1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý thức nữ quyền và giá trị nghệ thuật trong căn phòng riêng (virginia woolf)

124 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn đầu tương ứng với Cao trào thứ nhất tính từ Thế chiến thứ hai 1939-1945 trở về trước được gọi là giai đoạn “tiên phong và nữ quyền nguyên sơ” [16] với những tên tuổi lớn như M

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2011

Ý THỨC NỮ QUYỀN VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG

CĂN PHÒNG RIÊNG (VIRGINIA WOOLF)

Sinh viên thực hiện:

Trần Thị Thanh Hương,

Lớp Văn 3A, niên khóa 2008 – 2012

Người hướng dẫn:

Thạc sĩ Hồ Khánh Vân

Bộ môn Lý luận và phê bình văn học

Khoa Văn học và Ngôn ngữ,

ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TPHCM)

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG CĂN PHÒNG RIÊNG (VIRGINIA WOOLF) 14

1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CHÍNH CỦA THUYẾT NỮ QUYỀN TỰ DO 14

2 TÌNH TRẠNG CỦA NỮ GIỚI TỪ CÁI NHÌN CỦA CĂN PHÒNG RIÊNG 25

3 QUAN NIỆM CỦA VIRINIA WOOLF VỀ VĂN CHƯƠNG NỮ 41

4 QUAN NIỆM CỦA VIRGINIA WOOLF VỀ SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG 70

5 GIÁ TRỊ Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG CĂN PHÒNG RIÊNG 77

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG CĂN PH ÒNG RIÊNG CỦA VIRGINIA WOOLF 82

2.1 Bút pháp tự thuật 82

2.2 Bút pháp Dòng ý thức 88

2.3 Bút pháp hình tượng hóa 94

2.4 Bút pháp giả lịch sử 98

2.5 Bút pháp đan xen thể loại 102

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 114

Trang 3

DẪN NHẬP

Nằm trong giai đoạn đầu của lịch sử phê bình văn học nữ quyền, Căn phòng

riêng của Virginia Woolf là một trong những tác phẩm đầu tiên đề cập một cách

trực tiếp về vấn đề nữ quyền cũng như phê bình nữ quyền luận Nhằm nghiên cứu

và tìm hiểu những tư tưởng và phong cách nghệ thuật Virginia Woolf được thể hiện trong tác phẩm, đề tài sẽ trình bày những vấn đề sau: Chương 1, đề tài hướng

đến tìm hiểu ý thức nữ quyền được thể hiện trong Căn phòng riêng (bao gồm trình

bày thực trạng của nữ giới; lý giải những căn nguyên của bất bình đẳng; tìm hiểu quan niệm của Virginia về văn chương nữ) và Chương 2, đề tài sẽ đi sâu vào tìm hiểu những bút pháp nghệ thuật đặc sắc nhất được sử dụng trong tác phẩm (bao gồm bút pháp tự thuật, dòng ý thức, giả lịch sử, hình tượng hóa…) Việc nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót hạn chế, song chúng tôi hy vọng đề tài sẽ đóng góp phần nào cho nghiên cứu về nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi văn học ra đời trong lịch sử nhân loại thì dường như đã tồn tại một mối quan hệ âm thầm giữa phụ nữ và văn học Nhưng đa phần, mối quan hệ đó chỉ được thể hiện bởi những người đàn ông thông qua các các nhân vật, hình tượng

nghệ thuật là nữ giới như nàng Xuân Hương (Truyện Xuân Hương - truyện dân gian Hàn Quốc), Thúy Kiều (Truyện Kiều - Nguyễn Du), Lâm Đại Ngọc (Hồng

Lâu Mộng - Tào Tuyết Cần), Bovary (Bà Bovary - Gustave Flaubert), Anna

Kurenia (Anna Kurenia - Lev Tolstoy) Đến thế kỷ XX, khi những thuận lợi về

lịch sử và xã hội tạo điều kiện, đặc biệt là con người có sự phát triển trong nhận thức thì người phụ nữ mới có thể nhìn nhận lại vị thế suốt ngàn năm qua của mình, đồng thời, nhìn nhận lại vai trò của mình trong văn học Phong trào nữ quyền ra đời trên cơ sở nhìn nhận lại vai trò của nữ giới đã trở thành một ngọn sóng lớn cuốn hút xã hội Song hành với phong trào đó chính là sự hình thành của dòng văn học nữ quyền và phê bình nữ quyền luận - một trong những hiện tượng văn học đáng chú ý nhất thế kỷ XX

Phong trào nữ quyền phát triển với ba cao trào được ví như ba làn sóng đấu tranh có ảnh hưởng quan trọng với lịch sử xã hội Phê bình văn học nữ quyền cũng theo đó mà được chia làm ba giai đoạn phát triển Giai đoạn đầu tương ứng với Cao trào thứ nhất (tính từ Thế chiến thứ hai (1939-1945) trở về trước) được gọi là

giai đoạn “tiên phong và nữ quyền nguyên sơ” [16] với những tên tuổi lớn như

Mary Wollstonecraft, Virginia Woolf, Simon de Beauvoir… Trong đó, tập tiểu

luận Căn phòng riêng được viết năm 1929 của Virginia Woolf đã đánh dấu một

bước phát triển mới trong làn sóng đấu tranh nữ quyền đầu thế kỷ XX và được xem như một trong những nhà văn nữ đầu tiên đặt nền tảng cho phê bình văn học

nữ quyền Thậm chí, người ta còn lấy tác phẩm này thành một trong những cột mốc đánh dấu sự ra đời của lịch sử phê bình nữ quyền [16]

Căn phòng riêng được xem như “sách vỡ lòng” [16] của phê bình nữ quyền khi

nó đặt vấn đề nguyên nhân do đâu mà hàng chục thế kỷ trước, tên tuổi của người

Trang 5

phụ nữ không thể cân bằng với nam giới trên văn đàn? Và thực chất người phụ nữ

có khả năng sáng tác hay không? Tại sao những tác phẩm lớn đều viết về phái nữ? đồng thời, tác phẩm còn gợi mở những khái niệm về tư duy hồi mẫu, vai trò của một bộ óc lưỡng tính trong sáng tác văn chương… tác phẩm không những có giá trị về mặt nghiên cứu xã hội học, mà với tư cách là một tác phẩm văn chương,

Căn phòng riêng còn là một tác phẩm tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật thuộc văn

học hiện đại đầu thế kỷ XX

Việc đánh gía vai trò của phụ nữ trong xã hội cũng như xem xét vai trò của phụ

nữ trong văn học đã trở thành một trong những đề tài quan trọng nhất của thế kỷ

XX Căn phòng riêng được nhân loại nhắc đến như một trong những tiếng nói đặt

cơ sở cho nữ quyền không chỉ vì người viết ra quyển sách mỏng manh ấy là một phụ nữ, mà còn bởi những tư tưởng tiến bộ mà người phụ nữ ấy đã đem đến cho con người cũng như những người cùng giới tính với bà Việc tìm hiểu tư tưởng, ý

thức nữ quyền trong Căn phòng riêng có ý nghĩa quan trọng không chỉ với nghiên

cứu xã hội học, mà còn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với phê bình văn học nữ quyền Đặc biệt ở Việt Nam, nơi phê bình nữ quyền đang dần định hình và phát

triển Chính vì lý do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Ý thức nữ quyền và giá trị

nghệ thuật trong Căn phòng riêng của Virginia Woolf” với mong muốn đóng

góp phần nào cho việc nghiên cứu về nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phong trào nữ quyền đã đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử nhân loại và cũng là lịch sử văn học với thế hệ nhà văn mới ra đời – các nhà văn nữ Tuy nhiên,

vì mới ra đời trong thời gian gần đây nên những nghiên cứu và đánh giá về các nhà văn này và dòng văn học họ đang tạo ra vẫn đang trong những giai đoạn đầu nghiên cứu của phê bình văn học thế giới Ở Việt Nam, những nghiên cứu về

phong trào nữ quyền nói chung và tác phẩm Căn phòng riêng nói riêng đều chỉ

mới ở giai đoạn khởi đầu Sau đây chúng tôi xin trình bày về những tài liệu chúng

Trang 6

tôi sưu tầm được trong quá trình nghiên cứu, đồng thời, khái quát về tình hình nghiên cứu đề tài ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài

Về tài liệu tiếng Việt:

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về nữ quyền luận và phê bình văn học nữ quyền phải đề cập đến những nghiên cứu của Hồ Khánh Vân Qua công trình khoa học

Lý thuyết nữ quyền trong văn học: Lịch sử, quan niệm và phương pháp (Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM, 2011), tác giả đã đào sâu vào nghiên cứu lịch sử lý thuyết nữ quyền phương Tây qua ba cao trào Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu và lý giải những quan niệm, phương pháp và đặc trưng văn học nữ quyền và điểm qua một số nhà văn nữ quyền tiêu biểu như Virginia Woolf, Simone de Beauvoir và Hélène Cixous

Trong bài viết cho Tới ngọn hải đăng, Nguyễn Thành Nhân

(http://phongdiep.net/) đã giới thiệu một cách khá khái quát về Virginia Woolf

cùng những tác phẩm của bà đã xuất bản ở Việt Nam Trong đó, Căn phòng riêng

được tác giả đánh giá khá cao về ý thức nữ quyền được thế hiện trong tác phẩm

với tuyên ngôn nổi tiếng “Phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn

thế giới Trong đó, Căn phòng riêng được tác giả nhấn mạnh vì những “quan điểm

lý thuyết mâu thuẫn của tư tưởng nữ quyền đương đại bắt nguồn từ trí tưởng tượng đột phá vượt giới hạn của Woolf và những xung đột sáng tạo của bà.” [16]

Cuối cùng, tác giả đã điểm qua những hoạt động của phê bình nữ quyền ở Việt Nam

Trang 7

Còn Nguyễn Hưng Quốc với bài viết Nữ quyền luận và đồng tính luận

(http://www.voanews.com/) đã đề cập đến Virginia Woolf và Simone de Beauvoir

với nét tương đồng trong luận điểm của họ là “phê phán gay gắt: chính nền văn

hoá phụ hệ đã đẩy phụ nữ ra vị trí ngoài lề của xã hội cũng như của văn học nghệ thuật Trong văn hoá ấy, nam giới được xem là đồng nghĩa với nhân loại, đồng nhất với lịch sử, còn phụ nữ thì bị nhìn như một “cái Khác” (Other), lúc nào cũng

ở vị thế phụ thuộc, phải dựa vào nam giới mới có thể tự định nghĩa được chính mình.” [25] Tác giả cũng chỉ ra được điểm tương đồng của các nhà phê bình nữ

quyền thời kỳ sau, đồng thời giới thiệu sơ lược về “thuyết lệch pha” [25] với quan niệm “ tất cả những điều được gọi là ‘bình thường’ hay ‘bất bình thường’ đều chỉ

có ý nghĩa rất tương đối.” [25]

Những tài liệu nghiên cứu riêng biệt về ý thức nữ quyền của Virginia Woolf

thể hiện trong Căn phòng riêng là hết sức hiếm hoi Hầu hết chỉ dừng lại ở mức độ

giới thiệu, điểm sách trên các bài báo, trang web…

Bên cạnh đó còn một số tài liệu đề cập đến vấn đề nữ quyền và nữ quyền trong văn học, có phương pháp tiếp cận tương đồng đề tài như:

Luận án thạc sĩ khoa học của Hồ Khánh Vân: Từ lý thuyết phê bình nữ quyền

(feminist criticism) nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của tác giả Việt Nam từ năm 1990 đến nay (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM,

