Môc tiªu d¹y TiÕng ViÖt cho häc sinh ph¶i th«ng qua ho¹t ®éng giao tiÕp nghÜa lµ d¹y TiÕng ViÖt ph¶i h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn ë häc sinh c¸c kü n¨ng sö dông TiÕng ViÖt (Nghe, nãi, ®äc, v[r]
Trang 1phân môn Luyện từ và câu lớp 5”,
I- đặt vấn đề
Nh chúng ta đã biết, chơng trình Tiếng Việt mới chú trọng rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản đó là các kỹ năng nghe, đọc, nói, viết Đặc biệt quan tâm đến khả năng thực hành vốn từ ngữ của học sinh thông qua hoạt động giao tiếp Mục tiêu dạy Tiếng Việt cho học sinh phải thông qua hoạt động giao tiếp nghĩa là dạy Tiếng Việt phải hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết)
để học tập và giao tiếp thông qua môi trờng hoạt động của lứa tuổi Mà môn học có tính chất quyết định đến mục tiêu đó là môn Tiếng Việt, trong đó phân môn Tập đọc, Tập làm văn và Luyện từ và câu có vai trò quyết định
Thật vậy, có nghe và đọc đúng thì mới nói và viết đúng Trong thực tế đời sống sinh hoạt thờng ngày chúng ta đều biết từ lời ăn, tiếng nói, cử chỉ, điệu bộ của một con ngời tuỳ thuộc vào nhận thức vấn đề của ngời đó Nếu con ngời nhận thức vấn đề đúng thì
sẽ làm đúng và ngợc lại nhận thức sai ắt sẽ làm sai Chính vì thế, môn Tiếng Việt là công
cụ rất cần thiết rất cần thiết để học sinh nhận thức đợc thế giới xung quanh và là chiếc chìa khoá vạn năng để phục vụ cho những môn học khác
Chúng ta cũng biết rằng, giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài ngời Có nhiều phơng tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phơng tiện quan trọng và cơ bản nhất Đối với cộng đồng dân c trên lãnh thổ Việt Nam thì Tiếng Việt là công cụ t duy và giao tiếp Việc giao tiếp bằng Tiếng Việt đợc thực hiện thông qua hai dạng ngôn ngữ đó là lời nói và chữ viết Để có thể hiểu đợc nội dung giao tiếp, ngời ta phải nghe và
đọc đợc Tiếng Việt, để có thể bày tỏ ý nghĩ, tình cảm của mình ngời ta phải nói hoặc viết theo Tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ nói trên
Dạy Tiếng Việt là dạy cách dùng Tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ và dạy cả bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết Dạy học sinh cả việc lĩnh hội và sản sinh các ngôn bản bằng Tiếng Việt Dạy Tiếng Việt gắn liền với đời sống, thực tiễn sử dụng Tiếng Việt ở gia
đình, nhà trờng và xã hội, nghĩa là mục tiêu chơng trình nhấn mạnh tinh thần thực hành giao tiếp, chú trọng dạy Tiếng Việt thông qua các tình huống giao tiếp Dạy Tiếng Việt còn thể hiện yêu cầu tích hợp mà trớc hết là tích hợp trong việc rèn luyện các kỹ năng Tiếng Việt Mà quan trọng nhất là làm sao để học sinh có vốn từ phong phú để thực hiện giao tiếp hay để học tập các môn học khác
Đến nay đã hoàn thành chơng trình thay sách bậc Tiểu học đợc hơn ba năm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chơng trình mới đã có không ít những khó khăn gây nhiều tranh cãi Một số giáo viên đổi mới cách dạy, hình thức tổ chức một giờ học cha hiệu quả Thậm chí có một số giáo viên với mục đích chạy đua thành tích, đã dạy theo phơng pháp mới và tổ chức một tiết dạy một cách hình thức, dẫn đến hiệu quả giờ dạy cha cao Vấn đề đặt ra ở đây là dạy nh thế nào để đúng thực chất và đạt hiệu quả cao nhất của một tiết dạy? Và phải dạy nh thế nào để phát triển đến mức tối đa có thể đợc các kỹ năng trên cho học sinh ? Đặc biệt là làm thế nào để phát huy đợc khả năng nhớ và mở rộng, sử dụng vốn từ của học sinh Điều đó đang là vấn đề mà mỗi một ngời làm công tác dạy học
nh chúng ta cần phải quan tâm…
Từ suy nghĩ đó, tôi xin mạn phép nêu ra một số cách mà tôi đã chỉ đạo giáo viên
thực hiện để dạy có hiệu quả một phần của phân môn Luyện từ và câu lớp 5 đó là “ Một
số kinh nghiệm giúp học sinh vùng khó khăn biết vận dụng vốn từ phân môn Luyện
từ và câu lớp 5”, để học sinh vận dụng sử dụng vốn từ đó vào trong hoạt động học tập và
trong hoạt động giao tiếp hàng ngày
II – Phần nội dung A- Đặc điểm của chơng trình tiếng việt mới và phân môn
Luyện Từ Và Câu lớp 5.
