1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển (FULL) biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế ở việt nam

108 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến Động Cơ Cấu Tuổi Dân Số Và Tăng Trưởng Kinh Tế Ở Việt Nam
Tác giả Lê Phan Cẩm Hà
Người hướng dẫn TS. Trương Đăng Thụy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kết luận quá trình chuyển đổi cơ cấu tuổi dân số có đóng góp quan trọng vào “kỳtích kinh tế thần kỳ” của Đông Á, với tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giaiđoạn 1965 – 1990 trung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -LÊ PHAN CẨM HÀ

BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ VÀ TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – 10/2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -LÊ PHAN CẨM HÀ

BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ VÀ TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRƯƠNG ĐĂNG THỤY

Thành phố Hồ Chí Minh – 10/2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Tác động của biến động cơ cấu tuổi dân số đếntăng trưởng kinh tế Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Cáctài liệu tham khảo, số liệu thống kê trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõràng Kết quả của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiêncứu nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

LÊ PHAN CẨM HÀ

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 5

2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 5 2.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và cách đo lường 5

2.1.1.2 Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế 6

2.1.1.3 Các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế 10

Trang 5

2.1.2 Cơ cấu tuổi dân số và biến động cơ cấu tuổi dân số 10

2.1.2.1 Cơ cấu tuổi dân số và các khái niệm có liên quan 10

2.1.2.2 Biến động cơ cấu tuổi dân số và cơ cấu dân số vàng 12

2.1.3 Mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế 13

2.1.3.1 Lý thuyết “Dân số học bi quan”: Gia tăng dân số hạn chế phát triển kinh tế 13 2.1.3.2.Lý thuyết “Dân số học lạc quan”: biến dộng dân số giúp tăng trưởng kinh tế 14 2.1.3.3 Lý thuyết “Dân số học trung tính”: biến dộng dân số không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 15

2.1.3.4 Lý thuyết “Quá độ dân số” 16

2.1.4 Lý thuyết về mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế 18

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 24

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỒI QUY 32

3.2 KHUNG PHÂN TÍCH 35

3.3 XÁC ĐỊNH VÀ MÔ TẢ CÁC BIẾN SỐ 36

3.3.1 Biến phụ thuộc 36

3.3.2 Biến độc lập 36

3.3.2.1 Các biến nhân khẩu học 36

3.3.2.2 Các biến kiểm soát khác (X) 39

3.4 THỐNG KÊ MÔ TẢ 48

3.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU 51

Trang 6

3.5.1 Xử lý các giá trị dị biệt (Outliers) 51

Trang 7

3.5.2 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng 52

3.5.2.1 Ưu điểm của dữ liệu bảng 52

3.5.2.2 Mô hình các hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) 52

3.5.3 Vấn đề nội sinh khi nghiên cứu về dân số và tăng trưởng kinh tế 53

3.5.3.1 Biến nội sinh và biến công cụ 53

3.5.3.2 Các mối quan hệ nhân quả ngược 53

3.5.3.3 Kiểm tra vấn đề nội sinh 55

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61

4.1 BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU DÂN SỐ VIỆT NAM 61

4.1.1 Khái quát tình hình dân số Việt Nam 61

4.1.2 Biến động cơ cấu tuổi dân số và sự già hóa dân số của Việt Nam 63

4.2 GIẢI THÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 67

4.3 VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG NỀN KINH TẾ 72

4.4 CÁC KÊNH TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN KHẨU HỌC 77

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 79

5.1 KẾT LUẬN 79

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 80

5.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu Tiếng Việt

Tài liệu Tiếng Anh

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2SLS Phương pháp hồi quy hai giai đoạn (Two Stage Least of Square)

BS Bác sỹ

DS Dân số

ĐH Đại học

EU Liên minh Châu Âu (European Union)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

GMM Phương pháp moment tổng quát (Generalized Method of Moments)GNP Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Product)

MH Mô hình

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

ILO Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization)

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic

Cooperation and Development)

OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất

PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Số năm đi học tương ứng với trình độ học vấn 39

Bảng 3.2 Tóm tắt các biến trong mô hình 47

Bảng 3.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 48

Bảng 4.1 Quy mô dân số và tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm, 1979 - 2013 61

Bảng 4.2 Phân bố diện tích, dân số và mật độ dân số chia theo vùng kinh tế - xã hội năm 2013 62

Bảng 4.3 Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi, 1979 – 2013 65

Bảng 4.4 Tỷ số phụ thuộc, tỷ trọng dân số và chỉ số già hóa, 1979 – 2013 66

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy theo phương pháp hồi quy hai giai đoạn (2SLS) 68

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy khi hồi quy đồng thời cho biến lao động nam (GMWAS) và lao động nữ (GFWAS) 73

Bảng 4.7 Kết quả hồi quy khi hồi quy độc lập cho biến lao động nam (GMWAS) và lao động nữ (GFWAS) 75

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Hình 2.1 Quá độ dân số 17Hình 2.2 Các kênh tác động của quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăngtrưởng kinh tế 20Hình 3.1 Mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế 35Hình 3.2 Đường cong Rahn 45Hình 3.3 Biểu đồ tương quan giữa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người vàcác biến nhân khẩu học 50Hình 4.1 Tháp dân số Việt Nam, 1989 – 2013 64Hình 4.2 Biểu đồ tương quan biểu thị mối quan hệ giữa lao động nam (GMWAS)

và lao động nữ (GFWAS) 74

Trang 11

TÓM TẮT

Cơ cấu tuổi dân số thể hiện sự phân bố tổng dân số theo tuổi hay nhóm tuổi.Mỗi tuổi hoặc nhóm tuổi trong dân số sẽ có những đặc trưng khác nhau về khả nănglao động, mức độ tiêu dùng, tích lũy nên chúng sẽ có những tác động khác nhau vềmặt kinh tế Cũng như nhiều nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, ViệtNam đang ở giai đoạn sau của thời kỳ quá độ dân số, chuyển đổi từ một nước cómức độ sinh và mức độ chết cao sang một nước có mức độ sinh và mức độ chếtthấp, điều đó đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc tuổi và giới tính của dân số ViệtNam Tỷ trọng nhóm dân số dưới 15 tuổi giảm, trong khi tỷ trọng nhóm dân sốtrong độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) ngày càng tăng Khi quy mô của cácnhóm tuổi này thay đổi cũng đồng nghĩa với sức ép và cơ hội kinh tế sẽ thay đổitheo Nghiên cứu nhằm mục đích chỉ ra vai trò của biến động cơ cấu tuổi dân số đếntăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 Kết quảnghiên cứu chỉ ra rằng, việc giảm tăng trưởng của nhóm dân số dưới 15 tuổi và giatăng nhóm dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) có tác động tích cựcđến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua Bên cạnh đó, nghiên cứucũng chỉ ra những đóng góp của lao động nữ và vấn đề bình đẳng giới trong thịtrường lao động, gia tăng lực lượng lao động nữ đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởngkinh tế của quốc gia

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Các nhà kinh tế học đưa ra nhiều ý kiến bất đồng về ảnh hưởng của dân số đến

tăng trưởng kinh tế Malthus (1798) cho rằng tăng trưởng dân số làm hạn chế tăng trưởng kinh tế, Simon (1981) nhận định gia tăng dân số có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi đó Srinivan (1988) lại lập luận gia tăng dân số là trung

tính, không liên quan đến tăng trưởng kinh tế Hầu hết quan điểm của các nhà kinh

tế học trước đây tập trung nhiều vào vấn đề quy mô dân số và tăng trưởng kinh tếhơn là mối quan hệ thực chất giữa cơ cấu tuổi dân số (sự phân bố các nhóm tuổikhác nhau của dân số) và tăng trưởng kinh tế

Theo Bloom và cộng sự (2001), hành vi kinh tế của con người thay đổi theo

từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời, và do vậy những thay đổi trong cơ cấu tuổidân số của một quốc gia có thể gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế củaquốc gia đó Các quốc gia có tỷ lệ trẻ em cao sẽ phải dành nhiều nguồn lực hơntrong việc đầu tư cho chăm sóc trẻ em, do vậy làm chậm đi nhịp tăng trưởng củakinh tế Ngược lại, nếu phần lớn dân số nằm trong độ tuổi lao động, năng suất laođộng tăng thêm của nhóm dân số này có thể tạo ra lợi tức dân số và kéo theo tăngtrưởng kinh tế, với giả thiết có được các chính sách phù hợp để phát huy triệt để lợithế này Cũng giống như các quốc gia có tỷ lệ trẻ em cao, nếu một quốc gia cóngười già chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng dân số cũng sẽ tạo áp lực cho hệ thống ansinh xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm thâm hụt vốn và giảm tích lũy; đồngthời, dân số già hóa làm giảm quy mô lực lượng lao động, ảnh hưởng trực tiếp tớithu nhập của xã hội, kiềm hãm tăng trưởng kinh tế của quốc gia Chính vì vậy, trongcác nghiên cứu của mình, Bloom đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng đối với tăngtrưởng kinh tế là những biến đổi về quy mô dân số trong độ tuổi lao động liên quanđến dân số phụ thuộc, tức là những người quá trẻ hoặc quá già không thể lao động.Thế kỷ XX là giai đoạn biến động dân số chưa từng có trong lịch sử Dân sốtoàn cầu đã tăng gần gấp bốn lần, từ 1,6 tỷ người năm 1900 lên 6 tỷ người năm

