Bùi Ngọc Quang đã đính chính về những nhận định không xác thực về vấn đề hôn nhân của người Brâu như:

Hôn nhân đồng huyết, đồng chủng làm ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi, làm suy giảm về dân số, hoạ diệt củng gần kề… của một số bài viết đăng trên các báo và

tạp chí

Qua nguồn tư liệu nghiên cứu dân tộc học, tác giả cuốn sách đã giải đáp về tình hình hôn nhân và gia đình của người Brâu trong vài thập niên qua; hôn nhân và gia đình nói riêng và tình hình kinh tế, xã hội của người Brâu nói chung đã có những chuyển biến tích cực nhưng cũng có không ít biến động Tuy nhiên, tư liệu

về hôn nhân và gia đình của người Brâu mà tác giả nghiên cứu năm 2000, đến nay cần được tiếp tục cập nhật và tìm hiểu tổng thể và sâu sắc trên mọi khía cạnh, vì những năm gần đây khi chiến lược về phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa và môi trường trên địa bàn Tây Nguyên của Đảng và Nhà nước ta được triển khai, trong đó hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu đã có những biến đổi không nhỏ Vì vậy, cần có sự phân tích và nhìn nhận một cách toàn diện hơn

Tóm lại, những công trình nghiên cứu về tộc người Brâu còn tương đối ít và chưa mang tính chuyên sâu, nên việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, nhất là hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu truyền thống và sự biến đổi là rất cần thiết, nhằm mở rộng nghiên cứu hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu không chỉ ở Việt Nam mà sang cả bên kia biên giới của hai nước Lào và Campuchia để có tư liệu so sánh cũng hết sức cần thiết nhưng đang còn bỏ ngỏ

1.2 Cở sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản và quan điểm liên quan đến nghiên cứu hôn nhân và gia đình

1.2.1.1 Khái niệm liên quan đến hôn nhân

Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con, cháu Hôn nhân cũng tạo ra tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng

Đó là về quan hệ xã hội Còn nhìn từ chiều cạnh văn hóa, “Hôn nhân là một quá trình

xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông với một người đàn bà, là sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa

Trang 22

những người thân thuộc của mỗi bên và duy trì những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” 15 [44 tr 342]

Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, ở nước ta ghi rõ: Hôn nhân là quan hệ giữa

vợ và chồng sau khi đã kết hôn [88] Còn từ góc độ khoa học chuyên ngành, hàm khái

niệm được định nghĩa chi tiết hơn: “Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới” [114, tr.389 - 390]

Để phân loại hôn nhân, tiêu chuẩn cơ bản nhất là số lượng người vợ hoặc chồng Vì vậy, các nhà nhân học hiện nay phân thành các loại hôn nhân:

- Đơn hôn (monogramy): Tức là hôn nhân một vợ một chồng, đây là hình thức

hôn nhân phổ biến nhất, ở hầu hết mọi nơi trong xã hội ngày nay

Chế độ một vợ một chồng “là hình thức hôn nhân giữa một người chồng và một người vợ vào một thời điểm nhất định Trước thế kỷ XX người dân Tây Âu chỉ được cưới một lần trừ khi một trong hai người qua đời Hiện nay có thể thực hiện chế độ một vợ, một chồng nhưng với nhiều người, hết người này đến người khác, nhưng không cưới vào cùng một lúc” [65, tr.310]

- Phức hôn (polygramy): Là hình thức một người chồng có thể lấy nhiều vợ

hoặc một người vợ có thể lấy nhiều chồng cùng một lúc Phức hôn có hai loại, nhất

phu đa thê (polygyny) và nhất thê đa phu (polyandry), nhưng loại thứ nhất phổ biến

hơn và ngay trong xã hội có phức hôn thì hình thức đơn hôn vẫn là phổ biến

+ Nhất phu đa thê (polygyny): Chế độ này thường thấy trong xã hội chưa có

chữ viết, xã hội săn bắn, hái lượm và du mục, ở đó có sự phân hóa địa vị xã hội giữa nam giới và nữ giới Người đàn ông trong mối quan hệ nhất phu đa thê ở đây thường là những người được ưu đãi về mặt kinh tế và có địa vị xã hội cao Trong chế độ đa thê, quyền uy của người chồng rất cao, ngược lại, sự tự do của người phụ

nữ là rất thấp

+ Nhất thê đa phu (polyandry): So với đa thê, hình thức đa phu hiếm thấy hơn,

theo các nhà nhân học thống kê, trên thế giới có ba nơi xuất hiện hình thức hôn nhân

Trang 23

này, đó là trường hợp người Tây Tạng ở Himalaya, người Toda ở Nam Ấn Độ, người dân đảo Makesas, Polynesia [16, tr 210-211].

Năm 1861, Johann Jakop Bachofen cho ra đời tác phẩm Mẫu Quyền Tác giả đã

nêu lên trong đó một số luận điểm: Loài người ban đầu sống trong những quan hệ tính giao bừa bãi mà tác giả gọi là “Tạp hôn” vì những quan hệ như thế làm cho không thể nào biết chắc chắn được ai là cha đẻ, nên huyết tộc chỉ có thể xác định theo

nữ hệ - mẫu quyền Tất cả các tộc người cổ đại buổi đầu tiên đều ở trong tình trạng như vậy và những người đàn bà với tư cách là mẹ, là người duy nhất chắc chắn đã sinh ra thế hệ trẻ, được tôn kính và có uy tín đến cao độ Theo tác giả Bachofen, sự tôn kính và uy tín đó đạt đến mức trở thành sự thống trị hoàn toàn của nữ giới Bước chuyển sang chế độ hôn nhân cá thể, tức là chế độ mà đàn bà chỉ thuộc về một người đàn ông - là một sự vi phạm điều răn của tôn giáo thời cổ Vi phạm như thế ắt phải đền tội, hoặc nếu muốn được tha thứ thì người đàn bà phải chuộc tội bằng cách hiến thân cho nhiều người khác trong thời gian nhất định [44, tr.11]

Bachofen cho rằng: Bước chuyển từ “chế độ tạp hôn” sang chế độ một vợ một chồng và từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền đã được tiến hành, đặc biệt ở những người Hy Lạp do sự tiến triển của các tư tưởng tôn giáo Như vậy, theo Bachofen, không phải là sự phát triển của các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người, mà chính là phản ánh về mặt tôn giáo, của những điều kiện sinh hoạt đó trong đầu óc của chính những con người ấy, đã gây ra những biến đổi lịch sử trong địa vị xã hội của đàn ông và đàn bà đối với nhau Nhìn chung, Bachofen đã không nêu lên các luận điểm của mình một cách rõ ràng, vì thế giới quan thần bí của ông cản trở ông Nhưng vào thời điểm năm 1861, ông đã đưa ra được những quan điểm như thế có thể coi là một cuộc cách mạng hoàn toàn, là bước khởi đầu cho vấn đề nghiên cứu về hôn nhân và gia đình [44, tr.12 - 15].Người kế tục Bachofen trên cùng lĩnh vực là Mc.Lennan đã đưa ra hai hình thức hôn nhân: Ngoại tộc hôn và nội tộc hôn, ông xác định không chút e dè rằng giữa những bộ lạc ngoại tộc hôn và nội tộc hôn đã có một sự đối lập gay gắt Trong cuốn Nghiên cứu lịch sử cổ đại, 1886 - Hôn nhân nguyên thủy, trang 124, Mc.Lennan cho rằng: “Vì chế độ ngoại hôn và chế độ nhiều chồng đều do cùng một nguyên nhân duy nhất là sự chênh lệch về số lượng giữa nam và nữ mà ra, Cho nên chúng ta phải công nhận một sự thật không thể tranh cãi rằng chế độ thân tộc đầu tiên ở các chủng tộc ngoại tộc hôn là chế độ chỉ biết có quan hệ huyết tộc về đằng mẹ” [ 44, tr.17]