1 Mục tiêu của chơng trình Tiếng Việt mới:
Trong chơng trình Tiếng Việt mới mục tiêu đợc xác định là:
Trang 2phân môn Luyện từ và câu lớp 5”, Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác t duy cho học sinh Ngoài ra còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tự nhiên – xã hội và con ng ời, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nớc ngoài Bồi dỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt, giáo dục thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Chơng trình Tiếng Việt mới đã đề ra nội dung cụ thể nh sau (nhằm cụ thể hoá mục tiêu của chơng trình)
Chơng trình yêu cầu dạy cả bốn kỹ năng (nghe, đọc, nói, viết) cho học sinh qua tất cả các lớp, mỗi kỹ năng đều sắp xếp để có sự phát triển dần từ lớp dới lên lớp trên
Về mặt kiến thức, chơng trình Tiếng việt mới yêu cầu cung cấp những kiến thức sơ giản phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học
Ngữ liệu sử dụng để dạy học Tiếng Việt có những thay đổi quan trọng, trong chơng trình cũ ngữ liệu đợc dùng để học Tiếng Việt chỉ trích dẫn từ một nguồn duy nhất là các tác phẩm văn học, thì trong chơng trình Tiếng Việt mới, ngữ liệu đợc dùng để học Tiếng Việt đợc trích dẫn từ nhiều loại văn bản khác nhau
3) Các hình thức tổ chức dạy học chơng trình Tiếng Việt mới
- Dạy học theo lớp
Dạy học theo lớp là hình thức tổ chức cho toàn thể học sinh trong lớp cùng thực hiện một nhiệm vụ Cả lớp hoạt động để chiếm lĩnh tri thức Hình thức tổ chức dạy học này thích hợp với dạng bài lý thuyết (thực hiện trong phần nhận xét)
- Dạy học theo nhóm
Tổ chức dạy học theo nhóm là chia lớp thành nhiều nhóm Học sinh trong một nhóm cùng trao đổi, bàn bạc về một vấn đề, chủ đề, đề tài nào đó Tổ chức dạy học theo nhóm thích hợp với các nội dung học tập cần thảo luận, tranh luận, bàn bạc … Hình thức dạy học theo nhóm đặc biệt phù hợp với việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Luyện từ và câu nói riêng, dạy học hớng vào giao tiếp, trong giao tiếp và để giao tiếp mà cụ thể là phù hợp với nội dung rèn luyện các kỹ năng nghe, nói cho học sinh Tiểu học
- Dạy học cá nhân
Là hình thức dạy học mà học sinh làm việc độc lập, đây là một yêu cầu tất yếu của quá trình học tập ở lớp, có thể dùng hình thức dạy học cá nhân để học sinh làm bài tập, làm bài kiểm tra, đánh giá …
Với phân môn Luyện từ và câu thì hình thức dạy học này phù hợp với các kiểu bài
mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa, tìm từ gần nghĩa, cùng nghĩa hoặc trái nghĩa với
từ cho sẵn, dùng từ đặt câu …
- Dạy học ngoài không gian lớp học
Là điều kiện giúp học sinh biến kỹ năng ngôn ngữ thành năng lực sử dụng Vì dạy học ngoài không gian lớp học là đa học sinh vào thực tế giao tiếp Các em phải giao tiếp với các đối tợng khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau nên phải sử dụng ngôn ngữ linh hoạt để có thể giao tiếp với các đối tợng và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể đó
Dạy học ngoài không gian lớp học giúp học sinh vận dụng, củng cố và mở rộng vốn
từ ngữ, các kiến thức về câu, sử dụng câu thông qua việc giao tiếp với mọi ngời trong từng hoàn cảnh cụ thể
* Phơng tiện dạy học
Phơng tiện dạy học phân môn Luyện từ và câu chủ yếu là:
+ Tranh, ảnh + Các bảng từ, thẻ từ
+ Các mẫu vật, mô hình + Sách giáo khoa
4 Nội dung phân môn Luyện từ và câu lớp 5
Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 gồm 62 tiết (32 tiết học kỳ 1, 30 tiết học kỳ 2) bao
Trang 3phân môn Luyện từ và câu lớp 5”, gồm những nội dung chính sau:
a) Mở rộng vốn từ: (18 tiết) Phần này mở rộng và hệ thống hoá vốn từ ngữ cho học
sinh phù hợp với các chủ điểm ở Sách giáo khoa
b) Nghĩa của từ: (11 tiết) Học sinh tìm hiểu về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng
âm, từ nhiều nghĩa
c) Từ loại: (5 tiết) Đại từ và đại từ xng hô, quan hệ từ.