2008), tác giả đã nhận được sự đánh giá rất cao từ phía các nhà nghiên cứu Đây là một trong những công trình hiếm hoi và đầy đủ nhất về lý luận và phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam Trong luận văn, tác giả đã khái quát một cách cơ bản

và đầy đủ về phong trào nữ quyền, giới thiệu một khuynh hướng phê bình nữ quyền luận - hướng phê bình còn khá mới mẻ ở Việt Nam Đồng thời, luận văn ứng dụng lý thuyết này vào việc khảo sát bộ phận văn học nữ hiện đại của nước ta Ngoài những đề tài khoa học, Hồ Khánh Vân còn có những bài nghiên cứu

đăng trên các trang web và tạp chí khoa học Tiêu biểu như Ý thức nữ quyền và sự

Trang 8

phát triển bước đầu của văn học nữ Nam bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ XX (www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn), trong công trình này,

Hồ Khánh Vân đã tiến hành hệ thống và trình bày những quan niệm phụ nữ và văn học nữ của các nhà văn đầu thế kỷ XX như Phan Khôi và Manh Manh nữ sĩ Qua

đó, thấy được ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ thời kỳ này Nhìn chung, những đóng góp của Hồ Khánh Vân trong nghiên cứu văn học nữ quyền và phê bình nữ quyền luận rất có giá trị Tác giả đã giới thiệu các giai đoạn, hệ thống những khái niệm và phân tích những đặc trưng của văn học nữ quyền trên thế giới cũng như ở Việt Nam một cách rất cụ thể và chi tiết

Ngoài ra còn có Trần Lê Hoa Tranh và Văn xuôi nữ Trung Quốc cuối thế kỷ

XX, đầu thế kỷ XXI (NXB ĐH Quốc gia TP.HCM, 2010) với cái nhìn khái quát đã

chỉ ra những đặc điểm chính của văn học nữ Trung Quốc thời kỳ này Đồng thời, công trình đã bước đầu giới thiệu về văn học nữ Trung Quốc đương đại

Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu khoa học Sự thức tỉnh của người phụ nữ trong

văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX (Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường -

Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM, 2006) do Lê Ngọc Phương thực hiện đã trình bày những nhận định và phân tích sâu về ý thức của người phụ nữ trong giai đoạn văn học đầy những biến động đầu thế kỷ của văn học Việt Nam

Có thể kể đến tên một số bài báo, tạp chí được đăng tải trên các trang web hoặc

đã được phát hành thành sách như:

- Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền

trong văn học Việt Nam đương đại (Viện Văn học, Hà Nội, 2006), tác giả chủ yếu

lý giải sự ảnh hưởng của phái tính đến văn học và đặc biệt là văn học Việt Nam đương đại

- Đặng Thị Hạnh và Các nhà văn nữ và một số thể loại hư cấu trong văn học

phương Tây và Việt Nam hiện đại (Khoa Văn học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐH

Quốc gia Hà Nội, 2006) bằng việc điểm qua các nhà văn nữ phương Tây vốn quen thuộc với người đọc Việt Nam như: Jane Austen, ba chị em Brontë (Charlotte,

Trang 9

Emily, Ann), Helen Fielding… Đặng Thị Hạnh đã chỉ ra sự phát triển của văn học

nữ phương Tây cũng như những đặc trưng nghệ thuật trong sáng tác của họ

- Trịnh Thanh Thủy và Phụ nữ chúng tôi phải viết (www.damau.org), là

tiếng nói mạnh mẽ dưới tư cách một người phụ nữ Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân tại sao trong thời đại hiện nay, phụ nữ phải viết Họ viết như một nhu cầu giải tỏa tâm lý hơn là vì mục đích sáng tác nghệ thuật

- Nguyễn Giáng Hương với bài viết Văn học của phái nữ và một vài xu

hướng văn chương nữ quyền Pháp thế kỉ XX (Phòng văn học so sánh – Viện Văn

học, 2010) lại hướng tới văn học nữ quyền ở Pháp trên cở sở chỉ ra những đặc trưng về xu hướng

Nhìn chung, văn học nữ quyền và phê bình nữ quyền luận đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của giới phê bình tuy chưa được phát triển trên diện rộng Tuy nhiên, chắc chắn, vấn đề này sẽ còn rất phát triển trong tương lai

Tài liệu tiếng Anh:

Đa phần những tư liệu tiếng Anh chúng tôi tìm được là những bài viết trên các website, nên có một số hạn chế Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tìm được những bài viết như:

Vickie Christensen và bài viết Chủ nghĩa nữ quyền trong sáng tác của Virginia

Woolf và Florence Howe (Feminism in the writing of Virginia Woolf and Florence Howe), tác giả đề cập một cách khá chi tiết sự thể hiện tư tưởng nữ quyền trong

các tác phẩm của Virginia Woolf và Florence Howe Đồng thời so sánh và luận giải tương đồng và khác biệt về tư tưởng nữ quyền của hai nhà văn

Giáo sư Catherine Lavender và công trình Virginia Woolf, Căn phòng riêng

(Virginia Woolf, A Room of One's Own), công trình này là một nghiên cứu và trở

thành giảng văn của Giáo sư Catherine Lavender Bà gợi mở những vấn đề nghiên cứu bằng cách đặt ra những câu hỏi về những chi tiết liên quan đến tư tưởng và ý thức nữ quyền của Virginia Woolf

Trang 10

Arnold Bennett và David Daiches với Giới hạn chủ nghĩa nữ quyền của Woolf

trong Căn phòng riêng (The Scope of Woolf’s Feminism in A Room of One’s Own), hai tác giả đã cho rằng nữ quyền ở Virginia là nữ quyền vô chính phủ,

không phải nữ quyền và hạn chế của Woolf là chưa quan tâm đến quyền lợi công dân và quá coi trọng mục đích kinh tế

Nhìn chung, cái nhìn của các tác giả nước ngoài với tư tưởng của Woolf là đa dạng và phong phú Họ chỉ ra được những tiến bộ và những mặt hạn chế trong ý thức nữ quyền của Virginia Woolf Đây là nguồn tài liệu rất tốt cho việc nghiên cứu Song, hạn chế là ở Việt Nam, những tư liệu này rất khó tìm hoặc hầu như không được xuất bản mà chỉ có thể nghiên cứu qua các tài liệu mạng

3 Mục đích và nhiệm vụ

Lý thuyết phê bình nữ quyền ra đời đã hình thành nên một khuynh hướng nghiên cứu văn học hiện đại, gắn liền và phát triển song song với hoạt động sáng

tác của nữ giới Trên cơ sở đó, đề tài “Ý thức nữ quyền và giá trị nghệ thuật

trong Căn phòng riêng của Virginia Woolf” đề ra mục đích tìm hiểu ý thức nữ

quyền được thể hiện trong tác phẩm nhằm tạo thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về phê bình nữ quyền trong thời kỳ đầu Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu những quan niệm của Woolf về phụ nữ và văn học, tìm hiểu những quan niệm văn chương, nghệ thuật được thể hiện trong tác phẩm Cuối cùng, đề tài tiến đến đánh giá giá trị của ý thức nữ quyền trong tương quan với lịch sử tư tưởng nữ quyền, với khoa học xã hội và văn học

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài hướng đến việc nghiên cứu về ý thức nữ quyền được thể hiện trong một tác phẩm văn học cụ thể Vì vậy, cơ sở chính để thực hiện đề tài là những kiến thức về nhân học, xã hội học về giới và quan trọng nhất là lý luận, nghiên cứu phê bình văn học Bên cạnh đó, đề tài lựa chọn những phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp lịch sử: Nhìn nhận ý thức nữ quyền của Virginia Woolf trong

bối cảnh lịch sử - xã hội - văn hóa cụ thể, từ đó phân tích những yếu tố tác động

Trang 11

đến sự hình thành ý thức đó để có cơ sở đánh giá về những khuyết điểm và ưu điểm trong hệ tư tưởng và phong trào nữ quyền

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Đây là phương pháp chủ yếu sẽ được

sử dụng trong đề tài Trước hết, chúng tôi sẽ chọn lọc và phân tích những quan điểm, ý thức hệ của Virginia Woolf được thể hiện trong tác phẩm Sau đó, chúng tôi sẽ xâu chuỗi, tổng hợp những phân tích thành các luận điểm, luận đề theo một

hệ thống logic nhất có thể

4.3 Phương pháp phân tích văn bản: Cùng với phương pháp phân tích tổng

hợp, phương pháp phân tích văn bản sẽ chọn lọc và phân tích văn bản tác phẩm theo luận điểm để phục vụ cho nghiên cứu

4.4 Phương pháp so sánh: phương pháp này được thực thiện dựa trên cơ sở đặt

đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với các đối tượng khác để làm nổi bật lên nét tương đồng và khác biệt Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành so sánh ý thức

nữ quyền của V Woolf trong hệ tư tưởng của nữ quyền tự do; đồng thời so sánh phê bình nữ quyền với các lý thuyết phê bình khác, đặc biệt là phê bình giới

4.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

4.5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành theo chiều ngang: Bằng những

kiến thức về phụ nữ, giới và lý thuyết nữ quyền trong các ngành khoa học xã hội:

Xã hội học, Nhân học, Triết học… trong giới hạn hiểu biết của mình, người thực hiện đề tài sẽ vận dụng như một công cụ để phân tích và kiến giải những quan điểm, phát hiện của mình trong tác phẩm

4.5.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành theo chiều dọc: Bên cạnh việc

ứng dụng những kiến thức trong các ngành khoa học xã hội, đề tài cũng sẽ được vận dụng những kiến thức về lý luận phê bình văn học như: lý thuyết về giới, lý thuyết văn học so sánh, lý thuyết xã hội học văn học, lý thuyết phê bình nữ quyền…

Trang 12

5 Giới hạn đề tài

Giới hạn của đề tài “Ý thức nữ quyền và giá trị nghệ thuật trong Căn phòng

riêng” của Virginia Woolf được xác định như sau:

Tìm hiểu chung về lý thuyết nữ quyền và Nữ quyền tự do Từ đó có cơ sở về khái niệm, lý luận và cái nhìn tổng quát về nữ quyền tự do cũng như ý thức nữ quyền được thể hiện trong tác phẩm

Tiếp cận văn bản “Căn phòng riêng” của Virginal Woolf, giới hạn nghiên cứu

chỉ trên văn bản bản dịch của Trịnh Y Thư xuất bản năm 2008 (Virginia Woolf

(Trịnh Y Thư dịch) (2008), Căn phòng riêng (A Room for One’s Own), NXB Tri

Thức, Hà Nội

6 Đóng góp mới của đề tài

Với đề tài này, người thực hiện đề tài mong muốn sẽ có những đóng góp mới với công tác nghiên cứu khoa học như sau:

Phân tích ý thức nữ quyền trong tác phẩm, bước đầu giới thiệu sơ lược về lý thuyết nữ quyền tự do cũng như văn học nữ quyền – xu hướng mới đang phát triển trong văn học hiện đại

Làm sáng tỏ ý thức nữ quyền mà Virginia Woolf đã khẳng định trong tác phẩm, làm tài liệu tham khảo cho những đề tài có cùng hướng nghiên cứu

Làm nổi bật những đặc trưng nghệ thuật như bút pháp sáng tác, quan niệm về giới và phụ nữ….mà Woolf đã thể hiện trong tác phẩm

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Trang 13

không chỉ với văn chương Việt Nam đương đại mà còn thể hiện sự phát triển và hòa nhập của văn học Việt Nam và thế giới

