1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cuoc thi ke cho chung toi nghe chuyen rung xanh que ban

9 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 100 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên bãi cát trắng hoang tương đối ổn định, những dải rừng Phi lao trồng ngang dọc thành mạng lưới xanh chắn gió, bảo vệ những ô kín trong ấy cát được vun lên thành giồng cao, xen kẽ [r]

Trang 1

Bài dự thi :cuộc thi kể cho tôi nghe chuyện rừng xanh quê bạn“ ”

Họ và tên: Đỗ Văn Trăng

Giáo viên trờng Tiểu học Cẩm Phong - huyện Cẩm thủy - tỉnh Thanh Hóa Phần 1:

Câu 1: Vai trò, tác dụng của rừng.

1 Bảo vệ nớc, chống sói mòn

2 Bảo vệ và ngăn chặn gió bão

3 Cung cấp gỗ, tạo ra ô xy

4 Cả 3 phơng án trên

Câu 2: Quản lí bảo vệ rừng, PCCCR là trách nhiệm của?

1 Toàn dân, của cả hệ thống chính trị

2 Cơ quan Kiểm lâm

3 Cơ quan Công an

4 UBND các cấp

Câu 3: Có mấy loại rừng phân theo chức năng?

1 Rừng trồng, rừng tự nhiên, rừng sản xuất

2 Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất

3 Rừng trồng, rừng tự nhiên, rừng đặc dụng

Câu 4: Xảy ra cháy rừng, là Đoàn viên, thanh, thiếu niên và toàn dân báo cho

cơ quan nào?

1 Báo UBND xã hoặc cơ quan Kiểm lâm gần nhất

2 Báo UBND huyện

3 Báo UBND tỉnh

4 Báo cơ quan Công an

Câu 5: Năm 2009, diện tích rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa là bao

nhiêu?

1 701.325,7 ha

2 628.373,54 ha

3 702.129,85 ha

4 629.100 ha

Câu 6: Đoàn viên thanh niên từ bao nhiêu tuổi đủ sức khỏe có trách nhiệm tham

gia vào đội dân phòng, đội phòng cháy và chữa cháy cơ sở đợc lập ở nơi c trú hoặc nơi làm việc khi có yêu cầu

1 14 tuổi

2 16 tuổi

3 18 tuổi

Câu 7: Ngời dân sống ven rừng đặc dụng đợc phép:

1 Tham gia tổ chức hoạt động du lịch sinh thái khi đợc phép của cơ quan có thẩm quyền

2 Chăn thả gia súc , gia cầm ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

3 Phát 10% diện tích rừng để làm rẫy nơng rẫy trong rừng đặc dụng

Câu 8: Diện tích vùng đệm:

1 Là rừng đặc dụng

2 Một phần diện tích đợc tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng

3 Không đợc tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng

Câu 9: Biện pháp phòng cháy rừng gồm:

1 Xây dựng đờng băng xanh, băng trắng cản lửa

2 Trồng cây chống chịu lửa

3 Trồng rừng hỗn giao

4 Đốt trớc vật liệu cháy có điều khiển

5 Cả 4 phơng án trên

Câu 10: các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây nuôi động vật hoang dã:P

Trang 2

1 Phải đăng ký trại nuôi với các cơ quan có thẩm quyền.

2 Phải đợc Chủ tịch UBND xã, phờng, thị trấn cấp phép đăng ký trại nuôi

3 Không phải đăng ký trại nuôi

Câu 11: Cơ quan xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí rừng, bảo vệ

rừng

1 Cơ quan Kiểm lâm

2 Viện Kiểm sát

3 Cơ quan quân sự

4 Chủ tịch UBND các cấp

5 Chỉ 1 và 4

Câu 12: Công tác trồng rừng:

1 Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu t vốn vào trồng rừng

2 Chỉ khuyến khích doanh nghiệp trong nớc đầu t vốn trồng rừng

3 Không khuyến khích doanh nghiệp nớc ngoài đầu t vốn trồng rừng

Câu 13: Nguyên nhân cháy rừng:

1 Do ngời dân sử dụng lửa gây cháy rừng

2 Do sét trong tự nhiên

3 Cả 2 phơng án trên

Câu 14: Từ năm 2005 đến năm 2009, độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh

Thanh Hóa tăng từ:

1 42,3 % lên 46,7 %

2 43,2 lên 45,7 %

3 43,2 % lên 46,7 %

4 Cả 3 phơng án đều sai

Câu 15: Thời gian hộ gia đình, cá nhâ đợc nhà nớc giao rừng và đất lâm nghiệp?

1 10 năm

2 30 năm

3 50 năm

4 50 năm và có thể ra hạn thêm

Câu 16: Năm 2009, tỉnh Thanh Hóa có bao nhiêu héc ta rừng tự nhiên?

1 146.080,19 ha

2 386.380,72 jha

3 532.460,91 ha

Phần câu hỏi trắc nghiệm

Câu 1: Luật Thanh niên quy định chính sách gì đối với thanh niên của hội nghèo trong lĩnh vực lao động?

a Đợc vay vốn từ quỹ Quốc ga giải quyết việc làm, quỹ xóa đói giảm

nghèo, vốn tín dụng u đãi để sản xuất kinh doanh, dịch vụ tự tạo việc làm

b Không đợc vay các loại vốn trên

Câu 2: Độ tuổi kết nạp Đoan viên

a Từ 15 tuổi đến 35 tuổi

b Từ 16 tuổi đến 30 tuổi

c Từ 15 tuổi đến 30 tuổi

Câu 3: Đoàn với đội Thiểu niên tiền phong Hồ Chí Minh?

a Chỉ đạo, hớng dẫn

b Phụ trách đội, hớng dẫn thiếu nhi

c Chăm sóc, giáo dục, bảo vệ thiếu nhi

Câu 4: Các CVĐ của tuổi trẻ Thanh Hhoas trong nhiệm kỳ 2007 – 2012?

a Uống nớc nhớ nguồn

b Nghĩa tình biên giớ hải đảo

c Hớng về Thanh thiếu nhi các dân tộc thiểu số

d Chăm lo, bồi dỡng Bí th chi đoàn

x

x

x

Trang 3

e Vì đàn em thân yêu.

f Cả 5 phơng án trên

Câu 5: Chơng trình phối hợp giữa Tỉnh Đoàn – Kiểm lam tỉnh Thanh Hóa về

“Tuyên truyền vận động đoàn viên, thanh thiếu niên tham gia bảo vệ rừng, PCCCR” đợc triển khai từ năm nòa?

a Năm 2003

b Năm 2004

c Năm 2005

d Năm 2006

Phần2:

Trước thực trạng rừng ở nước ta đang bị tàn phỏ, diện tớch rừng bị thu hẹp, bóo lụt, thiờn tai, sạt lở đất làm hại cõy rừng, đất màu đồi rừng bị cuốn trụi, sỏi

đỏ, sõu bệnh tàn phỏ,….cần phải cú những giải phỏp hữu hiệu để bảo vệ và phỏt triển rừng

I- Giải phỏp chung: Trờn cơ sở nắm vững thực trạng tỡnh hỡnh phỏ rừng, khai thỏc rừng bừa bói; tỏc hại của phỏ rừng, chỏy rừng để tỡm ra cỏc giải phỏp hữu hiệu tuyờn truyền, tổ chức cho Thanh niờn trồng cõy gõy rừng, bảo vệ rừng, chống phỏ rừng, chỏy rừng, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, cụng nghệ trồng rừng, bảo vệ rừng, quản lý rừng và phỏt triển rừng

II- Giải phỏp cụ thể:

1 Tuyờn truyền cho đoàn viờn thanh niờn trồng cõy gõy rừng và bảo vệ rừng:

- Tuyờn truyền qua sinh hoạt Đoàn- Hội: Tranh thủ cỏc buổi sinh hoạt Đoàn,

để tăng cường tuyờn truyền về tỏc dụng, lợi ớch của rừng, của trồng cõy gõy rừng, tỏc hại của việc phỏ rừng, chỏy rừng; từ đú xỏc định nghĩa vụ, trỏch nhiệm của Đoàn- Hội Liờn hiệp Thanh niờn, của từng đoàn viờn, hội viờn

- Tuyển truyền qua phương tiện thụng tin đại chỳng (loa đài, phỏt thanh, bỏo chớ, Intenet, )

- Phối hợp tuyờn truyền về tỏc dụng, lợi ớch của rừng, tỏc hại của việc phỏ rừng, chỏy rừng: qua cỏc hoạt động phối hợp, cỏc hội thi tỡm hiểu, thi sõn khấu hoỏ, thi tiểu phẩm tuyờn truyền,…

- Tuyờn truyền qua tham quan, tỡm hiểu về rừng để thấy rừ hơn lợi ớch của rừng, phỏt huy ý thức bảo vệ rừng

- Tuyển truyền qua cỏc buổi mớt tinh về BVR, PTR, PCCCR tới cỏc đoàn viờn, cỏc em học sinh và quần chỳng nhõn dõn

2 Khảo sỏt thực trạng rừng, cụng tỏc BVR tại địa phương, đơn vị xỏc định rừ những mặt tớch cực, những mặt cũn hạn chế và tỡm ra giải phỏp cần khắc phục

3 Tổ chức tổng kết cỏc giải phỏp, cỏc mụ hỡnh bảo vệ rừng đó cú hiệu quả; nghiờn cứu đề tài về bảo vệ rừng: định kỳ tổ chức hội nghị tổng kết việc thực hiện cụng tỏc bảo vệ rừng, giao cho bộ phận chuyờn mụn đầu tư nghiờn cứu đề tài về bảo vệ, phỏt triển rừng, phũng chỏy chữa chỏy rừng

4 Cỏc giải phỏp mới tổ chức cho TN trồng cõy và bảo vệ rừng bảo vệ rừng:

x

x

Trang 4

+ Chống phỏ rừng, khai thỏc rừng bừa bói (phối hợp kiểm lõm, chớnh quyền

và cụng an địa phương tuyờn truyền và tổ chức tuần tra, kiểm tra ngăn chặn) + Chống vận chuyển gỗ, lõm sản trỏi phộp (Phối hợp kiểm lõm, cụng an) + Chống buụn bỏn, sử dụng gỗ, luồng, nứa trỏi phộp (phối hợp kiểm lõm, quản lý thị trường, cụng an, chớnh quyền địa phương)

5 Giải phỏp phũng chống chỏy rừng, đốt rừng làm nương rẫy: Triển khai đầy

đủ cỏc biện phỏp phũng chống chỏy rừng; tuyờn truyền vận động nhõn dõn khụng đốt rừng làm nương rẫy,…

6 Chống bóo lũ làm sạt lở đất đồi rừng, cảnh bỏo lũ quột làm hại cõy rừng: Phõn lũ từ đầu nguồn nhằm hạn chế quột, sạt lở đất đồi rừng

7 Chống sõu bệnh làm hại cõy rừng: Kịp thời phỏt hiện cỏc loại sõu bệnh làm hại cõy rừng và tỡm loại thuốc phũng trừ phự hợp để phun bảo vệ cõy rừng

8 Chống khụ hạn, núng làm chết cõy rừng: Cú kế hoạch bảo vệ rừng trong mựa khụ núng, tạo nguồn nước dự trữ để chống hạn cho cõy rừng đi đụi với phũng chỏy chữa chỏy rừng

9 Chống phỏ rừng trồng cõy anh tỳc (phối hợp chương trỡnh phũng chống ma tuý): Phối hợp với chớnh quyền địa phương, chi cục phũng chống ma tuý phỏt hiện, ngăn chặn kịp thời cỏc hiện tượng phỏ rừng trồng cõy anh tỳc

