1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên hy lạp cổ đại

71 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 643,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tư tưởng đó, có vấn đề về ý chí và tự do cho con người, mà những nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại là những chiến sĩ đi tiên phong trong sự đấu tranh, đấu tranh với một ý chí kiên cườn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH Ý CHÍ

VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI 10 1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ-XÃ HỘI CHO SỰ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG

TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI 10 1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG, KHOA HỌC HÌNH THÀNH VẤN

ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI 12 1.3 KHÁI NIỆM Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI 17 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA VẤN ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC 22

TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI 22 2.1 NỖ LỰC NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ THẾ GIỚI BẰNG CÁC PHẠM TRÙ TRỪU TƯỢNG 22 2.2 NỖ LỰC TRONG VIỆC GIẢI PHÓNG KHỎI TƯ DUY THẦN THOẠI-TÔN GIÁO VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA DUY TÂM VỀ BẢN THỂ LUẬN 34 CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO

TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC 43

TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI 43 3.1 ĐỐI VỚI TRIẾT HỌC VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI HY LẠP CỔ ĐẠI 43 3.2 ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VÀ

TRONG CUỘC SỐNG CON NGƯỜI HIỆN NAY 48 KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 3

tư tưởng đó, có vấn đề về ý chí và tự do cho con người, mà những nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại là những chiến sĩ đi tiên phong trong sự đấu tranh, đấu tranh với một ý chí kiên cường để giành lấy cái tự do cho con người Đó là tinh thần giải phóng người Hy Lạp cổ đại thoát khỏi thời kì nhận thức còn mang nhiều yếu tố thần thoại vốn đã tồn tại trong một thời gian dài, bằng các phát kiến mới trong việc lí giải nguồn gốc vũ trụ, con người mang tính chất duy vật, chống lại các quan điểm duy tâm, tôn giáo, mặc dù những phát kiến mới ấy vẫn còn chứa đựng yếu tố thần, nhưng cái thần ấy đã được vật hoá Từ đó, nó làm cơ sở

để giải phóng con người thoát khỏi những cám dỗ của dục vọng vật chất tầm thường để hướng tới một tinh thần bình an trong cuộc sống

Sẽ là một sự thiếu sót lớn, nếu như chúng ta bỏ qua vấn đề ý chí và tự do khi nghiên cứu tư tưởng triết học của các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại Bởi lẽ nhờ nó mà tư tưởng triết học của họ, tên tuổi họ tồn tại theo năm tháng Và theo dòng chảy của lịch sử, ý chí và tự do ấy được các nhà triết học sau này kế

Trang 4

thừa, phát triển Nhờ vậy con người mới có một cuộc sống tự do như hôm nay mặc dù cái tự do đó chưa thật sự trọn vẹn đúng như ý nghĩa của nó và còn phải đấu tranh nhiều hơn nữa, đấu tranh như các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại

đã từng đấu tranh Có thể nói, cuộc cách mạng nhận thức mà các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại là những người khai hoả đầu tiên với mục đích mang lại sự hiểu biết đúng đắn về thế giới, để con người vươn lên làm chủ thế giới, giành lấy cái tự do cho mình Cuộc cách mạng ấy cho tới nay vẫn còn tiếp diễn và tiếp diễn một cách mạnh mẽ, bởi còn quá nhiều bí ẩn của vũ trụ mà con người chưa thể giải thích được, mặc dù con người đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực nhận thức Tiếp tục cuộc cách mạng ấy, là nhiệm vụ của các nhà khoa học, các nhà triết học hiện nay và cả mai sau nữa Để hoàn thành nhiệm vụ cao cả đó, chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi tinh thần ý chí và tự do của các bậc tiền bối đi trước mà trước hết là những nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại Có thể nói nghiên cứu vấn đề ý chí và tự do sẽ góp phần làm sáng tỏ sự phong phú và đặc sắc nhiều tư tưởng khác của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại

Hơn nữa trước bối cảnh các giá trị nhân văn, nhân bản con người ngày càng bị suy thoái do tác động của các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường mang lại Việc tìm kiếm và xác lập lại các giá trị nhân văn, nhân bản con người càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Có thể nói, chưa bao giờ con người được thụ hưởng đời sống vật chất đầy đủ và tiện nghi, hiện đại như ngày nay Nhưng cũng chưa bao giờ con người lại trả giá đắt do chính hoạt động của mình gây nên: hàng loạt thiên tai dữ dội, hàng nghìn tai nạn thảm khóc, và nhiều căn bệnh nguy hiểm đã, đang và sẽ xuất hiện… kìm hãm sự phát triển của con người Những yếu tố mà các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại nêu ra cách đây hàng nghìn năm như: đất, nước, lửa, không khí giờ đây đang giận dữ với con người Nói cách khác, chúng ta đang ngày càng mất tự do.Vậy những nguyên nhân nào làm cho con người ở trong vòng luẩn quẫn đó? Và khi nào con người thoát khỏi nó? Có lẽ câu trả lời đã được các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại đưa ra cách đây gần 3000 năm

đó là: hãy nhận thức đúng bản chất thế giới Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề ý chí

và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại là rất cần thiết Vì chỉ có nhận thức đúng thế giới, làm theo và tôn trọng quy luật tự

Trang 5

nhiên con người mới tìm thấy cuộc sống bình yên cho mình Ngày nay, cuộc sống dẫu cho có tiến bộ đến đâu chăng nữa, tư tưởng ấy vẫn luôn luôn là ngọn đèn soi sáng cho con đường đi đến tự do của nhân loại

Với tất cả những ý nghĩa đó, chúng tôi chọn Vấn đề ý chí và tự do trong

tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại làm công trình

nghiên cứu khoa học cấp trường

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên nói riêng, là một trong những đề tài khá hấp dẫn đối với những học giả nghiên cứu triết học Vì vậy từ trước đến nay đã

có rất nhiều tác giả, kể cả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này Xin kể

ra một vài công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trước hết là bài viết “Về tự do với tính cách phạm trù của triết học xã

hội” của Đinh Ngọc Thạch, đăng trên tạp chí Triết học, số 2 (153), tháng 1-2004

Ở bài viết này, tác giả có đề cập đến vấn đề “tự do” vào thời Hy Lạp cổ đại, tuy nhiên vấn đề đó được xem xét dưới góc độ triết học xã hội Tác giả nhấn mạnh trong xã hội Hy Lạp cổ đại chưa có lí luận riêng về tự do mà chỉ có những cuộc đấu tranh vì tự do, vì sự tự ý thức của người nô lệ Đồng thời tác giả cũng phát hoạ những tư tưởng tự do từ phái ngụy biện cho đến Êpiquya Có thể nói rằng dưới gốc độ đạo đức-xã hội, thì bài viết của tác giả có nhiều điểm tương đồng với người làm đề tài Tuy nhiên đề tài muốn làm rõ mối liên hệ giữa ý chí và tự do, cũng như phân tích sự kế thừa lẫn nhau về vấn đề đó trong tư tưởng các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, từ đó rút ra ý nghĩa của nó Tôi cho rằng đây là điểm khác biệt giữa đề tài với bài viết của tác giả

Tác giả Vương Thị Bích Thủy có bài viết “Tất yếu và tự do trong triết học

Đêmôcrít và Êpiquya”, đăng trên tạp chí Triết học số 11(162), vào tháng

11-2004 Bài viết này đã góp phần làm rõ nội dung mối quan hệ giữa tất yếu và tự

do trong tư tưởng triết học của Đêmôcrít và Êpiquya, tác giả cũng so sánh sự giống và khác nhau giữa Đêmôcrít và Êpiquya về vấn đề đó Đồng thời cũng chỉ

ra những mặt tích cực và hạn chế của hai nhà triết học duy vật về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do Bài viết của tác giả thật sự là nguồn tư liệu quý giá cho đề

Trang 6

tài khi nghiên cứu về vấn đề tự do trong tư triết học các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại Nhưng đề tài có phạm vi và đối tượng nghiên cứu rộng hơn của tác giả của bài viết kể trên Đây là điểm khác biệt giữa đề tài với bài viết của tác giả

Với bài viết “Vấn đề tự ý thức trong triết học Êpiquya”, đăng trên tạp chí

triết học số 6(133) vào tháng 6-2002, tác giả Nguyễn Văn Sanh đã nêu bối cảnh

xã hội Hy Lạp cổ đại để giải thích vì sao Êpiquya đặt ra vấn đề tự do sâu sắc và

rõ ràng hơn các nhà triết học trước đó Từ đó tác giả làm rõ nội dung của vấn đề

tự ý thức trong triết học Êpiquya đó là: nguồn gốc, mục đích, vai trò của tự nhận thức Qua đó tác giả có sự so sánh giữa Đêmôcrít và Êpiquya về mục đích của sự

tự nhận thức Tóm lại, thông qua vấn đề tự ý thức của Êpiquya tác giả muốn làm

rõ giá trị nhân văn sâu sắc của triết học Êpiquya là để vươn tới cuộc sống hạnh phúc con người phải nhận thức đúng các quy luật tự nhiên vì chỉ có tri thức mới

là cái có khả năng bảo đảm cho con người có được một sự tồn tại yên ổn Cho nên đây là tài liệu hết sức quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề ý chí và tự do trong triết học của Êpiquya Ở đây đề tài chỉ muốn làm rõ hơn nữa vấn đề ý chí

và tự do của Êpiquya trong việc giải phóng con người khỏi những dục vọng vật chất tầm thường, cũng như làm rõ sự gắn kết về vấn đề ý chí và tự do trong diễn trình tư tưởng của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại và rút ra ý nghĩa của

nó trong dòng chảy của lịch sử triết học cũng như trong cuộc sống con người hiện nay

Trong quyển “Lịch sử triết học Tây phương” (Nxb Tp.Hồ Chí Minh,

2000, tập 1), tác giả Lê Tôn Nghiêm, đã trình bày nội dung của lịch sử triết học

Hy Lạp-La Mã cổ đại dưới gốc độ tiếp cận hoàn toàn mới, nhất là trong việc phát hoạ bức tranh vũ trụ của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại từ các nhà triết học Milê cho đến Êpiquya Tác giả đã viết: từ phusis thiết yếu chỉ những gì mọc lên, tăng tưởng và phát triển, tức sinh sinh hoá hoá Phải hiểu vũ trụ luận theo quan điểm vật lí học trong tư tưởng triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, có như vậy mới hiểu được bản chất của triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại Người làm đề tài hoàn toàn đồng ý với cách tiếp cận của tác giả vì chỉ có cách tiếp cận đó chúng ta mới thấy giá trị triết học to lớn mà người Hy Lạp cổ đại để lại Đọc Lê Tôn Nghiêm dường như ta thấy một điều rằng, các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ

Trang 7

đại gần như đi đến chân lí tồn tại của vạn vật, mặc dù còn trực quan cảm tính Đó

là luật bất định của Anaximanđrơ, vạn vật đồng nhất thể của Hêraclít…Tuy nhiên

ở ông chỉ đề cập đến ý chí và tự do của người Hy Lạp trong việc nhận thức tồn tại của thế giới mà ít đề cập đến vấn đề ý chí và tự do ở góc độ đạo đức-xã hội, điều đó cũng dễ hiểu vì các nhà triết học tiền Xôcrát vấn đề này được họ bàn đến hết sức mờ nhạt Nói như vậy không có nghĩa là họ không có bàn đến Có thể nói rằng, trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại vẫn có

tư tưởng ý chí và tự do trong đạo đức, xã hội, có điều mức độ biểu hiện và nội dung tư tưởng đó không phải lí giải hay đề cập trực tiếp các lĩnh vực xã hội, mà

họ giải quyết vấn đề đó thông qua lí giải thế giới mà con người đang sống Việc nhận thức đúng bản chất của thế giới để thoát khỏi sự thống trị của tự nhiên, thoát khỏi thần linh để xác lập vị trí xứng đáng của con người trong giới tự nhiên,

sẽ là gì nếu nó không phải là giá trị nhân văn sâu sắc của con người Trước hiểm hoạ của sự suy thoái môi trường tự nhiên do con người gây ra, thì việc suy ngẫm lại những tư tưởng mà các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại đã đưa ra cách đây trên dưới 2000 năm thì dường như vẫn còn nguyên giá trị Đây chính là điều

mà người làm đề tài này mong muốn khám phá cái sức mạnh giá trị vĩ đại ấy Trên đây là những bài viết, công trình nghiên cứu của các học giả trong nước về vấn đề tự do của trong tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại Ngoài những bài viết ấy còn có các bài viết, công trình nghiên cứu của một số học giả nước ngoài Sau đây là những bài viết, công trình nghiên cứu có nội dung đề cập đến vấn vấn đề ý chí và tự do của các triết gia tự nhiên Hy Lạp cổ đại đó là:

Samuel Enoch Stumpt với công trình “Lịch sử triết học và các luận đề”

(Nxb Lao động, Hà Nội) Ở công trình này, tác giả dành riêng về một phần để trình bày tư tưởng triết học của các nhà triết học trước Xôcrát, ở đây dường như

có sự tương đồng giữa tác giả với Lê Tôn Nghiêm Cả hai tác giả đều làm nổi bật vấn đề bản thể luận xuyên suốt từ khi triết học Hy Lạp manh nha đến Đêmôcrít Tuy nhiên ở Samuel Enoch Stumpt nhấn mạnh đến tính kế thừa trong một dòng chảy liên tục từ Thalét đến Êpiquya, nếu như Thalét chỉ đặt ra vấn đề thế giới này thống nhất với nhau bởi cái một là nước, thì những nhà triết học sau đi trả lời cho câu hỏi vì sao từ cái “một” đó nảy, sinh ra nhiều các sự vật phong phú đa dạng:

Trang 8

và Anaximanđrơ cho rằng đó là cái apâyrôn, Hêraclít cho rằng đó là lửa đến Đêmôcrít là nguyên tử Tuỳ theo điều kiện cũng như năng lực nhận thức mà mức

độ giải thích câu hỏi đó khác nhau Điều đó ta thấy được sự kế thừa và phát triển liên tục về cách lí giải thế giới, qua đó nó cũng thể hiện được tính kế thừa và phát triển vấn đề ý chí và tự do trong nhận thức luận của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại Đồng thời Samuel Enoch Stumpt cũng phân tích khá rõ vấn đề tự do của cá nhân con người trong triết học Êpiquya Có thể nói đây là tài liệu đã phát hoạ rõ nét vấn đề ý chí và tự do của con người trong tư tưởng triết học các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, nhưng nó chưa làm rõ ý nghĩa của vấn đề đó trong dòng chảy lịch sử triết học cũng như đối với cuộc sống con người hiện nay Đây là điểm khác biệt của người làm đề tài với tác giả

Ngoài ra còn có tác giả Bryan Magee, với công trình “Câu chuyện triết

học” (Nxb Thống kê) Ở quyển sách này, tác giả có đề cập tới giá trị nhân văn

trong triết học Êpiquya về việc giải phóng phụ nữ và nô lệ Đây là nội dung hoàn toàn mới của tác giả Vì vậy nó làm nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho đề tài trong việc làm sâu sắc thêm vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học Êpiquya

Một tác giả nước ngoài nữa có đề cập đến vấn đề ý chí và tự do trong tư

tưởng triết học Hy Lạp cổ đại đó là E.E Nexmeyanov với công trình “Triết học

hỏi và đáp” (Nxb Đà Nẵng) Tuy nhiên tác giả chỉ đề cập vấn đề này dưới dạng

tổng kết, cho rằng vấn đề ý chí và tự do là một trong những đặc điểm lớn của triết học Hy Lạp cổ đại Còn với người viết đề tài này là dựa trên sự tổng kết đó

để đi phân tích cái vấn đề ý chí và tự do đó, mà trước hết là trong tư tưởng của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại chứ không có tham vọng phân tích toàn

bộ dòng chảy lịch sử triết học của nó

Nghiên cứu về vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại là một công việc khó khăn, táo bạo Bởi lẽ, vấn đề này xưa nay được các học giả kể cả trong và ngoài nước bàn luận nhiều Tuy nhiên nó vẫn là một vấn đề còn khá mờ nhạt vì lí do khách quan của nó Nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn tư liệu triết học của các triết gia này còn quá ít cũng như năng lực lĩnh hội tư tưởng của người thực hiện đề tài này còn hạn chế Phạm vi

Trang 9

nghiên cứu của đề tài xin được phép tiếp tục làm rõ vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, xem xét ý chí và tự

do như một quá trình vận động và phát triển, có sự kế thừa lẫn nhau giữa các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, cũng như các nhà triết học sau này Trên cơ sở

đó, đề tài rút ra những ý nghĩa lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử triết học, ý nghĩa nhân sinh trong cuộc sống Đây chính là điểm mới của đề tài muốn làm rõ

Trên tinh thần kế thừa những kết quả của các công trình, bài viết trên, đề tài nghiên cứu theo hướng tiếp tục làm rõ hơn nữa về vấn đề ý chí và tự do trong

tư tưởng các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại có một ý chí kiên cường đấu tranh để giành lấy tự do, giải phóng con người thoát khỏi sự mê muội, thoát khỏi thế giới của các vị thần Ôlandpơ có quyền lực siêu nhiên tuyệt đối đang ngự trị trong nhận thức của người dân Hy Lạp hàng thế kỉ, đồng thời cũng giải phóng con người thoát khỏi những dục vọng vật chất tầm thường hướng đến một tinh thần bình an trong cuộc sống

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của luận án này là từ cách tiếp cận khách quan và biện chứng làm rõ cơ bản các điều kiện lịch sử-xã hội, những tiền đề tư tưởng, lí luận trước của Hy Lạp cổ đại để làm rõ thêm vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại, cùng với vai trò, vị trí của vấn đề này trong triết học phương Tây cổ đại Đề tài làm rõ ý nghĩa lịch sử của nó đối với lịch sử tư tưởng Hy Lạp cổ đại đồng thời đề tài quan tâm đến giá trị mà nó mang lại cho con người trong điều kiện sống trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục đích trên, đề tài triển khai thực hiện các nhiệm vụ sau: Trình bày các điều kiện và tiền đề dẫn đến sự ra đời của vấn đề ý chí và tự

do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại

Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, đề tài nêu rõ tính độc lập tương đối và lôgic nội tại trong tiến trình phát triển của vấn đề ý chí, tự do của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại nói riêng và triết học Hy Lạp cổ đại nói chung

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận chung

Vấn đề tự do và ý chí được nghiên cứu theo phương pháp triết học lịch sử Hai nguyên tắc phương pháp luận cần quán triệt là quan điểm khách quan và quan điểm biện chứng Quan điểm khách quan đòi hỏi các khái niệm, phạm trù triết học được trình bày tương đối chuẩn xác, trung thực, đúng như nó vốn có Quan điểm biện chứng yêu cầu khi nắm bắt tài liệu, thông tin phải thực hiện phân tích phê phán một cách biện chứng, thấy được những mâu thuẫn của chính những luận đề mà các nhà triết học tự nhiên cổ đại Hy Lạp chưa giải quyết, đồng thời thấy được tính không đồng nhất về giá trị của nó trong những điều kiện lịch sử khác nhau

4.2 Các phương pháp cụ thể

Việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp

lôgic và lịch sử kết hợp với phân tích và tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống hoá

để thấy được vấn đề tự do và ý chí có tính độc lập tương đối trong sự phát triển,

có lôgic nội tại và được hình thành, phát triển từ những điều kiện lịch sử nhất định, có sự kế thừa, ảnh hưởng qua lại với các vấn đề khác trong quan niệm của các nhà triết học tự nhiên cổ đại Hy Lạp

Việc thu thập và xử lí thông tin được thực hiện thông qua phương pháp

nghiên cứu lí thuyết nhằm làm rõ một số khái niệm, phạm trù có liên quan và

nghiên cứu tư liệu; phương pháp so sánh để thấy được nét tương đồng và dị biệt

khi trình bày diện mạo và đặc điểm, sự biến đổi của vấn đề tự do và ý chí

5 Phạm vi nghiên cứu

Vấn đề ý chí và tự do phản ánh tư tưởng của nhiều lớp triết gia với phạm

vi thể hiện rất rộng, vì vậy, trong khuôn khổ của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu được giới hạn trong việc nghiên cứu vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, đặc biệt tập trung vào tư tưởng của ba nhà triết học lớn đó là: Hêraclít, Đêmôcrít, Êpyquya

Trang 11

Do vậy, đề tài không đi sâu tìm hiểu vấn đề ý chí và tự do xuyên suốt trong lịch sử tư tưởng và những biến thể của nó trong các giai đoạn lịch sử bắt đầu từ thời kì cổ đại

6 Cái mới của đề tài luận án

Lần đầu tiên, đề tài hệ thống hoá và có luận giải mới về sự ra đời và phát triển, đặc trưng và vai trò của vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của

các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại; về sự nỗ lực của họ trong việc nhận

thức đúng thế giới bằng các phạm trù trừu trượng; nỗ lực trong việc giải phóng khỏi tư duy thần thoại - tôn giáo và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm về bản thể luận