d) Câu ghép: (8 tiết).
e) Ngữ pháp văn bản: Học sinh học ba phơng tiện liên kết câu cơ bản (Phép lặp,
phép thế, phép nối)
g) Nội dung ôn tập: (14 tiết)
B- Thực trạng và nguyên nhân dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 5 1) Thực trạng
a) Về giáo viên:
Mặc dù hầu hết giáo viên giảng dạy lớp 5 đều đã đợc học tập chuyên đề do Phòng,
Sở giáo dục tổ chức và mặc dù đã đợc tiếp cận với đổi mới chơng trình thay sách từ lớp 1
đến lớp 4 và đã thực hiện giảng dạy lớp 5 vài năm nay nhng nhiều giáo viên còn rất lúng túng khi sử dụng các phơng pháp dạy học, đôi khi cha thoát ly đợc lối dạy truyền thống
nh giảng giải, thuyết trình, rèn luyện theo mẫu … Phơng pháp dạy học khác ít đợc giáo viên sử dụng hoặc có thì chỉ bó hẹp trong các tiết dạy thao giảng, dự giờ, thi giáo viên dạy giỏi … nhng hiệu quả cha cao, chỉ là hình thức
Về hình thức tổ chức dạy học, giáo viên vẫn còn sử dụng hình thức dạy học cả lớp là chủ yếu, hình thức dạy học cá nhân và dạy học theo nhóm nhỏ, tổ chức trò chơi học tập thì đã có sử dụng nhng cha thật nhuần nhuyễn và hiệu quả cha cao
b) Về học sinh
Học sinh chủ yếu là con em dân tộc Thổ, chỉ có các tiết học trên lớp là học sinh sử dụng tiếng phổ thông (Tiếng Việt) Khi bớc ra khỏi cửa lớp là các em lại sử dụng Thổ ngữ Vì vậy khi học Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ đa số học sinh gặp khó khăn khi sắp xếp lại vốn từ mà các em đã thu thập đợc từ các bài học trong Sách giáo khoa và
từ đời sống thực tiễn để vận dụng vốn từ đó vào việc giải quyết các bài tập hay để học tập các môn học khác Nói chung học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, việc giải quyết các bài tập còn máy móc theo công thức có sẵn, khả năng tự sáng tạo của các em rất hạn chế Hầu hết trong tiết Luyện từ và câu các em thiếu hứng thú Một phần do vốn ngôn ngữ của các em còn nghèo, phần nữa là do giáo viên cha biết khơi dậy những khả năng còn tiềm
ẩn trong mỗi học sinh Vì vậy tiết học Luyện từ và câu lớp 5 nói riêng và tiết Luyện từ và câu nói chung hiệu quả không cao
Trớc thực trạng trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất lợng phân môn Luyện từ và câu của 4 lớp (5A khối Yên Hoà, 5B khối Tân Lập, 5C khối Hồng Sơn và 5E khối Trung
Độ) để nắm đợc chất lợng học tập phân môn Luyện từ và câu của các em, từ đó đề xuất các phơng án dạy học phù hợp nhằm nâng dần chất lợng học tập phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
Thời điểm khảo sát:
Tháng 10 năm 2008
Kết quả khảo sát
Trang 4phân môn Luyện từ và câu lớp 5”,
Từ chất lợng trên tôi đã tiến hành tìm hiểu nguyên nhân vì sao mà chất lợng học tập phân môn Luyện từ và câu thấp đến nh vậy Sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã tìm ra đợc những nguyên nhân sau
