1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng, phát triển giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh đồng nai

112 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân đã có những bước phát triển tích cực, tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, đồng thời chất lượng đội ngũ được nâng cao, mà bi

Trang 1

-

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Ở TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 2

-

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Ở TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS, TS NGUYỄN THẾ NGHĨA

TP HỒ CHÍ MINH -2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,

dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thế Nghĩa

Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 03 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN, VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở

ĐỒNG NAI 8

1.1 QUAN NIỆM VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN 8

1.1.1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân 8

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân 17

1.1.3 Đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam 23

1.2 ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI 28

1.2.1 Điều kiện lịch sử, tự nhiên ,kinh tế, xã hội tỉnh Đồng Nai 28

1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của giai cấp công nhân tỉnh Đồng Nai 36

Kết luận chương 1 48

Chương 2: TÍNH TẤT YẾU, VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 50

2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở ĐỒNG NAI 50

2.2 THỰC TRẠNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI 54

2.2.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ công nhân 54

2.2.2 Chất lượng đội ngũ công nhân 55

2.2.3 Vấn đề việc làm, thu nhập và điều kiện sống của công nhân 57

2.2.4 Quan hệ lao động và tâm trạng chính trị của công nhân 66

2.3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 73

2.3.1 Nâng cao nhận thức cho toàn bộ hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và lực lượng công nhân của tỉnh về vị trí, vai trò của công

Trang 5

2.3.2 Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo công nhân 77

2.3.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 83

2.3.4 Tập trung các nguồn lực, nâng cao đời sống của công nhân 85

2.3.5 Phát triển, hoàn thiện và nâng cao vai trò, của hệ thống chính trị trong các khu công nghiệp, khu chế xuất 89

Kết luận chương 2 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân là một lực lượng xã hội to lớn, đang có những phát triển mới Những năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân đã có những bước phát triển tích cực, tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, đồng thời chất lượng đội ngũ được nâng cao, mà biểu hiện cụ thể là đã xuất hiện bộ phận công nhân trí thức đông đảo; là lực lượng sản xuất cơ bản trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vận hành, sử dụng các công cụ, phương tiện sản xuất tiên tiến, hiện đại, đóng vai trò là lực lượng đi đầu trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế cuả đất nước Cùng với các giai cấp - giai tầng khác trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp công nhân đã có đóng góp to lớn vào tiến trình phát triển kinh tế

- xã hội của nước ta hiện nay Giai cấp công nhân Việt Nam đang bước vào thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa Do đó phải thích nghi với môi trường mới

để không bị tụt hậu và tiếp tục con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng thực trạng của giai cấp công nhân hiện nay cho thấy rằng nếu không có sự cải cách, thúc đẩy để phát triển thì giai cấp công nhân Việt Nam vẫn chỉ là những con người nghèo khổ về kinh tế cũng như nghèo nàn về đời sống tinh thần

Cùng với sự phát triển của đất nước, Đồng Nai luôn phấn đấu vươn lên tạo những bước phát triển mới Đồng Nai thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ

và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Nằm ở cửa ngõ phía Bắc đồng thời là một trung tâm đô thị của vùng, tỉnh có vị trí, vai trò rất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu thương mại của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh có những bước tiến mạnh mẽ, tạo được bước ngoặt trong sự nghiệp công nghiệp hóa,

Trang 7

hiện đại hóa và góp phần tích cực vào thành tựu chung của cả nước Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân liên tục đạt cao và ổn định Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao; kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh; nông nghiệp phát triển toàn diện; thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước tăng mạnh; công tác giáo dục đào tạo phát triển Đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện Mặc dù, Tỉnh đã đạt được những thành tựu lớn nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động chưa cao, các ngành kinh tế chưa tạo được mối liên hoàn, ổn định hỗ trợ lẫn nhau Phát triển công nghiệp chưa gắn chặt với thay đổi cơ cấu lao động xã hội và cải thiện mức sống của người dân, ô nhiễm môi trường chưa được xử lý kịp thời Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường còn hạn chế do thiếu đầu tư chiều sâu, chậm đổi mới công nghệ Hệ thống dịch vụ chất lượng cao nhìn chung còn kém phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu Nông nghiệp tuy phát triển toàn diện nhưng năng xuất chưa cao và chưa thực sự ổn định, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn diễn ra còn chậm, đời sống nông dân chưa cao Công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của sự phát triển ở trình độ cao, nguồn nhân lực thiếu, chất lượng tương đối thấp, đời sống chưa được đảm bảo nên nhiều cuộc đình công của công nhân vẫn còn diễn ra

Nhằm khắc phục những hạn chế đang cản trở không nhỏ đến quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cũng như phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh, Đại hội đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VIII đã xác định:

“Phát huy tối đa nguồn nội lực, đặc biệt là nhân tố con người Đẩy mạnh sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ Mở rộng quan hệ hợp tác vùng kinh tế trọng điểm phía Nan, khu vực và thế giới Duy trì tốc độ

Trang 8

tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, năng cao sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Phát triển kinh tế với cơ cấu hợp lý, nâng cao tỷ trọng khu vực dịch vụ” [27] Vì vậy việc nghiên cứu vấn

đề: “Xây dựng, phát triển giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa,

hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai ” càng trở nên cấp bách và có ý nghĩa thiết thực

đối với tiến trình phát triển của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề về giai cấp công nhân, và vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nghiên cứu khá nhiều với những cách tiếp cận khác nhau, trong đó có những công trình tiêu biểu như sau:

“Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận

trính trị Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2010) Nội dung quốn sách đề cập đến những vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong giai đoạn hiện nay; phân tích sâu sắc thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua đó, đưa ra các giải pháp xây dựng giai cấp công nhân trong điều kiện mới theo quan điểm của

Đảng tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X; “Triết học

với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PGS TS Nguyễn Thế

Nghĩa (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội1997) Trong đó tác giả phân tích giá trị thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong việc nhận thức và hoạch định chiến lược, chính sách và phương pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời tác giả phân tích khá sâu sắc vai trò của nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam và đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng

Trang 9

nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “Công nghiệp

hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” do GS.TS Nguyễn

Trọng Chuẩn, PGS TS Nguyễn Thế Nghĩa, PGS TS Đặng Hữu Toàn đồng chủ biên (Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002) Đây là công trình đã tập hợp những nghiên cứu khá sâu sắc về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển con người và tạo nguồn nhân lực; với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự phát triển giáo dục - khoa học và công nghệ Bên cạnh những công trình tiêu biểu trên đã có một số đề tài, luận án, luận văn nghiên cứu về vấn đề

này, trong đó có các công trình tiêu biểu như: PTS Nguyễn Đình Lê: Biến đổi

cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc 1954 - 1975, Nxb Văn Hoá Thông Tin, năm

1992 PTS Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên): Cơ cấu xã hội trong quá trình

phát triển của lịch sử Việt Nam, Nxb văn hóa thông tin, năm 2001 PGS, TS

Đỗ Nguyên Phương (chủ biên): Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội

nước ta trong giai đoạn hiện nay, Nxb chính trị quốc gia, năm 1997 PGS, TS

Trần Phúc Thăng: Xu hướng biến động của cơ cấu xã hội giai cấp Việt Nam

trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, năm1992 PGS,

TS Bùi Văn Hạnh: Xu hướng biến động của giai cấp công nhân trong những

năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Lao động, năm 2003.TS,Đỗ Khánh Tặng: Đặc điểm

và xu hướng biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, năm1996 TS, Bùi Đình

