Vì vậy, để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công, phát triển nền kinh tế thị trường đúng hướng cần phải huy động, tạo điều kiện, đánh giá đúng vai trò, vị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VIẾT TÀI
DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TP Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VIẾT TÀI
DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 602285
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS HỒ ANH DŨNG
TP Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Hồ Anh Dũng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình này
Tác giả
NGUYỄN VIẾT TÀI
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 9
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 10
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ DOANH NHÂN VÀ DOANH NHÂN VIỆT NAM 12
1.1 QUAN NIỆM VỀ DOANH NHÂN 12
1.1.1 Khái niệm doanh nhân 12
1.1.2 Đặc trưng, phẩm chất của doanh nhân 24
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIÊN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NHÂN VIỆT NAM 32
1.2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ doanh nhân Việt Nam 32
1.2.2 Một số đặc điểm của đội ngũ doanh nhân Việt Nam 45
Kết luận chương 1 56
CHƯƠNG 2 DOANH NHÂN VIỆT NAM VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 58
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ DOANH NHÂN 58
Trang 52.1.1 Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
58
2.1.2 Những yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với đội ngũ doanh nhân Việt Nam 65
2.2 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ DOANH NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 69
2.2.1 Vai trò của đội ngũ doanh nhân đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa 69
2.2.2 Thực trạng việc phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong những năm đổi mới 80
2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 94
2.3.1 Phương hướng phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 94
2.3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 98
Kết luận chương 2 114
KẾT LUẬN CHUNG 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đại hội lần thứ X (2006), Đảng ta nhận định: “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh” [31,17]
Với chủ trương đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy, nhất là
tư duy về kinh tế, Đảng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngọn gió đổi mới đã lan tỏa khắp xã hội Mọi rào cản về sản xuất trong cơ chế quan liêu, bao cấp được gỡ bỏ Sức sản xuất được giải phóng, lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển, đã huy động, khuyến khích mọi tầng lớp xã hội, các thành phần kinh tế tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Việt Nam là một nước mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, đi lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua chủ nghĩa tư bản, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần biết tiếp thu, kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm của các nước đồng thời phải có cách thức, bước đi sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cuộc cách mạng to lớn, toàn diện, sâu sắc Nó tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục…nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội,
Trang 7thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất tiên tiến
Bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm gần đây có những thay đổi khởi sắc Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững, các lĩnh vực khác của xã hội có bước phát triển khá toàn diện Đóng góp vào thành tựu chung đó có vai trò to lớn của đội ngũ doanh nhân Việt Nam
Doanh nhân Việt Nam - sản phẩm của công cuộc đổi mới đất nước Đội ngũ này đã trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử dân tộc Trong thời kỳ thực hiện cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp, doanh nhân bị kìm hãm, kỳ thị, bị coi thường, không có điều kiện phát triển Họ mới được hồi sinh từ khi có đường lối đổi mới của Đảng, bước đầu đang định hình với các phương thức kinh doanh đa dạng, phong phú và linh hoạt, vừa có những đóng góp tích cực, to lớn trên lĩnh vực kinh tế
Đội ngũ doanh nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, chiếm tỉ lệ nhỏ trong xã hội nhưng có tiềm lực, ưu thế, và những phẩm chất đặc trưng trong nền kinh
tế thị trường, vươn lên nắm bắt thời cơ để làm giàu cho bản thân và cho xã hội Những đóng góp của đội ngũ doanh nhân trong những năm gần đây được Đảng, Nhà nước công nhận, đánh giá cao và xã hội tôn vinh Song, không phải tất cả các tầng lớp nhân dân đã hiểu, thông cảm và đánh giá đúng về họ Không ít người vẫn còn coi doanh nhân như những kẻ gian đối, lọc lừa Một
bộ phận không nhỏ cán bộ chính quyền vẫn còn hạch sách, nhũng nhiễu gây khó dễ đối với doanh nhân trong các hoạt động kinh doanh
Đất nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều thay đổi Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu
Trang 8thế khách quan, đang cuốn hút tất cả các quốc gia vào dòng xoáy của nó Vì vậy, để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công, phát triển nền kinh tế thị trường đúng hướng cần phải huy động, tạo điều kiện, đánh giá đúng vai trò, vị trí của tất cả các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội, trong đó có đội ngũ doanh nhân nhằm phát huy cao nhất tất cả các nguồn lực
Đánh giá đúng vai trò, vị trí của đội ngũ doanh nhân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn quan trọng nhằm “tạo điều kiện phát huy tiềm năng và vai trò tích cực
trong phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư trong nước và ở nước ngoài; giải quyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng hóa Việt Nam” [31,119]
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Doanh nhân Việt Nam trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Doanh nghiệp, doanh nhân là đề tài được đề cập khá rộng rãi trên phạm
vi thế giới, nhất là các nước có nền kinh tế phát triển Ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, doanh nhân đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm trước, trên nhiều phương diện Kiến thức về doanh nhân được thể hiện ở một khối lượng rất lớn các ấn phẩm và được đưa vào chương trình giảng dạy của các trường, các khoa quản trị kinh doanh Nhiều công trình của các tác giả nước ngoài đã được dịnh ra tiếng Việt trong vài thập niên gần đây Có thể kể ra các tác phẩm
như: Bí quyết thành công của những doanh nhân hàng đầu thế giới (Bảo Trân dịch) Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2006; Bí quyết thành đạt của các nhà kinh
doanh nổi tiếng thế giới, Nguyễn Hữu Viêm (sưu tầm), Nxb.Văn hóa dân tộc,
Trang 9Hà Nội, 2006; 10 nhà kinh doanh lớn thế giới, Chu Dục Thiện, Phong Đảo
dịch, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003…
Ở Việt Nam, vấn đề doanh nghiệp, doanh nhân bước đầu được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây, nhất là từ khi có đường lối đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay
Kết quả của những công trình nghiên cứu về doanh nhân có ý nghĩa đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn Việt Nam trong những năm qua
Trong phạm vi những nội dung có liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát thành các hướng nghiên cứu cơ bản sau đây:
Hướng thứ nhất, tìm hiểu, nghiên cứu bàn về khái niệm doanh nhân
Có thể kể đến các công trình đó là: “Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam” của PGS.TS Đỗ Minh Cương, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 2009; “Bàn về
khái niệm doanh nhân Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Viết Lộc, Tạp
chí khoa học chính trị, số 5/2011; “Bàn về khái niệm doanh nhân” của Hồ Anh Dũng - Hồ Việt Hà, Tạp chí khoa học chính trị, số 1 / 2012; Đồng thời