Đồng thời, việc nghiên cứu ý thức nữ quyền được thể hiện trong tác phẩm Căn

phòng riêng sẽ góp phần nghiên cứu về trào lưu nữ quyền, về ý thức, tư tưởng của

những tác giả lớn trong văn học, góp phần xác lập lý thuyết làm cơ sở cho những nghiên cứu tác phẩm cụ thể

8 Kết cấu đề tài

Với mục đích đó, ngoại trừ phần Dẫn nhập và Kết luận, chúng tôi triển khai đề

tài với hai chương:

1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội

1.2 Điều kiện văn hóa – tư tưởng

1.3 Nội dung chính của thuyết nữ quyền tự do

1.4 Ý thức nữ quyền tự do trong Căn phòng riêng

Trang 14

2 TÌNH TRẠNG CỦA NỮ GIỚI TỪ CÁI NHÌN CỦA CĂN PHÒNG RIÊNG

2.1 Tình trạng xã hội và địa vị kinh tế của nữ giới

2.1.1 Tình trạng xã hội

2.1.2 Địa vị kinh tế

2.2 Khả năng và ranh giới khoa học của nữ giới

2.3 Giá trị nữ giới trong xã hội gia trưởng

3 QUAN NIỆM CỦA VIRINIA WOOLF VỀ VĂN CHƯƠNG NỮ

3.1 Phụ nữ - đối tượng phản ánh của văn chương

3.2 Năng lực sáng tác của nữ giới

3.2.1 Những định kiến về năng lực sáng tác của nữ giới

3.2.2 Đặc trưng về năng lực sáng tác

3.2.2.1 Đặc trưng bản thể tính nữ

3.2.2.2 Tư duy hồi mẫu (Thinking back through mothers)

3.3 Điều kiện sáng tác của nữ giới

3.3.1 Điều kiện sáng tác nghèo nàn và những hạn chế xã hội

3.3.2 Điều kiện sáng tác của nữ giới theo quan điểm của Virginia Woolf 3.4 Đặc trưng văn chương nữ

3.4.1 Định hình khuynh hướng sáng tác

3.4.2 Sự suy nghiệm tập thể sáng tác

4 QUAN NIỆM CỦA VIRGINIA WOOLF VỀ SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG

4.1 Quan niệm Virginia Woolf về quá trình sang tác văn chương

4.2 Vai trò của một bộ óc lưỡng tính trong sáng tác văn chương

Trang 15

5 GIÁ TRỊ Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG CĂN PHÒNG RIÊNG

5.1 Giá trị nội dung tư tưởng

5.2 Giá trị phong trào

CHƯƠNG 2

GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG CĂN PHÒNG RIÊNG (VIRGINIA

WOOLF)

2.1 Bút pháp tự thuật

2.1.1 Khái niệm tự thuật

2.1.2 Bút pháp tự thuật trong Căn phòng riêng

Trang 16

CHƯƠNG 1: Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG CĂN PHÒNG RIÊNG

điểm của các nhà xã hội học được hiểu là “sự ủng hộ tính bình đẳng xã hội của hai

phái, dẫn đến sự phản đối chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giới tính”: “chủ nghĩa nữ quyền là suy nghĩ về sự bình đẳng của hai phái trong xã hội và sự phản đối có tổ chức đối với chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giống phái Chủ nghĩa nữ quyền không thừa nhận mẫu văn hóa chia khả năng của con người thành đặc điểm nam tính và nữ tính và tìm cách xóa bỏ sự bất lợi trong xã hội mà phái

nữ thường gặp” [13, tr.412]

Trên thực tế, trong các ngành khoa học xã hội của những thế kỷ trước đã tồn tại một hiện thực về sự toàn trị của nam giới trong hàng nghìn năm và phụ nữ chỉ mới được xuất hiện trong những năm gần đây Thuyết nữ quyền bao gồm các lý thuyết

xã hội khác nhau, giải thích nguyên nhân phụ nữ bị áp bức trong xã hội, tìm ra các biện pháp để thay đổi quan hệ giới, tiến tới bình đẳng và công bằng trong gia đình

và xã hội Mặc dù ra đời muộn nhưng thuyết nữ quyền không ngừng hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ, làm đảo lộn nhiều quan điểm truyền thống của triết học, xã hội học Do ra đời sau nên thuyết nữ quyền lấy các học thuyết trước đó của các ngành khoa học xã hội làm cơ sở để phê phán các quan điểm nam quyền Chính vì

Trang 17

vậy mà sinh ra nhiều học thuyết nữ quyền khác nhau Cho đến thời kỳ sau này, người ta mới phác thảo và phân chia các học thuyết ấy thành những dòng riêng biệt: Nữ quyền tự do, Nữ quyền Marxist, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền da đen… Trong đó, một trong những học thuyết ra đời từ thời kỳ đầu và đạt được nhiều

thành tựu nhất là Nữ quyền tự do (Liberal Feminism) với mục tiêu đầu tiên là đạt

được những thành tựu về kinh tế

Trong lịch sử tư tưởng nữ quyền, Nữ quyền tự do nằm trong “Làn sóng nữ quyền thứ nhất” (1848 – 1918) Đây cũng là thời kỳ đầu tiên của phong trào nữ quyền

1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội

Thời kỳ đầu, phong trào nữ quyền ra đời và phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây cùng thời đại của những cuộc cách mạng công nghiệp lớn Tại Anh Quốc, các công trình khoa học đầu tiên đề cập đến vấn đề phụ nữ ở đầu thế kỷ XVIII bắt đầu phát triển bởi những sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội…

Bắt nguồn từ hiện trạng mà thuyết cơ cấu chức năng đã nguyên tắc hóa thành

mô hình “nam giới hoạt động ngoài xã hội, phụ nữ hoạt động trong gia đình”, đến

cuối thế kỷ XIX, phụ nữ ở Anh không được học tập trong các trường đại học, [5, tr.381] không được tham gia ứng cử và bầu cử, không được lãnh đạo xã hội và thực hành nghề nghiệp Nhưng sau đó, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển phụ

nữ từ lao động gia đình sang lao động xã hội trong thời kỳ phát triển đầu tiên của

nó từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX Trên thực tế, đây chỉ là một trong những quy luật về phân công lao động của quá trình phát triển kinh tế chứ không hề xuất phát

từ mục đích giải phóng phụ nữ của các nhà kinh tế học Lần đầu tiên trong lịch sử

có sự phân biệt hai môi trường lao động, đó là môi trường trong gia đình và ngoài

xã hội Nền kinh tế dựa vào gia đình ngày một suy yếu đi vì sự phân công lao động

Trang 18

ngày một phức tạp hơn, những đơn vị sản xuất công nghiệp ngày càng mở rộng hơn

Mặt khác, phụ nữ kết hôn như một cách thức để khẳng định giá trị và tìm kiếm

sự bình ổn trong tương lai của cuộc đời mình Những phụ nữ không kết hôn phải

tự chu toàn cho cuộc sống của mình và bị xã hội nhìn bằng một con mắt khinh miệt Trong bối cảnh đó, vấn đề vai trò của phụ nữ trở thành một vấn đề xã hội bức xúc và trở thành chủ đề quan trọng trong những cuộc tranh luận về vai trò của phụ nữ trong và mối quan hệ giới trong xã hội

Cách mạng Pháp năm 1789 với khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” đã tạo

cho các nhà nữ quyền đầu tiên của Pháp và thế giới một niềm tin rằng xã hội đang

mở rộng cho phụ nữ một cánh cửa mới tiến đến “tự do” khi được mang lại quyền con người và nhiều cơ hội hơn tiếp cận đến sự bình đẳng với nam giới Nhiều câu lạc bộ phụ nữ đã được thành lập ở Paris hoặc các tỉnh lớn Đó là nơi phụ nữ gặp

gỡ, sinh hoạt, phát triển cac cương lĩnh chính trị và kêu gọi các quyền bình đẳng trong giáo dục, việc làm, giải trí Tuy nhiên sau đó, phụ nữ hiểu rằng họ đã nhầm khi chỉ 4 năm sau cách mạng, năm 1793, chính quyền đã thằng tay đàn áp phong trào, giải tán các câu lạc bộ và tử hình Marie Guoze – một trong những thủ lĩnh

của phong trào Phụ nữ đã hiểu rằng “tự do, bình đẳng, bác ái” chỉ dành cho đàn

ông, thực chất là dành cho giai cấp thống trị mà không dành cho phụ nữ và nhân dân lao động Con đường đi đến bình đẳng của họ vẫn còn lắm chông gai

Năm 1893, ở New Zealand, phụ nữ lần đầu tiên giành được quyền bầu cử Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914- 1918) đem những người đàn ông ra trận, buộc những người phụ nữ phải thay vai trò là trụ cột gia đình và tham gia nhiều hơn vào những công việc xã hội Mặt khác, những biến chuyển của lịch sử thế giới cũng mang đến cho phong trào nữ quyền những thay đổi mới: các cuộc đấu tranh đòi quyền công dân diễn ra ở hàng loạt các nước Âu Mỹ Cách mạng tháng Mười Nga

Trang 19

thành công và tuyên ngôn của chủ nghĩa xã hội về vấn đề phụ nữ và gia đình đã bắt đầu có ảnh hưởng tới phong trào nữ quyền

Hàng loạt các hiệp hội được thành lập như: Hiệp hội quốc gia về quyền bầu cử

của phụ nữ (National Society for Women’s Suffrage) - 1867, Liên minh các quốc

gia các hiệp hội vì quyền bầu cử của phụ nữ (National Union of Women’s Suffrage

Societies - 1897, Liên hiệp tự do của phụ nữ (Women’s Freedom League) - 1907

dẫn tới những cuộc tranh luận trong Quốc Hội Anh về việc việc cải tổ chế độ bầu

cử Cuối cùng vào năm 1918, phụ nữ Anh đã giành được quyền bầu cử Tổ chức

mạnh nhất trong làn sóng thứ nhất – thời kỳ nữ quyền tự do chính là Hội liên hiệp

xã hội và chính trị của phụ nữ (Women’s Social and Political Union) – 1930 do

Emmeline Pankhurst và con gái bà lãnh đạo Các tổ chức này đều hướng đến mục tiêu là trả lương bình đẳng, cơ hội dịch vụ dân sự bình đẳng, lương thực cho những bà mẹ đơn thân…

Còn ở Mỹ, những năm 1840 chủ nghĩa nữ quyền đã trở thành một trong những làn sóng chính trị quan trọng với phong trào đòi quyền cho phụ nữ của Elizabeth Cady Stanton và Susan B Anthony bắt nguồn từ cuộc vận động chống chế độ nô

lệ Hội đồng phụ nữ quốc tế (International Council of Women) thành lập ở Washington năm 1888 đòi quyền bầu cử cho phụ nữ Năm 1890 Hiệp hội quốc gia

Mỹ vì quyền bầu cử cho phụ nữ (National American Women Suffrage Association)

giành được thắng lợi khi sửa đổi điều thứ 19 trong Luật về Trao Năm 1914, Alice

Paul thành lập Đảng Phụ nữ (Women Party) trong kỳ họp Quốc Hội 1923, lần đầu

tiên đưa ra yêu cầu sửa đổi Hiến Pháp điều “Nam giới và nữ giới trên toàn lãnh

thổ nước Mỹ đều có quyền bình đẳng về pháp luật” và điều đó đã trở thành trọng

tâm cho phong trào nữ quyền cuối thập niên 1960

1.2 Điều kiện văn hóa – tư tưởng

Ngay từ thế kỷ XVIII, cùng với dòng chảy nhân đạo của thời kỳ Phục Hưng, các nhà triết học Ánh sáng như Didero, Volte đã lên tiếng vì người phụ nữ khi họ khẳng định phụ nữ hoàn toàn có quyền bình dẳng như nam giới Volte lên án mạnh

