Chẳng hạn, nghiên cứu của nhóm tác giả Barbara Beville Smith - “Ảnh hưởng của sự phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường và các hình thức đồng tham gia của phụ huynh đến kĩ năng đọc của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LÊ UYÊN
SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ
NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
Trang 2Mục lục
Trang
Mục lục 1
LỜI CẢM ƠN 4
LỜI CAM ĐOAN 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 8
2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 10
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 11
3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Khách thể nghiên cứu 11
3.3 Giới hạn nghiên cứu 12
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT THU THẬP THÔNG TIN 13
4.1 Phương pháp nghiên cứu 13
4.2 Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lí thông tin 13
4.2.1 Phỏng vấn sâu 13
4.2.2 Phân tích tư liệu sẵn có 13
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 14
5.1 Ý nghĩa khoa học 14
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 14
6 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 14 6.1 Những thuận lợi 14
Trang 36.2 Những khó khăn 15
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN 15
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1 17
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 17
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 17
1.1.1 Tầm quan trọng của sự phối hợp gia đình - nhà trường - xã hội trong giáo dục học sinh 17
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục trẻ 19
1.1.3 Quan điểm và hành vi của phụ huynh và nhà trường trong quá trình phối hợp giáo dục trẻ 24
1.2.Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng 29
1.2.1 Cách tiếp cận xã hội hóa 29
1.2.2.Lý thuyết vốn xã hội của James Coleman (1988) 32
1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbet Blumer 34
1.3 Khung phân tích và các khái niệm chính 36
1.3.1 Khung phân tích 36
1.3.2.Một số khái niệm chính 36
1.4 Phương pháp nghiên cứu 38
1.4 Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lí thông tin 38
1.4.1 Phỏng vấn sâu 38
1.4.2 Phân tích tư liệu sẵn có 40
1.5 Phương pháp chọn mẫu 40
CHƯƠNG 2 42
SỰ PHỐI HỢP GIÁO DỤC GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG Ở PHƯỜNG 16 - QUẬN GÒ VẤP VÀ PHƯỜNG 15 - QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 42
2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 42 2.2 Bối cảnh kinh tế- xã hội và tình hình giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4hiện nay 44
2.2.1 Trách nhiệm của gia đình – phụ huynh học sinh trong giáo dục con cái 45
2.2.2 Trách nhiệm của nhà trường 50
2 3.Quan điểm của phụ huynh về sự phối hợp giáo dục giữa gia đình - nhà trường 58 2.3.1 Quan điểm chung của phụ huynh về vị trí của gia đình và nhà trường trong sự phối hợp giáo dục 58
2.3.2 Quan điểm của phụ huynh về vai trò của cán bộ - giáo viên trong nhà trường 65
2.4 Nội dung truyền thông từ phía phụ huynh đến nhà trường 71
2.4.1 Sự chia sẻ của phụ huynh với giáo viên về rắc rối học tập của con cái 73
2.4.2 Sự chia sẻ của phụ huynh với giáo viên về rắc rối trong hành vi, ứng xử của con cái 80
2.4.3 Chia sẻ về sở trường, năng khiếu của con cái 84
2.4.4 Phụ huynh bày tỏ lòng cảm ơn đối với giáo viên 88
2.5 Cách thức trao đổi thông tin giữa gia đình và nhà trường 91
2.5.1 Truyền thông giữa gia đình và nhà trường 92
2.5.1.1 Cách thức trao đổi thông tin từ gia đình đến nhà trường 92
2.5.1.2.Trao đổi thông tin từ nhà trường đến phụ huynh 97
2.5.2 Tham gia các hoạt động của nhà trường 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 KẾT LUẬN 110
2 KHUYẾN NGHỊ 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 124
Phụ lục 1 Bảng hỏi phụ huynh học sinh 124
Phụ lục 2 Các biên bản phỏng vấn sâu 126
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Tác giả trân trọng và xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến:
- Khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo thuận lợi cho tác giả hoàn thành chương trình cao học và bảo vệ luận văn
- PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến – người hướng dẫn khoa học đầy nhiệt tâm
- Các hộ gia đình ở phường 16 – quận Gò Vấp và phường 15 – quận 5 mà tác giả đã tiếp xúc và phỏng vấn
- Cha mẹ, gia đình dì dượng đã luôn tạo chổ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần cho tác giả
- Lãnh đạo Viện Nghiên cứu phát triển, quản lý Phòng Nghiên cứu văn hóa xã hội
và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cho tác giả toàn tâm hoàn thành luận văn
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lê Uyên
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đặc điểm chi tiết về mẫu nghiên cứu 43
Bảng 2.2: Số nhân khẩu trung bình của một hộ gia đình ở TPHCM 45
Bảng 2.3: Các khoản chi phí bình quân một trẻ đi học một năm ( đvt:1.000 đồng) 48
Bảng 2.4 : Ý kiến về vấn đề học thêm của con em 50
Biểu đồ 2.2: Số giáo viên qua từng năm học ở TPHCM 52
Biểu đồ 2.3: Số học sinh bình quân / giáo viên của các cấp từ năm 2005 đến 2010 ở TPHCM 53
Bảng 2.5: Số học sinh bình quân/giáo viên cấp THCS ở TPHCM qua các năm học 53
Biểu đồ 2.4: Số tiết mỗi môn học trong một năm của lớp sáu 56
Bảng 2.6: Các nhóm phụ huynh 65
Bảng 2.7: Đánh giá của phụ huynh về vai trò quan trọng của giáo viên 66
Biểu đồ 2.5: Tần suất giáo viên được phụ huynh nhắc đến 69
Bảng 2.8: Giáo viên mà phụ huynh thường gặp 70
Bảng 2.9: Các nhóm chủ đề mà phụ huynh và giáo viên trao đổi với nhau 73
Bảng 2.10: Các trường hợp phụ huynh chia sẻ với giáo viên về rắc rối liên quan đến điểm số, bài vở của con cái 74
Bảng 2.11: Trường hợp phụ huynh chia sẻ với giáo viên về rắc rối liên quan hành vi, ứng xử của con cái 81
Bảng 2.12: Trường hợp phụ huynh chia sẻ với giáo viên về năng khiếu của con cái 84
Bảng 2.13: Đánh giá các hình thức giáo dục 87
Bảng 2.14: Cách thức trao đổi thông tin từ phụ huynh đến nhà trường 97
Trang 8MỞ ĐẦU
Trang 91 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đảng và nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Trong tình hình giáo dục hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra là nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả của giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Các thành phố là địa bàn có nhiều thuận lợi hơn so với nông thôn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế thị trường cùng với các xu hướng hội nhập hiện nay, hệ thống giáo dục nói chung và công tác giáo dục học sinh ở các
đô thị lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, không tránh khỏi những ảnh hưởng phức tạp Các phương tiện truyền thông đại chúng thường xuyên nhắc đến các vấn nạn đang diễn ra với học sinh hiện nay như bạo lực trong học đường giữa các em học sinh, các căn bệnh tâm lý, hiện tượng bỏ học, bỏ nhà đi lang thang với số lượng và mức độ phạm phải ngày một nghiêm trọng hơn Đồng thời, trong văn bản
chỉ thị về Tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh và sinh viên ban hành vào ngày 23-12-2008, Bộ Giáo Dục và
Đào tạo đã nêu thực trạng hoạt động phối hợp giáo dục từ gia đình, nhà trường và
xã hội còn nhiều hạn chế, dẫn tới hiện tượng tồn tại một bộ phận học sinh, sinh viên
có biểu hiện vi phạm về đạo đức, có lối sống hưởng thụ, vướng vào các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật Như vậy, cần nhìn nhận một thực tế đáng báo động hiện nay là công tác giáo dục học sinh là nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi sự tham gia của cả
ba bên: gia đình – nhà trường – xã hội Không ít gia đình đang giao phó việc giáo dục con cái cho nhà trường, và thường đổ lỗi trách nhiệm cho nhà trường mỗi khi con cái gặp vấn đề về điểm số hoặc lối sống Hoặc sự phối hợp của gia đình đối với nhà trường không đúng cách dẫn đến những tác dụng ngược Về phía trường học, một số trường vẫn chưa chủ động phối hợp với gia đình, bỏ qua những ý kiến từ gia đình, không nhìn nhận đúng vai trò của gia đình trong việc giáo dục học sinh Để tiến tới sự thống nhất trong phối hợp giáo dục con cái, cần xem xét lại mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường trên nhiều chiều cạnh, đặc biệt là trao đổi thông tin và dạy dỗ con em trong gia đình
Từ góc nhìn nghiên cứu khoa học, trên phạm vi quốc tế, chủ đề sự phối hợp