2) Nguyên nhân
a) Nguyên nhân từ giáo viên:
Chất lợng phân môn Luyện từ và câu còn thấp có một phần nguyên nhân từ giáo viên Bởi vì khi đợc hỏi: Trong các môn học ở Tiểu học đồng chí cho biết những môn học nào là quan trọng nhất? Nhiều giáo viên trả lời rằng môn Toán và môn Tiếng Việt Khi hỏi tiếp: Phân môn nào của Tiếng Việt là quan trọng nhất? Thì nhiều giáo viên cho rằng phân môn Tập làm văn Tôi tiếp tục đặt câu hỏi: Để học sinh học tốt phân môn Tập làm văn thì đồng chí phải làm gì? Câu trả lời là phải hớng dẫn học sinh đọc kỹ đề, lập dàn ý chi tiết cho bài viết, phải sử dụng nhiều từ có tính biểu cảm cao, giàu hình ảnh … nhng giáo viên quên rằng, để học sinh biết sử dụng từ hay, giàu hình ảnh … thì phải học tốt phân môn Luyện từ và câu Điều đó chứng tỏ rằng giáo viên cha thật sự quan tâm nhiều cho phân môn Luyện từ và câu Nếu có thì cũng đang quan tâm cho phần “ngữ pháp” mà thôi, còn phần mở rộng vốn từ thì cha có sự đầu t đúng mức, cha chịu khó nghiên cứu thêm tài liệu tham khảo phục vụ cho môn học Khi dự giờ giáo viên phần mở rộng vốn từ tôi nhận thấy nhiều giáo viên còn lúng túng, thiếu hệ thống câu hỏi gợi ý để giúp học sinh thực hiện các bài tập, đang còn nặng nề về việc làm sao học sinh tìm đợc nhiều từ mà cha quan tâm đến mức độ hiểu từ của các em
b) Nguyên nhân từ học sinh
Học sinh các lớp mà tôi tiến hành thực nghiệm chủ yếu là học sinh dân tộc Thổ, độ tuổi không đồng nhất, có lớp có đến 3 độ tuổi Trình độ học sinh trong một lớp không
đồng đều Việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài của trẻ chỉ có ở trờng học mà thôi Thêm vào đó là các em ít đợc giao tiếp với thế giới bên ngoài Thậm chí có em cha bao giờ đợc
đi xa nhà đến 10 km (cha biết Cừa hay Thị trấn Lạt là ở đâu) Nói chung ngôn ngữ của các em không đợc phát triển,Về nhà trình độ của bố mẹ thấp và lại thờng xuyên sử dụng Thổ ngữ, nếu có sử dụng Tiếng Việt thì phát âm không chuẩn, Bên cạnh đó do hoàn cảnh gia đình các em còn gặp nhiều khó khăn nên các đồ dùng học tập nh sách vở, bút mực, tài liệu tham khảo … còn thiếu thốn, điều đó ảnh hởng không nhỏ cho việc sử dụng Tiếng Việt của trẻ, dẫn đến ngôn ngữ của các em không đợc phát triển và các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, nhất là trong phân môn Tập làm văn, phân môn Luyện từ và câu
và cả trong giao tiếp hàng ngày
Ví dụ:
Giáo viên hỏi: Em hãy tìm những từ ngữ chỉ đồ dùng học tập.
Học sinh sẽ trả lời: sách, vở, bút …
Học sinh không trả lời đợc đầy đủ là: Tha cô, những từ ngữ chỉ đồ dùng học tập là sách, vở, bút …
Hay khi giáo viên hỏi: Các em có đồng ý với ý kiến của bạn không?