Trang 24

Năm 1891, Friedrich Engels nhận xét: “…Mười bốn năm qua, sau khi tác phẩm chủ yếu của Morgan ra đời, đã làm cho tài liệu về lịch sử các xã hội nguyên thủy của loài người phong phú thêm rất nhiều Ngoài các nhà nhân loại học, các nhà du hành, các nhà chuyên môn về luật pháp so sánh, họ đã đưa lại, hoặc những sự kiện mới, hoặc những quan điểm mới…” [44, tr.24, 25, 28]

Đến năm 1884, Friedrich Engels xuất bản lần đầu tiên cuốn sách Nguồn gốc

của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước Ông đã kế thừa những quan điểm

của Morgan và các học giả đi trước Những luận điểm của Ông là nền tảng, cơ sở cho các học giả sau này khi nghiên cứu về hôn nhân và gia đình

Kết hôn chị em vợ hay anh em chồng: Là hiện tượng không may nếu trong gia đình có người chồng chết hoặc người vợ chết thì người còn sống sẽ tái hôn với anh chị em của người đã chết Đây được coi là hình thức vừa phức hôn, vừa đơn hôn

Người ta gọi phong tục người góa vợ lấy chị em của vợ là sororate (kết hôn chị em

vợ), và người góa chồng lấy anh em của chồng là lévirate (kết hôn anh em chồng)

Cả hai trường hợp này đều duy trì được quan hệ thân tộc, không phải trả lại đồ dẫn cưới, không tốn chi phí cưới lại, đồng thời cũng không tốn tiền bạc và thời gian cho vấn đề ngoại giao với họ hàng mới nảy sinh sau hôn nhân, thêm vào đó, những đứa con của người trước sinh ra được nuôi dưỡng cẩn thận, được kế tục địa vị và tài sản [16, tr 210, 211]

Bên cạnh đó cũng cần phải kể đến một vài bàn luận của các nhà Dân tộc học Xô Viết trong những thập niên trước khi nhà nước Liên bang Xô Viết tan rã và Nhân học Tây Âu gần đây về quan điểm có liên quan Đó là, J.U.Sêmênốp trong tác phẩm

Nguồn gốc của hôn nhân và gia đình cũng đã lý giải về nguồn gốc, các nguyên tắc

hôn nhân ngoại tộc, các hình thức kết hôn và các mối quan hệ trong gia đình Ông coi ngoại hôn là một bước tiến quan trọng trong lịch sử hôn nhân và gia đình của xã hội loài người “Với sự ra đời của chế độ ngoại hôn, và chính cái đó cũng đồng thời làm cho thị tộc xuất hiện, quan hệ tính giao đã hoàn toàn được đưa vào khuôn phép

xã hội nhất định, đã ngăn chặn được và đã đặt được bản năng tính giao vào vòng cương tỏa” [65, tr.95]

Emily A.Schultz và Robert H Lavenda (2001), thuộc nhân học Tây Âu và Bắc

Mỹ cho rằng,“nội hôn là khi người ta chỉ được phép lấy người thuộc cùng một nhóm thân tộc, họ hàng bởi luật tục hoặc tập quán đã định rõ,… Ngoại hôn là khi

Trang 25

người ta kết hôn với người thuộc nhóm ngoài xã hội với mình Và, hôn nhân hỗn hợp tộc người là khái niệm dùng để chỉ sự kết hôn giữa hai người không cùng tộc người” [43, tr.308]

1.2.1.2 Khái niệm, quan điểm liên quan đến nghiên cứu về gia đình

Lời nói đầu Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam (2000), định nghĩa: “Gia

đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [88] Ngược dòng lịch sử ta cũng thấy rằng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã dựa trên cách tiếp cận lịch sử về gia đình dựa trên qui luật phát triển của xã hội

loài người khi bàn về: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước

Friedrich Engels đã viết rằng: “Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng yên tại chỗ mà chuyển từ một hình thức thấp lên hình thức cao khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên giai đoạn cao”[44, tr.59]

Theo quan điểm của Viện sĩ Ju.V.Brômlây và Tiến sĩ sử học M.S.Kasuba (Liên Xô cũ) cho rằng: “Gia đình như một đơn vị tái sản xuất dân số, là tập hợp người gắn bó với nhau bởi quan hệ họ hàng hay hôn nhân” [140, tr.93] “Gia đình nhỏ còn gọi là gia đình đơn giản, gia đình hạt nhân, gia đình cá thể, bao gồm một cặp vợ chồng (hoặc một trong hai người) với những đứa con chưa thành niên hay không có con Gia đình lớn (gia đình mở rộng/gia đình phức hợp) bao gồm hai hay nhiều hơn các gia đình đơn giản [140, tr.14] Còn M.O.Koxven lại cho rằng: “Gia đình là một nhóm xã hội được đặc trưng bởi nhà ở chung, hợp tác kinh tế và tái sản sinh” [141, tr.1]

Trong một số định nghĩa khác của các Từ điển được biết đến nhiều ở Châu Âu như Từ điển Xã hội (Nhà xuất bản Larousse, 1973): “Gia đình bao gồm một nhóm người gắn bó với nhau bằng một mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là việc nhận con nuôi, có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh, chị em và họ hàng” [139, tr.131] Từ điển Xã hội (Nhà xuất bản Les Encyclopedies du savoir moderne, 1973): “Gia đình là một nhóm xã hội không thể quy về các nhóm khác: Sự hình thành của nó, cấu trúc, các chiều hướng, các quan hệ giữa các thành viên và các quan hệ của nó với toàn bộ cơ chế xã hội, các chức năng biến đổi trong thời gian và không gian gắn liền với các hệ thống xã hội

và các hình thức của nền văn minh” [139, tr.233]

Trang 26

Ở mỗi giai đoạn lịch sử, gia đình có quy mô và cấu trúc khác nhau, nó được sinh ra bởi những đặc định xã hội tạo nên Emily A.Schultz và Robert H Lavenda (2001) viết rằng: “Gia đình nhỏ/gia đình hạt nhân được tạo thành bởi hai thế hệ cha

mẹ và con cái chưa lập gia đình của họ Tuy nhiên, cơ cấu và quá trình biến đổi của loại gia đình một vợ, một chồng cư trú riêng sau hôn nhân là một điều quen thuộc, đôi khi gia đình một vợ, một chồng không phải lúc nào cũng là gia đình hạt nhân” [43, tr.323]

Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng cho đến nay, các nhà khoa học thường phân loại gia đình thành một số loại hình như sau (các nhà dân tộc học theo trường phái Xô Viết cũ không theo cách phân loại này):

- Gia đình hạt nhân: gia đình gồm có bố, mẹ và con cái còn nhỏ tuổi Đây là

một loại gia đình hẹp, thường gọi là gia đình sơ đẳng

- Gia đình mở rộng: là gia đình gồm từ 3 thế hệ trở lên Thường là con cái đến

tuổi lập gia đình, sinh con vẫn ở chung với bố mẹ

- Gia đình đơn thân (gia đình một người): Gia đình chỉ có một người, không

cấu thành gia đình hạt nhân Họ chủ trương sống độc thân hoặc do hoàn cảnh, tình thế cuộc sống bắt buộc

Ngoài ra, trong xã hội hiện nay còn tồn tại một số loại hình gia đình: Gia đình thiếu khuyết (gia đình có chồng, vợ chết, ly hôn); Gia đình sống thử; Gia đình đồng tính; Gia đình ghép (tái hôn, con chung con riêng, …) Tuy nhiên, tác giả không đưa các loại hình gia đình này vào luận án để phân tích, luận án cho rằng đây chỉ là hiện tượng xã hội mà thôi