Trang 10giáo dục giữa gia đình và nhà trường không phải là chủ đề mới Nhiều nghiên cứu được triển khai nhằm chứng minh tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục đến sự phát triển trí tuệ và nhân cách của trẻ em Chẳng hạn, nghiên cứu của nhóm tác giả
Barbara Beville Smith - “Ảnh hưởng của sự phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường và các hình thức đồng tham gia của phụ huynh đến kĩ năng đọc của trẻ”
chứng minh sự đồng lòng giữa cha mẹ và thầy cô đã đem lại kết quả học tập khả quan cho con em Hoặc nghiên cứu của nhóm tác giả Kristina L Faust Horn –
“Nhận thức của phụ huynh và thầy cô về mối quan hệ phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường và thành tích đạt được của học sinh” cũng nhấn mạnh phối hợp giáo
dục gia đình-nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập của học sinh
Và nhiều nghiên cứu khác nữa đã nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ gia đình – nhà trường đối với học sinh Tuy nhiên, điểm nhấn của các nghiên cứu này mới chỉ tập trung ở giáo dục tri thức mà chưa chú trọng đến giáo nhân cách của các
em Ngoài ra, khi tìm hiểu về sự phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường, các nghiên cứu trên tìm hiểu nhiều vấn đề khác nhau: truyền thông giữa cha mẹ và thầy
cô, cha mẹ cùng học bài với con, cha mẹ kiểm soát việc xem truyền hình của con, cha mẹ là tình nguyện viên trong trường học của con… Điều này làm cho kết quả nghiên cứu mang tính còn mang tính khái quát
Trong phạm vi trong nước, mặc dù cụm từ sự phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội thường xuyên xuất hiện trong các văn bản nghị quyết,
quyết định, chỉ thị, báo cáo hàng năm và trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này không nhiều, nếu không nói là rất hiếm hoi Đa phần các nghiên cứu về giáo dục trong nước thường chỉ mới khai thác một phía lực lượng giáo dục: gia đình hoặc nhà trường Qua công trình
“Giáo dục gia đình: Những thách đố mới”, tác giả Kiên Giang báo động sự buông lỏng của gia đình đối với việc dạy dỗ con em hiện nay Hoặc nghiên cứu “Kiểu loại gia đình và giáo dục trẻ em trong gia đình ở Hà Nội hiện nay” của tác giả Nguyễn
Chí Dũng (2006) đã chứng minh ảnh hưởng của nghề nghiệp và học vấn của bố mẹ
đến việc giáo dục trẻ Cuộc khảo sát “Một số thuận lợi và khó khăn trong công tác
Trang 11giáo dục gia đình” của tác giả Lê Thị Lâm lại tập trung vào mối quan hệ cha mẹ -
con cái đối với vấn đề học tập nhưng chỉ mới dừng lại ở việc cha mẹ đầu tư thời
gian, công sức kèm bài vở cho con Nghiên cứu “Ảnh hưởng của yếu tố ngoài nhà trường đến việc học tập của học sinh” của Nguyễn Thị Minh Phương bắt đầu nhìn
nhận về các yếu tố ảnh hưởng đối với việc học của học sinh trên phạm vi rộng gồm
ba thiết chế: gia đình – nhà trường – cộng đồng Tóm lại, các nghiên cứu trên đã chứng minh được một số yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường và yếu tố xã hội đã ảnh hưởng đến quá trình giáo dục trẻ như: hoàn cảnh gia đình, học vấn của cha mẹ, đặc điểm trường học… Tuy nhiên, phần lớn các công trình trong nước chưa hoàn toàn tập trung về thực trạng các phụ huynh hỗ trợ nhà trường giáo dục con em như thế nào, đặc biệt là khía cạnh truyền thông giữa gia đình – nhà trường
Từ tình hình thực tiễn và tình hình nghiên cứu khoa học đó, cùng với nhận thức tầm quan trọng của phối hợp giáo dục từ phía gia đình - nhà trường - xã hội,
tác giả luận văn nhận thấy cần thiết có một nghiên cứu về “Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”
2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận diện một số đặc điểm của sự phối hợp giáo dục giữa gia đình với nhà trường ở khía cạnh: quá trình trao đổi thông tin giữa cha mẹ học sinh với giáo viên
và sự tham gia của cha mẹ vào việc giáo dục con cái trong gia đình
- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tình hình phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường: yếu tố thuộc về gia đình, yếu tố thuộc về nhà trường và các yếu
tố thuộc về môi trường xã hội
- Đưa ra khuyến nghị đối với gia đình, nhà trường và các tổ chức giáo dục khác để có những biện pháp nhằm tăng cường sự phối hợp giáo dục giữa gia đình
và nhà trường, tạo điều kiện giáo dục toàn diện các em trong học tập tri thức và rèn luyện lối sống
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Xây dựng cơ sở luận và phương pháp luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu
- Thu thập những tài liệu nghiên cứu sẵn có
- Thu thông thông tin sơ cấp qua công cụ phỏng vấn sâu
- Xử lý thông tin định tính bằng phương pháp theo nhóm vấn đề
- So sánh quan điểm và hành vi giữa các nhóm cha mẹ học sinh khác nhau về giới, nghề nghiệp, kiểu loại gia đình trong việc phối hợp giáo dục với nhà trường
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội đến quan điểm và hành vi phối hợp giáo dục giữa cha mẹ học sinh và giáo viên
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Quan điểm và hành vi trong việc phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường của phụ huynh hiện nay như thế nào?
Tần suất và nội dung trao đổi từ phía phụ huynh đến nhà trường thường xoay quanh những vấn đề gì?
Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình trao đổi thông tin giữa phụ huynh và nhà trường?
Những mong muốn của phụ huynh về các biện pháp nhằm tăng cường sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường và hỗ trợ vào quá trình học tập của con em nhiều hơn?
3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh cấp trung học cơ sở ở TPHCM hiện nay
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là cha mẹ học sinh cấp trung học cơ sở hiện
Trang 13đang sinh sống ở 2 địa bàn: phường 16 – quận Gò Vấp và phường 15 – quận 5 thuộc thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Giới hạn nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 09/2009 – 09/2011
- Địa bàn nghiên cứu: Tại phường 16 của quận Gò Vấp và phường 15 của quận 5, thành phố Hồ Chí Minh
- Nội dung nghiên cứu:
Sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường là vùng chủ đề nghiên cứu rộng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, nhằm tìm kiếm những phát hiện sâu về mối quan hệ giữa cha mẹ và giáo viên trong việc dạy dỗ con em, đặc biệt là sự truyền thông thông tin phối hợp giữa hai bên nên tác giả chỉ tập trung tìm
hiểu ở ba chiều cạnh vấn đề được xem là cấp thiết: (1) sự trao đổi thông tin giữa gia đình với nhà trường, (2) sự tham gia của cha mẹ vào các phong trào hoạt động của trường và (3) sự tham gia của cha mẹ vào việc giáo dục con trong phạm vi gia đình
Việc giới hạn nội dung nghiên cứu này giúp tập trung vào mối quan hệ truyền đạt thông tin giữa cha mẹ và các nhà giáo dục cũng như các hành động can thiệp giáo dục của cha mẹ trong khuôn khổ gia đình
Giới hạn thứ hai của đề tài là sự thiếu vắng thông tin từ phía các em học sinh, giáo viên và ý kiến của một số cán bộ giáo dục thuộc sở, ban, ngành liên quan Chính các em học sinh là đối tượng tiếp nhận và thừa hưởng thành quả của sự phối hợp giáo dục này Những thông tin của các em học sinh góp phần đánh giá khách quan về tính hiệu quả của phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường thông qua sự hài lòng hay chưa hài lòng và những đề xuất Do không có đủ thời gian, tác giả không
có điều kiện khai thác thêm thông tin từ phía các em học sinh, giáo viên và ý kiến của một số cán bộ giáo dục thuộc sở, ban, ngành liên quan Để bù lấp cho những hạn chế này, tác giả luận văn đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu sẵn có và khai thác sâu hơn những thông tin từ phía các bậc phụ huynh trong mẫu khảo sát Hy vọng, trong tương lai sẽ có dịp tiếp tục triển khai thêm những nghiên cứu khác để hiểu sâu và rộng hơn về vấn đề phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường
Trang 144 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT THU THẬP THÔNG TIN
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tiếp cận định tính với phương pháp phỏng vấn sâu Lý do tác giả chọn hướng tiếp cận này là vì lĩnh vực nghiên cứu này chưa được đề cập nhiều tới trong nguồn tư liệu của xã hội học và các ngành liên quan Đề tài mang tính khai phá với mục tiêu nhằm phát hiện vấn đề chứ không nhằm kiểm định giả thuyết sẵn
có Cũng do nghiên cứu này thuộc tiếp cận định tính, những thông tin sẽ được khai thác sâu về quan niệm, thái độ của khách thể nghiên cứu, những kết quả thu được sẽ chỉ phản ánh xu hướng của một vài nhóm nhất định thuộc mẫu nghiên cứu, mà không khái quát trên phạm vi rộng lớn Đó cũng chính là lý do đề tài nhấn mạnh tới tính tiêu biểu chứ không phải tính đại điện của mẫu nghiên cứu