Trang 20

mẽ sự đối xử bất công với phụ nữ, Condoret mong muốn phụ nữ có thể tham gia vào đời sống chính trị, ông cho rằng phụ nữ có thể thay cai quản một đế chế Theo

họ tình trạng thấp kém của người phụ nữ là do sự bất hợp lý trong nền giáo dục gây ra, vì vậy để cải thiện tình trạng của mình, phụ nữ phải được học hành, đến trường và được trang bị một phông nền kiến thức như nam giới Tuy nhiên, hạn chế của thời kỳ này là vẫn giữ quan điểm phụ nữ sinh ra vì đàn ông và chỉ để phục

vụ cho đàn ông, do đó, việc giáo dục họ cũng chỉ để phục vụ cho đàn ông [24, tr.47]

Theo Trần Hà Giang, Lịch sử tư tưởng nữ quyền [40, tr.17] thì nhiều tài liệu

cho thấy vấn đề nữ quyền bắt đầu được đề cập vào thế kỷ XV trong một công trình khoa học của một phụ nữ Pháp tên là Christine de Pisan với sự lên tiếng của dân chúng về việc phụ nữ bị coi là loại người khác biệt vì vị trí xã hội không bình đẳng với nam giới Sau đó vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII các công trình khoa học nữ quyền bắt đầu phát triển ở Anh với những tên tuổi như Aphra Behn (1640 – 1689), Mary Astell (1666 -1731)…

Năm 1792, Mary Wollstonecraft (1759 – 1797) – người được coi như “tổ mẫu”

của phong trào nữ quyền ở Anh Quốc đã viết tác phẩm Một biện minh cho quyền

phụ nữ (A Vindication of the Right of Women) Với tác phẩm đó, bà đã đặt nền

tảng cho những nghiên cứu về vị trí kinh tế và tâm lý của phụ nữ trong một xã hội bất bình đẳng về giới Lần đầu tiên, đã có một tiếng nói chính thức đòi hỏi quyền được học tập, thụ hưởng một nền giáo dục như nam giới và tăng cường các hoạt động xã hội như nam giới Tác phẩm đã làm dấy lên cuộc tranh luận dựa trên các phân tích tâm lý và sự bất lợi về kinh tế do bắt buộc phải phụ thuộc vào đàn ông,

sự loại trừ phụ nữ ra khỏi môi trường xã hội và địa vị thấp kém về pháp luật so với nam giới Mặc dù xuất thân từ tầng lớp trung lưu và thừa nhận hiện trạng phổ biến của phụ nữ trung lưu sau khi lập gia đình là ở nhà nội trợ và ít khi tham gia vào bất

kỳ công việc nào để kiếm tiền Song, bà cũng lưu ý các bà mẹ rằng hãy đặc biệt chú ý giáo dục trẻ em gái, thông qua đó chuẩn bị cho chúng khả năng tự lập về kinh tế, tự do và nhân phẩm hơn là các kỹ năng chỉ để phục vụ các ông chồng

Trang 21

tương lai Ngoài ra, bà cũng nhấn mạnh những tập tục, tư tưởng đầy thiên kiến về phụ nữ đã hình thành và duy trì quan niệm “nữ tính”, gây nên những quan niệm sai lệch đối với sự phát triển của các bé gái Hình ảnh lý tưởng mà bà muốn vươn tới

cho nữ giới chính là “tích cực và thông minh, biết kết hợp các trách nhiệm công

dân và gia đình, chừng mực trong lối sống và không quá tải bởi gánh nặng gia đình” [26, tr.89] Hạn chế duy nhất của bà là không đưa ra được những giải pháp

triệt để cải thiện tình trạng của nữ giới trong gia đình nói riêng và xã hội nói chung

Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã thiết lập quyền cơ bản cho mọi công dân Nhưng công dân ở đây được hiểu là nam giới khi bản Tuyên ngôn của cách mạng Pháp không hề có một điều khoản nào dành cho nữ giới Chính vì vậy, những ý niệm đầu tiên của phong trào nữ quyền đã được hình thành Năm 1791, Olympe de

Gouges đưa ra “Bản Tuyên ngôn Nữ quyền và Nữ dân quyền” gồm 17 điều với chủ trương: “Xét rằng sự dốt nát, bỏ quên hay khinh thường Nữ quyền là những

nguyên nhân gây ra bất hạnh và làm hư Chánh phủ, những quyền tự nhiên và bất khả nhượng của phụ nữ được tuyên bố long trọng trong bản văn này để mọi người ghi nhớ mà hành động phù hợp với mục đích của định chế chánh trị Người Phụ

nữ đòi hỏi duy trì Hiến pháp, luân lý và hạnh phúc cho tất cả”…[30, tr.13] Đây là

một trong những văn bản lập pháp đầu tiên đề cập đến quyền của phụ nữ nhưng vì bối cảnh lịch sử, vì hạn chế trong nhận thức của giới cầm quyền mà văn bản luật

này không được thông qua mà hai năm sau đó, tác giả đã bị xử tử

Tuy nhiên, phong trào vẫn tiếp tục phát triển với các mốc như: cuộc vận động

cho ra đời Luật về tài sản của phụ nữ kết hôn (Women’s Property Act) - 1882,

cuộc tranh luận về quyền bầu cử cho phụ nữ vào những năm 1850 – 1860, Stuart

Mill và vợ ông là Harriet Taylor viết tác phẩm Sự khuất phục của người phụ nữ đã

góp thêm một tiếng nói cho hướng tự do tranh luận về quyền bình đẳng cho phụ

nữ

John Stuar Mill (1806 – 1873) hướng tới việc đạt bình đẳng trong các quyền như quyền bầu cử, quyền bình đẳng pháp lý trong hôn nhân, trong giáo dục…

Trang 22

nhưng mặt khác, ông cũng đề cao vai trò của phụ nữ đối với cuộc sống gia đình Ông cho rằng gia đình là trường học tiềm năng và phát triển đạo đức cho các thành viên Nếu không có công bằng trong gia đình, đặc biệt giữa vợ và chồng, sẽ rất khó có hy vọng gì nhiều về việc đạt tới công bằng ở các lĩnh vực rộng lớn hơn trong xã hội

Ngược lại, vợ ông là Harriet Taylor lại phản bác quan niệm của xã hội đương

thời là “mọi phụ nữ đều là những người mẹ tiềm năng” [40,tr.92] Bà đặc biệt nhấn

mạnh sự bất bình đẳng trong gia đình và việc cần thiết phải mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ Người phụ nữ có gia đình cũng cần phải tham gia vào các hoạt động sản xuất để có được sự độc lập về kinh tế và như vậy mới có thể cải thiện địa

vị của mình trong xã hội

Engles trong Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước [40, tr.92] cho rằng tư hữu tài sản và nhu cầu liên tục của nam giới về nối dõi, thừa kế là nguyên nhân dẫn đến vị thế yếu kém và và bóc lột gia đình hạt nhân trong xã hội gia trưởng Theo ông, đẩy mạnh xã hội hóa các phương tiện sản xuất, cộng đồng hóa công việc nội trợ và mở rộng không gian thu hút phụ nữ tham gia vào lao động xã hội sẽ góp phần giải phóng phụ nữ

Tương tự, Shaw B cũng khẳng định: “Sự phụ thuộc kinh tế dẫn đến hạn chế vai

trò của phụ nữ khi lập gia đình” [40, tr.92] Ông cho rằng phải tìm cách đảm bảo

cho nam giới, phụ nữ và trẻ em độc lập về kinh tế và phân chia mọi trách nhiệm, lợi ích, bình đẳng cho nam giới, phụ nữ, trẻ em trong gia đình, chỉ qua đó mới đảm bảo các mối quan hệ gia đình đồng thuận

Làn sóng nữ quyền thứ nhất về cơ bản chính là là thuyết nữ quyền tự do Với lý luận trước hết đòi quyền tự do cơ bản cho cá nhân, thuyết nữ quyền tự do chủ trương giải phóng phụ nữ, đòi hỏi mở rộng những nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng quyền của tất cả mọi công dân Theo đó, mọi người kể cả đàn ông, phải được hưởng lợi từ các thành quả phát triển, phụ nữ được mở trói, được tự do tìm kiếm

sự hoàn thiện cá nhân

Trang 23

1.3 Nội dung của thuyết Nữ quyền tự do

Thuyết nữ quyền tự do gắn liền với sự ra đời của Một biện minh cho quyền phụ

nữ (A Vindication of the Rights of Women) của Mary Wollstonecraft (1759 – 1797)

và Sự khuất phục của người phụ nữ của Stuart Mill đã được nhắc đến ở phần trên

Đại biểu của thế kỷ XX là Betty Friedan, Elizabets Holtzman, Bella Abzug, Elaenor Smeal… Quan điểm của các nhà nữ quyền theo thuyết này là vận động cho quyền bình đẳng và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ Một số luận điểm chính của các nhà Nữ quyền tự do là:

Thứ nhất, dựa theo quan điểm “tự do, bình đẳng, bác ái” của giai cấp tư sản

trong Cách mạng tư sản Pháp, các nhà nữ quyền tự do cũng đòi hỏi phải xem xét phụ nữ với tư cách là một nửa nhân loại, họ cần phải được hưởng các quyền như nam giới Lý thuyết nữ quyền tự do không thách thức quyền lực của nam giới mà chỉ nâng tầm của phụ nữ lên ngang tầm nam giới Một xã hội tốt cần phải bảo vệ nhân phẩm của mỗi cá nhân và điều này cần được phản ánh trong các tổng thể chính trị, trong sự bình đẳng và công bằng

Thứ hai, thuyết Nữ quyền tự do coi trọng khả năng trí tuệ của nữ giới Có

những nhà triết học theo quan điểm nam quyền cho rằng trí óc phụ nữ không bằng nam giới như Aristote: “Sự tương quan giữa đàn bà và đàn ông không khác gì sự tương quan giữa những kẻ trí thức và những kẻ lao động chân tay hoặc giữa những

kẻ man rợ và những công dân Hy Lạp Aristote cho rằng đàn bà chỉ có thể tuân

lệnh Theo bản chất, phụ nữ không có ý chí, do đó không thể tự lập.” [5, tr.385]

Lần đầu tiên các nhà nữ quyền tự do đã tranh luận với các quan điểm nam quyền

và cho rằng phụ nữ hoàn toàn có vai trò như nam giới Theo họ, sự kém phát triển của phụ nữ hiện nay là hệ quả của tình trạng kém phát triển trong nhận thức của xã hội chứ không phải do bản thân người phụ nữ Phụ nữ bị buộc vào những phong tục tập quán và pháp lý, không được đến trường và bị giam hãm vào các công việc nội trợ Những trói buộc này trở thành bước cản trở lớn đối với sự thành công của

Trang 24

phụ nữ trong xã hội Chính vì vậy, muốn tăng cường trí tuệ của phụ nữ cần phải thông qua cải cách và giáo dục Công bằng giới đòi hỏi phải có cơ hội như nhau và

sự xem xét đến từng cá nhân cụ thể dù họ là nam hay nữ

Đối với các nhà nữ quyền tự do, cái làm cho phụ nữ khác nam giới là hình dáng cơ thể của họ chứ không phải là trí tuệ Bộ não của phụ nữ cũng phát triển như nam giới và chính vì vậy, nó cũng phải được hưởng những điều kiện phát triển như nam giới