Học sinh trả lời: Đồng ý
Học sinh không trả lời đợc đầy đủ là: Tha cô, chúng em đồng ý ạ.
c) Nguyên nhân từ cơ sở vật chất của nhà trờng
Cơ sở vật chất của nhà trờng còn nghèo nàn, phòng học và bàn ghế học sinh cha đảm bảo đúng chuẩn, còn thiếu phơng tiện trực quan, dụng cụ học tập của học sinh cũng còn thiếu nhiều Ngoài số đồ dùng đợc cấp, khả năng tự làm đồ dùng dạy học của nhà trờng còn ít, nếu có cũng cha thờng xuyên, liên tục
Trên cơng vị là một Phó hiệu trởng phụ trách chuyên môn,và đợc phân công giảng dạy tiết Luyện từ và câu lớp 5 (Phần Mở rộng vốn từ) tôi đã nghiên cứu, tìm tòi và vận dụng phối hợp một số biện pháp sau để giúp học sinh mở rộng vốn từ và vận dụng vốn từ
đó vào quá trình học tập, cũng nh sử dụng để giao tiếp hàng ngày
C - Biện pháp giúp học sinh vận dụng vốn từ
Trang 5phân môn Luyện từ và câu lớp 5”,
Dạng bài thứ nhất: Mở rộng vốn từ theo cấu tạo từ.
Biện pháp này đợc thực hiện bằng một số cách thức cụ thể nh sau:
a) Cung cấp cho học sinh một tiếng có nghĩa, yêu cầu học sinh tìm các từ có chứa tiếng đó:
Ví dụ: 1 - Trong từ Tổ quốc, tiếng quốc có nghĩa là nớc Em hãy tìm thêm những từ
có chứa tiếng quốc
(Tiếng Việt 5 – tập 1 – trang 18)
Mẫu: Quốc gia.
2- Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng (có nghĩa là cùng)
(Tiếng Việt 5 – tập 1 – trang 28)
Mẫu: - Đồng hơng (ngời cùng quê)
- Đồng lòng (cùng một ý chí)
3 – Trong từ “non cao” từ “non” có nghĩa là núi Em hãy tìm thêm những từ có chứa tiếng “non” (Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt)
Mẫu: Núi non,
b) Cung cấp cho học sinh một tiếng có nghĩa, yêu cầu học sinh ghép tiếng đó với một tiếng khác để tạo thành từ mới và giải thích nghĩa của những từ ấy:
Ví dụ 1: Ghép tiếng bảo (có nghĩa là giữ, chịu trách nhiệm) với mỗi tiếng sau để
tạo thành từ phức và tìm hiểu nghĩa của từ đó (đảm, hiểm, vệ, tồn, trợ, quản, toàn)
(Tiếng Việt 5 – tập 12 - trang 116)
Mẫu: bảo vệ.
Nghĩa của từ bảo vệ là: giữ gìn che chở
Ví dụ 2: Cho từ “học” hãy ghép thêm các tiếng khác để tạo thành từ phức và tìm
hiểu nghĩa của các từ đó (Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt)
Mẫu: học sinh
Nghĩa của từ “học sinh” là: Chỉ những ngời đang đi học từ bậc học trung học trở
xuống
c) Cung cấp cho học sinh những từ có chứa tiếng đồng âm, yêu cầu học sinh
dựa vào nghĩa của từ để xác định nghĩa của những từ đồng âm đó:
Ví dụ 1: Xếp những từ có tiếng “hữu” cho dới đây thành hai nhóm a và b:
hữu nghị, hữu hiệu, chiến hữu, hữu tình, thân hữu, hữu ích, hữu hảo, bằng hữu, hữu dụng
a) Hữu có nghĩa là bạn bè: Mẫu: bạn hữu
b) Hữu có nghĩa là có: Mẫu: hữu ích
(Tiếng Việt 5 – tập 1 – trang 56)
Ví dụ 2: Xếp những từ có tiếng “học” cho dới đây thành hai nhóm a và b:
Học sinh, học tập, học hành, học thuật, học thuyết, học mót, học lực, học đờng, học
giả, học cụ, học bổng, học đòi (Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt)
Nhóm danh từ: Mẫu: Học sinh
Nhóm động từ: Mẫu: học hành
Dạng bài thứ hai: Mở rộng vốn từ theo nghĩa của từ.