10 Chống lợi dụng làm cỏc cụng trỡnh xõy dựng, thuỷ, giao thụng,…để làm hại rừng, xõm hại diện tớch rừng, khai thỏc rừng bừa bói

11 Xõy dựng cỏc cụng trỡnh bảo vệ rừng: xõy dựng cụng trỡnh phõn lũ, xõy

hồ chứa nước, kết hợp xõy dựng thuỷ điện để bảo vệ rừng, chống hạn cho rừng, phũng chỏy chữa chỏy rừng

12 Khuyến khớch cỏc cơ sở Đoàn- Hội Liờn hiệp Thanh Niờn, ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật, cụng nghệ sinh học mới vào trồng cõy, trồng rừng, bảo vệ rừng, phỏt triển rừng

Với những giải phỏp cú tớnh chất gợi ý, hy vọng cỏc cơ sở Đoàn- Hội Liờn hiệp Thanh niờn tiếp tục đầu tư nghiờn cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, cụ thể hoỏ, bổ sung thật đầy đủ và vận dụng thật năng động, sỏng tạo vào thực tiễn cụng tỏc trồng cõy, trồng rừng và bảo vệ rừng ở địa phương, đơn vị mỡnh

Phần 3:

Tự luận: Chủ đề về: Những giỏ trị nổi bất của tài nguyển rừng, quờ hương, vai

trũ của rừng đối với cuộc sống con người

Tầm quan trọng của rừng

Trong sinh quyển, cú nhiều tài nguyờn cú thể tỏi sinh hoặc phục hồi được, một trong những tài nguyờn đú là rừng

Rừng đúng vai trũ quan trọng, cú tỏc dụng lớn trong việc điều hũa lượng nước bốc hơi, nước chảy trờn mặt đất, nước thấm, tỏc dụng đối với đất, đối với khụng khớ là “lỏ phổi xanh”, giỳp cho sự quang hợp mạnh, tăng lượng Oxy, rừng giỳp thu hoạch mựa màng với năng suất cao, là nguồn nước ngọt, là ngõn hàng gen quớ giỏ Từ ngàn xưa, rừng là cỏi nụi nuụi sống con người do nguồn tài nguyờn

Trang 5

phong phú, và rừng cũng là nơi cư trú tạo môi trường sống cho con người và nhiều sinh vật khác

Sự quan hệ của rừng và cuộc sống của sinh vật đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ, từ đó danh từ “môi trường sống” đã có mặt trong mọi ngôn ngữ Không

có một dân tộc nào không biết rõ vai trò quan trọng của rừng trong cuộc sống, nhất là đối với các dân tộc có điều kiện sống khắc nghiệt, cần có sự trợ giúp hữu hiệu của rừng như: vai trò bảo vệ đất đai, chống bão của rừng

Nhưng tiếc thay, ngày nay, nhiều nơi con người đã không bảo vệ được rừng, còn chặt phá bừa bãi làm cho tài nguyên phục hồi ngày càng bị cạn kiệt, nhiều nơi không còn có thể tái sinh, đất trở thành đồi trọc, sa mạc, nước mưa tạo thành những dòng lũ rửa trôi chất dinh dưỡng, tạo ngập lụt cho vùng đồng bằng gây thiệt hại tài sản, tính mạng người dân

Vai trò của rừng đối với môi truờng

Rừng đóng vai trò quan trọng đối với môi trường, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người:

Rừng giữ không khí trong lành:

Do chức năng quang hợp của cây xanh, rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp O2 Trong không khí có khoảng 0,03%