Trang 13

2000 (Cohen, 1995) Tỷ lệ gia tăng dân số, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát

triển, tăng nhanh hơn trong suốt nửa đầu thế kỷ và đạt đỉnh điểm vào cuối nhữngnăm 1960 Trước tình hình đó, Chính phủ các nước đã theo đuổi mạnh mẽ nhữngchính sách nhằm làm chậm tốc độ gia tăng dân số, mức sinh chung giảm đáng kể và

sự phát triển dân số đã chậm lại Nằm trong xu thế chung, dân số Việt Nam trải quanhiều thời kỳ phát triển khác nhau, chính sách kế hoạch hóa gia đình được tiến hành

từ những năm 1960 đến nay, dân số Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổinhân khẩu học với sự biến động mạnh mẽ của cơ cấu dân số theo tuổi, cụ thể:

(1) Dân số trẻ em giảm về mặt số lượng và tỷ trọng trong tổng dân số: Tỷ trọngdân số dưới 15 tuổi giảm đáng kể theo thời gian, từ 42,6% năm 1979 xuốngcòn 24,2% năm 2013 Trong vòng mười năm từ năm 1999 đến năm 2009, sốlượng trẻ em từ 0 đến 14 tuổi giảm gần 4 triệu người, từ 25,3 triệu ngườinăm 1999 xuống 21,5 triệu người năm 2013

(2) Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớntrong tổng dân số: Năm 1979, dân số trong tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi)của Việt Nam là 53,74 triệu người, chiếm 50,4% trong tổng dân số cả nướcthì đến năm 2013, con số này đã tăng lên 58,44 triệu người, chiếm 65,3%tổng dân số

(3) Dân số cao tuổi gia tăng: từ 6,9% năm 1979 lên 10,5% năm 2013, tương ứngvới mức tăng từ 3,71 triệu người lên 9,39 triệu người và theo dự báo, dân số

từ 60 tuổi trở lên sẽ tiếp tục gia tăng không ngừng trong thời gian tới

Theo kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, Việt Nam đã bước

vào thời kỳ mà các nhà nhân khẩu học và kinh tế học gọi là thời kỳ “cơ cấu dân sốvàng” Thời kỳ này thường kéo dài khoảng 30 đến 40 năm trong lịch sử phát triểncủa mỗi quốc gia và là cơ hội duy nhất trong quá trình quá độ nhân khẩu học Cácnghiên cứu về tác động của biến động cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế đềunhận định “cơ cấu dân số vàng” có đóng góp đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của

các quốc gia Điển hình như trong nghiên cứu của Bloom và Williamson (1998) đã

Trang 14

kết luận quá trình chuyển đổi cơ cấu tuổi dân số có đóng góp quan trọng vào “kỳtích kinh tế thần kỳ” của Đông Á, với tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giaiđoạn 1965 – 1990 trung bình khoảng 6% mỗi năm.

Theo Bloom và cộng sự (2001), “lợi tức” của sự biến động trong cơ cấu tuổi

dân số sẽ làm gia tăng cung lao động, tiết kiệm và tích lũy vốn của nền kinh tế cao,đồng thời làm gia tăng vốn con người Như vậy, sự tiến dần đến “cơ cấu dân sốvàng” sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốcgia Tuy nhiên, để có thể tận dụng được “lợi tức” này thì các quốc gia phải đảm bảonhóm dân số trong độ tuổi lao động được trang bị đầy đủ kỹ năng, kiến thức, vàphải có các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp

Nghiên cứu nhằm mục đích cung cấp các bằng chứng về tác động của biếnđộng cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua, đồngthời đề xuất các chính sách hợp lý để có thể tận dụng tốt cơ hội dân số này

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Luận văn tập trung phân tích mối quan hệ của biến động cơ cấu tuổi dân sốđến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu sự biến động trong cơ cấu tuổi dân số, tăngtrưởng kinh tế và mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởngkinh tế, tập trung phân tích cho trường hợp của Việt Nam

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu cho 63 tỉnh, thành phố của ViệtNam, phân tích quy mô, tốc độ gia tăng dân số, sự thay đổi cơ cấu tuổi dân

số, lực lượng lao động và tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Về mặt thời gian: Trong 8 năm, từ năm 2005 đến năm 2013

Trang 15

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để phù hợp với nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chứng, phương pháp phân tích kinh tế lượng

- Phương pháp thống kê: Số liệu sử dụng trong Luận văn được tổng hợp từ cácnguồn như Tổng Cục Thống Kê, Tổng Cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình,Các cuộc Điều tra Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình hàng năm vàCác cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở mười năm một lần nhằm làm rõ tìnhhình dân số và tăng trưởng kinh tế

- Phương pháp so sánh đối chứng: Dựa trên các số liệu thu thập được, sử dụng

để so sánh sự thay đổi cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế qua các thời

kỳ, góp phần đưa ra những đánh giá toàn diện cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích định lượng: Luận văn sử dụng phương pháp hồi quyhai giai đoạn (2SLS) kết hợp với phương pháp hồi quy dữ liệu bảng chonghiên cứu thực nghiệm từ năm 2005 đến năm 2013

1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Cấu trúc Luận văn gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến tác động của biến động cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng

Chương 4: Tổng quan tình hình biến động cơ cấu tuổi dân số trong thời gian qua tại Việt Nam và phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 16

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN

2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

2.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và cách đo lường

Khái niệm Tăng trưởng kinh tế

Đến nay, hầu hết các nhà kinh tế học đều thống nhất với nhau về khái niệmtăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế được tính cho toàn

bộ bền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm (Trần Thọ

Đạt, 2007) Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội

(GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầungười hoặc thu nhập bình quân đầu người Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng củatổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc thu nhậpbình quân đầu người trong một thời gian nhất định

Cách đo lường tăng trưởng kinh tế

Để đo lường tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăngtrưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn.Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy môkinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước,thường được tính bằng mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian hoặcmức tăng GDP bình quân đầu người theo thời gian (tính theo giá cố định) Tốc độtăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

���� − ����−1

�𝐺𝐷� = ����

−1

� 100%

Trong đó ���� : giá trị tổng sản phẩm quốc nội tại thời điểm t

����−1: giá trị tổng sản phẩm quốc nội tại thời điểm (t–1)

Trang 17

�𝐺𝐷� : tăng trưởng kinh tế tại thời điểm t.

Tuy nhiên công thức tính toán trên chưa phản ánh đúng tăng trưởng kinh tếcủa một quốc gia, vì nó không tính đến tác động của gia tăng dân số đến tốc độ tăngtrưởng GDP Công thức tính toán chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân đầu người:

�� − ��−1

�� = ��−

1

� 100%

Trong đó ��: GDP thực bình quân đầu người tại thời điểm t

�� 1− : GDP thực bình quân đầu người tại thời điểm (t – 1)

��: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người tại thời điểm t.2.1.1.2 Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Mô hình tăng trưởng cổ điển

Adam Smith và David Ricardo là các nhà kinh tế học tiêu biểu của trường phái

kinh tế học cổ điển Trong tác phẩm “Của cải của các quốc gia”, Adam Smith đã

nghiên cứu các tính chất và nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Ông chỉ ra chính laođộng được sử dụng trong những công việc có ích và hiệu quả là nguồn gốc tạo ra

giá trị cho xã hội David Ricardo kế thừa tư tưởng của Adam Smith và chịu ảnh hưởng tư tưởng dân số học của T.R Mathus (1776 – 1834) Lý thuyết tăng trưởng

kinh tế của David Ricardo nhấn mạnh: Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọngnhất, các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn trongtừng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định Các yếu tố này kết hợpvới nhau theo một tỷ lệ cố định, không đổi Ông đặc biệt nhấn mạnh tích lũy tư bản

là nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế, còn các chính sách của Chínhphủ không quan trọng

Những mô hình tăng trưởng kinh tế cơ bản nhất dựa vào một số phương trìnhliên hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, và tăng trưởng dân số với quy mô lực lượng lao động

và trữ lượng vốn Mô hình đơn giản gồm năm phương trình: (1) Hàm tổng sảnlượng, (2) Phương trình xác định mức tiết kiệm, (3) Đồng nhất thức tiết kiệm - đầu

Trang 18

tư, (4) Phương trình liên hệ giữa đầu tư mới và thay đổi trữ lượng vốn, và (5) Biểu thức về tỉ lệ tăng trưởng lực lượng lao động.