Thứ ba, các nhà Nữ quyền tự do còn cho rằng nghèo đói là một nguyên nhân

quan trọng làm cho hầu hết phụ nữ nghèo không được bình đẳng với nam giới Trong những gia đình nghèo, phụ nữ phải làm việc vất vả gấp đôi nam giới khi họ vừa phải làm việc kiếm sống với thu nhập thấp vừa phải gánh vác công việc nhà

Do đó, các nhà nữ quyền tự do tập trung tranh đấu cho quyền lợi độc lập về kinh tế cho phụ nữ “Nếu phụ nữ có khả năng kiếm tiền và độc lập về kinh tế thì họ sẽ có giá trị cao” (John Mill) [4, tr.386]

Thứ tư, phụ nữ không được tự do tính dục và sinh sản mà còn phải phụ thuộc

hoàn toàn vào nam giới Vì vậy, đấu tranh cho quyền tự do tính dục và sinh sản là một trong những chủ đề quan trọng và cực kỳ nhạy cảm

Thế kỷ XIX, mục đích cơ bản của thuyết nữ quyền tự do là đòi hỏi những quyền cơ bản như: quyền cho phụ nữ bị mất quyền lợi về vật chất như khi lấy chồng, mất quyền tự quyết về quan hệ tình dục khi xây dựng gia đình, mất quyền công dân và thiệt thòi trong lao động phân công giới mà nguyên nhân đều xuất phát từ hôn nhân Đến thế kỷ XIX thì nội dung của thuyết Nữ quyền tự do đã đề cập đến những lĩnh vực như: phúc lợi xã hội, luật pháp, các chính sách xã hội…

và tiếp tục phê phán những hình thái gia đình trong xã hội gia trưởng Ưu điểm của Nữ quyền tự do coi nam nữ là bình đẳng, có thể hợp tác và hòa nhập, chia sẻ trách nhiệm trong gia đình và xã hội

Trang 25

Những cống hiến quan trọng của thuyết Nữ quyền tự do là mang đến những cải cách về giáo dục và pháp lý Bước đầu đòi hỏi cho phụ nữ những quyền cơ bản được nhìn nhận như “một nửa của nhân loại”, một công dân của đất nước Nữ quyền tự do đòi hỏi công bằng thông qua hệ thống pháp lý hiện hành Chìa khóa

để thay đổi xã hội là đồi mới sự phân công lao động gia đình cho phụ nữ Đây là trách nhiệm của nhà nước, của xã hội và các chủ xí nghiệp Một điều quan trọng khác là chính phủ và nhân dân phải sử dụng luật pháp để xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ Bình đẳng giới phải đi từ tư tưởng đến luật pháp, lối sống, đạo đức

Đó là con đường toàn diện mà các nhà nữ quyền tự do cố gắng vạch ra để hướng tới việc nâng cao vị thế người phụ nữ trong xã hội

Thuyết nữ quyền tự do mặc dù có những tư tưởng tiến bộ, song không phải vì vậy mà không có khuyết điểm Nữ quyền tự do bị phê phán vì họ có xu hướng xem các giá trị của nam giới là giá trị nhân loại Lấy nam giới thành chuẩn mực,

họ chủ trương phụ nữ chỉ đạt được bình đẳng khi có được những quyền lợi như đàn ông và lấy đó làm thước đo để định lượng các giá trị xã hội Vô tình, họ đã đặt đàn ông thành trung tâm và xem xét giá trị của mình xung quanh mối quan hệ với nam giới Đồng thời, Nữ quyền tự do cũng coi trọng các giá trị cá nhân hơn là giá trị con người Nói cách khác, Nữ quyền tự do phổ biến trong xã hội của phụ nữ da trắng tư sản chứ không phổ quát cho phụ nữ trên toàn thế giới khi quá coi trọng vấn đề độc lập kinh tế, cải cách thông qua luật pháp mà xem nhẹ vấn đề biến đổi triệt để về quan hệ giới Người ta vẫn có thể dẫn ra những ví dụ phản đề cho luận điểm của các nhà nữ quyền tự do Đó là sự thành công của những nhà văn vốn có xuất phát điểm không độc lập về kinh tế, trái lại phụ thuộc nhiều vào gia đình như chị em nhà Bronti trước khi nổi tiếng

Nữ quyền tự do gắn liền với Làn sóng thứ nhất liên quan đến các hoạt động

chính trị, với sự cải thiện tình trạng kinh tế - xã hội của phụ nữ, giáo dục, cải thiện địa vị của họ trong xã hội… để đảm bảo rằng tiếng nói và năng lực, kinh nghiệm của họ được coi trọng như nam giới Nhìn chung, thành công đặc biệt nhất của giai

Trang 26

đoạn nữ quyền tự do này là đã đem phụ nữ đến trường học Thành công đó bước đầu cũng đã vấp phải nhiều khó khăn khi phải thay đổi trật tự hàn lâm đã tồn tại nhiều thế kỷ: đó là chỉ nam giới mới được phép theo đuổi các đề tài nghiên cứu, các môn khoa học… Các nhà nữ quyền đã chứng minh rằng phụ nữ có đầy đủ năng lực và khả năng để có thể học tập và nghiên cứu như nam giới bằng việc đưa

ra các tấm gương như nhà khoa học đoạt giải Nobel Marie Curie (Ba Lan), nữ toán học người Nga Kovalepskaia …

1.4 Ý thức nữ quyền tự do trong Căn phòng riêng

Virginia Woolf, tác giả của tập tiểu luận Căn phòng riêng (A room for One’s

Own) là một người chịu nhiều ảnh hưởng của nữ quyền tự do Bà đã thể hiện

những ý thức phản kháng cho nữ giới trong tập tiểu luận của mình

Ý thức nữ quyền của Woolf có rất nhiều điểm tương đồng với thuyết nữ quyền

tự do Bà cho rằng xã hội cần coi trọng nữ giới như một nửa nhân loại, bà đề cao khả năng trí tuệ của nữ giới Tiếp nối tư tưởng của những nhà nữ quyền tự do, Woolf tập trung phân tích và phê phán hình mẫu hộ gia đình gia trưởng, coi đó là

một kiểu gia đình tiêu cực, trong đó vị trí gia trưởng được ví như một “kẻ độc tài”

[40, tr.93] mà người chồng thể hiện so với các thành viên khác trong gia đình chủ yếu xuất phát và dựa trên quyền lợi về kinh tế Và luận điểm quan trọng nhất là khẳng định vai trò của độc lập kinh tế với tự do tư tưởng với tuyên ngôn nổi tiếng:

“Phụ nữ viết văn cần tiền và một căn phòng riêng” [38, tr.45] Bàn về mối quan hệ

giữa gia đình và xã hội, Woolf nhấn mạnh rằng vấn đề gia đình không tách rời với hoàn cảnh xã hội, trong đó sự gia trưởng, độc đoán hay sự phụ thuộc của phụ nữ ở môi trường riêng tư, cá nhân là tấm gương phản chiếu sang môi trường rộng lớn hơn (lĩnh vực công cộng)

Tất cả những luận điểm này sẽ được chúng tôi trình bày trong những phần tiếp theo của đề tài

Trang 27

2 TÌNH TRẠNG CỦA NỮ GIỚI TỪ CÁI NHÌN CỦA CĂN PHÒNG RIÊNG

2.1 Tình trạng xã hội và địa vị kinh tế của nữ giới

Trước tiên để làm rõ hiện trạng về địa vị và vai trò người phụ nữ, chúng tôi sẽ làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề về giới (gender), phái tính (sex)và vai trò của giới

Hai thuật ngữ “phái tính” (sex) và “giới” (gender) là khái niệm khác biệt nhưng không hoàn toàn tách biệt với nhau “Phái tính” (sex) là một thuật ngữ sinh

học phân chia con người theo đặc điểm sinh học thành hai nhóm phái nam giới và

nữ giới Trong đó, nam giới được quy định mang cặp nhiễm sắc thể XY còn nữ giới là XX Ngoài ra còn có những đặc điểm về chức năng sinh học như cấu trúc

cơ thể khác nhau, nữ giới có khả năng mang thai và sinh con…

Người đưa thuật ngữ “giới” (gender) vào nghiên cứu xã hội học là Ann Oakley

[9, tr.135] Trong đó, giới được hiểu như sự khác biệt về mặt vai trò, thái độ, hành

vi ứng xử và các giá trị được phân biệt bởi văn hóa Do yếu tố văn hóa – xã hội mà

sự phân biệt các đặc trưng và nhiệm vụ của giới cũng khác nhau Theo đó, vai trò

của giới là “những kiểu hành vi, quan điểm, thái độ mà được xã hội trông đợi tạo

nên mỗi giới tính Những vai trò này bao gồm các quyền và các trách nhiệm được chuẩn hóa đối với từng giới tính trong một xã hội cụ thể” [13, tr 142] Việc xác

định giới và vai trò của giới rất quan trọng trong việc trả lời câu hỏi phụ nữ làm gì

và nam giới làm gì? Thông qua những việc làm của họ sẽ đánh giá được vai trò của họ trong từng lĩnh vực cụ thể Áp dụng lý thuyết này, chúng ta sẽ khảo sát vai trò của nữ giới trong mối quan hệ giữa nữ giới và gia đình, nữ giới và xã hội và nữ giới trong hoạt động kinh tế (địa vị kinh tế của nữ giới) dưới quan điểm của Virginia Woolf

2.1.1 Tình trạng xã hội

“Tại sao đàn ông uống rượu, đàn bà uống nước lã?”

Câu hỏi đó của Virginia Woolf cũng là câu hỏi chung của phụ nữ từ thời cổ đại

và chỉ được giải đáp khi nữ giới đứng lên và giành lấy cho mình những đặc quyền

Trang 28

đáng ra họ phải được hưởng với tư cách là một nửa nhân loại Vén bức màn lịch

sử, người ta có thể nhận thấy vai trò hết sức mờ nhạt của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội - điều hoàn toàn khác biệt so với cuộc sống hiện đại ngày nay khi phụ nữ đang ngày càng chiếm ưu thế Rất nhiều chính trị gia là nữ giới như “Bà đầm thép” Thủ tướng Anh - Margaret Thatcher, Cựu ngoại trưởng

Mỹ Condoleezza Rice, Thủ tướng Đức Angela Merkel…

Vai trò và địa vị của người phụ nữ đảo lộn hoàn toàn khi các thị tộc công xã hình thành và xã hội đổi ngôi từ chế độ Mẫu hệ sang Phụ hệ Người đàn ông ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống Còn phụ nữ ngày càng trở thành một cái bóng, một thứ tài sản sở hữu của đàn ông khi cô ta không có được bất cứ đặc quyền đặc lợi nào cho riêng mình Điều đó tạo nên một sự bất bình đẳng về địa vị người phụ nữ so với nam giới trong gia đình và ngoài xã hội