CO2 Nếu hàm lượng vượt quá mức trên thì có hại đến sức khỏe con người Nhưng với hàm lượng rất nhỏ đó cũng đã đủ cho cây xanh quang hợp và tạo ra chất hữu cơ Nguồn thải CO2 là do con người và động vật, các núi lửa, mỏ than

bị cháy, sự phân giải các chất hữu cơ, hoạt động của các nhà máy công nghiệp Nếu lượng O2 tích lũy quá mức trong không khí, thì hoạt động quang hợp của rừng lại góp phần điều hòa tích cực, tiêu thụ bớt số thừa bất lợi đó Ngược lại, nếu không có cây xanh (chủ yếu là rừng) liên tục cung cấp O2 cho khí quyển, thì như có nhà khoa học đã tính toán khoảng 500 năm sau sẽ mất hết O2, lúc đó cuộc sống con người sẽ khó tồn tại Do đó, trong việc phát triển công nghiệp hiện nay, mở rộng vùng dân cư và phá hủy hết rừng, không trồng thêm đủ cây xanh thì đây là một sai lầm lớn

Rừng điều hòa nóng lạnh:

Mùa Hè không khí trong rừng thấp hơn ngoài khoảng 8-10oC, mùa Đông cao hơn khoảng 0,1 - 0,5oC Ban ngày trong rừng mát hơn, ban đêm ấm hơn ở ngoài Đất rừng mùa Hè mát hơn khoảng 8oC, mùa Đông ấm hơn khoảng 1 -

2oC, trung bình thấp hơn khoảng 1 - 3oC so với đất trống

Tóm lại, nhìn chung trong rừng và ở những khu vực có đủ rừng che ảnh hưởng, thì mùa hè mát hơn, mùa đông ấm hơn so với nơi thiếu rừng, trống trải Có nghĩa là biên độ nhiệt được rút bớt lại từ cả 2 phía, cao nhất và thấp nhất, trong ngày, trong mùa cũng như trong năm làm cho thời tiết bất thường ít xảy ra đột ngột

Tác dụng điều hòa này rất cần thiết đối với những nơi có chế độ nhiệt biến đổi nhanh chóng, ở những vùng có luồng gió nóng như gió Tây Nam mùa Hạ, và gió rét Đông Bắc mùa Đông, trực tiếp ảnh hưởng làm cho thời tiết dễ biến động

Trang 6

từ cực đoan này đến cực đoan kia Cũng rất quí báu đối với những khu vực hầu như quanh năm nóng như ở phía Nam nước ta, đặc biệt ở những nơi rất nóng hạn như Tuy Phong, Nha Hố, Phan Rang (Thuận Hải) đều rất cần có đủ cây xanh (đủ rừng), để giảm bớt độ nóng của khí quyển và mặt đất

Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn:

Ở vùng có rừng, nói chung lượng mưa được tăng lên so với nơi trống trải Ở vùng nhiệt đới, hơi nước gặp rừng dễ đọng thành sương Khi rơi xuống, một phần nước bị giữ lại trên tán rừng, từ đó bốc hơi, có thể đến 15-20%, là tăng độ

ẩm không khí Ngược lại so với khu đất trống, thì lượng bốc hơi trên bề mặt rừng lại ít hơn, bằng khoảng 1/3, thường chỉ chiếm từ 5 đến 10% lượng mưa nhận được

Lượng nước chảy trên bề mặt đất rừng ít hơn rất nhiều, cường độ chảy yếu hơn

so với nơi đất trồng, chỉ mất khoảng 1% của lượng mưa rơi nơi ấy Hiệu quả này chủ yếu do tác dụng tổng hợp, vừa của tán lá, thân cây, hệ rễ, ngăn, đón, kìm hãm, vừa của thảm mục, tầng mùn và toàn bộ các lớp đất thu hút Phần lớn nước rơi, từ 50 đến 80% được ngấm sâu vào lòng đất, một phần nước đó trở lại nuôi cây rừng qua hệ rễ, thân cây, tán lá sẽ thoát trở lại thành hơi nước vào không trung Còn một phần lớn được giữ lại trong đất rừng, thành mạch ngầm,

từ đó phun ra những dòng suối trắng trong, hiền hòa, quanh năm không bao giờ tắt

Do tác dụng điều tiết trên, người ta chú ý nhấn mạnh đến một hiện tượng mang tính qui luật phổ biến : có rừng thì tắt lũ, sinh suối, và mất rừng thì tắt suối, sinh