Bôn: Giai cấp công nhân Việt Nam vai trò xu thế biến động về cơ cấu trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb văn hóa thông tin, năm 2007 PGS,

TS Dương Xuân Ngọc: Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005 PGS Cao Văn

Lượng(chủ biên): Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp

Trang 10

công nhân, Nxb Chính trị quốc gia năm 1999 PGS, TS Dương Xuân Ngọc: Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thành lực lượng đi dầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Lao động, năm 2004

GS, TS Trần Hữu Tiến: Vấn đề quan hệ xã hội giai cấp trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 1/1996;

PGS,TS Đỗ Nguyên Phương: Về sự phân tầng xã hội ở nước ta trong giai

đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, năm1994 GS,TS Hoàng Chí Bảo: Cơ cấu xã hội giai cấp ở nước ta lý luận và thực tiễn, Nxb Thông tin lý luận, năm

1992 Lê Ngọc Triết: Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp nông dân

ở Nam Bộ Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, năn 2002; Bùi Thị Thanh Hương: Đặc điểm và xu

hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luận

án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000

Quản Văn Trung: Sự biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp ở Việt Nam trong

quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

năm 1999 Nguyễn Chí Tâm: Giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh;

Đặc điểm và xu hướng biến động trong công cuộc đổi mới, Luận án thạc sĩ

Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998 Nguyễn Văn

Bang: Những biểu hiện mới của cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,

Luận án thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các công trình trên đây đã nghiên cứu nhiều mặt về giai cấp nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cơ cấu xã hội giai cấp, những vấn đề biến đổi của các giai cấp, các tầng lớp xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Trên cơ sở đó các tác giả đề xuất các giải pháp phát triển giai cấp công nhân với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 11

Ngoài ra, những nhà khoa học, những nhà quản lý đã có những công trình , những bài viết về vấn đề thực trạng của giai cấp công nhân Và các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người công nhân được đăng trên các tạp chí, các kỷ yếu khoa học…Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình

khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề “xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai”

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở: làm rõ những đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực trạng của giai cấp công nhân Đồng Nai, đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Phân tích làm rõ khái niệm về giai cấp công nhân, đăc điểm của giai

cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

- Phân tích làm rõ đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai

- Phân tích thực trạng của giai cấp công nhân ở Đồng Nai hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát triển giai cấp

công nhân ở Đồng Nai phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong thời gian tới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn này được thực hiện dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm cơ bản của đảng và nhà nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa Đồng thời, tham khảo các chủ trương, chính sách của tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng Nai trong

Trang 12

lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nguồn nhân lực, xây dựng giai cấp công nhân…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp: phương pháp lịch sử - lôgich, phân tích

- tổng hợp, thống kê, diễn dịch - quy nạp, so sánh và khái quát hóa

5 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ quá trình xây dựng và phát triển của giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Đồng Nai Luận văn xác định rõ quan điểm phát triển và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của giai cấp công nhân phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai trong những năm tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Những kết luận và kiến nghị của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề con người, vai trò của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của họ, cũng như phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Đồng Nai nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành của tỉnh Đồng Nai trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh cũng như năng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5tiết Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai cấp công nhân và đặc điểm của giai cấp công

nhân ở Đồng Nai Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề xây dựng, phát

triển giai cấp công nhân ở tỉnh Đồng Nai hiện nay

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN, VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở ĐỒNG NAI 1.1 QUAN NIỆM VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN

1.1.1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân

Trong giai đoạn hiện nay, sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

và Đông Âu, người ta lại thấy không ít những luận thuyết, những quan điểm khác nhau tấn công chủ nghĩa Mác - Lênin, hy vọng có thể hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin Những luận thuyết phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân lại được nở rộ ở nhiều nơi Người ta cố tình lập luận rằng, C Mác đã gắn cho giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có chỉ bởi vì ông thương nó là giai cấp nghèo khổ; rằng, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, đã trở thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung”, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; rằng, công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột nữa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa! …Có đúng là ngày nay giai cấp công nhân đã mất vai trò là lực lượng sản xuất hàng đầu nhân loại, có

sứ mệnh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội?

Khi đề cập đến giai cấp công nhân, C Mác và Ph Ăngnghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như những cụm từ đồng nghĩa, có nội hàm giống nhau để chỉ giai cấp công nhân như: “giai cấp vô sản”, “vô sản đại cơ khí”,

“vô sản đại công nghiệp”, “giai cấp những người lao động làm thuê của thế kỷ XIX”, “giai cấp công nhân hiện đại”…Các nhà kinh điển chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra giai cấp vô sản, giai cấp công nhân

là gì, mà quan trọng hơn, giai cấp này phải làm gì để tự giải phóng mình và giải phóng toàn bộ nhân loại?

Trang 14

Trong lời nói đầu của tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền

của Hêghen, C Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế - xã hội, và xu hướng phát

triển của giai cấp vô sản C Mác cho rằng: ở Đức giai cấp vô sản chỉ mới bắt đầu hình thành nhờ sự phát triển của công nghiệp Như vậy giai cấp vô sản ra đời gắn với công nghiệp, nó là sản phẩm của công nghiệp Về mặt xã hội, giai cấp vô sản nẩy sinh và hình thành trong quá trình tan rã của xã hội phong kiến chuyển lên chế độ tư bản chủ nghĩa, do sự phân rã của đẳng cấp trung gian

Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ xóa bỏ nó với tư cách là một giai cấp

Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C Mác đã phân tích mối quan hệ

giữa giai cấp vô sản và chế độ tư hữu Giai cấp vô sản là sản phẩm của chế độ

tư hữu và cũng là điều kiện tồn tại của chế độ tư hữu Chế độ tư hữu muốn duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của bản thân nó, thì nó phải duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của mặt đối lập với nó là giai cấp vô sản Chế độ tư hữu tìm được sự thỏa mãn cho bản thân mình là mặt khẳng định của sự đối lập Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là hai mặt đối lập của một chỉnh thể thống nhất - chế độ tư hữu Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới thủ tiêu sự tồn tại của bản thân mình với tư cách là giai cấp vô sản, do đó, tiêu diệt cả mặt đối lập với nó là chế độ tư hữu - đang chi phối và làm cho nó thành giai cấp vô sản

C Mác và Ph Ăngghen viết: “ Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì,

và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm

Trang 15

sinh giai cấp công nhân Công nhân công nghiệp là hạt nhân của phong trào công nhân Họ là những người nhận thức được rõ ràng nhất những lợi ích của bản thân mình Vì trình độ văn hóa của công nhân liên quan trực tiếp với mối quan hệ của họ với công ghiệp” [60]

Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ph Ăng

ghen đã định nghĩa giai cấp vô sản như sau: “Giai cấp vô sản là một giai cấp

xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào

số nhu cầu về lao động, tức là tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những cuộc biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX…giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra” [62]