còn nhiều bài viết bàn về doanh nhân trên các tạp chí kinh tế, tạp chí doanh nhân hoặc xen lẫn trong các nghiên cứu của các tác giả về doanh nhân Điểm chung của các nghiên cứu này là tập trung làm rõ khái niệm doanh nhân dựa vào những điểm phổ biến, có tính đặc trưng của doanh nhân để đưa ra khái niệm doanh nhân dưới nhiều góc độ nghiên cứu của các tác giả Theo hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu phân tích để đưa ra định nghĩa khái niệm,
mà chưa đề cập thật đầy đủ các nội dung liên quan đến sự hình thành, phát triển của doanh nhân, chưa bàn đến vai trò của doanh nhân Việt Nam đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hướng thứ hai, giới thiệu thân thế, sự nghiệp, con đường kinh doanh
của các doanh nhân nổi tiếng trong nước như: Doanh nhân Việt Nam thời kỳ
đổi mới của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị
Trang 10quốc gia, Hà Nội, 2003; Doanh nhân Việt Nam xưa và nay do Câu lạc bộ Doanh nhân xuất bản; Doanh nhân Việt Nam - Nụ cười và nước mắt, Lưu Vinh chủ biên, Nxb.Giao thông vận tải, Hà Nội, 2009; Chân dung doanh
nhân Việt Nam tiêu biểu của Mẫn Ngọc Anh, Trần Thị Việt Ánh, Đồng Thị
Ánh, Nxb.Thông tấn, HN, 2009; Doanh nhân Việt Nam xưa và nay - Nguyễn
Văn Bảy, Vũ Khiêu, Nguyễn Phú Bình, Nxb.Thông tấn, Hà Nội, 2006… Hướng nghiên cứu này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc tập hợp các bài viết
về gương doanh nhân tiêu biểu, thành đạt trong và ngoài nước
Hướng thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về vai trò, vị trí của doanh
nhân trong xã hội Một số công trình tiêu biểu như: Phát triển đội ngũ doanh
nhân Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 của PGS TS Hoàng Văn Hoa,
Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Luận án tiến sĩ của Đặng Danh Lợi với
đề tài “Phát triển đội ngũ doanh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Vai trò và vị thế mới của doanh nhân của Huỳnh Văn Minh, www.hiephoidoanhnghiep.com; Vị thế của doanh nhân Việt Nam hiện nay do PGS.TS Lê Quý Đức,www
doanhnhan360.com; vai trò, vị thế của doanh nhân trong xã hội của Phan Chánh Dưỡng trên www.vietnam.net ; Lực lượng doanh nhân đã đóng góp
quan trọng vào thành tựu chung của đất nước (Tạp chí cộng sản điện tử); Nhìn nhận về vị trí, vai trò của tầng lớp doanh nhân Việt Nam của Vũ Tiến
Dũng, Tạp chí mặt trận Tổ quốc điện tử …Nhóm công trình này nghiên cứu khá công phu, đánh giá khá toàn diện những đóng góp của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trên các lĩnh vực của xã hội từ năm 1986 đến nay, nhất là trên lĩnh vực phát triển kinh tế
Hướng thứ tư, phân tích chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước
Việt Nam đối với doanh nhân Đây là hướng nghiên cứu được các học giả, nhà kinh tế, doanh nhân quan tâm vì có tác động đến sự phát triển của doanh
Trang 11nhân Việt Nam trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Theo đó, các nghiên cứu ở hướng này tập trung làm rõ: Quá trình nhận thức của Đảng, Nhà
nước về doanh nhân qua các kì đại hội, nghị quyết của Đảng như Quan điểm
của Đảng về đội ngũ doanh nhân qua các văn kiện đại hội của Lê Thị Hồng
Điệp trên Tạp chí Cộng sản điện tử, Tư tưởng của Bác Hồ về doanh nghiệp,
doanh nhân và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ doanh nhân trong tình hình mới
của Vũ Tiến Lộc trên tạp chí diễn đàn doanh nghiệp điện tử; thứ hai, phân tích tác động của hệ thống chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước đối với quá
trình hình thành và phát triển doanh nhân Việt Nam Có thể tìm thấy ở Phát
triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 của PGS.TS
Hoàng Văn Hoa; thứ ba, các nghiên cứu đề xuất một số phương hướng, giải pháp cho việc phát huy vai trò của doanh nhân Vấn đề này, có thể tìm thấy khá nhiều trên các trang mạng điện tử, các tạp chí
Hướng thứ năm, công trình nghiên cứu về liên quan đến phát triển
doanh nhân như văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp Hướng nghiên
cứu này, có thể tìm được khá nhiều công trình như: “Văn hóa doanh nghiệp,
văn hóa doanh nhân trong quá trình hội nhập”, Đào Duy Quát, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Doanh nhân và văn hóa kinh doanh của Nguyễn Quang Vinh và Trần Hữu Quang, Nxb.Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, 2010; Văn
hóa doanh nghiệp nền tảng phát triển kinh tế doanh nghiệp thời kỳ 2011-2020 : lý luận và thực tiễn Phương Đông - Phương Tây của Lê Doãn Tá., Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh
nghiệp của Bùi Xuân Phong, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2009; Giáo trình đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp của Nguyễn Mạnh
Quân, Nxb Lao động - Xã hội, 2005…
Ngoài ra, trên các tạp chí lý luận, báo chí, mạng Internet có nhiều bài viết liên quan đến doanh nghiệp, doanh nhân trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Những đề tài, công trình nghiên cứu trên đã góp phần sáng tỏ cơ sở, lý luận, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, có khá ít các công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, phân tích vai trò, vị trí của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta và những yêu cầu
mà công cuộc đó đòi hỏi đối với đội ngũ này dưới góc độ chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
Trên cơ sở kế thừa, phát triển các công trình nghiên cứu đã có, tôi cố gắng góp phần làm rõ vai trò của đội ngũ doanh nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, phân tích thực trạng để tìm ra những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ này
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Nhiệm vụ của đề tài:
Để hoàn thành mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
- Một là, phân tích làm rõ khái niệm doanh nhân, doanh nhân Việt Nam, những phẩm chất đặc trưng của doanh nhân Việt Nam
- Hai là, phân tích đặc điểm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và những yêu cầu của quá trình này đối với đội ngũ doanh nhân Việt Nam; làm rõ vai trò của doanh nhân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
Trang 13đại hóa; thực trạng phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay
- Ba là, đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ doanh nhân trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đội ngũ doanh nhân Việt Nam và vai trò của nó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu doanh nhân là người Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam, hiện đang tiến hành kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam
Về mặt thời gian, đề tài chủ yếu nghiên cứu doanh nhân Việt Nam và vai trò của nó từ khi có đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận của đề tài:
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về doanh nhân, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vai trò của đội ngũ doanh nhân
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp như: phương pháp phân tích
- tổng hợp, phương pháp logic - lịch sử, so sánh đối chiếu Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các tư liệu điều tra xã hội học và các số liệu thống kê của các tác giả khác
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
niệm về doanh nhân, xây dựng lý luận khoa học về doanh nhân, về vai trò củađội ngũ doanh nhân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
doanh nhân Việt Nam với tư cách là một nguồn lực xã hội quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội ở nước ta Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học, cho sinh viên chuyên ngành triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học và những đối tượng khác quan tâm đến vấn đề doanh nhân