4.2 Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lí thông tin
Trong nghiên cứu này, sử dụng kết hợp các phương pháp thu thập thông tin
từ xử lý phân tích tài liệu qua các văn bản, báo cáo và báo chí; và qua phỏng vấn sâu ở các nhóm phụ huynh để nhằm tìm hiểu rõ hơn về tình hình phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường ở TPHCM hiện nay
4.2.1 Phỏng vấn sâu
Nhằm thu thập được những thông tin bề sâu về quan điểm và hành vi của những cha mẹ học sinh đối với vấn đề phối hợp giáo dục giữa gia đình – nhà trường, tác giả sử dụng công cụ phỏng vấn sâu bán cơ cấu Phỏng vấn sâu giúp cho việc thu thập thông tin và quan sát trực tiếp đối tượng, từ đó phát hiện những nguyên nhân sâu xa dẫn đến quan điểm và hành vi của họ Cụ thể, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 15 phụ huynh có con là học sinh cấp trung học cơ sở và hiện đang cư trú ở phường 16 của quận Gò Vấp và phường 15 của quận 5 thuộc thành phố Hồ Chí Minh
4.2.2 Phân tích tư liệu sẵn có
Ngoài nguồn dữ liệu phỏng vấn sâu phụ huynh, luận văn sử dụng các dữ liệu
Trang 15sẵn có được thu thập thông tin từ những sách, báo, luận văn, báo cáo và bài viết đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng khác… có liên quan đến nội dung phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường Từ những thông tin thu được sẽ tiến hành phân tích lý luận thông qua phương pháp phân loại, so sánh, quy nạp và diễn dịch, phân tích lô-gic
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
5.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp cho các nghiên cứu về xã hội học giáo dục, trong đó có nội dung liên quan đến sự phối hợp giáo dục giữa gia đình với nhà trường và xã hội Ngoài ra, việc vận dụng các lý thuyết trong luận văn cũng góp phần tìm hiểu khả năng áp dụng các lý thuyết xã hội học vào trong thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp một cơ sở thực nghiệm cho việc nghiên cứu về thực trạng phối hợp giáo dục đang diễn ra hiện nay, cho phép chúng ta có một hình dung và đánh giá một cách khoa học, khách quan hơn về thực trạng phối hợp giáo dục giữa gia đình – nhà trường – xã hội Trong chừng mực nhất định, những thông tin từ luận văn góp phần đề xuất giải pháp trong việc hoàn thiện hơn công tác phối hợp giáo dục học sinh hiện nay
6 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH
Trang 166.2 Những khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi, đề tài gặp một số khó khăn nhất định, trong đó khó khăn chủ yếu là quá trình tiếp cận và thu thập thông tin ở phụ huynh học sinh Phương án tiếp cận phụ huynh thông qua sự giới thiệu của nhà trường không thể thực hiện được vì nhà trường không hiểu rõ mục đích thật sự của đề tài, họ e ngại xuất hiện những thông tin gây bất lợi Do vậy, đề tài đã tiến hành phương án tiếp cận phụ huynh theo kiểu tăng nhanh: phụ huynh thứ nhất giới thiệu phụ huynh thứ hai và cứ thế tiếp tục Trong cách tiếp cận này, một số phụ huynh cũng chưa hiểu rõ mục đích của đề tài nên khước từ tham gia hoặc tham gia với thái độ dè dặt Một số phụ huynh bất ngờ từ chối tham gia phỏng vấn dù đã đồng ý hẹn gặp trước đó Tuy vậy, cuối cùng, 15 phụ huynh phù hợp với tiêu chí và đáp ứng chỉ tiêu mẫu đã được tiếp cận lấy thông tin
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Đề tài gồm ba phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận
Phần mở đầu bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng – khách thể và giới hạn nghiên cứu; phương pháp và kĩ thuật nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài; những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu
Phần nội dung chính có hai chương, có kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận
Chương 2: Sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường ở phường 16 – quận Gò Vấp và phường 15 – quận 5, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Phần kết luận bao gồm những nhận định dựa trên thông tin thu được, đồng thời đưa ra một vài khuyến nghị đối với gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội liên quan đến giáo dục học sinh nhằm làm cho mối quan hệ phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường – xã hội đạt hiệu quả cao hơn
Ngoài ba phần chính trên, luận văn còn có thêm phần phụ như danh mục các bảng biểu, biểu đồ; danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 17PHẦN NỘI DUNG
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường là một chủ đề quan trọng nhưng chưa được nhiều người quan tâm, dưới tiếp cận xã hội học lại càng khan hiếm hơn Mặc dù vậy, một số tài liệu có liên quan trực tiếp đến chủ đề này đã được tập hợp và xem xét Về nội dung, các tài liệu này đề cập đến ba vấn đề chính: (1)
chứng minh tầm quan trọng của sự phối hợp gia đình-nhà trường-xã hội trong giáo
dục trẻ; (2) các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giáo dục trẻ; (3) quan điểm và hành vi của phụ huynh và nhà trường trong quá trình phối hợp giáo dục trẻ
1.1.1 Tầm quan trọng của sự phối hợp gia đình - nhà trường - xã hội trong giáo dục học sinh
Trước hết, các nghiên cứu đã phản ánh tình trạng liên kết chưa chặt chẽ giữa gia đình với nhà trường, xã hội trong quá trình giáo dục con em Trong nghiên cứu
về hệ thống giáo dục, Stanislaw Kowalski (1986) đã nêu lên thực trạng liên kết thiếu đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và các thể chế ngoài nhà trường Tác giả
cho rằng “vẫn còn thiếu trao đổi thông tin có hệ thống giữa các khâu trong một tập hợp gồm nhiều thể chế giáo dục về hoạt động của các thể chế đó và sự tham gia của thanh niên vào hoạt động này Nhưng có một điều không thể nghi ngờ là, một mạng lưới cố định truyền đạt những thông tin đó là điều kiện cho hoạt động đồng bộ, tổng hợp của hệ thống giáo dục trong môi trường, nhất là trong môi trường phức hợp như một thành phố lớn” [40,tr.814]
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và đồng nghiệp (2006) qua Giáo trình giáo dục học (tập 2), cho rằng giáo dục gia đình đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ Giáo dục học đường giữ vai trò chủ đạo và giáo dục xã hội có vai trò rất quan trọng với những tác động tích cực và tiêu cực khó kiểm soát được Vấn đề thực tế hiện nay là vẫn còn khoảng cách giữa giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường, từ đó dẫn tới những hệ quả tiêu cực cho việc học và rèn luyện
Trang 19đạo đức của trẻ Đồng thời, những công trình nghiên cứu của H.Izebska (1967) cũng chỉ ra rằng, trong một phạm vi nhất định, như trên bình diện của ban phụ huynh, nhà trường phối hợp hoạt động với một gia đình bình thường thì trôi chảy, còn đối với gia đình đang xảy ra những hiện tượng bệnh lý xã hội thì nhà trường không biết cách nào xoay sở Cũng theo nữ tác giả trên, 80% thầy giáo coi công tác với gia đình là công tác phụ, một công việc không được thù lao, và cho rằng các cha mẹ học sinh lo sợ, không muốn gặp thầy giáo và nhà trường Tình hình này đưa đến chổ thiếu thông cảm lẫn nhau (giữa thầy giáo và cha mẹ), không lưu ý đúng mức đến công việc chính – lợi ích của học sinh.[40, tr.816]
Thứ hai, mối quan hệ gia đình – nhà trường càng chặt chẽ thì việc học hành của con em càng thuận lợi và đạt nhiều kết quả cao Bằng cuộc khảo sát trên quy
mô 1556 học sinh, Monja Schmitt và Lydia Kleine (2010) đã chứng minh mối quan
hệ gia đình – nhà trường có vai trò quan trọng đến kết quả giáo dục học sinh Theo tác giả, mối quan hệ gia đình – nhà trường trên bao gồm các mối quan hệ: học sinh – học sinh, học sinh – giáo viên và phụ huynh – giáo viên Kết luận cuối cùng cho biết: khi học sinh có mối quan hệ tốt với giáo viên và bạn học, và khi cha mẹ chúng tích cực tham gia các hoạt động ở trường học thì chúng sẽ đạt thành tích học tập cao hơn Như vậy, thông qua hành động tham gia các hoạt động của trường học như một tiêu chí của sự phối hợp giáo dục cùng nhà trường, các bậc cha mẹ góp phần mang lại kết quả giáo dục cao nhất cho con em mình [29, tr.145-167]
Barbara Beville Smith, (1998) trong nghiên cứu Ảnh hưởng của sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường và các loại hình tham gia của phụ huynh khác nhau đến
kĩ năng đọc của trẻ khẳng định: Việc phụ huynh tham gia phong trào hoạt động của
trường học không ảnh hưởng nhiều đến kết quả đọc hiểu của con em Ngược lại,