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm có 3 chương, … tiết

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH Ý CHÍ VÀ

TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ

NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI

1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ-XÃ HỘI CHO SỰ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Lãnh thổ Hy Lạp cổ đại rộng lớn hơn ngày nay rất nhiều, bao gồm miền Nam bán đảo Ban-kan, các đảo trên biển Ê-giê và miền ven biển phía Tây của Tiểu Á Hy Lạp cổ đại có có một điều kiện địa lí tự nhiên đặc biệt thuận lợi cho

sự phát triển thương nghiệp giữa các đảo hay các khu vực ở bán đảo Hy Lạp và ở tây Tiểu Á Bờ biển phía Đông của bán đảo Ban-kan có hình răng cưa rất gồ ghề, lởm chởm, tạo nên nhiều vịnh và hải cảng an toàn, rất thuận lợi cho tàu bè đi lại

và cho sự phát triển của nghề hàng hải Hy Lạp cổ đại có rất nhiều đảo, các đảo nối nhau như một cái cầu bắc ngang giữa biển, nối liền bán đảo Ban-kan với Tiểu

Á, gọi là dãy đảo Xy-cơ-lát Bờ biển phía tây của Tiểu Á cũng giống như bờ biển phía đông của Ban-kan, có hình răng cưa, gồ ghề, lởm chởm rất thuận lợi cho sự phát triển của nghành thương nghiệp Nếu như đất đai ở Hy Lạp không được thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển nông nghiệp, thì dưới mặt đất nó chứa rất nhiều khoáng sản như đồng, sắt, chì, bạc, vàng, và đất sét…Những khoáng sản này rất thuận lợi cho phát triển ngành thủ công nghiệp, dẫn đến thương nghiệp phát triển Ngoài ra Hy Lạp cổ đại còn tiếp giáp với các nền văn minh lớn trên thế giới lúc bấy giờ như Ai Cập, Babilon Điều đó rất thuận lợi cho việc giao lưu học hỏi lẫn nhau, nhất là các thành tựu về khoa học tự nhiên giữa Hy Lạp cổ đại với các nền văn minh đó Bên cạnh trao đổi buôn bán, giao lưu văn hóa với các quốc gia đó, Hy Lạp cổ đại cũng không ngừng đấu tranh chống lại sự xâm lược

từ các quốc gia này

Cho nên với những điều kiện tự nhiên như thế, ngay từ xa xưa người Hy Lạp cổ đại đã sớm có tư duy phóng khoáng, cởi mở, có ý chí tự do của mình Phải có ý chí để xây dựng một nền kinh tế phù hợp với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, phải có ý chí để học tập và xây dựng một xã hội phù hợp, ý chí để đấu

Trang 13

tranh chống lại sự xâm lược bên ngoài bảo vệ nền độc lập, tự do của mình Đánh giá tầm quan trọng của điều kiện tự nhiên Hy Lạp, nhà sử học Chiêm Tế viết như sau: “Vị trí địa lí đó nhất định tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khá sớm của công thương nghiệp và mậu dịch hàng hải, cho sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh Hy Lạp nói chung”1

1.1.2 Điều kiện lịch sử-xã hội

Ở Tiểu Á kĩ thuật đồ sắt đã xuất hiện vào thế kỷ XII và phát triển mạnh vào thế kỷ VIII (TCN) Sự ra đời kĩ thuật sắt thay cho kĩ thuật sản xuất bằng đồng đã gây ra một sự biến đổi lớn trong đời sống kinh tế Hy Lạp cổ đại: năng suất lao động tăng lên, dẫn đến có sự phân công lao động trong nội bộ sản xuất nông nghiệp, đã tách chăn nuôi ra khỏi trồng trọt Đến thế kỷ VIII, thủ công nghiệp cũng tách khỏi nông nghiệp Do có sự phân công lao động cùng với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nên Hy Lạp cổ đại rất phát triển về thương nghiệp Chính nền kinh tế thương nghiệp là chủ yếu nên quy định phong cách tư duy của người Hy Lạp cổ đại là tự do, phóng khoáng, khát khao chinh phục tự nhiên, hiểu biết đúng

về thế giới Và cũng chính nền kinh tế ấy, quy định tính chất xã hội Hy Lạp cổ đại đó là chế độ dân chủ chủ nô Đây là nơi thực hiện chế độ dân chủ đầu tiên trên thế giới

Khác với xã hội phương Đông cổ đại, xã hội Hy Lạp cổ đại chuyển từ thị tộc sang chế độ nô lệ không thông qua chế độ quân chủ độc đoán, mà qua một chế độ quý tộc cộng hòa Quá trình xây dựng nhà nước thành thị gắn liền với sự phát triển kĩ thuật đồ sắt, kinh tế thương nghiệp và phong trào thực dân trên cơ sở bốc lột nô lệ, nhờ đó mà Hy Lạp cổ đại là quốc gia xây dựng chế độ dân chủ đầu tiên trong lịch sử cổ đại Chính vì vậy, phong trào dân chủ phản ánh bằng những

tư tưởng khoa học duy lí, tự do bình đẳng sớm xuất hiện trong tư tưởng các nhà triết học thời kỳ sơ khai Cũng do kinh tế phát triển dẫn đến trong xã hội Hy Lạp

cổ đại xuất hiện nhiều mâu thuẫn Ngoài mâu thuẫn chính trong xã hội là giữa chủ nô với nô lệ, còn có nhiều mâu thuẫn khác như giữa: quý tộc - nông dân (quý tộc chiếm ruộng đất), chủ xưởng – thợ thủ công, thứ dân, quý tộc địa chủ - quý tộc thương nghiệp Những mâu thuẫn đó, lúc đầu chưa sâu sắc do được giải quyết

1

Chiêm tế, Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, 1977, t 2, tr 9

Trang 14

bằng phong trào thực dân, đi chiếm các xứ và đô thị ở Hắc Hải và Địa Trung Hải

Vì mâu thuẫn lúc này chưa gay gắt nên nền dân chủ chủ nô tiếp tục tồn tại ổn

định Nhưng đến thế kỷ VII (TCN), mâu thuẫn giai cấp trở nên sâu sắc: “nông

dân phải mua với giá cao những nông phẩm bị hạ giá vì bọn lái buôn nhập cảng lúa mì và gia súc Thợ thủ công, tiểu thương cũng bị lấn át vì kinh doanh chủ nô phát triển nhờ số nô lệ cướp ở đất thực dân”1 Vì vậy, đã hình thành hai phe với lợi ích khác nhau đấu tranh với nhau đó là: Phe dân chủ do đại thương không quý tộc lãnh đạo chống lại phe quý tộc Sự đấu tranh đó, được biểu hiện trong cuộc đấu tranh tư tưởng triết học, trong đó phe dân chủ đại diện cho tinh thần duy vật, khoa học Còn phe quý tộc đại diện cho tinh thần duy tâm-tôn giáo Cuộc đấu tranh tư tưởng của hai phe, trước tiên, nó phản ánh việc bảo vệ lợi ích của các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội Nhưng suy cho cùng, đó là sự đấu tranh giữa cái tiến bộ của tầng lớp, giai cấp đang lên trong xã hội với cái lạc hậu của tầng lớp, giai cấp cũ trong xã hội nhằm đưa xã hội tiến lên theo xu hướng tự

do cho con người Có thể nói, với tính chất xã hội là nền dân chủ chủ nô, cùng với sự đấu tranh giữa hai phe dân chủ và quý tộc đã góp phần làm nên tính ý chí

và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và các nhà triết học tự nhiên nói riêng

Tóm lại, với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho một nền kinh tế thương nghiệp phát triển, xã hội sớm hình thành đấu tranh giai cấp và xây dựng nền dân chủ chủ nô Những điều kiện đó tạo cho người Hy Lạp có một lối tư duy mở, phóng khoáng và tự do Và đó cũng là điều kiện cho sự hình thành tư tưởng ý chí

và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG, KHOA HỌC HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI

Vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên

Hy Lạp cổ đại hình thành, không chỉ dựa trên những điều kiện tự nhiên, lịch sử-

1

http://maxreading.com/sach-hay/lich-su-tu-tuong-truoc-marx-2/phan-5-tu-tuong-triet-hoc-hy-lap-26361.html.

Trang 15

xã hội mà còn dựa trên các tiền lí luận, tư tưởng như về thần thoại, sử thi và các thành tựu khoa học

1.2.1 Tiền đề tư tưởng

Như ta biết, kho tàng thần thoại Hy Lạp cổ đại rất phong phú và đa dạng Mặc dù, thần thoại còn mang nhiều tính hoang tưởng, nhưng nó đã phản ánh tất

cả các mặt đời sống của người Hy Lạp cổ đại trong đó có vấn đề ý chí và tự do.Vấn đề này, được thể hiện rõ trong câu chuyện thần thoại Prôtêmê lấy trộm

lửa của thần Dớt ban tặng cho loài người “Hiện tượng Prômêtê lấy trộm lửa của

thần Dớt đem đến cho con người hàm chứa ý nghĩa sâu xa: lửa – biểu tượng của sức mạnh và lý trí – không còn là đặc quyền của thần linh như trước, mà đã cố hữu nơi con người Con người trở nên tự chủ hơn trong quan hệ với thế giới xung quanh”1 Phải chăng hai từ “tự chủ” mà tác giả dùng, đã hàm chứa tinh thần

tự do của người Hy Lạp cổ đại Đến đây ta thấy rằng: đâu phải đến khi triết học

ra đời, hay nói cách khác đến khi tư duy khoa học, triết học ra đời người Hy Lạp mới nghĩ đến chuyện thoát khỏi thần linh Mà phải nói rằng, ngay cái thời kì đơn

sơ, nguyên thủy người Hy Lạp vẫn có tư tưởng tự do của mình, tư tưởng ấy quyết liệt là đằng khác Bởi lẽ, thần thoại là do con người sáng tác, nội dung của nó như thế nào thì phản ánh cuộc sống hiện thực như thế ấy Giới nghiên cứu về thần thoại Hy Lạp cổ đại, cũng như các nhà nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại

đã chứng minh rằng: cuộc sống của các vị thần không khác gì cuộc sống của người trần tục Hy Lạp xưa kia, có điều họ có sức mạnh hơn, quyền năng hơn con người mà thôi Sự khác biệt này cũng dễ hiểu, bởi thần là biểu tượng cho sức mạnh của thiên nhiên, sức mạnh mà ở đó người Hy Lạp còn mơ hồ, chưa giải thích được Câu chuyện thần Prôtêmê: một trong 12 vị thần tối cao của thế giới Ôlempơ, đã can đảm lấy lửa của thần Dớt: đấng tối cao của các vị thần và muôn loài, ban phát cho con người với mong muốn rằng: cho con người một thứ vũ khí

“lửa” để con người có thể tồn tại trước muôn loài thú dữ Lửa, đối với thần linh

là thứ vũ khí có sức mạnh ghê ghớm, nhờ nó mà thần Dớt có thể thống lĩnh thế giới thần linh, duy trì trật tự của tam giới Với con người, lửa là một công cụ hữu ích đảm bảo sự sinh tồn của mình trước giới tự nhiên vô cùng khắc nghiệt Từ

1

Đinh Ngọc Thạch, Đề cương bài giảng triết học Hy Lạp cổ đại, bảng thảo sữa chửa vào ngày 2/3/2010, tr 5.