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu 2 chương, 5 tiết
Trang 15CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ DOANH NHÂN VÀ DOANH NHÂN VIỆT NAM
1.1 QUAN NIỆM VỀ DOANH NHÂN
1.1.1 Khái niệm doanh nhân
Sau 25 năm tiến hành đổi mới đất nước và mở cửa hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa to lớn trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa và xã hội Những thành tựu đó có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ doanh nhân Việt Nam
Doanh nhân Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nước nhà Việc nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo…về doanh nhân chỉ thực sự bắt đầu từ khi có đường lối đổi mới năm 1986 đến nay
Vậy doanh nhân là gì? Đây là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp trong xã hội hiện nay Song, khái niệm doanh nhân còn nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh, có tính thống nhất, đầy đủ về doanh nhân
Ở Việt Nam, doanh nhân là một khái niệm còn khá mới mẻ và được đề cập nhiều trong thời gian gần đây do sự phát triển mạnh mẽ của đội ngũ này Trên phạm vi thế giới, thuật ngữ doanh nhân được đề cập khá sớm và được sử dụng tương đối rộng rãi Trong tiếng Anh, doanh nhân thường hay được sử dụng bằng các từ như: businessperson, businessman…Theo cuốn từ
điển ngôn ngữ tiếng Anh thì doanh nhân được tiếp cận theo hướng: thứ nhất,
họ là những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh Họ có thể là người
chủ, giám đốc hoặc quản lý cao cấp của một công ty, doanh nghiệp; thứ hai,
doanh nhân là người có các tố chất cần thiết để hoạt động kinh doanh thành công đem lợi nhuận cho công ty và cho cá nhân[99,59]
Trang 16Từ điển tiếng Anh hiện đại Ốcxfod lại cho rằng doanh nhân là những người tham gia vào các hoạt động thương mại, đặc biệt là ở các vị trí cấp cao Còn theo từ điển tiếng Anh kinh doanh của Long - man thì doanh nhân được hiểu là người tổ chức các nhân tố sản xuất, đất đai, lao động, vốn để sản xuất và bán hàng hóa để thu về lợi nhuận; doanh nhân thường là những người chủ, người tổ chức, quản lý, cung cấp tài chính cho một tổ chức thương mại hay công nghiệp để tạo ra lợi nhuận; doanh nhân là người mà thông qua các hoạt động kinh doanh để trở thành những nhà lãnh đạo kinh tế thế giới[100,83]
Các nhà kinh tế học phương Tây như A-đam Sờ mít, Giên-Báp-tít-Say, Ri- các Can-ti-lơn, Phờ-răng Cờ-lai…cũng đưa ra khái niệm doanh nhân dưới các góc độ tiếp cận khác nhau Điểm chung khi bàn về khái niệm doanh nhân giữa họ là xem doanh nhân là người kết hợp các yếu tố sản xuất và tổ chức quá trình sản xuất, kinh doanh để tạo ra những giá trị mới cao hơn, không phân biệt hình thức sở hữu, loại hình và quy mô kinh doanh Khái niệm doanh nhân theo các nhà kinh tế trên là sự gắn bó mật thiết với ba yếu tố: là người chấp nhận rủi ro, dám mạo hiểm; là nhà tổ chức sản xuất, kinh doanh và là người cải cách, luôn đổi mới, sáng tạo Họ là những người cố gắng tạo ra những giá trị mới cho xã hội, có bản lĩnh trong kinh doanh
Theo từ điển Bách khoa mở Wikipedia, doanh nhân được hiểu “là
những người chủ chốt trong việc quản trị, điều hành một doanh nghiệp Đó
có thể là những người đại diện cho các cổ đông, cho các chủ sở hữu (thành viên Hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, ban kiểm soát) hoặc trực tiếp điều hành các doanh nghiệp (thành viên Ban giám đốc) Hiểu theo nghĩa rộng, doanh nhân là những người có vị trí trong một doanh nghiệp và làm công việc quản trị trong doanh nghiệp Họ là những người: có năng khiếu
Trang 17đặc biệt về kinh doanh; có kỹ năng đặc biệt về kinh doanh; có kinh nghiệm phong phú để ứng dụng trong kinh doanh” [98]
Tóm lại, các nhà nghiên cứu nước ngoài, nhất là các nhà nghiên cứu phương Tây có quan điểm thống nhất rằng “doanh nhân” được gắn liền với doanh nghiệp Bởi doanh nghiệp là hình thức tổ chức kinh doanh chủ yếu và phổ biến ở các nước phát triển Do vậy, doanh nhân được nhận diện và phân biệt với những người làm nghề kinh doanh khác như nhà quản trị, thương gia…bởi các yếu tố như khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, tinh thần dám chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo và đổi mới đến những thành quả trong sản xuất
và kinh doanh có tính bền vững
Ở Việt Nam trước đây, người ta thường hay gọi những người làm kinh doanh là các ông chủ, “thương gia”, “lái buôn” “giới công thương”, “giới chủ”, hoặc các “chủ doanh nghiệp”, hay “nhà tư sản” để nói về doanh nhân Doanh nhân Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, khái niệm doanh nhân chưa được các nhà
lý luận nghiên cứu một cách có hệ thống Điều này do một số nguyên nhân như: Việt Nam xuất phát từ một nền sản xuất tiểu nông, nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển, nặng tính bao cấp; do ảnh hưởng quan niệm của xã hội trước đây thường coi thương nhân, những người làm kinh doanh thuộc hạng thấp kém nhất trong xã hội ở nấc thang thấp nhất trong bốn tầng lớp cơ bản: “sĩ, nông, công, thương” Do vậy vai trò, vị trí của doanh nhân chưa được coi trọng Trong thời kỳ bao cấp, do chúng ta nhận thức chưa đúng về mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội khi tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế tư bản tư nhân Chúng ta đã vấp phải sai lầm là tìm mọi cách để hạn chế, đi đến xóa bỏ thành phần kinh tế này Vì vậy, không những không phát huy mà còn làm mất dần đội ngũ doanh nhân trong một thời gian khá dài Chỉ từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước,
Trang 18nhận thức rõ tính tất yếu và vai trò của nền kinh tế thị trường đối với sự phát triển của đất nước thì chúng ta mới dần nhận thức đúng vai trò của đội ngũ doanh nhân
Thuật ngữ doanh nhân chỉ mới được xuất hiện và được đề cập nhiều trong những năm gần đây với nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau
Cách tiếp cận thứ nhất, định nghĩa doanh nhân theo tiêu chí nghề nghiệp của họ trong xã hội
Một số quan điểm hiểu một cách đơn giản cho rằng doanh nhân là từ ghép của chữ “doanh” theo nghĩa Hán Việt là kinh doanh và chữ “nhân” có nghĩa là người Vì vậy, doanh nhân có nghĩa là người kinh doanh Hoặc một
số lại cho rằng “doanh” là lãi, “doanh nhân” là người kiếm lời
Hoặc một số nhà nghiên cứu về khái niệm này dựa vào sự giải thích từ
doanh nhân trong các từ điển Trong “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ
biên, doanh nhân được định nghĩa là “người làm nghề kinh doanh” [58,218] Định nghĩa này mang tính chung chung, khó phân biệt doanh nhân với những lực lượng khác cũng tham gia kinh doanh, mua bán trong xã hội
Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân, từ “doanh” được
hiểu theo ba nghĩa: thứ nhất là lo toan; thứ hai là đầy đủ và thứ ba là biển lớn Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất thì doanh nhân có nghĩa rất rộng bao gồm tất cả những ai biết lo toan làm ăn Vì vậy mà không phân biệt được doanh nhân với những dạng người khác cùng hoạt động trong lĩnh vực kinh tế Còn nghĩa thứ hai và ba thì không phù hợp
Cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, doanh nhân là người làm
nghề tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho thị trường, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng Doanh nhân xuất hiện và tồn tại trong lịch sử loài người cùng với sản xuất hàng hóa và thị trường
Trang 19So với những cuốn từ điển trên thì cách định nghĩa doanh nhân của từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học có phần sát hơn khi doanh nhân được hiểu là những người làm nghề kinh doanh với mục đích sinh lợi[90,529] Như vậy, có thể thấy rằng với cách định nghĩa doanh nhân theo giải nghĩa từ nguyên sẽ không sát và chưa phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ
Cách tiếp cận thứ hai, doanh nhân gắn với quan hệ về sở hữu, quản
lý, điều hành doanh nghiệp