hành vi cha mẹ hỗ trợ con em làm bài tập nhà là hành vi ý nghĩa nhất Nữ tác giả
này vận dụng ba lý thuyết mang tính hỗ tương nhằm rọi sáng cho vấn đề nghiên cứu: (1) sự tác động qua lại giữa gia đình và nhà trường thay đổi tùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội; (2) “Vốn xã hội” của thiết chế gia đình và nhà trường kiến tạo những “đầu vào” khác nhau cho quá trình xã hội hóa ở trẻ, đồng thời sự tác động
Trang 20qua lại giữa các “đầu vào” này cũng sẽ quyết định đến “đầu ra” giáo dục; (3) Quan
hệ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng là mối quan hệ hợp tác vì mục đích đồng thuận trong giáo dục Nghĩa là, ba môi trường giáo dục (gia đình – nhà trường – cộng đồng) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và thay đổi tùy theo bối cảnh xã hội Đặc biệt, với sự đầu tư giáo dục khác nhau của từng thiết chế gia đình và nhà trường
sẽ cho ra những sản phẩm giáo dục khác nhau
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục trẻ
Khi nghiên cứu những yếu tố tác động tới quá trình giáo dục trẻ em, các nhà khoa học thường nêu ra ba yếu tố quan trọng nhất, đó là gia đình, nhà trường và xã hội Phần tổng quan dưới đây trình bày lần lượt các yếu tố tác động với những quan điểm và mối quan tâm của các tác giả khác nhau
Thứ nhất, có nhiều nghiên cứu về môi trường gia đình dưới tiếp cận xã hội học giáo dục, đã khẳng định gia đình là trường học đầu đời quan trọng nhất đối với trẻ:
Vũ Sơn (1994) qua nghiên cứu “Gia đình và giáo dục trong gia đình” khẳng
định gia đình vừa như là môi trường xã hội hóa đầu tiên đối với đứa trẻ vừa như là một thể chế có chức năng xã hội hóa trẻ em thông qua việc nhấn mạnh chức năng giáo dục là chức năng cơ bản của gia đình.[52, tr14-16] Ứng dụng lối tiếp cận cấu trúc chức năng kết hợp với lý thuyết xã hội hóa, nghiên cứu đã nhìn nhận và đánh
giá gia đình như một thể chế xã hội hóa đặc biệt quan trọng đến quá trình giáo dục
Trong khi đó, Lê Ngọc Lân (1994) với nghiên cứu Vấn đề gia đình và việc thực hiện các chức năng của gia đình hiện nay trình bày những góc nhìn kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau về gia đình và dù ở góc nhìn nào cũng thống nhất rằng gia đình đang dần biến đổi theo những biến đổi chung của xã hội và bốn chức năng chính của gia đình đang dần được chia sẻ bởi các thiết chế xã hội khác, trong đó có chức năng giáo dục Khẳng định chức năng xã hội hóa của gia đình khác với chức năng xã hội hóa của nhà trường, nhóm bạn, đoàn thể… tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường giáo dục gia đình Và khi bàn về chức năng này của gia đình,
có nhiều vấn đề cần đặt ra như nhiều gia đình nông thôn còn phó mặc giáo dục cho
Trang 21nhà trường, nhiều gia đình có kinh tế khó khăn nên trẻ em bị lạm dụng sức lao động
và không còn thời gian để trau dồi kiến thức xã hội, giao tiếp Ở mỗi kiểu loại gia đình lại có những kiểu giáo dục đặc thù riêng, đồng thời kiến thức và phương pháp tham gia giáo dục trong gia đình cũng còn nhiều điều đáng lo ngại Tóm lại, với lối tiếp cận cấu trúc chức năng và bằng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, tác giả
Lê Ngọc Lân có chung đánh giá với các tác giả trước đó về tầm quan trọng của giáo dục gia đình Tuy nhiên, điểm nổi bật chính là các phát hiện về mối tương quan giữa kiểu loại gia đình với phương pháp giáo dục Mỗi kiểu loại gia đình sẽ có những quan điểm, cách thức giáo dục con trẻ khác nhau dẫn đến kết quả giáo dục khác nhau
Tác giả Kiên Giang ở công trình “Giáo dục gia đình: Những thách đố mới”
(1994) đã tiếp cận vấn đề giáo dục gia đình dưới góc độ xung đột, nhấn mạnh những nguy cơ của giáo dục gia đình trước những đổi thay của xã hội hiện đại Thông qua so sánh sự khác nhau giữa gia đình truyền thồng và gia đình hiện đại, dễ dàng nhận diện những vấn đề nổi cộm của gia đình hiện đại Các thành viên gia đình dần dần tham gia lao động sản xuất ngoài gia đình, ít nhiều làm xáo trộn các mối quan hệ gia đình Về văn hóa và nghề nghiệp, gia đình không còn giữ vai trò xã hội hóa chủ yếu nữa, sự kiểm soát của bố mẹ đến con cái bị buông lỏng Nếu không đảm bảo mối quan hệ hữu cơ gia đình - nhà trường - xã hội thì gia đình sẽ mất dần vai trò xã hội hóa vốn được chứng minh rất quan trọng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi thế hệ trẻ
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về giáo dục trong gia đình thường khai thác các vấn đề về chức năng và sự biến đổi chức năng của giáo dục gia đình hiện nay, mối quan hệ giữa bố mẹ - con cái, các yếu tố gia đình tác động đến thành tích
học tập của con cái (nguồn lực kinh tế, nghề nghiệp và trình độ học vấn của bố mẹ…), những thuận lợi và khó khăn trong công tác giáo dục con cái Những vấn đề
nghiên cứu này cũng ít nhiều liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn
Trước hết đó là công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Lâm: “Một số thuận
lợi và khó khăn trong công tác giáo dục gia đình” Sự tham gia của cha mẹ vào việc
Trang 22học của con được nhận diện thông qua những chỉ báo định tính, thiên về tâm lý tình cảm và đòi hỏi phải khai thác thông tin kĩ càng hơn Với dung lượng mẫu không lớn (35 người bố và 65 người mẹ có con học cấp tiểu học trên địa bàn quận Đống Đa -
Hà Nội), kết quả thu được như sau: 1/3 gia đình không có thời gian buổi tối bên con, 40% gia đình không có mối quan hệ cha mẹ-con cái tích cực và 60% các cuộc nói chuyện một chiều từ phía bố mẹ đến con cái [24, tr.14-16] Khảo sát đã đưa ra lời cảnh báo về mối quan hệ cha mẹ-con cái hiện nay còn khá lỏng lẻo Tuy vậy, cuộc khảo sát chỉ mới thu hẹp trong mối quan hệ cha mẹ - con cái đối với việc học tập của con và sự tham gia của bố mẹ vào việc học của con còn khá chung chung Vai trò và ảnh hưởng của các nhân tố từ thiết chế nhà trường chưa được đề cập trong mục tiêu nghiên cứu này
Một nghiên cứu khác cũng liên quan giáo dục trong gia đình là bài viết
“Nghề nghiệp của cha mẹ về việc giáo dục con cái trong gia đình của Phạm Thu
Phương trong cuốn sách Trẻ em – Gia đình – Xã hội (Mai Quỳnh Nam chủ biên)
Bài viết báo cáo về sự kì vọng của bậc cha mẹ và một số yếu tố thuộc về cha mẹ đã tác động đến việc học tập của trẻ như thế nào, chẳng hạn như yếu tố trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ, mức độ kiểm soát chương trình ti-vi của cha mẹ… Tuy nhiên, giới hạn nghiên cứu đề tài chỉ mới dừng lại ở phạm vi giáo dục trong gia đình và chưa đề cập đến mối liên hệ giữa gia đình và nhà trường trong việc quản lý học tập của trẻ, nên chăng cần mở rộng vấn đề nghiên cứu thêm để có bức tranh toàn diện về tổng hòa yếu tố gia đình – nhà trường đối với giáo dục trẻ?
Ngoài yếu tố nghề nghiệp và học vấn của cha mẹ, kiểu loại gia đình cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc giáo dục trẻ, điều này được khẳng định qua công trình
nghiên cứu “Kiểu loại gia đình và giáo dục trẻ em trong gia đình ở Hà Nội hiện nay” của tác giả Nguyễn Chí Dũng (2006) đăng trên tạp chí Xã hội học số 2 (2006)
Có sự khác biệt đáng kể về nhu cầu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức giáo dục và kết quả giáo dục ở những kiểu loại gia đình Gia đình hạt nhân chú
ý đến giáo dục lối sống, đạo đức; gia đình mở rộng chú ý đến địa vị xã hội, xu hướng nổi trội của con em trong gia đình Ở gia đình đầy đủ và khuyết, tuy nhu cầu
Trang 23giáo dục lối sống, đạo đức như nhau song mong muốn đức tính trung thực ở con em gia đình đầy đủ mạnh mẽ hơn Ngoài ra, mức sống gia đình cũng ảnh hưởng đến việc giáo dục con em Nghiên cứu cũng chỉ ra chủ thể giáo dục quan trọng nhất là người mẹ và sự phối hợp giữa người mẹ và người cha Bài viết thuộc vùng chủ đề giáo dục gia đình song điểm khác biệt chính là mô tả thực trạng giáo dục gia đình thông qua sự so sánh giữa các kiểu loại gia đình Mỗi gia đình với quy mô, cơ cấu thành viên khác nhau sẽ có những phương thức và hình thức giáo dục khác nhau, đó
là kết luận chính rút ra từ nghiên cứu này
Sử dụng tương tự lối tiếp cận như các nghiên cứu trên – tiếp cận cấu trúc chức năng, nhóm tác giả Jose Francisco Soares, Ana Cristina Murta Collares bằng
nghiên cứu Family resources and cognitive performance by primary school students
in Brazil đã chứng minh thuyết phục về tác động của các yếu tố gia đình và yếu tố
nhà trường đối với thành tích học tập của học sinh Cụ thể, với mẫu nghiên cứu là 30.354 học sinh lớp tám của 1692 trường học ở Bra-xin, nghiên cứu đã phân tích và
chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về nguồn lực gia đình và nhà trường đến kết quả môn Toán của học sinh Biến phụ thuộc là kết quả bài kiểm tra môn Toán và các biến độc lập như: thu nhập và nghề nghiệp của phụ huynh, nguồn lực văn hóa gia đình, sự tham gia của phụ huynh vào giáo dục con em, kiểu loại gia đình, đặc điểm trường học…, thông qua phân tích hồi quy, nhóm tác giả rút ra kết luận:
nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hóa của gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành tích học của các học sinh Những học sinh mà cha mẹ có học vấn và thu nhập cao, có môi trường học tập tại nhà tốt và có sự chỉ bảo thường xuyên của bố mẹ thường đạt kết quả học tập tốt hơn học sinh thuộc gia đình có thu nhập thấp và thiếu
sự quan tâm giáo dục của bố mẹ về mọi mặt Tuy nhiên, trong quá trình phân tích
mối tương quan giữa yếu tố gia đình với việc học của trẻ, một số vấn đề như quá trình và cách thức tham gia của phụ huynh vào việc học, hoặc sự liên lạc giữa phụ huynh và nhà trường chưa được nhóm tác giả chú ý đến Như vậy, mục tiêu chính
của công trình nghiên cứu này chính là tìm mối tương quan giữa thành tích học tập
với “nguồn lực gia đình” Trong khái niệm “nguồn lực gia đình”, tác giả lại thao tác
Trang 24hóa khái niệm thành “nguồn lực kinh tế” và “nguồn lực văn hóa” Trong “nguồn lực văn hóa”, tác giả có nhắn đến yếu tố “sự tham gia của phụ huynh vào việc học của các em” Tuy nhiên, có lẽ vì yếu tố sự tham gia của phụ huynh vào việc học nói
chung và truyền thông giữa phụ huynh và nhà trường trong công trình nghiên cứu này không phải là mục tiêu chính, nên kết quả rút ra vẫn chưa lột tả đầy đủ vấn đề
mà chúng ta đang quan tâm
Ngoài ra, khi đề cập đến giáo dục gia đình, các nhà nghiên cứu còn nhắc đến vai trò của người phụ nữ Lê Thi nêu lên những ưu điểm của giáo dục gia đình như
“Giáo dục gia đình mang tính cá biệt và cụ thể… có tính thực tiễn, qua thực tế, bằng cuộc sống thực tế để giáo dục và rất chú trọng đến kết quả thực tế của việc giáo dục” hoặc “việc giáo dục mang tính phối hợp nhiều mặt về kiến thức và các mối quan hệ xã hội” [22, tr.18] và các mục đích, mục tiêu của giáo dục gia đình
Đáng quan tâm hơn cả, tác giả cảnh báo về hiện tượng suy giảm vai trò của giáo dục gia đình, suy giảm trách nhiệm của cha mẹ đối với việc giáo dục con cái Họ tin tưởng và phó mặc việc giáo dục cho thiết chế nhà trường Về cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng, tương tự như tác giả Nguyễn Thị Tuyết Oanh, tác giả Lê Thi cũng dùng cách tiếp cận cấu trúc – chức năng và lý thuyết cấu trúc – chức năng của August Comte để chỉ rõ sự thay đổi trong vai trò giáo dục gia đình, tuy nhiên thành công của tác giả Lê Thi là cách tiếp cận Giới để nối kết vai trò giáo dục với người phụ nữ trong gia đình Như vậy, với cách tiếp cận này, chức năng giáo dục được nhấn mạnh trong phạm vi gia đình hơn và tập trung vào vai trò của người phụ nữ
Thứ ba, các yếu tố thuộc về nhà trường và ngoài nhà trường ảnh hưởng đến giáo dục học sinh cũng được người quan tâm tìm hiểu Tác giả Nguyễn Thị Minh
Phương bằng nghiên cứu “Ảnh hưởng của yếu tố ngoài nhà trường đến việc học tập của học sinh” (2008) nhìn nhận về các yếu tố ảnh hưởng đối với việc học của học
sinh trên phạm vi rộng gồm ba thiết chế: gia đình – nhà trường – cộng đồng Đồng thời, nghiên cứu này bắt đầu khai thác cụ thể về quan hệ ba bên trong quá trình xã hội hóa ở học sinh Dưới góc nhìn thiết chế giáo dục chính yếu là nhà trường, tác giả cố gắng chứng minh ảnh hưởng của các yếu tố ngoài nhà trường đến giáo dục
Trang 25học sinh, để từ đó khẳng định về mối quan hệ chặt chẽ và phức tạp giữa các môi trường giáo dục đến việc học của học sinh Bài viết dựa vào nguồn tài liệu thứ cấp
và kết quả điền dã tại ba thôn là Tam Sơn (xã Tam Sơn), Đồng Kỵ (xã Đồng Quang), và Phù Lưu (xã Tân Hồng) thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh về một số vần đề đặt ra đối với việc học tập của học sinh tiến hành từ tháng 6 năm 2003 Tác giả tập trung phân tích ba yếu tố là gia đình, môi trường kinh tế - văn hóa – xã hội
và các khuôn mẫu văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ ở trường
học Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố gia đình gồm: định hình vốn ngôn ngữ cho trẻ, định hướng của cha mẹ có ảnh hưởng đến việc học của trẻ ở trường Ngoài ra,
những khuôn mẫu văn hóa – xã hội đã và đang thẩm thấu vào nhà trường cũng góp phần tạo ra những ứng xử đa dạng của trẻ
Có thể thấy tư liệu trên đã cung cấp những thông tin khá toàn diện về sự ảnh hưởng của các yếu tố gia đình – nhà trường – xã hội đến việc học tập của trẻ ở nhà trường, tuy nhiên vẫn chưa đi sâu vào phân tích một cách cụ thể hơn từng yếu tố tác động, đặc biệt là yếu tố gia đình Các biến độc lập như: kiểm soát bài tập, kiểm soát thời gian xem ti vi, trao đổi với giáo viên… chỉ mới dừng lại ở mô tả chung, do đó cần thêm những nghiên cứu khác nữa nhằm soi rọi rõ hơn các yếu tố này
1.1.3 Quan điểm và hành vi của phụ huynh và nhà trường trong quá trình phối
hợp giáo dục trẻ
Trong vùng chủ đề này, nhiều tư liệu liên quan trực tiếp đã được tập hợp và phân loại theo những chủ đề cụ thể hơn Trước hết, một số tư liệu đã cảnh báo về thực trạng phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường hiện nay có vấn đề, từ đó
đề xuất nhiều giải pháp nhằm khắc phục
Cụ thể, Cathrine Kellison McLaughlin qua nghiên cứu “Khi phụ huynh đồng
hành cùng nhà trường – những điều nên và không nên”(2008) có nói rõ điều này
Xuất phát từ thực trạng hệ thống giáo dục nước Mĩ đã gạt vai trò phụ huynh ra ngoài nhiệm vụ giáo dục con cái, công trình như một thông điệp gửi gắm đến toàn
xã hội Mỹ tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường Nội dung chính tập trung vào những kiến thức và kĩ năng mà những người làm công
Trang 26việc giáo dục cần biết để phát triển mối quan hệ với phụ huynh học sinh Điều lưu ý
là tác giả nhấn mạnh mối quan hệ gia đình – nhà trường này không chỉ dừng lại ở mối quan hệ phụ huynh - thầy cô mà còn là mối quan hệ giữa phụ huynh - phụ huynh và phụ huynh với các tổ chức khác Những trình bày của tác giả rất có ích cho việc thiết lập nên bảng công cụ thu thập thông tin sau này
Tuy nhiên, việc phối hợp giáo dục không phải là quá trình một chiều, đòi hỏi hai bên có sự thống nhất về quan điểm và nhận thức Do vậy, khi tìm hiểu về chủ đề này, đề tài luận văn rất quan tâm đến yếu tố quan điểm, nhận thức của mỗi bên tham gia Một công trình khảo sát ở nước ngoài tuy đã khá lâu nhưng những đúc kết của
nó giúp ích rất nhiều cho tác giả luận văn, đó là nghiên cứu “Nhận thức của cha mẹ
về truyền thông giữa giáo viên và phụ huynh” (Colleen E.Larson, 1976) Thành
công của nghiên cứu này chính là việc đặt ra câu hỏi và trả lời các câu hỏi xoay quanh mối quan hệ trao đổi thông tin giữa giáo viên – phụ huynh Điều quan tâm mấu chốt của tác giả là đi tìm bản chất trao đổi thông tin giữa phụ huynh và giáo viên thông qua các chỉ báo: nhận thức, thái độ, đánh giá, nguyện vọng Cụ thể, tác giả đã khảo sát về mối liên lạc giữa giáo viên và phụ huynh thông qua việc tập trung trả lời năm câu hỏi chính:
- Khi trao đổi thông tin, giáo viên và phụ huynh thường đề cập đến cái gì?
- Giáo viên và phụ huynh trao đổi thông tin như trên nhằm mục đích gì?
- Phụ huynh suy nghĩ như thế nào về việc họ chủ động liên hệ với giáo viên
và ngược lại, về việc giáo viên chủ động liên hệ với họ?
- Khi trao đổi thông tin như vậy, những chủ đề nào thường tác động tích cực đến nhận thức của phụ huynh về mối quan hệ giáo viên – phụ huynh?
- Giáo viên và phụ huynh trao đổi thông tin bằng phương thức nào?
Kết quả thu được cho thấy: không phải tất cả phụ huynh đều nhận thức được rằng mối quan hệ giữa họ với giáo viên hoàn toàn mang tính bình đẳng Các phụ huynh cho rằng hành vi chủ động trao đổi với giáo viên thì mang tính tiêu cực nhiều hơn tính tích cực vì chủ yếu chỉ để giải quyết các rắc rối của con cái Ngược lại, họ cho rằng việc giáo viên chủ động trao đổi với họ thì thường mang tích cực hơn Một
Trang 27vài phụ huynh bằng lòng với thông tin thu nhận từ giáo viên, một số khác đề xuất giáo viên quan tâm nhiều hơn đến riêng con em của họ Số còn lại muốn được hướng dẫn cách thức giúp con cái làm bài tập nhà Tuy nhiên, giới hạn của nghiên cứu là việc thu thập thông tin chỉ dừng lại ở đối tượng phụ huynh, chưa xét đến đối tượng học sinh, giáo viên Vì bản chất trao đổi thông tin là sự tương tác qua lại, do vậy kết luận rút ra sẽ thuyết phục hơn nếu công trình thu thập thêm cả thông tin của giáo viên (là người trong cuộc) và từ một chủ thể khách quan thứ ba là các em học sinh
