Đặc biệt, ở giai đoạn triều Nguyễn, từ thời Gia Long đến Tự Đức, trước những mối đe dọa đến từ thực dân phương Tây, trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đẩy mạnh xâm lược thuộc địa và các thế
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
NGUYỄN NGỌC ĐOÀN
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1883)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tương nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Nguồn tư liệu 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Bố cục luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VŨ KHÍTHỜI QUÂN CHỦ VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC TỔ CHỨC CHẾ TẠO VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VŨ KHÍ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1883) 7
1.1 Tổng quan về vũ khí thời quân chủ trong lịch sử Việt Nam 7
1.1.1 Khái niệm vũ khí 7
1.1.2 Các loại vũ khí thời quân chủ ở Việt Nam 8
1.2 Cơ sở của việc tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883) 11
1.2.1 Tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học – kĩ thuật của Việt Nam ở thế kỉ XIX 11
1.2.2 Vai trò của vũ khí đối vấn đề bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia thời quân chủ 13
1.2.3 Kế thừa hoạt động tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí trước triều Nguyễn 15
Trang 4Chương 2: TỔ CHỨC CHẾ TẠO VŨ KHÍ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
(1802–1883) 23
2.1 Hệ thống tổ chức chế tạo vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883) 23
2.1.1 Cơ sở chế tạo ở Trung ương 23
2.1.2 Cơ sở chế tạo ở địa phương 26
2.2 Hoạt động chế tạo vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883) 29
2.2.1 Quy trình chế tạo vũ khí 29
2.2.2 Chế tạo vũ khí bạch khí 31
2.2.3 Chế tạo vũ khí hỏa khí 36
2.2.3.1 Súng Thần công trang trí ở Kinh thành 36
2.2.3.2 Súng đại bác 38
2.2.3.3 Súng tay điểu sang và các loại đạn 42
2.2.3.4 Các loại pháo 44
2.2.3.5 Chế tạo thuốc súng 47
Chương 3: QUẢN LÝ CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG VŨ KHÍ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802–1883) 52
3.1 Quản lý các vật liệu chế tạo vũ khí 52
3.1.1 Quản lý khai thác vật liệu chế tạo vũ khí 52
3.1.2 Quản lý sử dụng vật liệu chế tạo vũ khí 55
3.2 Quản lí chế tạo vũ khí của triều Nguyễn (1802-1883) 58
3.2.1 Mẫu mã, số lượng vũ khí 58
3.2.2 Tên các loại vũ khí 60
3.2.3 Quản lý số lượng nguyên liệu chế tạo 61
3.2.4 Nghiêm cấm việc chế tạo vũ khí trong dân gian 62
3.3 Quản lý việc cấp phát vũ khí, đạn dược, thuốc súng 64
3.4 Quy định về sử dụng vũ khí của triều Nguyễn 68
3.4.1 Quy định bắn súng khi tàu thuyền ra vào tấn sở 68
3.4.2 Quy định đặt súng đại bác ở các thành, trấn 70
3.4.3 Quy định lắp đặt súng trên thuyền công 71
3.4.4 Định lệ sử dụng thuốc nổ cho các loại súng 72
3.4.5 Quy định sử dụng vũ khí trong thao diễn 76
Trang 53.5 Công tác quản lý giữ gìn, bảo quản vũ khí 78
3.5.1 Đối với việc quản lý ở các kho nhà nước 78
3.5.2 Đối với việc làm hư quân khí
81
3.5.3 Đối với việc tàng trữ, buôn bán, vận chuyển vũ khí 82
3.6 Chế độ thưởng phạt đối với hoạt động chế tạo về sử dụng vũ khí 84
3.6.1 Đối với công tác chế tạo 84
3.6.2 Đối với việc sử dụng 86
Chương 4: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC TỔ CHỨC CHẾ TẠO VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VŨ KHÍ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1883) 89
4.1 Đặc điểm hoạt động tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802–1883) 89
4.2 Đánh giá hoạt động tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802–1883) 92
4.2.1 Ưu điểm 92
4.2.2 Hạn chế 97
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
UB KHXH Ủy ban Khoa học xã hội
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Thống kê số lượng bạch khí triều đình Nguyễn cấp phát
cho một số địa phương trên cả nước năm 1828 34 - 35
2.2 Tổng hợp số cỡ súng bằng đồng, gang, sắt của triều
2.3 Định lệ diêm tiêu và lưu huỳnh chế tạo các loại pháo
3.1 Các mỏ nguyên liệu phục vụ chế tạo vụ khí ở một số địa
phương dưới triều Nguyễn (1802-1883) 52 - 53
3.2 Định lệ sử dụng thuốc nổ theo kích cỡ nòng súng dưới
3.3 Định lệ sử dụng thuốc nổ theo kích cỡ nòng đối với súng
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam, gắn liền với nhiều biến cố to lớn của lịch sử dân tộc Kể từ khi Gia Long đánh bại triều Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế năm 1802, cho đến vị vua cuối cùng là Bảo Đại, thoái vị bởi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, triều Nguyễn đã trải qua 143 năm tồn tại Trong khoảng thời gian đó, bên cạnh những sai lầm và hạn chế, vương triều này cũng đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là giai đoạn trị
vì của Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức từ năm 1802 đến năm 1883 Trên thực tế, Gia Long lên ngôi đã ra sức củng cố chính quyền về mọi mặt và hoàn thành việc thống nhất đất nước sau hơn hai thế kỉ chia cắt Minh Mệnh với công cuộc cải cách của mình đã đưa triều Nguyễn sang một giai đoạn mới, đặc biệt là hoạt động khẳng định chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tự Đức cũng có nhiều chính sách quan trọng trong việc phát triển văn hóa của đất nước Mặc
dù vậy, giai đoạn này cũng ghi nhận những thách thức to lớn đặt ra đối với vương triều Nguyễn Trong đó, việc đối diện với nguy cơ xâm lược từ thực dân phương Tây chính
là thách thức lớn nhất Đứng trước mối đe dọa đó, trong giai đoạn này, các hoàng đế triều Nguyễn đều có ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia và nỗ lực tìm kiếm đường hướng giải quyết, với mong muốn ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xâm lược từ thực dân phương Tây cũng như giữ vững trật tự xã hội Nhưng cuối cùng nước ta cũng bị rơi
vào tay thực dân Pháp
Do cai trị đất nước trong một giai đoạn đầy biến động với nhiều biến cố có mối liên hệ mật thiết với triều Nguyễn như vậy, nên cho đến ngày nay, việc đánh giá về vương triều này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều nhau Trong một thời gian dài, vấn đề này trở thành một trong những đề tài thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới sử học Năm 2008, hội thảo về triều Nguyễn do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức đã giải quyết được nhiều vấn đề Trong hội thảo này, giới sử học về cơ bản cũng đã tìm được tiếng nói chung trong việc đánh giá triều Nguyễn theo hướng khách quan, khoa học và công bằng hơn Đương nhiên, triều Nguyễn vẫn còn không ít góc khuất cần được làm sáng tỏ và các nhà khoa học vẫn đang miệt mài giải mã những bí ẩn để trả lại đúng vai trò, vị trí của triều đại
này trong lịch sử dân tộc
Vũ khí – với tư cách là một vật dụng dùng để chiến đấu đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài từ đơn sơ đến hiện đại Có thể nói, vũ khí xuất hiện cùng với sự phát triển của loài người Đến khi xã hội phân chia giai cấp, các cuộc chiến tranh diễn ra ngày càng nhiều thì việc chế tạo, quản lý, sử dụng vũ khí càng được con người chú ý
nhiều hơn
Trang 12Ở Việt Nam, từ thế kỉ X, sau khi giành được nền độc lập tự chủ, do yêu cầu của công cuộc bảo vệ đất nước, chống lại ách xâm lược của các thế lực ngoại bang, đặc biệt là phong kiến phương Bắc – Nhà nước quân chủ mạnh hơn nước ta về mọi mặt, nên các vương triều Việt Nam từ rất sớm đã có ý thức xây dựng tiềm lực quốc phòng,
an ninh vững chắc, đặc biệt là hoạt động tổ chức quản lý chế tạo và sử dụng vũ khí Dưới chế độ quân chủ với đặc tính khép kín, bảo thủ của nó thì vũ khí cũng chính là thước đo cho sự phát triển và năng lực bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia của một dân tộc Đặc biệt, ở giai đoạn triều Nguyễn, từ thời Gia Long đến Tự Đức, trước những mối đe dọa đến từ thực dân phương Tây, trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đẩy mạnh xâm lược thuộc địa và các thế lực chống đối trong nước liên tục nổi lên do những mâu thuẫn trong xã hội càng ngày càng gay gắt, nhằm bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội cũng như bảo vệ vương triều, các vị vua triều Nguyễn luôn tìm cách quản lý chặt chẽ việc chế tạo, sử dụng vũ khí và xem đây là một trong những nhân tố quan trọng, được ưu tiên hàng đầu đối với công cuộc xây dựng và phát triển triều đại mình Vì vậy, nghiên cứu việc tổ chức, quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1883 có ý nghĩa quan trọng Trước tiên, việc nghiên cứu này sẽ cho giới nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình quản lý chế tạo và sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn Không những thế, từ những nỗ lực, cố gắng của triều Nguyễn trong việc quản lý chế tạo và sử dụng vũ khí, để bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và trật tự xã hội sẽ góp phần giúp cho giới nghiên cứu có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn trong việc đánh giá vương triều Nguyễn Ngoài ra, việc nghiên cứu này cũng sẽ góp phần hệ thống hóa nguồn tư liệu về vấn đề vũ khí dưới nhà Nguyễn, cung cấp một tài liệu khoa học chuyên sâu, phục vụ cho việc khảo cứu, giảng dạy lịch sử triều Nguyễn ở các viện, trường ĐH, CĐ đào tạo các chuyên ngành khoa học xã hội - nhân văn và cả ở trường THPT
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm qua, việc đánh giá lại triều Nguyễn với quan điểm khách quan
và toàn diện hơn đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Từ những nghiên cứu chung về tổ chức bộ máy nhà nước, tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao cho đến việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể về vương triều này đã liên tiếp được thực hiện, nhằm góp phần nhận thức đầy đủ và đánh giá chính xác hơn điểm tích cực
và hạn chế của triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử dân tộc Trong đó, lĩnh vực quân sự cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề quản lý chế tạo, sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn lại không
nhiều
Năm 1958, tác giả Trần Văn Giàu trong tác phẩm Sự khủng hoảng của chế độ
phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858, đã đề cập đến việc vận hành sử dụng vũ khí
của nhà Nguyễn Nhưng chủ yếu dừng lại ở mức độ phản ánh sự lạc hậu của trang bị
vũ khí của nhà Nguyễn:“Sự trang bị rất là lạc hậu: Mỗi đội 50 người thì 4 người cầm
Trang 13vũ khí thô sơ như gươm giáo, chỉ có 5 súng châm ngòi; mỗi năm tập bắn một lần, mỗi lần bắn sáu phát, chưa kể rằng khoa chăm sóc súng đạn rất kém; súng gỉ, đạn ẩm là
thường ” [10, tr 50-51]
Năm 1961, tác giả Chu Thiên đã công bố bài viết dài 15 trang trên tạp chí Nghiên
cứu Lịch sử với nhan đề “Vài nét về công thương nghiệp triều Nguyễn”, nghiên cứu
một cách tổng thể về hoạt động tổ chức, quản lý công thương nghiệp của triều Nguyễn, đặc biệt là hoạt động của hệ thống quan xưởng nằm dưới sự quản lí của nhà nước quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Trong đó, việc chế tạo vũ khí chỉ mới được đề
cập khá sơ lược, với tư cách là một hoạt động của thủ công nghiệp nhà nước
Năm 1998, trong cuốn Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ dưới
triều Nguyễn, Bùi Thị Tân - Vũ Huy Phúc đã trình bày, phân tích tình hình thủ công