Grant Evans (2001) phân loại gia đình theo nhiều cách Theo ông: «Gia đình đơn giản/gia đình hạt nhân/gia đình một vợ, một chồng - gồm một đôi vợ chồng (hoặc một người góa vợ hay góa chồng) và con cái chưa lập gia đình Gia đình này

có thể mở rộng thêm với những người họ hàng thân tộc như: ông, bà, cô, dì, chú, bác , và đơn giản cho đến khi một cuộc hôn nhân diễn ra »[46, tr.123]

Gia đình lớn (gia đình phức hợp) bao gồm hai hoặc nhiều gia đình hạt nhân

được thành lập do sự phát triển của những quan hệ bố mẹ, con cái chứ không phải do những quan hệ vợ - chồng Kiểu gia đình này có hai hình thức cơ bản: Hình thức thứ nhất là một hoặc nhiều con trai đã thành niên, lấy vợ, có con, vẫn chung sống với bố

mẹ Người bố cho đến khi chết vẫn giữ quyền giám hộ con cái (điển hình là gia đình

Trang 27

gia trưởng) Hình thức thứ hai là sau khi bố mất, những người con trai đã thành gia thất, cùng với vợ con vẫn tiếp tục sống chung với nhau trong một gia đình gọi là đại gia đình

Gia đình mở rộng là gia đình có từ ba thế hệ trở lên, bao gồm cha mẹ, con cái

đã lấy vợ, lấy chồng và các cháu cùng chung sống Cũng có thể sự mở rộng gia đình được thực hiện theo chiều ngang – những người anh em trai và vợ của họ, hoặc những người chị em gái và chồng của họ cùng sống với nhau trong một gia đình liên hợp [46, tr.362]

Gia đình phức hợp gồm nhiều hơn một cặp vợ chồng rồi sau đó có thể phân

thành ba loại: gốc (stem), mở rộng (joint), và đa phu thê (polygamous) Gia đình gốc bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai cặp vợ chồng, song hai trong số các cặp đó không cùng thế hệ (ông bà, cha mẹ và cháu) Gia đình mở rộng thì ít nhất là hai cặp cùng thế hệ Gia đình đa phu thê là gia đình trong đó có ít nhất một trong những người đã thành hôn có nhiều hơn một chồng hoặc một vợ

Theo Ju.I.Sêmênốp: Gia đình lớn hầu như duy trì chỉ vì lợi ích kinh tế của một

tế bào kinh tế vượt tiểu gia đình về quy mô [65, tr.41]

Gia đình và hộ gia đình (Family and household)

Grant Evans (chủ biên) Bức khảm văn hóa Châu Á – Tiếp cận nhân học, nhà

xuất bản Văn hóa dân tộc, năm 2001: Một định nghĩa về gia đình theo lẽ thường là

“một nhóm xã hội được đặc trưng bởi nhà ở chung, hợp tác kinh tế và tái sản sinh”, những người sống chung với nhau và hợp tác về kinh tế có thể không phải tất cả đều là thành viên của gia đình (như khi có gia nhân sống trong nhà), hoặc có thể một số thành viên gia đình phải sống riêng (trẻ em sống xa nhà để đi học, hoặc những thành viên trong gia đình đi làm việc ở nơi khác xa nhà ở chính của mình)

Các nhà nhân học gọi các nhóm ngụ cư theo nhiệm vụ là hộ gia đình (household) và

danh từ gia đình do những nhóm xác lập bằng hôn nhân và dòng dõi Phân biệt gia

đình (Family) và hộ gia đình (household) là hữu ích để tìm hiểu một số hệ thống gia

đình, song phải luôn nhớ rằng khi bàn đến những xã hội đặc thù, thì đơn vị mà cả hai từ ngữ đó quy chiếu là cần xác định về mặt văn hóa, mỗi một xã hội có cách định nghĩa riêng về gia đình và/hoặc về hộ gia đình [46, tr.121,122]

Như vậy, hộ gia đình theo cách hiểu thông thường bao gồm nhiều cá thể cùng chung sống dưới một mái nhà, đó là những người có quan hệ ruột thịt, quan hệ họ

Trang 28

hàng, cũng có thể là mối quan hệ xã hội Chính vì thế khái niệm cũng như loại hình của hộ gia đình là rất đa dạng

Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) định nghĩa khái niệm: “Gia đình là thiết chế

xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng,… Khi gia đình đã có con cái thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn

nhân (không cùng huyết thống) vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng mẹ hoặc

dòng bố) Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội”

[114, tr.84]

Các nhà Dân tộc học Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm về phân loại gia đình, trong đó, đặc biệt phải kể đến Nhà dân tộc học hàng đầu Nguyễn Từ Chi Khi phân loại gia đình người Việt truyền thống, Ông cho rằng gia đình người Việt bao gồm các gia đình hạt nhân và các gia đình nhỏ Với đại đa số là gia đình hạt nhân, bao gồm một cặp vợ chồng và con cái chưa vợ, chưa chồng của họ Con trai thứ khi

đã cưới vợ, ít lâu sau đều tách ra khỏi nhà cha mẹ để sống riêng với vợ con Và từng

hộ như thế đều có kinh tế riêng [17, tr.58] Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học và xã hội học Việt Nam chia sẻ

Khi nghiên cứu về các hình thái gia đình Châu Á, các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng nhận xét: Hai loại họ hàng đơn hệ phổ biến nhất là phụ hệ và mẫu hệ Trong mối họ hàng phụ hệ, chỉ di duệ của dòng nam mới được coi là thành viên của nhóm họ hàng: tôi thuộc về nhóm họ hàng của cha tôi chứ không phải của mẹ tôi Trong mối họ hàng mẫu hệ thì ngược lại: tôi thuộc về nhóm họ hàng của mẹ tôi chứ không phải của cha tôi Hai loại họ hàng khác ít thấy hơn đó là hệ kép (double descent có khi gọi là bilineal) và lưỡng hệ (ambilineal) Trong hệ kép, cả các nhóm

họ hàng mẫu hệ lẫn phụ hệ đều được hình thành Hai loại nhóm họ hàng này, thường phục vụ những mục tiêu khác nhau, và mỗi một người đều thuộc vào vừa cả nhóm mẫu hệ lẫn phụ hệ Nhóm lưỡng hệ sinh ra khi các nhóm họ hàng hợp đoàn được hình thành trong những xã hội có hệ thống song hệ (bilateral) cho phép một người hoặc là nhập vào nhóm của mẹ hoặc vào nhóm của cha, [46, tr 155] Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng trong trường hợp mỗi tộc người hay tình trạng ở các nhóm ngôn ngữ khác nhau tại mỗi vùng miền, quốc gia lại được biểu hiện không giống nhau và còn nhiều vấn đề cần bàn

Gia đình được phân loại theo nhiều cách, song cách hữu dụng nhất của nhân

Trang 29

học so sánh là dựa trên số lượng và loại hôn nhân Gia đình đơn giản là chỉ gồm một đôi vợ chồng (hoặc một người góa vợ hay góa chồng) và con cái chưa lập gia đình Loại gia đình này có khi được gọi là gia đình hạt nhân hay gia đình một vợ, một chồng, có thể mở rộng thêm với những người họ hàng đơn độc (ông bà, cô dì, chú bác) và vẫn là loại đơn giản cho đến khi có một cuộc hôn nhân diễn ra (Laslett,

1972, tr.28-31) Gia đình phức hợp gồm nhiều hơn một cặp vợ chồng rồi sau đó có thể phân thành ba loại: gốc (stem), mở rộng (joint) và đa phu thê (polygamous) Gia đình gốc bao gồm hai cặp vợ chồng hoặc nhiều hơn, song hai trong các cặp đó là không cùng thế hệ Thí dụ phổ biến nhất là cặp vợ chồng (bố mẹ) và một cặp vợ chồng con cái, tuy rằng cũng có thể, đối với gia đình gốc bao gồm thêm một cặp vợ chồng thế hệ cháu Cũng giống như gia đình trực hệ, gia đình mở rộng cũng cũng gồm hai cặp vợ chồng hoặc nhiều hơn, song ở trường hợp này, ít nhất là hai trong các cặp vợ chồng đó phải cùng thế hệ Thí dụ thông thường nhất là gia đình các cặp

vợ chồng của anh, chị em, song cũng khá phổ biến đối với một gia đình lớn bao gồm vợ chồng bố mẹ và hai hoặc nhiều hơn cặp vợ chồng con cái Đây cũng là một dạng gia đình mở rộng Gia đình đa phu thê là gia đình trong đó ít nhất một trong những người đã thành hôn có nhiều hơn một chồng hoặc vợ Có hai loại đa phu thê:

đa thê là người đàn ông lấy nhiều phụ nữ, và đa phu là một người phụ nữ lấy nhiều người đàn ông, ” [46, tr 124]

Các gia đình Châu Á có nhiều loại hình tổ chức, song cũng như tất cả mọi gia đình của con người không thể sống biệt lập Mọi xã hội đều có một thứ cấm kỵ loạn luân trong đó một số họ hàng bị cấm không thành vợ chồng Nhiều lý do sinh lý, tâm lý và xã hội học đã được đưa ra để bảo vệ cho tính phổ quát của điều cấm kỵ loạn luân đó Song về mặt xã hội, hôn nhân có thể coi như một phương tiện để những người lạ với nhau trở thành họ hàng Cấm kỵ loạn luân bằng cách cấm hôn nhân giữa các thành viên gia đình, buộc các gia đình phải xây dựng mối liên kết với các gia đình khác thông qua hôn nhân Vậy là hai loại họ hàng được tạo ra; họ hàng sinh học hoặc là huyết tộc, và họ hàng tạo ra qua hôn nhân hoặc là quan hệ thân thuộc với họ hàng nhà vợ hay họ nhà chồng, [46, tr 153]

Trang 30

HÌNH THÁI GIA ĐÌNH CHÂU Á

Sơ đồ 1.1: Dòng mẫu hệ Chú giải sơ đồ 1.1:

Cá thể 4 và 5 là con của 1 và 2, nhập vào nhóm

họ hàng phụ hệ của người cha, được thể hiện bằng những biểu tượng đậm Ở thế hệ sau, con của 3 và 4 cũng thuộc nhóm họ hàng đậm, bởi chúng lấy gốc từ cha của chúng vốn là thành viên trong nhóm này Song, con của 5 và 6 không thuộc nhóm phụ hệ này bởi vì chúng lấy gốc từ cha của chúng, vốn là thành viên của một nhóm khác Có nghĩa là, tuy mẹ của 12 và

14 thuộc về nhóm phụ hệ đậm, song bà ta không thể chuyển sự liên kết dòng dõi của bà cho con cái và do vì chồng của bà (6) không thuộc về dòng phụ hệ của bà (12 và 14) thuộc

về nhóm cha chúng Ở thế hệ thứ tư, chỉ có 15

và 16 là thuộc về nhóm phụ hệ đậm, vì cha chúng là thành viên nam duy nhất thuộc thế hệ trước và thuộc về nhóm phụ hệ đậm Như vậy trong phác đồ này, 1, 4, 5, 8, 10, 15 và 16 là liên kết bởi dòng dõi phụ hệ, mọi cá thể khác thuộc về các nhóm phụ hệ khác [46, tr 153]

Sơ đồ 1.2: Dòng mẫu hệ Chú giải sơ đồ 1.2:

Cá thể 4 và 5 là con của 1 và 2, nhập vào nhóm

họ hàng của người mẹ, được thể hiện bằng những biểu tượng đậm Ở thế hệ sau, con của 5

và 6 cũng thuộc về nhóm họ hàng đậm, vì chúng lấy gốc từ mẹ chúng, vốn là thành viên của nhóm này Song, con của 3 và 4 không thuộc nhóm mẫu hệ này, vì chúng lấy gốc từ

mẹ chúng, vốn là thành viên một nhóm khác: cha của chúng, tuy là thành viên của nhóm mẫu

hệ đậm, không thể chuyển sự liên kết dòng dõi của ông cho chúng, theo quy tắc về dòng dõi mẫu hệ Ở thế hệ thứ tư, chỉ 21 và 22 là thuộc

về nhóm mẫu hệ đậm, vì mẹ chúng là thành viên nữ duy nhất của thế hệ trước và thuộc về nhóm này Như vậy, cá thể 2, 4, 5, 11, 13, 21

và 22 thuộc về cùng nhóm mẫu hệ Quy tắc dòng dõi này làm nảy sinh một nhóm hầu như

là hình ảnh phản chiếu của nhóm do quy tắc phụ hệ sinh ra [46, tr.153]

Trang 31

Khi nói đến gia đình, không thể không đề cập đến hệ thống thân tộc như là

sự thể hiện sâu sắc các quan hệ văn hóa và xã hội của nó Khái niệm này thường được định nghĩa: là cơ sở tổ chức xã hội mà trong đó các thành viên được xác lập mối quan hệ thông qua hệ thống huyết tộc bao gồm mối quan hệ dòng tộc, mối quan

hệ hôn nhân và mối qua hệ gia đình Đây là mối quan hệ nổi trội nhất trong tất cả các mối quan hệ của xã hội con người và có tác động ảnh hưởng rất lớn đối với các mối quan hệ khác như mối quan hệ chính trị, mối quan hệ kinh tế, mối quan hệ văn hóa, mối quan hệ tộc người Nói cách khác, thân tộc có thể được xem như là “hạt nhân” của một cơ cấu tổ chức xã hội loài người từ xưa đến nay Thông qua mối dây ràng buộc huyết thống, hôn nhân tạo cơ sở cho việc xây dựng sự cố kết cộng đồng

và những mối quan hệ xã hội gắn bó mật thiết hơn

Các nhà khoa học cũng nói đến quan hệ thân tộc - quan hệ huyết thống, xuất hiện rất sớm và ở hầu hết các tộc người trên thế giới Trong quá trình tiến hóa của nhân loại, con người không thể sống cô độc mà phải dựa vào nhau Do đó mối quan

hệ huyết thống xuất hiện trước khi xuất hiện các mối quan hệ xã hội khác Quan hệ thân tộc là sản phẩm thừa hưởng từ tự nhiên Nhưng do các yếu tố khách quan và chủ quan tác động vào tiến trình phát triển lịch sử của các tộc người khác nhau nên quan hệ thân tộc ở các tộc người cũng không hoàn toàn giống nhau (theo dòng mẹ - mẫu hệ, theo dòng cha - phụ hệ, hoặc không xác định rõ ràng - song hệ)

Hệ thống thân tộc chính là tổ hợp các thuật ngữ biểu thị các quan hệ thân thuộc (cha mẹ, anh em, chú bác, con cháu, ông bà,…) tồn tại trong xã hội Như vậy, những từ mà chúng ta gọi hàng ngày như cha mẹ, cô, cậu, dì, cháu trai, cháu gái,… những từ đó còn hàm chứa những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt và rất nghiêm chỉnh của con người đối với nhau và toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một bộ phận chủ yếu của quan hệ xã hội Hệ thống thân tộc của các tộc người giúp chúng ta biết được các hình thái hôn nhân và gia đình cũng như lịch sử phát triển của chúng Hơn thế nữa, qua việc nghiên cứu hệ thống thân tộc chúng ta có thể biết được các chế độ

xã hội đã tồn tại trước đây trong đời sống các tộc người [77, tr.33,34]

1.2.2 Một số lý thuyết

Trong khi nghiên cứu về các vấn đề của hôn nhân và gia đình tộc người Brâu

và những biến đổi của nó, chúng tôi sẽ dựa trên bốn lý thuyết có liên quan, đó là

Cấu trúc luận (Structuralism), Chức năngluận (Functionalism), Thuyết về sự biến đổi và biến đổi xã hội (Change, Social change), Thuyết tiếp biến văn hóa