Một nghiên cứu khác tương tự như nghiên cứu trên nhưng đã có phương
pháp thu thập thông tin toàn diện hơn Đó là “Sự tham gia của gia đình vào sự giáo
dục trẻ em và thanh niên” (Jacquelynne S Eccles và Rena D Harold) Đây là công
trình nghiên cứu về sự tham gia của gia đình vào việc phối hợp giáo dục với nhà trường Công trình đã phản ánh thực trạng và phát hiện nguyên nhân Cụ thể, tác giả
mô tả thực trạng phụ huynh tham gia giáo dục con ở các hình thức khác nhau như việc hỏi thăm nhà trường, giúp con cái làm bài tập nhà, tham gia hoạt động tình nguyện của trường học, nhờ nhà trường tư vấn giáo dục con cái… và nêu lên những
dự báo về tình hình này Đặc biệt, tác giả đứng về phía giáo viên, nhà trường để nhìn nhận về cách thức trao đổi thông tin với phụ huynh, mô tả và nêu lên những nhận định hữu ích nhằm củng cố hơn cho mối hợp tác giáo dục này Sau đó, tác giả bài viết tập trung tìm hiểu những nguyên nhân từ phía gia đình và nhà trường Các yếu tố ảnh hưởng đã được chứng minh và phân tích như đặc điểm riêng của gia đình/phụ huynh, đặc điểm riêng của cộng đồng xã hội, tính cách của trẻ và đặc điểm riêng của nhà trường
Thái độ, nhận thức, niềm tin và các đặc điểm nghề nghiệp, trình độ, thu nhập… của gia đình là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc họ tham gia giáo dục con cái Bên cạnh đó, tính cố kết xã hội, những cơ hội và rủi ro, nguồn lực, mạng lưới xã hội ở địa phương mà gia đình đang sinh sống và đặc điểm nhà trường cũng góp phần gia tăng hoặc hạn chế chức năng tham gia giáo dục của gia đình [14, tr.3-35]
Trang 28Nghiên cứu cũng rút ra rằng, tuy nguồn lực gia đình và nguồn lực cộng đồng
có ảnh hưởng đáng kể song đôi khi nỗ lực tham gia giáo dục của các cha mẹ còn phụ thuộc vào tính cách của đứa trẻ, vào sự sẵn sàng hợp tác hoặc bất hợp tác của chúng
Nhìn chung có thể khẳng định đây là tư liệu vừa mang tính khái quát vừa cụ thể hóa những nhận định bằng những chứng cứ thực nghiệm đáng tin cậy Những nhận định rút ra là kết quả tổng hợp nghiêm túc từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau kết hợp với khảo sát riêng của tác giả, đã đề cập gần như trọn vẹn những gì liên quan đến sự tham gia giáo dục của phụ huynh trên nhiều phương diện
Tuy vậy, cụ thể quá trình trao đổi thông tin giữa phụ huynh và giáo viên có
gì đáng chú ý? Một công trình nghiên cứu nước ngoài nói rõ hơn về điều nay:“Trao
đổi thông tin giữa thầy cô và phụ huynh” (Freytag, Cathy E 2001) Đây được xem
là một nghiên cứu khai thác kĩ càng và tập trung vào trọng tâm mà đề tài đang quan tâm, đó là cách thức truyền thông giữa gia đình và nhà trường Tác giả chủ yếu khai thác quan hệ trao đổi thông tin giữa phụ huynh và thầy cô ở các phương diện như cách thức, chủ đề và những mối bận tâm chung của phụ huynh về phía nhà trường
Để tìm hiểu những bận tâm của phụ huynh về trao đổi thông tin giữa phụ huynh và thầy cô, nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 86 phụ huynh ở một trường học trung lưu ở bang Florida Kết quả khảo sát cho biết: gia đình và nhà trường thường chủ yếu trao đổi bằng điện thoại và bản thân họ cũng thích cách trao đổi thông tin này hơn so với việc gặp gỡ trực tiếp Phụ huynh thường chủ yếu trao đổi với thầy cô
về thành tích học, hành vi bất thường ở các em cũng như sự phát triển tâm lý Cuối cùng, phụ huynh mong muốn được nâng cao vai trò của họ hơn trong việc tham gia phối hợp giáo dục với nhà trường Phạm vi khảo sát khá hẹp, dung lượng mẫu nhỏ
và cách thức lấy mẫu thuận tiện, mẫu lại tập trung chỉ ở phụ huynh tích cực (86 phụ huynh tham gia khảo sát là những người tình nguyện), nhưng kết quả thu được cũng gợi mở rất nhiều điều cho những người quan tâm Qua đó, người quan tâm nhận diện được nội dung, bản chất và cách thức mà bấy lâu nay thầy cô và phụ huynh vẫn thường liên lạc với nhau, để từ đó rút ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn
Trang 29Qua các nghiên cứu trên, truyền thông giữa gia đình và nhà trường là cách thức hiệu quả nhất để tăng cường phối hợp giáo dục hai bên Vậy hạt nhân của sự truyền thông gia đình và nhà trường là gì? Theo nhóm tác giả Kimberly S Adam và Sandra L Christenson thì yếu tố hạt nhân đó chính là sự tin cậy Qua công trình
nghiên cứu “ Sự tin cậy và mối quan hệ gia đình – nhà trường Khảo sát sự khác
biệt giữa phụ huynh học sinh và giáo viên ở cấp I và II, nhóm nghiên cứu khẳng định truyền thông là cách thức hữu hiệu nhằm tằng cường hợp tác và phối hợp giáo
dục giữa cha mẹ học sinh với giáo viên Trong đó, sự tin tưởng giữa phụ huynh và
giáo viên là một yếu tố ý nghĩa trong việc xây dựng và phát triển mối quan hệ gia đình và nhà trường Qua khảo sát 1234 phụ huynh và 209 giáo viên về sự tin cậy trong mối quan hệ gia đình – nhà trường, tác giả đã rút ra một số nhận định như sau Trong sự so sánh về sự tin cậy lẫn nhau thì phụ huynh và giáo viên thuộc khối cấp I đạt mức độ tin cậy lẫn nhau cao hơn đối với nhóm phụ huynh và giáo viên cấp II, III Nghĩa là càng lên cấp bậc học cao hơn, sự tin cậy qua lại giữa cha mẹ và giáo
viên giảm dần, do vậy sự phối hợp giáo dục ít nhiều bị ảnh hưởng Ngoài ra, nghiên
cứu còn phát hiện rằng mức độ tin tưởng của phụ huynh với giáo viên cao hơn so với ngược lại Và những giáo viên thuộc cấp học càng cao thì lại càng có xu hướng trao đổi trực tiếp với học sinh hơn là đối với phụ huynh Công trình đã chứng minh được vai trò của sự tin cậy trong mối quan hệ cha mẹ học sinh – giáo viên, đã mô tả
và so sánh mức độ tin cậy lẫn nhau giữa hai bên gia đình và nhà trường Tuy nhiên, nghiên cứu chưa tập trung đi tìm nguyên nhân giải thích sự khác biệt trong mức độ tin cậy lẫn nhau giữa hai bên: phụ huynh và giáo viên thuộc các cấp học
Tóm lại, sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường là một chủ đề quan trọng nhưng hiện tại chủ đề này chưa được khai thác nhiều ở thành phố Hồ Chí Minh Riêng với cách tiếp cận dưới góc độ xã hội học, chủ đề này chỉ thường xuất hiện trong các tài liệu báo chí, phóng sự, chứ chưa có nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu cả về khoa học và thực tiễn
Các công trình đi trước đã ứng dụng nhiều khái niệm, nhiều cách tiếp cận khác nhau nhằm khai thác mọi góc cạnh của chủ đề nghiên cứu này Từ đó một hình
Trang 30ảnh khái quát và toàn diện về bề mặt chung của sự phối hợp giáo dục gia đình – nhà trường đã dần được định hình, kết hợp với đó là các biến độc lập, đắt giá, thu được
từ các nghiên cứu sâu, cụ thể trên từng lớp đối tượng khác nhau Có thể nói, nguồn
tư liệu phong phú về chủ đề giáo dục đã cung cấp cho tác giả đề tài những cách tiếp cận mới mẻ và có cái nhìn rộng hơn khi tiếp cận chủ đề nghiên cứu Tuy nhiên, phần lớn các công trình trong nước chưa thật sự khai thác chi tiết về thực trạng các phụ huynh hỗ trợ nhà trường giáo dục con em như thế nào, đặc biệt là khía cạnh trao đổi thông tin giữa gia đình – nhà trường vốn trên thực tế diễn ra rất phức tạp và sôi động nhưng ít được nói đến trong các nghiên cứu Do vậy, với những gì thừa kế được từ các công trình nghiên cứu trên, tác giả đề tài cố gắng khai thác sâu hơn về truyền thông gia đình – nhà trường và giáo dục trong gia đình với mong muốn đóng góp thêm những phát hiện ý nghĩa về vùng chủ đề chung: sự phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường
1.2.Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng
1.2.1 Cách tiếp cận xã hội hóa
Nhằm làm sáng tỏ sự phối hợp giáo dục giữa ba bên: gia đình – nhà trường –
xã hội, luận văn sử dụng cách tiếp cận xã hội hóa Xã hội hóa là một khái niệm rất
cơ bản trong xã hội học và có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau
Theo định nghĩa của nhà khoa học người Mỹ Neil Smelser, xã hội hóa là
“quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình để phụ vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình” Theo Fichter, “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và sự thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”
Nhà xã hội học người Nga G.Andreeva lại nêu lên cả hai mặt của quá trình xã hội hoá: Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào xã hội, vào hệ thống xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động bằng các mối quan hệ thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các quan hệ xã hội [37, tr.258]