- Phương trình (1) là một hàm tổng sản lượng

Nếu Y tượng trưng cho tổng sản lượng (tổng thu nhập), K là trữ lượng vốn, và

L là cung lao động; ở dạng tổng quát nhất, hàm tổng sản lượng có thể được biểu thị

như sau:

� = �(�, �)Biểu thức cho thấy sản lượng là một hàm số (ký hiệu F) theo trữ lượng vốn vàcung lao động Khi trữ lượng vốn và cung lao động tăng, sản lượng sẽ gia tăng

- Phương trình (2), (3) và (4) mô tả sự thay đổi trữ lượng vốn (K) theo thời

gian

Phương trình (2) tính tổng tiết kiệm, với giả định tiết kiệm là một tỷ trọng cố

định của thu nhập, với S là tổng giá trị tiết kiệm, và s tiêu biểu cho tỉ lệ tiết kiệm

bình quân:

� = ��

Phương trình (3) liên hệ giữa tiết kiệm (S) với đầu tư mới (I), giả định không

có thương mại quốc tế, trong một nền kinh tế đóng, tiết kiệm phải bằng đầu tư:

� = �Phương trình (4) mô tả cách thức đầu tư mới làm thay đổi qui mô trữ lượng

vốn Với d là tỉ lệ khấu hao, sự thay đổi của trữ lượng vốn là ∆K, được xác định:

Trang 19

- Phương trình (5) tập trung vào cung lao động

Giả định tốc độ tăng trưởng của lực lượng lao động bằng tốc độ tăng trưởng

của tổng dân số Nếu n bằng tỉ lệ tăng trưởng dân số và cũng là tỉ lệ tăng trưởng lực lượng lao động, thì sự thay đổi lực lượng lao động (∆L) được biểu thị bằng:

∆� = ��

Quan điểm của K Marx về tăng trưởng kinh tế

Theo K Marx (1992), các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai,

lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật Ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao độngtrong việc tạo ra giá trị thặng dư và các chính sách kinh tế của Nhà nước có ý nghĩaquan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia

Marx cho rằng các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để khai thác tiến bộ kỹ thuật

nhằm nâng cao năng suất lao động của công nhân nên các nhà tư bản phải chia giátrị thặng dư thành hai phần: một phần để tiêu dùng cho nhà tư bản, một phần để tíchlũy phát triển sản xuất và đây là nguồn gốc của tích lũy tư bản

Quan điểm Tân Cổ Điển về tăng trưởng kinh tế

Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa họccông nghệ, sự chuyển biến này có ảnh hưởng quan trọng đến các nhà kinh tế, hình

thành một trường phái kinh tế mới – trường phái Tân cổ điển, đứng đầu là Alfred

Marshall (1842 – 1924).

Các nhà kinh tế học Tân cổ điển bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuấttrong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, họlập luận lao động và vốn có thể thay thế được cho nhau và trong quá trình sản xuất

có nhiều cách kết hợp các yếu tố đầu vào Đồng thời họ cũng khẳng định tiến bộkhoa học công nghệ là yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế và Chính phủkhông có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế

Lý thuyết Tân cổ điển còn được gọi là lý thuyết trọng cung

Trang 20

Các quan điểm hiện đại về tăng trưởng kinh tế

Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp,trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh tế,Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt trái của thị trường.Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự kết hợp giữa lý thuyết kinh tế Tân cổ điển và lý

thuyết kinh tế của Maynard Keynes (1883 – 1946) trong điều tiết kinh tế, Keynes đề

cao vai trò của Chính phủ trong việc sử dụng những chính sách kinh tế nhằm thúcđẩy tăng trưởng kinh tế Những ý tưởng cơ bản của học thuyết hiện đại về tăng

trưởng kinh tế được trình bày trong tác phẩm “Kinh tế học” của P.Samuelson xuất

bản năm 1948

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với mô hình tăng trưởng Tân

cổ điển về việc xác định các yếu tố tác động đến sản xuất Họ cho rằng tổng cung(Y) của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất là lao động

(L), vốn (K), tài nguyên thiên nhiên (R) và khoa học công nghệ (A), để tăng trưởng

thì các nhà sản xuất có thể lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ

sử dụng nhiều lao động Kế thừa mô hình Solow trong việc đưa thêm nhân tố laođộng và tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng, mô hình Solow cho biếttiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng đến mức sản lượng và tốc

độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng Tân cổ điển không giải thích đầy đủ nhữngthực tế của tăng trưởng, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển Trong mô hình Tân

cổ điển, yếu tố quyết định thu nhập bình quân đầu người là tính hiệu quả của lao

động (A) nhưng không xác định rõ hành vi gây ra các biến đổi trong hiệu quả của

lao động và xem nó là một yếu tố ngoại sinh

Mô hình “Tăng trưởng nội sinh” đã khắc phục được nhược điểm này, lý thuyết

này khẳng định ngoài vai trò quan trọng của vốn (K) và lao động (L) đối với tăng

trưởng, nghiên cứu phát triển và vốn con người là kênh quan trọng thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế Đồng thời yếu tố khoa học công nghệ (A) là một biến nội sinh, nó

Trang 21

được xác định một phần thông qua các chính sách Chính phủ, cơ cấu kinh tế và chính nhịp độ phát triển.

2.1.1.3 Các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế

Như vậy, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chỉ rõ các yếu tố của tăngtrưởng kinh tế và động lực của phát triển được kết hợp từ bốn yếu tố của tăng

trưởng là nguồn nhân lực (L), nguồn tài nguyên (R), vốn (K) và công nghệ (A).

Hàm sản xuất có dạng:

� = �(�, ,� ,� 𝐴)Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp khác nhau cũngtạo ra các kết quả tương ứng khác nhau ở mỗi nước

2.1.2 Cơ cấu tuổi dân số và biến động cơ cấu tuổi dân số

2.1.2.1 Cơ cấu tuổi dân số và các khái niệm có liên quan

Khái niệm cơ cấu tuổi dân số

Theo định nghĩa của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, cơ cấu tuổi

dân số là sự phân chia tổng số dân của địa phương theo tuổi hoặc nhóm tuổi Trongdân số học, cơ cấu dân số theo độ tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợptình hình sinh, tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của mộtquốc gia Tổng số dân thường được chia thành ba nhóm tuổi chính:

- Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi

- Nhóm tuổi trong độ tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc 15 – 64 tuổi)

- Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi trở lên (hoặc 65 tuổi trở lên)

Cơ cấu tuổi và tăng trưởng dân số

Cùng với tỷ suất sinh, cơ cấu tuổi là một “động cơ” nhân khẩu học, nó thúcđẩy (hoặc làm chậm) sự tăng trưởng dân số Ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ lớnngười trẻ gần như bảo đảm cho dân số đó tiếp tục tăng trong thời kỳ mức sinh giảm

Trang 22

Tỷ số phụ thuộc dân số

Tỷ số phụ thuộc là tỷ số phản ánh mối quan hệ giữa nhóm dân số trong độ tuổi

lao động và các nhóm không nằm trong độ tuổi lao động (trẻ em và người cao tuổi –thường được gọi là nhóm dân số phụ thuộc)

Nhóm dân số phụ thuộc là bộ phận dân số phụ thuộc về mặt kinh tế (những

người dưới độ tuổi lao động – phụ thuộc trẻ và những người trên độ tuổi lao động –phụ thuộc già) so với bộ phận sản xuất (quy ước là dân số trong độ tuổi lao động).Hiện nay có nhiều cách chia khác nhau về số tuổi của nhóm dân số phụ thuộc,nhưng để phù hợp với độ tuổi nghỉ hưu theo Luật Lao động của Việt Nam, nghiêncứu sử dụng nhóm tuổi của dân số phụ thuộc là nhóm dân số dưới 15 tuổi và trên 60tuổi

Tỷ số phụ thuộc được chia thành tỷ số phụ thuộc già - tỷ số phụ thuộc giàđược tính bằng tỷ số giữa số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) với 100 người trong

độ tuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi) và tỷ số phụ thuộc trẻ em - tỷ số phụ thuộc trẻ

em được tính bằng tỷ số giữa số trẻ em (từ 0 đến 14 tuổi) với 100 người trong độtuổi lao động (từ 15 đến 59 tuổi)

Tỷ số phụ thuộc thường được dùng như một chỉ báo về gánh nặng kinh tế mà

bộ phận dân số sản xuất phải cáng đáng Những nước có mức sinh rất cao thường có

tỷ số dân số trong độ tuổi phụ thuộc cao nhất vì một tỷ lệ lớn của dân số là trẻ em

Trang 23

Già hóa dân số

Chỉ số già hóa: Theo Vụ Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc (UNDESA, 2005), chỉ số già hóa được tính bằng tỷ số giữa số người cao tuổi và 100 người dưới

dưới 15 tuổi (hay trẻ em) Khi chỉ số này lớn hơn 100 tức là dân số cao tuổi lớn hơndân số trẻ em