nghiệp và sự phát triển các kĩ nghệ dưới triều Nguyễn Các tác giả đã đề cập tổng quát
tình hình chế tạo vũ khí của Vũ khố triều Nguyễn và đi đến nhận xét: “Trình độ kỹ
thuật của nước ta thời bấy giờ còn thấp so với tiến bộ của khoa học quân sự thế giới nên súng, đạn xưởng đúc sản xuất ra nhiều nhưng hiệu quả sử dụng không lớn” [53, tr
55]
Đến năm 2001, luận án tiến sĩ Quan xưởng ở kinh đô Huế từ năm 1802 đến 1884
của Nguyễn Văn Đăng được công bố, cũng đã đề cập đến quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, sự thay đổi tên gọi, tình hình hoạt động chế tạo vũ khí và các đồ vật khác của Vũ khố triều Nguyễn Theo Nguyễn Văn Đăng, Vũ khố được nhà vua giao cho việc chế tạo vũ khí Đó là chức trách chế tạo trọng yếu của nha môn ngoài việc quản lý các kho nguyên vật liệu [9, tr 104] Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra quy mô chế tạo, lực lượng
lao động, quy trình, kỹ thuật chế tạo vũ khí đương thời: “Các xưởng đúc đồ binh khí,
thuốc súng đều là những xưởng lớn về quy mô tổ chức và mang tính chuyên môn hóa của nhiều loại thợ khác nhau Lực lượng lao động tham gia ngoài thợ các loại, có một
số lượng khá lớn binh lính, và thỉnh thoảng có thuê mướn thêm thợ Kỹ thuật chế tạo
vẫn còn là thủ công nhưng đã biết phỏng theo kỹ thuật làm súng của phương Tây” [9,
tr 113]
Năm 2008, hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong Lịch
sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX” do UBND tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Hội
Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức, được xem là hội thảo lớn nhất về triều Nguyễn từ trước cho đến thời điểm đó Hội thảo đã nhận được khá nhiều tham luận từ giới chuyên gia và các nhà khoa học có uy tín trong giới nghiên cứu sử học, những đáng tiếc chưa có một tham luận nào nghiên cứu một cách chuyên sâu vấn đề tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn
Năm 2015, trong luận văn thạc sĩ Nguồn sử liệu về Vũ khố triều Nguyễn (giai
đoạn 1802-1884), tác giả Nguyễn Đình Sáng đã “phục dựng” lại cơ quan Vũ khố dưới
triều Nguyễn, trên cơ sở sưu tập, hệ thống hóa nguồn sử liệu trong Đại Nam thực lục,
Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,
Trang 14Ngự chế văn, Đại Nam nhất thống chí, về một số vấn đề liên quan đến cơ quan này
như sự thay đổi tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, nhân sự, hoạt động chế tạo vũ khí, cấp phát vũ khí…
Trên cơ sở xem xét một số công trình nghiên cứu trên đây, tác giả nhận thấy một
số vấn đề sau:
Thứ nhất, hoạt động chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn đã ít nhiều được đề cập đến trong các công trình trên Tuy nhiên, nó hoặc chỉ trình bày một cách khái lược hoặc nghiên cứu mang tính chất “cục bộ”, khi chỉ đi sâu vào lĩnh vực chế tạo vũ khí với tư cách là một hoạt động thủ công của nhà nước hoặc cơ cấu tổ chức của cơ quan chế tạo vũ khí…
Thứ hai, phạm vi nghiên cứu của một số công trình được đề cập ở trên là tương
đối hẹp cả về không gian và thời gian
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên về căn bản chưa vạch ra và phân tích đặc điểm, vai trò cũng như đánh giá điểm tích cực và hạn chế của việc tổ chức chế tạo, quản lý sử dụng vũ khí thời Nguyễn và tác động của nó đối với việc bảo vệ chủ quyền
và an ninh quốc gia
Xuất phát từ những nhận định và phân tích nêu trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề
“Tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 -1883)” để làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ toàn diện nội dung này, góp phần bổ khuyết cho các công trình nghiên cứu trước đó
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn
(1802 – 1883)”, tác giả hướng tới các mục đích sau:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở của việc tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 – 1883)
Thứ hai, thông qua việc khai thác các nguồn sử liệu khác nhau, luận văn tái hiện một cách chân xác nhất có thể hoạt động tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 – 1883)
Thứ ba, tác giả luận văn đưa ra một số nhận định, đánh giá về hoạt động tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 – 1883)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tương nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí ở giai đoạn trị vì của 4 hoàng đế Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức từ 1802 đến
1883 trên phạm vi cả nước
Trang 155 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Nghiên cứu đề tài “Tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn
(1802 – 1883)”, tác giả chủ yếu sử dụng các nguồn tư liệu sau:
Thứ nhất là nguồn tư liệu gốc Để tiến hành nghiên cứu hoạt động tổ chức chế tạo
và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 – 1883), tác giả sử dụng nguồn thư tịch do cơ quan viết sử của các nhà nước quân chủ Việt Nam, trong đó có vương triều
Nguyễn hoặc sử gia tư nhân ở các giai đoạn lịch sử khác nhau biên soạn như Đại Việt
sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục, Châu bản triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…
Thứ hai là thành quả học thuật của giới nghiên cứu.Trong quá trình nghiên cứu
đề tài, những nội dung liên quan đến hoạt động tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883) ít nhiều được đề cập trong một số tác phẩm, bài
báo, luận văn như Đại cương lịch sử Việt Nam của GS Trương Hữu Quýnh (đồng chủ biên), Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858 của GS Trần Văn Giàu, bài viết “Vài nét về công thương nghiệp triều Nguyễn” của tác giả Chu Thiên, công trình Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ dưới triều
Nguyễn của hai tác giả Bùi Thị Tân và Vũ Huy Phúc, luận án tiến sĩ Quan xưởng ở kinh đô Huế từ năm 1802 đến 1884 của Nguyễn Văn Đăng, luận văn Thạc sĩ Nguồn sử liệu về Vũ khố triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) của Nguyễn Đình Sáng… đã có tác
dụng gợi mở và đặt cơ sở để tác giả theo đuổi việc nghiên cứu vấn đề “Tổ chức chế
tạo và quản lí sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)”
Thứ ba là nguồn tư liệu trên mạng internet Trong đề tài này, ngoài nguồn từ liệu
gốc và các ấn phẩm học thuật của các nhà nghiên cứu, tác giả còn sử dụng hệ thống tư
liệu mạng internet như bài viết “Vài nét về vũ khí cổ Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Thị Hậu trên trang Báo điện tử của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam; các khái niệm về vũ khí, về súng đại bác đăng tải trên trang Bách khoa toàn thư mở (wikipedia)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đứng vững trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp sử dụng hai phương pháp chủ đạo của Sử học là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, đồng thời vận dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh…., nhằm rút ra những thông tin cần thiết nhất phục vụ nghiên cứu đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn được nghiên cứu hoàn thành sẽ có ý nghĩa sâu sắc trên phương diện khoa học và thực tiễn với các đóng góp cụ thể và thiết thực sau đây:
Trang 16Thứ nhất, tập hợp sử liệu có giá trị để nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về
hoạt động tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng về vũ khí dưới thời Nguyễn (1802 - 1883)
Thứ hai, trên cơ sở khai thác nguồn tài liệu gốc cũng như kế thừa thành quả của
giới nghiên cứu trong và ngoài nước, luận văn tiến hành phân tích đặc điểm cũng như đánh giá ưu điểm và hạn chế của hoạt động tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng về vũ khí dưới thời Nguyễn (1802 - 1883)
Thứ ba, việc hoàn thành nghiên cứu đề tài sẽ cung cấp một tài liệu chuyên khảo
có giá trị về mặt khoa học phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch
sử triều Nguyễn tại các viện, trường ĐH
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn được chia
thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vũ khí thời quân chủ và cơ sở của việc tổ chức chế
tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802 – 1883)
Chương 2: Tổ chức chế tạo vũ khí dưới triều Nguyễn (1802–1883)
Chương 3: Quản lý chế tạo và sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802–1883) Chương 4: Một số nhận định về việc tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ
khí dưới triều Nguyễn (1802–1883)
Trang 17NỘI DUNG
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ VŨ KHÍ THỜI QUÂN CHỦ VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC
TỔ CHỨC CHẾ TẠO VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VŨ KHÍ
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1883)
Từ thế kỉ X, sau khi thoát khỏi ách đô hộ của phương Bắc, các nhà nước quân chủ Việt Nam đã nối tiếp nhau đề ra và thực thi các biện pháp bảo vệ, củng cố vững chắc nền độc lập tự chủ của dân tộc, trong đó, trang bị vũ khí cho quân đội là một trong những biện pháp tương đối được chú trọng Cùng với đó, quá trình tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí ngay từ đầu cũng được quan tâm sâu sắc Bước sang thế
kỉ XIX, sự biến động của tình hình trong nước và thế giới đã đặt triều Nguyễn trước nhiều khó khăn, thách thức Bối cảnh đó cũng đã khiến triều Nguyễn không có bất kì một sự lựa chọn nào khác hơn là đẩy mạnh hoạt động tổ chức chế tạo và xiết chặt quản
lí sử dụng vũ khí, với kì vọng thông qua đó có thể củng cố tiềm lực quân sự của đất nước, giúp triều Nguyễn đủ sức đối đầu với nguy cơ xâm lược từ bên ngoài Vậy trên thực tế, hoạt động chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí của các nhà nước quân chủ trong lịch sử nước ta trước thế kỉ XIX đã diễn ra như thế nào? Cơ sở của việc tổ chức chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí duới triều Nguyễn là gì? Những vấn đề nêu trên sẽ được làm rõ trong nội dung chương này
1.1 Tổng quan về vũ khí thời quân chủ trong lịch sử Việt Nam
1.1.1 Khái niệm vũ khí
Vũ khí – một thuật ngữ khá quen thuộc, được sử dụng tương đối phổ biến trong lĩnh vực quân sự, chiến tranh, đến nỗi khi nhắc nhở đến hai từ này, người ta có cảm giác dường như đã hiểu một cách tường tận nội hàm của nó, mà không cần bất kì một
sự định nghĩa hay giải thích nào thêm nữa Tuy nhiên, trên thực tế, khi đi sâu nghiên cứu khái niệm vũ khí, dựa trên các tiêu chí khác nhau, giới học giả lại có cách tiếp cận
và lí giải khá phong phú về thuật ngữ này
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2005), tiếp cận dưới góc độ chức năng, công dụng, vũ khí được định nghĩa là “phương tiện dùng để sát thương và
phá hoại Phương tiện để tiến hành đấu tranh” [60, tr 1129]
Khai thác dưới góc độ Hán tự học, Từ điển Bách khoa lại có cách phân tích ngữ
nghĩa khá cụ thể và chi tiết Trong đó, thuật ngữ vũ khí (武器) được ghép lại từ hai thành tố: thứ nhất là vũ (武) nghĩa là võ thuật, quân sự và thứ hai là khí (器) được hiểu
là các loại đồ dùng, đồ vật sử dụng để chiến đấu Liên kết ý nghĩa của hai từ này lại, có thể hiểu, tất cả các vật dụng có thể dùng vào việc chiến đấu đều được gọi là vũ khí Vũ
Trang 18khí có thể đơn giản như một cái lược khi dùng vào mục đích đánh nhau hay rất phức tạp như đạn tự hành [62]