Trong gia đình, địa vị người phụ nữ đã thể hiện một cách rõ nét khi họ không được tự do trong hôn nhân, không được quyết định sẽ lấy ai mà trái lại phải chịu

sự áp đặt từ cha mẹ, từ cộng đồng Ngay cả khi kết hôn, họ cũng sẽ mất đi những

quyền lợi của chính mình Trong Nguồn gốc gia đình của Enghen, phụ nữ chỉ

được nhắc đến khi đề cập đến những vấn đề như hôn nhân hay thừa kế tài sản

Trong đó, hôn nhân của phụ nữ là “có bằng chứng rằng trong một thời kì dài, phụ

nữ khó lấy chồng ở ngoài thị tộc của mình hơn, so với lấy chồng trong cùng thị tộc; vì rằng cái quyền kết hôn ngoài thị tộc - gentis enuptio - này, mãi tới thế kỉ VI vẫn là một đặc quyền, được xem như một phần thưởng (…) Không nghi ngờ gì nữa, trong chế độ hôn nhân mang tính tôn giáo thời xưa, nữ giới hoàn toàn tham gia vào những quan hệ pháp lí và tôn giáo trong cộng đồng của chồng, và rời bỏ cộng đồng của chính mình.” [2, tr.97] Trong xã hội thị tộc, một trong những xã

hội tiến bộ của loài người nhưng vấn đề hôn nhân của mình, người phụ nữ cũng không thể định đoạt Thậm chí, kết hôn gắn liền với việc họ mất đi quyền lợi về

kinh tế và pháp lý khi không được hưởng quyền thừa kế: “Ai cũng biết là người

phụ nữ đã có chồng sẽ mất quyền thừa kế và quyền để lại tài sản, đối với những thành viên của thị tộc mình;” [2, tr.97]

Trang 29

Đó là tình trạng người phụ nữ mà Engles đã nhắc đến, còn Virginia Woolf, tiếp nối sau đó hằng thế kỷ, đã cho thấy tình trạng hôn nhân của người phụ nữ so với

thời cổ đại không có gì cải thiện: “con gái không chịu lấy chồng do cha mẹ lựa

chọn sẽ bị nhốt trong phòng và bị đánh đập đến nhừ tử, lên bờ xuống ruộng; ép duyên không hề gây sốc trong dư luận Hôn nhân không phải là chuyện tình cảm riêng tư, mà là chuyện mưu lợi cho gia đình, đặc biệt ở những tầng lớp thượng lưu hiệp sĩ… Hôn ước đặt ra khi đứa trẻ, có khi cả hai, còn nằm trong nôi, và hôn lễ được cử hành ngay sau khi chúng lìa khỏi tay bà vú.” [38, tr.74].Đó là tình trạng

của người phụ nữ mà Woolf đã tìm thấy năm 1470 trong một quyển sách về lịch

sử Anh Quốc, và khoảng hai trăm năm sau, vào thời của Vua Stuarts (1603), tình

trạng đó vẫn chỉ là “Đàn bà thuộc tầng lớp thượng lưu và trung lưu lấy chồng theo

ý muốn của mình vẫn là biệt lệ” [38, tr.74]

Đến khi lấy chồng, người phụ nữ không có lấy một vài giây phút gọi là riêng tư

trong cuộc đời họ Phụ nữ thế kỷ XIX quay cuồng với “mười ba đứa con”, thời gian cho mỗi đứa là “chín tháng trời đứa bé mới ra đời Rồi đứa bé sinh ra Rồi

phải mất ba bốn tháng đút cho bé ăn Đút cho bé xong dĩ nhiên mất cả năm chơi đùa với bé Dường như, bạn chẳng thể nào để trẻ con chạy tứ tung ngoài đường xá”[38, tr.42] Họ “nuôi nấng, tắm rửa và dạy dỗ, có lẽ cho đến năm lên sáu lên bảy, một tỷ sáu trăm hai mươi ba triệu con người và điều đó dù được giúp đỡ, vẫn mất rất nhiều thời gian” [38, tr.179] Các nhà xã hội học theo quan điểm truyền

thống cho rằng sự phân chia lao động theo giới trong gia đình là hợp lý Trong đó phụ nữ gắn với vai trò tái sản xuất xã hội, với thiên chức làm mẹ và sinh con, người phụ nữ phải đảm nhiệm cả những công việc trong gia đình: ở nhà nuôi dạy con cái, chăm sóc các thành viên, làm những công việc nội trợ… còn đàn ông sẽ đảm nhiệm những công việc ngoài xã hội, kiếm tiền nuôi sống gia đình Nói cách khác, người phụ nữ mặc định với vai trò chăm sóc con cái cho đến khi chúng trưởng thành Trong quãng thời gian đó, cuộc đời của họ gắn liền với những đứa trẻ và không thể làm được việc gì khác ngoài chăm sóc chúng để đảm bảo cho con mình sự phát triển khỏe mạnh, an toàn Virginia Woolf đã thấu rõ vai trò này của

Trang 30

người phụ nữ, bà đã hỏi người bạn của mình: “Tôi bảo Mary, nếu bà Seton làm ra

tiền thì những kỷ niệm vui chơi hay cãi cọ nào đọng lại trong chị? Chị nhớ gì về Scotland, xứ sở của không khí trong lành, các loại bánh ngọt và biết bao điều khác?” [38, tr.42]

Tuy nhiên đây chỉ là cách giải thích theo quan điểm nam trị, giải thích theo hướng có lợi cho đàn ông Việc áp đặt vai trò trong gia đình của người phụ nữ với thiên chức của họ chỉ là một cách ép buộc người phụ nữ ở nhà, biến họ trở thành những lao động không công và không hề quan tâm đến những nguyện vọng, tâm trạng và suy nghĩ liệu họ có thực sự muốn làm tất cả những công việc đó không? Khi nhìn vào bảng phân công lao động ấy, tại sao người ta không chú ý đến việc mất cân đối trong vai trò của nam và nữ giới trong gia đình và ngoài xã hội? Người mẹ chỉ gắn bó với những đứa trẻ, còn người cha vắng mặt trong giai đoạn

ấu thơ của chúng Người phụ nữ trong gia đình trở thành một tài sản sở hữu cho bất kỳ người đàn ông nào cưới được cô ta về Cô ta sẽ trở thành người chăm lo cho anh tất cả: sinh cho anh những đứa con, lau dọn nhà cửa cho anh và đảm bảo tất cả

để anh có thể rảnh tay hoạt động ngoài xã hội mà vẫn có một gia đình bề thế và

yên ổn Nói như Virginia, cô ta trở thành “nô lệ của bất kỳ cậu trai nào sau khi

cha mẹ cậu ấn chiếc nhẫn vào ngón tay nàng” [38, tr 75]

Hôn nhân không được tự mình quyết định Trong xã hội phụ nữ không hề có địa vị pháp lý, không được công nhận là một công dân khi họ không có quyền bầu

cử Mãi cho đến năm 1893, lần đầu tiên phụ nữ được quyền bầu ở New Zealand, ở Anh năm 1918 và ở Mỹ năm 1920 Sự chậm trễ trong việc công nhận địa vị công dân của họ cũng thật dễ hiểu khi ngay từ thời Woolf, việc đi trên bãi cỏ cũng là

một điều cấm kỵ: “Thế là, tôi bỗng thấy mình băng thật nhanh qua bãi cỏ Bỗng

nhiên có một bóng người đàn ông xuất hiện trước mặt tôi (…) mặt ông ta lộ vẻ hoảng hốt và tức giận ghê gớm (…) Đấy là thảm cỏ xanh, đằng kia là lối đi Chỉ

có các giảng sư và học giả mới được phép giẫm chân lên thảm cỏ; còn lối đi trải sỏi là dành cho tôi (….) Ngay khi tôi đổi hướng bước về phía lối đi, hai cánh tay ông giám thị cũng thư thả buông xuống, sắc mặt trở lại bình thường” [38, tr.36]

Trang 31

Với những gì bà đã trải qua và ghi chép lại, điều đó nói lên hiện thực cuộc sống của họ: không được công nhận như một công dân, một con người thực sự, phải đối mặt với vô số những quy tắc bất công và hà khắc Tất cả chỉ xuất phát từ một nguyên nhân: chỉ bởi cô ta là phụ nữ

Không được kết hôn theo chủ ý của mình, không được tôn trọng như một công dân và đương nhiên, việc phụ nữ hòa nhập vào xã hội của những người đàn ông càng trở nên khó khăn Họ không thể tìm kiếm những công việc thực sự, lương

cao và phù hợp với sở nguyện của họ Đa phần đó là những công việc như “gửi

thư quảng cáo, đọc truyện cho các bà già, làm hoa giả….” Đó là những công việc

mà Woolf cảm thấy rằng “luôn luôn là công việc mình không thích làm, và làm

như kẻ tôi đòi, rồi phải nịnh bợ luồn cúi, chuyện này có lẽ không phải lúc nào cũng cần thiết nhưng không có không được, bởi chuyện rủi ro rất dễ xảy ra cho kẻ ngay thẳng, và rồi ý nghĩ tài năng vượt trội mà che đậy có nghĩa là chết – nhỏ bé thôi nhưng quý giá đối với người sở hữu nó” [38, tr.36] Trái lại, đàn ông thì làm

những công việc như “là chủ tờ báo, đồng thời là tổng biên tập và phụ tá biên tập

Ông là Bộ trưởng bộ ngoại giao, đồng thời là thẩm phán Ông là chủ đội bóng chày, ông là chủ những con ngựa đua và du thuyền Ông là giám đốc công ty đem hai trăm phần trăm lợi nhuận cho người có cổ phần….” [38, tr.36] Mãi đến năm

1865, thế giới mới có người phụ nữ đầu tiên trở thành bác sĩ là Elizabeth Garrett Anderson (1821 -1910) và năm 1869, mới có nữ luật sư đầu tiên - Myra Colby Bradwell (1831 - 1894) Sự khó khăn trong việc hòa nhập xã hội cũng là không đơn giản khi họ không có điều kiện được làm những công việc mình muốn hay có

cơ hội được thụ thưởng tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ xã hội của mình như nam giới đã và đang có

Tất cả những điều mà Virginia hay Enghen đã đề cập tới, đã khái quát bức tranh về người phụ nữ trong xã hội: đó là những con người không có địa vị về pháp lý, không được công nhận như một công dân, không có tiếng nói, không tự quyết được cuộc sống, hôn nhân của chính mình Thậm chí, việc hòa nhập xã hội cũng trở thành một điều khó khăn khi cô ta chỉ đảm nhận những nghề nghiệp vụn

Trang 32

vặt Có thể nói, tình trạng của người phụ nữ trong thời đại này mờ nhạt, bị phân biệt đối xử

2.1.2 Địa vị kinh tế của phụ nữ

Không có bất cứ một địa vị nào trong xã hội, bức chân dung người phụ nữ càng

u ám hơn khi Woolf khẳng định: “các bạn là người nghèo nhất trong xã hội” [38,

tr.34 ] Vai trò của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế hết sức mờ nhạt nếu như khẳng định là không hề có Và thực chất, đúng là như vậy khi ngay từ thời cổ đại, phụ nữ không có quyền thừa kế, không có địa vị kinh tế, không có được bất cứ một thứ tài sản gì của riêng mình, thì bây giờ, tuy đã có quyền thừa kế, nhưng địa

vị kinh tế ấy cũng không hề được cải thiện Mặt khác, phụ nữ trở thành một thứ tài sản của người đàn ông khi anh ta cưới cô về làm vợ

Sự nghèo nàn đó, hiển hiện trong bữa tối với mận khô và bánh sữa trong ngôi

trường của Woolf “Đây là món súp Nó chỉ là nước thịt hầm Chẳng có gì để quấy

lên Nước súp trong đến nỗi người ta có thể nhìn rõ đáy tô để xem có hình vẽ nào dưới đó không Những cái tô cũng trơn tru như món súp, chẳng có hình vẽ nào dưới đáy (…) thịt bò với rau cải xanh và khoai tây khiến người ta liên tưởng đến những tảng thịt mông bày bán trên khu chợ lầy lội (…) tiếp theo là mận khô và bánh sữa (…) xơ cứng như trái tim kẻ bủn xỉn suốt tám mươi năm không hề biết mùi rượu cùng sự ấm áp là gì, cũng không hề biết giúp đỡ người nghèo khó (…)