Lũ là những dòng nước mưa ồ ạt từ trên cao chảy xuống với một khối lượng lớn, sức tàn phá mạnh Càng dồn xuống, đất càng bị bào mòn, độ dốc càng tăng, sức lũ càng thêm ồ ạt Chính lũ là nguyên nhân dẫn đến xói mòn, gây ra lụt lội Càng nhiều lũ càng bị ngập lụt bất ngờ, càng dễ bị trôi mất đất Người ta nhận thấy tốc độ dòng lũ tăng theo căn bậc 2 của khối nước và độ dốc, càng mất rừng, nạn lũ lụt càng tăng mãnh liệt và không thể phòng ngừa lũ lụt tận gốc nếu không dựa ngay vào vai trò ngăn đón qui mô của rừng, tạo thành hệ thống đê xanh bền vững Có đủ rừng che thì dòng lũ bị dập tắt ngay từ đầu, đất không bị xói mòn, nước sông không đột ngột tràn bờ, nạn lụt lội được hạn chế đến mức thấp nhất

Rừng phòng chống gió hại:

Bão, lốc, gió khô, gió nóng, gió rét đều có hại đến sản xuất, vật nuôi, con người Hại do tốc độ mạnh, do làm biến đổi đột ngột thời tiết, gây ra nhiễu loạn không khí, dẫn đến nhiều tai hại như bào mòn đất, khô hạn, sương muối mưa đá, gẫy đổ

Rừng làm giảm tác hại của gió Trước hết, rừng ảnh hưởng đến tốc độ và hướng thổi của gió: Khi đến cách trước rừng khoảng 5 đến 10 lần chiều cao cây rừng, tốc độ gió bắt đầu giảm bớt, và hướng cũng thay đổi Một phần gió phải chuyển ngược lên để lướt qua tán rừng Một phần tiếp tục xuyên thẳng vào rừng

Trang 7

Nhưng do bị ma sát mạnh với các bộ phận tầng lớp cây rừng, tất cả 2 phần, nhất

là phần xuyên vào rừng bị chia xẻ phân tán, liên tiếp gặp nhiều vật cản, đã bị mất sức, tiếp tục giảm nhanh tốc độ thổi Khi qua khỏi rừng, gió yếu hẳn, không còn nguyên sức tàn phá như trước nữa Và chỉ khi đã xa rừng khoảng từ 20 đến

50 lần chiều cao cây rừng thì gió mới dần dần khôi phục lại tốc độ ban đầu Mặt khác, nhờ có khả năng điều hòa nhiệt độ, giảm mức bốc hơi, tăng độ ẩm nên rừng có tác dụng giảm nhẹ bớt mức gay gắt của những luồng gió khô, rát, và nóng

Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất:

Ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặn không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục sáng tạo chất hữu cơ, đất khô ngưng nhận được nguồn bồi dưỡng mới Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo

ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt

Rừng tốt -> Đất tốt

< -Giá trị bồi dưỡng này thấy rất rõ ở những nơi đất đã bị hư hỏng

Thí dụ trên đồi núi trọc cằn cỗi Những đất ấy không dùng được cho nông nghiệp, nhưng nếu biết cách trồng rừng, hoặc nuôi lại thảm xanh với những loại cây thích hợp thì đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện những chuyển biến tốt trong lớp đất mặt, bắt đầu bằng sự hình thành lớp thảm mục hóa mùn, dẫn đến sự tăng

độ ẩm đất, kéo theo hoạt động của vi sinh vật đất, mở đường sáng tạo lại độ phì nhiêu