Kết hợp tiếp cận trên cả phương diện công dụng, chức năng và Hán tự học của từ
vũ khí, GS Nguyễn Lân trong tác phẩm “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” giải thích, vũ
(武) tức là dùng uy lực và khí (器) dùng để chỉ đồ dùng Vậy vũ khí theo cách giải
thích này chính là các “phương tiện dùng để chiến đấu” [16, tr 2053]
Cũng tiếp cận trên phương diện chức năng, công dụng của vũ khí, nhưng áp dụng
sâu vào trong lĩnh vực quân sự, chiến tranh, Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng, vũ khí là “các thiết bị và phương tiện chiến đấu để tiêu diệt sinh lực, phương tiện của đối
phương” [12, tr 932]
Đặc biệt, tiếp cận dưới góc độ luật pháp học, “Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ” năm 2017, khoản 1, điều 3, chương I khẳng định: “Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao
và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự” [22, tr 6]
Như vậy, từ một số định nghĩa về vũ khí trên đây, có thể thấy rằng, mặc dù câu
từ diễn đạt có thể khác nhau, nhưng về cơ bản, các khái niệm trên ở một phương diện
nào đó đều giải thích thuật ngữ “vũ khí” hoặc trên nền tàng ngôn ngữ học, hoặc trên
cơ sở chức năng, công dụng của nó, hoặc kết hợp cả hai cách tiếp cận này Trên cơ sở
kế thừa các cách luận giải đó, chúng tôi cho rằng, vũ khí là phương tiện dùng để chiến đấu, nhằm làm tổn hại hoặc tiêu diệt sinh lực, phương tiện của đối phương Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi đề cập đến vũ khí với tư cách là phương tiện chiến tranh của lực lượng quân đội triều Nguyễn, nhằm trấn áp, tiêu diệt các lực lượng đối lập, giữ gìn, bảo vệ độc lập, tự chủ và trật tự, an ninh quốc gia trong giai đoạn
1802 – 1883
1.1.2 Các loại vũ khí thời quân chủ ở Việt Nam
Vũ khí thời quân chủ hay còn là vũ khí cổ ở Việt Nam “là các loại vũ khí dùng
trong lực lượng vũ trang các triều đại phong kiến (quân chủ - TG)” [12, tr 932] Nếu
theo quan điểm này, chúng ta thừa nhận, chế độ quân chủ Việt Nam bắt đầu hình thành
từ thế kỉ XI dưới nhà Lý, thì mốc thời gian nghiên cứu vũ khí thời quân chủ cũng được xác định từ thế kỉ XI cho đến khi chế độ quân chủ Việt Nam chấm dứt hoàn toàn vào năm 1945
Các nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình phát triển vũ khí thời quân chủ về cơ bản
chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn từ thế kỉ XI – XV: “vũ khí lạnh” phát triển mạnh và
bắt đầu có hỏa khí; giai đoạn từ thế kỉ XV – XIX: hỏa khí phát triển mạnh [63]
Đối với cách phân loại vũ khí thời quân chủ, cho đến hiện nay, trong các công
trình nghiên cứu vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng, “vũ khí cổ ở Việt Nam có các loại: vũ khí đánh gần (rìu, búa, dao, kiếm,
Trang 19qua…); vũ khí đánh xa (cung, nỏ, lao) và phương tiện phòng hộ (khiên, mộc); vũ khí lạnh (vũ khí không gây nổ); hỏa khí (súng, pháo)” [12, tr 932]
Còn theo tiến sĩ Nguyễn Thị Dơn, để phân loại vũ khí, các nhà nghiên cứu cần
phải “dựa theo chức năng vận hành và hình dáng của vũ khí: Bạch khí, hỏa khí Trong
bạch khí lại được chia theo chức năng sử dụng: đánh gần, đánh xa, phòng ngự; trong hỏa khí được chia ra súng đạn Trong mỗi loại, chức năng lại phân chia nhỏ nữa theo loại hình và tên gọi của nó Ngoài chức năng – loại hình học là chính, tùy thuộc vào mỗi loại có thể phân chia theo chất liệu và kỹ thuật chế tác” [7, tr 7]
Trong bài viết “Vài nét về vũ khí cổ Việt Nam” đăng trên trang điện tử Bảo tàng
Lịch sử quốc gia [63], Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho rằng, thời quân chủ ở Việt Nam về
cơ bản vũ khí có hai loại lớn:
Thứ nhất là Bạch khí bao gồm vũ khí đánh gần, vũ khí đánh xa, vũ khí phòng ngự Vũ khí đánh gần trong Bạch khí gồm có giáo, trường, câu liêm, kiếm, đinh ba…
Về giáo gồm nhiều loại, như giáo có chuôi hoặc họng tra cán, mũi giáo hình búp đa, hình ngòi bút, hình lá lúa, giáo có ngạnh ở thân Giáo có thể tra cán ngắn hay dài đến hơn 2m (giáo trường) Kích thước chung của các loại mũi giáo thường dài từ 29 đến 44cm, lưỡi rộng từ 3 đến 4,4cm, nặng từ 250 đến 540 gam Riêng giáo có ngạnh ở thân dài từ 23 đến 40cm, nặng 100 đến 320 gam, thân giáo có tiết diện vuông thon dần về mũi, ngạnh vuông ở gần mũi nhọn Ngạnh vuông nhọn dài khoảng từ 1,5 đến 2cm Chuôi giáo có lỗ chốt đinh để gắn vào cán Đối với mũi trường, đây là loại giáo tra cán rất dài, có thể đến 4m, tác dụng dùng để đâm với lực rất mạnh Mũi trường có tiết diện hình vuông chia thành hai phần rõ rệt là mũi và chuôi tra cán Kích thước của mũi trường thường dài từ 40 đến 64cm, tiết diện mũi 1,4 x 1,4cm, nặng từ 300 đến 520 gam
Đối với câu liêm, đây là loại vũ khí khá phổ biến vì có khả năng vừa bổ, đâm, móc kẻ thù Kích thước thường lớn và được rèn chế khá cầu kỳ Cấu tạo câu liêm cũng gồm 2 phần là mũi và chuôi tra cán Mũi thẳng theo trục dọc của chuôi tra cán (phần giáo), sát đầu cán vòng ra một lưỡi hình trăng khuyết, đầu phẳng, sắc (phần câu) Phần cuối đốc câu tạo thành chuôi tra cán Câu liêm thường dài từ 52 đến 66cm, nặng từ 580 đến 1000 gam
Đối với kiếm, đây còn được coi là vũ khí tùy thân, vì thường được đeo bên mình các tướng lĩnh Kiếm có hai loại là đoản kiếm và trường kiếm Lưỡi kiếm dài từ 40 đến 61cm, nặng từ 500 đến 1300 gam Đoản kiếm lưỡi khá rộng còn trường kiếm lưỡi hẹp hơn
Vũ khí đánh xa trong Bạch khí gồm có lao, móc câu, mũi tên Đây là loại vũ khí
có khả năng sát thương đối phương ở khoảng cách xa, sức đẩy vũ khí đi xa do sức của con người và sức đẩy cơ học Đối với lao, phần đầu của loại vũ khí này giống mũi tên
có cánh lớn với 2, 3 ngạnh, họng tra cán dài, kích thước trung bình từ 20 đến 26cm, nặng khoảng từ 100 đến 120 gam Đối với móc câu chum, hình dáng của loại này
Trang 20giống chiếc mỏ neo, nhưng có 3 móc câu uốn cong lên, dùng để quăng, móc Tiết diện thân hình chữ nhật, móc cong tiết diện hình tròn Đối với mũi tên, gồm phần thân tên
và phần tra chuôi tên, thường dài từ 5 đến 13cm, thân mũi tên dài từ 4 đến 8cm, dùng kết hợp với cung, nỏ, là loại vũ khí đánh xa truyền thống của dân tộc ta
Vũ khí phòng ngự thuộc nhóm Bạch khí gồm một số loại như mũi chông củ ấu, chông 3 cạnh…
Ngoài ra, trong thời kì trung cổ, trong chiến trận, quân đội còn sử dụng các loại
vũ khí làm từ tre nứa như cung tên, nỏ, bẫy…, hay những địa hình bất lợi tự nhiên, thậm chí nhiều loại động vật có nọc độc như ong vò vẽ cũng được sử dụng phổ biến trong thế trận chiến tranh du kích
Thứ hai là Hỏa khí gồm súng lệnh, súng thần công, đạn đá, đạn gang Đối với
súng lệnh và súng thần công, sử cũ ghi chép, ngay từ thời Trần đã có pháo đặt trên thuyền, tấn công vào chiến thuyền của quân đội Champa [63] Hồ Quý Ly đã ra lệnh cho con trai là Hồ Nguyên Trừng nghiên cứu sáng chế súng thần công với tên gọi
“Thần cơ sang pháo” để chống quân xâm lược Minh [63] Sau này, khi Hồ Nguyên
Trừng bị bắt sang Trung Quốc, nhà Minh đã bắt ông chế tạo loại vũ khí này Súng do ông chế ra có 3 loại: loại lớn đặt trên lưng voi, loại vừa hai người khiêng và loại nhỏ 1 người vác trên vai Ông được coi là ông tổ của súng thần công [63]
Từ thế kỷ XIII - XIX, ở Việt Nam đã có nhiều loại hỏa khí với các tên gọi khác nhau Trong đó, phổ biến nhất là súng lệnh, súng thần công và một số khẩu đại pháo đúc vào thời Nguyễn
Súng lệnh được dùng để bắn phát lệnh, thường được đúc nguyên khối Thân súng chia làm 3 phần rõ rệt: nòng súng, bầu nạp thuốc súng phình to ở gần đuôi và đuôi súng Mỗi phần đều có đai rộng ngăn cách Trên thân bầu có 2 chi tiết: Hai trụ nổi như đường rãnh ngắm của súng, nằm giữa hai đường là một gờ nổi, có lỗ nhỏ để tra dây cháy chậm mồi nổ cho thuốc súng chứa trong bầu Bên trong phần bầu đúc hình răng cưa cho thành của bầu nòng vững chắc không bị phá vỡ khi thuốc súng nổ Trên thân
súng còn hay khắc chữ số ký hiệu súng, như “Công tự tam bách thập phân thất hiệu”,
nghĩa là “hiệu chữ công số 317”…[63] Kích thước của súng lệnh không lớn, dài
khoảng 30 đến 40cm, đường kính miệng khoảng 2,5 đến 3cm, đường kính nòng khoảng 1,5cm, nặng khoảng 2,2 đến 3,5kg Súng lệnh thời Nguyễn còn có các chữ trên
thân súng như “Lôi uy tả sở nhị bách lục thập hiệu”, “Báo Vĩnh Hưng”… [63] Bên
cạnh đó, cũng có nhiều khẩu súng lệnh được chế tạo khá đơn giản, không có ký hiệu, dài ngắn khác nhau từ 30 đến 40cm
Đối với súng thần công, thường có tên gọi như Đại tướng quân, Thượng tướng
quân, Thần cơ doanh… Thời Nguyễn có “Cửu vị thần công” được đúc rất công phu
[9, tr 103] Phần lớn súng thần công dài từ 40 đến hơn 100cm Đường kính ngoài của nòng súng từ 14 đến 16cm, đường kính trong từ 3 đến 8cm, đường kính thân nơi lớn nhất từ 13 đến 22cm, là phần chứa thuốc súng Súng có cấu tạo gồm nòng súng lớn
Trang 21dần đến phần đuôi, quanh vành miệng nòng có đai dày Ngoài ra, trên thân còn một vài đai khác, nhằm giữ cho súng không bị vỡ khi đạn nổ Lỗ tra ngòi ở vào khoảng 1 phần
3 thân từ đuôi súng, giáp đó có tay xách hình vòng cung nhô cao (súng nhỏ có 1 tay xách ở giữa, còn súng lớn có hai cái đối xứng nhau Súng thường không có tai chống giật mà có một rãnh cắt ngang đuôi súng, khớp với một bộ phận ở bệ súng giữ cho nòng không giật khi bắn Đuôi súng là khối tròn Trên súng thần công hay ghi tên súng, kích thước, cân nặng [63]
Đối với đạn súng lệnh, súng thần công, hình cầu, thường làm bằng đá hay đúc bằng gang, sắt Đạn đá đường kính từ 2,5 đến 5,5cm, nặng từ 50 đến 200 gam Đạn sắt, gang kích thước thường lớn hơn, trung bình trên 10cm, là loại đạn của các khẩu
thần công lớn Ngoài ra, thời Nguyễn còn có loại đạn bướm “hồ điệp”, có cấu tạo hai
nửa cầu nối liền với nhau bởi 1 sợi dây xích dài khoảng 25 đến 30cm Khi bắn đạn bay
ra giống đàn bướm bay, tính sát thương cao hơn nhiều
Trải qua gần 10 thế kỉ xây dựng và củng cố nền độc lập tự chủ, các triều đại quân chủ Việt Nam đã ra sức xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng, trong đó có vấn đề chế tạo các loại khí giới, phục vụ đắc lực cho công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền và
an ninh quốc gia Trong quá trình đó, Việt Nam đã chế tạo được nhiều loại vũ khí phục
vụ những mục đích và điều kiện tác chiến khác nhau Nó là sản phẩm của quá trình lao động sáng tạo trên cơ sở kế thừa hoạt động chế tạo vũ khí trước đó vừa có sự tiếp thu thành tựu chế tạo vũ khí từ bên ngoài Vũ khí giai đoạn này vừa có hỏa khí, vừa có bạch khí, trong đó chủ yếu vẫn là bạch khí Đến thế XIX, hỏa khí mới trở nên phổ biến
và được sử dụng nhiều trong quân đội triều Nguyễn
1.2 Cơ sở của việc tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883)
1.2.1 Tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học – kĩ thuật của Việt Nam ở thế kỉ XIX
Năm 1802, sự kiện Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Gia Long đã đánh dấu sự ra đời của nhà nước quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Sau Gia Long, các vị vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức đã ra sức củng cố và xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Theo đó, quyền lực ngày càng tập trung
cao độ vào tay vua “các vua Nguyễn muốn thâu tóm vào tay tất cả các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát , không muốn cho một ai chia sẻ quyền hành hoặc lấn át uy quyền của mình” [59, tr 370] Điều này được thể hiện rõ nét thông qua
hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ chế tuyển dụng
và bổ nhiệm quan lại, tổ chức quân đội và hệ thống luật pháp Điểm nổi bật nhất trong
đường lối đối ngoại của triều Nguyễn là thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” đối
với người phương Tây Điều này ở một mức độ nhất định đã hạn chế cơ hội giao thương, buôn bán, trao đổi kinh tế, khoa học - kỹ thuật giữa nước ta với người phương
Trang 22Tây, ảnh hưởng không nhỏ đến tiềm lực của đất nước trong giai đoạn này Một trong những minh chứng rõ nhất là chính quyền nhà Nguyễn đã khước từ việc buôn bán, trao đổi với Hoa Kỳ Năm 1832, Tổng thống Mỹ Andrew Jackson đã cử Edmund Robert làm đặc phái viên tới Việt Nam Edmund Robert đến Việt Nam mang theo quốc thư và chỉ thị của Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ , đặc biệt là bản dự thảo Hiệp ước thương mại với Việt Nam gồm 8 điều khoản, trong đó có Điều khoản 1 đề cập tới một nền hoà bình bền vững giữa Hoa Kỳ và Việt Nam [11, tr 489] Tuy nhiên, trong lần đến Việt Nam này, Edmund Robert đã thất bại Năm 1836, Edmund Robert tiếp tục đến Việt Nam lần 2, nhưng cũng chỉ nhận được kết quả tương tự Nguyên nhân của những thất
bại đó là do “chính sách đóng cửa của nhà Nguyễn quyết định” [11, tr 489]
Bên cạnh những sai lầm trong đường lối đối ngoại ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, chính quyền nhà Nguyễn cũng phải đối mặt với nguy cơ xâm lược từ các nước phương Tây Đặc biệt là tư bản Pháp, với những ưu thế của mình đang ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chuẩn bị xâm lược Việt Nam Tiếng súng của liên quân Pháp – Tây Ban Nha ở cửa biển Đà Nẵng năm 1858 đánh dấu một giai đoạn mới trong quan hệ Việt – Pháp nói riêng và quan hệ Việt Nam – phương Tây nói chung Nó đặt triều Nguyễn trước những thách thức mới vô cùng to lớn Kinh tế là thước đo chủ yếu về sức mạnh của một quốc gia Tiềm lực kinh tế sẽ quyết định đến mọi mặt của đời sống chính trị xã hội trong đó có hoạt động chế tạo vũ khí Dưới triều Nguyễn, nền kinh tế đất nước chủ yếu vẫn là nông nghiệp, lạc hậu, năng suất lao động thấp và thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, hạn hán, mất mùa Mặc dù có nhiều biện pháp nhưng chính quyền đã không ngăn chặn được sự phát triển mạnh của tư hữu
về ruộng đất - tư liệu chế tạo chính và là nền tảng kinh tế chủ yếu của xã hội Công cuộc khai hoang, phục hóa được khuyến khích nhưng không mang lại hiệu quả Chính quyền cũng tỏ ra bất lực trong công tác trị thủy và thủy lợi khi hạn hán, lụt lội diễn ra liên miên
Về thủ công nghiệp, bộ phận thủ công nghiệp nhà nước giữ vai trò rất quan trọng Nó chịu trách nhiệm chế tạo mọi thứ cần dùng cho bộ máy vua, quan lại, hoàng gia, đóng thuyền, đúc tiền, đúc súng… Thợ làm việc trong các công xưởng chủ yếu trưng tập thợ giỏi ở các tỉnh, được tổ chức theo chế độ cộng tượng, tập trung theo ban, hưởng lương gồm gạo và tiền theo công việc nặng, nhẹ Thời kỳ này, việc các thợ người Việt bước đầu tiếp xúc với cơ khí phương Tây đã kích thích tinh thần sáng tạo của lực lượng thợ thuyền làm việc trong quan xưởng của triều đình Tuy nhiên, đây chỉ
là bộ phận rất nhỏ và không được tạo điều kiện để phát triển
Về thương nghiệp, đến đầu thế kỉ XIX, đất nước được thống nhất, bình yên là điều kiện để đẩy mạnh hoạt động giao lưu, trao đổi hàng hóa Tuy nhiên, chính sách ức
Trang 23thương của nhà nước đã hạn chế sự phát triển của thương nghiệp Việc trao đổi buôn bán với thương nhân nước ngoài suy giảm Đặc biệt, triều Nguyễn chủ trương không giao thương với các nước phương Tây Thời Minh Mệnh, việc buôn bán với Pháp chấm dứt Các thuyền buôn và công cán của nhà nước chủ yếu tới Hạ Châu (Singapore), Giang Lưu Ba (Indonesia), Lữ Tống (Philippines)… [52, tr 450]
Trong khi đó, sự phân hóa xã hội dưới triều Nguyễn diễn ra sâu sắc Xã hội phân thành hai giai cấp lớn: thống trị và bị trị Trong lúc giai cấp thống trị sống cuộc sống
xa hoa thì nhân dân lao động càng ngày khổ cực Chính đời sống nhân dân cực khổ cùng với những chính sách đối nội sai lầm (tiêu biểu là chính sách cấm đạo, sát đạo)
đã tạo nên những mâu thuẫn xã hội gay gắt Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc đấu tranh của nhân dân từ miền ngược tới miền xuôi, từ người Kinh đến đồng bào các dân tộc thiểu số, từ trí thức đến quan lại… Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành ở trấn Sơn Nam (1821-1825), Nông Văn Vân ở Cao Bằng (1833-1834), Cao Bá Quát ở Hà Nội (1854-1855), Lê Văn Khôi ở Gia Định (1832-1835) [52, tr 454-461] Điều này chắc chắn ảnh hưởng đến việc chế tạo, quản lý vũ khí của triều Nguyễn
Bên cạnh đó, triều Nguyễn cũng đã có một số hoạt động nhất định, nhằm tiếp cận với trình độ khoa học - kỹ thuật của người phương Tây, đặc biệt là vấn đề chế tạo vũ khí Tuy nhiên, có thể nhận thấy một số đặc điểm về khoa học kỹ thuật nước ta trong giai đoạn này Thứ nhất, triều Nguyễn cố gắng tiếp cận và phát triển khoa học kỹ thuật chủ yếu trên lĩnh vực quân sự mà chủ yếu là vũ khí và thủy quân Thứ hai, hệ luận khoa học ảnh hưởng mạnh mẽ từ Nho giáo, nhà nước toàn trị về khoa học và kỹ thuật, nắm độc quyền trong quản lý Thứ ba, tinh thần thực chứng, coi trọng thực tiễn đã được nhấn mạnh trong khoa học, nhưng chưa được coi là thực học, mà vẫn tỏ ra giáo điều, rập khuôn Điều đó cho thấy, ý thức xã hội nông nghiệp rõ nét, mang nhiều tính dân gian, kinh nghiệm, bị gián đoạn, thường chắp vá [3, tr 68]
Với cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại, khoa học kỹ thuật dưới triều Nguyễn như phân tích ở trên đã tác động không nhỏ đến việc tổ chức chế tạo, quản lý
sử dụng vũ khí của triều Nguyễn giai đoạn 1802-1883
1.2.2 Vai trò của vũ khí đối vấn đề bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia thời quân chủ
Để bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, vũ khí có vai trò đặc biệt quan trọng Nó không chỉ là công cụ chiến đấu, nâng cao hiệu quả tiêu diệt đối phương trên chiến trường mà còn là thước đo cho khả năng phòng thủ quốc gia
Nguyễn Tường Phượng trong “Lược khảo binh chế Việt Nam qua các thời đại” cũng đã khẳng định vai trò của binh khí đối với việc giữ gìn non sông Theo đó, “nếu
Trang 24dùng phép triết tự mà phân tích chữ “quốc” là nước, ta sẽ thấy khi đầu, cổ nhân dùng tượng hình để chỉ “đất nước” có lẽ đã có dụng ý sâu xa Quốc, gồm một chữ khung vuông, bên ngoài bao bọc chung quanh chữ “hoặc”, nếu đem chữ “hoặc” chia làm hai nửa, ta sẽ thấy chữ “khẩu” là miệng và chữ “qua” là binh khí” Từ đó, tác giả
khẳng định “một nước muốn giữ cho dân (khẩu: miệng ăn, tượng hình của dân) được
ở yên thế tất phải dùng đến binh khí để giữ gìn bờ cõi” [42, tr 13]
Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo trong Binh thư yếu lược từng viết “Cái đạo
mạnh binh để chiến thắng có 5 điều: Sửa sang binh khí; có đủ quân lính và xe cộ; súc tích nhiều; rèn luyện sĩ tốt; kén được tướng giỏi Năm việc trên đã chuẩn bị xong rồi mới có quân đội mạnh mẽ được” [8, tr 42] Như vậy, theo Trần Hưng Đạo, để tạo nên
đạo binh mạnh làm nên chiến thắng thì xếp đầu vẫn là binh khí
Đầu thế kỉ X, sau khi giành được độc lập, tự chủ, nhân dân ta lại tiếp tục cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ để bảo vệ thành quả đó Trải qua hàng chục thế kỉ củng
cố nền độc lập, tự chủ và đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm, các triều đại quân chủ Việt Nam luôn ý thức được vai trò quan trọng của lực lượng quân đội, trong đó có công tác khí giới Chính vì vậy, dù trong thời bình hay chiến tranh, các triều đại đều hết sức coi trọng việc củng cố, xây dựng lực lượng quân đội và tổ chức chế tạo, quản
lớn của triều Nguyễn như “binh khí là quan trọng” [46, tr 726], “súng là vật quan
trọng, binh khí phải coi giữ nghiêm nhặt [ngặt – TG]” [44, tr 408], Súng điểu sang
“là đồ dùng rất quan trọng với việc binh” [45, tr 792], “súng đại bác là thứ cốt yếu trong việc dùng binh” [48, tr 505], “việc dùng súng rất là quan trọng” [48, tr 911],
“súng điểu thương là lợi khí dùng trong việc quân” [47, tr 108], “dùng súng điểu sang
để giết giặc, còn lợi hơn đao và thương [46, tr 217] là những minh chứng thuyết
phục nhất
Trang 25Trên thực tế, vũ khí không chỉ là công cụ để quân đội triều Nguyễn chiến đấu chống lại các thế lực xâm hại đến độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia, mà nó còn
là phương tiện được các thế lực chống đối sử dụng để tấn công vương triều, làm gây nguy hại cho an ninh, an toàn xã hội Nhìn thấy rõ điều đó, nên khi đề cập đến việc quản lí vật liệu chế tạo thuốc sung là diêm tiêu và lưu huỳnh cũng như các loại hỏa
khí, các hoàng đế triều Nguyễn cũng từng đưa ra các nhận định rất sâu sắc: “Các thứ
ấy có quan hệ đến việc dùng binh, nếu người dân không biết gì, ngấm ngầm đem diêm tiêu trao đổi với bọn phỉ thì tác hại không nhỏ” [29, tr 298], hay“súng điểu thương là lợi khí dùng trong việc quân, tự trước đến nay, thổ dân các hạt quen dùng làm đồ đi săn để kiếm ăn, gián hoặc có đứa bậy bạ nhờ có binh khí ấy đi xui giục nhau làm bậy, tức như vài năm nay, thổ dân các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thanh Hoa, Ninh Bình họp bọn nổi loạn, thường lấy nấp bụi rậm bắn súng làm đắc sách” [37, tr 108], “thổ dân làm riêng nhiều súng điểu sang, hàng ngày lấy săn bắn làm thú vui, không chăm lo làm ăn, lỡ khi bị giặc bức bách, không khỏi vác súng đi theo, tự mắc vào tội” [46, tr 130] Vì vậy, bên cạnh đẩy mạnh chế tạo
các loại vũ khí, để bảo vệ an ninh quốc gia và vương triều, triều Nguyễn cũng rất coi trọng công tác quản lý sử dụng vũ khí, nhất là các loại vũ khí trong nhân dân
Tóm lại, sức mạnh tổng hợp của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều nhân tố như
sự phát triển của nền kinh tế, trình độ khoa học - kỹ thuật, tiềm lực quốc phòng Sức mạnh ấy sẽ quyết định khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia Thời quân chủ, khi trình độ kinh tế, khoa học – kỹ thuật còn tương đối hạn chế, thì việc củng cố tiềm lực quốc phòng đóng vai trò quan trọng, trong đó, trang bị vũ khí là một trong những khâu then chốt Nhận thức rõ điều đó, nên các nhà nước quân chủ, trong
đó có vương triều Nguyễn đã không ngừng đẩy mạnh việc chế tạo, trang bị và cùng với đó là một cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các loại vũ khí trong quốc gia mình
1.2.3 Kế thừa hoạt động tổ chức chế tạo và quản lý sử dụng vũ khí trước triều Nguyễn
Từ thế kỉ X, sau khi đánh bại thế lực phong kiến phương Bắc và giành được độc lập cho dân tộc, các triều đại quân chủ Việt Nam nối tiếp nhau thi hành nhiều chính sách, biện pháp, nhằm bảo vệ, giữ gìn và củng cố nền độ lập, tự chủ ấy Trong đó, ngoài việc xây dựng lực lượng quân đội ngày càng hùng mạnh, được thể hiện qua hoạt động tuyển duyệt binh sĩ, xây dựng tổ chức quân đội chặt chẽ, chính quy, tinh nhuệ, thực thi binh chế nghiêm khắc, thì chế tạo và quản lí sử dụng vũ khí cũng là một trong những công việc được các vương triều hết sức quan tâm