Kế đó là bánh quy và phô mai, đến đây bình nước được chuyền tay liên tục, bởi bánh quy rất khô” [38; tr.35] Bữa tối nghèo nàn và “thật chẳng ngon miệng tý nào” ấy đã khẳng định rằng: họ không giàu có, và thậm chí, họ không có được

những bữa ăn tử tế

Cụ thể hơn, địa vị kinh tế gần như bằng không của phụ nữ xuất phát từ câu chuyện sau bữa tối của Woolf và người bạn của mình Khi họ nói về những khó khăn trong việc vận động những khoản tiền quyên góp cho việc thành lập một ngôi

trường cho nữ giới: “quyên những khoản tiền cực lớn cho cho các trường nam

sinh viên là chuyện chẳng khó khăn tý nào Nhưng nếu biết chẳng mấy ai thực sự muốn đàn bà đi học thì đó là khoản tiền rất lớn” [38, tr 42] Việc quyên góp để

Trang 33

thành lập một ngôi trường còn khó khăn đến vậy, cho nên, việc đòi hỏi những tiện

nghi thì “còn phải chờ mới có” Chính những khó khăn trong việc thành lập ngôi

trường ấy đã khiến Woolf phải thốt lên “lời khinh miệt sự nghèo nàn đáng trách của phái nữ Những bà mẹ của chúng tôi làm gì mà chẳng thấy họ để lại gia tài nào cho chúng tôi?” [38, tr.38]

Và Woolf đã tự đặt môt nghi vấn rằng, hải chăng, họ đã dùng số tiền của đời

họ cho những công việc phù phiếm, cá nhân và riêng tư: “Họ lo trang điểm tỉ mỉ

khuôn mặt? Hay đi ngắm các cửa hiệu bán hàng? Đi khoe thân mình dưới nắng biển Monte Carlo.”[38, tr.42].Nhưng không, họ vẫn chỉ là những phụ nữ giản dị,

và “chẳng có dấu vết gì chứng tỏ bà từng sống cuộc đời tươi vui, phóng dật Bà

thật giản dị, chất phác; một bà lão với chiếc khăn choàng buộc lại bởi cái kẹp ngũ sắc lớn, bà ngồi trên ghế mây, khuyến khích con chó xù nhìn vào ống kính máy ảnh với vẻ mặt thích thú” [38, tr.42] Phụ nữ không hề có một số tiền nào để dành

cho riêng họ Cả đời họ phục vụ tận tụy, nhưng sự tận tụy ấy là dành cho gia đình,

cho con cái và người chồng của họ Họ thậm chí “không cho phép họ có quyền giữ

riêng đồng tiền do chính tay họ làm ra.” (…) “Chỉ bốn mươi tám năm vừa qua, bà Seton mới có quyền giữ một xu trong túi tiền của chính mình.” [38, tr 42]

Woolf cay đắng thốt lên rằng: “kiếm tiền dường như là cái gì bất khả đối với

họ.” [38, tr.43] Vậy thì nguyên nhân nào gây nên sự nghèo nàn về kinh tế ấy của

phụ nữ? Woolf đã chỉ ra các nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, theo cơ cấu phân công lao động trong gia đình và theo chức năng sinh học của mình, người phụ nữ phải trải qua một quá trình sinh sản và nuôi nấng, chăm sóc con cái suốt cuộc đời còn lại của mình từ khi đứa trẻ đó ra đời Chính vì vậy mà các hoạt động khác của họ bị gián đoạn, bị hạn chế đến mức họ không thể dành thời gian cho các hoạt động khác trong cuộc đời mình

Thứ hai, những hạn chế về tư tưởng và điều kiện của pháp luật và xã hội không

cho phụ nữ quyền được sở hữu tài sản Ngay cả khi đó là tài sản do họ làm ra “ở

những thế kỷ trước, tiền bà làm ra là tài sản của người chồng – và có lẽ lý do này

Trang 34

đã khiến bà Seton và những người mẹ của bà chẳng hề bén mảng đến sàn giao dịch thị trường chứng khoán bao giờ” [38, tr.43]

Thứ ba, chính những hạn chế về quyền sở hữu tài sản ấy đã làm người phụ nữ không có động lực, không có ý thức được mình phải kiếm tiền Điều đó trở thành một mầm mống tư tưởng vô cùng tai hại đối với phụ nữ, biến họ trở thành kẻ lệ

thuộc về kinh tế đối với đàn ông Làm sao họ có thể làm ra tiền khi “mỗi đồng xu

tôi làm ra đều bị lấy đi và do chồng tôi định đoạt việc tùy nghi tiêu dùng?”[35,

tr.43] Chính vì vậy, ngay cả khi “tôi có khả năng làm điều đó, chẳng phải là vấn

đề khiến tôi bận tâm Tốt hơn là cứ để việc đó do chồng tôi làm.” [38, tr.43]

Hình ảnh người phụ nữ nghèo nàn ấy không xa lạ trong văn học, người phụ nữ

ấy có khác gì với người mẹ của Éugine Grandet của đại thi hào Balzac? Khi người chồng là một người cực kỳ keo bẩn, cho dù bà có làm cả đời, bà cũng không thể có được lấy một đồng vàng của riêng mình? Phụ nữ không có một công việc ổn định, không có cơ hội để học tập và nhận lấy những công việc đòi hỏi tri thức cao Họ lại phải chu toàn cho con cái, cho gia đình, cho chồng, cho nấu nướng dọn dẹp và những công việc nặng nhọc không tên trong gia đình, vậy thì, làm sao họ có thể

trở thành những “doanh nhân, chủ nhân cơ xưởng, chế tạo tơ nhân tạo hoặc nhà

tài phiệt của thị trường chứng khoán?”[38, tr.43]

Ngay từ những chương đầu tiên của tác phẩm, Virginia Woolf đã khái quát một cách chân thực về bức tranh chân dung người phụ nữ bấy giờ Họ nghèo nàn, bị phân biệt đối xử và bị trói buộc với những công việc gia đình mà xã hội đã mặc định cho giới tính của họ phải làm, phải chịu trách nhiệm Tất cả những gì liên quan đến nguyện vọng, sở thích hay ước muốn cá nhân của họ không được đề cập đến

2.2 Khả năng và ranh giới khoa học của nữ giới

Vai trò của nữ giới trong mối quan hệ với gia đình, xã hội và địa vị kinh tế của

nữ giới đã được làm rõ Nhưng vẫn còn thiếu một mảng quan trọng, đó là khả năng, ranh giới khoa học của họ trong thời kỳ này ra sao? Tại sao trong bối cảnh thời đại của Woolf, trong mênh mông của những nhà bác học, khoa học, nhà văn,

Trang 35

triết học… những cái tên của nữ giới vẫn là thiểu số? Phải chăng khoa học đã bỏ quên phụ nữ trong bước đường phát triển của mình?

Trong tác phẩm, đã rất nhiều lần VirginiaWoolf bộc lộ cảm xúc của mình một cách mạnh mẽ Điều hiếm thấy trong một thể loại mang tính chính luận như tiểu luận Và cao điểm là khi bà bộc lộ sự giận dữ đến mức nguyền rủa đối phương Nhưng ai đã làm nhà văn giận dữ đến mức đó?

“Phụ nữ chỉ được phép đặt chân vào thư viện khi nào có giảng sư đại học đi

kèm hoặc trong tay có thư giới thiệu” [38,tr.21] Quy định đó của thư viện, của

trường Đại học Oxbrigde cũng nói lên định kiến xã hội thời đại dành cho phụ nữ trong học tập và nghiên cứu khoa học Là phụ nữ muốn học tập và nghiên cứu, phải có người đi kèm, phải có người hướng dẫn, phải có người cam kết với người khác rằng cô có đủ khả năng để nghiên cứu, để học tập trong thư viện Quy định

đó đối với Woolf trở thành một điều xúc phạm vào nhân cách và năng lực của nhà

văn Bà giận dữ đến mức tuyên bố rằng: “sẽ không bao giờ tôi đòi hỏi từ đó sự tiếp

đãi ân cần lịch sự, tôi thề như vậy trong lúc giận dữ bước xuống bậc cấp” [38,tr

21] Đây là một thực tế trong xã hội và thậm chí không cần ở thời đại của Woolf

mà mãi đến năm 1960, “trong hồi ức của của Evi Glenn, khi bà đến thư viện

Lamont của đại học Harvard, bà đã tức giận vì nơi đây không mở cửa cho sinh viên nữ” [13, tr.383] Đó là một thực trạng của xã hội và chính điều đó cũng nói

lên sự phân biệt giới tính trong nghiên cứu khoa học và trong giáo dục thời kỳ này Người phụ nữ vốn chỉ xuất hiện trong gia đình, nay khi họ muốn hòa nhập xã hội, theo đuổi khoa học theo mong muốn và nguyện vọng của mình thì cũng gặp khó khăn của sự phân biệt đối xử Còn với đàn ông, việc họ học tập và nghiên cứu là điều đương nhiên

Học vấn của phụ nữ thời kỳ này ra sao? Woolf cay đắng trả lời rằng: “nàng

gần như mù chữ” [38,tr.75] Nàng có đi học không? - “nàng không được đến trường Ngay cả văn phạm và lý luận nàng còn chẳng được học nói gì đến đọc trước tác của Horace hay Virgil” [38,tr.80] Đối với những phụ nữ đi học, các

giáo sư đánh giá họ rằng: “ấn tượng để lại trong đầu sau khi ông chấm bất cứ loạt

Trang 36

bài dự thi nào là, không cần biết điểm ông cho như thế nào, trí tuệ của cô nữ sinh viên xuất sắc nhất cũng chẳng thể nào vượt qua nổi cậu sinh viên kém cỏi nhất”

[38, tr.90] Họ rút ra một “quan niệm chung, đó là đừng kỳ vọng gì vào trí tuệ

người nữ” [38,tr.91] Trong khi nam giới, luôn là người được giáo dục một cách

bài bản

Woolf khéo léo đề cập đến sự bất mãn của tình trạng bất bình đẳng trong nghiên cứu khoa học và giáo dục giữa nam và nữ khi bà cố gắng tập trung và trả lời câu hỏi mà mình đặt ra Khi loay hoay trong những ý tưởng ấy, bà chợt nhận ra mình có thể tham khảo trong những quyển sách khi thấy cậu sinh viên kế bên mình đang chăm chú “ghi chép từ cuốn sách hướng dẫn khoa học” và từ đó bà đã

có thể có hướng giải quyết và trả lời câu hỏi cho mình Nhưng ở đây, bà cũng nhận

ra một vấn đề khác, đó là khi nam giới được huấn luyện một cách bài bản để học

tập và nghiên cứu khoa học, có “cách duy trì câu hỏi của mình vượt qua sự phân

tán từ bên ngoài cho đến khi câu hỏi chạy đúng vào ngay câu trả lời như chú cừu chạy đúng vào chuồng quây” [38,tr.51] Trong khi người phụ nữ luôn phải tìm

cách học tập trong tình trạng những câu hỏi và câu trả lời “tan tác như bầy cừu sợ

hãi chạy tới chạy lui tán loạn, mặc cho đàn chó xông xáo ra sức sủa” [38, tr.51]

Những ranh giới và thiên kiến trong việc đánh giá về năng lực nghiên cứu và học tập của người phụ nữ được thể hiện rõ nét ngay cả trong hai ngôi trường Đại học lớn nhất và uy tín nhất của Anh Quốc – những biểu tượng cho sự tiến bộ và văn hóa của nhân loại – như Oxford và Cambrigde thì liệu rằng trong xã hội, người ta còn có những định kiến ra sao về năng lực nghiên cứu của phụ nữ? Và liệu chăng, ở những nơi khác như các trung tâm, các viện nghiên cứu khoa học… ranh giới đặt ra để hạn chế phụ nữ tham gia vào khoa học còn nghiêm khắc hơn như thế nào nữa?