Trang 16

khi con người có lửa, cũng là lúc con người vững bước bước vào cuộc hành trình chinh phục tự nhiên, giải phóng con người thoát khỏi thế giới thần linh, từng bước làm chủ tự nhiên, đem lại sự tự do cho con người Vì vậy, hình tượng thần Prôtêmê lấy trộm lửa hàm chứa một ý nghĩa hết sức sâu sắc: thể hiện khát vọng

tự do của người Hy Lạp cổ đại, trước tiên là giành quyền “tự chủ” trước thần linh

và giới tự nhiên Tinh thần ấy, được những nhà triết học Hy Lạp cổ đại kế thừa, phát huy lên một tầm cao mới, trong hoàn cảnh sống mới Đó là thời kì, mà xã hội Hy Lạp cổ đại có nhiều biến chuyển to lớn: chế độ công xã nguyên thủy được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ, tư duy huyền học- tôn giáo được thay thế bởi tư duy triết học Trong cái buổi giao thời, giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ

và cái lỗi thời, vẫn còn tồn tại song song với nhau, đấu tranh với nhau Cái tiến

bộ, đó là sự khát khao nhận thức đúng về thế giới, ý chí truy tìm tự do, được các nhà triết học duy vật kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới bất chấp sự phản đối của xã hội Còn cái hạn chế, là họ vẫn còn chịu ảnh hưởng của cái cũ: lúng túng trước sự giải thích các hiện tượng tự nhiên, họ tìm đến thần linh để làm chỗ dựa tinh lần của mình, như các nhà triết học thuộc trường phái Milê, Hêraclít, Êmpêđốc, Anaxago Phải chăng sự đấu tranh giữa cái mới, tiến bộ với cái cũ, lỗi thời là để con người tự do hơn Đến nhà nguyên tử luận Đêmôcrít và người kế tục ông ta Êpyquya, thì tinh thần ấy đạt đến đỉnh cao rực rỡ Vì hai ông đã dứt bỏ được hoàn toàn tấm áo thần thoại –tôn giáo trên cơ thể của triết học Hai ông cho rằng thế giới này không có thần linh, các sự vật hiện tượng trong thế giới bắt đầu

từ nguyên tử và trở về nguyên tử Như vậy, thần thoại Hy Lạp làm tiền đề cho sự

ra đời của vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học các nhà triết học tự nhiên

ở chỗ: nó phản ánh ý chí đấu tranh bền bỉ, để dành lấy sự tự do cho con người

Nó cũng là cơ sở, để cho các nhà triết học tự nhiên sau này đấu tranh loại bỏ hình thức tư duy thần thoại-tôn giáo, xác lập tư duy khoa học

Tiếp nối thần thoại, các bộ sử thi viết về lịch sử Hy Lạp buổi bình minh, cũng phản ánh ý chí và tự do của người Hy Lạp cổ đại Ý chí và tự do đó được thể hiện trong hai bộ sử thi nổi tiếng của nhà văn mù Hôme thế kỷ VIII(TCN) đó là: Iliát và Ôđixê Qua hai bộ sử thi trên, Hôme đã tái hiện lại toàn bộ đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại một cách tương đối chính xác Trong đó, có vấn đề bình đẳng

Trang 17

tự do của các thành bang Hy Lạp Đối với Iliáts, vấn đề đó được biểu hiện ở việc các bộ lạc Hy Lạp liên minh lại với nhau để đi đánh thành Troy Mặc dù, các bộ lạc Hy Lạp có chung khu vực địa lí, chung chủng tộc, ngôn ngữ, thậm chí là cùng chung một hệ thống kinh tế Tuy nhiên, trong chính trị thì nó không thống nhất

mà độc lập nhau, nó chỉ thống nhất trên cơ sở tự nguyện tự giác và trao đổi tự do

Đó là các bộ lạc có thể rút ra khỏi liên minh khi bất mãn, điều đó chứng tỏ biểu hiện cho tinh thần liên minh bình đẳng, tự do của người Hy Lạp cổ đại Nhưng trong cái liên minh lỏng lẻo ấy, người Hy Lạp vẫn có một ý chí thống nhất trên

cơ sở thống nhất quyền lợi Còn đối với bộ sử thi Ôđixê, chủ yếu phản ánh phong trào phát triển thành thị, xây dựng căn cứ địa ở ngoài Đó là cuộc phiêu liêu vô cùng gian khổ của Uylixê trong việc tìm đường trở về quê hương Thrace Cuộc phiêu lưu ấy phản ánh những địa điểm quan trọng trên con đường thương mại của Hy Lạp cổ đại Cuộc phiêu liêu gian khổ ấy, cho ta thấy được ý chí kiên trì, vượt khó của người Hy Lạp để phát triển nền kinh tế thương nghiệp đem lại sự giàu có, tự do cho Hy Lạp cổ đại Tóm lại, nếu bỏ qua yếu tố thần thoại thì nội dung của hai bộ sử thi trên mang nhiều ý nghĩa tiến bộ chế giễu thần thánh, xây dựng tinh thần dân tộc, xây dựng những đức tính mới, những ý thức trung thành đoàn kết, tư tưởng tự do, đoàn kết trên sơ sở tự nguyện, tự giác Chính nội dung tiến bộ ấy làm cơ sở cho tính ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên sau này

1.2.2 Tiền đề khoa học

Hy Lạp cổ đại không chỉ được biết đến với những bộ sử thi nổi tiếng của Hôme, Hêsiốt, mà còn được biết đến với những phát kiến khoa học giá trị bởi các nhà khoa học lừng danh như Talét, Pitago, Êclít…Cùng với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, khoa học Hy Lạp cổ đại cũng là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của triết học trong đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vấn đề ý chí và tự do của người Hy Lạp cổ đại Trong thiên văn, có nhà khoa học Talét, năm 585 (TCN), ông đã dự báo được hiện tượng nhật thực; Hécataus đã vẽ được bản đồ thế giới; Pitago biết được quả đất hình cầu; Aritaque từ lâu đã quan niệm quả đất quay quanh Mặt Trời.Trong toán học, Pitago đã phát hiện ra nguyên lí bình phương của cạnh huyền bằng tổng số bình phương của hai cạnh kề trong

Trang 18

tam giác vuông; Êclít đã đặt tiền đề cho hình học phẳng Trong y học, có Hêrôphilê đã biết được não là cơ quan tư duy của con người; Hippôcrát đã đặt cơ

sở cho nền y học nổi tiếng ở Âu châu Trong văn tự vào thế kỉ VIII TCN, người

Hy Lạp đã biết sử dụng 24 chữ cái Đó là những giá trị khoa học hết sức quý giá

mà người Hy Lạp cổ đại đóng góp cho văn minh nhân loại Nói như Ăngghen trong biện chứng tự nhiên: Chúng ta luôn trở về với những thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé ấy Với giá trị to lớn ấy đã góp phần không nhỏ cho sự hình thành tư tưởng ý chí và tự do cho người Hy Lạp Vì sao vậy? Vì sự ra đời của khoa học nó

mở ra một hình thức tư duy mới: đó là tư duy duy lí Chính hình thức ấy, đã từng bước đẩy lùi tư duy thần thoại về dĩ vãng, mở đầu cho sự suy tư về thế giới

chung quanh một cách khoa học hơn “những khám phá khoa học đầu tiên của

người cổ đại đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ quan và nhân sinh quan của các tôn giáo và thần thoại đòi hỏi con người phải có cách lí giải mới về thế giới xung quanh và cuộc sống mới của mình”1

Nhà nghiên cứu triết học hàng đầu ở Việt Nam, Trần Đức Thảo cũng cho rằng:

“kì công của khoa học Hy Lạp là phá tan được tính chất thần bí và thực dụng,

không bám vào những trường hợp cụ thể lẻ tẻ mà đã đi đến một trình độ trừu tượng hóa có những dẫn chứng phổ cập, về thiên văn đã có thể giải thích được các hiện tượng, không cần bám vào những vị trí thời gian cụ thể của các tinh tú như trước Tính chất thần bí mê tín mất đi, không cần phương thuật, thần thánh

để giải thích mà đạt được trình độ duy lí” 2 Ta thấy những phần in nghiêng của tác giả dường như nhấn mạnh đến tính tiến bộ của khoa học Hy Lạp cổ đại đó là giải phóng nhận thức con người ra khỏi tư duy thần thoại để đem lại tự do lí trí

cho con người: “khoa học Hy Lạp đạt được sự phổ cập và duy lí là đạt được một

bước mới, là một bước nhảy tuyệt đối, gạt được chủ nghĩa thực dụng và mê tín, đem lại tự do cho lí trí loài người”3

Trang 19

Tất cả những điều kiện và tiền đề trên là cơ sở cho sự hình thành tư tưởng về

ý chí và tự do của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại Vậy ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên được hiểu như thế nào ? Vấn đề đó sẽ được làm rõ ở dưới đây

1.3 KHÁI NIỆM Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI

Dựa trên những điều kiện lịch sử-xã hội cùng với sự kế thừa các tiền đề tư tưởng trước đó, tư tưởng về ý chí và tự do của người Hy Lạp được xác lập thông qua tư tưởng các nhà triết học Hy Lạp nói chung, và các nhà triết học tự nhiên nói riêng Vậy ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên được hiểu như thế nào?