Trong cuốn Doanh nghiệp, dân doanh phát triển và hội nhập, tác giả
Vũ Quốc Tuấn cho rằng doanh nhân là người trực tiếp điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, họ có trách nhiệm kinh doanh những tài sản được giao (hoặc của bản thân họ) làm ra được nhiều lợi nhuận, đồng thời họ cũng có quyền hạn cao nhất trong việc điều hành các hoạt động của doanh nghiệp, đương nhiên họ được hưởng những thù lao tương xứng với
sự cống hiến của họ để ràng buộc trách nhiệm với lãi, tài sản mà họ được hưởng và kích thích động cơ làm ăn lâu dài của họ” [87,305]
Khi bàn về thành phần của đội ngũ doanh nhân, Vũ Quốc Tuấn viết:
“Tầng lớp doanh nhân nước ta bao gồm doanh nhân trong các doanh nghiệp
nhà nước, trong doanh nghiệp thuộc kinh tế dân doanh, từ người chủ hộ kinh tế gia đình, chủ trang trại, chủ nhiệm tổ sản xuất, hợp tác xã…đến giám đốc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gọi chung là doanh nhân” [87,306]
Doanh nhân, theo quan niệm của Vũ Quốc Tuấn là khái niệm bao gồm
cả chủ sở hữu và người quản lý Nhưng ở khái niệm này cho rằng “họ có quyền cao nhất trong việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp” chỉ đúng khi mà giám đốc doanh nghiệp vừa là chủ tịch công ty (chủ tịch hội đồng quản trị) còn trái lại thì chưa hợp lý Mặt khác, trong khái niệm này cũng chưa
đề cập một số phẩm chất nổi bật của đội ngũ doanh nhân như chấp nhận rủi
Trang 20ro, mạo hiểm Trên tạp chí Chuyện Doanh nhân, tác giả Phạm Chánh Dưỡng
cho rằng “Doanh nhân là người chịu trách nhiệm điều hành doanh nghiệp
Doanh nhân có thể là chủ sở hữu hay là người đứng đầu trong các khâu tổ chức quản lý, sản xuất, kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp, với trách nhiệm tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp dưới mọi hình thức để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong các điều kiện môi trường kinh tế nhất định” [24,20] Ở
quan niệm này tính hợp lý đã được đề cập ở khía cạnh doanh nhân là người sở hữu, người điều hành doanh nghiệp
Theo Huỳnh Bửu Sơn, doanh nhân là “những người tham gia sở hữu và
điều hành doanh nghiệp, tham gia vào việc lấy và thực hiện những quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp đều có thể xem là những doanh nhân”[71] Ở quan niệm này, khía cạnh chủ
sở hữu và điều hành, quản lý doanh nghiệp của doanh nhân đã được đề cập nhưng chưa bao quát được doanh nhân phải là chủ thể lãnh đạo có trách nhiệm tạo ra lợi nhuận và chấp nhận rủi ro của doanh nhân Đó là những đặc trưng, phẩm chất của doanh nhân
Trong luận án với đề tài “Phát triển đội ngũ doanh nhân ở thành phố
Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tác
giả Đặng Danh Lợi quan niệm doanh nhân là “người lãnh đạo, quản lý, điều
hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận từ nguồn lực của các tổ chức kinh tế, đại diện và chịu trách nhiệm cho các tổ chức đó trước xã hội và pháp luật Họ là chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, chủ doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp, chủ tịch kiêm giám đốc công ty hoặc có thể là chủ tịch công ty” [50,18] Quan niệm trên đã bao quát khá đầy đủ các yếu tố cơ
bản về doanh nhân Tuy nhiên, quan niệm trên cũng chưa đề cập đến những phẩm chất đặc biệt mà doanh nhân có được
Trang 21Cách tiếp cận định nghĩa doanh nhân theo những đặc trưng nghề nghiệp, địa vị hoặc những phẩm chất của họ
Theo tác giả Lê Quý Đức thì doanh nhân phải được nhìn nhận từ phương diện đạo đức, tôn vinh họ với một giá trị xã hội Ông quan niệm đạo đức của doanh nhân là “đem lại lợi ích cho con người và xã hội”[85,180] Quan niệm như trên khi nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức, uy tín của doanh nhân mà chưa đề cập đến đặc trưng nghề nghiệp sẽ rất khó để nhận diện được doanh nhân là ai trong điều kiện ở nước ta
Một số nhà nghiên cứu khác nhận diện doanh nhân với tư cách là một tầng lớp xã hội mới có đặc điểm như là một chuyên gia quản lý kinh doanh; là một nhà trí thức; thuộc lớp trẻ tuổi như nghiên cứu của Vũ Quốc Tuấn[95] và tác giả Ngọc Quang cho rằng “doanh nhân là một bộ phận đặc thù của trí thức: trí thức - doanh nhân”[66] Với cách hiểu như vậy là chưa đầy đủ, chưa bao quát hết bởi vì doanh nhân có nguồn gốc xuất thân khá đa dạng từ nhiều giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Trong đề án trình Bộ chính trị thảo luận để ban hành nghị quyết về
“Phát huy vai trò của doanh nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế”, phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam đã đề
xuất khái niệm doanh nhân “là người chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh khác; sáng tạo, dám chấp nhận mạo hiểm, có trách nhiệm xã hội; là lực lượng chủ yếu tạo lập và phát triển một mô hình tổ chức kinh doanh mới, đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại” Ở khái niệm này khá hoàn chỉnh về doanh nhân Họ là những người trực tiếp quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các loại hình kinh tế khác, có
Trang 22những phẩm chất đặc biệt trong kinh doanh, đại biểu cho một lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế thị trường
Qua các quan niệm trên thấy rằng, doanh nhân được xem xét dưới nhiều phương diện khác nhau và có thể tóm tắt các ý kiến khác nhau về khái niệm doanh nhân như sau:
Thứ nhất, doanh nhân là người làm nghề kinh doanh, là các chủ hộ kinh
tế gia đình, chủ trang trại, chủ nhiệm các tổ sản xuất, các hợp tác xã, giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và thành viên hội đồng quản trị các loại hình doanh nghiệp (cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân)
Thứ hai, doanh nhân là người sở hữu và trực tiếp điều hành doanh
nghiệp, người quyết định hoặc tham gia trực tiếp các hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp
Thứ ba, doanh nhân là người lãnh đạo doanh nghiệp bao gồm tổng
giám đốc, giám đốc, chủ tịch và thành viên hội đồng quản trị, là người đại diện cho doanh nghiệp trước pháp luật và xã hội, dù người đó có là chủ sở hữu doanh nghiệp hay không
Thứ tư, doanh nhân là những người có năng lực, kỹ năng kinh doanh,
biết tạo ra nhiều lợi nhuận
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu các khái niệm trên, tôi quan niệm về doanh
nhân dưới góc độ của chủ nghĩa xã hội khoa học như sau: “Doanh nhân là
một lực lượng xã hội ra đời và phát triển trong nền kinh tế thị trường Đó
là những người trực tiếp quản lý, điều hành, lãnh đạo doanh nghiệp hoặc được cử, được thuê để quản lý doanh nghiệp nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận Họ là những người có khát vọng, ý chí làm giàu cháy bỏng, dám chấp nhận rủi ro, có đầu óc sáng tạo, tích cực tìm kiếm cơ hội làm giàu trong sản xuất, kinh doanh và có trách nhiệm với xã hội”
Khái niệm trên đây về doanh nhân bao gồm các nghĩa sau:
Trang 23Thứ nhất, doanh nhân được nhìn nhận như một lực lượng xã hội có vai
trò, vị trí như các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Họ là một bộ phận hợp thành trong cơ cấu xã hội - giai cấp
Thứ hai, khái niệm này cũng chỉ ra nguồn gốc, sự hình thành của doanh
nhân Đó là nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa Không có kinh tế thị trường thì không có doanh nhân
Thứ ba, doanh nhân thuộc cộng đồng những người làm nghề kinh
doanh với mục đích lợi nhuận để phân biệt với các đối tượng kinh tế khác và cũng tránh được sự quá rộng Do vậy, doanh nhân phần lớn sẽ là những người trực tiếp lãnh đạo, quản lý, điều hành doanh nghiệp như giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị…( bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác)
Thứ tư, doanh nhân là đại biểu cho lực lượng sản xuất mới trong nền
