Để làm được điều đó, một mặt chúng ta phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; mặt khác phải biết kế thừa những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, bởi văn hóa nói chung v
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS BÙI XUÂN THANH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Xuân Thanh Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Người thực hiện
HOÀNG THỊ DUYÊN
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 9
1.1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIV ĐẦU THẾ KỶ XV –
CƠ SỞ KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 10
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 26
1.3 CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM – CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 51
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC TA HIỆN NAY 56
2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 56
2.1.1 An dân – vấn đề cơ bản trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 56
2.1.2 Đường lối khoan dung và trừ bạo trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 65
2.1.3 Quan điểm lấy dân làm gốc và bảo vệ nhân dân trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 77
2.2 Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ RÚT RA TỪ TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA
NGUYỄN TRÃI ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC TA HIỆN NAY 87
2.2.1 Ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 87 2.2.2 Những bài học lịch sử rút ra từ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay 99
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến động Biểu hiện của sự biến động đó là sự kích động và trỗi dậy của những tư tưởng cực đoan, phát xít, chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, nạn kỳ thị chủng tộc,… có nguy cơ kéo loài người vào vòng xoáy của một cơn lốc bạo lực mới Trong bối cảnh ấy, nhân loại đã và đang bước vào xu thế toàn cầu hóa với khát vọng sống trong hòa bình, hữu nghị, hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, chấp nhận sự khác biệt để cùng hợp tác và phát triển
Trong xu thế toàn cầu hóa trên đây, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam có điều kiện phát triển năng động hơn
cả về tiềm lực con người và các tiềm lực khác tạo điều kiện tiến hành dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, nhưng chúng ta cũng gặp không ít trở ngại Qua hơn hai mươi năm đổi mới thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (từ 1986 đến nay) Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trì trệ, các lĩnh vực văn hóa, chính trị đã và đang có những thay đổi to lớn, tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, thực
tế cho thấy quá trình xây dựng, phát triển đất nước ta trong những năm qua
dù đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng cũng tồn tại không ít khó khăn, bất cập và những sai lầm Nhận xét về những bất cập này, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã chỉ rõ: “Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm ở một bộ phận công chức, nhất là ở các cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục” [21, 64] Chính vì vậy, cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta còn phải xây dựng được bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, gắn liền với dân, thể hiện đúng ý chí và nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo thực tế
Trang 6quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước Để làm được điều đó, một mặt chúng ta phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; mặt khác phải biết kế thừa những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, bởi văn hóa nói chung và những giá trị tư tưởng của dân tộc Việt Nam nói riêng không chỉ là một trong những động lực phát triển xã hội mà còn là một
trong những nguồn lực nội sinh bền bỉ và mạnh mẽ nhất “hun đúc nên tâm
cơ sở cho tư duy của dân tộc trong một thời gian dài mà còn có giá trị tích cực nhất định trong thời đại ngày nay Tiêu biểu cho những nhà tư tưởng kiệt
xuất đó Nguyễn Trãi (1380 – 1442) nổi lên như một ngôi Sao Khuê - một
thiên tài của thế kỷ XV
Kế thừa những truyền thống quý giá, cao đẹp của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Nguyễn Trãi là sự kết tinh những tinh hoa của thời đại mà tiêu biểu là của hai triều đại Lý – Trần, cộng với óc tư duy sắc bén hơn người của ông Tư tưởng của Nguyễn Trãi được hình thành từ thực
Trang 7tiễn sống động nên mặc dù nó không được ông trình bày trong các tác phẩm
có tính hệ thống nhưng mang đậm nét hiện thực với những giá trị to lớn và sâu sắc Nguyễn Trãi đã để lại cho dân tộc Việt Nam nói riêng, cho toàn thể nhân loại nói chung những tư tưởng quý báu phản ánh trung thực và sống động về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam Trong số những tư tưởng đó, tư
tưởng nhân nghĩa với quan điểm thân dân, xây dựng chính quyền vì dân,