Trang 32

(Acculturation) Việc lựa chọn, các lý thuyết này nhằm mục đích thông qua tiếp cận

hệ thống cấu trúc xã hội truyền thống tộc người (luật tục, nghi lễ, quan niệm, triết lý

xã hội và niềm tin tôn giáo, vai trò của thành viên trong cộng đồng) để đi sâu tìm hiểu chức năng gia đình xưa, đồng thời nhận diện những biến đổi của chúng dưới tác động của biến đổi xã hội và chính sách kinh tế - xã hội và hội nhập, tiếp biến

văn hoá giữa các tộc người trong khu vực, quốc gia và quốc tế

1.2.2.1 Cấu trúc luận (Structuralism)

Vào những năm 1960-1970 của thế kỷ trước, Cấu trúc luận đã trở thành quan điểm lý thuyết cho các ngành nhân học xã hội, ngôn ngữ học, phê bình văn học, phân tâm học và xã hội học Claude Lévi-Strauss nghiên cứu nhân học cấu trúc và phân tích ký hiệu học về các hiện tượng văn hóa nói chung Michel Foucault nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Jacques Lacan nghiên cứu phân tâm học và chủ nghĩa Marx cấu trúc của Louis Althusser

Cơ sở tiếp cận này là quan điểm cho rằng chúng ta có thể nhận thức được những cấu trúc ẩn tàng đằng sau vẻ ngoài thất thường và hay thay đổi của hiện thực

xã hội, và dù hình thức của cấu trúc luận thế nào đi nữa thì vẫn phải bao gồm những hàm ý nhất định về bản chất của thế giới như sau:

Thứ nhất, những yếu tố cơ bản của cấu trúc vẫn (tương đối) bất biến, và

những quan hệ giữa chúng mới sản sinh ra các ngôn ngữ, các hệ thống tư tưởng và các kiểu xã hội

Thứ hai, những gì hiện ra trước mắt chúng ta với vẻ xác thực, bình thường và

tự nhiên, thì trên thực tế đó là kết quả cuối cùng của một quá trình sản sinh từ một hình thức nào đó của cấu trúc cơ bản

Thứ ba, Cấu trúc luận cải biến quan niệm thông thường của chúng ta về cá

nhân: Cá nhân được coi là sản phẩm của các quan hệ, chứ không phải là người tạo ra hiện thực xã hội Cấu trúc luận thay thế quan niệm coi chủ thể con người chủ yếu có tính bản thể luận bằng quan niệm không coi cái bản ngã làm trọng tâm Trong khi chủ nghĩa Marx cấu trúc coi cá nhân chỉ là người mang các quan hệ xã hội (về sở hữu và không sở hữu tư liệu sản xuất), thì một số nhà cấu trúc luận khác lại quan niệm cá nhân như là sản phẩm của diễn ngôn và các quan hệ giữa các diễn ngôn Bước chuyển

về quan niệm này nằm trong sự tiến triển thường xuyên trong hiểu biết của chúng ta

về thế giới - một quá trình được gọi là sự chuyển dịch trọng tâm

Copernicus đi đến nhận thức rằng: Trái đất không phải là trung tâm của Vũ trụ; Darwin đến với nhận thức rằng loài người không phải là trung tâm của tạo hoá mà chỉ

Trang 33

là một sản phẩm của sự tiến hoá Marx nhận thức rằng nhân loại không phải người tạo

ra mà là sản phẩm của các quan hệ xã hội Freud nhận thức rằng các cá nhân không phải là tác nhân lựa chọn có ý thức mà chỉ là sản phẩm của những ước muốn vô thức, Cuối cùng, cấu trúc luận báo trước một sự thay đổi trong quan niệm của chúng

ta về lịch sử, thoát khỏi ý tưởng về một sự phát triển tiến hoá tương đối đều đặn từ một hình thức xã hội này dẫn đến một hình thức xã hội khác, chuyển sang quan điểm lịch sử như một quá trình gián đoạn và đặc trưng bởi những thay đổi cấp tiến Gốc rễ của sự thay đổi về quan điểm này nằm trong sự khác biệt giữa thay đổi lịch đại và đồng đại Lịch đại đề cập đến những biến đổi mà chúng ta hầu như nhận thức được ngay tức thì, Tính bất biến ở cấp độ đồng đại, trong trường hợp các xã hội, có thể cho rằng những cấu trúc cơ bản của (chẳng hạn) Chủ nghĩa Tư bản vẫn như cũ và chúng quy định lịch sử của những biến đổi xã hội bề mặt, và đó là sự thay đổi mà chúng ta đã thực sự trải nghiệm Một sự biến đổi về kiểu xã hội bản thân nó sẽ bao gồm một sự chuyển hóa trong cấu trúc cơ bản kịch tính hơn nhiều [116, tr 61- 65]

1.2.2.2 Chức năng, chức năng luận (Functionalism)

Trong số những nhà sáng lập xã hội học thì người gắn bó nhất với chức năng luận chính là Émile Durkheim vì ông thường khai thác các mô hình mô phỏng từ sinh vật học Nổi bật nhất trong số đó là mô hình hữu cơ, trong đó xã hội được coi như một tổng thể hữu cơ, mỗi bộ phận hợp thành của nó hoạt động để duy trì các bộ phận còn lại, cũng giống như các bộ phận của cơ thể hoạt động để duy trì cả cơ thể

Tư tưởng này là cơ sở cho quan niệm của ông về đoàn kết hữa cơ Émile Durkheim thực sự đã phân biệt cách giải thích chức năng với cách giải thích lịch sử, và cho rằng cần có cả hai cách giải thích này Cách giải thích chức năng lý giải sự tồn tại của một hiện tượng hay diễn tiến của một hành động theo chuỗi hệ quả của nó cũng như đóng góp của nó vào việc duy trì một tổng thể xã hội ổn định

Parsons nhìn nhận sự phát triển lịch sử dưới góc độ phân hóa và tái hợp của các hệ thống và tiểu hệ thống, và lý thuyết đó có thể giải thích sự biến đổi hay chí ít

là những xung đột nhất thời cho đến khi diễn ra sự tái hợp Sự hiện diện của cách giải thích chức năng trong chủ nghĩa Marx cho thấy chúng có thể tồn tại song hành với việc thừa nhận những mâu thuẫn bên trong hệ thống xã hội Bản thân Durkheim cũng có khả năng kết hợp những cách giải thích chức năng với hình thức đôi khi cực đoan của chủ nghĩa phường hội [116, tr 101-103]

1.2.2.3 Thuyết về sự biến đổi và biến đổi xã hội (Change,Social change)

Vào giữa thế kỷ XIX, những nỗ lực đầu tiên trong phân tích xã hội học được thúc đẩy bởi nhu cầu giải thích hai làn sóng biến đổi lớn đang tràn khắp Châu Âu

Trang 34

Trong lý thuyết động học xã hội của mình, Auguste Comte phát biểu rằng các xã hội phát triển thông qua một giai đoạn mà ta có thể đoán trước được dựa trên sự phát triển tri thức nhân loại Herbert Spencer đưa ra một lý thuyết biến đổi mang tính tiến hoá, dựa trên tăng trưởng dân số và khác biệt hóa cấu trúc Quan điểm này được những người kế cận hiện đại trong sinh học xã hội phát triển Karl Marx thì tin tưởng rằng những biến đổi xã hội quan trọng nhất là có bản chất cách mạng, chúng diễn ra do đấu tranh giành quyền tối thượng về kinh tế