Thật vậy, giai cấp vô sản ra đời là một quá trình lâu dài, từ tầng lớp vô sản đầu tiên đến vô sản công trường thủ công và giai cấp vô sản hiện đại Vào các thế kỷ XIV, XV, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành ở một số nước châu Âu, quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản diễn ra làm xuất hiện lao động làn thuê tư bản chủ nghĩa Lớp người lao động này từng bước bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, và tư liệu sinh hoạt chủ yếu, trở thành người tự

do bán sức lao động để kiếm sống Đó chính là những người vô sản đầu tiên

Từ cuối thế kỷ XVI-XVIII, cùng với sự ra đời và phát triển kiểu tổ chức sản xuất công trường thủ công, giai cấp vô sản công trường thủ công hình thành, song phần lớn họ còn mang nặng tư tưởng, tâm lý của người sản xuất nhỏ, chưa bị cột chặt và guồng máy sản xuất tư bản chủ nghĩa Cho nên, giai cấp

vô sản công trường thủ công chưa trở thành một lực lượng ổn định, độc lập trong xã hội Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX

Trang 16

đã tạo ra bước nhẩy vọt trong đời sống kinh tế - chính trị, xã hội, đánh dấu bước chuyển căn bản của chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn đại công xưởng, giai cấp vô sản hiện đại ra đời và nhanh tróng trở thành một lực lượng xã hội

to lớn Như vậy, sự ra đời của giai cấp vô sản gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp và chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ bản nền sản xuất thủ công Đúng như Ph Ăng ghen

đã viết: đại công nghiệp kéo người công nhân công trường thủ công ra khỏi những điều kiện gia trưởng của họ, họ mất hết mọi tài sản cuối cùng của họ và chỉ khi đó họ mới trở thành người vô sản … giai cấp vô sản là do cuộc đại công nghiệp sinh ra

Lần đầu tiên, C Mác và Ph Ăng ghen đã trình bày khái niệm giai cấp vô

sản tương đối đầy đủ trên các phương diện trong: Tuyên ngôn của đảng cộng

sản và có thể khái quát lại với một số điểm chủ yếu là:Thứ nhất, về nguồn

gốc kinh tế, giai cấp vô sản ra đời gắn với nền đại công nghiệp, là sản phẩm của chính bản thân nền đại công nghiệp, nền sản xuất xã hội hóa ngày càng

cao Thứ hai, về nguồn gốc xã hội, giai cấp vô sản được tuyển mộ từ tất cả các giai cấp khác nhau trong xã hội Thứ ba, những đặc trưng chủ yếu của giai

cấp vô sản hiện đại bao gồm: không có tư liệu sản xuất; về lợi ích cơ bản đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản; giai cấp vô sản là hiện thân của phương thức sản xuất tiên tiến; có tính quốc tế; tinh thần quốc tế vô sản; tính tiên phong;

tinh thần cách mạng triệt để; đoàn kết giai cấp; tính tổ chức kỷ luật cao Thứ

tư, bản chất quốc tế của giai cấp vô sản được quy định bằng quá trình quốc tế

hóa sản xuất công nghiệp…;đồng thời giai cấp vô sản có bản sắc dân tộc, gắn với mỗi dân tộc cụ thể, trở thành “giai cấp dân tộc” và chịu trách nhiệm trước

hết với dân tộc mình [62] Thứ năm, quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản

dẫn đến sự phân hóa trong giai cấp thống trị Một bộ phận nhỏ của giai cấp này - những nhà tư tưởng tư sản tiến bộ đã từ bỏ cuộc sống và thành phần giai

Trang 17

cấp xuất thân, vươn lên nhận thức được về mặt lý luận toàn bộ quá trính vận động lịch sử, tách khỏi giai cấp xuất thân, đi theo giai cấp vô sản, làm cho giai cấp vô sản ngày càng nhận thức rõ được sức mạnh và sứ mệnh lịch sử của

mình Thứ sáu, xu hướng phát triển giai cấp vô sản không ngừng tăng lên về

số lượng và chất lượng cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp

Cần nhấn mạnh rằng, khái niệm về giai cấp vô sản đã được C Mác và

Ph Ăngghen rút ra qua sự phân tích một cách sâu sắc từ địa vị kinh tế xã hội của giai cấp đó dưới chế độ tư bản trong những thập niên nửa đầu thế kỷ XIX Những kết luận ấy đã được thực tiễn lịch sử - xã hội đương thời chứng minh

là đúng đắn và khoa học

Những đặc trưng cơ bản của giai cấp vô sản dưới chế độ tư bản chủ nghĩa mà C Mác và Ph Ăng ghen nêu trên đã được V I Lênin tiếp tục làm

rõ, phát triển và khẳng định trong nhiều tác phẩm của mình

Từ thực tiễn lịch sử đầu thế kỷ XX, V I Lênin chỉ rõ vị trí giai cấp vô sản là giai cấp lãnh đạo của toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra một xã hội mới, trong cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp Ông viết: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan

hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sảm xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động

xã hội, như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải ít hoặc hiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó

có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định” [61]

Trước hoàn cảnh nước Nga sau cách mạng Tháng Mười, V I Lênin lại nhấn mạnh mặt bên trong và “tâm lý vô sản” của người công nhân làm cơ sở

Trang 18

để phân biệt giai cấp vô sản hiện đại với tầng lớp vô sản lưu manh vốn là sản phẩm của quá trình đổ vỡ và thối nát của xã hội cũ

Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: có thể diễn đạt những quan điểm khái quát và cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lê nin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải phóng toàn xã hội Sứ mệnh lịch sử đó biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, gắn với quá trình tổ chức, phát triển sản xuất xã hội với trình độ

khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại Đây là nội dung thường xuyên và trực tiếp nhất Tách rời sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử với những nội dung tiếp theo Đó là một nhận thức khoa học rút ra từ lịch sử thực tế hình thành, phát triển giai cấp công nhân Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không chỉ bắt đầu với nội dung “giành chính quyền và trái lại có nội dung rộng lớn hơn kể cả trước khi giành chính quyền Từ nội dung sản xuất hiện đại và đấu tranh cách mạng mới dẫn đến nội dung giành chính quyền” [62]

Hai là, thông qua đảng tiên phong của mình, giai cấp công nhân lãnh đạo

và tổ chức quá trình giành đấu tranh giành chính quyền về tay mình và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa (và các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột), đập tan chính quyền nhà nước của các chế độ cũ, thành lập chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo

Ba là, giai cấp công nhân thông qua đảng lãnh đạo của mình, tổ chức

thực hiện quá trình củng cố, bảo vệ chính quyền, bảo vệ đất nước và đồng thời xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, con người…,để từng bước hình thành xã hội xã hội

Trang 19

chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên thực tế ở mỗi nước và trên toàn cầu Đây là nội dung cơ bản, quyết định trong sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Vì thế chủ nghĩa Mác- Lênin đã luận giải một cách khoa học rằng: đó là những quá trình cải biến cách mạng căn bản, triệt để trên phạm vi quốc gia, quốc tế Đó là một nội dung rất mới mẻ và phức tạp, được thực hiện từng bước, lâu dài với yêu cầu ngày càng cao đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và nhất là đối với Đảng cộng sản, với nhà nước…cả về sức lực, trí tuệ, bản lĩnh và lập trường chính trị, nhân cách và phong cách của mình Nếu giai cấp công nhân coi nhẹ vấn đề này, mắc bệnh “tả khuynh”, hay “hữu khuynh”, “đốt cháy giai đoạn”, giản đơn, chủ quan, duy ý chí, thời kỳ quá độ

và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản sẽ khó khăn và kéo dài hơn