Biện pháp này đợc thực hiện bằng một số cách thức cụ thể nh sau:
a) Cung cấp một số từ, thành ngữ, tục ngữ và những nghĩa có thể ứng với chúng, yêu cầu học sinh xác định sự tơng ứng giữa các từ, thành ngữ, tục ngữ với nghĩa đã cho:
Ví dụ: Mỗi từ ở cột A dới đây ứng với nghĩa nào của nó ở cột B:
(Tiếng Việt 5 – tập 1 – trang 116)
A B
Sinh vật Quan hệ giữa sinh vật (kể cả ngời) với môi trờng xung quanh
Sinh thái Tên gọi chung các vật sống (bao gồm động vật, thực vật và visinh vật, có sinh ra lớn lên và chết.
Trang 6phân môn Luyện từ và câu lớp 5”, Hình thái Hình thức biểu hiện ra bên ngoài của sự vật có thể quan sát đợc
b) Cung cấp một số từ, thành ngữ, tục ngữ yêu cầu học sinh tìm hiểu nghĩa của chúng:
Ví dụ 1: Những thành ngữ, tục ngữ dới đây nói lên những phẩm chất gì của ngời
Việt Nam ta?
* Chịu thơng, chịu khó
* Dám nghĩ, dám làm
* Muôn ngời nh một
* Trọng nghĩa khinh tài
* Uống nớc nhớ nguồn (Tiếng Việt 5 – tập 1- trang 27)
Ví dụ 2: Những thành ngữ, tục ngữ dới đây nói lên những phẩm chất gì của ngời
Việt Nam ta?
* Dãi nắng, dầm sơng
* Hai sơng, một nắng
* Chân lấm, tay bùn
* Dầm sơng, dãi gió (Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt)
Dạng bài thứ ba: Mở rộng vốn từ theo trờng nghĩa.
Cách mở rộng vốn từ thể hiện rõ ở tất cả các bài
a) Mở rộng vốn từ theo trờng nghĩa biểu vật:
Có thể hiểu, trờng nghĩa biểu vật là tập hợp các từ cùng phạm trù nghĩa biểu vật
Ví dụ 1: a) Tìm những từ ngữ chỉ “đồ dùng học tập”
Học sinh dễ dàng tìm đợc các từ nh: sách, vở, bút, mực, thớc kẻ, com pa, ê ke …
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt dành cho HS yếu)
b)Tìm những từ chỉ sự “di chuyển”
Học sinh dễ dàng tìm đợc các từ nh: đi, chạy, nhảy, bay, lợn, bớc, bò, lăn, trờn…
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt)
Ví dụ 2: Xếp các từ ngữ trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp nêu dới đây
a) Công nhân d) Quân nhân
b) Nông dân e) Trí thức
c) Doanh nhân g) Học sinh
(Giáo viên, đại uý, trung sỹ,thợ điện, thợ cơ khí, thợ cấy, thợ cày, học sinh, học sinh trung học, bác sỹ, kĩ s, tiểu thơng, chủ tiệm)
(Tiếng Việt 5 – tập 1- trang 27)
Ví dụ 3: Tìm từ chỉ các mức độ của màu đỏ
Học sinh dễ dàng tìm đợc các từ nh: đỏ chót, đỏ ối, đỏ tơi, đỏ sẫm …
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt dành cho HS yếu)
Ví dụ 4: Tìm các từ chỉ phẩm chất của ngời học sinh
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt dành cho HS yếu)
b) Mở rộng vốn từ theo trờng nghĩa biểu niệm:
Ví dụ: 1) Tìm những từ có cùng cấu trúc biểu niệm “hoạt động dùng dụng cụ lao
động cầm tay để chia tách vật”
Học sinh dễ dàng tìm đợc các từ nh: cắt, chặt, ca, xẻ, bổ, bửa, băm, vằm, thái, chẻ… (Tiếng Việt 5 – tập 1- trang 47)
2) Những từ nào dới đây đồng nghĩa với từ hoà bình?