Một số học giả nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cổ trung đại cho rằng, trong các thế kỉ X, XI, XII, vũ khí được trang bị cho quân đội các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý chủ yếu là giáo mác, gươm, cung nỏ…, ngoài ra còn có thêm máy
Trang 26bắn đá [59, tr 153] Sang thời Trần, việc chế tạo và sử dụng vũ khí có những bước tiến mới, khi quân đội nhà Trần cho đặt các khẩu súng (pháo) trên chiến thuyền để
tấn công Champa Sử thần Ngô Sĩ Liên đã ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư
sự kiện năm 1390 như sau: “Mùa xuân, tháng Giêng, ngày 23, đô tướng Trần
Khát Chân đại thắng quân Chiêm Thành ở Hải Triều, giết được chúa nó là Chế Bồng Nga Khi ấy, Bồng Nga cùng với Nguyên Diệu dẫn hơn một trăm thuyền chiến đến quan sát tình thế của quan quân Các thuyền giặc chưa tập họp lại, thì
có tên tiểu thần của Bồng Nga là Ba Lậu Kê nhân bị Bồng Nga trách phạt, sợ bị giết, chạy sang doanh trại quân ta, trỏ vào chiến thuyền sơn xanh bảo rằng đó là thuyền của quốc vương hắn Khát Chân liền ra lệnh các cây súng nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết, người trong thuyền ồn ào kêu khóc” [20, tr 180] Tuy nhiên, lúc bấy giờ, việc sử dụng loại vũ
khí này trong chiến trận còn rất ít và vũ khí chiến đấu chủ yếu vẫn là bạch khí Vì thế nên khi ca ngợi quân đội nhà Trần, Phạm Ngũ Lão đã cất lên:
“Cầm giáo non sông trải mấy thâu
Ba quân khí mạnh nuốt sao Ngâu” [59, tr 188]
Đến thời Hồ, việc chế tạo vũ khí càng đạt được thành quả to lớn hơn trước, thể hiện ở việc Hồ Nguyên Trừng chế tạo thành công súng thần cơ Đó là loại súng với nhiều kích cỡ khác nhau, sức mạnh sát thương và công phá hơn hẳn các loại súng đương thời, kể cả hỏa pháo của quân Minh Tuy nhiên, do những biến động chính trị, triều Hồ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, cho nên trên thực tế, loại súng này được chế tạo với số lượng không nhiều và vì vậy, những tiến bộ về vũ khí dưới nhà Hồ chưa được phát huy một cách triệt để
Đến thời kỳ nhà Lê (Lê sơ và Lê Trung hưng), quân đội vẫn “lấy vũ khí cầm
tay, đánh gần là chủ yếu” [7, tr 12] Tuy nhiên, thời Lê có thêm những loại vũ khí
mới đó là loại hỏa pháo, hỏa đồng (một thứ ống phun lửa) [59, tr 272] Điều này
còn được phản ánh trong Đại Việt sử ký toàn thư khi năm 1593, vua Lê sai
Nguyễn Hoàng đi đánh dẹp Kiến quốc công và Nghĩa quốc công (những người chống
lại chính quyền chiếm phủ Kiến Xương và huyện Thanh Lan) “Hoàng sai lấy hoả khí
và súng lớn bắn đồng loạt, phá tan luỹ giặc Bọn giặc sợ chạy Quan quân thừa thắng đuổi theo, chém đến hàng vạn tên, bắt sống tướng giặc đem chém Các phủ Tiên Hưng, Kiến Xương bình được cả” [21, tr 185]
Trong thế kỉ XVII, XVIII, vũ khí thuộc nhóm Hỏa khí như súng, đạn, thuốc nổ… ngày càng được sử dụng phổ biến Nguyên nhân của việc này ngoài sự phát triển nội tại trong hoạt động chế tạo vũ khí của người Việt nói chung, thì còn do sự tác động của bối cảnh lịch sử đương thời Trên thực tế, tình trạng đất nước bị phân liệt, chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài và cùng với đó là cuộc đối đầu tưởng chừng như không có hồi kết thúc của thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đã khiến cho mỗi bên luôn tìm cách củng cố thực lực quân sự, đặc biệt là tăng cường mua sắm, chế tạo
Trang 27các loại vũ khí mới có sức công phá lớn để chống lại đối thủ chính trị của mình Và chính quyền hai Đàng đã tìm thấy cơ hội này từ người phương Tây Một mặt các chúa Trịnh, Nguyễn trực tiếp mua các loại vũ khí của các tàu buôn châu Âu Mặt khác, họ cũng tìm cách tranh thủ sự giúp đỡ của người phương Tây để tự chế tạo các loại vũ khí mới
Ở Đàng Ngoài, từ thế kỉ XVII, nghề đúc súng xuất hiện và phát triển Ở Hà Nội
có phố Lò Đúc [13, tr 126] Các ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến
chương loại chí cũng cho thấy giai đoạn này, chính quyền Lê – Trịnh đã cho thành lập
các cục làm súng và xây dựng các trường chế súng với các quy định chặt chẽ Các cơ
sở chế tạo vũ khí đã chế tạo được nhiều loại khí giới như: nỏ, bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên lửa, thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù [5, tr 351]
Ở Đàng Trong, năm 1631, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho đặt ty Nội pháo tượng và hai đội Tả Hữu pháo tượng, gồm những thợ đúc lành nghề của hai xã Phan Xá và Hoàng Gianh (thuộc huyện Phong Lộc) sung bổ vào Đồng thời nhà nước cũng quy định nguyên liệu để đúc đại bác và súng tay Theo đó, mỗi khẩu
đại bác “dùng 12 khối sắt, 10 cân gang, tiền than 3 quan 5 tiền”, súng tay thì cứ
10 cây “dùng 30 khối sắt, 30 cân gang, 10 quan tiền than” [43, tr 47] Trong
khoảng hai mươi năm từ 1660 đến 1682, một người Ấn Độ lai Bồ Đào Nha hay Y Pha Nho, tên Joao Da Crus (Jean de la Croix) đã mở lò đúc súng đại bác cho chúa Nguyễn Phước Tần, dựng nên khu Thợ Đúc ở Huế [13, tr 126], để đẩy mạnh hơn nữa việc chế tạo các loại súng, phục vụ cho công cuộc ổn định trật tự xã hội khi phong trào đấu tranh của nhân dân ngày càng dâng cao Tháng 9 năm 1747, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lập trường súng [43, tr 154]
Sau khi phong trào Tây Sơn bùng nổ và giành thắng lợi, Nguyễn Ánh phải chạy trốn Tuy nhiên, được sự giúp đỡ của tầng lớp đại địa chủ Gia Định, năm 1779, Nguyễn Ánh xưng vương Năm 1791, để tăng cường lực lượng chống quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh sai tri đồ gia Phan Văn Tào, Trịnh Phúc Thường, Nguyễn Quang Diệu kén chọn trong 62 ty các cục tượng lấy những người tinh xảo bổ làm các chức cai đội, cai quan, ty quan, thủ hợp, thứ bậc khác nhau Trong đó, ở chính dinh
có ty thợ đúc; ở dinh Phiên Trấn có ty thợ súng, ty thợ đúc, ty thợ đúc mới; dinh Trấn Biên có ty thợ đúc, ty trường sắt, nghề trường sắt, xã trường sắt, phường thợ sắt, ty thợ sắt [43, tr 281] Để có lực lượng rèn đúc vũ khí, các chúa Nguyễn đã trưng dụng thợ giỏi ở các nơi về thủ phủ để rèn, đúc vũ khí Năm 1799, Nguyễn
Ánh ra lệnh “trưng dụng thợ đúc, thợ bạc ở các dinh Phú Yên, Bình Khang và
Bình Thuận, họp cả về Gia Định để đúc súng ống và binh khí” [43, tr 398] Về cơ
chế làm việc của các thợ chế tạo vũ khí ở Nhà đồ hay ở các dinh, nhà nước đều có
quy định rõ: “thợ rèn, thợ súng, thợ bạc, phàm thuộc về Nhà đồ thì chia làm hai
phiên, thuộc về bốn dinh thì chia làm bốn phiên, cứ mỗi tháng đổi phiên một lần”
[43, tr 259]
Trang 28Để có vũ khí phục vụ cho việc chiến tranh với quân Tây Sơn, bên cạnh tăng cường chế tạo vũ khí, Nguyễn Ánh cũng đẩy mạnh các hoạt động mua vũ khí, đạn dược, lưu huỳnh, diêm tiêu Năm 1788, Nguyễn Ánh sai Nội viên Trịnh Tân Tài
và Chu Văn Quan đi Hạ Châu tìm mua súng đạn, và lưu hoàng, diêm tiêu để dùng vào việc binh [43, tr 236] Năm 1790, nhân một thương nhân Bồ Đào Nha tên là Chu Di Nô Nhi đến buôn bán, Nguyễn Ánh đã sai người gửi thư cho quốc trưởng
Bồ Đào Nha để mua binh khí với số lượng lớn “1 vạn cây súng chim, 2000 cỗ
súng gang, mỗi cỗ nặng 100 cân, 2000 viên đạn nổ, đường kính 10 tấc” [43, tr
272] Trong năm 1793, Nguyễn Ánh đã ra chỉ dụ cho M Barisy và M Phượng (cả hai là những người Pháp phục vụ cho Nguyễn Ánh) đi nước ngoài
Januario-mua vũ khí “Lệnh cho Barisy-man, đang phục vụ dưới trướng, Januario-mua tất cả những
hàng hoá y thấy tại đây [Sài Gòn] chuyển lên tầu ô đi Malacca và Poulo-Pinang
để dùng vào việc mua súng ống và tất cả những khí giới khác mà y thấy” [13, tr
538] và “Lệnh cho Januario-Phượng, cai đội đang phục vụ dưới trướng, đem một
lá thư cho ngài toàn quyền quản lãnh những cơ sở Bồ Đào Nha ở Á Châu, tại thủ
đô Goa, và chất xuống tàu 4000 tạ [ta] gạo của vua và những hàng hoá khác, thuận theo gió mùa năm nay, đem đến tất cả các bến tầu ở nam Ấn Độ [bán], và mua súng ống và những thứ vũ khí khác mà y thấy, bao nhiêu cũng được Trong chuyến đi này, nếu gặp thuyền Anh hay bất cứ nước nào khác có súng mới tốt hạng nhất, giống như những súng trường mà các cường quốc Âu Châu trang bị cho quân đội của họ, thì cứ trả giá 10 đồng một khẩu, về đây sẽ trả, để cho họ chọn những hàng hoá có sẵn trong các kho” [13, tr 494] Năm 1801, tiếp tục sai
khâm sai thuộc nội cai đội Ba La Di (Barisy) đi Hạ Châu tìm mua súng đạn [43,
tr 456]
Năm 1799, để nhờ quân Xiêm vượt qua Vạn Tượng đánh quân Tây Sơn ở vùng Nghệ An, tạo điều kiện cho quân Nguyễn Ánh đánh vào vùng đất phía nam, Nguyễn Ánh đã tặng cho vua Xiêm 1 chiếc thuyền hiệu Phụ quốc, kèm theo 10 cỗ súng lớn bằng gang Qua đó, ta cũng thấy được chất lượng súng được đúc dưới thời Nguyễn Ánh giai đoạn này [43, tr 376]
Về phương diện quản lý vũ khí của các nhà nước quân chủ Việt Nam từ thế
kỉ X đến trước thế kỉ XIX, thư tịch do cơ quan viết sử của các vương triều ghi chép đều cho thấy, các triều đại đã có nhiều cố gắng trong việc quản lý hoạt động chế tạo, sử dụng, cấp phát và bảo quản, giữ gìn vũ khí Dưới thời Lý, nhà nước có quy định về chế tài xử phạt đối với hành động sử dụng binh khí sai mục đích Cụ
thể, năm 1142, vua Lý Anh Tông xuống dụ: “Nếu tranh nhau ruộng ao mà lấy đồ
binh khí nhọn sắc đánh chết hay làm bị thương người thì đánh 80 trượng, xử tội
đồ, đem ruộng ao ấy trả lại người chết hay bị thương” [19, tr 314]
Nếu như dưới thời Trần – Hồ, việc chưa tìm thấy bất kì tư liệu nào ghi chép
về việc quản lí vũ khí của hai triều đại này khiến cho giới nghiên cứu ngày nay
Trang 29khó có thể phục dựng một cách cụ thể công việc này ngoài những suy đoán, thì đến thời Lê sơ, nhất là ở giai đoạn trị vì của Lê Thánh Tông, quản lí vũ khí không
những được ghi chép khá cụ thể mà còn được “luật hóa” thành các điều, khoản
trong bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) Tiêu biểu như đối với việc chế tạo
và tàng trữ vũ khí, điều 78 của luật Hồng Đức quy định rõ, các vương hầu, quan liêu đến dân thường cấm chứa trong nhà những đồ binh khí (là các thứ súng, kích, giáo, gậy, ống hỏa hổ, nỏ và tên, áo giáp, mộc cùng những thứ có mũi nhọn Dao và gươm thì không cấm, cung tên để luyện tập cũng không cấm) cùng là chế tạo riêng những đồ nói trên, và cầm binh khí đi lại ngoài đường Những người tướng hiệu được lệnh sửa chữa binh khí thì không theo luật này Quan quân phải cất để những đồ binh khí trong kho hoàng thành Các quan tướng và chánh phó lãnh binh cùng là quân ra đóng ở các trấn thì đồ binh khí phải cất ở các kho tàng Các quan giữ các sảnh, quan giữ cửa bể, quan giữ cửa quan, và các đội lính phải cất binh khí ở kho tàng Quan liêu các đạo cất binh khí ở kho nơi mình làm quan, nhân dân thì phải thu mà cất vào kho của quan ở bản hạt; nếu có việc thì xin chỉ vua lấy ra mà dùng, nếu không có việc thì không được dùng càn Những lính túc vệ luyện tập và lính đóng đồn luyện tập đều được phép mang đồ binh khí đúng phép, những không được đem ra địa hạt khác; nếu trái thì sẽ chiếu theo sự tình nặng nhẹ mà bắt tội biếm, đồ hay lưu [51, tr 59-60] Đối với việc coi giữ kho vũ khí, Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức) có 2 điều luật quy định chế tài xử phạt Trong đó, điều 13 quy định về việc xử phát đối với những người giữ kho có hành vi trộm bán vũ khí và các quan lại không làm tròn trách nhiệm công
việc được giao: “Những người giữ kho vũ khí bán trộm đồ binh khí, thì phải chém, lại