Dân số già: Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970) (trích dẫn từ Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, 2010), khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9%

tổng dân số thì dân số được coi là già hóa Tương tự, khi dân số từ 65 tuổi trở lênchiếm từ 10% đến 19,9% gọi là dân số già; từ 20% đến 29,9% gọi là dân số rất già

và từ 30% trở lên gọi là dân số siêu già

Một số báo cáo sử dụng tuổi từ 60 trở lên để phân loại Dân số được coi là giàhóa khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số; tương ứng cho già, rất già

và siêu già là 20%, 30% và 35%

2.1.2.2 Biến động cơ cấu tuổi dân số và cơ cấu dân số vàng

Biến động cơ cấu tuổi dân số

tuổi

Biến động cơ cấu tuổi dân số là sự thay đổi tỷ trọng của các nhóm dân số theo

Cơ cấu dân s ố vàng

Một nước được coi là có “cơ cấu dân số vàng” khi tỷ số phụ thuộc dân số củanước đó nhỏ hơn 50, nghĩa là cứ hơn hai người trong tuổi lao động mới phải gánhmột người phụ thuộc Theo cách khác, trong Báo cáo kết quả của Tổng điều tra Dân

số và Nhà ở năm 2009, Tổng cục Thống kê định nghĩa “cơ cấu dân số vàng” xảy rakhi tỷ lệ trẻ em (nhóm dân số dưới 15) thấp hơn 30% và tỷ lệ người cao tuổi (65 trởlên) thấp hơn 15%

Trong nhiều nghiên cứu tiếp cận bằng tỷ số hỗ trợ - đo bằng tỷ số giữa dân sốhoạt động kinh tế với dân số không hoạt động kinh tế - và khi nào tốc độ tăng của tỷ

số lớn hơn 0 thì dân số được coi là bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”

Trang 24

Một số tên gọi khác của “cơ cấu dân số vàng” là “lợi tức dân số”; “cửa sổ cơhội nhân khẩu học” và “quà tặng dân số”.

2.1.3 Mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế

Đi từ các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế có thể thấy rõ mối quan hệ giữa dân

số, lao động và tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ này được trình bày dưới dạng các

mô hình khác nhau như các mô hình kinh tế của Adam Smith (1776), Cobb và

Douglas (1928), Harrod Domar (1946) và Solow (1956) Các mô hình đều chỉ ra

bên cạnh các yếu tố vốn và công nghệ thì lao động là một nhân tố quan trọng đónggóp cho tăng trưởng kinh tế của các quốc gia

Theo Bloom và Williamson (1998), đến những năm 1980 đã có những cuộc tranh luận giữa trường phái dân số học bi quan (Malthus, 1798 và Ehrlich, 1968) và trường phái dân số học lạc quan (Kuznets, 1967 và Simon, 1981) về tác động của

dân số đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Dân số học bi quan cho rằng tăngtrưởng dân số gây ra một phản ứng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của một quốcgia thông qua sự pha loãng nguồn lực Dân số học lạc quan lại lập luận sự tăngtrưởng dân số có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế vì nó sẽ thúc đẩy tiến bộkỹ thuật (Ngày nay, mô hình tăng trưởng với tiến bộ kỹ thuật nội sinh là phù hợpvới quan điểm này) Trong những năm 1980, các nghiên cứu sử dụng dữ liệu xuyênquốc gia đã không tìm thấy một tác động đáng kể nào của sự gia tăng dân số đối với

tăng trưởng kinh tế (Bloom và Freeman, 1986, Srinivan, 1988 và Kelley, 1988),

nhóm quan điểm thứ ba ra đời gọi là lý thuyết dân số học trung tính

2.1.3.1 Lý thuyết “Dân số học bi quan”: Gia tăng dân số hạn chế phát triển kinh tế

Lý thuyết được phát biểu bởi Thomas R.Malthus (1766 – 1834), ông cũng là

người đầu tiên nghiên cứu về quan hệ giữa tăng dân số và tăng trưởng kinh tế

Trong bài viết vào những năm 1790, Malthus đặt vấn đề liệu có thể cải thiện được

xã hội tương lai nếu quy mô dân số càng ngày càng lớn, ông lập luận, dân số nếu

Trang 25

không được kiểm soát sẽ tăng theo cấp số nhân (2, 4, 8, 16 ); còn lương thực thực phẩm, phương tiện sinh hoạt chỉ tăng theo cấp số cộng (1, 2, 3, 4 ).

Trong một thế giới mà các nguồn lực để trồng lương thực là có hạn và khoa

học kỹ thuật tiến bộ rất chậm, Malthus luận giải sản lượng lương thực sẽ nhanh

chóng bị sức ép của gia tăng dân số làm mất đi tác dụng Bữa ăn hàng ngày sẽ giảmxuống dưới mức chuẩn Mức chết cao sẽ cản trở dân số gia tăng Mức sống chỉđược cải thiện trong một thời gian ngắn trước khi lại bước vào thời kỳ tăng dân sốnhanh hơn Sự cân bằng giữa dân số và tăng thu nhập là “bộ luật vĩ đại của tựnhiên”

Ủng hộ lập luận của Malthus, năm 1968, Ehrlich cho ra đời cuốn sách The

Population Bomb (Quả bom dân số), ông cho rằng Trái đất chỉ có thể “gánh” tốtkhoảng 1,5 tỉ người (một số tính toán gần đây cũng cho con số “lý tưởng” này) vàcảnh báo nạn đói toàn cầu nếu dân số tiếp tục tăng

Về những đóng góp của Malthus, có thể nói ông là người có công đầu trong

việc nêu lên và nghiên cứu vấn đề dân số, đặc biệt là lên tiếng báo động cho nhânloại về nguy cơ của sự tăng nhanh dân số Tuy nhiên, một mặt do những hạn chế vềlịch sử và mặt khác, học thuyết này dựa trên giả định phát triển dân số là quy luật tựnhiên, vĩnh cửu nên ông đã đưa ra những giải pháp sai lệch để hạn chế nhịp độ tăngdân số

2.1.3.2 Lý thuyết “Dân số học lạc quan”: biến dộng dân số giúp tăng trưởng kinh tế

Quan điểm của nhóm “Các nhà nghiên cứu theo thuyết dân số học lạc quan”

cho rằng gia tăng dân số có thể là một quà tặng cho nền kinh tế Theo Kuznets

(1960) và Simon (1981), gia tăng dân số cũng giống như tạo vốn dự trữ con người.

Với khả năng lợi dụng được sự sắp đặt của nền kinh tế, những xã hội có quy mô lớnhơn được xác định tốt hơn các cơ hội để phát triển, khai thác và phổ biến các nguồntri thức không ngừng tăng lên mà họ có được

Trang 26

Quy mô dân số gia tăng kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, thị trường mởrộng và do đó thúc đẩy sản xuất phát triển Sản xuất với quy mô lớn sẽ mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn Mặt khác, dân số đông sẽ làm tăng kiến thức thông quahọc hỏi và cạnh tranh, hơn thế nữa, sức ép của nhu cầu sẽ thúc đẩy khoa học côngnghệ phát triển Tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp tăngnhanh và các nhà dân số học bi quan đã không tính đến điều này Họ đã có một cáchnhìn nhận rộng hơn và khuyến nghị rất nhiều yếu tố bên ngoài là nguyên nhân dẫnđến gia tăng dân số.

2.1.3.3 Lý thuyết “Dân số học trung tính”: biến dộng dân số không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Nhóm các nhà nghiên cứu khác luận giải, tăng dân số tác động đến tăngtrưởng kinh tế qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực

đến tăng trưởng kinh tế Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm

của hàng loạt các chính sách và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là donhân tố dân số

Kelley (2001) gợi ý những người theo thuyết Dân số học trung tính thực tế đã

trở thành trường phái tư tưởng khá nổi bật trong số các nghiên cứu học thuật về tăngtrưởng dân số; ông đưa ra ba lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu ảnh hưởng đến việc dấylên thuyết dân số học trung tính trong những năm 1980:

- Tài nguyên thiên nhiên: Người ta phát hiện ra cạn kiệt tài nguyên thiên

nhiên không phải do chịu tác động mạnh mẽ của gia tăng dân số như các nhàdân số học bi quan vẫn nghĩ Công nghệ, sự bảo tồn và phân chia thị trườngcác nguồn lực có hiệu quả, tất cả những yếu tố này góp phần gìn giữ tàinguyên thiên nhiên và thu nhập bình quân đầu người là yếu tố chủ yếu quyếtđịnh cung - cầu những nguồn lực này

- Tiết kiệm/tích lũy: Gia tăng dân số làm giảm tích lũy dẫn đến gây ảnh hưởng

đối với tăng trưởng kinh tế chưa được nghiên cứu

Trang 27

- Đa dạng hóa nguồn lực: Các nhà dân số học bi quan cho rằng gia tăng dân

số có thể dẫn đến việc phải dành nguồn lực cho nhiều nhu cầu đầu tư khácnhau, từ tạo dựng vốn sản xuất vật chất đến những lĩnh vực sản xuất kinh tếyếu kém, cũng như các chương trình phúc lợi xã hội và giáo dục Song kếtquả nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy thực tế điều này hầu như tác độngkhông đáng kể