kinh tế thị trường Họ là những người có năng lực, phẩm chất nổi bật trong sản xuất, kinh doanh Họ dám chấp nhận rủi ro, mạo hiểm, sáng tạo với mục đích tạo ra nhiều lợi nhuận làm giàu cho cá nhân, doanh nghiệp và có tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng xã hội
Hiện nay ở nước ta, có nhiều khái niệm liên quan đến khái niệm doanh nhân Nhìn nhận dưới góc độ triết học, có thể thấy, nội dung của khái niệm doanh nhân có sự tương đồng cũng như đan xen với một số khái niệm như: thương nhân, nhà kinh doanh, nhà quản lý, giám đốc doanh nghiệp…
Thương nhân: Thương nhân là từ Hán Việt, trong đó “thương” là
thương nghiệp, trao đổi và mua bán hàng hóa và “nhân” là người Như vậy, thương nhân là khái niệm chỉ một lớp người hoạt động trong lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng hóa, xúc tiến thương mại, đầu tư và cung ứng dịch vụ Hoạt động của lớp người này nhìn chung là tách khỏi hoạt động sản xuất
Trang 24Ngày nay, quan niệm về thương nhân theo nghĩa rộng hơn Từ điển tiếng Việt (1998) định nghĩa: “thương nhân là người làm nghề buôn bán”
Điều 6 khoản 1 Luật thương mại (2005) có nêu: “Thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”[51] Theo cách
định nghĩa này, thương nhân tồn tại với hai tư cách: cá nhân và một tổ chức kinh tế Khái niệm thương nhân chỉ một bộ phận hoạt động trong lĩnh vực thương mại như mua và bán; lưu thông và phân phối Xét về mặt lịch sử, thương nhân thường là bộ phận xuất hiện sớm nhất trong giới doanh nhân
Thương gia: là khái niệm thường dùng để chỉ những thương nhân lớn,
thành đạt mà gia đình hay dòng họ có truyền thống kinh doanh, buôn bán
Doanh gia: Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì doanh gia là
“nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh lớn, có tiếng tăm”
Như vậy, có thể nói rằng những khái niệm “thương nhân”, “thương gia” và “doanh gia” khác nhau nhưng có quan hệ gần với khái niệm “doanh nhân” “Thương nhân”, “thương gia” và “doanh gia” được phân biệt một cách tương đối với nhau và đều có thể được coi là doanh nhân
Nhà kinh doanh: Khái niệm này có thể được hiểu là người làm công
việc kinh doanh mà “kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [52]
Theo từ điển kinh doanh của Long - man (Anh) thì nhà kinh doanh là người điều hành công việc hay được thuê để thực hiện công việc kinh doanh,
là người chủ sở hữu hay sở hữu một phần doanh nghiệp [100]
Từ điển tiếng Anh thương mại Ốcxfod cho rằng nhà kinh doanh là người thực hiện công việc kinh doanh, là người quản lý một doanh nghiệp
Trang 25Từ một số quan niệm trên, có thể thấy nhà kinh doanh là người thực hiện công việc kinh doanh để kiếm lời, họ có thể là chủ sở hữu hay sở hữu một phần doanh nghiệp
Nhà quản lý được hiểu là “người thực hiện việc kiểm soát hay đưa ra
các quyết định đối với các doanh nghiệp hoặc tổ chức” hay nhà quản lý là
“người điều hành, chỉ đạo, chịu trách nhiệm đối với một doanh nghiệp hay một tổ chức”
Tại điều 3, khoản 12 Luật doanh nghiệp của Việt Nam định nghĩa:
“người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên
hợp danh, thành viên Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên Hội
đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc)”[52]
Có thể thấy rằng, nhà quản lý doanh nghiệp là người thực hiện chức năng quản lý một doanh nghiệp cụ thể Họ tổ chức, phối hợp các bộ phận riêng lẻ thành một cơ cấu thống nhất, hoàn chỉnh, hợp lý nhằm phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thuận lợi, có lợi nhuận cao cho công ty
Chủ doanh nghiệp: Theo Từ điển kinh doanh Long - man (Anh) thì chủ
doanh nghiệp là “người tổ chức các yếu tố sản xuất, đất đai, vốn để sản xuất
và bán sản phẩm nhằm mục đích thu lợi nhuận Chủ doanh nghiệp là người tổ chức, tài trợ và quản lý các tổ chức thương mại để kiếm lời”; còn theo giáo sư
Vũ Thế Phú, chủ doanh nghiệp có thể coi là “những người tạo lập một doanh
nghiệp, làm chủ sở hữu và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nhà doanh nghiệp là những người có sáng kiến, dám mạo hiểm, chấp nhận sự rủi ro trong kinh doanh Chính họ là những người tạo nên sức sống cho một doanh nghiệp” [61,17]
Ở nước ta, theo cách hiểu truyền thống chủ doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp, tự bỏ vốn, thuê (hay huy động) các nguồn lực để thực hiện công việc sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ nhằm thu lợi nhuận Điều này cho
Trang 26thấy rằng, người làm công tác quản lý (hay quản trị) doanh nghiệp dù ở mức
độ nào mà chỉ là người làm công ăn lương và chỉ bỏ vốn ra cho vay kiếm lời thì không được gọi là nhà doanh nghiệp Nhà doanh nghiệp phải là những người sáng lập ra doanh nghiệp bằng các nguồn lực có thể có và tổ chức quản
lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Giám đốc doanh nghiệp là khái niệm để chỉ rõ tính chất của công việc
đó là tổ chức, quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, nó không phân biệt tính chất sở hữu Giám đốc doanh nghiệp có thể hoạt động trong khu vực kinh tế tư nhân hay kinh tế nhà nước
Điều 41 Luật doanh nghiệp định nghĩa: “Giám đốc công ty là người
điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” [52]
Theo điều 23, khoản 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước định nghĩa: “Giám
đốc là người điều hành công ty, đại diện theo pháp luật của công ty và chịu trách nhiệm trước người bổ nhiệm, người ký hợp đồng thuê và trước pháp luật thực hiện các quyền, nhiệm vụ được giao” [53]
Theo những cách hiểu trên có thể thấy, giám đốc doanh nghiệp là một khái niệm để chỉ tính chất, loại hình công việc, không phân biệt tính chất sở hữu Họ có thể vừa là chủ sở hữu vừa là người làm thuê vì “chủ doanh nghiệp
tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh”
Như vậy có thể nói rằng, các khái niệm như chủ doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp hay nhà doanh nghiệp là những khái niệm có nội dung tương đồng với khái niệm doanh nhân
Trang 271.1.2 Đặc trưng, phẩm chất của doanh nhân
Doanh nhân vừa được coi là sản phẩm vừa là chủ thể trung tâm của nền kinh tế thị trường Do mỗi quốc gia trên thế giới với những điều kiện kinh tế -
xã hội, lịch sử, văn hóa khác nhau Vì vậy mà nhận thức về đặc trưng, phẩm chất của doanh nhân không đồng nhất Song, dựa trên cơ sở nhận thức chung doanh nhân là người lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh và biết chấp nhận rủi ro để có thể thắng trong cạnh tranh, mở rộng thị trường, thu được nhiều lợi nhuận thì có thể thấy những điểm chung trong nhận thức về đặc trưng, phẩm chất của doanh nhân Doanh nhân đích thực ở bất kỳ nền kinh tế thị trường nào cũng thường có những đặc trưng cơ bản sau:
* Táo bạo, chấp nhận rủi ro và sáng tạo
Đối với doanh nhân, đây là điều kiện cần thiết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo nên sự thành công của doanh nghiệp và là một đặc trưng cơ bản của doanh nhân hiện đại Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật của thị trường, trước hết là quy luật cạnh tranh Trong quá trình đó, doanh nhân phải lãnh đạo doanh nghiệp đối mặt với mọi thử thách của thị trường, dám đương đầu để tồn tại và vươn lên Soichiro Honda, chủ tịch tập đoàn Honda (Nhật bản) cho rằng “ Thành công trong 1% trên cơ sở thất bại 99%, nhưng không được sợ thất bại” Những doanh nhân tài năng sẽ giành được chỗ đứng trong thị trường, nhưng rủi ro luôn rình rập họ Vì vậy, doanh nhân phải có tinh thần táo bạo, dám mạo hiểm nhờ vậy mới có thể vượt qua được rủi ro Nhiều nhà kinh tế và doanh nhân nổi tiếng đã khẳng định rằng, không
có tinh thần mạo hiểm, sự táo bạo thì không phải là doanh nhân Chính đặc trưng này đã làm cho doanh nhân khác với các nhóm xã hội khác Giá trị của
sự mạo hiểm, táo bạo trong kinh doanh sẽ đưa ra được ý tưởng kinh doanh,
Trang 28lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu của xã hội và khẳng định được giá trị bản thân