phải bồi thường gấp đôi, rồi sung công; viên chánh phó ngũ trưởng không xem xét để cho lính bán trộm mà không phát giác ra, thì bị biếm hoặc bị tội đồ Người lính ở trong ngũ ấy biết mà không cáo thì bị tội đánh 100 trượng, và bị giáng chức; nếu báo cáo và bắt được người bán trộm thì được miến tội Quan cai quản không răn đe để cho lính ăn trộm, thì phải biếm hay bị phạt Nếu chính viên ấy bán trộm thì tội cũng thế”
[51, tr 108-109] Điều 27 của luật Hồng Đức cũng quy định xử phạt đối với những người giữ kho có hành vi thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, đề xuất chế tạo bổ
sung vũ khí; cấp phát vũ khí không đúng quy định: “Người coi kho võ khí thấy trong
kho quân khí thiếu hụt mà không xin chế tạo thêm vào thì phải biếm hai tư Những đồ vật trong kho, không có giấy cho phát ra mà phát ra thì xử tội thêm một bậc Dẫu có chiếu chỉ cho phát, nhưng chưa được công văn mà đã phát trước, thì phải phạt 60 trượng; phát đồ nghi trượng thì phải mất 30 roi” [51, tr 113]
Triều đình cũng đề ra những hình phạt nghiêm khắc đối với những người sao nhãng, chậm trễ trong việc vận chuyển vũ khí phục vụ chiến trận và làm hư hao vũ
khí Cụ thể điều 22 luật Hồng Đức quy định: “Những người nhận đồ quân khí, đã
nhận xong mà dùng dằng không chuyển vận đến nơi đánh giặc, chậm 10 ngày thì phạt
80 trượng; chậm một tháng thì biếm một tư; chậm hơn 100 ngày thì khép vào tội ăn
Trang 30trộm mà cho giảm hai bậc Nếu làm hư hỏng hay bỏ mất, thì cũng như tội ăn trộm Trong khi đánh giặc mà tổn mất đồ quân khí thì không phải tội Nhân đã qua trận mạc
mà giấu đồ quân khí, thì phải biếm hay bị đồ; và phải đền số tiền giấu đồ quân khí sung công; giấu đồ nghi trượng (cờ, tàn,v.v ) thì được giảm hai bậc” [51, tr 111-
112] Đồng thời, đối với quan quân sử dụng sai quy định các loại quân khí, thì triều đình cũng căn cứ vào trường hợp, mức độ và biểu hiện sai phạm cụ thể mà có những
hình phạt tương ứng Cụ thể, điều 34 của luật Hồng Đức quy định: “Những quan quân
thị vệ mà đồ binh, trượng, khí giới, bài đao, nón không đeo đúng số hiệu, hình thức của hiệu quân mình, thì đều xử tội biếm hay đồ; nếu có ý gian trá thì sẽ theo sự tình nặng nhẹ mà xử thêm tội” [51, tr 115]
Ngoài ra, Quốc triều hình luật cũng quy định xử phạt nặng đối với các hành vi bán vũ khí cho nước ngoài dưới mọi hình thức Cụ thể, Điều 75 trong Quốc triều hình luật khẳng định, những người nào đem binh khí và các thứ thuốc nổ có thể chế thành hỏa pháo, hỏa tiễn bán cho nước ngoài, hay tiết lộ việc quân cơ ra nước ngoài thì đều phải xử tội chém Nếu bán binh khí không đến 10 cái, thuốc súng không đến 10 cân, thì bị xử lưu đi châu xa, bán đồng và sắt thì bị xử lưu đi châu gần Bán da trâu, các thứ gân, các thứ sừng để làm quân khí, kể số vật giá đáng 10 quan thì lưu đi châu ngoài, nếu tang vật nhiều, tội tăng thêm 1 bậc Quan phường, xã biết mà không phát giác, tội giảm 1 bậc; quan lộ, huyện, trấn, cố ý tha đều cùng 1 tội Nếu không biết thì bị biếm hay phạt [51, tr 57-58]
Trong các thế kỉ XVII, XVIII, trước những biến động to lớn của đất nước Việc quản lý vũ khí càng được chính quyền Trịnh – Nguyễn đặc biệt quan tâm
Ở Đàng Ngoài, Nhà nước đặt ra quy định rõ về việc chế tạo, cấp phát, chứa cất, buôn bán vũ khí Về chế tạo, các loại binh khí không thường dùng như nỏ, bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên lửa, thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù, đều cấm không được chế tạo; các cục làm súng thu hẹp lại, chuẩn cho mỗi cục một viên cai quản, chỉ cho các người các xã am hiểu được ứng vụ chế tạo súng; các phố phường, các dinh cơ và các nhà tư đều cấm không được nuôi thợ làm súng để bán riêng Về cấp phát, việc cấp
phát vũ khí được giao cho Binh phiên thực hiện, theo đó, “chế định binh khí, phàm các
thứ cờ xí, kiếm, kích, giáo, mộc, đao, súng, thuốc đạn, Binh phiên chiếu lệ cấp phát”
[5, tr 351] Về cất giữ vũ khí, các viên quản quân được ban một thanh gươm công, các quản binh có súng riêng chỉ được giữ hai khẩu, còn thì từ súng và ngựa trở xuống không được chứa cất Ai làm trái thì ở trong cơ có các xá nhân thể sát, ngoài dân gian cho ba ty Đô, Thừa, Hiến và người nào thấy biết được, thu lấy thực tang, bắt người thợ chế tạo và người mua bán, tùy nặng nhẹ xử tội [5, tr 351] Năm Cảnh Trị thứ 8 (1670),
nhà vua đã truyền chỉ dụ “cấm thông đồng với người nước ngoài bán trộm súng” [21,
tr 285]
Ở Đàng Trong, song song với việc đẩy mạnh chế tạo, mua thêm các hạng vũ khí, chính quyền chúa Nguyễn cũng rất coi trong việc quản lý, sử dụng các hạng vũ khí đó
Trang 31Đối với súng đại bác tự chế tạo hay mua được từ tàu buôn phương Tây, chúa Nguyễn cho bố trí tại các địa điểm quan trọng, hiểm yếu như trên thành dinh, hải khẩu, đồn
lũy Đại Nam thực lục tiền biên ghi chép, vào năm 1631, khi xây dựng lũy Thầy ở Quảng Bình, Đào Duy Từ đã cho xây dựng “lũy cao 1 trượng 5 thước, ngoài đóng
gỗ lim, trong đắp đất, làm năm bực, voi ngựa đi được, dựa núi men khe, dài hơn
3000 trượng, mỗi trượng đặt một khẩu súng quá sơn, cách 3 hoặc 5 trượng lập một pháo đài, đặt một khẩu súng nòng lớn Thuốc đạn chứa như núi” [43, tr 47]
Hay năm 1701, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Ngoại tả chưởng dinh Tôn Thất Diệu, Nội hữu cai cơ Tống Phước Tài, văn chức Trần Đình Khánh, Thủ hợp Nguyễn Khoa Chiêm đi Quảng Bình trông coi các quân sửa đắp chính lũy, từ núi Đầu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ; lại ở hai lũy Trấn Ninh và Sa Phụ đắp thêm đài súng lớn, đặt điếm tuần thủy và bộ [26, tr 113] Hai dẫn chứng trên đã phần nào cho thấy sự quản lí, kiểm soát khá chặt chẽ của chính quyền chúa Nguyễn đối với bất cứ vấn
đề nào có liên quan đến vũ khí thời bấy giờ
Bên cạnh đó, công tác giám sát, kiểm duyệt vũ khí và các vật liệu chế tạo vũ khí cũng được các chúa Nguyễn coi trọng Trên thực tế, chính quyền Đàng Trong đã tiến hành tuyển chọn hoặc cắt cử người để thành lập cơ quan trông coi và kiểm soát vũ khí
ở Chính dinh cũng như các địa phương Chẳng hạn như tháng 12 năm 1699, “chúa
Nguyễn Phúc Chu sai quan kiểm duyệt những súng đạn khí giới ở Chính dinh và các dinh” [43, tr 112] Năm 1795, trong lúc cuộc chiến với Tây Sơn đương hồi
quyết liệt, nhưng Nguyễn Ánh vẫn “sai Giám thành sứ là Tô Văn Đoài kiêm quản
các đội Hùng Diêm và An Công trông nom các việc nấu luyện và thu phát thuốc súng, diêm tiêu, lưu hoàng, hỏa khí” [43, tr 329] Năm 1799, Nguyễn Ánh lại sai
quan công đường Bình Định tuyển lấy những người nhanh nhẹn từ các đội biệt nạp diêm tiêu thành 5 đội, mỗi đội 60 người, để ở trong thành cho coi giữ súng ống [43, tr 396] Và đến năm 1801, Nguyễn Ánh sai Thiêm sự Hộ bộ là Hồ Thế Học và Thiêm sự Lễ bộ là Ngô Triều Cao tra kiểm những vật công ở Nhà đồ như khí giới súng đạn, và cứ quan lại Công bộ cũ mà đòi gọi các thợ bách công đến làm việc [43, tr 446], đồng thời, sai Cai đội Nguyễn Thành giữ kho thuốc súng, kiêm quản các đội An công [43, tr 493]
Ngoài ra, chính quyền các chúa Nguyễn còn thực hiện chính sách thưởng cho những người có thánh tích trong việc sử dụng có hiệu quả các loại vũ khí và dùng súng như là vật phẩm có giá trị để tặng cho quan lại có công với các chúa Năm 1642, chúa Nguyễn Phúc Lan xem thủy quân thao diễn ở xã Hoằng Phúc (Phú Vang) và
ra lệnh cứ đến kỳ tháng 7 thì thao diễn phép bơi chèo và bắn súng, ai trúng thì thưởng lụa vàng [43, tr 55] Đến năm 1653, chúa Nguyễn tổ chức duyệt binh lớn
ở xã An Cựu và ra lệnh lấy xét khí giới cùn sắc để định thưởng phạt [43, tr 62] Năm 1795, Nguyễn Ánh cũng thưởng cho Võ Văn Sở một cây súng cò đá lửa của Tây dương, một thanh gươm đầu hổ, một tấm nhiễu đỏ, một chiếc áo chiến bằng
Trang 32trừu bách hoa, 100 quan tiền vì đã đánh tan quân Tây Sơn ở sông Đà Diễn (Đà Rằng, Phú Yên) [43, tr 320]
Đối với các loại vũ khí nhân dân thu lượm được do thất lạc hay do của đối phương bỏ lại, chính quyền chúa Nguyễn tùy thuộc loại vũ khí lớn nhỏ rồi định giá thu mua Năm 1795, khi quân Tây Sơn sắp lui ở dinh Bình Khang đã đem nhiều súng đạn chôn giấu Nguyễn Ánh ra lệnh cho quan ở đây truyền khắp cho quân dân trong hạt, ai đào được đem nộp thì sẽ tùy theo hạng lớn, hạng nhỏ mà cấp tiền cho [43, tr 326]
Như vậy, những thành tựu trong công cuộc chế tạo, quản lý, cấp phát, sử dụng vũ khí của các triều đại từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIX, đặc biệt là giai đoạn
từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX là tiền đề quan trọng để để các vua Nguyễn tiếp tục thực hiện việc chế tạo, quản lý, sử dụng vũ khí trước điều kiện lịch sử mới với nhiều thách thức phía trước
Trang 33Chương 2:
TỔ CHỨC CHẾ TẠO VŨ KHÍ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802–1883)
2.1 Hệ thống tổ chức chế tạo vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883)
2.1.1 Cơ sở chế tạo ở Trung ương
Căn cứ vào nguồn sử liệu được ghi chép trong Đại Nam thực lục và Khâm định
Đại Nam hội điển sự lệ, dưới triều Nguyễn, cơ quan ở TW trực tiếp phụ trách hoặc có
liên quan đến vấn đề chế tạo vũ khí gồm có Vũ khố, ty Chế tạo và ty Hỏa pháo
Thứ nhất là Vũ khố Dưới triều Nguyễn, đây chính là cơ quan chịu trách nhiệm tổ
chức chế tạo, chế tạo vũ khí Ghi chép trong Đại Nam thực lục cho biết rõ chức năng
và biên chế phẩm hàm của thuộc quan làm việc tại cơ quan này như sau:“Phàm sự chế
tạo binh khí và tích chứa vật liệu, đều thuộc vào kho Vũ khố Nội vụ phủ và Vũ khố đều dùng chức Thị lang để giữ chính lệnh Lang trung và Tham biện để giúp việc Thị lang Các thuộc viên đều có Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ, Bát, Cửu phẩm và Vị nhập lưu thư lại, cùng chia nhau trông coi đồ vật và sổ sách” [45, tr 918]
Kế thừa việc xây dựng cơ quan chế tạo thủ công nghiệp trong bộ máy nhà nước
TW của các triều đại quân chủ giai đoạn trước, nên sau khi thành lập vương triều, Gia Long - vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đã nhận thức rõ tầm quan trọng và cũng chính
là người đặt nền móng, tiền đề đầu tiên cho việc xây dựng các cơ quan tiền thân để sau này hợp nhất lại thành Vũ khố, chuyên môn chế tạo, quản lý các sản phẩm thủ công nghiệp nói chung và vũ khí nói riêng Cụ thể, năm 1802, khi vừa mới lên ngôi, Gia Long đã cho thành lập Lệnh sử ty Đồ ngoại, tuy nhiên, lại chưa có những quy định cụ thể về cấp hàm, phẩm trật cũng như số lượng thuộc quan phục vụ tại đây Đến năm
1805, Gia Long chính thức đặt ty Lệnh sử và lần này có quy định số lượng thuộc viên làm việc trong Ty là 50 người [27, tr 84] Sau đó, đến năm 1816, để tăng cường việc
quản lý của ty Ngoại đồ gia, Gia Long đã tiến thêm một bước nữa đó là, “chuẩn đặt
Cai bạ đồ gia bậc tòng Tứ phẩm, đặt ở sau hàng Thị trung tham luận, trước hàng các
Quân dinh điền quân, Cai bạ điển quân” [27, tr 84]
Trên cơ sở hai ty Ngoại đồ gia và Lệnh sử dưới thời Gia Long, đến giai đoạn trị
vì của Minh Mệnh, ông đã cho sắp đặt và sáp nhập lại để hình thành nên Vũ khố với
sự hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức lẫn hoạt động Cụ thể, năm 1820, Minh Mệnh đổi ty Ngoại đồ gia thành Nha môn Vũ khố Năm sau (1821), ông tiếp tục đổi ty Lệnh sử thành ty Thanh thận thuộc Vũ khố Và cũng bắt đầu từ đây, quan chế Vũ khố được ấn định một cách rõ ràng và thực hiện tương đối chặt chẽ Ghi chép từ các bộ sử lớn của triều Nguyễn cho biết, ngay sau khi thành lập nha môn Vũ khố, Minh Mệnh đã chuẩn