2.1.3.4 Lý thuyết “Quá độ dân số”

Quá độ dân số là sự chuyển dịch có tính chất lịch sử tỷ suất sinh và tỷ suấtchết từ mức cao xuống mức thấp trong một dân số Sự giảm mức độ chết thường đitrước sự giảm mức độ sinh, làm cho dân số tăng trưởng nhanh trong thời kỳ quá độ.Người đầu tiên đưa ra quan điểm này là nhà dân số học người Pháp A Ladry cùngvới việc sử dụng thuật ngữ “Cách mạng dân số” ra đời vào những năm 1909 - 1934

Tư tưởng này được F.W Notestein, nhà dân số học Hoa Kỳ, kế tục và trình bày cụthể hơn vào năm 1945

Phân tích quá trình biến động dân số, các nhà nhân khẩu học phương Tây đưa

ra lý thuyết quá độ dân số Theo lý thuyết này, thời kỳ trước quá độ được đặc trưngbằng mức sinh cao không có sự kiểm soát và mức chết cao do thiên tai, đói khát,bệnh tật và chiến tranh Hình thức này tồn tại trong các xã hội truyền thống có nềnkinh tế nông nghiệp là chủ yếu, ở đó khuyến khích mọi người có mức sinh cao và ýtưởng này càng được củng cố bằng những lợi ích kinh tế mà các gia đình đông conđưa lại

Thời kỳ quá độ hay thời kỳ chuyển tiếp xuất hiện khi mức chết giảm, sau đómức sinh cũng giảm Sau thời kỳ quá độ, tỷ suất chết và tỷ suất sinh trở lại tươngđương nhau, nhưng ở mức thấp

Các giai đoạn của thời kỳ quá độ được chia thành: giai đoạn trước quá độ dân

số, giai đoạn quá độ dân số và giai đoạn sau quá độ dân số

Trang 28

Giai đoạn 1 - trước quá độ dân số: biểu thị mức chết bắt đầu giảm xuống

(nhưng còn chậm), mức sinh vẫn còn cao và có nơi vẫn tiếp tục tăng Trạng thái cânbằng dân số bị phá vỡ, gia tăng dân số bắt đầu diễn ra với tốc độ cao

Giai đoạn 2 - quá độ dân số: biểu thị mức chết giảm xuống rất nhanh, trong

khi mức sinh mới chỉ bắt đầu giảm xuống Trạng thái cân bằng dân số bị phá vỡtrầm trọng, gia tăng dân số đạt đến đỉnh cao

CBR: tỷ suất sinh thô, CDR: tỷ suất chết thô

Hình 2.1 Quá độ dân số

Nguồn: Bloom và Williamson (1998)

Giai đoạn 3 - sau quá độ dân số: mức sinh giảm xuống rất nhanh trong khi

mức chết chững lại và biến đổi rất ít, khoảng cách giữa sinh và chết thu hẹp, dân sốtăng chậm

Thời kỳ sau quá độ được đặc trưng bằng mức chết thấp và ổn định, trong khimức sinh cũng thấp, tăng trưởng dân số rất chậm, thậm chí có một số nước có tăngtrưởng dân số âm

Tăng trưởng dân số bằng không là khi mức sinh bằng với mức chết

Đánh giá về mối quan hệ giữa tiến trình phát triển kinh tế - xã hội với biếnđộng dân số, các nhà nhân khẩu học đã rút ra nhận xét tất cả các dân tộc trong kỷnguyên hiện đại đã chuyển từ nền kinh tế truyền thống trên cơ sở nông nghiệp sang

Trang 29

nền kinh tế công nghiệp lớn trên cơ sở đô thị hoá, hiện đại hoá thì đều chuyển từ mức sinh và mức chết cao sang mức sinh và mức chết thấp.

Như vậy, quá độ dân số là giai đoạn nhất thiết phải trải qua, mặc dù độ dàingắn có thể khác nhau Theo lý thuyết này, việc giảm mức sinh là sản phẩm đi kèmcủa công nghiệp hoá và hiện đại hoá Tuy vậy, đối với các nước đang phát triển, dân

số tăng rất nhanh, không thể chờ đợi công nghiệp hoá, đô thị hoá mà phải chấp nhậnchương trình Kế hoạch hóa gia đình nhằm tác động trực tiếp đến gia tăng dân số

2.1.4 Lý thuyết về mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và

tăng trưởng kinh tế

Về mặt lý thuyết, hiện nay chưa có học thuyết nào thể hiện nội dung cụ thể và

rõ ràng mối quan hệ giữa biến động cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng kinh tế.Thuyết “Quá độ dân số” được xem là cơ sở đầu tiên của khung lý luận về biến động

cơ cấu tuổi dân số và tăng trưởng Dựa vào sự thay đổi trong mức sinh và mức chết

có thể phân tích được sự thay đổi về cơ cấu tuổi dân số trong mỗi giai đoạn Tuynhiên các nhà dân số học và kinh tế học giai đoạn này vẫn chưa nhận định đúng tầmquan trọng trong việc xem xét mối quan hệ giữa sự thay đổi mức sinh, mức chết và

sự biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế

Theo mô hình tăng trưởng kinh tế Tân cổ điển (Solow, 1956), gia tăng dân số kiềm hãm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Trong những năm 1990, Barro

(1991) đã giới thiệu một tập hợp các biến nhân khẩu học “hội tụ” vào mô hình tăng

trưởng kinh tế Nhìn chung, khả năng sinh sản, tăng trưởng dân số và tỷ lệ tử vong

có tác động tiêu cực, trong khi đó quy mô dân số và mật độ dân số lại có tác độngtích cực đến tốc độ tăng trưởng sản lượng của quốc gia Trong những năm cuối thậpniên 1990, hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định tăng trưởng dân số có tác động

trung tính đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, họ nhận ra rằng trên thực tế có sự

tương quan giữa nhân khẩu học và tăng trưởng kinh tế nếu xem xét chúng dựa trên những thay đổi về cơ cấu tuổi dân số.

Trang 30

Phát hiện quan trọng trong các nghiên cứu về nhân khẩu học và tăng trưởngkinh tế trong thời gian qua đã chỉ ra tỷ lệ tăng trưởng của dân số trong độ tuổi laođộng có ảnh hưởng tích cực đến tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân trên mỗi

lao động Đánh giá về vai trò của nhân khẩu học, Kelley và Schmidt (2005) thấy

rằng sự suy giảm tỷ lệ phụ thuộc trẻ có một tác động tích cực mạnh mẽ đối với tốc

độ tăng trưởng sản lượng bình quân trên mỗi lao động ở các quốc gia Châu Âu

trong những năm 1970 và 1980 Trong các biến giải thích, Kelley và Schmidt nhận

thấy vốn con người (được đo bằng tuổi thọ và giáo dục) có ảnh hưởng đáng kể đến

tăng trưởng qua các thời kỳ khác nhau của các quốc gia nghiên cứu Kelley và

Schmidt ước tính biến nhân khẩu học đóng góp 24% trong tăng trưởng sản lượng

bình quân đầu người của châu Âu trong khoảng thời gian 1960 – 1995 Tương tự

với kết quả nghiên cứu của Kelley và Schmidt (2005), kết quả nghiên cứu của

Bloom và Williamson (1998) cũng chỉ ra được biến động dân số giải thích gần 20%

mức tăng trưởng ở châu Âu trong khoảng thời gian 1965 – 1990 Bloom và

Williamson (1998) đề xuất tác động của nhân khẩu học đến tăng trưởng kinh tế

thông qua hai kênh: (1) lực lượng lao động và (2) tiết kiệm và đầu tư Bloom và

Canning (2001) đã bổ sung một kênh tác động thứ ba thông qua vốn con người,

thêm vào đó, nếu một quốc gia có được môi trường chính sách hoàn toàn đúng đắnthì “lợi tức” về nhân khẩu học này mới có thể hỗ trợ tạo nên một thời kỳ kinh tế

tăng trưởng bền vững Nghiên cứu của Bloom và cộng sự (2001) cũng nhấn mạnh

trong một nền kinh tế mở, một lực lượng lao động linh hoạt và thể chế hiện đại sẽđảm bảo cho quốc gia đó tận dụng được “lợi tức” nhân khẩu học mang lại

Như vậy, hành vi kinh tế và nhu cầu của con người sẽ khác nhau ở các giaiđoạn khác nhau của cuộc đời, những thay đổi trong cơ cấu tuổi dân số của một quốcgia có thể có những ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh tế của quốc gia đó Trongkịch bản chuyển đổi nhân khẩu học, như một hệ quả, quá trình chuyển đổi nhânkhẩu học bước đầu dẫn đến một “gánh nặng” nhân khẩu học vì tốc độ tăng dân sốdiễn ra nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của dân số trong độ tuổi lao động Sau

đó, sự suy giảm trong khả năng sinh sản và sự chuyển đổi nhân khẩu học dẫn đến

Trang 31

Tiết kiệm/

Tích lũy

Nguồn cung lao động

Biến đổi cơ cấu tuổi dân số

Vốn con người Tăng trưởng kinh tế

một “lợi tức” nhân khẩu học vì sự phát triển của dân số trong độ tuổi lao độngnhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của dân số Trong những năm trở lại đây, cácnghiên cứu thực nghiệm của các nhà kinh tế học đã chỉ ra sự thay đổi trong cơ cấutuổi dân số sẽ mang đến các cơ hội cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nó giúp cácquốc gia nhận được một “lợi tức” về mặt nhân khẩu học, và “lợi tức” này được tiếnhành thông qua ba kênh: (1) nguồn cung lao động, (2) tiết kiệm/tích lũy vốn của nềnkinh tế và (3) vốn con người

Hình 2.2 Các kênh tác động của quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng

trưởng kinh tế.