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do những điều kiện kinh tế, lịch

sử, chính trị - xã hội khách quan quy định từ khi nó hình thành và phát triển trong chủ nghĩa tư bản Sứ mệnh đó không hề xuất phát từ mong muốn chủ quan của giai cấp công nhân và đảng của nó; cũng không phải do bất kỳ tài trí của cá nhân nào “sáng tạo” ra Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mang tính quy luật khách quan trong sự phát triển tất yếu của nhân loại, như chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận chứng một cách khoa học, xuất phát từ thực tiễn cho rằng: đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, và sự sụp

đổ của giai cấp tư sản với thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau bởi những nguyên nhân sau đây:

Trước hết, xét về những điều kiện kinh tế - kỹ thuật thì nền công nghiệp

ngày càng hiện đại đã quy định nhiều đặc điểm của giai cấp công nhân và những đặc điểm vốn có đó mà giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử đã nêu trên Chính quá trình lao động và sản xuất gắn với các quy trình kỹ thuật hiện đại đã làm cho giai cấp công nhân có vị thế kinh tế -

Trang 20

xã hội và những đặc điểm riêng mà không giai cấp nào, tầng lớp nào có được Ngay cả khi so sánh với tầng lớp trí thức thì trí thức có thể vượt trội hơn giai cấp công nhân về trí tuệ khoa học do đặc trưng lao động trí óc của họ Nhưng với tất cả các đặc trưng như giai cấp công nhân thì trí thức không thể có Vả lại trí thức cũng không bao giờ đóng vai trò quyết định nhất trong sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội; trí thức càng không đại diện cho một phương thức sản xuất riêng, không có hệ tư tưởng riêng và một đảng chính trị riêng để có thể lãnh đạo cách mạng v v…nói như vậy không có nghĩa là tách rời, đối lập trí thức với công nhân Trái lại, trí thức bao giờ cũng gắn với giai cấp, nhất là giai cấp thống trị xã hội và nền sản xuất càng hiện đại bao nhiêu thì giai cấp công nhân và tầng lớp tri thức càng gắn bó với nhau hơn trong nền sản xuất đó Thực tế đã chứng minh rằng, ngày nay giai cấp công nhân nhiều nước đã có tầng lớp trí thức của mình và bản thân giai cấp công nhân cũng ngày càng có trí tuệ cao hơn

Thứ hai, cũng do nền công nghiệp hiện đại phát triển mà giai cấp công

nhân ngày càng được trang bị thêm nhiều tri thức mới, hiện đại cả về văn hóa

cơ bản, khoa học - kỹ thuật, tay nghề và chính trị - xã hội Đây cũng là yêu cầu khách quan đối với giai cấp công nhân trong quá trình sản xuất, hoạt động

xã hội và đấu tranh cách mạng Vì thế nền sản xuất hiện đại cũng quy định một cách khách quan giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới và có sứ mệnh lịch sử thay thế phương thức sản xuất cũ lỗi thời, xét về mặt kinh tế

Thứ ba, khi nền sản xuất hiện đại phát triển cùng với phong trào công

nhân và nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột trong chủ nghĩa tư bản, thì chính giai cấp công nhân luôn được bổ sung một lực lượng trí thức và những người lao động khác, giác ngộ, gia nhập giai cấp công nhân; thậm chí một số trí thức giác ngộ đã giúp giai cấp công nhân giác ngộ hệ tư tưởng, hiểu về sứ mệnh

Trang 21

lịch sử của mình, tiến tới để hình thành đảng tiên phong lãnh đạo phong trào

Đó cũng là quy định khách quan đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà không giai cấp, tầng lớp nào có được

Thứ tư, tính quy định khách quan, cơ bản nhất và mang ý nghĩa tổng hợp

cả về địa vị kinh tế lẫn về chính trị - xã hội đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là: ngay từ trong chế độ tư bản chủ nghĩa đã nẩy sinh mâu thuẫn cơ bản nhất, đó là mâu thuẫn về mặt kinh tế, giữa trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt chính trị - xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản Cả hai mặt của mâu thuẫn cơ bản này không thể giải quyết triệt để trong khuôn khổ chế độ tư bản chủ nghĩa, nên tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội chủ nghĩa như một yêu cầu khách quan để giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản ấy Việc lãnh đạo và tổ chức quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây

dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể là sứ mệnh lịch sử của

giai cấp công nhân và chính đảng của nó

Ph Ăng ghen khẳng định, hoàn thành được kỳ công đó là sứ mệnh lịch

sử của giai cấp vô sản hiện đại V I Lênin chỉ rõ: điều chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là người xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội chủ nghĩa Trong thời đại ngày nay, khi chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc và thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội xét trên phạm

vi toàn cầu thì những tiền đề, điều kiện khách quan và chủ quan mới nảy sinh tính quy luật đặc thù: có nhiều nước thuộc địa phụ thuộc chủ nghĩa đế quốc, chưa kinh qua chủ nghĩa tư bản mà còn là những nước lạc hậu về kinh tế, những nước “đang phát triển” vẫn có khả năng nổ ra cách mạng xã hội dưới hình thức cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đi lên chủ nghĩa xã hội,

Trang 22

không qua chế độ tư bản chủ nghĩa Ở các nước đó, tuy công nghiệp và phong trào công nhân còn chưa phát triển mạnh nhưng phong trào giải phóng dân tộc chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân quốc tế…vẫn có khả năng hình thành đảng Mác - Lênin để lãnh đạo cách mạng thành công Tính quy luật đặc thù đó đã được thể hiện qua cách mạng Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Cuba, Lào

và nhiều nước khác… Điều này cũng nằm trong tính tất yếu của quá trình

“lịch sử tự nhiên” chung là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội của cả thời đại Những nước “quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ” đó, đương nhiên có rất nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng cũng có rất nhiều thuận lợi, có thể rút ngắn quá trình lịch sử lâu dài bị áp bức bóc lột của đại đa số nhân dân lao động Tính chủ động, sáng tạo và sự kiên định, vững vàng qua thử thách của các Đảng Cộng sản và nhân dân ở các nước “quá độ bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa ” càng phải thể hiện ở lỗ lực cao hơn, tránh những sai lầm mang tính nguyên tắc để đi đến chủ nghĩa xã hội

Như vậy, những đặc trưng của giai cấp vô sản mà C Mác, Ph Ăng ghen

đã nêu ra và V I Lênin tiếp tục phát triển, khẳng định là phù hợp với điều kiện lịch sử ngày ấy Những đặc trưng cơ bản ấy từ đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị Nó là cơ sở phương pháp luận khoa học để cho chúng ta nghiên cứu về giai cấp công nhân hiện đại trong điều kiện lịch sử mới

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân

Xuất thân trong một gia đình nhà nho, nhưng Hồ Chí Minh sớm hòa nhập với đời sồng thợ thuyền, công nhân hóa trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Người làm nhiều nghề như một công nhân thực thụ, vừa để kiếm sống, vừa có điều kiện thâm nhập vào đời sống công nhân Từ khi được ánh sáng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lê nin chiếu