định cấp hàm, phẩm trật và số lượng người ở nha môn này như sau: “Lại chuẩn định
Lang trung, Chủ sự, Tư vụ đều 2 viên, Bát Cửu phẩm đều 8 viên, Vị nhập lưu 44 người” [27, tr 84] Tiếp đó trong các năm 1825, 1827, 1828, 1829, 1830, 1834, 1836,
1840, Minh Mệnh đều có các chỉ chỉ dụ có liên quan đến việc tổ chức đội ngũ thuộc lại
Trang 34làm việc tại Vũ khố [27, tr 85-86] Qua đó thể hiện sự quan tâm của nhà vua đối với tổ chức quan trọng này Tiêu biểu như Minh Mệnh năm thứ 21 (1840), nhân bàn về việc luân chuyển, dời đổi công việc của thuộc quan Vũ khố, nhà vua chuẩn y lời tâu của các
đại thần về vấn đề này: “nguyên định ở Vũ khố đến khóa kỳ thanh tra trích đổi đi một
nửa, lưu lại một nửa thế là chủ thủ đã trực khóa 6 năm lại lưu khóa 6 năm, không khỏi cái tệ lâu ngày sinh ra gian dối, không gì bằng thay đổi cả toàn sổ, xin đợi đến kỳ thanh tra thì chủ thủ phiên dịch ở nha này phải thay đổi hết mới thỏa đáng, nhưng do
bộ Lại chiếu số viên dịch ở Nha này cần phải thay đổi, chiếu theo số viên dịch ở các
nha nhiều hay ít, xét theo công việc mà chọn bổ” [27, tr 86-87]
Đến thời Thiệu Trị, cơ cấu tổ chức và đội ngũ quan lại tại Vũ khố tiếp tục được nhà vua quan tâm sâu sát Trong thời gian 7 năm trị vì, Thiệu Trị đã có đến 3 lần ban hành chỉ dụ hoặc chuẩn tấu về công tác quan lại làm việc tại Vũ khố vào các năm
1842, 1843, 1844 [27, tr 87-88] Trong đó, chỉ dụ năm 1844 khẳng định: “Viên chức
chủ thủ ở Vũ khố sau đây đến kỳ thay đổi, không cứ quê quán ở Nam hay Bắc, ai là người quen hiểu việc, lại trong sạch, chăm chỉ, làm được việc đều chuẩn cho tâu xin sung bổ” [27, tr 88] Trên cơ sở những quy định đã có dưới thời Minh Mệnh và Thiệu
Trị, đến giai đoạn Tự Đức, ghi chép của Quốc sử quán chỉ cho biết một lần duy nhất
nhà vua ra dụ “chuẩn định chức chủ thủ ở nha môn Vũ khố, cứ 4 năm lại thay đổi 1
lần” [27, tr 88]
Thứ hai là ty Chế tạo Vào tháng 10 năm 1829, vua Minh Mệnh đã cho thành lập
ty Chế tạo trên cơ sở bản tấu chuẩn của bộ Công: “Xét điển nhà Thanh, có kho Chế
tạo, kho Tiết thận, đều do bộ Công, mà hai kho đều có đặt các chức Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư khố, Khố sứ, người Mãn và người Hán Thực vì công việc đốc sức kiểm tra rất nhiều, nếu không đủ viên chức thì không làm nổi Nay xin chọn phái đến mỗi nơi một Lang trung thuộc bộ, lấy bản chức sung đốc công Công sở Nội vụ thì gọi là ty Tiết thận Công sở Vũ Khố thì gọi là ty Chế tạo” [44, tr 925] Để điều hành
công việc ở ty Chế tạo, triều đình đã ban hành quy định cụ thể về số lượng và sắp xếp
thứ bậc, chức vụ đội ngũ thuộc quan ở đây như sau: “Ty Chế tạo Chủ sự tư vụ đều 2
viên, Bát cửu phẩm thư lại đều 3 viên, Vị nhập lưu 25 người” [27, tr 88] Đến năm
1832, nhận thấy sự trùng lặp, chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ và công việc cụ thể của ty Chế tạo và ty Nội tạo nên triều đình Nguyễn đã tiến hành hợp nhất hai cơ
quan này lại về mặt hành chính “Ty Chế tạo và ty Nội tạo, công việc cùng quan hệ với
nhau, chuẩn đem Viên dịch sở Nội tạo hợp vào ty Chế tạo cân nhắc chia phái vào các công việc ở sở ấy; còn ở ty Chế tạo, những chỗ nên đặt thêm thì cho xem xét để thay đổi bổ dụng chuẩn cho bộ Công phải bàn bạc tất cả cho thỏa đáng làm tờ tâu lên theo lời Dụ này” [27, tr 89-90] Đặc biệt, dưới thời Thiệu Trị, viên chức ở ty Chế tạo
không những có quan hàm riêng mà còn không còn nằm dưới sự quản lí của bộ Công
nữa “Viên chức ở Nha này đặt ra đã có chuyên ty ghi quan hàm, không phải nêu tên
Công ty, Công bộ trên nữa” [27, tr 90]
Trang 35Về mặt tổ chức, ty Chế tạo quản lý 57 Tượng cục với hàng ngàn thợ và chia làm
3 nhóm Nhóm thứ nhất có số lượng đông đảo nhất, gồm các thợ giỏi về các nghề gắn liền với nguồn nguyên liệu kim loại và một số vật hạng to nặng, với kỹ thuật rèn, đúc, nấu, chế tạo đồ binh khí , được tuyển chọn chủ yếu từ phía Bắc Nhóm thợ này làm việc ngay trong công trường của Vũ khố, trường Đúc tiền và một số xưởng phân tán như giả luyện thuốc súng, cưa xẻ gỗ Nhóm thứ hai là lực lượng thợ thủ công gắn với các công trình xây dựng ở Kinh đô (thợnề, làm ngói, lợp nhà, xây gạch ) Nhóm thứ
ba gồm những thợ trực tiếp phục vụ cung đình, phụ trách việc chế tạo các vật dụng nhỏ dùng trong trang trí và nghi lễ… Các Tượng cục ở ty Chế tạo của Vũ khố có mối quan hệ với nhau Trong đó, có các cục liên quan trực tiếp đến công việc chế tạo vũ khí như Cục luyện đồng thau, Cục nấu kim khí, Cục súng, Cục máy đá, Cục khí giới, Cục đạn nha tác…[9, tr 71]
Nơi trực tiếp chế tạo vũ khí là các trường đúc súng và công trường Vũ khố Theo
tác giả Nguyễn Văn Đăng, địa điểm của các “trường súng” trước năm 1815 nằm ở
ngoài cửa Chính Nam Kinh thành, gần phường Đúc hiện nay Đến năm 1815, công trường Vũ khố được thành lập và nó cũng chính thức chuyển địa điểm vào trong Kinh thành [9, tr 104-105]
Về quy mô xưởng súng, từ thời Gia Long cho đến Minh Mệnh, các xưởng chế tạo súng của triều Nguyễn không ngừng được xây dựng và mở rộng quy mô Khởi đầu
từ năm 1810, Gia Long chuẩn y lời tâu cho xây dựng xưởng súng với “1 tòa xưởng tả
tướng quân gồm 19 gian, 2 chái; 1 tòa hữu tướng quân 17 gian, 2 chái” [40, tr 275]
Đến năm 1815, nhà vua cho dựng thêm 1 xưởng thượng tướng quân gồm 23 gian, 2 chái bên tả phía trong Kỳ đài Hai năm sau (1817), Gia Long tiếp tục cho dựng 2 toà xưởng ở tả hữu phía trong Kỳ đài Mỗi xưởng gồm 19 gian, 2 chái [40, tr 275] Trên
cơ sở kế thừa các cơ sở chế tạo súng đạn dưới thời Gia Long, dưới thời Minh Mệnh, triều Nguyễn vẫn tiếp tục cho xây dựng thêm các xưởng súng ở bên trong Kỳ đài trong các năm 1820, 1821 Đặc biệt, vào năm 1834, Minh Mệnh đã cho di chuyển vị trí các
xưởng súng đã có trước đó và “dựng làm 2 dãy xưởng tả, hữu đại tướng quân, ở hai
bên tả, hữu phía trước Ngọ môn, mỗi dãy 33 gian và 2 dãy xưởng tả, hữu tướng quân, mỗi dãy 39 gian” [40, tr 275]
Thứ ba là ty Hỏa pháo Ty Hỏa pháo chính thức ra đời vào Thiệu Trị năm thứ 4
(1844) khi “nhà vua đã cho 2 kho súng ống, thuốc nổ đều đổi làm ty Hỏa pháo ở Bộ
Binh” [40, tr 274] Đối chiếu giữa Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Đại Nam thực lục, có thể biết được, kho súng chính là ty Thương pháo, còn kho thuốc nổ chính
là ty Hỏa dược Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi chép, năm 1844, “nhà vua đã
cho 2 kho súng ống, thuốc nổ đều đổi làm ty Hỏa pháo ở Bộ Binh” [40, tr 274] Trong
khi đó, Đại Nam thực lục cho biết, năm 1844, “đổi các ty Bưu chính, Hỏa dược,
Thương bác pháo đều thuộc bộ Binh (Binh bộ Bưu chính ty, Binh bộ Hỏa dược ty, Binh bộ Thương pháo ty, đều đứng đầu bằng tên bộ)” [48, tr 702]
Trang 36Mặc dù có đề cập đến Thương pháo ty và Hỏa dược ty, nhưng Đại Nam thực lục
không cho giới nghiên cứu biết cơ cấu tổ chức cũng như chức năng của các ty này, mà chỉ đề cập đến Thương pháo ty và Hỏa dược ty khi Dinh thần Quảng Bình xin cấp
thêm vũ khí: “Nay thành luỹ đã sửa mới, non sông thêm vững vàng, mà khí giới hoả
khí, nhiều thứ không đủ dùng” [44, tr 516] Trước tình hình đó Minh Mệnh đã “sai bộ Binh hội đồng với các nha Vũ Khố, Thương Pháo, Hoả Dược để cấp đủ cho” [44, tr
516] Trong khi đó, ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ lại cho biết, ty
Hỏa pháo chịu trách nhiệm quản lý, cấp phát, định lệ sử dụng, lưu giữ các hạng súng lớn, súng nhỏ, làm các hạng pháo, luyện thuốc nổ và quản lý việc chia cấp, lưu giữ, mua bán thuốc nổ [40, tr 273-342] Về đội ngũ thuộc lại làm việc tại đây, gồm: Lang trung (chánh tứ phẩm) ty hỏa pháo ở Bộ Binh, 1 viên (kiêm quản công việc 2 kho súng nhỏ, súng lớn và thuốc nổ); viên ngoại lang (chánh ngũ phẩm) ty Hỏa pháo Bộ Binh, 1 viên (kiêm quản công việc 2 kho súng nhỏ, súng lớn và thuốc nổ) Kho các súng ống chủ sự (chánh lục phẩm) 1 viên, tư vụ (chánh thất phẩm) 1 viên, bát cửu phẩm thư lại đều 2 người, vị nhập lưu thư lại 12 người [40, tr 273] Cơ cấu này được hoàn thiện dần từ thời Gia Long, qua Minh Mệnh và ổn định dưới thời Thiệu Trị, Tự Đức [40, tr
273 -275] Cùng với việc ngày càng hoàn thiện cơ cấu tổ chức, công tác quản lý hành chính ở ty Hỏa pháo cũng ngày càng được kiện toàn Năm 1829, vua Minh Mệnh định
lệ thanh tra kho thuốc đạn: “Kho thuốc đạn, từ năm Gia Long trở lại, số trữ cũ và thu
mới chồng chất nhiều năm, chưa từng tra xét Lại chuẩn định trình hạn thanh tra, lấy năm Minh Mệnh thứ 11 bắt đầu, mỗi vòng 12 năm làm một khóa” [44, tr 909]
Đồng thời, triều đình cũng cấp con dấu cho kho súng ống, thuốc nổ, để tăng cường
hiệu lực quản lý: “Cấp cho kho súng ống, thuốc nổ đều 1 con dấu bằng đồng và dấu
2.1.2 Cơ sở chế tạo ở địa phương
Cùng với việc tổ chức chế tạo vũ khí ở Kinh đô thì các địa phương như Hà Nội, Gia Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam… [9, tr 101] cũng
có các cơ sở chế tạo, các kho chứa vũ khí và các nguyên vật liệu chế tạo vũ khí Ghi chép từ các bộ sử lớn của triều Nguyễn đều cho biết, tại các địa phương như Hà Nội, Gia Định, Nghệ An, Hà Tĩnh có các trường đúc súng Mặc dù các trường đúc súng này không được chính sử đề cập trực tiếp và cụ thể, nhưng dựa vào các ghi chép gián tiếp hoặc liên quan, giới nghiên cứu vẫn có thể biết được sự tồn tại của các cơ sở chế tạo
vũ khí, đặc biệt là các loại súng gang, súng điểu sang và các loại đạn tại các địa
phương này Tiêu biểu như dưới thời Minh Mệnh, Đại Nam thực lục có chép đoạn sử liệu vào tháng 6 năm 1830: “ở Bắc Thành đã đúc 200 cỗ súng gang Hồng y trong tổng
Trang 37số 400 cỗ được đúc trong đợt này” [45, tr 77] Đến tháng 12 năm 1833, do yêu cầu
của việc dập tắt cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi ở Gia Định, Minh Mệnh đã lệnh cho các địa phương Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Nam chế tạo ống phun lửa
cấp cho quân thứ này và lưu lại để dùng: “Lại sai các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh
Hoà đều chế thêm 1.000 ống phun, tuỳ tiện đem đi quân thứ Gia Định Quảng Nam chế thêm 2.000 ống phun, lưu lại ở tỉnh để dùng” [45, tr 913] Tháng 3 năm 1834,
Minh Mệnh lại sai tỉnh Quảng Bình chế 500, 600 ống phun lửa cất trữ vào kho tỉnh [46, tr 106].Và đến tháng 4 năm đó, nhà vua lại sai tỉnh Hà Tĩnh chế 300 khẩu súng điểu thương, theo mẫu của Vũ khố đưa đến (làm bằng sắt, dài 2 thước 2 tấc 1 phân; đường kính nòng 3 phân, 7 ly; đường kính miệng súng 4 phân 9 ly), đồng thời, hạ lệnh
áp tải “10 vạn cân sắt Hà Sung ở kho Kinh đến tỉnh Nghệ An, cho theo đúng mẫu mà
chế thứ súng này, cứ mỗi tháng 2 lần báo về Bộ để liệu cho tải nộp” [46, tr 189]
Về chế tạo thuốc súng, vào đầu triều Nguyễn, các loại đạn pháo, thuốc súng du nhập mạnh vào nước ta thông qua lực lượng thương gia phương Tây và Trung Quốc Nhận thấy vai trò quan trọng của nó đối với việc binh, vua Gia Long ngay từ đầu đã quan tâm sâu sắc đến việc chế luyện loại vật liệu thể hiện uy lực chiến trận này Theo
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Gia Long năm thứ 15 (1817), nhà vua đã đưa ra