(1) Nguồn cung lao động

Theo Bloom và cộng sự (2001), biến động cơ cấu tuổi dân số tác động đến

việc cung cấp lao động theo hai cách

Thứ nhất, tác động cơ bản về mặt cơ chế, trên cơ sở so sánh giữa quá trình già

hóa thông thường và quá trình già hóa của thế hệ sinh ra khi bùng nổ dân số Khithế hệ này ở trong khoảng từ 15 đến 64 tuổi, hầu như tất cả đều tham gia lao độngkhiến cho tỷ lệ dân số phụ thuộc giảm so với tỷ lệ dân số lao động Trong nhữngnăm đỉnh điểm của tuổi lao động từ 25 đến 59 tuổi, tác động đặc biệt mạnh mẽ Vìvậy, số người muốn đi làm (cung cấp lao động) sẽ lớn hơn và nếu như thị trường lao

Trang 32

động có thể thu hút được số lao động dồi dào này thì năng suất lao động xã hội bìnhquân đầu người sẽ tăng.

Thứ hai, phụ nữ cũng sẽ tham gia lực lượng lao động nhiều hơn, vì quy mô

gia đình ngày một giảm Khi phụ nữ được lớn lên trong gia đình có quy mô nhỏ, họ

có thể có điều kiện để được dạy dỗ và đào tạo bài bản hơn Chính những yếu tố đó

sẽ làm tăng mức độ đóng góp và năng suất lao động của phụ nữ trong thị trường laođộng Việc phụ nữ tham gia lực lượng lao động ngày càng nhiều sẽ là động cơ giảmbớt số con, và khi càng có ít con thì họ càng có thể có thêm nhiều cơ hội tham giathị trường lao động, thúc đẩy những tiến bộ hướng đến một nguồn lao động hùnghậu hơn và quy mô gia đình nhỏ hơn

(2) Tiết kiệm/tích lũy vốn của nền kinh tế

Các tác động của nhân khẩu học đến tiết kiệm và tích lũy của nền kinh tế bắt

đầu từ giả thuyết phụ thuộc được đề xuất bởi Coale và Hoover (1958) Tốc độ tăng

trưởng dân số nhanh chóng bắt nguồn từ sự sụt giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em và sựgia tăng tỷ lệ sinh sản, điều này làm tăng tỷ lệ phụ thuộc trẻ Các hộ gia đình càng

có nhiều trẻ em thì chi tiêu cho tiêu dùng càng cao, vì vậy làm giảm tiết kiệm

Coale và Hoover kết luận rằng tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế sẽ bị sụt giảm nếu khả

năng sinh sản ngày càng tăng và tỷ lệ trẻ em trong tổng dân số cao

Nghiên cứu tác động của tăng trưởng dân số đến tiết kiệm, cả hai nghiên cứu

của Tobin (1967) và Leff (1969) đều dựa trên các mô hình tiết kiệm vòng đời, dựa

trên việc kết nối các yếu tố nhân khẩu học và tiết kiệm của hộ gia đình để xem xétmối quan hệ giữa chúng Tiết kiệm vòng đời cho phép hộ gia đình sử dụng thu nhậpcủa họ phù hợp với từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời Tổng tiết kiệm là mộttrong những nguồn đầu tư quan trọng, phụ thuộc vào khoản tiết kiệm của hộ giađình hiện đang làm việc và các khoản dành dụm của các hộ đã nghỉ hưu Theo chu

kỳ tiết kiệm, việc giảm khả năng sinh sản sẽ ảnh hưởng đến tiết kiệm vì hai lý do

Thứ nhất, gánh nặng nuôi con giảm dẫn đến một mức tiêu dùng thấp hơn và

làm tăng tích lũy của các hộ gia đình

Trang 33

Thứ hai, giảm khả năng sinh sản và giảm mức chết gây ra một sự già hóa dân

số, những hộ gia đình có người cao tuổi tăng lên Những hộ gia đình có người caotuổi có tỷ lệ tiết kiệm thấp hơn do chi phí chăm sóc y tế và các phúc lợi khác chongười cao tuổi tăng, điều này sẽ làm giảm mức tiết kiệm, ảnh hưởng đến đầu tư chophát triển kinh tế

Như vậy, quá trình chuyển đổi nhân khẩu học vừa có mối quan hệ tiêu cực,vừa có mối quan hệ tích cực đến tiết kiệm, tích lũy của nền kinh tế Trẻ em và ngườigià tiêu dùng nhiều hơn của cải họ làm ra, không như người trong tuổi lao động -những người thường tạo ra nhiều của cải hơn và mức độ dành cho tiết kiệm cũng

nhiều hơn (Higgins, 1998; Kelley và Schmidt, 1996) Hơn nữa, người ta thường tiết

kiệm nhiều hơn ở độ tuổi từ 40 tuổi đến 65 tuổi vì khi đó ít phải đầu tư cho con cái

và nhu cầu chuẩn bị cho nghỉ hưu ngày càng tạo áp lực lớn hơn đối với họ Vì vậy,khi số lượng lớn những người sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số bắt đầu bước

vào tuổi 40, thì tích lũy quốc gia thường tăng lên (Leff, 1969 và Kelley và Schmidt,

1996).

(3) Vốn con người

Chuyển đổi nhân khẩu học bắt đầu với việc thay đổi về mức chết dẫn đến dân

số sống thọ hơn, có ít con hơn, từ đó góp phần cải thiện sức khỏe của người phụ nữ.Một cách rõ ràng, biến động cơ cấu tuổi dân số tiến đến “cơ cấu dân số vàng” gópphần tạo ra vốn con người theo hai cách

Thứ nhất, tuổi thọ cao hơn sẽ tạo ra những thay đổi cơ bản trong cách sống

của người dân Thái độ đối với giáo dục, gia đình, nghỉ hưu, vai trò của phụ nữ vàviệc làm đều có xu hướng thay đổi Một xã hội, đặc biệt là khi xã hội đó đang tậndụng tối đa những lợi thế “lợi tức” nhân khẩu học thì nhất định sẽ trải nghiệmnhững thay đổi gốc rễ ăn sâu trong văn hóa, vì người dân của xã hội đó sẽ trở thànhtài sản vô giá hơn Lấy giáo dục làm ví dụ, mối quan hệ tương quan giữa giáo dục

và khả năng tạo ra thu nhập là khá rõ nét Ví dụ, ở Mỹ La Tinh, một công nhân có 6năm đi học kiếm nhiều tiền hơn người không đi học chính quy trung bình là 50%

Trang 34

Mức thu nhập tăng gấp 120% cho những người có 12 năm đi học (như đã tốt nghiệpphổ thông trung học) và trên 200% cho những người có 17 năm đi học (như đã hoànthành giáo dục cấp đại học hoặc cao đẳng) Kết quả của đầu tư cho giáo dục là lựclượng lao động nói chung sẽ có năng suất cao hơn, lương cao hơn và có mức sống

tốt hơn (Bloom và cộng sự, 2001; Zang và Lee, 2003; Kalemli – Ozcan, 2002) Vì

vậy người lao động thường có xu hướng tham gia vào lực lượng lao động muộnhơn, một phần vì họ tham gia quá trình đào tạo dài hơn, nhưng bù lại họ sẽ có năngsuất lao động cao hơn khi bắt đầu làm việc

Thứ hai, đầu tư cho giáo dục giúp người dân có hiểu biết hơn trong các hoạt

động Kế hoạch hóa gia đình, làm giảm tỷ lệ sinh, từ đó gia tăng sức khỏe của ngườiphụ nữ, cũng như sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động của quốc gia,góp phần vào tăng trưởng kinh tế

Ngay từ khi các lý thuyết tăng trưởng kinh tế mới ra đời, trường phái kinh tế

cổ điển điển hình của Adam Smith (1776), David Ricardo đã nhận định lao động là

một trong những động lực và nguồn gốc của tăng trưởng Các lý thuyết kinh tế vềsau đã bổ sung và ngày càng khẳng định tầm quan trọng trong phân tích tác động

của cung lao động đến tăng trưởng (Marx, 1992; Solow, 1956) Tiết kiệm cũng là

một trong những động lực của tăng trưởng, vì nó có tác động đến khả năng tích lũycủa nền kinh tế, từ đó gia tăng đầu tư, nâng cao năng lực hoạt động của nền kinh tế

(Harrod, 1939; Domar, 1946 và Solow, 1956) Schultz (1961) đã dự báo đầu tư vào

vốn con người có lẽ là lời giải thích cơ bản cho sự chênh lệch giữa tăng trưởng đầu

ra và tăng trưởng đầu vào vốn vật chất và lao động Về sau, lý thuyết về vốn con

người và tăng trưởng kinh tế được phát triển và nghiên cứu sâu hơn bởi Lucas

(1988), Barro (1991), Barro và Lee (1993) và Cai (1996).