* Bình yên * Bình thản
* Lặng yên * Thái bình
* Hiền hoà * Thanh thản
* Thanh bình * Yên tĩnh
Học sinh dễ dàng tìm đợc các từ nh: Bình yên, Thanh bình, Thái bình
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt dành cho HS yếu )
Trang 7phân môn Luyện từ và câu lớp 5”,
c) Mở rộng vốn từ theo trờng nghĩa ngang:
Ví dụ 1: Ghép từ “công dân” vào trớc hoặc sau từng từ dới đây để tạo thành những
cụm từ có nghĩa:
Nghĩa vụ, quyền, ý thức, bổn phận, trách nhiệm, gơng mẫu, danh dự
(Tiếng Việt 5 – tập 1- trang 47)
Ví dụ 2: Tìm những danh từ hoặc động từ có thể kết hợp với từ “an ninh”
Mẫu: Danh từ: Lực lợng an ninh
Động từ: Giữ vững an ninh
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt)
Nh vậy, mở rộng vốn từ theo trờng nghĩa góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ, làm rõ những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ Vì vậy, đây là cách thức đạt hiệu quả rất cao
d, Mở rộng vốn từ theo trờng nghĩa liên tởng.
Trờng nghĩa liên tởng là một tập hợp các từ theo quan hệ liên tởng xoay quanh một
từ trung tâm có tác dụng kích thích
Ví dụ 1: Từ “Quê hơng” thì những từ cùng trờng nghĩa liên tởng của nó có thể là:
Cha, mẹ, chú, bác, cô, dì, … mái đình, cây đa, luỹ tre, làng xóm, ruộng nơng …
Dựa vào gợi ý trên, em hãy viết một đoạn văn ngắn nói về quê hơng
(Bài tập tiết Luyện Tiếng Việt )
Ví dụ 2: Em hãy tìm những từ ngữ diễn tả bầu trời:
(Theo Tiếng Việt 5 – tập 1- trang 87)
Học sinh tìm đợc các từ diễn tả bầu trời nh:
Bầu trời thoáng đãng nh đợc rửa mặt sau cơn ma
Bầu trời xanh biếc
Bầu trời dịu dàng
Bầu trời buồn bã
Bầu trời trầm ngâm …
III - Kết luận
Năm học 2009 – 2010 tôi đã trực tiếp thực nghiệm các giải pháp trên trong phạm
vi lớp 5E và nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ Học sinh đã tích cực và chủ động hơn trong các tiết Luyện từ và câu phần Mở rộng vốn từ Trên cơ sở bớc đầu thành công, tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và mạnh dạn hớng dẫn Giáo viên áp dụng trên bốn lớp 5 của trờng và đợc các đồng chí giáo viên đánh giá cao
Trong quá trình áp dụng, tuỳ vào đối tợng học sinh để giáo viên có hớng điều chỉnh phù hợp Đối với đối tợng học sinh khá, giáo viên chỉ cần đa ra hệ thống bài tập theo từng cách thức đã nêu ở trên, học sinh đã nhanh chóng huy động đợc vốn từ đã tích luỹ đợc để vận dụng làm bài tập một cách khá dễ dàng
Ví dụ: Em hãy viết một đoạn văn ngắn để diễn tả bầu trời khi ma.
Các em đã làm nh sau:
Sau cơn ma bầu trời nh trong sáng hơn Những đám mây trắng trốn biệt nơi đâu giờ
đã xuất hiện trôi bồng bềnh trên nền trời xanh thẳm
(Trích bài làm của em Nguyễn Thị Oanh - HS lớp 5A)
Bầu trời nh đợc tắm gội sạch sẽ sau trận ma rào đầu mùa hè nóng nực
(Trích bài làm của em Nguyễn Thị Bích – HS lớp 5E)
Trời đang nắng đẹp là thế, bỗng đâu từ phơng Bắc, những đám mây đen ùn ùn kéo
đến làm cho ông mặt trời hoảng hốt trốn biệt vào đám mây đen sì ấy Bầu trời lúc ấy nh
cúi ghé xuống sát mặt đất và thở phì phò
(Trích bài làm của em Nguyễn Văn Minh - HS lớp 5B)
Còn đối với học sinh trung bình cũng với nội dung những bài tập đó nhng chú trọng
hệ thống hoá vốn từ bằng cách hớng dẫn các em sử dụng Từ điển Tiếng Việt (GV poto phần có liên quan cho học sinh) hoặc cung cấp nghĩa một số từ cho các em, để các em cũng đã có thể nhớ và vận dụng đợc vốn từ đã học để giải quyết các bài tập Tuy nhiên
Trang 8phân môn Luyện từ và câu lớp 5”, mức độ hoàn thành bài tập của đối tợng học sinh này còn chậm, nhng cơ bản các em đã hiểu và cố gắng giải quyết các bài tập mà giáo viên yêu cầu Từ đó, các em biết mở rộng
và hệ thống hoá vốn từ một cách khá phong phú và vận dụng đợc vốn từ đó một cách khá linh hoạt vào việc làm bài tập dùng từ đặt câu hay viết một bài tập làm văn
Ví dụ: Em hãy viết một đoạn văn ngắn để diễn tả bầu trời sau cơn ma.