Có thể nói, vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết

học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại là “archê”(Hê)

Tiếng Hy Lạp cổ là: “ἀρχή”, (tiếng Latinh là principium), có nghĩa là một từ Hy

Lạp với các giác quan chính "bắt đầu","nguồn gốc"hay "nguyên nhân đầu tiên"

và "quyền lực", "chủ quyền", "thống trị" như là ý nghĩa mở rộng…Trong ngôn

ngữ cổ xưa (thế kỷ VIII-VI TCN), “archê” (hoặc archai) dùng để chỉ nguồn gốc,

xuất xứ hoặc căn nguyên của những sự vật tồn tại Nếu một vật có sự phức tạp

sâu sắc hoặc không có cơ sở, thì “archê” với tư cách là một điểm khởi đầu, là căn

nguyên đầu tiên của vạn vật phải được vững chắc, và nguyên tắc tốt nhất cho sự vững chắc đó là được quy định bởi các vị thần rất bền vững, không thể biến đổi được và vĩnh cửu trật tự của sự vật Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại quy cho

“archê” thuộc tính thần thánh, tuyệt diệu Nó là chân trời thiêng liêng chứa đựng

vật chất và tất cả giá trị của vật chất, trong đó có ý chí và tự do của con người

Như vậy, thuận ngữ “archê” dùng để chỉ nguyên nhân, căn nguyên đầu tiên

của vũ trụ dưới hai nghĩa khác nhau: nguyên tắc là một vật thể vật chất (dùng trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tiền Xôcrát) ; nguyên tắc là một Thực tại phi nhân vị có thể mang tên gọi khác nhau như: “đơn tử” của Pitago, cái

“một” của Pacmêníc hay Plôtin, cái “bản chất” của Platôn Thuật ngữ “archê”

được Platôn sử dụng rất nhiều trong quyển Phedre (năm 245 TCN), nó có nghĩa

là “nguyên tắc, đó là cái Không-được-sinh-ra (agênéton); vì tất cả những gì đang

Trang 20

tồn tại đều tất yếu phải xuất phát từ cái nguyên tắc ấy, tức cái nguyên tắc không xuất phát từ bất cứ cái gì” Đến Arixtốt, thuật ngữ này được ông hiểu dưới năm

nghĩa khác nhau Thứ nhất “archê” được hiểu như là điểm xuất phát (của một tuyến, của một con đường) Do đó có một nguyên tắc đối xứng là điểm đến Thứ

hai “archê” được hiểu như là sự khởi đầu tốt nhất (nghệ thuật sư phạm) Thứ ba

“archê” được hiểu như cái đầu tiên và nội tại trong sự trở thành (các nền móng của một ngôi nhà) Thứ tư “archê” được hiểu như cái nguyên nhân đi trước và không có tính nội tại (ông bố và bà mẹ đối với đứa con) Thứ năm “archê” được

hiểu như ý chí tự do của một hữu thể có lý tính (nguyên tắc của các biến cố)1 Tựu chung lại, vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học

tự nhiên Hy Lạp cổ đại được hiểu như là ý chí tự do của con người có lý tính Ý chí tự do đó xuất phát từ việc truy tìm căn nguyên (archê), trật tự của thế giới Nếu như archê là căn nguyên, là trật tự của vũ trụ, thì con người với tư cách là một thực thể có lý tính hiện diện trong thế giới ấy, phải có trách nhiệm truy tìm bản chất đích thực của nó, hòa lẫn cái bản ngã nhân vị của mình cùng với cái đại ngã vũ trụ đại đồng thiêng liêng, huyền diệu, nơi mà ý chí và tự do con người sẽ chấp cánh

Nói tóm lại, vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng triết học của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại được hiểu như là một niềm khát khao thoát khỏi các yếu tố thần thoại-tôn giáo, truy tìm bản chất đích thực của thế giới, vượt lên trên thực tại để nhận thức đúng về thế giới đem lại trạng thái bàng an trong tâm hồn con người

Còn nhà triết học Nga E.E.Nexmeyanov cho rằng: vấn đề ý chí và tự do được xem là một vấn đề căn bản trong tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại Nó như

là “các tư tưởng được đưa ra về sự hèn kém của con người trước sức mạnh tự

nhiên và những thảm họa xã hội, cũng như về sức mạnh tinh thần của nó trong việc tìm đến tự do, đến cuộc sống hạnh phúc, đến nhận thức mà ở đó các nhà triết học trước hết nhận thấy niềm hạnh phúc của con người tự do”2

Trang 21

Như vậy, thời kỳ sơ khai Hy Lạp cổ đại vấn đề ý chí và tự do con người khá đơn giản, nó đơn thuần là biểu hiện của sự khát khao nhận thức đúng bản chất của thế giới Nói cách khác, nó thiên về siêu hình học hơn là chính trị, đạo đức xã hội Vì vậy, thời kỳ này chưa có sự tách biệt rõ ràng về mặt thuật ngữ

giữa ý chí và tự do Ý chí và tự do thống nhất với nhau trong cái “archê”, đó là ý

chí tự do như Arixtốt quan niệm trong các vấn đề sau vật lý của ông Ngày nay

thuật ngữ “archê” đi vào tiếng Anh là “principle”, tiếng Pháp là “principe”,

chúng có nghĩa là: nguồn gốc, nguyên tắc, nguyên lý Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, cùng với sự phát triển của tư duy lí luận, các vấn đề

xã hội của con người cũng phát triển hết sức phức tạp, trong đó có vấn đề tự do cho con người Nhưng tự do lúc này không còn đơn thuần ở gốc độ siêu hình học nữa, mà bên cạnh nó còn có cả tự do theo gốc độ chính trị, đạo đức xã hội Do vậy, trong vấn đề ý chí tự do con người có sự tách biệt về mặt thuật nhữ Ý chí (trong tiếng Anh là will) được hiểu như là một hiện tượng tâm lý, ý thức biểu hiện như một điều kiện khách quan để thực hiện một mục đích nào đó Còn tự do, trong tiếng Latinh là “liber” có nghĩa là “không phải nô lệ” Từ “liber” dần đi vào tiếng Anh với thuật ngữ “liberty” và “liberal”, có nghĩa là: người tự do, quý tộc, hào phóng, như được sử dụng trong từ “liberty art” (nghệ thuật tự do), nghĩa là không bị ràng buộc trong ngôn luận và hành động Nhưng từ đầu năm 1776-

1778, thuật ngữ “liberty” và “liberal”, được sử dụng dưới sắc thái tích cực hơn bởi Edward Gibbon1 và nhiều người khác khi có nghĩa tự do khỏi định kiến, khoan dung (free: tính từ hay freedom: danh từ) Và thuật ngữ này được sử dụng cho đến ngày nay để diển tả về sự tự do của con người Chính sự phát triển như vậy, thuật ngữ ý chí tự do được dùng phổ biến hiện nay là một từ ghép “free will” (free và will), chứ không còn là “archê” như thời kỳ sơ khai Cho nên, giữa

“free will” và “archê” có một sự khác biệt về nội hàm và ý nghĩa của nó Ý chí tự

do (free will) được hiểu “không phải là ý chí chỉ xuất phát từ nguyện vọng chủ

thể để lựa chọn, mà là ý chí lựa chọn một cách đúng đắn, phù hợp với tính tất yếu khách quan” 2 Nhưng free will cũng phải dựa trên một nền tảng nguyên tắc

Trang 22

nhất định, đó chính là nguyên tắc autonomy, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là nosmos có nghĩa là luật, đó là quyền của một người tự bản thân anh ta theo một luật (nguyên tắc) nhất định Chính điều đó, làm nảy sinh vấn đề tự do ý chí của con người Tự do ý chí là khả năng của con người tự giác lựa chọn đường hướng hành vi của mình cũng như chịu trách nhiệm về hành vi ấy

Nhưng ý chí tự do nó khác với tự do ý chí (will autonomy), thậm chí nó đối lập với tự do ý chí Ý chí tự do là sự nỗ lực của chủ thể để khắc phục những khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện mục đích tự do của mình Còn tự do ý chí

là tự do trong cách lựa chọn hành động để đạt tự do chủ thể Nói cách khác, ý chí

tự do trả lời cho câu hỏi con người làm như thế nào để có tự do, còn tự do ý chí trả lời cho câu hỏi ý chí có tự do hay không ?(con người có tự do lựa chọn hành động hay không ?)

Ý chí tự do cũng khác với tính tất yếu Tất yếu là những quy luật khách quan tồn tại trong tự nhiên và xã hội mà con người chưa nhận thức được, còn gọi

là tất yếu mù quán Còn ý chí tự do là năng lực con người có thể nhận thức được cái tất yếu mù quán đó Vào buổi đầu lịch sử của mình, con người chưa có khả năng đi sâu vào nhận thức các hiện tượng bí hiểm của tự nhiên, cho nên con người là nô lệ của tất yếu chưa nhận thức được, cho nên con nhười chưa thể có tự

do Vì vậy ý chí và tự do ra đời cùng với quá trình phát triển của tư duy nhân loại, mà những nhà triết học tự nhiên Hy Lạp mở đầu cho sự phát triển đó

Ta thấy rằng giữa ý chí và tự do luôn đi cùng với nhau, thống nhất với nhau là

vì con người muốn đạt đến mục đích cuối cùng trong cuộc sống của mình đó là

sự tự do, hạnh phúc Muốn đạt được mục đích đó con người không ngừng đấu tranh Nhưng để đấu tranh bền bỉ và lâu dài, thì con người cần đến ý chí, như một niềm tin để củng cố sức mạnh trong hành trình tìm kiếm tự do của mình Vấn đề

ý chí và tự do trong tư tưởng của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp có phần khác biệt so với ý chí và tự do của các nhà triết học hiện nay Vấn đề ý chí và tự do trong tư tưởng của các nhà triết học hiện nay có hai quan điểm chính đó là: Những người phủ nhận ý chí tự do thường giải thích mọi hiện tượng tự nhiên bằng một chuỗi những nguyên nhân Họ cho rằng bởi vì con người là một phần của tự nhiên, nên không thể được miễn trừ khỏi chuỗi các nguyên nhân phổ quát

Trang 23

này Những người ủng hộ ý chí tự do thì thường phân biệt giữa hành vi con người và mọi hiện tượng tự nhiên khác Họ khẳng định rằng những hành vi của một con người bắt nguồn từ sự chủ động và chọn lựa của riêng nó Như vậy vấn

đề ý chí và tự do của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại theo khuynh hướng những người ủng hộ ý chí tự do, nhưng nó khác ở với các nhà triết học hiện đại ở chỗ: Ý chí và tự do của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại không chỉ biểu hiện ở khía cạnh đạo đức-xã hội mà còn ở khía cạnh siêu hình học, giải phóng con người thoát khỏi sự thống trị của giới tự nhiên Đồng thời nó cũng khác nhau

ở mục đích: cách nhà triết học hiện đại quan tâm đến hành vi, sự lựa chọn tự do của cá nhân Còn các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại quan tâm đến mục đích cuối cùng của cuộc sống con người là sự hạnh phúc cho mọi người

Trang 24

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA VẤN ĐỀ Ý CHÍ VÀ TỰ DO TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC

TỰ NHIÊN HY LẠP CỔ ĐẠI

2.1 NỖ LỰC NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ THẾ GIỚI BẰNG CÁC PHẠM TRÙ TRỪU TƯỢNG

2.1.1.Sự hài hòa và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong quan niệm của Hêraclít

Muốn nhận thức được thế giới, đều kiện trước tiên là phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới, và phần lớn các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, đều thừa nhận sự tồn tại của thế giới các sự vật hiện tượng đa dạng, phong phú, xuất phát từ một thực thể nguyên thủy khách quan, đó là nước, không khí, lửa…