Trang 23

rọi, Hồ Chí Minh sớm có một tầm nhìn khoa học và cách mạng về giai cấp công nhân

Cũng như C Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin, Hồ Chí Minh vừa là nhà cách mạng, vừa là nhà khoa học Khi đã trở thành nhà cách mạng chuyên nghiệp, chất của nhà khoa học Hồ Chí Minh càng được tỏa sáng Đúng như Phạm Văn Đồng đã nhận xét: những ông thầy của chúng ta là bậc thầy ở chỗ những nhà khoa học lỗi lạc đó để lại cho chúng ta những nguyên lý, những luận điểm, những phương pháp giúp chúng ta đi sâu tìm tòi, nghiên cứu và phát hiện những bài toán nẩy sinh từ cuộc sống và tìm ra câu giải đáp Di sản

đó có giá trị to lớn, sâu xa và lâu dài ở chỗ nó không qua đi với thời gian, trái lại càng phát huy tác dụng, càng sinh hoa kết trái với diễn biến của lịch sử, của thời đại Bối cảnh những năm 20 đến những năm 60 của thế kỷ XX khi

Hồ Chí Minh nêu lên những luận điểm về giai cấp công nhân, so với ngày nay

đã có nhiều thay đổi lớn Nhưng học Hồ Chí Minh là học tinh thần xử trí mọi việc, học lập trường, quan điểm, phương pháp tư duy tiếp cận chứ không phải học thuộc lòng từng câu từng chữ một cách giáo điều, cứng nhắc

Trước hết, trong hoàn cảnh lịch sử giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm giai cấp công nhân một cách cụ thể: “tất cả những người không có

tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động mà sống là công nhân Bất kỳ họ là lao động trong công nghệ hay là trong nông nghiệp, bất kể họ làm nghề gì, cũng đều thuộc về giai cấp công nhân Chủ chốt của giai cấp ấy là những công nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm mỏ, xe lửa v v…những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông v v , cũng thuộc về giai cấp công nhân Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân” [71] Quan niệm này chủ yếu bàn tới giai cấp công nhân trong điều kiện làm thuê cho chủ tư bản, nhưng vẫn chứa đựng tinh thần quan niệm giai cấp công nhân theo cách hiểu

Trang 24

ngày nay của đảng ta Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành trung ương khóa X

khi bàn về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra khái niệm giai cấp công

nhân Việt Nam như sau: “giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã

hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [33]

Khái niệm giai cấp công nhân liên quan trực tiếp và gắn bó chặt chẽ với việc xác định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta xác định giai cấp công nhân nước ta là “giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp nông dân, với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức dưới

sự lãnh đạo của đảng” [33]

Ở Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy người lý giải sứ mệnh lãnh đạo của giai cấp công nhân hết sức khoa học Từ những năm 1920, khi giảng về

đường cách mệnh (1927), Hồ Chí Minh đã khẳng định: “cách mạng trước hết

phải có đảng cách mệnh” Khi đảng ra đời, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh: “giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo” Lý giải vì sao giai cấp công nhân lãnh đạo được cách mạng, Hồ Chí Minh viết: “Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là; kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật, lại là giai cấp tiên tiến nhất trong sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ

Trang 25

tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác - Lênin Đồng thời tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo ” [70]

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những sớm phát hiện vai trò, sứ mệnh lịch

sử của giai cấp công nhân, mà còn rất mực quan tâm tới việc xây dựng giai cấp công nhân Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Để xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà chúng ta cần phải tăng cường không ngừng sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nhà nước dân chủ nhân dân Liên minh công nông là nền tảng của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, giai cấp công nhân đoàn kết với những ngưởi thủ công và những người buôn bán nhỏ giai cấp công nhân đoàn kết chặt chẽ với giới trí thức để giúp họ hoạt động cách mạng, phục vụ chủ nghĩa xã hội Xây dựng giai cấp công nhân theo quan điểm Hồ Chí Minh là gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ “tất cả phục vụ sản xuất, để nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân” Người chỉ rõ: trong kháng chiến đảng ta nêu khẩu hiệu “tất cả cho tuyền tuyến” thì ngày nay khẩu hiệu của chúng ta là “tất cả cho phục vụ sản xuất”, chúng ta phải phấn đấu cho nền công nghiệp mau lớn mạnh, cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Triết lý phát triển xã hội Việt Nam của Hồ Chí Minh là gắn kết giữa phát triển kinh tế với chính trị, văn hóa xã hội, vì độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ của nhân dân Xây dựng giai cấp công nhân không nằm ngoài chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tức là chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần cho giai cấp công nhân, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa công nhân với nhà nước và toàn

xã hội

Trang 26

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao mọi mặt cho công nhân theo tinh thần “tri thức hóa công nhân” Người đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ công nhân trẻ có trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị Với tầm nhìn xa trông rộng về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, về hiện đại hóa tinh xảo của máy móc Hồ Chí Minh khuyên giai cấp công nhân phải cần cù chịu khó, khiêm tốn học tập để không ngừng nâng cao trình độ, kỹ thuật chuyên môn, nghiệp vụ Người chỉ ra rằng “dốt mới xấu, không biết mà đi học không xấu” Nhận thức rõ giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là người chủ

xí nghiệp, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở công nhân học tập chính trị, văn hóa

kỹ thuật để tiến bộ mãi Theo người, công nhân phải vừa làm vừa học, cán bộ chính trị phải học kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật phải học chính trị để trở thành những cán bộ toàn diện

Về việc bồi dưỡng lực lượng công nhân trẻ, Hồ Chí Minh căn dặn: “các chú phải nhớ công nhân trẻ tốt lắm, họ nghe và làm theo đảng, công đoàn và đoàn thanh niên Nhưng chúng ta phải tôn trọng họ, tin tưởng vào họ Thông qua những việc làm cụ thể mà giáo dục, bồi dưỡng cho họ về phẩm chất, đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của giai cấp công nhân, bồi dưỡng văn hóa, khoa học kỹ thuật, và kiến thức quản lý xí nghiệp cho họ, tạo điều kiện cho họ phát huy quyền làm chủ xí nghiệp là yếu tố quan trọng để đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật Làm cho họ vừa hồng vừa chuyên Đó là nhiệm vụ trước mắt và cả lâu dài nữa” [70]

Để giai cấp công nhân lớn mạnh, Hồ Chí Minh cho rằng đây là trách nhiệm của cả hệ thống chình trị, của toàn xã hội, trong đó sự lãnh đạo của đảng đóng vai trò quyết định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo giai cấp công nhân cho nên việc xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh về các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, văn hóa, đạo đức có ý nghĩa rất

Trang 27

quan trọng trong việc xây dựng giai cấp công nhân Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng giai cấp công nhân Vì công đoàn là trường học quản lý công nghiệp xã hội chủ nghĩa cho tất cả quần chúng công nhân, cho tất cả những người lao động Thông qua hoạt động của tổ chức công đoàn, quần chúng lao động có điều kiện tham gia rộng rãi vào toàn bộ sự nghiệp xây dựng nền kinh tế quốc dân, vào các kế hoạch sản xuất, phân phối Công đoàn là trường học, đồng thời là môi trường hoạt động thực tiễn giúp giai cấp công nhân hiểu rõ trách nhiệm, nâng cao năng xuất lao động…công đoàn là môi trường tốt giúp công nhân thực hành dân chủ, đoàn kết gắn bó, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển

Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung Ương khóa X (1/2008) về tiếp

tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến

năm 2020 là: “xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc, nhậy bén và vững vàng với những biến đổi của tình hình trong nước, có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết hợp tác quốc tế, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đão cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam…

Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước ngày càng được tri thức hóa: có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao” [33]

Trang 28

Mục tiêu trên đây mà đảng ta nêu lên là nhấn mạnh tinh thần chỉ đạo xây dựng giai cấp công nhân của tư tưởng Hồ Chí Minh đã phân tích ở trên, cũng hoàn toàn phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và kinh

tế tri thức trong kỷ nguyên toàn cấu hóa tạo ra cơ hội và thách thức đan xen cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Trong tình hình hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam phải được tiếp tục phát triển về số lượng, tăng cường về chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, văn hoá và nghề nghiệp trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

1.1.3 Đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

Với chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX, trước cả sự ra đời của giai cấp tư sản Việt Nam và là giai cấp trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự thống trị của đế quốc Pháp, một thứ chủ nghĩa tư bản thực lợi không quan tâm mấy đến phát triển công nghiệp ở nước thuộc địa, nên giai cấp công nhân Việt Nam phát triển chậm Mặc dù số lượng ít, trình

độ nghề nghiệp thấp, còn mang nhiều tàn dư của tâm lý và tập quán nông dân, song giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng ở nước ta do những điều kiện sau đây:

Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ

Trang 29

cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta: phong trào Cần Vương và cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, của Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, v v đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối

Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta Chính vào lúc đó, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm đường cứu nước đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy

ở chủ nghĩa Mác-Lênin “bí quyết thần kỳ” cho sự nghiệp giải phóng dân tộc

ta Từ đó, Người đã đề ra con đường duy nhất đúng đắn cho cách mạng Việt Nam - con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng

ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân

Từ đó giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Trang 30

Giai cấp công nhân Việt Nam, mà tuyệt đại bộ phận là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời chưa được bao lâu ngay cả khi nó chưa có Đảng mà đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống bọn tư bản thực dân và được nhân dân ủng hộ Cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn năm 1922 mà Nguyễn ái Quốc coi đó mới chỉ

là "do bản năng tự vệ" của những người công nhân "không được giáo dục và

tổ chức" nhưng đã là "dấu hiệu của thời đại" Năm 1927 có gần chục cuộc bãi công với hàng trăm người tham gia Năm 1928-1929 có nhiều cuộc bãi công khác với hàng nghìn người tham gia, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân xi măng Hải Phòng, sợi Nam Định, xe lửa Trường Thi (Vinh), AVIA (Hà Nội), Phú Riềng (Bình Phước) Những cuộc đấu tranh như thế không chỉ giới hạn trong công nhân mà còn tác động sâu sắc đến các tầng lớp khác, đặc biệt là đến giai cấp nông dân, các tầng lớp nhân dân lao động, thanh niên, sinh viên làm cho bọn thống trị thực dân hoảng sợ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta vào đầu năm 1930 của thế kỷ XX Đảng đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân, làm cho phong trào cách mạng nước ta có một bước phát triển nhảy vọt về chất Giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam Khi nói giai cấp công nhân lãnh đạo là nói đến toàn bộ giai cấp như một chỉnh thể chứ không phải từng nhóm, từng người Để có thể lãnh đạo, giai cấp công nhân phải có lực lượng, có tổ chức

Trang 31

tiêu biểu cho sự tự giác và bản chất giai cấp của mình Lực lượng đó là Đảng Cộng sản Xét về thành phần xuất thân thì nước ta có nhiều đảng viên không phải là công nhân Nhưng, bất cứ đảng viên nào cũng phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân thể hiện ở lý tưởng, ở lý luận Mác - Lênin và đường lối cách mạng, ở tinh thần kiên quyết cách mạng trong cuộc đấu tranh

để thực hiện sứ mệnh của giai cấp công nhân vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Điều này được Đảng ta khẳng định rất rõ: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động

và của dân tộc"[33] Đảng của giai cấp công nhân nước ta đã lãnh đạo toàn dân hoàn thành thắng lợi trọn vẹn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đây là nhiệm vụ lịch sử khó khăn, phức tạp nhất Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, đội ngũ công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc hoạt động sản xuất trong ngành công nghiệp và dịch vụ thuộc các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, hay thuộc khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, tạo thành một lực lượng giai cấp công nhân thống nhất đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Họ là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là cơ sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và Nhà nước ta, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân - nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, do hoàn cảnh hình thành, điều kiện kinh tế - xã hội quy định, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những nhược điểm (như số lượng còn ít, chưa được rèn

Trang 32

luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp ) Những điều đó không thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam Để khắc phục những nhược điểm ấy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng ta, một Nghị quyết gắn trực tiếp vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề xây dựng phát triển giai cấp công nhân đã chỉ rõ phương hướng xây dựng giai cấp công nhân nước ta trong giai đoạn hiện nay là:

"Cùng với quá trình phát triển công nghiệp và công nghệ theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xây dựng giai cấp công nhân phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, tư tưởng,

có trình độ học vấn và tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình" [29] Công cuộc đổi mới đất nước, định

hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Giai cấp công nhân đang đi đầu trong xây dựng xã hội mới, nhất là trong việc xây dựng cơ sở vật chất -

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Đó là bằng chứng chỉ rõ năng lực lãnh đạo nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân nước ta, không có lực lượng xã hội nào có

thể thay thế được "lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng một xã hội

mới, trong đó nhân dân lao động làm chủ, đất nước độc lập và phồn vinh, xoá

bỏ áp bức bất công, mọi người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm

no, tự do, hạnh phúc" [27] Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt chú trọng

phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: "Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ

Trang 33

và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước " [27]

1.2 ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI

1.2.1 Điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Đồng Nai

Vào đầu thế kỷ XVI, vùng đất miền Đông Nam Bộ nói chung, Đồng Nai nói riêng về cơ bản vẫn là vùng đất hoang sơ, chưa được khai phá Trên vùng đất đó các dân tộc Stiêng, Châu Mạ, Châu Ro, K’ho, M’nông sinh sống từ rất lâu đời, nhưng cho đến lúc bấy giờ dân số vẫn thưa thớt, kỹ thuật sảm xuất thô sơ và tổ chức xã hội thấp kém Ngoài các dân tộc bản địa trên, trong giai đoạn này Đồng Nai còn có người Khme sinh sống rải rác trong một số sóc nhỏ, nằm heo hút trên các vùng đất cao

Đến cuối thế kỷ XVI, vùng đất này mới sôi động với sự xuất hiện các dân cư người Việt từ Ngũ Quảng di cư vào Tiến trình nhập cư diễn ra liên tục trong thế kỷ XVII và các thế kỷ tiếp theo Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược, thiết lập hệ thống quản lý hành chính đầu tiên ở đất Đồng Nai và Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), tổ chức khai khẩn đất đai và ổn định trật tự xã hội