Sự táo bạo, dám mạo hiểm và sáng tạo luôn đi liền với nhau Mạo hiểm, táo bạo là cơ sở để doanh nhân sáng tạo Có tinh thần dám mạo hiểm thì mới dám sáng tạo, sáng tạo là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong bất cứ thành công nào của mỗi cá nhân Trong hoạt động kinh doanh, thị trường luôn biến động khó lường do đó chỉ trên cơ sở sáng tạo doanh nhân mới có thể thích ứng với thị trường và nắm bắt nhu cầu xã hội để phát triển kinh doanh
Đó là yếu tố cơ bản bảo đảm sự thành công của doanh nhân Nhà kinh tế học người Áo gốc Mỹ Schum-pi-ti-tờ, người đã có nhiều công trình nghiên cứu về doanh nhân và tinh thần doanh nhân, cho rằng: doanh nhân là người khởi xướng và thực hiện các hoạt động sáng tạo Ông cho rằng, doanh nhân không rập khuôn cái cũ, không đi theo vết xe kinh tế cũ, mà luôn thay đổi lối đi một cách sáng tạo, tìm ra phương thức kinh doanh mới, chưa ai làm Ông nhấn mạnh rằng, chức năng của doanh nhân là cách mạng hóa mô hình sản xuất bằng cách sử dụng mô hình phát minh mới, hoặc sử dụng khả năng kỹ thuật chưa qua thí nghiệm để sản xuất sản phẩm mới, hoặc sản xuất sản phẩm cũ theo phương pháp mới, bằng cách mở ra nguồn cung cấp nguyên liệu mới, hoặc nguồn tiêu thụ sản phẩm mới bằng cách tổ chức lại sản xuất
Hoạt động sáng tạo của doanh nhân khác về cơ bản so với việc quản lý kinh doanh của những người sản xuất, buôn bán nhỏ, theo phương pháp truyền thống Vì vậy, sáng tạo của doanh nhân gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và của bản thân doanh nhân Các hoạt động sáng tạo như khai thác thị trường mới, áp dụng khoa học công nghệ mới, phương pháp quản lý mới…đều chứa đựng rủi ro Doanh nhân sáng tạo đồng thời phải có tinh thần dám chịu rủi ro, không dám mạo hiểm, táo bạo thì không thể sáng tạo Do đó, họ rất khó thành công
Trang 29* Tự tin và quyết đoán
Tự tin phản ánh trạng thái tâm lý của con người là chìa khóa giúp họ vươn tới mọi thành công Trong môi trường hoạt động của con người thì môi trường kinh doanh luôn biến động, để thành đạt doanh nhân phải là người có đức tính tự tin và quyết đoán cao Chỉ khi có niềm tin doanh nhân mới quyết định đầu tư thành lập doanh nghiệp hay quyết định lĩnh vực kinh doanh mới Niềm tin của doanh nhân phải dựa trên cơ sở tổng hợp của các đức tính khác nhau và những căn cứ, nguyên tắc nhất định Chính nhờ những đức tính đó
mà họ sẽ thực hiện hoạt động kinh doanh có bài bản, có triết lý và tuyệt đối tuân theo những nguyên tắc đã định ra Họ cảm thấy sức mạnh ở nơi mình cho
dù gặp những khó khăn thách thức
Doanh nhân là người ra quyết định và chịu trách nhiệm trước thành công hay thất bại của doanh nghiệp, vai trò đó yêu cầu doanh nhân phải tự tin khi ra mọi quyết định Điều này đòi hỏi doanh nhân phải thể hiện tính độc lập, dũng cảm và kiên quyết trước mọi tình huống Trong kinh doanh, yếu tố thời
cơ hết sức quan trọng dẫn đến thành công Vì vậy, doanh nhân phải biết nắm bắt thời cơ và đặc biệt là không do dự Muốn vậy, họ phải có đức tính tự tin
và quyết đoán
Kinh doanh là một nghệ thuật Để thành công, doanh nhân phải luôn luôn có mối quan hệ thường xuyên với đối tác và khách hàng Doanh nhân phải thực hiện nhiều cuộc tiếp xúc, đàm phán và phải chủ động, có khả năng tiếp cận, phân tích đúng đắn các tình huống, hướng đối tác vào lợi ích của doanh nghiệp Điều này chỉ thực hiện được khi họ có sự tự tin và quyết đoán
* Nhạy cảm và say mê kinh doanh
Nhạy cảm trong kinh doanh là khả năng cảm nhận tương đối chính xác một cơ hội kinh doanh về một, một số, hoặc tất cả các mặt Nhạy cảm trong kinh doanh là một đặc trưng cơ bản của doanh nhân, làm cho doanh nhân
Trang 30khác với người lao động, quản lý bình thường Đó là khả năng nắm bắt được
cơ hội kinh doanh, như khả năng đầu tư, phát triển thị trường, phương thức tiếp thị mới, khả năng tạo ra lợi nhuận…Hay nói cách khác, đó là khả năng nắm bắt và biến cơ hội thành hiện thực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhờ đó doanh nhân có thể cạnh tranh thắng lợi so với các doanh nghiệp khác Những cơ hội đó phải xuất phát từ thị trường, từ yêu cầu của cuộc sống Những doanh nhân thành đạt là những doanh nhân biết nắm bắt nhanh chóng, chính xác các thông tin thị trường, nhu cầu, thị hiếu mới, kỹ thuật mới Trên
cơ sở đó, doanh nhân sẽ khai thác tốt các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ngày nay, kinh doanh được coi là một nghề, nghề kinh doanh Doanh nhân thành đạt luôn có lòng say mê với nghề, gắn bó cả cuộc đời của mình vào hoạt động kinh doanh Để trở thành doanh nhân đích thực, trước hết họ phải là người đam mê công việc kinh doanh, nếu không có yếu tố đó chắc chắn không bao giờ thành công trên thương trường Lịch sử phát triển doanh nhân trên thế giới cũng như ở nước ta đã chứng minh điều đó Vì vậy, để tạo
ra một thế hệ doanh nhân mới, xã hội phải khơi dậy tinh thần kinh doanh, tôn vinh lòng say mê kinh doanh thông qua các cơ chế, chính sách kinh tế, các điều kiện và môi trường kinh doanh
Đối với những doanh nhân đích thực, hầu như toàn bộ thời gian và sức lực được dành cho doanh nghiệp, cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Thực tiễn nhiều doanh nhân thành đạt, nổi tiếng đã cho thấy, họ coi doanh nghiệp
và hoạt động kinh doanh như là cuộc sống của bản thân mình Mục tiêu của doanh nhân không còn chỉ đơn thuần là kiếm được bao nhiêu tiền, mà nghề kinh doanh thực sự đã trở thành niềm vui, niềm đam mê cháy bỏng GS An-tho-ny Lat-tan-di (Mỹ) cho rằng, để trở thành một doanh nhân có bản lĩnh để
Trang 31tạo lập nên những doanh nghiệp lớn và có hiệu quả đó là kết quả của 10% cảm hứng (ý tưởng) và 90% mồ hôi và nước mắt
*Có năng lực kinh doanh, có tri thức và tinh thần học hỏi để biến cơ hội thành hiện thực
Ở doanh nhân không chỉ dừng lại ở lòng say mê, doanh nhân thành đạt còn cần có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh vượt trội so với người lao động bình thường Nhờ đó, doanh nhân có thể nhận thức và biến cơ hội, điều kiện thành hiện thực Chỉ có lòng say mê kinh doanh không thôi vẫn chưa đủ cho sự thành công, mà doanh nhân còn phải có đầu óc kinh doanh, đó là sự tổng hợp các tri thức, kinh nghiệm, mối quan hệ và thực tế
Người có đầu óc kinh doanh trước hết phải có ý tưởng kinh doanh, hướng suy nghĩ của mình vào việc kinh doanh, biết lắng nghe, nắm bắt các thông tin, xứ lý các tình huống để đạt hiệu quả cao nhất Họ thường là những người nắm bắt nhanh, không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh khi nó vừa xuất hiện
Năng lực kinh doanh thể hiện trước hết ở khả năng tổ chức, quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, doanh nhân còn cần có kiến thức
và nghiệp vụ kinh doanh Doanh nhân không nhất thiết là người phải hiểu biết
và giỏi nhất trên tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh như quản lý tài chính,
kế toán, luật pháp, công nghệ, …mà là người biết thu hút và sử dụng, tập hợp, phối hợp và tổ chức các hoạt động của doanh nghiệp
Năng lực kinh doanh còn thể hiện ở chỗ nhận biết các cơ hội nảy sinh cũng như những thách thức đặt ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh để có thể tận dụng được những lợi thế, hạn chế khó khăn, đưa doanh nghiệp đến thành công
Muốn vậy, doanh nhân cũng phải có tri thức, có hiểu biết về quy luật vận động của thị trường Để thực sự biến tiềm năng thành hiện thực, doanh
Trang 32nhân phải không ngừng học hỏi để nâng cao kiến thức về thị trường, quản trị doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu luôn biến động của thị trường trong nước và thế giới Thực tiễn cũng đã cho thấy, những doanh nhân thành đạt là những người có năng lực kinh doanh và luôn học hỏi, là những doanh nhân - trí thức Cần cù, chịu khó cũng là một đặc trưng cơ bản của doanh nhân hiện đại Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển, sự thành công của doanh nhân, doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Bên cạnh năng lực kinh doanh, các doanh nhân thường làm việc không biết mệt mỏi, không ngừng học hỏi để ứng phó với mọi biến động vô cùng phức tạp, rủi