“Ý tưởng này được phổ biến trong người Hy Lạp Vì lí do này hay khác, họ cho

rằng một cái gì đó luôn hiện hữu”1 Đã tồn tại thì không thể đứng im mà phải vận động Vấn đề là vì sao có sự vận động đó? Vì sao từ “cái một” lại có thể chuyển hóa thành các sự vật, hiện tượng đa dạng, phong phú trong thế giới? Giải quyết vấn đề trên các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan điểm không chỉ khác nhau mà thậm chí còn đối lập lẫn nhau Đương nhiên, tất cả phương án mà

họ đưa ra không phải là câu trả lời cuối cùng Trong số các phương án đó, thì quan niệm sự hài hòa, đấu tranh giữa các mặt đối lập, của triết gia Hêraclít, được xem là phương án tiêu biểu, sâu sắc nhất Với quan niệm đó, Hêraclít đã làm nên

sự khác biệt triết học của ông với các nhà triết học đương thời Chính sự cống hiến lớn lao đó, Hêraclít được Lênin đánh giá: là ông tổ của phép biện chứng

Để giải thích được vấn đề trên, chúng ta cần phải hiểu quan điểm “vạn vật

đồng nhất thể”2 trong tư tưởng triết học của Hêraclít Ông nói “hết thảy mọi sự

vật đều chuyển hóa thành lửa, lửa cũng chuyển hóa thành hết thảy sự vật”3 Như vậy ông đã đi đến quan niệm về tính thống nhất của vũ trụ Với quan niệm trên,

Trang 25

Hêraclít đạt đến trình độ khái quát, trừu trượng cao hơn về tính thống nhất của thế giới vì ông nhìn thấy được cái đồng nhất tồn tại trong các khác biệt để tạo nên

sự hài hòa của sự vật Nói cách khác, sự hài hòa của vũ trụ, theo quan niệm của Hêraclít, là sự thống nhất nội tại, là sự hòa hợp, sự cân bằng của các mặt đối lập cấu thành chỉnh thể

Còn đấu tranh giữa các mặt đối lập là cái vốn có của sự hài hòa bởi sự hài hòa được tạo thành không phải từ các yếu tố bên ngoài mang tính huyền bí mà

được tạo từ các phương diện khác nhau và đối lập với chính nó Ông viết: “sự hài

hòa được tạo ra bởi cái chỉnh thể và cái chưa chỉnh thể, cái bộ phận, cái phù hợp với nhau và cái không phù hợp với nhau, cái tích tụ và cái phân tán, cái hòa điệu và cái không hòa điệu, và từ cái chỉnh thể (đối lập) sinh ra cái một và từ cái một sinh ra cái chỉnh thể”1 Sẽ là siêu hình, nếu như ta hiểu quan niệm sự hài hòa, đấu tranh của Hêraclít tách rời nhau, mà phải hiểu sự hài hòa, đấu tranh giữa

các mặt đối lập của Hêraclít trong một thể thống nhất với nhau “Đấu tranh và

hài hòa đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập, là một sự thống nhất tối cao nào đó, là sự hòa hợp và hài hòa của vũ trụ”2

Theo Hêraclít, các mặt đối lập như: thiện và ác, sống và chết…không thể là một thì ai cũng hiểu, nhưng nói nó tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất thì không phải ai cũng hiểu Ông nói hết thảy những vật xung khắc với nhau làm

một: “những vật xung khắc nhau lại hợp thành một Những âm điệu khác nhau

hợp lại thành hòa âm đẹp đẽ nhất Tất cả mọi vật ra đời trong đấu tranh”3 Hoặc coi mọi cái đồng nhất đều luôn tồn tại trong sự khác biệt và đó là cái hài hòa của những cái căng thẳng, độc lập, cũng như sức căng của dây cung, dây đàn Rằng

"thiện và ác chỉ là một" sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già trước sau cũng đều

là một" Như vậy ở Hêraclít xem hết thẩy các mặt đối lập trong một thể thống nhất Các mặt đối lập ấy luôn trao đổi với nhau trong sự thống nhất Ông nói:

“trong con người chúng ta, sống và chết, trẻ và già, thức và ngủ, tỉnh táo và mơ

Trang 26

mộng cũng luôn trao đổi với nhau, cái sau biến hóa thành cái trước, cái trước biến hòa lại trở thành cái sau”1 Các mặt đối lập không những trao đổi lẫn nhau

mà còn liên hệ chặt chẽ với nhau, sự liên hệ ấy theo Hêraclít cũng giống như:

“con nhện nằm giữa màng nhện… cũng giống như linh hồn khi thân thể bị

thương ở một chỗ nào đó thì linh hồn cũng tiến tới chỗ đó như thế là nó không chịu được nỗi đau đớn của thể xác, và đó là bởi linh hồn có một mối liên hệ chặt chẽ với thân thể"2 Quan niệm như vậy về các mặt đối lập trong sự vật cho thấy, Hêraclít đã nói đến sự phân đôi của cái thống nhất mà việc nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó, cái làm nên thực chất, bản chất, đặc trưng, đặc điểm cơ bản nhất trong tư tưởng biện chứng của ông Có thể nói đây là một quan niệm tiến bộ của ông, góp phần vào việc nhận thức đúng đắn về thế giới của người Hy Lạp cổ đại

Chính sự hài hòa giữa các mặt đối lập đó, làm cho các sự vật hiện tượng trong thế giới mang tính xác định, ổn định, làm cho sự vật là nó chứ không phải

là sự vật khác Tuy nhiên, Hêraclít cũng nhìn thấy rằng sự hài hòa đó chỉ mang tính tương đối mà thôi, vì theo Hêraclít thế giới này vận động không ngừng

“không ai tắm hai lần trên một dòng sông” Chính sự đấu tranh không ngừng giữa các mặt đối lập tạo nên nguồn gốc của sự vận động Đây là một sự phác hiện vượt trước thời đại của Hêraclít, có tác dụng hết sức to lớn cho sự phác triển nhận thức của nhân loại

Sở dĩ, quan niệm đó có giá trị to lớn như vậy là vì: Hêraclít đã phát hiện ra quy luật của vũ trụ Đó là sự hài hòa, đấu tranh giữa các mặt đối lập Đối với Hêraclít, nó là logos của vũ trụ, là quy luật tất yếu của vũ trụ, nó tồn tại phổ biến

trong vũ trụ Ông viết: “tất cả đều sinh ra từ đấu tranh và từ tính tất yếu”3 Nguồn gốc của quy luật này không phải ở bên ngoài vũ trụ mà là ở chính trong

vũ trụ, ở chính nội tại của sự vật Tuy nhiên, ở Hêraclít, sự hài hòa của vũ trụ vẫn

còn đôi chút bí ẩn “hài hòa không trong thấy được, nhưng đó là sự hài hòa mạnh

Trang 27

hơn sự hài hòa trong thấy được”1 Dường như ở ông vẫn còn thừa nhận sự tồn tại của một lực lượng siêu nhiên trong vũ trụ

Bỏ qua sự bí ẩn đó, ta thấy ở Hêraclít có sự đề cao tự do của con người bằng

hình ảnh chiến tranh (đấu tranh) Ông viết: “chiến tranh khiến cho một số người

trở thành thần thánh, một số người trở thành người, một số người trở thành nô lệ

và một số người khác thì trở thành người tự do”2 Chiến tranh ở Hêraclít là chiến

tranh chính nghĩa “Chiến tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh”3, để giành lấy những giá trị tốt đẹp cho con người, ví như sự tự do Đề cao chiến tranh không có nghĩa là ông cổ võ cho chiến tranh, mà ngược lại ông kêu gọi dập tắt

tính kiêu hãnh chiến tranh xem ngăn chặn chiến tranh như “đập tắt bệnh kiêu

hãnh còn cần hơn là cứu hoả”4 Nói cách khác, ông chỉ ủng hộ những cuộc chiến tranh với mục đích chính nghĩa như cuộc chiến tranh của người Hy Lạp chống lại quân xâm lược Ba Tư Chiến tranh để giữ gìn trật tự, ổn định của vũ trụ, tự do cho con người chứ không phải để phá vỡ sự ổn định, tự do cho con người Ông nói đấu tranh cho một luật pháp được thực hiện là cuộc đấu tranh cần thiết để giữ gìn tính có trật tự của vũ trụ, giữ gìn sự hài hòa của cuộc sống, của vũ trụ và

“người dân nên chiến đấu cho pháp luật giống như chiến đấu cho bức tường

thành của mình”5 Ngoài ra, Hêraclít còn kêu gọi con người hãy đấu tranh với chính mình, Mặc dù đều đó là rất khó “đấu tranh với trái tim là rất khó, bởi mỗi nguyện vọng đều phải trả giá bằng linh hồn” Bằng việc đấu tranh, để hiểu thế giới, hiểu chính bản thân con người, Hêraclít thật sự gần đến với tự do

Từ quy luật ấy, Hêraclít đi đến quy luật mọi thứ đều biến dịch Sự biến dịch

ấy được Hêraclít ví như ngọn lửa Theo Bryan, lửa của Hêraclít không chỉ là một vật thể mà còn là một tiến trình Ngọn lửa vũ trụ ấy ẩn dấu một triết lý sống sâu sắc, lớn lao Nó là chân lý tồn tại trong mọi thời đại như ngọn lửa thiêng liêng,

bất diệt kia vậy Bryan viết: “con người từ bao đời nay luôn luôn nổ lực tìm cho

được một đều gì vững chắc để đặc niềm tin vào đó, một đều gì xác thực kéo dài

và không biến mất Nhưng Hêraclít nói cho chúng ta không có những đều như

Trang 28

vậy Biến dịch là quy luật của sự sống và của vũ trụ Nó thống trị tất cả Chúng

ta không bao giờ tránh được nó”1

Có thể nói, quan niệm về sự hài hòa, đấu tranh giữa các mặt đối lập là một

sự phát hiện độc đáo của Hêraclít Sự phát hiện ấy đã đưa lại sự hiểu biết sâu sắc

về thế giới bằng việc nhận thức quy luật vũ trụ Từ đó ông kêu gọi con người có những hành động phù hợp để sống một cách tự do nhất