Việc Nguyễn Hữu Cảnh đặt nền móng hành chính năm 1698 đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mảnh đất Đồng Nai - Sài Gòn vùng đất phương Nam hoang sơ, xa xôi, sau hơn một thế kỷ đã trở thành vùng kinh tế phát triển sôi động, nhiều làng xã mới ra đời, thành lập các tổng, các huyện, các phủ Vào thời các chúa Nguyễn, cùng với các địa phương khác ở Nam bộ, vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã góp phần làm nên “vựa lúa lớn sứ Đàng trong ”, trở thành một trong những trung tâm kinh tế của vùng đất mới, chỗ dựa vững chắc cho chính quyền nhà Nguyễn Vùng đất này cũng chính là cái

Trang 34

nôi sản sinh ra các ngành nghề thủ công truyền thống, nổi tiếng phía Nam một thời như: gốm, đúc đá, dệt chiếu, dệt vải…

Sau khi bị thực dân Pháp chiếm đóng vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai trở thành miếng mồi béo bở cho ý đồ khai thác thuộc địa của thực dân Để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tăng cường xây dựng công trình kết cấu hạ tầng như: giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, điện nước, thành lập các công ty, xí nghiệp chế biến, khai thác nguyên liệu…cũng từ đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Biên Hòa - Đồng Nai có sự chuyển dịch lớn Các loại cây như: Cao Su, Cà phê, Tiêu, Điều…phát triển mạnh Kinh tế công nghiệp cũng bắt đầu manh nha và phát triển mạnh trong thời kỳ chiếm đóng của đế quốc Mỹ với sự xuất hiện của khu kỹ nghệ Biên Hòa, tiền thân của khu công nghiệp Biên Hòa I ngày nay

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân Đồng Nai với lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường đã anh dũng, kiên cường đi theo cách mạng, sát cánh cùng cả nước đứng lên chống giặc ngoại xâm Vùng đất Đồng Nai không ít lần chứng kiến những trận đánh vang dội như: trận La Ngà, sân bay Biên Hòa, tổng kho Long Bình, thành Tuy

Hạ, Xuân Lộc,…Biết bao con người của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã được sử sách ca ngợi như: Nguyên Đức Ứng, Đoàn Văn Cự, Nguyễn Văn Nghĩa, Huỳnh Văn Nghệ…Đồng Nai còn là căn cứ địa cách mạng quan trọng với chiến khu D, chiền khu Rừng Sác, khu hậu phương vững chắc của Miền Đông Nam Bộ, là căn cứ của Xứ Uỷ, Trung Ương Cục Miền Nam, Khu ủy Miền Đông, Tỉnh ủy Biên Hòa, góp phần quan trọng vào đại thắng mùa xuân 1975 Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa- Long Khánh và Tân Phú hợp nhất thành tỉnh Đồng Nai, bao gồm thành phố Biên Hòa, thị xã Bà Rịa và 8 huyện Qua nhiều lần thay đổi địa giới, đến năm

Trang 35

2004 Đồng Nai có một thành phố (thành phố Biên Hòa), một thị xã (thị xã Long Khánh), và 9 huyện (Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch,Long Thành, Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Thống Nhất Và Cẩm Mỹ)

Là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, Đồng Nai có diện tích tự nhiên 5 866,4km2 chiếm 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Dân số năm 2010 là 2 534 000 người với trên 30 dân tộc khác nhau cùng sinh sống, mật độ dân số gần 400/km2 Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết nối với ba vùng Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, có thể giao thương trong nước và quốc tế bằng đường biển, đường bộ và đường hàng không Đồng Nai có điều kiện địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao lưu thương mại

Nằm giáp thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm lan tỏa đô thị, công nghiệp

và dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh có điều kiện đầu tư hợp tác cùng thành phố Hồ Chí Minh phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn, sảm phẩm có hàm lượng công nghiệp và trình độ kỹ thuật cao Tiếp giáp với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu, một trung tâm công nghiệp, du lịch, đặc biệt là khu khai thác dầu trên biển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai có điều kiện phối hợp để thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là công nghiệp lấy nguyên liệu từ dầu mỏ và khí nhiên liệu, mở rộng không gian kinh tế về phía đông hội nhập và phát triển kinh tế ven biển của cả nước Đồng Nai có điều kiện thuận lợi để xây dựng cảng sông và giao lưu thương mại với trong nước và quốc tế bằng đường sông, đường biển

Nằm trên trục đường giao thông quan trọng, có các tuyến đường xuyên

Á, tuyến đường sắt Bắc - Nam , quốc lộ 1A xuyên Bắc-Nam, quốc lộ 20 nối khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên, quốc lộ 51 và quốc lộ 56

Trang 36

chạy từ Đông sang Tây nối các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước với

Bà Rịa - Vũng Tầu Đồng Nai có lợi thế phát triển giao lưu thương mại trong nước bằng đường bộ, trở thành đầu mối vận chuyển và trung tâm kho vận lưu thông hàng hóa giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với cả nước và nước ngoài Đồng Nai có lưu lượng nước phong phú, đảm bảo đủ cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh và cả miền Đông Nam Bộ Nguồn nước mặt rất phong phú, chủ yếu là nguồn nước sông Đồng Nai, với lưu lượng lớn nhất là 880m3/s, nhỏ nhất là 130m3/s, đảm bảo đủ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nước sinh hoạt các khu dân cư trên địa bàn

Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại: kim loại quý (vàng), kim loại mầu (bauxit), đá quý, vật liệu xây dựng, than bùn, nước khoáng và nước nóng… Đến nay, đã phát hiện hơn 200 mỏ và điểm khoáng sản, trong đó đáng chú ý là khoáng sản phục vụ xây dựng như: đá xây dựng, tập trung chủ yếu ở thành phố Biên Hòa và các huyện Thống Nhất, Xuân Lộc, Long Thành với tổng trữ lượng lớn (dự báo trên 300 triệu m3) Cát xây dựng tập trung chủ yếu ở sông Đồng Nai và một số sông khác với trữ lượng dự báo trên 38 triệu m3 Nguồn đất sét sản xuất gạch ngói khá phong phú phân bổ hầu hết ở các địa phương trong tỉnh, tổng trữ lượng trên 85 triệu m3…Như vậy, tài nguyên khoáng sản của tỉnh khá phong phú, đa dạng, đảm bảo đủ cung cấp cho nhu cầu phát triển trước mắt của công nghiệp và xây dựng của địa phương Tài nguyên rừng mang đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có thảm động thực vật khá phong phú, đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên Đó là điều kiện thuận lợi để tăng cường sinh thái, phát triển du lịch và khai thác kinh tế rừng

Trên cơ sở những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, với ý chí quyết tâm đồng thuận cao, đảng bộ, chính quyền nhân dân tỉnh Đồng Nai đã vượt qua những cản trở khó khăn, lỗ lực phấn đấu xây dựng Đồng Nai phát triển mạnh mẽ về

Trang 37

kinh tế - xã hội, đồng thời đưa Đồng Nai trở thành mắt xích quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Trong chặng đường đổi mới vừa qua, Đồng Nai đã đạt được nhiều thành tựu to lớn “Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân 13,2%/năm, trong

đó ngành công nghiệp, xây dựng tăng 14,4%/ năm, dịch vụ tăng 14,9% năm, nông lâm nghiệp thủy sản tăng 4,6%/ năm…cao hơn so với mức tăng trưởng 12,8%/ năm của giai đoạn 2001-2005 và cao gấp 1,5 lần mức tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