Doanh nhân thể hiện tinh thần dân tộc, trước hết là phải vì dân tộc mình, nhân dân của đất nước mình và người tiêu dùng của mình bằng cách tạo
ra nhiều hàng hóa phong phú, đa dạng, có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của người dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, góp phần giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc mình một cách có hiệu quả Thứ hai, doanh nhân sáng tạo những phương thức sản xuất mới, có hiệu quả, tạo ra các thương hiệu hàng hóa để vừa nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp do doanh nhân lãnh đạo vừa để nâng cao sức cạnh tranh, hình ảnh của quốc gia thông qua các nhãn hiệu, thương hiệu uy tín
mà doanh nhân bỏ công sức xây dựng nên
Trang 33Trong thế giới hiện đại, thương hiệu hàng hóa của một quốc gia có nhiều giá trị Nó không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn giá trị về văn hóa, tinh thần, là niềm tự hào của người dân Nhắc đến các sản phẩm về đồng hồ, nhất
là đồng hồ cao cấp thì đồng hồ Thụy Sĩ rất được ưa chuộng, nói đến sản phẩm
ô tô là nhắc đến Toyota của Nhật Bản, Ford (Mỹ), điện thoại Samsung (Hàn Quốc), Nokia (Na Uy), thời trang Guccia (Italia), nước hoa là phải nhắc đến nước Pháp, nói đến cà phê là phải đề cập đến đất nước Braxin…Những hàng hóa nổi tiếng khắp thế giới là niềm tự hào của không chỉ doanh nhân sáng tạo
ra hàng hóa đó mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc có hàng hóa nổi tiếng đó Nói đến doanh nhân có tinh thần dân tộc phải nhắc đến doanh nhân Nhật Bản Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh, kinh tế kiệt quệ, cơ sở vật chất cho sản xuất bị tàn phá nặng nề, công nghệ sản xuất thấp kém, hàng hóa chất lượng thấp Vì vậy mà hàng hóa Nhật Bản lúc bấy giờ xuất khẩu qua Mỹ bị coi thường, không được người dân Mỹ
ưa chuộng nhưng với tinh thần dân tộc, sự tự tôn dân tộc, doanh nhân Nhật Bản bằng tư duy sáng tạo, sự táo bạo và khả năng nắm bắt nhanh về khoa học, công nghệ và thị trường cùng với sự giúp sức từ phía nhà nước mà chỉ sau vài thập kỉ hàng hóa Nhật Bản không những được người dân Mỹ ưa chuộng mà còn nổi tiếng khắp thế giới nhờ chất lượng sản phẩm cao, dịch vụ phong phú,
đa dạng Chính các doanh nhân với năng lực kinh doanh của mình đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có thương hiệu quốc tế như: Honda, Toyota, Sony (Nhật Bản)…
Việc thực hiện tinh thần dân tộc và trách nhiệm xã hội của doanh nhân không mâu thuẫn với lợi ích của doanh nhân mà nó là cơ sở, động lực để doanh nhân kinh doanh theo hướng bền vững và có hiệu quả hơn
Lợi ích của doanh nhân, trước hết là lợi ích về kinh tế có mối quan hệ biện chứng với lợi ích của cộng đồng xã hội Doanh nhân chỉ có kinh doanh
Trang 34có hiệu quả, đứng vững trên thị trường nhờ biết cách kết hợp một cách hài hòa lợi ích của cá nhân với lợi ích của người tiêu dùng và của cả xã hội
Nếu như các giai đoạn phát triển trước, doanh nhân vì lợi nhuận mà có thể sử dụng bất cứ thủ đoạn nào để bóc lột nặng nề người lao động, hủy hoại môi trường sinh thái Thì giờ đây, doanh nhân đã từng bước thay đổi tư duy, lối kinh doanh theo hướng bền vững Đó vừa là yêu cầu khách quan của quá trình sản xuất, kinh doanh hiện đại vừa là cơ sở để doanh nhân thực hiện mục đích làm giàu bền vững của mình
Để kinh doanh có hiệu quả, thu được nhiều lợi nhuận Doanh nhân phải biết thượng tôn pháp luật Doanh nhân phải xây dựng mối quan hệ lao động thân thiện, dân chủ, tôn trọng người lao động Thực hiện việc chia sẻ lợi ích của mình với người lao động thông qua các quỹ phúc lợi, đào tạo cho người lao động, xây dựng môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi, đảm bảo sức khỏe, an toàn cho người lao động và tôn trọng nhân viên, người lao động Đây
là động lực để người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, công ty Trường hợp của các doanh nhân, các ông chủ của các hãng Toyota, Honda, Huyndai là những ví dụ điển hình về cách quản lý, sử dụng và tôn trọng nhân viên, người lao động
Để thực hiện kinh doanh bền vững, doanh nhân đã quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường sống, xây dựng phương pháp sản xuất, kinh doanh xanh, sử dụng ít năng lượng, thân thiện với môi trường
Lợi nhuận thu được từ kết quả của hoạt động kinh doanh được các doanh nhân chia sẻ không chỉ với doanh nghiệp, công ty của mình mà còn với cộng đồng, xã hội thông qua các hoạt động xã hội tự nguyện, đóng góp vào quỹ từ thiện, xây dựng các trung tâm, trường học, học viện cho người nghèo, người nhiễm các bệnh hiểm nghèo Tiêu biểu cho doanh nhân hoạt động từ thiện có thể kể đến như Bill Gates, Warren Buffet, …
Trang 35Như vậy, chúng ta thấy rằng doanh nhân thực hiện tinh thần dân tộc, trách nhiệm xã hội trước hết là thực hiện nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia, dân tộc của mình Đó cũng chính là cơ sở để doanh nhân kinh doanh bền vững, được xã hội tôn vinh
Tóm lại, doanh nhân là một lực lượng quan trọng của xã hội Họ có những đặc trưng, phẩm chất đặc biệt trong sản xuất, kinh doanh Lao động của doanh nhân khác với lao động thông thường, mà là “lao động phức tạp”, lao động của người quản lý, có tố chất đặc biệt như táo bạo, mạo hiểm, chấp nhận rủi ro, có năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh; có tri thức và lòng say mê cháy bỏng với ước mơ làm giàu thông qua kinh doanh
Quá trình hình thành và phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam có những bước thăng trầm cùng với lịch sử hào hùng của dân tộc Ngày nay, doanh nhân nước ta ngày càng phát huy truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa của thế giới để xây dựng đội ngũ doanh nhân không ngừng lớn mạnh
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NHÂN VIỆT NAM
1.2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ doanh nhân Việt Nam
Trong lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, do những điều kiện chính trị
- xã hội khác nhau, doanh nhân nước ta đã xuất hiện dưới những hình thức khác nhau và tồn tại phát triển gắn liền với điều kiện của từng giai đoạn lịch
sử nhất định
Thời kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược ( năm 1858)
Về mặt lịch sử, đây là thời kỳ đầu, khá dài trong lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Trang 36Về mặt kinh tế - xã hội, Việt Nam vẫn thuộc phương thức sản xuất châu Á với đặc trưng dựa trên chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất và tổ chức xã hội theo lối công xã nông thôn
Trong xã hội truyền thống trước đây, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực chủ yếu với lối sản xuất tự túc, tự cấp, mang tính tự nhiên, năng suất thấp Còn các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp hầu như rất nhỏ bé Nghề thủ công, buôn bán tuy có bước phát triển nhất định nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi chợ làng Về cơ bản, nền kinh tế thời phong kiến theo kiểu tự cấp, tự túc Mỗi làng thường có một cái chợ để giao lưu hàng hóa có quy mô nhỏ, lẻ
Thời Lý - Trần của nước Đại Việt, có mở rộng giao lưu buôn bán với thương nhân của các nước láng giềng và Vân Đồn là cảng nổi tiếng ở thời kỳ này Trần Phu có đoạn viết mô tả cảnh tấp nập của Vân Đồn như sau:
“Thuyền bè nước ngoài đến hội tụ ở đây mở chợ ngay trên thuyền Cảnh buôn
và điều kiện giao thông thuận lợi và nhu cầu buôn bán tăng lên Mặt khác, do
sự hình thành của luồng giao lưu buôn bán quốc tế sau những cuộc phát kiến địa lý lịch sử
Ở Việt Nam lúc này mới nổi lên một số trung tâm, trong đó có các trung tâm buôn bán lớn là Phố Hiến (Hưng Yên) ở Đàng ngoài; Hội An (Quảng Nam), Nông Nại Đại Phố (Biên Hòa, Đồng Nai), Bến Nghé (Sài Gòn), phố Chợ Mỹ Tho, Bãi Xâu (Sóc Trăng), Hà Tiên,v.v., ở Đàng trong; nhưng việc buôn bán chủ yếu nằm trong tay các doanh nhân Nhật Bản, Trung