2.1.2 Vấn đề tất nhiên và ngẫu nhiên của Đêmôcrít

Nếu như Hêraclít, đã mang lại cho người Hy Lạp một tinh thần ý chí và tự

do trong mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, bằng tư tưởng biện chứng sâu sắc Thì Đêmôcrít, cũng mang lại sự tự do cho người Hy Lạp trong việc nhận thức chính xã hội con người, với một ý chí mạnh mẽ không thua kém với Hêraclít Nhưng khác với Hêraclít ý chí và tự do của Đêmôcrít được đặt trên nền tảng học thuyết nguyên tử luận của ông Trong đó, phạm trù tất nhiên-ngẫu nhiên, được ông vận dụng một cách xuyên suốt, trong quá trình lí giải các hiện tượng xã hội cũng như phác họa những phương thức hoạt động đạo đức con người nhằm mục đích đem lại cuộc sống tự do cho con người

Theo Đinh Ngọc Thạch, Đêmôcrít không bác bỏ tính ngẫu nhiên mà chỉ phê phán những ai dùng nó để làm chiếc lọng che đậy sự nông cạn phi lý của mình

Đêmôcrít nói “người ta bịa ra cái gọi là tình cờ để che đậy cho tính nông nổi của

mình Tình cờ ít có cơ may để thành công”2 Bỏ qua tính mâu thuẫn trong lập luận giữa tất nhiên và ngẫu nhiên của ông, thì việc Đêmôcrít đề cao tất nhiên để phê phán sự lười biếng, kém hiểu biết trong nhận thức của con người là một điểm đáng trân trọng của Đêmôcrít, vì việc phê phán những cái xấu của con người, để con người sống tốt đẹp hơn, tự do hơn bao giờ cũng đáng được trân trọng.Và Đêmôcrít đã làm xuất sắc nhiệm vụ của một nhà hiền triết, với một ý chí không mệt mỏi Theo Đêmôcrít, tất nhiên là cái mà vũ trụ tồn tại theo trật tự, quy luật, mọi thứ diễn ra theo tất yếu của tự nhiên Còn ngẫu nhiên được hiểu là cái phi nhân quả Trong xã hội cũng vậy, một hoạt động của con người đều diễn ra theo cái tất yếu, cái quy luật Nói cách khác, đó chính là mối liên hệ nhân quả Tuy

Trang 29

nhiên, do ông quá đề cao tính tất nhiên dẫn đến ông tuyệt đối hóa cái tất nhiên, không đánh giá đúng sự tồn tại của cái ngẫu nhiên, đôi chỗ ông còn nhầm lẫn giữa tất nhiên-ngẫu nhiên với phạm trù nhân-quả Có thể nói, đây là hạn chế mang tính lịch sử của ông Bỏ qua tính cực đoan đó, phạm trù tất nhiên-ngẫu nhiên của Đêmôcrít rất có ý nghĩa trong việc luận chứng các vấn đề của xã hội Nói cách khác, Đêmôcrít lí giải con đường mà con người thoát khỏi loài vật để trở thành con người tự do

Đêmôcrít đã giải thích nguồn gốc và sự phát triển kế tiếp của cuộc sống xã hội là từ nhu cầu, kinh nghiệm của cuộc sống con người Do nhu cầu sống, mà con người học cách sử dụng lửa để cải thiện thức ăn của mình, do nhu cầu mặt,

mà xuất hiện quần áo làm từ da thú Kinh nghiệm dạy họ sống trong các hang

động, sau đó là xây dựng nhà ở “như vậy nhu cầu đã dạy cho sinh vật có được

năng lực bẩm sinh phong phú, có đôi tay làm được mọi thứ có lý tính và tâm hồn sáng trí”1 Với những lập luận còn đơn giản, nhưng đã phác họa được bức tranh

xã hội buổi sơ khai của loài người Mặc dù, đôi chỗ còn hạn chế, nhưng đây thật

sự là những khám phá mới trong nhận thức xã hội của Đêmôcrít Nó không chỉ đúng ở vào thời kỳ hồng hoang của con người mà cho tới ngày nay nó vẫn còn nguyên giá trị Nhu cầu thật sự là động lực, nguồn gốc của mọi hoạt động con người Phải chăng, đó là một quy luật trong cuộc sống của con người Nắm được quy luật, Đêmôcrít tin rằng, con người sẽ có ý chí hơn trong việc tìm kiếm tự do cho mình

Bàn về hạnh phúc, ông nói: “hạnh phúc không phải ở chỗ có trong tay một

bầy gia súc, cũng không phải làm chủ một đống vàng mà chính là ở tại tâm linh chúng ta”2 Khó có thể hình dung được ngay từ buổi bình minh của con người, Đêmôcrít đã quan niệm về hạnh phúc thật sâu sắc như vậy Dẫu cho cuộc sống hôm nay có hiện đại, có giàu sang đến thế nào đi nữa, thì hạnh phúc thật sự của con người chỉ tìm thấy ở tâm hồn chứ không phải ở vật chất Hạnh phúc chỉ khi nào ta cảm thấy tâm hồn thật bình an, chứ không phải lúc nào cũng nơm nớp lo cái đời sống trần tục thường ngày Trải qua hơn 2500 năm cho đến hôm nay,

Trang 30

quan niệm ấy vẫn như một ngôi sao tỏa sáng trên bầu trời soi đường, chỉ lối cho con người trong cuộc hành trình tìm kiếm tự do, hạnh phúc thật sự cho chính mình Trải qua hơn 2500 năm, với vô vàn những thăng trầm của lịch sử, con người không ngừng đi tìm kiếm cái giá trị thiêng liêng ấy, cũng đủ minh chứng cho một ý chí ngất trời, một quyết tâm mạnh mẽ của nhà hiền triết Đêmôcrít, của

loài người nói chung Tương tự như vậy, ông nói: “đối với con người tốt nhất là

làm sao có thể sống cuộc sống vui vẻ và cố sức tránh đâu khổ Đều đó có thể làm được nếu như họ không chịu theo lệnh của dục vọng ngự trị trong đống của dễ mất đó” 1

Vấn đề ý chí và tự do của Đêmôcrít còn được biểu hiện trong quan điểm

chính trị của ông Ông nói: “chịu cảnh nghèo trong chế độ dân chủ còn hơn cái

gọi là cuộc sống hạnh phúc dưới chế độ chuyên chế Cũng giống như tự do tốt hơn là nô lệ”2 Qua đoạn tản văn trên, rõ ràng Đêmôcrít đề cao quyền tự do cho con người, với lối nối đanh thép thà “chịu cảnh nghèo trong chế độ dân chủ còn hơn cái gọi là…chế độ chuyên chế” đã thể hiện cái ý chí, quyết tâm ủng hộ chế

độ dân chủ, ủng hộ quyền tự do con người, đồng thời cũng phản ánh cái ý chí, tinh thần khát khao tự do của người Hy Lạp cổ đại

Ý chí và tự do ấy, biểu hiện mạnh mẽ hơn khi ông trình bày tư tưởng ít

nhiều có ý nghĩa về việc quản lí nhà nước: “phàm những ai giết chết một tên giặc

cỏ, hoặc tên hải tặc Có thể là lý do chủ ý của anh ta hay là do người khác sai làm hay là do pháp luật quyết định đều không nên bị pháp luật trừng trị”3 Đều

đó đã biểu hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ quyền tự do cho con

người Hoặc “những tên tội phạm bị đi đày, bị tù hoặc bị hình phạt gì đó là phải

thực hiện cho đúng Nếu ai đó vì lợi lộc hoặc lí do gì mà thả hắn ra thì đó là việc làm không đúng với chính nghĩa”4

Tóm lại, khi lí giải bất kì một hoạt động nào của xã hội từ đạo đức cho tới chính trị, Đêmôcrít đều trình bày trong mối liên hệ nhân-quả, trong tính quy luật tất yếu của nó Dù đúng hay không, việc tri tìm, lí giải hoạt động con người theo

Trang 31

quy luật, là biểu hiện của ý chí và tự do cho con người Con người chỉ thật sự tự

do khi nắm được quy luật và làm theo quy luật

2.1.3 Vấn đề tự ý thức trong quan niệm của Êpyquya

Như một sắp đặt hoàn hảo của lịch sử, trên kia được mở đầu thấm nhuần ý chí và tự do của Hêraclít trong mối quan hệ con người với giới tự nhiên, tiếp cuộc hành trình tìm kiếm tự do con người ta được tiếp thêm sức mạnh với ý chí quật khởi của Đêmôcrít để đấu tranh và bảo vệ tự do cho con người Để tạm kết thúc cuộc hành trình tìm kiếm tự do của các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại,

ta dừng chân với Êpyquya: một triết gia nổi tiếng vào thời kỳ Hy Lạp hóa, cùng với vấn đề ý chí và tự do của ông Ý chí và tự do của ông, không phải là vấn đề của tạo vật như Hêraclít, cũng không phải là chính trị như Đêmôcrít mà là của chính bản thân con người, của một cá thể xã hội Nói cách khác, đó là sự tự do cho cá nhân, cho nên cái ý chí để đạt đến sự tự do ấy có phần khác biệt so với Hêraclít và Đêmôcrít Nó không phổ biến, trào lộng như Hêraclít, không kiên quyết, mạnh mẽ như Đêmôcrít mà là một sự nhỏ nhẹ nhưng rắn rỏi, để tìm đến một trạng thái yên tĩnh, bình ổn trong tâm hồn con người Để đạt được trạng thái

đó, Êpyquya cho rằng con người phải tự nhận thức được thế giới Vấn đề đó, được ông luận chứng dựa trên cơ sở sự đi chệch hướng của nguyên tử

Nếu như Đêmôcrít chưa thấy được tính khách quan của cái ngẫu nhiên, thì đến Êpyquya bằng việc phác hiện ra một thuộc tính mới của nguyên tử là “sự chệch hướng của nguyên tử” ông đã thừa nhận tính khách quan của ngẫu nhiên Ông cho rằng “tính tất yếu là bất di bất dịch còn ngẫu nhiên thì không cố định”1 Với luận điểm ấy, ở Êpyquya có sự thống nhất giữa tất nhiên và ngẫu nhiên Đây

là đều mà tiền bối Đêmôcrít chưa làm được Nói cách khác, ở Đêmôcrít chưa lí giải được tự do ý chí của con người còn Êpyquya thì thông qua học thuyết “về sự

đi chệnh tự do” để lí giải tự do ý chí của con người Có sự khác nhau như vậy là

do sự khác nhau về mục đích trong triết học của hai ông Trong luận án tiến sĩ của C Mác về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và Êpyquya có

nói: “Ở Đêmôcrít, việc nghiên cứu tự nhiên được coi là mục đích, là cái có khả

1

Vương Thị Bích Thủy, “Tất yếu và tự do trong triết học Đêmôcrít và Êpiquya”, Tạp chí Triết học, 11

(162), 2004, tr 46

Trang 32

năng tự mình làm cho con người trở nên tự do và hạnh phúc Còn ở Êpiquya, nghiên cứu tự nhiên là tìm kiếm các phương thức hoạt động của con người, tìm kiếm các đều kiện đảm bảo cho tự do và hạnh phúc của con người”1