Trong thế giới hiện đại ngày nay, ta biết rằng xã hội chẳng bao giờ tĩnh tại, và rằng những biến đổi về xã hội, chính trị và văn hóa luôn diễn ra không ngừng Các nhà xã hội học khai thác vấn đề này chủ yếu bằng cách phân tích tỷ mỉ những quá trình biến đổi cụ thể và phát triển các định nghĩa về biến đổi Các lý thuyết về biến đổi hiện nay bao trùm một loạt các hiện tượng rất đa dạng, từ những biến đổi ngắn hạn cho tới những thay đổi dài hạn, những đổi thay trên quy mô lớn hay quy mô nhỏ, từ cấp độ toàn cầu cho tới cấp độ gia đình Smelser quan niệm biến đổi xã hội

là một quá trình «gia tăng giá trị », trong một loạt điều kiện hay giai đoạn liên tiếp gắn kết với nhau để rồi cuối cùng tạo ra một biến đổi xã hội [116, tr 33-36]

1.2.2.4 Thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation)

Tiếp biến văn hóa dùng để diễn giải quá trình thay đổi văn hóa do tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập; sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia Quá trình trên luôn bao hàm sự tương tác phức tạp với các tiến trình phát triển xã hội kèm theo Khi các nền văn hóa tiếp xúc với nhau, nền văn hóa trao tặng không thể đưa ra đầy đủ các yếu tố văn hóa của mình và hệ thống giá trị riêng của nền văn hóa tiếp nhận có thể đóng vai trò che chắn hoặc thay đổi những yếu tố nào đó Tiếp biến văn hóa có thể có cấu trúc xã hội chặt chẽ làm xoay chuyển dòng chảy các yếu tố văn hóa giống như trong trường hợp đất đai xâm chiếm được hoặc các tình huống bất ổn chính trị - xã hội khác

Tiếp biến văn hóa gồm nhiều quá trình khác nhau như truyền bá, thích nghi, phản ứng lại, với nhiều kiểu tái tổ chức văn hóa xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa” Phạm vi điều chỉnh trong đó có giữ lại đặc điểm văn hóa chủ đạo (thuyết đa nguyên bền vững) hay đặc trưng hơn là nhóm tiếp xúc có ảnh hưởng lớn đồng hóa nhóm yếu hơn và có sự hợp nhất về văn hóa, do đó hai nền văn hóa có thể trao đổi các yếu tố để tạo nên một nền văn hóa kế cận đặc biệt Vì tiếp biến văn hóa bao hàm sự tương tác của hai hay nhiều nhóm văn hóa riêng biệt nên

sự tương tác xã hội giữa các nhóm sẽ quyết định kết quả thu được Ví dụ, áp lực xã

Trang 35

hội đặc biệt đi kèm với sự xâm chiếm có thể chứng tỏ hiệu quả trong hành vi phá vỡ các cơ cấu là nền tảng cho nhóm bị chinh phục duy trì văn hóa của mình Trong các trường hợp khác, mức độ đi kèm cao có thể bảo vệ một nền văn hóa yếu kém về chính trị, mặc dù có vẻ như tồn tại vô số điều kỳ quặc Hơn nữa, nếu vì bất cứ lý do nào mà nhóm văn hóa này từ chối công nhận tiếp biến văn hóa của một nền văn hóa kia thì việc rút ngắn khoảng cách văn hóa (tiếp biến văn hóa) có thể sẽ không xảy ra cùng với việc rút ngắn khoảng cách xã hội tương ứng (đồng hóa) [35 tr.34,35]

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận nghiên cứu người Brâu một cách tương đối cụ thể, toàn diện, nhằm khai thác được yếu tố truyền thống và biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

Điền dã dân tộc học Đây là phương pháp chủ đạo thu thập thông tin trực tiếp

từ đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn như cảnh quan, môi trường, địa vực cư trú cũng như cấu trúc làng, kiến trúc nhà ở, nhà rông, ruộng nương, chòi rẫy, của người Brâu Chính từ những điều này, giúp cho tác giả có một cái nhìn bao quát về cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng đồng và những yếu tố xã hội tác động gián tiếp, trực tiếp đến đời sống tinh thần, vật chất của người Brâu Tác giả đã có thời gian từ năm 1997 – 2010 với nhiều chuyến điền dã tại làng Đắk Mế Thông qua phương pháp điền dã dân tộc học này, tác giả đã có cơ hội quan sát tham dự sâu các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, đời sống lễ nghi và các quan hệ xã hội trong cộng đồng Brâu Phải nói rằng, quan sát tham dự cho phép tác giả được ‘‘sống’’, cảm nhận trực tiếp các sinh hoạt gia đình và cộng đồng của người Brâu Đó là lễ cưới, lễ tang,

ăn trâu mừng nhà rông mới, uống rượu từ hôn,

Phương pháp phỏng vấn sâu cũng được tác giả sử dụng để thu thập thông tin trong quá trình nghiên cứu Mục tiêu là nghiên cứu hôn nhân và gia đình, tác giả đã tập trung vào đối tượng thanh niên nam nữ đang độ tuổi tìm bạn tình, độ tuổi kết hôn, những cặp vợ chồng trẻ, để biết được suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng, tiêu chuẩn tìm bạn đời, lễ thức cưới hỏi, thuận lợi, khó khăn trong đời sống gia đình hiện nay Bên cạnh đó, tác giả chú ý đến những cặp vợ chồng không cùng thành phần tộc người để tìm hiểu sự hòa hợp về văn hóa trước, trong và sau hôn nhân

Việc phỏng vấn đối tượng là người cao tuổi về quan niệm hôn nhân và gia đình của lớp người trước và thanh niên hiện nay để tìm ra sự thay đổi về quan niệm, khuôn mẫu ứng xử trong các thế hệ gia đình Đặc biệt là phỏng vấn thầy cúng, ông

Trang 36

mối để nắm được các lễ thức về hôn nhân và gia đình của cộng đồng tộc người Phỏng vấn cán bộ địa phương để có thông tin chính xác về việc chấp hành Luật hôn nhân và gia đình, vấn đề về dân số, kế hoạch hóa gia đình tại cơ sở

Phương pháp thảo luận nhóm cũng được tác giả chú ý Khi thảo luận, các nhóm được chia ra các độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và tập trung vào các chủ đề văn hóa, giáo dục, kinh tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hôn

nhân và gia đình (tuổi kết hôn, kết hôn với thành phần tộc người, nghi thức truyền

thống và các vấn đề thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình)

Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả sử dụng bảng hỏi để hỏi trực tiếp các đối tượng nhằm thu thập thông tin mang tính định lượng Vì số lượng hộ gia đình không nhiều (110 hộ), chúng tôi dự kiến hỏi 100% đại diện thuộc các hộ gia đình Tuy nhiên, do các điều kiện khách quan, chúng tôi chỉ thực hiện được 100 phiếu đạt 90,9% Phương pháp thu thập, phân tích tư liệu (tư liệu thứ cấp) số liệu thống kê, báo cáo, các bài viết, sách báo liên quan đến nội dung luận án để bổ sung, so sánh trong nghiên cứu hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu

1.3 Khái quát về tỉnh Kon Tum và tộc người Brâu

1.3.1 Khái quát về tỉnh Kon Tum

Kon Tum là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây có biên giới dài 142 km giáp tỉnh Attapeu, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và 95 km với tỉnh Ratanakiri, Vương quốc Campuchia Tổng diện tích tỉnh Kon Tum là 9.661,7 km2, chiếm 3,1% diện tích của cả nước

Về tổ chức hành chính Tỉnh Kon Tum có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, với 96

xã, phường và thị trấn, bao gồm: Thành phố Kon Tum, huyện Đắk Glei, huyện Đắk Hà, huyện Đắk Tô, huyện Kon Plông, huyện Kon Rẫy, huyện Ngọc Hồi, huyện Sa Thầy và huyện Tu Mơ Rông Tỉnh lỵ của Kon Tum hiện nay là thành phố Kon Tum cách thành phố Quy Nhơn 215 km về phía tây và cách thành phố Hồ Chí Minh về phía bắc 600 km, đặc biệt có đường Hồ Chí Minh đi dọc tỉnh Kon Tum