Theo Zhang và Lee (2003), luôn có một sự đánh đổi giữa số lượng và chất

lượng lực lượng lao động trong thời kỳ quá độ dân số Một quốc gia sẽ nhận đượcnhững lợi ích cao nhất nếu họ có một sự chuẩn bị tốt cho chất lượng dân số trongkhi chờ đợi cơ hội “dân số vàng” xảy ra Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng

Trang 35

có thể tận dụng được “lợi tức” nhân khẩu học từ sự biến đổi trong cơ cấu tuổi dân

số khi tiến dần đến “cơ cấu dân số vàng” (Bloom và cộng sự, 2001) Điều này còn

phụ thuộc vào môi trường chính sách của mỗi quốc gia Năng suất cao hơn trongđiều kiện thị trường lao động đủ linh hoạt, cho phép mở rộng thị trường, chính sáchkinh tế vĩ mô cho phép và khuyến khích đầu tư Tương tự, người dân sẽ tiết kiệmvới điều kiện họ tiếp cận được cơ chế tiết kiệm phù hợp và tin tưởng vào thị trườngtài chính trong nước Cuối cùng, chuyển đổi nhân khẩu học tạo điều kiện ở nhữngnơi mà con người sẽ có ý định đầu tư vào sức khỏe và giáo dục

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Theo các nhà kinh tế học, nghiên cứu về “Phép màu kinh tế” của Đông Á làmột trong những bằng chứng thuyết phục nhất trong lịch sử đương đại về “lợi tức”dân số đến tăng trưởng kinh tế Chuyển đổi nhân khẩu học ở Đông Á là yếu tố quantrọng tạo nên sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của khu vực Giai đoạn từ năm

1965 đến năm 1990, thu nhập bình quân đầu người hàng năm của khu vực đã tăngtrên 6% Nguyên nhân là do những năm cuối của thập niên 60 là giai đoạn mà thế

hệ “bùng nổ” dân số bắt đầu bước vào tuổi lao động, việc gia nhập vào lực lượnglao động của đoàn hệ này đã làm thay đổi tỷ lệ dân số phụ thuộc Các nghiên cứuthực nghiệm về hiện tượng biến động nhân khẩu học được các nhà kinh tế học tậptrung khai thác Giải thích cho sự đóng góp của cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng

kinh tế thần kỳ của Đông Á, Bloom và Williamson (1998) khẳng định, thông qua

các kênh tác động là cung lao động, tiết kiệm/ tích lũy vốn của nền kinh tế và vốncon người, sự biến đổi trong cơ cấu tuổi dân số có tác động mạnh đến tăng trưởngkinh tế của khu vực này trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1990 Bên cạnh cácbiến nhân khẩu học bao gồm biến tốc độ tăng trưởng của dân số hoạt động kinh tế

và tăng trưởng của tổng dân số, Bloom và Williamson (1998) dựa trên nghiên cứu

của Ngân hàng phát triển Châu Á (1997) để lựa chọn các biến kiểm soát khác chonghiên cứu của mình: số năm đi học bình quân của bậc trung học cơ sở trong giaiđoạn đầu, tuổi thọ trung bình trong giai đoạn đầu, tài nguyên thiên nhiên, độ mở củanền kinh tế, chất lượng thể chế, mức tiết kiệm của chính phủ và các biến địa lý

Trang 36

khác Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu của Ngân hàng Thế giới bao gồm 78 quốc gia(các quốc gia Châu Á và các quốc gia không thuộc Châu Á) từ năm 1965 đến năm

1990 Kết quả ước lượng chỉ ra rằng từ năm 1965 đến năm 1990, gia tăng 1% tốc độtăng trưởng dân số trong độ tuổi lao động dẫn đến sự gia tăng 1,46% trong tốc độtăng trưởng GDP bình quân đầu người, trong khi đó nếu gia tăng 1% tốc độ tăngtrưởng của toàn bộ dân số sẽ làm giảm 1,03% mức tăng trưởng của GDP bình quânđầu người Như vậy, khi cơ cấu tuổi không thay đổi, tác động của việc gia tăng dân

số là trung tính, nhưng khi tỷ lệ dân số lao động tăng hoặc giảm thì các cơ hội pháttriển kinh tế cũng tăng hoặc giảm Biến đổi trong cơ cấu dân số khiến dân số trong

độ tuổi lao động của khu vực tăng nhanh, cao hơn rất nhiều so với mức tăng của dân

số phụ thuộc trong giai đoạn 1965 – 1990 Tác động tương hỗ hình thành, biến độngdân số giúp cho tăng thu nhập và tăng thu nhập lại khiến cho tốc độ gia tăng dân sốgiảm và tiếp sau đó là giảm số người phụ thuộc thông qua giảm mức sinh Nghiêncứu cho thấy tỷ lệ lao động tham gia hoạt động kinh tế đóng góp 37% vào tăng

trưởng của các nước thần kỳ Châu Á Kết quả nghiên cứu của Bloom và Sachs

(1998) cũng cho thấy biến động trong cơ cấu dân số tạo nên từ 1/4 đến 2/5 “kỳ tích

kinh tế” của Đông Á Cách tính của Bloom và Finlay (2008) cũng khẳng định

những kết quả phân tích này

Tương tự với Bloom và Williamson (1998), Bloom và Canning (2001) cũng

phân tích mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế thông qua ba kênh: (1) thịtrường lao động hiệu quả tạo nhiều việc làm, (2) tiết kiệm và tích lũy cao và (3)

giáo dục và nguồn nhân lực có chất lượng cao Bloom và Canning (2001) lập luận

việc giảm tỷ lệ tử vong có thể làm gia tăng lực lượng lao động, tạo ra một mức tiếtkiệm cao hơn Bên cạnh đó, cấu trúc tuổi, mật độ dân số có thể ảnh hưởng đến tăngtrưởng kinh tế, gia tăng mật độ dân số có thể cản trở sự tăng trưởng kinh tế do cáchạn chế về tài nguyên hoặc thúc đẩy phát triển nếu tận dụng được lợi thế kinh tếtheo quy mô Nhóm tác giả đề xuất cách tiếp cận mang tính hệ thống với việc xemcác biến dân số, sản lượng đầu ra và tích lũy vốn là các biến nội sinh, chúng tácđộng lẫn nhau và sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh khác như chính trị, thể

Trang 37

chế Bloom và Canning (2001) sử dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu hai

giai đoạn (2SLS – Two Stage Least Square) ước lượng cho giai đoạn 1960 – 1995,biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người Kết quả nghiên cứucho thấy, bản thân tăng trưởng dân số không có ý nghĩa quan trọng đến tăng trưởngkinh tế nhưng kết quả này sẽ thay đổi nếu đồng thời kết hợp phân tích sự chênh lệchgiữa tốc độ tăng trưởng dân số và tốc độ tăng trưởng dân số trong độ tuổi lao độngvới nhau Mức thu nhập bình quân đầu người ở trạng thái dừng của nền kinh tế sẽcao hơn nếu tỷ lệ lao động trên tổng dân số cao hơn Nghiên cứu còn chỉ ra tầmquan trọng của giáo dục và môi trường chính sách đến tăng trưởng kinh tế Môitrường chính sách tốt sẽ giúp quốc gia đó nhận được lợi tức do quá trình chuyển đổinhân khẩu học mang lại, từ đó có tác động tích cực đến tăng trưởng, điều này đặcbiệt quan trọng đối với các nước nghèo

Nghiên cứu về “Chuyển đổi nhân khẩu học, tích lũy vốn con người và tăng

trưởng kinh tế”, Hahn và Park (2010) đặt ra câu hỏi: Phải chăng chuyển đổi nhân

khẩu học, cụ thể là biến động trong cơ cấu dân số sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởngcủa thu nhập bình quân đầu người? Nhóm tác giả nghiên cứu cho 141 quốc gia đượcchọn, số liệu thu thập từ năm 1960 đến năm 2004 Trong nghiên cứu của mình, tácgiả giả định tốc độ của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học là cố định cho một quốcgia Đại diện cho biến nhân khẩu học bao gồm các chỉ số: tỷ lệ sinh, tỷ lệ dân số

trong độ tuổi lao động và tỷ lệ gia tăng dân số Hahn và Park (2010) sử dụng đồng

thời hai phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và phương pháp moment tổngquát (GMM) để giải quyết các vấn đề nội sinh tồn tại khi đo lường tác động củabiến nhân khẩu học đến tăng trưởng kinh tế Nhìn chung, các kết quả hồi quy khi trảlời câu hỏi được đặt ra đều cho rằng quá trình chuyển đổi nhân khẩu học làm giatăng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của các quốc gia đang xét Kếtquả ước lượng giữa hai phương pháp không có sự khác biệt đáng kể đã chứng minhrằng vấn đề nội sinh không có ảnh hưởng lớn đến kết quả ước lượng, ít nhất là trongmẫu nghiên cứu của tác giả