Trang 37Quốc, hay một số thương nhân Đông Nam Á và phương Tây (Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Pháp, Anh) Chẳng hạn, có lúc ở Hội An có đến 6000 Hoa kiều mà phần lớn là lái buôn giàu có, vừa mua bán hàng hóa, vừa làm môi giới cho khách phương Tây, giữ các chức vụ trong các tàu ti Người Việt chỉ làm thuê, phục dịch, hoặc thu gom hàng cho các thương gia nước ngoài Vì thế, dưới con mắt của người phương Tây, các trung tâm buôn bán lớn ở Việt Nam thời
kỳ này chỉ là những “cái chợ lớn hơn là một thành phố” Mặc dù đã xuất hiện những làng buôn như: Đa Ngưu (Hưng Yên), Báo Đáp (Nam Định), Phù Lưu (Bắc Ninh), Đan Loan (Hải Dương),v.v., nhưng các làng này vẫn lấy nghề nông làm gốc
Có thể thấy rằng, trong suốt chiều dài lịch sử từ thời cổ đại, trải qua suốt thời phong kiến, cho đến trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và đặt ách đô hộ Việt Nam, nước ta chưa có đội ngũ doanh nhân theo đúng nghĩa của nó do nhiều nguyên nhân (điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách
“trọng nông ức thương”, “bế quan tỏa cảng, cấm chợ ngăn sông” của các triều đại phong kiến cũng như ảnh hưởng từ tâm lý xã hội) Song, dẫu sao thời kỳ này cũng tạo ra những tiền đề nhất định cho sự hình thành đội ngũ doanh nhân sau này
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945)
Sau khi dùng sức mạnh quân sự bình định nước ta, từ cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các đợt khai thác thuộc địa Sự xâm lược của thực dân Pháp cùng với sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và thực hiện chính sách khai thác thuộc địa ở Đông Dương đã làm thay đổi đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam Những tập quán truyền thống, nông nghiệp đã phần nào nhường chỗ cho đời sống kinh tế công nghiệp, tư duy kinh tế tư sản Công cuộc khai thác thuộc địa diễn ra mạnh mẽ đặc biệt trong vòng bốn thập niên đầu thế kỷ XX, cùng với sự xuất hiện các tư tưởng tiến bộ
Trang 38và các phong trào cổ vũ kinh doanh của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã tạo môi trường để tầng lớp doanh nhân mới nước ta được hình thành Sự ra đời
và phát triển của doanh nhân trong giai đoạn này chịu sự tác động của các nhân tố sau:
Một là, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều tư
tưởng tiến bộ trên thế giới, ở trong nước đã xuất hiện những tư tưởng, nhận thức mới về nghề kinh doanh, buôn bán và lợi ích dân tộc Giai đoạn này xuất hiện một số phong trào và các chí sĩ yêu nước tập hợp lại để bàn về những tư tưởng “duy tân”, cổ vũ cho hoạt động kinh doanh Tiêu biểu trong số các chí
sĩ đó là cụ Lương Văn Can thể hiện trong cả tư tưởng, nhận thức và hành động Ông là tác giả của nhiều cuốn sách bàn về kinh doanh, trong đó có
quyển “Kim cổ cách ngôn” (bàn về cách làm giàu) Lương Văn Can cho rằng
“ý nghĩa hai chữ kinh doanh thật là sâu sắc Như người dân quê cày ruộng,
người thợ làm bách nghệ, nhà thương gia buôn chuyến hay đứng cửa hàng đại lý…Tất thảy đều là kinh doanh Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là trung thực…” [69,33] hay trong quyển “Thương học phương châm”
được coi là cuốn giáo khoa về thương mại, ông cũng đã đề cập đến: tư bản -
tổ chức sự buôn bán - tính toán sổ sách thư từ - thương hiệu - bày hàng - quảng cáo Đây được coi là những yếu tố quan trọng trong việc kinh doanh của các doanh nhân ngày nay
Ngoài Lương Văn Can còn có Phan Bội Châu với chủ trương tổ chức các “Hội nông thương học” nhằm hỗ trợ cho việc kinh doanh và vận động dân chúng Trong quá trình đánh thức tinh thần dân tộc để thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu bằng con đường cách tân, đổi mới các nhà nho lúc này như Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Ngô Đức Kế… đã tổ chức các lớp học theo lối mới Mục đích của các lớp học này dạy về những kiến thức kinh doanh để làm giàu, làm những việc ích nước lợi dân, mở mang kinh tế, phát triển đất nước
Trang 39Có thể nhận định rằng, những tư tưởng mới về kinh doanh của các chí sĩ yêu nước trong giai đoạn này vẫn còn nguyên giá trị và cần thiết đối với các doanh nhân Việt Nam hiện nay
Hai là, để phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp tiến
hành đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng như đường sá, sân bay, bến cảng…mở rộng và lập các đồn điền cao su.Vì thế, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh Nam bộ
Dưới tác động của quá trình khai thác thuộc địa, đầu tư như trên, một đội ngũ doanh nhân mới đã bắt đầu hình thành và phát triển Doanh nhân Việt Nam giai đoạn này đã phát triển rất đa dạng có mặt khắp nơi, kinh doanh nhiều lĩnh vực, từ các thương nhân, nhà kỹ nghệ, chủ các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các xí nghiệp cho đến một số địa chủ ở nông thôn cũng đã bắt đầu kinh doanh theo phương thức tư bản
Trong giai đoạn lịch sử này, ở Việt Nam đã xuất hiện một số gương doanh nhân tiêu biểu làm rạng danh nước nhà Có thể kể đến là “vua đường sông” - Bạch Thái Bưởi (1874 - 1932), từ một người làm thuê ông đã trở thành một biểu tượng cho tài năng, ý chí của người Việt Nam biết khơi dậy tinh thần dân tộc, ý chí tự lực tự cường vươn lên thành công Doanh nhân Nguyễn Sơn Hà, ông tổ của nghề sơn dầu Việt Nam Ông Trịnh Văn Bô, thương gia nổi tiếng trong ngành tơ lụa hay như nhà kỹ nghệ Trương Văn Bền
đã làm rạng danh uy tín nền công nghiệp nước nhà bằng sản phẩm xà bông mang thương hiệu Việt hay như “ông hoàng thủy tinh” ở Đông Dương - Trịnh Đình Kính Những gương mặt doanh nhân tiêu biểu như kể trên và còn nhiều gương mặt doanh nhân khác nữa đã góp phần hình thành, phát triển và nâng cao vị thế của đội ngũ này trong xã hội
Tuy vậy, ở giai đoạn lịch sử này, đội ngũ doanh nhân Việt Nam vẫn còn non yếu, sơ khai, chủ yếu kinh doanh những lĩnh vực không then chốt và
Trang 40làm các dịch vụ cho các doanh nhân của các nước khác Điều này có thể được
lý giải bởi doanh nhân Việt Nam chịu sự chèn ép, kìm hãm của tư bản Pháp Các công ty, các nhà tư bản Pháp độc quyền trong các lĩnh vực then chốt như độc quyền khai thác, độc quyền xuất nhập khẩu…Vì vậy, đội ngũ doanh nhân Việt Nam khó có điều kiện phát huy khả năng để phát triển Thêm vào đó, nội lực của doanh nhân nước ta còn rất hạn chế và còn thiếu sự đoàn kết Điểm
hạn chế này của doanh nhân nước ta được thể hiện trong “Quốc văn độc bản” của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã nhận định rằng: “Nước ta, trong xã
hội chưa thật sự đoàn kết, từ lâu chỉ hùn vốn lại mà buôn, còn các quy cách thì chưa có nhiều…Dân ta phải phát động tư tưởng hợp quần mà giáo dục những đức tính công cộng”[69,40-41]
Đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn này tuy còn nhiều hạn chế do một số nguyên nhân như trên nhưng nó đã thể hiện những tư tưởng kinh doanh mới, độc đáo, đặc biệt là tinh thần doanh nghiệp, cố kết các doanh nghiệp trong nước để cạnh tranh với nước ngoài
Thời kỳ 1945 - 1954
Trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám 1945, giới công thương Việt Nam đã thể hiện lòng yêu nước thiết tha và niềm khát vọng đóng góp xây dựng kinh tế đất nước Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi giới công thương ngày 13/10/1945, giới công thương Việt Nam đã tập hợp lại, hình thành tổ chức “Công - Thương cứu quốc đoàn” và là thành viên của Mặt trận Việt Minh
Không chỉ đóng góp tiền của và mở rộng hoạt động kinh doanh, một số nhà kinh doanh còn tích cực tham gia chính quyền dân chủ nhân dân Thời gian này, Đảng và Chính phủ đã có chính sách khuyến khích giới công thương phát triển kinh doanh và hoạt động kinh doanh của nhiều nhà kinh doanh tiếp tục được phát triển khá mạnh