Các em đã làm nh sau:
Bầu trời nh quang đãng, mát mẻ hơn sau trận ma rào
(Trích bài làm của em Nguyễn Văn Hùng – HS lớp 5E)
Trời ma, mọi vật chìm vào màn nớc trắng xoá
(Trích bài làm của em Lang Văn Vũ – HS lớp 5C) Mấy bác chào mào hoảng hốt tìm chỗ tránh.
(Trích bài làm của em Nguyễn Thị Huế– HS lớp 5E).
Bộp, bộp, bộp, bộp, trời ma xuống
(Trích bài làm của em Nguyễn Thị Vân– HS lớp 5A).
Trời ma rồi đấy các bạn ạ, Ma to quá
(Trích bài làm của em Lang Thị Sen– HS lớp 5C).
Còn đối với học sinh yếu khi các em hệ thống hoá đợc vốn từ theo chủ điểm, giáo viên nên hớng dẫn các em sử dụng những từ ngữ này vào các môi trờng giao tiếp khác nhau Nh thế các em mới không nhanh quên vốn từ và khi sử dụng vốn từ đó vào trong giao tiếp tức là đã giúp học sịnh hiểu nghĩa của từ, vì có hiểu từ thì mới sử dụng đúng Hoặc giáo viên cho học sinh làm bài tập dễ hơn
Ví dụ: Em hãy tìm một số từ ngữ diễn tả cơn ma
HS cũng đã tìm đợc một số từ hay nh: tí tách, ào ào, lộp bộp, rào rào, đen kịt, đen sẫm, xám xịt, trắng xoá, màn ma …
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất lợng phân môn Luyện từ và câu để điều chỉnh nội dung cho phù hợp
Thời điểm khảo sát: Tháng 4 năm 2009
Kết quả nh sau:
Nh vậy, nhìn chung chất lợng mặc dù cha cao nhng đã có nhiều chuyển biến Số l-ợng học sinh yếu, kém đã giảm Nhiều em đã có tiến bộ thật sự, góp phần nâng dần chất lợng học tập phân môn Luyện từ và câu cũng nh phân môn Tập làm văn
Trên đây là kinh nghiệm của bản thân trong quá trình chỉ đạo hoạt động chuyên môn tại trờng Tiểu học Tân Hợp Tôi xin mạnh dạn trình bày để bạn bè, đồng nghiệp tham khảo, biết đâu sẽ giúp ích đợc các đồng chí trong quá trình dạy học của mình
Tuy nhiên với thời gian nghiên cứu không dài và năng lực bản thân còn có hạn chế nhất định, nên chắc chắn bài viết này còn có nhiều vấn đề cần trao đổi Tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của Hội đồng khoa học các cấp cũng nh các bạn đồng nghiệp để cùng với bản thân tôi đa ra đợc những kinh nghiệm quý báu hơn, nhằm nâng cao chất lợng giáo dục thế hệ trẻ của huyện nhà nói chung và của đơn vị chúng tôi nói riêng
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà tr-ờng, các đồng chí giáo viên phụ trách và các em học sinh các lớp 5A khối Yên Hoà, 5B khối Tân Lập, 5C khối Hồng Sơn và 5E khối Trung Độ đã tạo điều kiện và nhiệt tình ủng
hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành phần thực nghiệm trên
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 9ph©n m«n LuyÖn tõ vµ c©u líp 5”,
T©n Kú, ngµy 15 th¸ng 4 n¨m 2009
Ngêi thùc hiÖn