Trang 38

Hầu hết các nghiên cứu về nhân khẩu học đến tăng trưởng kinh tế đều chọn

mẫu đại diện là các vùng khác nhau trên thế giới thì Beaudry và Collard (2003) tập

trung nghiên cứu cho các nước công nghiệp phát triển Nhóm tác giả nghiên cứu cáctác động của tăng dân số trong độ tuổi lao động đến hoạt động kinh tế của các công

nghiệp giàu có nhất trên thế giới Beaudry và Collard thực hiện hồi quy cho các

quốc gia có mức thu nhập bình quân của người trưởng thành năm 1985 cao hơn10.1 USD, hồi quy cho hai giai đoạn: giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1974 vàgiai đoạn từ năm 1975 đến năm 1997 Mẫu được chọn bao gồm các quốc gia: Úc,Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Iceland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan,New Zealand, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, và Mỹ, với giả định trình độ côngnghệ của các quốc gia này là tương tự nhau Các biến độc lập bao gồm tốc độ tăngtrưởng thu nhập bình quân của người trưởng thành, sản lượng bình quân trên mỗilao động và tỷ lệ việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động Biến nhân khẩu học làbiến giải thích quan trọng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng bình quân hàngnăm của dân số trong độ tuổi lao động, từ 15 đến 64 tuổi Kết quả ước lượng ở haigiai đoạn 1960 – 1974 và 1975 – 1997 có sự khác biệt đáng kể, hệ số hồi quy củabiến nhân khẩu học (đo lường bằng tăng trưởng hàng năm của dân số trong độ tuổilao động) rất nhỏ và hầu như không có ý nghĩa trong giai đoạn đầu (1960 – 1974),trong khi đó nó lại có mối tương quan chặt chẽ trong giai đoạn hai (1975 – 1997)

Từ năm 1975 đến năm 1997, các quốc gia có tốc độ tăng trưởng dân số trưởngthành cao hơn thì tăng trưởng sản lượng trên mỗi lao động thấp hơn nhưng tỷ lệviệc làm trên dân số trong độ tuổi lao động lại cao hơn Ước lượng cho thấy mộtquốc gia có tốc độ tăng dân số trưởng thành hàng năm lớn hơn mức trung bình 1%thì tăng trưởng sản lượng trên mỗi lao động sẽ giảm khoảng 1% mỗi năm Điều nàycho thấy các quốc gia có thể sẽ không khai thác được cơ hội dân số cho tăng trưởngkinh tế nếu các quốc gia này không khai thác hiệu quả nguồn lao động tiềm năngcủa nền kinh tế

Tác động của các biến nhân khẩu học đến tăng trưởng kinh tế còn được đo

lường dựa trên các tỷ số phụ thuộc già và tỷ lệ phụ thuộc trẻ Nghiên cứu của Kelley

Trang 39

và Schmidt (2005) phân tích cho 86 quốc gia, chia thành 4 giai đoạn phát triển từ

năm 1960 đến năm 1995, bao gồm 344 quan sát Các biến nhân khẩu học cơ bảnđược sử dụng bao gồm tỷ lệ dân số phụ thuộc trẻ và tỷ lệ dân số phụ thuộc già, quy

mô dân số và mật độ dân số Bên cạnh đó, Kelley và Schmidt (2005) dựa trên gợi ý của Barro (1991) lựa chọn các biến giải thích khác bao gồm kinh tế, giáo dục, chính

trị và sức khỏe Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn con người (được đo bằng tuổi thọ vàgiáo dục), tài chính và chính trị thực sự có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế củacác quốc gia Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy tăng dân số trong tuổilao động có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế nếu tốc độ tăng dân số trongtuổi lao động cao hơn tốc độ tăng dân số, đồng thời nhấn mạnh việc giảm tỷ lệ phụthuộc, đặc biệt là tỷ lệ phụ thuộc trẻ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế,trong khi đó sự thay đổi tỷ lệ phụ thuộc già vẫn còn khá hạn chế trong nhiều thập kỷqua, do vậy ảnh hưởng của tỷ lệ này đối với tăng trưởng là không rõ ràng Việc tăngquy mô dân số cũng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng Kết quả nghiên cứu chothấy các biến nhân khẩu về cơ bản đóng góp khoảng 8% cho tăng trưởng kinh tếtoàn cầu, và mức sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng dân số trong độ tuổi laođộng và tỷ lệ tăng trưởng của dân số đóng góp 13% tăng trưởng kinh tế toàn cầu.Riêng với khu vực Châu Âu, mức độ đóng góp của các biến nhân khẩu và sự chênhlệch lần lượt là 24% và 10% Điều này cho thấy trong thời kỳ quá độ dân số, Châu

Âu đã tận dụng được những “lợi tức nhân khẩu học” cho tăng trưởng kinh tế của

khu vực Koegel (2007) tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa tỷ lệ phụ thuộc

trẻ, tăng trưởng sản lượng bình quân trên dân số trong tuổi lao động và vấn đề thểchế đến tăng trưởng kinh tế của 55 quốc gia từ năm 1960 đến năm 2000 Nghiêncứu sử dụng hai phương pháp ước lượng phương pháp hồi quy hai giai đoạn (2SLS)

và phương pháp ước lượng Fuller Cả hai phương pháp đều cho ra các kết quảtương tự nhau: tỷ lệ phụ thuộc trẻ có ý nghĩa về mặt thống kê và có tác động tiêucực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, trong khi đó, các biến thể chế lại cóảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Điều này cho thấy rằng, cả dân số học

và thể chế đều là vấn đề của tăng trưởng kinh tế

Trang 40

Feyrer (2007) và Prskawetz và Lindh (2007) thay vì tập trung vào cơ cấu tuổi

dân số và tỷ lệ dân số phụ thuộc, tác giả lại nhấn mạnh tầm quan trọng của nhânkhẩu học đến lực lượng lao động thông qua việc nghiên cứu tác động của cơ cấutuổi lao động đến tăng trưởng kinh tế Mô hình tăng trưởng hội tụ có điều kiện

Feyrer (2007) sử dụng các biến nhân khẩu học là tập hợp các nhóm dân số trong độ

tuổi lao động được chia theo các nhóm tuổi (từ 10 đến 60 tuổi) Tác giả thu thập dữliệu từ hai nguồn Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các số liệu dân số của LiênHợp Quốc từ năm 1960 đến năm 1990, nghiên cứu cho hai mẫu: 19 quốc gia thuộcOECD và 87 quốc gia không sản xuất dầu mỏ Kết quả hồi quy chỉ ra ở các nhómtuổi khác nhau của dân số trong độ tuổi lao động sẽ có những mức đóng góp khácnhau đến mức sản lượng đầu ra của mỗi quốc gia Nhóm dân số lao động trongnhóm tuổi 40 – 49 có mức độ đóng góp cao hơn so với nhóm tuổi 30 – 39 hoặc trẻhơn, cụ thể nhóm tuổi 30 – 39 có mức đóng góp vào khoảng 5% tổng sản lượngquốc gia, trong khi đó nhóm tuổi 40 – 49 đóng góp đến 15% trong tổng sản lượng

Kết quả nghiên cứu của Feyrer cũng đi ngược với kết quả của các nghiên cứu trước,

ông cho rằng tỷ lệ phụ thuộc không có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tếcủa các quốc gia Trong các thành phần hợp thành sản lượng đầu ra dựa trên hàmsản xuất Cobb – Douglas (vốn vật chất trên mỗi lao động, vốn con người trên mỗilao động và năng suất lao động) thì năng suất lao động là thành phần quan trọngnhất chỉ ra tác động của nhân khẩu học đến sản lượng đầu ra bình quân của mỗi lao

động Ngoài ra Feyrer còn thu thập số liệu từ năm 1990 đến năm 1995 để đánh giá

tác động của biến động nhân khẩu học đến tăng trưởng kinh tế, kết quả nghiên cứuước tính trong giai đoạn 1990 – 1995, biến động nhân khẩu học đóng góp 12% tăngtrưởng GDP thực bình quân đầu người tại các quốc gia trong mẫu được chọn

Nghiên cứu của Prskawetz và Lindh (2007) cũng dựa trên sự khác biệt trong từng

nhóm tuổi để phân tích bản chất sự tương tác giữa nhân khẩu học và phát triển kinh

tế ở các nước EU trong 6 thập kỷ Cách tiếp cận của nhóm tác giả dựa trên mô hìnhtăng trưởng Solow có sự bổ sung của yếu tố vốn con người với giả định rằng côngnghệ là khác nhau giữa các quốc gia và có sự hội tụ về mặt công nghệ Kết quả

Ngày đăng: 11/05/2021, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w