Như vậy, Êpiquya đã tìm thấy sự tự do của nguyên tử ngay trong chính bản thân của nguyên tử đó là khả năng tự ý đi chệch hướng Tự do không phải tìm thấy ở bên ngoài cái tất yếu, cũng không phải bên cạnh cái tất yếu, mà ở chính những đều kiện trong đó trật tự tất yếu của sự vật được biểu hiện ra Từ đó Êpiquya cho rằng, tự do của con người chính là sự phủ định tính tất yếu khắc nghiệt của số phận cũng giống như sự đi chệch tự do của nguyên tử phủ định tính tất yếu rơi xuống theo đường thẳng do trọng lượng

Từ sự luận giải đó, Êpiquya vận dụng trong việc giải thích sự tự nhận thức của con người Sự tự nhận thức của con người cũng giống như sự chệch hướng của các nguyên tử Cho nên, Êpyquya tuyên bố rằng, con người không phụ thuộc vào số phận của mình, ngược lại con người hoàn toàn có thể đạt được sự tự do, hạnh phúc nếu như tự nhận thức đúng và tuân theo các quy luật vận động của thế

giới Bởi vì, theo ông, “chỉ có tri thức mới là cái có khả năng bảo đảm cho con

người có được một sự tồn tại yên ổn”2

Vậy vấn đề tự nhận thức trong triết học Êpyquya có nghĩa là: con người bằng trí tuệ của mình tự khám phá, hiểu biết đúng về các quy luật tự nhiên, xã hội và cuộc sống của chính mình để từ đó hành động theo quy luật, đạt tới sự khoái lạc của cuộc sống Ở Êpyquya, khoái lạc hoàn toàn thoát khỏi những dục vọng bình thường mà đạt đến sự đều độ trong cuộc sống Nói cách khác, nó rất

biện chứng Ông nói: “khoái lạc vốn không phải là đều xấu Thế nhưng có những

khoái lạc lại đem lại sự buồn phiền gấp bội”3 Chủ trương con người sống phải biết hưởng thụ những gì mà con người xứng đáng được có, và trong cái hưởng thụ đó, Êpyquya cũng giống lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với những ai muốn vượt qua giới hạn đều độ của cuộc sống, sẽ gặp sự phiền muộn Với Êpyquya, lạc

thú không phải là những thú vui về thể xác mà là “sự suy luận tỉnh táo, truy tìm

những lí do của mọi sự lựa chọn và xa lánh và loại trừ những ý kiến không có cơ

Trang 33

sở gây phiền toái nhiều nhất cho tinh thần”1 Rõ ràng, ở Êpyquya tỏa sáng một tư tưởng của ý chí và tự do cho con người thông qua lí giải cũng như hoàn thiện một phương thức sống tối ưu nhất cho con người: đó là khoái lạc Luận giải ý chí

và tự do bằng chủ nghĩa khoái lạc Êpyquya thật sự mang lại tự do cá nhân cho con người

Ý chí và tự do của Êpyquya còn được biểu hiện ở chủ trương con người không nên sợ thần thánh, vì ông cho rằng trong thế giới này không có thần mà chỉ có trạng thái tồn tại thật sự của sự vật Qua đó, ông cũng luận giải con người

không nên sợ chết Ông viết “chết đối với chúng ta có liên quan gì đâu Bởi vì

tiêu tan rồi thì còn có cảm giác gì nữa Mà không có cảm giác thì làm gì có liên quan đến ta nữa”2 Một luận chứng rất hay, hay không phải vì ngôn từ mà hay vì Êpyquya đã giúp con người biết rõ hơn về thần thánh, rõ hơn về cái chết, từ đó ông xoa dịu đi những lo âu, đâu khổ và phiền muộn không đáng có trong suy

nghĩ của con người “Êpyquya nghĩ rằng ông đã giải phóng loài người khỏi mối

sợ hãi trước Thượng đế và cái chết”3 Việc loại bỏ những khổ đau của con người

và giúp con người hướng đến cuộc sống có suy nghĩ tích cực hơn, với sự bình thản trong cuộc sống, là nhiệm vụ của một nhà hiền triết Và Êpyquya đã hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ đó Ở Êpyquya “tự do là tự chủ, tự quyết định hành

động vươn tới hạnh phúc, tránh mọi khổ đau và không bị cám dỗ bởi những thú vui vật chất tầm thường”4

Luận giải vấn đề trên của Êpyquya, David E Cooper cũng có viết:

“Êpyquya cho rằng nguyên nhân chính của thân phận bất hạnh của chúng ta là

“sự mê tín”, giống như “sự mong đợi và nghi ngờ vĩnh hằng” một đều gì ghê sợ giống như trong chuyện thần thoại Thay vì nhìn một cách hợp lí các cuộc động đất và lũ lụt, hay thất bại đôi khi chúng ta gặp trong đời, như là những hiện tượng tự nhiên xảy ra theo quy luật của tự nhiên, người ta lại tưởng tượng chúng

là do tính khí thất thường của các vị thần mà vì thế phải làm các vị thần nguôi dận Tệ hơn nữa là con người sợ chết hay đúng hơn là sợ kiếp sống sau khi chết

Trang 34

Phương thuốc giải trừ nỗi sợ của chúng ta là một sự giải thích tự nhiên về một vũ trụ trong đó các vị thần không có vai trò gì cả, và trong đó con người không có kiếp sống nào khác ngoài cuộc sống hiện tại” 1 Có thể nói, đây là một luận giải

mang tính nhân văn sâu sắc.Với tinh thần ý chí và tự do đó, Êpyquya thật sự đã giúp con người ngày càng sống tự do và tốt hơn Cho đến hôm nay, vấn đề của ông đặt ra vẫn còn nguyên giá trị, vì con người vẫn còn tin vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên, con người vẫn còn sợ trước cái chết vĩnh hằng của mình, vì cuộc sống của con người vẫn đang bị dày xéo bởi nhiều thảm họa tự nhiên, do chính con người gây ra Vì vậy, việc tự nhận thức đúng về thế giới, để vươn đến một trạng thái tâm hồn bình an luôn luôn cần thiết cho con người, bởi thế giới là

vô hạn mà sự hiểu biết con nguời là có hạn Đây chính là ý chí và tự do mà Êpyquya muốn gửi gắm đến những thế hệ mai sau Đúng như Mác-Ăngghen

đánh giá “Êpyquya là nhà khai sáng cấp tiến thực sự của thời cổ, ông công khai

công kích tôn giáo thời cổ và chủ nghĩa vô thần của người La Mã-trong chừng mực nó tồn tại ở họ-cũng bắt nguồn từ ông”2 Nói cách khác Êpyquya đã đem lại ánh sáng trong trí tuệ con người, ánh sáng đó đưa con người đến với cuộc sống trần tục hơn, hiện thực hơn con người bằng xương bằng thịt có cảm giác, chấp nhận nếm trải, hướng tới tự do

Trên đây, là nội dung của ý chí và tự do của ba nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại trong việc nỗ lực nhận thức đúng thế giới bằng các phạm trù trừu tượng Cùng là vấn đề ý chí và tự do, nhưng do sống trong những đều kiện lịch

sử khác nhau nên nội dung của ý chí và tự do của ba ông cũng có phần khác nhau Điểm giống nhau căn bản trong vấn đề ý chí và tự do của ba ông là muốn

có tự do, hạnh phúc con người phải nhận thức đúng thế giới Có được sự giống nhau đó là do tính mục đích cuối cùng của triết học, đó là giải phóng con người, đưa con người hướng đến một cuộc sống tự do hơn, hạnh phúc hơn Do đó, ở họ cũng có một ý chí giống nhau xem ý chí như là động lực, sức mạnh tinh thần để hướng đến mục tiêu cao cả Tuy nhiên, do sống ở những thời kỳ khác nhau: Hêraclít vào thời kỳ đầu của chế độ dân chủ chủ nô, Đêmôcrít vào thời đỉnh cao,

Trang 35

còn Êpyquya vào thời kỳ suy tàn, xuống dốc của chế độ dân chủ Cho nên, bên cạnh điểm chung vẫn có sự khác biệt về sự luận giải vấn đề ý chí và tự do của ba nhà triết học vĩ đại Sự khác nhau đó, được thể hiện ở nội dung cũng như mức độ biểu hiện Hêraclít đã luận giải ý chí và tự do một cách hùng hồn, trào lộng qua lối hành văn của mình Ông trình bày quy luật sự hài hòa, đấu tranh giữa các mặt đối lập như là nguồn gốc của sự vận động không ngừng của vũ trụ Với phát hiện này, Hêraclít đã giải phóng con người ra khỏi nhận thức hạn hẹp về tự nhiên Ông nói “tự nhiên thích che dấu” hoặc “tư tưởng là ưu điểm lớn nhất”, “trí tuệ là

ở chỗ nói lên chân lý và hành động theo tự nhiên, lắng nghe tự nhiên” Nếu như

bỏ qua tính thần bí trong nhận thức của ông, thì việc nhận thức tự nhiên, làm theo

tự nhiên, sống hòa mình với tự nhiên, thật sự là tự do cho con người Còn đối với Đêmôcrít, ý chí và tự do của ông được luận giải một cách chặt chẽ hơn trên cơ sở cái tất yếu Con đường đi đến tự do của con người là tất yếu, dựa trên ý chí nỗ lực nhận thức thế giới của con người Cho nên, không có gì khó hiểu ở Đêmôcrít

có một ý chí kiên quyết, mạnh mẽ trong việc tìm kiếm và bảo vệ tự do cho con người Đến với Êpyquya vấn đề ý chí và tự do con người được thu nhỏ ở phạm vi

cá thể, đó là sự tự do cá nhân bằng việc tự nhận thức đúng thế giới, chỉ có tri thức đúng về thế giới con người mới đạt đến trạng thái bình an, hạnh phúc Tuy đó chỉ

là sự tự do cá nhân nhưng nó thấm đượm tinh thần nhân văn cho giá trị sống con người

Tóm lại, nhận thức thế giới là một nội dung quan trọng của triết học Hy Lạp

cổ đại Các nhà triết học tự nhiên, từ trường phái Milê đến Êpyquya hầu hết là những nhà duy vật, trong đó Hêraclít, Đêmôcrít, Êpyquya nổi lên như những nhà triết học duy vật lỗi lạc thời cổ đại, có nhiều đóng góp quan trọng cho kho tàng tri thức nhân loại Ý chí và tự do, như là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của các ông, đã chứng minh đều đó Bằng tất cả sự say mê và ý chí của mình, các nhà triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại đã không ngừng truy tìm

bản chất đích thực của thế giới, để mang lại sự tự do cho con người “Mác đã

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w