Thành phần tộc người Kon Tum có 6 tộc người sinh sống tương đối lâu trên

mảnh đất này là: Ba-na, Gia-rai, Giẻ - Triêng, Xơ-đăng, Rơ-măm và Brâu, bên cạnh đó còn nhiều tộc người khác di cư đến sau và cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Mường, Thái,

Trang 37

1.3.2 Khái quát về người Brâu

Người Brâu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me hiện cư trú tại làng Đắk Mế,

xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, cách cửa khẩu Quốc tế Bờ Y 10 km và thành phố Kon

Tum gần 100 km Đây là vùng thung lũng khá bằng phẳng dưới chân núi Hồi, núi

Hơ Niêng và giữa khu vực dòng chảy của sông Đắk Sú, sông Bờ Y, hồ A Jong, suối

Hơ Jang và suối Lơ Ma

Người Brâu là một trong số những tộc người có dân số ít ở Việt Nam Theo kết quả điền dã tính đến tháng 4 năm 2011 người Brâu ở làng Đắk Mế có 110 hộ gia đình và 353 người 16 Bên cạnh đó, các hộ gia đình của các thành phần tộc người

khác sống xen cư như Kinh có 41 hộ với 108 người, Mường có 43 hộ với 123 người, Thái có 3 hộ với 14 người, Nùng có 6 hộ với 32 người

Tổ tiên của người Brâu vốn ở vùng nam Lào và đông bắc Campuchia, đại bộ

phận hiện nay vẫn cư trú bên lưu vực sông Sekamarn (Sê San), Nậm Khoong (Mê

công) Trong cuốn The Ethnics Groups in Lao P.R.D có viết:

Người Brâu sống ở Lào đã được nhiều thế kỉ, tuy không có bằng chứng rõ ràng nào về thành phần xuất thân hay nguồn gốc của họ, nhưng theo trí nhớ của những già làng thì tộc người Brâu sống ở tỉnh A-tô-pơ (Attopeu), một tỉnh phía đông nam của Lào Người Brâu di cư từ phía bắc, qua cánh đồng Chum (Plain of Jar) thuộc tỉnh Xiêng Khoảng và định cư ở những vùng dọc theo sông Sekong, Sekamarn và sông Sesoo trong đoạn giao cắt giữa biên giới ba nước Lào, Campuchia và Việt Nam Hiện tại, người Brâu sống ở các huyện thuộc tỉnh A-tô-pơ như Xaisetthe, Samakkhixai, Sanarmxai, Phoovong và các huyện Pathoomphorn, Paksong và Biangchalernsook thuộc tỉnh Champassak Ngoài ra, người Brâu còn sinh sống ở tỉnh Kon Tum của Việt Nam và ở Latanakhilee của Campuchia Theo số liệu của một cuộc điều tra năm 1995, tổng dân số của tộc người Brâu sống ở Lào là 17.544 người, trong số đó có 8.842 người là nam giới Tộc người Brâu chiếm khoảng 0,4% tổng dân số Lào [136, tr 152]

Theo khảo sát về lịch sử tộc người Brâu của chúng tôi và tài liệu nghiên cứu

về người Brâu ở Việt Nam thì đây là nhóm tộc người di cư từ vùng Ô Tum (nam Lào) đến Việt Nam khoảng 150 -160 năm (từ 6-7 thế hệ) Hiện tại cộng đồng người Brâu ở xã Bờ Y đều có quan hệ gần gũi với người Brâu vùng Ô Tum (Lào)

Người Brâu di cư vào Việt Nam theo hai nhánh Quá trình di cư sang Việt

16

353 người không tính số người thành phần tộc người khác là dâu, rể đến cư trú sau hôn nhân và số người

đi lấy vợ/chồng, làm ăn nơi khác Tổng điều tra Dân số & nhà ở năm 2009, người Brâu ở Việt Nam là 397

Trang 38

Nam của nhóm người Brâu theo các chặng đường sau đây:

Chặng thứ nhất: Người Brâu di cư sang Việt Nam từ vùng Ô Tum (Lào) tới

chân núi Hơ Niêng và dòng suối Hơ Jang Họ sinh sống ở đây một thời gian và tiếp

tục dời làng sang vị trí khác theo quá trình du canh

Chặng thứ hai: Từ suối Hơ Jang di chuyển tới vùng hồ giáp Campuchia và

dựng làng mới Tại đây, vị thủ lĩnh của họ là Thao A Jong (anh) đã qua đời Người Brâu chôn cất “ông tổ” của mình bên hồ nước và cũng từ đây, người Brâu đặt tên cho hồ nước là hồ A Jong

Chặng thứ ba: Từ hồ A Jong tới nguồn suối Lơ Ma, lúc này người Brâu đã

tiến sâu hơn vào Việt Nam

Chặng thứ tư: Từ suối Lơ Ma chuyển đến bên sông Bờ Y Cũng ở đây (tháng 04

năm 1991) cả làng Đắk Mế bị cháy do dân làng đốt rẫy

Chặng thứ năm: Làng Đắk Mế (1992) được Nhà nước xây dựng theo chương

trình định canh, định cư Nhà được xây dựng theo lối kiến trúc nhà người Kinh: Nhà trệt, mái ngói, vách gỗ và nằm dọc hai bên đường lộ đi cửa khẩu Bờ Y Như vậy, từ kết cấu nhà cổ truyền, người Brâu chuyển sang ở nhà kiểu mới, khác về cấu trúc vật chất

và tâm linh

Sơ đồ 1.3 Quá trình di cư của người Brâu

* Đặc điểm kinh tế - xã hội

Cũng như các tộc người khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, người Brâu khai thác

đất rừng để trồng trọt Nền nông nghiệp trồng lúa cạn (lúa rẫy) với phương thức sản

xuất cổ truyền - phát, đốt, chọc, trỉa được coi là phương thức canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên và không gian sống của cộng đồng Quá trình này phụ thuộc vào

Trang 39

điều kiện tự nhiên, do vậy sản xuất một năm chỉ một vụ vào mùa mưa Khoảng tháng

4 bắt đầu trỉa lúa đến tháng 10 dương lịch là thu hoạch lúa rẫy Trên thực tế, năng suất lúa ở đây không cao và khá bấp bênh Nếu gặp năm mưa thuận, gió hòa, không

bị sâu bệnh phá hại thì mỗi ha lúa rẫy chỉ thu hoạch được từ 1,5 đến 2 tấn lúa

Cùng với cây lúa, người Brâu trồng nhiều loại cây lương thực khác trong cùng nương rẫy, với cách thức trộn lẫn các loại hạt giống (ngô, bầu, dưa,…) vào thóc giống để cùng gieo trỉa Cây sắn, chuối được trồng xung quanh rẫy; trồng ớt, cà, rau xung quanh chòi để tiện cho việc chăm sóc và thu hái Cách thức gieo trồng trong rẫy của người Brâu, phản ánh trình độ kỹ thuật sản xuất thấp, một nền kinh tế chưa phát triển chủ yếu là tự cung, tự cấp

Chăn nuôi là một hoạt động sản xuất kinh tế đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Brâu Vật nuôi chính là: Heo, gà, chó, dê Chăn nuôi theo cách thức thả rông, quy mô nhỏ, trong phạm vi gia đình, chủ yếu để đáp ứng một phần nhu cầu thực phẩm của gia đình, nhưng chỉ giết mổ vào các dịp nghi lễ gia đình như lễ cưới, lễ tang hay nghi lễ lớn của cộng đồng Vào các dịp trọng đại này, ngoài số gia súc, gia cầm sẵn có, hộ gia đình Brâu thường phải mua, đổi thêm năm bảy con trâu, vài chục con heo và gà để mổ thịt phục vụ cho ăn uống đến 5 - 7 ngày Đây cũng là tập quán chung của các tộc người người Tây Nguyên