GDP bình quân đầu người (theo giá trị thực tế) đến năm 2010 đạt 29,6 triệu đồng (tương đương 1 629 USA) tăng gấp 2,1 lần năm 2005 Cơ cấu GDP theo ngành được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp- xây dựng từ 57% năm 2005 lên 57,2%/năm 2010 Dịch vụ từ 28% lên 34,1%

và giảm ngành nông lâm thủy sản từ 14,9% còn 8,7% vào năm 2010 Cơ cấu theo thành phần kinh tế chuyển dần theo hướng giảm dần tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước trong GDP (từ 24,7% năm 2005 xuống còn 19,2% năm 2010) và tăng tỷ trọng đóng góp trong GDP của khu vực kinh tế ngoài nhà nước(từ 75,3% lên 88,8%), trong đó tăng mạnh kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài (từ 39,1% lên 43,2%) Song song quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp từ 45% năm 2005 suống còn 30% năm 2010 Lao động phi nông nghiệp tăng lên từ 55% năm 2005 lên 70% năm 2010

Sản suất công nghiệp phát triển khá, theo hướng hiện đại năng lực xuất khẩu tăng mạnh Giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân 18%/ năm, trong

đó giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 83,3% Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tích cực với nhóm công nghiệp chủ lực trên 70% giá trị sản xuất toàn ngành

và đạt mức tăng trưởng 20%/năm, đồng thời phát triển một số ngành công

Trang 38

nghiệp công nghệ cao (sản xuất linh kiện điện tử, một số chi tiết của ô tô, máy nội soi thiết bị y tế, mỹ phẩm có chất lượng) ” [25]

Là địa phương đi đầu trong lĩnh vực xây dựng và phát triển khu công nghiệp, các khu công nghiệp của Đồng Nai phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài lẫn diện tích đất cho thuê

“ Việc quy hoạch khu công nghiệp được đẩy mạnh và có hiệu quả Trong 5 năm qua (2005-2010) đã phát triển thêm 10 khu công nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên đại bàn tỉnh đến nay là 30 khu với diện tích 9 076 ha Trong đó cho thuê được 60% diện tích, đang lập thủ tục thành lập khu liên hiệp công - nông nghiệp Donataba, khu công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học, khu đô thị công nghệ cao tại Long Thành, Cẩm

Mỹ, về phát triển cụm công nghiệp đến năm 2010 toàn tỉnh có 43 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2 123 ha Trong đó có 2 cụm công nghiệp đã đầu tư hoàn thiện, 6 cụm công nghiệp đang đầu tư hạ tầng, số còn lại đang trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng và lập thủ tục đầu tư Các khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển các ngàng công nghiệp, tạo động lực cho quá trình đô thị hóa, phát triển dịch vụ, đồng thời tạo điều kiện đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương ” [25]

Đồng Nai cũng là một trong số ít những địa phương thu hút được nhiều

dự án có quy mô lớn trên 100 triệu USD Vốn đầu tư nước ngoài thực sự trở thành nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển sản xuất, tạo nguồn thu nhân sách lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong những năm gần đây, cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ngày càng phát huy được lợi thế về khoa học - kỹ thuật và lao động Những vùng sản xuất chuyên canh tập trung, cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp, từng bước được hình thành

Trang 39

Kinh tế nông nghiệp phát triển theo xu hướng hàng hóa, gắn kết với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, công tác khuyến nông được tăng cường “giá trị sản xuất tăng bình quân 5,6%/năm, đã đạt được một số tiến bộ quan trọng trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phát triển tốt mô hình kinh tế trang trại, thực hiện có hiệu quả chương trình cơ giới hoá nông nghiệp, kiên cố hóa kênh mương phục vụ sản xuất sơ chế sản phẩm sau thu hoạch Hệ số sử dụng đất nông nghiệp tăng từ 1,27 lần năm 2005 lên 1,37 lần năm 2010, giá trị sản xuất bình quân 1ha đất nông nghiệp năm 2010

là 49,8 triệu đồng, tăng hơn 2,4 lần năm 2005 Hoạt động chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung và từng bước hiện đại chủ yếu theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, quy mô đàn gia súc, gia cầm hàng năm tăng” [40] Cùng với phát triển kinh tế, những bức xúc xã hội được tỉnh Đồng Nai giải quyết có hiệu quả, thể hiện tính ưu việt của chế độ và định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường Trong đó vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động luôn được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Trên cơ

sở đẩy mạnh kinh tế nhiều thành phần, mở rộng đào tạo nghề, thực hiện các chương trình kinh tế lồng ghép Tỷ lệ lao động được tạo việc làm năm sau luôn cao hơn năm trước, trong giai đoạn 2005-2010 bình quân mỗi năm tạo việc làm cho khoảng 85 000 lao động, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương Nhờ đó, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao So với cả nước thu nhập bình quân đầu người năm 2010 của tỉnh Đồng Nai khá cao: 29,652 triệu đồng, tăng gấp 2,7 lần so với năm 2004 Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 8,9% năm 2005 xuống còn 0,95% năm 2009 Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng được quan tâm với hệ thống cơ sở trường lớp, trang thiết bị dậy và học từng bước được hiện đại hóa, chất lượng giáo dục ngày càng được năng cao Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ cả về phòng và chữa bệnh Tỷ lệ xã,

Trang 40

phường có y bác sỹ đạt 100% năm 2004 Các chính sách xã hội đối với gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa được đảm bảo Trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với an ninh quốc phòng Mặc dù, những thành tựu mà Đồng Nai đã đạt được trong thời gian qua là to lớn nhưng bên cạnh đó còn những tồn tại cần khắc phục

Thứ nhất, quy mô nền kinh tế tăng nhanh nhưng chuyển dịch cơ cấu

trong nội bộ các ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tương đối chậm, chưa thể hiện rõ sản phẩm mũi nhọn của tỉnh đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, và cả nước Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ thấp so với tiềm năng cơ cấu các ngành dịch vụ phát triển chưa cân xứng Sản xuất nông nghiệp chưa chuyển dịch nhanh theo hướng tiếp cận ứng dụng công nghệ hiện đại, sản xuất nông sản xanh, sạch

Thứ hai, khu vực kinh tế trong nước trên địa bàn phát triển khá nhanh,

nhưng chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phối hợp cùng phát triển hiệu quả với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn

ít, những dự án lớn để tạo đột phá về phát triển các ngành công nghiệp, dịch

vụ mũi nhọn và kéo theo phát triển sản xuất ở địa phương

Thứ ba, sự nghiệp phát triển văn hóa - xã hội đạt nhiều kết quả tiến bộ,

song chưa theo kịp với nhịp độ phát triển kinh tế, còn hạn chế trên một số mặt như : đào tạo chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, các dịch vụ xã hội về văn hóa tinh thần, giáo dục - đào tạo, y tế ở khu vực nông thôn còn yếu và chưa đa dạng, điều kiện nhà ở và sinh hoạt cho người lao động ở các khu vực công nghiệp còn chưa đáp ứng đầy đủ

Thứ tư, tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được khắc phục kịp thời,

nhất là đối với nguồn nước sông Đồng Nai, ở khu vực đô thị tập trung và các

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w