Nếu rừng bị phá hủy, nạn xói mòn phát triển, tầng mùn đất mặt đã không được bồi thêm mà lại liên tiếp bị tiêu hao đi đến mất hết Nhất là ở vùng nhiệt đới gió mùa như nước ta, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng

và mãnh liệt Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ ha Đồng thời các qua trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong, lại tăng cường lên, làm cho đất mau chóng sút kém lý hóa tính, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi đá Thể hiện một qui luật cũng khá phổ biến, đối lập hẳn hoi với qui luật trên, tức là rừng mất thì đất kiệt, và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong, chúng ta có thể tóm tắt như sau:

Rừng mất -> Đất kiệt < - Điều đó đã giải thích vì sao trong việc phá rừng khai hoang trước đây ở miền đồi núi, dù đất đang rất tốt cũng chỉ được một thời gian ngắn là hư hỏng

Rừng chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa: Vùng cát di động ven biển khá rộng lớn là nơi đất chưa thành Chỉ toàn là hạt cát rời, bay theo chiều gió lộng, gọi là cát bay, tạo nên những dãy đồi cát cao luôn luôn di động vào phía nội địa Cát bốc mù trời, cát tuột từ trên xuống, cát trôi theo nước cuốn vào, cứ thế liên tiếp tràn lấp đường sá, ruộng vườn, nhà

Trang 8

cửa, ngập ở nhiều tỉnh miền Trung, điển hình như ở Bình Trị Thiên, đặc biệt rộng lớn, nghiêm trọng nhất ở Nam Quảng Bình và khô nóng nhất ở Tuy Phong (Thuận Hải)

Đồi cát hoàn toàn không có một chút chất dinh dưỡng nào, mùa nắng khô nóng bỏng, mùa mưa nhanh chóng rút hết nước xuống sâu, không một loài cây bản địa nào chống nổi cát, chỉ có loài Phi lao từ Châu Úc xa xôi đưa vào trồng ở nước ta trên những đồi cao gió mạnh cát, tính khô nóng ấy lại tỏ ra chịu nổi mọi điều kiện khắc nghiệt, chỉ cần vượt qua mấy năm đầu sống khỏe, là cây con có thể phát triển thành rừng, kết lại vừa như thảm xanh trùm lên giữ cát, vừa làm lá chắn đón gió bão, kìm giữ gốc cát bốc, đón cắt ngọn cát bay, ngăn chặn chân cát sụt, khống chế đỉnh, hạ dốc sườn, buộc đồi cát phải nhanh chóng dừng lại, chuyển thành cố định hẳn Tiếp theo từ đó, mở đầu một quá trình hội tụ sinh học, với thảm mục lá Phi lao rụng xuống, chuyển thành mùn, cát giữ lại được hút ẩm, có được chút mát, cỏ dần dần mọc, vi sinh vật tác động vào, thú hoang nhỏ xuất hiện

Trên bãi cát trắng hoang tương đối ổn định, những dải rừng Phi lao trồng ngang dọc thành mạng lưới xanh chắn gió, bảo vệ những ô kín trong ấy cát được vun lên thành giồng cao, xen kẽ thêm với những hàng Phi lao trồng trên giồng dùng nhiều lá Phi lao độn làm phân xanh để trồng khoai lang thu hoạch tốt, có nơi trồng hành, tỏi, ớt xuất khẩu hoặc dược liệu, có nơi nuôi cỏ chăn thả đàn bò vừa cho thịt ngon lại thêm phân bón, tiến tới việc thành lập được vườn cây trên đất cát Tiểu khí hậu cũng đồng thời được cải thiện, góp phần tiêu diệt một số bệnh miền cát, đặc biệt như bệnh chân voi Việc trồng rừng Phi lao kết hợp với biện pháp canh tác, chăn nuôi đã tạo ra được thế mạnh chinh phục cát hoang đầy gió, nóng, chuyển thành sinh cảnh mới xanh tươi

Rừng bảo vệ đê biển chinh phục vùng sình lầy ngập mặn:

Vùng sình lầy ngập mặn, hàng ngày còn triều biển lên xuống, là nơi đất chưa thành, ở vịnh Bắc Bộ gọi là rừng sú, vẹt, ở Nam Bộ gọi là rừng Sát, gồm nhiều loài cây sống tốt ở môi trường nước biển, mà trong đó rừng Đước là biểu hiện cao nhất của tiềm năng sinh học quí giá này

Tóm lại, đã có biển thì chắc chắn là còn mãi vùng sình lầy ngập mặn Và ở nơi đầu sóng ngọn gió, lồng lộng trời nước này, khi các loại rừng ngập mặn đã xuất hiện và được trồng thêm thì tiềm năng tự nhiên lại không ngừng đi vào thế tích lũy vật chất theo cả 2 chiều, một mặt mở rộng địa bàn tiến dần mãi ra biển, mặt khác sáng tạo vốn sinh học đặc hữu theo chiều sâu, liên tục vừa sinh ra rừng, vừa tạo ra đất, vừa hội tụ hải sản, động vật, làm giàu cho thiên nhiên

Rừng cải hóa vùng chua phèn:

Được hình thành tiếp theo sau vùng sình lầy ngập mặn của rừng Sát, vùng chua phèn rộng lớn ở Tây Nam Bộ có đất đã cố định nhưng vẫn còn định kỳ bị ngập vào mùa mưa và bị hạn vào mùa khô, lại dễ bị cháy, không thích hợp cho sản xuất lương thực vững chắc, nhưng lại chính là nơi rừng Tràm tự nhiên xuất hiện tươi tốt, với vai trò sinh học quí giá không gì thay thế được, là trực tiếp nuôi

Trang 9

nguồn nước ngọt rất quí hiếm ở nơi này, tạo thế mạnh tự nhiên để chống chọi với nạn khô hạn, xì phèn lan rộng, đều là những vấn đề cốt tử phải giải quyết cho sản xuất và đời sống Điều kiện định kỳ luân phiên không ngập tỏ ra thuận lợi cho rừng gỗ Tràm mọc cao như ở U Minh, dùng làm cừ, cọc đóng móng xây nhà bền vững Lá Tràm lại tiết ra chất thơm làm lành không khí vùng ẩm thấp Rừng Tràm cũng là nguồn hoa rộng lớn nuôi ong làm mật tự nhiên, là nơi sinh sống của nhiều loài chim trời, cá nước và nhiều con thú khác, và cũng là nguồn thịt, cá, trứng, tôm vừa cung cấp thêm chất hữu cơ tạo thành mùn cho đất Trong diễn thế lâu dài được tích lũy thêm xác thực vật, và động vật, được bồi tụ thêm phù sa, đến lúc nào đó đất trở nên cao ráo hẳn, rừng Tràm suy giảm, thưa thớt dần, nhường chỗ lại cho những loài thực vật khác thích nghi hơn, từ đó trở

đi có khả năng tiếp tục cải hóa để chuyển dần thành đất canh tác Như vậy, việc duy trì, trồng lại rừng Tràm ở vùng này là chìa khóa mở đường tận dụng có lợi nhất tiềm năng tổng hợp của thiên nhiên, đưa lại giá trị lớn nhiều mặt, vừa giữ nước ngọt, chống chua phèn, làm tốt môi trường, hội tụ thủy sản, động vật, đàn ong, cung cấp củi, gỗ, tinh dầu, vừa tham gia quá trình chuyển hóa dần đất cho tương lai nông nghiệp

Khôi phục đất trên bãi thải vùng mỏ

Khi khai thác mỏ, đất đá được bóc ra thành đống như những trái núi, chủ yếu là

đá vụn Trong những điều kiện nhất định, tiến hành nuôi lại cây hoang dại hoặc trồng lại rừng trên đó, có thể thí nghiệm trồng Thông, sẽ dần dần tạo ra khả năng biến đổi để trở thành đất mới

Cẩm Phong, ngày 5 tháng 11 năm 2010

Người viết

Đỗ Văn Trăng

Ngày đăng: 11/05/2021, 02:01

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w