quy định về việc giã luyện thuốc nổ, gồm các loại vật liệu như diêm tiêu, lưu hoàng, than , mỗi loại có số cân và quy trình chế tạo cụ thể Đặc biệt là đến thời vua Minh Mạng việc chế luyện thuốc nổ có bước tiến mới Nhận thấy cách luyện thuốc súng dựa vào sức người rất tốn công sức, chi phí, vua Minh Mệnh đã nghĩ cách dựa vào sức nước chảy của các con sông để thay thế sức người Theo đó, vua giao bộ Công làm 2
cỗ xe thủy hỏa ký tế đặt ở nguồn Hữu Trạch (Thừa Thiên) để tán thuốc [40, tr 337] Đồng thời, để mở rộng hoạt động chế luyện thuốc súng, nhà nước cho các quan lại đi khảo sát các nguồn sông ở các địa phương Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định và một số nơi khác để đặt xe thủy hỏa ký tế tiến hành công việc này Năm 1835, Minh Mệnh ra chỉ dụ xây dựng các sở tán luyện thuốc súng ở Quảng Nam, Bình Định,
Quảng Nghĩa như sau: “Nay cử viên giám thành, phái đi xem xét (địa thế) Quảng
Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, trở về nói rằng: chọn được miền sông các lưu hạt ấy,
có thể đặt được xe thủy hỏa ký tế: Quảng Nghĩa, Bình Định đều 2 sở, Quảng Nam 3
sở, vẽ sơ đồ dâng xem, thì trong đó thế nước các hạt ấy, còn có thể đặt thêm được nữa Nay cho Quảng Nam đặt thêm 2 sở, Quảng Ngãi đặt thêm 1 sở, Bình Định đặt thêm 2
sở Cho phái lấy 3 tên giám thành giỏi việc và 6 tên thợ mộc tinh khéo, đến bộ Công chiếm lĩnh kiểu mẫu; đều cho chúng đo đường trạm đi đến 3 tỉnh ấy Mỗi tỉnh 1 tên giám thành, và 2 tên thợ mộc Giám thành ấy lập tức đi nắm chọn chỗ nào đáng đặt thêm được, thì do các viên tỉnh ấy phái phái lấy biền binh, cứ tên thợ mộc ấy chỉ bảo cho khởi công làm gấp ngay, hạn cho tuần đầu tháng 2 phải làm xong” [40, tr 337-
388] Sau khi các xe thủy hỏa ký tế ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Trị
đi vào hoạt động đã chế tạo ra thuốc súng phục vụ cho các nhu cầu sử dụng của nhà
Trang 38nước Tuy nhiên, chất lượng thuốc súng chế tạo ở các địa phương này “mãnh liệt” không bằng thuốc súng chế tạo ở Kinh đô mà nguyên nhân chủ yếu là do “công phu
tán luyện chưa được kỹ, chất thuốc chưa được tinh lắm” [40, tr 341] Vì vậy, vua
Minh Mạng phải ra thông dụ để chấn chỉnh việc chế luyện thuốc súng ở địa phương:
“Nay thông dụ hết cả trường tán thuốc các tỉnh, đều chiếu thời hạn công thức nguyên định: phàm giã thuốc bằng sức nước 5 ngày đêm, và giã chày tay 1 ngày, xong rồi đem ngay thứ gạo thuốc ấy theo phép thí nghiệm Như trước đã đúng thức, thì mới được phơi thành gạo [thuốc súng-TG] Nếu sức thuốc còn thấy hơi kém, lại đem giã gấp thêm bằng chày tay, hoặc 1, 2 ngày nữa; cần cho được chất thuốc cực nhỏ, thí nghiệm đúng thức làm chuẩn đích Còn về nhân công giã thêm chày tay mất bao nhiêu công, cho sau khi xong công việc, cứ thực làm tờ tâu, lại ban chỉ cho thi hành” [40, tr
341] Không chỉ chú ý đến chất lượng thuốc nổ, vua Minh Mạng cũng quan tâm đến tính mạng của những binh lính tham gia luyện thuốc Vua nghĩ rằng, tính chất thuốc nổ rất mãnh liệt, cho nên vua căn dặn những người làm việc tại trường tán thuốc phải cẩn thận Nhà vua quy định các quan đề đốc, phủ doãn, phủ thừa ở kinh, quan tỉnh và quan lãnh binh phải thường xuyên đến các lò luyện thuốc nổ kiểm tra Đồng thời, những người trực tiếp làm việc trên cối tán, trôm nom lau vét phải có tính thận trọng, luân chuyển với nhau, những người khác không ra vào bừa bãi Thuốc nổ tán không được
để nơi khô ráo để tránh bốc lửa Khu vực trường tán có hàng rào ngăn cách, bên trong không đặt vật khô nhẹ bắt lửa Trường tán luyện thuốc nổ ngày đêm không được nhóm lửa, nếu ban đêm thắp đèn thì phải ra nơi khác rót dầu Những người sơ suất làm trái quy định, ảnh hưởng đến kho và mạng người thì bị xử rất nặng
Hoạt động giám sát, trông coi công việc chế luyện thuốc súng cũng được nhà
nước quy định khá chặt chẽ “Ở Kinh thì đề đốc, doãn thừa, ở ngoài thì quan tỉnh,
lãnh binh, cũng thay phiên nhau đến nơi xe “thuỷ hoả ký tế”, kiểm tra xem xét sự qua lại bên cối giã, từ coi sóc canh giữ đến khiêng vác và lau chùi, đều phải chọn lấy mấy người cẩn thận tế nhị, chuyển cho nhau thay đổi” [46, tr 859] Nhà nước cũng quy
định số người làm việc trong mỗi xe thủy hỏa ký tế: “Khai tán thuốc ấy, thì số biền
binh phái làm, cho mỗi xe 40 tên làm hạn và phải tuân theo chương trình của Bộ cho
mà làm Nếu trong số ấy, biền binh làm việc còn có dư sức, thì lại châm chước tùy mà giảm đi, cần cho được tiết kiệm; Lại cho quan ở 2 tỉnh Bình Định, Quảng Nghĩa lập tức tính thế nước ở chỗ đặt xe thủy hỏa kí tế ấy, như có thể đặt thêm xe phụ nửa, thì cho đặt thêm 1, 2 xe phụ để đến kỳ khởi công giã thuốc, nhân công có việc tiếp tục, khỏi đến nỗi để ngày hư phái, thì càng tốt” [40, tr 338]
Đến thời Thiệu Trị việc chế tạo vũ khí ở các địa phương ít được nhắc đến Sang thời Tự Đức, công việc này tiếp tục được tiến hành, đặc biệt là trước thời điểm Pháp
chuẩn bị tấn công ra Bắc Kì lần thứ nhất (1873) Sử liệu trong Đại Nam thực lục cho biết, vào tháng 4 năm 1872, Tự Đức ra lệnh: “Trích lấy diêm tiêu (5.000 cân), lưu
hoàng (4.000 cân) ở tỉnh Hà Nội giao cho tỉnh Sơn Tây giã làm thuốc súng Lại lấy ở
Trang 39kho trong Kinh diêm tiêu hạng 4, hai lần nấu của nước Anh (2 vạn cân) và lưu hoàng hạng 2 của nước Tây (1 vạn cân) giao cho các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình,
Hà Nội, Sơn Tây cất đi để dùng” [49, tr 1328] Đến tháng 6 cùng năm, Tự Đức sai
tỉnh Hà Nội đúc 200 cỗ súng quá sơn [49, tr 1341] và đến tháng 12 thì hạ lệnh cho tỉnh Nghệ An đúc thêm các đồ quân khí, quân dụng, gồm đạn bằng gang 2250 viên, đạn bằng chì 13500 viên, hòm bằng da trâu 2500 chiếc, bầu bằng gỗ 2500 cái, ống phun lửa 2500 chiếc, thuốc súng 5.000 cân, pháo phi thăng 250 quả [49, tr 1374] Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc chế tạo vũ khí, phục vụ cho công cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia Một
số địa phương được nhà nước cho phép chế tạo vũ khí Các cơ sở chế tạo vũ khí này
do quan lại địa phương trong coi và chịu sự quản lý, giám sát của cấp trên Triều đình quản lý toàn diện việc chế tạo vũ khí ở các địa phương từ mẫu mã, số lượng, chất lượng, chủng loại, quy mô, nhân công đến các quy định bảo đảm sự an toàn của các cơ
sở chế tạo
2.2 Hoạt động chế tạo vũ khí dưới triều Nguyễn (1802-1883)
2.2.1 Quy trình chế tạo vũ khí
Công trường Vũ khố - cơ quan chế tạo vũ khí do Sở Đốc công điều hành và do
Bộ Binh, Bộ Công cùng những chuyên viên am hiểu về vũ khí của Bộ Binh giám sát Trên cơ sở dự trù nhân công, vật liệu của Đốc công, các Chánh ty, Phó ty tượng, Tượng mục đến kho Vũ khố nhận nguyên liệu và trực tiếp điều hành thợ trong cục chế tạo Đúc chế xong thì giao nộp binh khí cho Vũ khố qua sự hội đồng và chứng thực
của các bộ phận hữu quan [9, tr 109]
Bên cạnh đó, tùy thuộc vai trò, đặc điểm, tầm quan trọng của các loại vũ khí mà
có quy trình riêng biệt Đối với việc đúc Thần công trang trí ở Kinh thành, đây là công việc hệ trọng, nên trước khi đúc súng phải chọn ngày, giờ cúng miếu thần súng Việc
tổ chức đúc cũng được thực hiện và giám sát rất nghiêm ngặt, thậm chí dưới thời
Thiệu Trị (06/1847), vua là người trực tiếp chỉ đạo: “3 bộ Hộ, Binh, Công và viện Đô
sát đều phái sở thuộc lang trung khoa đạo lấy một người giỏi việc, hội đồng với bọn giám công, giám đốc, đúc đúng như kiểu mẫu Các đại thần 3 bộ cũng phải thời thường đi lại xem xét quản đốc thợ thuyền chỗ làm việc, chuẩn cho thêm giá mà thuê mượn người, cho kịp làm việc Bên ngoài trường đúc súng, đặt một cái vọng lâu, đợi khi rỗi việc, ta sẽ sai sửa soạn xa giá đến xem” [48, tr 1034]
Về chế tạo thuốc súng, đây là công việc nguy hiểm, dễ gây cháy nổ nên triều đình có quy định rất nghiêm ngặt từ khâu cắt cử quan lại trông coi, đôn đốc; khu vực chế tạo; người thợ trực tiếp chế tạo đến khâu vận chuyển Đối với việc giám sát,
“phàm tán thuốc nổ ấy, thì 1 viên đốc biện ấy, như ở kinh thì có Bộ, ở ngoài do quan tỉnh, đều phải chọn phái 1 viên quản vệ hoặc quản cơ (sung làm chức ấy đến đây đôn đốc), mỗi tháng 1 lần thay đổi, cho có chuyên trách Đề đốc, phủ doãn, phủ thừa ở kinh, quan tỉnh, và lãnh binh ngoài các tỉnh cũng đều thay đổi, lần lượt thân đến sờ xe
Trang 40thời thường kiểm soát thêm, cần được chu đáo, cẩn thận cả 10 phần” [40, tr 339]
Đối với khu vực chế tạo, “phàm sở trường tán thuốc và quyền chữ vật hạng, phải có
giồng hàng rào ngăn cách Ở bên trong vi ngăn, không được để vật gì khô nhẹ bắt lửa ngày đêm tuyệt đối không được nhóm lửa Bọn quan, quân hiện tại coi làm ở đấy, không được mang lửa vào hút thuốc Duy có ban đêm, hoặc có nước chảy đầy tràn, bất đắc dĩ thì cho mỗi xe 1 hộ, chỉ cho dùng 2 cá đèn lồng hải điệp xác, hoặc đèn pha
lê, nhất thiết không nên dùng đèn giấy, và tùy thế treo lên cho tiện soi xem Đèn lồng
ấy phải làm kín, tốt, không có hở chút nào Phàm đến lúc chiều hôm thắp đèn, phải đem đến chỗ khá; rót dầu thắp đèn xong, đóng kín, khóa chặt lại ngay, cho viên đốc biện niêm phong, đánh dấu, rồi sau đem vào treo lên ở sở xe Còn nhân viên nhàn rỗi, cho đến trâu, dê, gà, chó, nhất thiết vật gì hoạt động, không được thiện tiện thả, đuổi bên ngoài vi ngăn, chung quanh ở gần đấy, như trên thi miền núi đều không được châm lả đốt cỏ, đốt than; dưới thì bến sông, thuyền bè đi lại, cũng không dừng đậu, châm đèn và đun nấu vật gì nơi ấy” [40, tr 340] Đối với người thợ trực tiếp chế tạo,
người đi lại bên cối tán, trông nom, lau vét, thì phải chọn lấy vài người để tâm thận trọng, luân chuyển thay đổi với nhau; còn người khác không được ra, vào bừa bãi Lại
ở hai đầu trục xe ấy, cùng chố lắp đầu trục vào, đều dùng sắt, gang bao bọc Ngày đêm bánh xe quay chuyên mài xát vào nhau, không khỏi nóng nẩy; thì chỗ ấy, nên ngày thường thường phải tưới thứ dầu nước vào luôn, cho xe chuyển vận được trơn, nhẹ nhàng và lại có khí ẩm không đến nỗi sinh nhiệt, càng tốt… thường gia tâm dò tưới nước lá, khiến cho thấm ướt; nhất thiết không thể để cho khô ráo [40, tr 339-340] Đối
với việc vận chuyển thuốc súng về kho, “thuyền ghe, kỳ tán thuốc chuyên chở, vận
chuyển lưu hoàng và kỳ thành thuốc, gói tải về nộp, phải làm 1 cái bài hiệu cắm ở đầu thuyền, để cho thuyền khác đương đi ở quảng ấy, trông thấy (thuyền thuốc đó) phải né tránh Về phần biền binh ở trong thuyền cũng bắt chúng dự làm cơm sẵn mang theo, chớ không kèm theo một chút khói lửa nào Các khoản trên đây, phàm người nào dự
có trách nhiệm ấy, đều phải để ý mà làm theo” [40, tr 340]
Trong quá trình giám sát việc chế tạo vũ khí, nếu lơ là gây nên hậu quả nghiêm trọng phải đúc lại, thì những người phụ trách công việc đó phải bồi hoàn và gánh chịu các hình phát đích đáng như cách chức, thậm chí là xử chém Tháng 8 năm 1834, Minh Minh sai Vũ khố đúc đại bác hạng lớn là Phá địch thượng tướng quân và Phá địch đại tướng quân mỗi thứ 2 cỗ (đều nặng vài nghìn cân) Khi đúc xong, sai bắn thử thì nhiều chỗ vỡ nứt Nhà vua đã quở nặng Đốc biện, các thợ và sai đúc lại Nhân đó,
Minh Mệnh đã ra chỉ dụ tăng cường công tác “xét nghiệm” các loại vũ khí đã chế tạo
Vì bất cứ lý do nào mà lơ là trong công tác xét nghiệm sẽ bị xử nghiêm: “Từ nay hễ
phái đi xét nghiệm, nếu súng quả thật bền chắc thì chuẩn cho làm giấy cam đoan lấy thân làm bảo đảm, rồi giao cho bộ Binh giữ để lưu chiểu Sau này, bắn ra, nếu có vỡ nứt thì đem người xét nghiệm ấy ra chém ngay, bảo cho mọi người biết” [46, tr 359]