Hái lượm và săn bắt đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống kinh tế của người Brâu, đặc biệt, khi mất mùa, lúc giáp hạt thì việc khai thác củ, quả rừng là một nguồn lợi quan trọng góp phần giúp hộ thiếu đói giải quyết nguồn lương thực Các loại rau, củ thường được người Brâu thu hái phổ biến là măng le, rau dớn, củ mài,…Công việc này thường diễn ra quanh năm và do phụ nữ, trẻ em gái làm Dụng

cụ phục vụ cho hái lượm là dao nhỏ, giỏ, gùi,

Cùng với hái lượm, nguồn lợi săn bắt cũng được coi trọng; nó không chỉ cung cấp thực phẩm cho sinh hoạt mà còn nhiều nguồn lợi kinh tế khác như: Da thú, sừng hươu, nai, ngà voi, Công việc nặng nhọc, nguy hiểm này do người đàn ông đảm nhiệm Ngoài nguồn lợi kinh tế còn giúp cho người đàn ông rèn luyện tinh thần thượng võ và cũng là săn đuổi thú dữ phá hại mùa màng, gìn giữ buôn làng Vũ khí săn bắt gồm: Tên nỏ, giáo, các loại cạm bẫy Hình thức săn bắt có thể là cả làng, nhóm hay cá thể tuỳ vào từng loại thú và quy mô Đối với người Brâu, ngà voi là

một đồ trang sức quý dành cho phụ nữ làm khuyên tai (blóoc) Do đó, việc săn bắt

voi rừng là việc rất quan trọng, những người tài giỏi được tôn vinh, là niềm tự hào của bản thân, gia đình và cả cộng đồng

Hiện nay, việc săn bắt động vật hoang dã, đặc biệt là voi rừng đã bị ngăn cấm nên việc sử dụng ngà làm khuyên tai không còn phổ biến nữa Có chăng, chỉ có rất ít

Trang 40

loại khuyên tai này được giữ lại như những kỷ vật quý hiếm trong gia đình

Nghề thủ công của người Brâu chủ yếu là đan lát Nguyên liệu dùng để đan lát là

khai thác các loại tre, nứa, song, mây từ rừng Nguyên liệu được khai thác vào mùa khô, vì theo kinh nghiệm là để không bị mối mọt Đan lát là công việc của nam giới làm vào mùa mưa hoặc dịp nông nhàn Các sản phẩm đan lát khá phong phú, trong đó

có những sản phẩm đạt đến trình độ tinh xảo, được cư dân trong vùng ưa chuộng như gùi, rổ, nong, nia, chiếu, gùi, giỏ Các sản phầm này phục vụ nhu cầu sử dụng trong gia đình Brâu là chính, nhưng cũng có khi được dùng để đổi lấy vật ngang giá trong làng hoặc với các cộng đồng lân cận

Nghề dệt của người Brâu kém phát triển, do vậy sản phẩm từ dệt (khố, váy, áo, khăn,…) rất hiếm và không đủ phục vụ nhu cầu tối thiểu Trước đây, người Brâu phải trao đổi với các cộng đồng người Lào, Khơ-me, Xơ-đăng Ngày nay, đồng bào thường mua trang phục may sẵn của người Kinh bán ở chợ để dùng trong sinh hoạt thường ngày Khi có lễ hội lớn của cộng đồng, người Brâu cũng thường sử dụng trang phục của người Xơ-đăng hay người Lào

Kinh tế hàng hóa của người Brâu chưa phát triển, có chăng chỉ là sự trao đổi các thứ lâm sản khai thác được trong tự nhiên như mật ong, dược liệu quý mang sang Lào

để đổi lấy trâu, chiêng ché và khố áo Đôi khi các sản phẩm nông nghiệp như lúa, gạo, heo, gà được đem trao đổi với những tộc người ở xung quanh để lấy các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày như mắm, muối, quần áo và các thứ nhu yếu khác Nhìn chung, kinh tế của người Brâu còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, chưa phải là kinh tế hàng hóa

Về đặc điểm xã hội truyền thống

Cấu trúc làng truyền thống (srúk) của người Brâu từ năm 1991 trở về trước, có

đặc điểm kiến trúc riêng biệt Làng Đắk Mế được dựng trên gò cao, nơi có mặt bằng tương đối rộng Làng được rào kín xung quanh bằng loại gỗ tốt không bị mối mọt và có cổng làng Cổng làng được làm bằng gỗ kiên cố Bên cổng và xung quanh làng được cắm chông để chống thú dữ và phòng gian Giữa làng là nhà rông (rôông) của cộng đồng Nơi đây thường diễn ra những nghi thức quan trọng của làng và cũng là nơi hội họp, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí

Theo Lưu Hùng "Làng của người Brâu thuộc loại cấu trúc thứ ba, tức là cấu trúc hình bánh xe, ngôi nhà cộng đồng ở giữa, quy tụ các nhà dân xung quanh và các ngôi nhà này đều quay đầu hồi có cửa chính về phía ngôi nhà cộng đồng Nếu ví ngôi nhà cộng đồng như ổ trục của bánh xe bò thì nhà ở của các gia đình như những nan hoa trong bánh xe" [59, tr.42]

Ngày đăng: 04/12/2013, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3. Quá trình di cư của người Brâu - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 1.3. Quá trình di cư của người Brâu (Trang 38)
Sơ đồ 1.4: Cấu trúc làng  Brâu truyền thống - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 1.4 Cấu trúc làng Brâu truyền thống (Trang 41)
Sơ đồ 1.5: Cấu trúc làng Brâu năm 2010 - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 1.5 Cấu trúc làng Brâu năm 2010 (Trang 44)
Sơ đồ 1.8: Hệ thống hành động của lễ /lễ hội - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 1.8 Hệ thống hành động của lễ /lễ hội (Trang 47)
Sơ đồ 2.1: Hôn nhân con chú con bác (đời thứ 3) - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 2.1 Hôn nhân con chú con bác (đời thứ 3) (Trang 56)
Sơ đồ 2.2: Hôn nhân con chú con bác  (đời thứ 4 và 5) - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 2.2 Hôn nhân con chú con bác (đời thứ 4 và 5) (Trang 57)
Sơ đồ 2.3: Hôn nhân anh em vợ - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 2.3 Hôn nhân anh em vợ (Trang 69)
Sơ đồ 2.4: Hôn nhân chị em chồng  (trường hợp gia đình Thao Dơng và Nàng Tưl) - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 2.4 Hôn nhân chị em chồng (trường hợp gia đình Thao Dơng và Nàng Tưl) (Trang 70)
Sơ đồ 2.8: Trường hợp lấy 3 đời vợ (độ tuổi 50) - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 2.8 Trường hợp lấy 3 đời vợ (độ tuổi 50) (Trang 74)
Sơ đồ 3.2 : Cấu trúc gia đình nàng Pan - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 3.2 Cấu trúc gia đình nàng Pan (Trang 81)
Sơ đồ 3.3: Gia đình ông Thao Pem - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 3.3 Gia đình ông Thao Pem (Trang 83)
Sơ đồ 3.4: Mối quan hệ trong gia đình theo chiều dọc (trực hệ) - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 3.4 Mối quan hệ trong gia đình theo chiều dọc (trực hệ) (Trang 94)
Sơ đồ 3.5: Mối quan hệ trong gia đình theo chiều ngang (bàng hệ) - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Sơ đồ 3.5 Mối quan hệ trong gia đình theo chiều ngang (bàng hệ) (Trang 94)
Bảng số 4.4: Quy mô gia đình Brâu năm 2004 - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Bảng s ố 4.4: Quy mô gia đình Brâu năm 2004 (Trang 116)
Bảng số 4.6: Thế hệ sinh sống trong gia đình Brâu - Hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum
Bảng s ố 4.6: Thế hệ sinh sống trong gia đình Brâu (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w