Trang 31Một cách chung nhất, quá trình xã hội hóa được hiểu là quá trình mà trong đó chúng ta có thể tiếp nhận nền văn hóa của xã hội, có thể học được cách suy nghĩ và ứng xử hợp với đặc trưng của xã hội
Qúa trình xã hội hóa được chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn xã hội hoá ban đầu của đứa trẻ trong gia đình
- Giai đoạn xã hội hoá diễn ra trong nhà trường
- Giai đoạn con người thực sự bước vào xã hội
Tuy nhiên ranh giới giữa các giai đoạn trên không hoàn toàn rạch ròi Trong thực tế, một đứa trẻ vừa tiếp nhận giáo dục từ cha mẹ vừa được dạy dỗ bởi nhà trường Khi một cá nhân trưởng thành, đã đi làm và có gia đình, vẫn học tập nâng cao ở các tổ chức giáo dục, nơi làm việc và vẫn chịu ảnh hưởng của cha mẹ thông qua những lời khuyên bảo Như vậy, quá trình xã hội hóa chỉ chấm dứt khi cuộc sống của cá nhân ấy chấm dứt Xã hội hóa cá nhân có gắn bó mật thiết đến hoạt động giáo dục thông qua những thể chế cơ bản là gia đình, nhà trường, thể chế văn hóa-chính trị xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng…., mà trong đó gia đình và nhà trường là hai thể chế xã hội nắm giữ trọng trách giáo dục trí tuệ và nhân cách cho các em học sinh
Gia đình
Xem xét thể chế gia đình trong mối liên quan đến trách nhiệm giáo dục con em, có thể khẳng định gia đình chính là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng bậc nhất đối với mỗi cá nhân Hầu hết các cá nhân đều sinh ra và lớn lên trong gia đình, chịu sự giáo dục về những quan niệm đúng sai của riêng gia đình và các phương cách ứng xử chuẩn bị cho việc gia nhập xã hội lớn hơn Có thể xem gia đình như một tiểu văn hóa, với nền giáo dục, truyền thống gia đình … mà cá nhân sẽ tiếp nhận các đặc điểm này
Nhà trường
Nhà trường được hiểu như là một tổ chức, thiết chế xã hội được ra đời để thực hiện chức năng xã hội hóa cá nhân, đặc biệt là giới trẻ, theo những mong đợi của cộng đồng xã hội Đây là môi trường xã hội hoá chính thức có vai trò đặc biệt
Trang 32quan trọng với thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh rất
quan tâm đến giáo dục nhà trường đối với thế hệ trẻ Người giải thích: “Từ tiểu học, trung học cho đến đại học, là nơi rèn luyện nhi đồng và thanh niên Óc của những người trẻ tuổi trong sạch như tấm lụa trắng Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ Vì vậy sự học tập ở trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên tức là tương lai của nước nhà” Vì nhà trường vừa là một môi trường
giáo dục vừa là lực lượng giáo dục nên sự tồn tại và phát triển của nhà trường tương đối ổn định, bền vững và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình xã hội hóa cá nhân Trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, toàn cầu hóa và hội nhập nên nhà trường vừa có được những cơ hội thuận lợi
để thể hiện chức năng xã hội của mình vừa gặp phải không ít những thách thức to lớn
Vận dụng cách tiếp cận này, đề tài xem xét sự phát triển toàn diện của học sinh trong mối quan hệ chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường Sự thống nhất trong quan điểm và phương pháp giáo dục của các bên góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giáo dục Đặc biệt, đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở - tuổi thiếu niên, là lứa tuổi chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “Thời kì quá độ”, tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”,
“tuổi bất trị”… Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song tính cách trẻ con và tính cách người lớn Trong thời kì này, những cơ sở và phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức nhân cách được hình thành Do vậy, giáo dục học sinh ở lứa tuổi này là công việc khó khăn của các bậc phụ huynh và thầy cô giáo Nếu không có sự thống nhất và hợp tác chặt chẽ giữa hai phía, cùng lúc các
em tiếp nhận những quan điểm và cách thức giáo dục khác nhau, từ đó dẫn đến sự ngộ nhận hoặc hiểu phiến diện về các vấn đề trong cuộc sống Đặc biệt, lứa tuổi thiếu niên có đặc điểm dễ bị kích động, hay thay đổi thất thường, tình cảm bồng bột… do vậy càng cần có sự quan tâm chia sẻ của người lớn hơn Sự trao đổi thông tin thường xuyên và kịp thời từ hai phía gia đình – nhà trường sẽ giúp phòng tránh
và giảm thiểu những hệ quả tiêu cực không mong muốn xảy ra với các em
Trang 331.2.2.Lý thuyết vốn xã hội của James Coleman (1988)
Khởi nguồn từ một nghiên cứu kinh điển về vai trò của gia đình và công bằng xã hội trong giáo dục vào năm 1966 - “Cơ hội giáo dục công bằng”- James Coleman đã phát triển và xây dựng khái niệm “vốn xã hội trong sự hình thành vốn con người
Theo Coleman, vốn con người là quan trọng và vốn xã hội đóng góp vào sự hình thành vốn con người Trong mỗi gia đình, con cái lĩnh hội vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội trong gia đình Vốn tài chính là do của cải và thu nhập gia đình Loại vốn này là một nguồn lực vật chất cho các em: sách vở, chổ ngồi, tiền bạc… Vốn con người là phản ánh trình độ văn hóa của cha mẹ cho con cái một không khí tri thức kích thích óc tò mò, ham hiểu biết.[44, tr.6] Vốn xã hội trong gia đình thì khác, nó tùy thuộc vào mức độ quan tâm, thời gian mà cha mẹ dành cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ Những đứa trẻ nhận được càng nhiều sự quan tâm của bố mẹ thì chúng sẽ càng đạt được kết quả học tập khả quan Nói cách khác,
sự có mặt và quan tâm của bố mẹ là yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc giáo dục con cái nói chung Ngoài ra, Coleman còn đề cập đến vốn xã hội trong cộng đồng có ảnh hưởng đến sự giáo dục con cái Loại vốn này nói đến các mối quan hệ xã hội giữa phụ huynh-phụ huynh và giữa phụ huynh với các nhóm, tổ chức, thiết chế khác trong cộng đồng Và chất kết dính cho các mối quan hệ xã hội này chính là sự tin cậy lẫn nhau Sự tin cậy được tạo dựng và phát triển qua thời gian từ nhiều lần hợp tác với nhau Sự tin cậy giữa phụ huynh và con cái càng cao thì hai bên càng dễ đồng cảm và chia sẻ Cũng như sự tin cậy giữa phụ huynh-giáo viên hoặc giữa phụ huynh-phụ huynh càng nhiều thì mối quan hệ hợp tác lại càng suôn sẻ Mạng lưới các phụ huynh càng chặt chẽ thì sự giám sát và quản lý con cái càng dễ thực hiện Đồng thời, sự kết nối giữa phụ huynh với các thiết chế, tổ chức trong cộng đồng càng được đầu tư thì sự phối hợp giáo dục con cái càng đạt hiệu quả cao
Ngoài ra, James Coleman đã đưa ra quan điểm rằng trên thực tế các yếu tố như mức chi ngân sách, chất lượng giáo viên, chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, thực hành, thực tập không phải là những yếu tố tác động mạnh nhất
Trang 34đối với kết quả học tập trong nhà trường Theo ông, hoàn cảnh kinh tế-xã hội của gia đình và quan điểm giáo dục của bố mẹ mới là những yếu tố tác động trực tiếp mạnh mẽ tới động cơ học tập, chất lượng học tập và khả năng thành đạt của học sinh.[20,tr.283] Sự quan tâm và đầu tư về giáo dục con cái của một gia đình ở nông thôn và gia đình ở đô thị sẽ khác nhau, cũng như cách thức giáo dục của gia đình giàu có và gia đình không giàu không thể giống nhau Trong một lớp học, những đứa trẻ xuất thân từ những gia đình có hoàn cảnh kinh tế-xã hội khác nhau sẽ có cơ hội và điều kiện học tập khác nhau, ví dụ như sự trang bị về góc học tập, về phương tiện đi học, về nguồn sách tham khảo…
Vận dụng lý thuyết vốn xã hội của James Coleman, đề tài xem xét sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường ở hai khía cạnh: sự đầu tư vào các mối liên hệ phụ huynh-nhà trường và sự đầu tư vào mối liên hệ phụ huynh-con cái Trong đó, mối ràng buộc phụ huynh-nhà trường sẽ được cụ thể hóa ở hai khía cạnh: trao đổi thông tin giữa phụ huynh-nhà trường và việc tham gia phong trào hoạt động của nhà trường Cụ thể, ở khía cạnh trao đổi thông tin, phụ huynh và nhà trường thường trao đổi những thông tin gì và bằng cách thức gì? Phụ huynh tham gia các hoạt động phong trào do nhà trường phát động ở mức độ nào và với động cơ gì? Mối ràng buộc giữa phụ huynh-con cái theo hướng tiếp cận vốn xã hội được cụ thể hóa ở tiêu chí giúp con cái học bài và chia sẻ tình cảm với con cái Nghĩa là, trong phạm vi gia đình, các phụ huynh làm như thế nào để dạy dỗ con cái cả về đạo đức
và trí tuệ? Thời gian cha mẹ dành cho con cái nhiều hay ít? Tình cảm giữa cha mẹ
và con cái trong mỗi gia đình như thế nào? Giữa cha mẹ và con cái đã có sự thân mật trong trò chuyện hay chưa?