Tất cả những điều mà Woolf đã nêu trên là thực trạng mà người phụ nữ đã phải gánh chịu Họ nghèo nàn về kinh tế và thiếu thốn về tinh thần, họ không được học hành và giáo dục bài bản như nam giới Hơn thế nữa, năng lực và trí tuệ của họ Chính vì vậy khi làn sóng nữ quyền thứ nhất dâng cao, họ đã chủ trương được học

Trang 37

tập và nghiên cứu các lĩnh vực khoa học, theo đuổi các đề tài nghiên cứu như nam giới Điều đó đã gây nên một cú sốc lớn khi hàng ngàn năm qua, chỉ có nam giới mới được nghiên cứu các môn khoa học

2.3 Giá trị của nữ giới trong xã hội gia trưởng

Khi xã hội chuyển đổi từ hình thái công xã nguyên thủy gắn liền với chế độ mẫu hệ sang chiếm hữu nô lệ mà ở đó vai trò của người đàn ông được đề cao thì

đó cũng là lúc xã hội gia trưởng định hình và kéo dài cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại Xã hội gia trưởng mà cốt lõi của nó chính là chế độ phụ quyền thường được hiểu là sự chi phối của nam giới với tư cách là một tầng lớp đối với phụ nữ và một hệ thống theo đó các quyền và nghĩa vụ đối với người và vật được truyền theo người cha Các nhà xã hội học thế kỷ XIX đã phát triển khái niệm chế

độ phụ quyền như một khái niệm đối lập với khái niệm chế độ mẫu quyền để giải thích sự tiến hóa của xã hội Ngày nay, khái niệm chế độ phụ quyền (gia trưởng) được dùng để miêu tả một tình huống trong đó nam giới nắm quyền kiểm soát chủ yếu trong các thể chế kinh tế, chính trị, văn hóa hay là sự thống trị của đàn ông đối với phụ nữ

Chủ nghĩa nữ quyền coi gia đình không phải là một khối thống nhất và toàn vẹn mà trái lại, họ coi gia đình như một bằng chứng thuyết phục nhất cho sự áp bức giới Gia đình chỉ là một hình thức phục vụ cho chế độ gia trưởng, cho lợi ích của đàn ông Chế độ gia trưởng (patriarchy) theo nghĩa đen có nghĩa là “luật lệ của người cha” Nó được dùng để miêu tả một loại hình gia đình do đàn ông thống trị (male – dominated) Nam giới giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các lĩnh vực kinh tế

- chính trị mà trong đó lấy nam tính làm mẫu gốc hình thành nên các giá trị chuẩn mực của xã hội Nói cách khác, trong xã hội gia trưởng, người đàn ông là người lãnh đạo, còn phụ nữ là người chấp nhận các quyết định [30, tr 63]

Là người nắm cán dao, đàn ông có mọi quyền lực để đánh giá về nữ giới theo cách mà họ muốn, vẽ nên bức chân dung về phụ nữ theo ý thích hay định kiến của

họ Nhưng trong tất cả những bức chân dung ấy, phụ nữ hiện lên với tất cả những

Trang 38

méo mó và khiếm khuyết, phụ nữ đơn thuần chỉ là một “người đàn ông không

hoàn chỉnh” (Aristote) [13, tr.27]

Ngay từ thời cổ đại, không khó khăn để tìm thấy những quan niệm của đàn ông

về phụ nữ Socrate (470TCN – 399 TCN) không cho phụ nữ vào lúc ông nằm trên giường bệnh và trước lúc lâm chung, một người học trò của ông khóc toáng lên,

ông kinh ngạc nói rằng: “Cái gì lạ vậy? Thầy không cho phụ nữ vào đây vì tránh

cảnh này Người ta phải chết trong thanh tịnh” [24, tr.27] Còn học trò của ông,

Platon (427 TCN - 347 TCN) lại nói rằng: “Tôi cảm ơn trời đã cho một người Hy

Lạp chứ không phải một người dân mọi rợ, một người tự do chứ không phải một

nô lệ, một người đàn ông chứ không phải một người đàn bà.” [24, tr.27] Cả ba

thầy trò Socrate, Platon và Aristote đều chủ trương rằng, theo bản chất, phụ nữ không có ý chí, do đó không có tự lập Đó là cái nhìn nhị phân (binary) tạo nên sự đối lập tuyệt đối giữa nam giới và nữ giới trong xã hội phương Tây cổ đại Chính cái nhìn đó đã tạo nên thiên kiến, sự phân biệt đối xử trong xã hội gia trưởng Đến thời Trung Cổ, khi các tôn giáo nắm vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần cũng như tư tưởng xã hội thì ở đó, vai trò của phụ nữ cũng không có gì khác biệt Ngược lại, tôn giáo càng là nơi thể hiện rõ nhất tính gia trưởng của đàn ông trong việc nhìn nhận vai trò của phụ nữ Đạo Thiên Chúa cho rằng đàn bà chẳng qua chỉ là một cái xương sườn của Adam và được sinh ra chỉ vì

sự buồn chán của Adam Thánh Thomas nói: “Đàn bà chỉ là một sinh vật nhất thời

và không hoàn chỉnh, một thứ đàn ông dở dang” [24,tr.28] Luật Giáo Hội không

thừa nhận một hình thức sở hữu tài sản hôn nhân nào khác ngoài Luật của hồi môn, nhiều Hoàng đế áp dụng luật cấm ly hôn Với chế độ phụ quyền, người đàn ông được phép đa thê, được cưới nhiều vợ trong khi người phụ nữ chỉ được lấy một chồng và tuyệt đối phụ thuộc vào chồng, vào cha

Hệ tư tưởng gia trưởng cho rằng đàn ông siêu việt hơn phụ nữ Phụ nữ bị kiểm soát bởi đàn ông và là một phần tài sản của đàn ông Tư tưởng này được thể hiện thông qua tất cả các lĩnh vực mà phụ nữ và nam giới tham gia tương tác như gia đình, tôn giáo, kinh tế, chính trị, giáo dục… Virginia Woolf cũng đã vạch trần bản

Trang 39

chất của chế độ gia trưởng trong các lĩnh vực thông qua những luận điểm và những trích dẫn tư tưởng, phát biểu về phụ nữ trong Chương hai của tập tiểu luận

“Bậc trí nhân không bao giờ phát biểu những điều họ nghĩ về đàn bà? (Samuel

Butler)

[38,tr.51]

Hầu hết đàn bà không có cá tính gì cả (Pope)

[38,tr.52]

Đàn bà là cái gì đó vô cùng cực đoan, hoặc họ vô cùng vượt trội, hoặc họ vô

cùng thấp kém so với đàn ông (La Bruyère)

[35, tr.52]

Napoleon cho rằng không giáo dục được họ

[35, tr.52]

Đàn ông nên biết rằng đàn bà là kẻ thắng cuộc vì họ chọn lựa sự yếu đuối và

dốt nát tột cùng Nếu không nghĩ vậy, đàn bà sẽ không bao giờ khiến người đàn ông e ngại về những suy nghĩ của họ về chính bản thân mình… Để cho công bằng

cả hai phía nam và nữ, tôi nghĩ chỉ có cách thẳng thắn công nhận (Johson)

[35, tr.52]

Kẻ khác ngược lại, cương quyết nghĩ một nửa đàn bà là thần thánh và họ thờ phụng đàn bà dựa trên quan niệm đó (Người Đức cổ đại tin rằng có cái gì đó thiêng liêng nơi người đàn bà, và dựa vào niềm tin đó, họ tìm đến đàn bà để nghe những lời tiên tri.”

[35, tr 54]

“Một khi trẻ con không được ưa thích đón nhận nữa thì không cần thiết phải

có đàn bà (John Langdon Davies).”[35, tr 178] Đặc biệt, với quan điểm này, cái

nhìn thiên kiến của xã hội gia trưởng đối với phụ nữ càng trở nên đậm nét Đối với đàn ông phụ nữ chỉ có giá trị như một công cụ chức năng chứ không hề được xem

là những con người, có giá trị như những con người thực thụ Thực sự, quan niệm này của nam giới đã có tiền đề từ những người đàn ông đi trước Aristote coi phụ

nữ là những người đàn ông không hoàn chỉnh”, còn phân tâm học Freud với phức

Trang 40

cảm Electra cho rằng phụ nữ với mặc cảm “ghen tỵ về cái chim” (penis envy), họ

thiếu đi dương vật vì họ nhận ra rằng so với nam giới họ mất đi bộ phận này và đây là một hình phạt bẩm sinh mà họ phải chịu đựng Tiếp nối quan điểm của Aristote, Freud vẫn đặt nam giới lên trên phụ nữ và cái nhìn của ông là phủ định

nữ giới Các nhà nữ quyền theo quan điểm phân tâm học cho rằng đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng nam giới sáng chế ra, đó thực chất chỉ là một cái bẫy tâm lý mà đặc biệt là phụ nữ cần phải có sự tỉnh táo để xem xét [40,tr.47] Tuy nhiên, đây cũng là một sự gợi mở cho hướng khám phá về bản năng tính dục và giới tính của con người

Virginia Woolf đã dẫn hàng loạt những ví dụ khác nhau nhưng cũng đủ để cho người đọc thấy được quan điểm chủ đạo của nam giới đối với phụ nữ là gì Với họ, phụ nữ không gì khác hơn là một cỗ máy đẻ (John Langdon Davies), họ không có

gì nổi bật và không thể giáo dục được họ (Naloleon) Nhưng trong tất cả những quan điểm đó, cũng có quan điểm cho rằng phụ nữ là thần thánh Tất cả tạo nên

một sự hỗn độn khi “bất kỳ chỗ nào cũng thấy đàn ông có quan niệm khác nhau về

đàn bà” [38, tr.57]

Để lý giải căn nguyên nguồn gốc của những quan niệm thiên kiến về phụ nữ

ấy, Virginia đã thử lý giải những nguyên nhân ấy theo cách của mình Đầu tiên bà

áp dụng cả phân tâm học Freud để lý giải về sự thù ghét đàn bà đến mức giận dữ

của giáo sư X, người đã viết quyển sách có tên là Sự thua kém tinh thần, đạo đức

và thể xác của phái nữ Ông viết về người phụ nữ như đang “nỗ lực dưới áp lực

của cảm xúc nào đó khiến trong lúc viết, ông đâm ngòi bút xuống mặt giấy như thể đang giết chết con côn trùng rồi; ông vẫn chưa thỏa mãn; ông phải giết nữa”

[38,tr.56] Theo Woolf, sự giận dữ ấy phải chăng bắt nguồn vì “vợ ông ngoại tình

với anh lính chàng sĩ quan kỵ binh? Có phải chàng sĩ quan kỵ binh dáng người cao gầy, điển trai và mặc áo lông cừu? Phải chăng ông giáo sư, áp dụng thuyết phân tâm học của Freud, bị một cô gái nhỏ chê cười khi ông còn nằm trong nôi?”

[38,tr.56] Sự lý giải này giống như một lời giễu nhại mà Woolf dành cho ông giáo

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w