Từ việc nhận diện tình hình chung trên, đề tài nhận diện các yếu tố tác động đến quá trình phối hợp giáo dục gia đình-nhà trường Quan điểm của phụ huynh, hoàn cảnh kinh tế-xã hội của phụ huynh (trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập…) sẽ là những biến số độc lập được đưa vào phân tích trong mối tương quan với phối hợp giáo dục Những gia đình có đặc điểm kinh tế-xã hội và quan điểm giáo dục khác nhau sẽ có cách thức trao đổi thông tin với nhà trường khác nhau,
Trang 35đồng thời có cách thức quan tâm, chia sẻ việc học tập của con cái khác nhau Tóm lại, vốn xã hội ở mỗi gia đình không giống nhau, từ đó góp phần hình thành vốn con người ở khía cạnh “đầu ra” của quá trình giáo dục sẽ khác nhau
1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbet Blumer
Lý thuyết tương tác biểu trưng có rất nhiều quan điểm khác nhau trong đó nổi bật là quan điểm của Herbert Blumer và G.H.Mead Thuật ngữ tương tác biểu trưng do H.Blumer nêu lên năm 1937 Khái niệm lý thuyết tương tác biểu trưng cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phải là sự phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà là tiếp nhận và lý giải chúng
Theo quan điểm của Herbert Blumer thì tương tác luận biểu trưng dựa trên
ba tiền đề sau: “Tiền đề thứ nhất là con người hành động hướng về những sự vật trên cơ sở của những nghĩa mà các sự vật ấy có đối với họ… Tiền đề thứ hai là nghĩa của những sự vật được phái sinh từ, hay nảy sinh từ, sự tương tác xã hội của con người ta với những người đồng hội của mình Tiền đề thứ ba là những nghĩa này được xử lí, và được thay đổi, trong một tiến trình lí giải của ai đó khi xử lí những sự vật mà mình gặp phải (1960:2)”[5, tr.619-621] Nghĩa là, trong quá trình tương tác, phản ứng của chủ thể mang tính mục đích dựa trên cơ sở ý nghĩa mà họ gán cho các đối tượng Các ý nghĩa, chuẩn mực được chủ thể điều chỉnh linh hoạt trong quá trình tương tác tùy thuộc vào những trường hợp khác nhau Như vậy thuyết tương tác biểu trưng phủ nhận quyết định luận sinh học lẫn quyết định luận thiết chế xã hội Tóm lại, Blumer nhấn mạnh rằng con người là những chủ thể tích cực, hành động dựa trên cơ cở những ý nghĩa mà họ gán cho vào tương tác xã hội của họ
Trong quá trình phối hợp giáo dục con cái, phụ huynh đồng thời thực hiện mối tương tác xã hội với hai nhóm chủ thể: nhà trường và con cái Thuyết tương tác biểu trưng của Blumer được vận dụng trong đề tài nhằm khai thác vào hai mối tương tác xã hội đó là: mối tương tác phụ huynh-đại diện nhà trường (giáo viên, hiệu trưởng, người khác) và mối tương tác phụ huynh-con cái Phụ huynh tương tác
Trang 36với giáo viên dựa trên cơ sở ý nghĩa như thế nào? Các cơ sở ý nghĩa này mang tính tình cảm hoặc lí trí? Phản ứng của phụ huynh trước sự chủ động tương tác của giáo viên là do các chuẩn mực của thiết chế xã hội quy định hay là do những ý đồ cá nhân nào khác? Đồng thời, liệu có sự khác biệt đáng chú ý nào trong mối tương tác phụ huynh-giáo viên giữa những phụ huynh khác nhau hay không? Và ngược lại, khi giáo viên tương tác với các phụ huynh, liệu có sự giống nhau hay không? Đâu là những yếu tố chính yếu quy định mối tương tác xã hội này
Đối với mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái, hành động của bố mẹ đối với con cái dựa trên những cơ sở ý nghĩa nào? Trong những gia đình khác nhau, cách thức tương tác của bố mẹ đối với con cái khác nhau là do những yếu tố nào quy định? Chắc hẳn mục đích tương tác, ý nghĩa tương tác và cách thức tương tác với con cái của một gia đình ở đô thị khác với nông thôn, hoặc giữa một gia đình thuộc ngành nghề viên chức khác với gia đình thuộc ngành nghề buôn bán nhỏ
Tóm lại, trong quá trình phối hợp giáo dục với nhà trường, sự trao đổi thông tin giữa nhà trường và mỗi gia đình sẽ khác nhau về tần suất, động cơ, cách thức tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế-xã hội của mỗi gia đình Sự tương tác của mỗi bậc phụ huynh đối với con cái của họ trong quá trình giáo dục cũng sẽ có những nét đặc thù
riêng do các yếu tố thuộc về phía gia đình quy định
Trang 371.3 Khung phân tích và các khái niệm chính
1.3.1 Khung phân tích
1.3.2.Một số khái niệm chính
- Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình nghĩa là nhà trường và phụ
huynh cùng hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau nhằm mục đích giáo dục toàn diện về nhân cách và trí tuệ cho các em
- Có sự tham gia của phụ huynh là một thuật ngữ toàn cầu mô tả sự tham
gia của phụ huynh bằng những cách thức sau đây: quản trị trường học, tình nguyện viên của trường học, tham gia vào việc học tại nhà, trao đổi thông tin từ gia đình đến nhà trường và ngược lại
Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
Sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường Truyền thông giữa gia đình và nhà trường
+ Quan điểm truyền thông của phụ
huynh
+ Hành vi truyền thông của phụ huynh
Giáo dục trong gia đình + Quan điểm giáo dục + Nội dung giáo dục + Phương pháp giáo dục (đầu tư môi trường
học tập, đầu tư thời gian và tình cảm cho con)
Sự hoàn thiện trí tuệ
và nhân cách của học
sinh
Trang 38- Trao đổi thông tin từ nhà trường đến gia đình: là một thuật ngữ bao
trùm các cách thức liên lạc từ nhà trường đến phía gia đình như: báo cáo định kì, lịch hoạt động, thông báo tin tức bằng cuộc gọi điện thoại, viếng thăm gia đình, hội nghị giữa nhà trường – phụ huynh, thư thông báo hàng tháng, sổ tay phụ huynh, hội thảo nhà trường – phụ huynh
- Trao đổi thông tin từ gia đình đến nhà trường: chỉ cách thức thông tin
liên lạc từ gia đình đến nhà trường thông qua gọi điện thoại, sổ liên lạc, viếng thăm nhà trường…
- Giáo dục trong gia đình: Trong xã hội hiện đại, giáo dục trẻ em được
phân biệt thành giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Nếu xét
về mặt duy trì, củng cố và lưu truyền các giá trị truyền thống thì giáo dục gia đình luôn đóng một vai trò rất quan trọng “Nhờ hệ thống các quan hệ xã hội dựa trên mối liên hệ huyết thống và tình cảm mà nhiều giá trị, chuẩn mực xã hội được bảo tồn, giáo dục di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình”.[21, tr.283] Phương pháp giáo dục của gia đình rất đặc biệt, bao gồm: thuyết phục, giảng giải, cùng chia sẻ thân tình và nêu gương trên cơ sở tình cảm ruột thịt Thông tin mà người lớn truyền đạt đến trẻ em trong gia đình được thực hiện một cách tự nhiên, giản đơn, lặp lại và hàm chứa tình thương yêu Thông tin đó có khi được thể hiện qua lời nói, có khi được thể hiện qua những hành vi ứng xử, cũng có khi bằng thái
độ và trẻ em học tập, trưởng thành theo kiểu thấm nhuần dần Ngoài ra, nội dung
giáo dục gia đình rất phong phú và đa dạng, bởi vì môi trường gia đình là một môi trường không thuần nhất (các thành viên của gia đình thường khác nhau về địa vị xã hội, vai trò, kinh nghiệm sống, tuổi tác, giới tính, học vấn, nghề nghiệp và tính tình ), nhưng về cơ bản giáo dục gia đình sẽ giúp cho thế hệ trẻ tiếp nhận những kinh nghiệm, những chuẩn mực, những giá trị và những vai trò xã hội, mà những tri thức cốt yếu này được truyền thụ bằng con đường tình cảm sau khi đã qua “bộ lọc” của các thành viên trong gia đình
Trang 391.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4 Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lí thông tin
Trong nghiên cứu này, sử dụng kết hợp các phương pháp thu thập thông tin
từ xử lý phân tích tài liệu qua các văn bản, báo cáo và báo chí; và qua phỏng vấn sâu ở các nhóm phụ huynh để nhằm tìm hiểu rõ hơn về tình hình phối hợp giáo dục
giữa gia đình và nhà trường ở TPHCM hiện nay
1.4.1 Phỏng vấn sâu
Nhằm thu thập được những thông tin bề sâu về quan điểm và hành vi của những cha mẹ học sinh đối với vấn đề phối hợp giáo dục giữa gia đình – nhà trường, tác giả sử dụng công cụ phỏng vấn sâu bán cơ cấu
Những câu hỏi phỏng vấn sâu đã được chuẩn bị, nhưng sau đó đều được điều chỉnh khi có những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập Thứ tự và cách đặt câu hỏi được thay đổi tùy thuộc vào từng trường hợp cung cấp thông tin Tuy vậy, các câu hỏi đều được tập hợp theo từng nhóm vấn đề nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
* Nhóm vấn đề phỏng vấn sâu dành cho phụ huynh học sinh:
1 Thông tin về nhân khẩu học
2 Quan điểm của phụ huynh về sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường
- Quan điểm về mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường trong sự phối hợp giáo dục học sinh
- Quan điểm về vai trò của gia đình, vai trò của nhà trường trong quá trình phối hợp giáo dục học sinh
- Đánh giá về vai trò của mỗi cán bộ giáo dục trong nhà trường
- Nguyện vọng của phụ huynh
3 Truyền thông từ gia đình đến nhà trường
- Hình thức trao đổi thông tin giữa phụ huynh và nhà trường
- Tần suất trao đổi thông tin giữa phụ huynh và nhà trường
- Nội dung trao đổi thông tin giữa phụ huynh và nhà trường
Trang 40- Cách giải quyết đối với các vấn đề thuộc về nhân cách, học tập của con
4 Tham gia các hoạt động của nhà trường
- Hình thức tham gia
- Tần suất tham gia
5 Hỗ trợ giáo dục trong gia đình
- Đầu tư môi trường học tập
- Chia sẻ trong việc học
- Chia sẻ tinh thần
Dữ kiện từ các cuộc phỏng vấn sâu là thông tin định tính, bao gồm những thông tin liên quan trực tiếp nhất và cả những thông tin ít liên quan nhất Tất cả các thông tin này được chọn lọc, phân loại, mã hóa và sau đó được khái quát và lượng hóa dựa trên những chỉ báo Trong quá trình phân tích, có sự so sánh điểm giống và khác nhau giữa những các nhóm phụ huynh, đặc biệt quan tâm đến những trường hợp phụ huynh điển hình trong tổng thể mẫu phụ huynh tham gia điều tra
Cụ thể, quá trình xử lý thông tin này trải qua ba bước:
(1) Thu gọn dữ liệu định tính: Từ bản ghi phỏng vấn sâu, những dữ liệu không liên quan đến nội dung nghiên cứu được loại bỏ, chỉ sắp xếp theo hệ thống những dữ liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu và có phân tích
sơ bộ ban đầu
(2) Phân tích và thể hiện thông tin: Thực hiện mã hóa, tìm kiếm các trường hợp phụ huynh điển hình, gán nhãn cho các nhóm phụ huynh khác nhau, phát triển hệ thống dữ liệu của các nhóm này và tìm kiếm, xây dựng ma trận thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm
(3) Kiểm chứng thông tin: Các dữ liệu sẽ được kiểm chứng nhằm tránh sai sót, đồng thời những phát hiện ghi chép trong quá trình xử lý thông tin cũng được đối chiếu lại với thông tin ban đầu
Nhằm tiết kiệm thời gian và công sức trong quá trình xử lý thông tin, ngoài những thao tác thực hiện thủ công như gỡ băng phỏng vấn sâu, phân loại và tổ chức