khoan dung với kẻ thù và những kẻ lầm đường lạc lối chính là viên ngọc quý vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng và phát triển của đất nước cũng như với việc xây dựng một xã hội đồng thuận và đại đoàn kết toàn dân ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Tư tưởng
nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và ý nghĩa lịch sử của nó” làm luận văn thạc
sỹ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là tư tưởng có giá trị cả về mặt
lý luận và thực tiễn nên đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Nguyễn
Trãi nói chung trong đó có tư tưởng nhân nghĩa của ông nói riêng Có thể
khái quát các công trình nghiên cứu thành ba hướng chính sau:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi nói
chung và tư tưởng nhân nghĩa của ông nói riêng dưới góc độ lịch sử
Việc nghiên cứu và đánh giá Nguyễn Trãi ở nước ta đã có từ thế kỷ
XV Năm 1464 vua Lê Thánh Tông chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi, khẳng định sự nghiệp của ông, ca ngợi nhân cách của ông “lòng ức trai sáng như sao khuê”, theo lệnh của Thánh Tông, Trần Khắc Kiệm đã dành thời gian
13 năm để sưu tập các tác phẩm của Nguyễn Trãi, biên khảo tóm tắt tiểu sử Nguyễn Trãi in ở đầu cuốn “Ức trai thi tập” năm 1480
Trang 8Sau này, Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII viết tác phẩm “Kiến văn tiểu lục,
“Lê triều thông sử” đã dành một phần khảo cứu về thân thế, sự nghiệp
của Nguyễn Trãi
Đến thế kỷ XIX, tác giả Phan Huy Chú với: “Lịch triều hiến chương
loại chí” cũng tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi và liệt kê
một số tác phẩm của ông như: Quân trung từ mệnh tập; Ức trai thi tập
Thời kỳ này, tác giả Nguyễn Bá Cung, người đã dày công sưu tầm các tác phẩm của Nguyễn Trãi, giúp cho hậu thế có cơ sở hiểu được nhân cách vĩ
đại của Nguyễn Trãi, Ức Trai tướng công là bậc đại nho, một đấng công thần, sự nghiệp dày khắp thiên hạ, văn chương vang đến muôn đời Vì vậy,
dù cách tướng công (Nguyễn Trãi) hơn 500 năm nhưng “Cung tôi thường
du lịch trong Nam ngoài Bắc, hễ gặp sĩ phu là tìm tòi, kê cứu, gián hoặc
cũng có” [63, 28] “để giúp các bạn hậu thế tiếng trong thôn ta có một văn
bản rõ ràng” [54, 265]
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nhất là từ sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, và sau khi thống nhất đất nước năm (1975) mà đỉnh cao là dịp kỷ niệm 600 năm sinh của Nguyễn Trãi (1980) đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu về Nguyễn Trãi có giá trị khoa học
cao Trong số các công trình nghiên cứu đó phải kể đến các tác phẩm:
Nguyễn Trãi, một nhân vật vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam của Trần
Huy Liệu, nhà xuất bản Hà Nội, Sử học, (1962); Với tác phẩm “Nguyễn Trãi
cuộc đời và sự nghiệp” năm (1966), Trần Huy Liệu đã khẳng định: Nguyễn
Trãi không chỉ là người có tài cao, trí lớn vào bậc nhất trong lịch sử Việt Nam mà còn là người có đạo đức lớn, với triết lý nhân sinh sâu sắc, gắn với điều kiện của đất nước Đại Việt hồi thế kỷ XV, khi cuộc khởi nghĩa chống quân Minh vừa thắng lợi
Trang 9Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lương Bích Nguyễn Trãi
đánh giặc cứu nước, nhà xuất bản Quân đội nhân dân (1973), đã có sự khảo
cứu tỉ mỉ về tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi trong đó có đề cập đến tư
tưởng nhân nghĩa của ông
Ngoài các công trình nghiên cứu trên đây, một số công trình nghiên
cứu khác như: Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam của
Võ Xuân Đàn; lời giới thiệu Trương Hữu Quýnh, (1996), nhà xuất bản Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội… cũng đề cập đến tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn
Trãi ở những mức độ khác nhau
Nhìn chung, ngoài việc trình bày tư tưởng Nguyễn Trãi, trong đó có tư
tưởng nhân nghĩa của ông, các công trình khoa học trên đã trình bày, phân
tích khá khái quát và sâu sắc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi gắn liền với biến cố lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về Nguyễn Trãi
Hướng thứ hai , bao gồm các công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi
dưới góc độ chính trị, xã hội, văn học Đại diện cho hướng này phải kể
đến các công trình như: Nguyễn Trãi, nhà văn học và chính trị thiên tài của
Mai Hanh, Nguyễn Đổng Chi, Lê Trọng Khánh, nhà xuất bản Văn Sử Địa,
Hà Nội năm (1957); Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi:
nhân dịp kỷ niệm 520 năm ngày Nguyễn Trãi mất, Nhà xuất bản Khoa học,
Hà Nội, (1963); Những vấn đề văn bản học Quân Trung Từ Mệnh của
Nguyễn Trãi Les Ecrits à l'armée de Nguyễn Trãi - Questions de
philologie, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, viện nghiên cứu Hán Nôm,
(1998); Nguyễn Trãi nhà giáo dục Việt Nam của Nguyễn Tiến Doãn, nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996…
Trang 10Trong các tác phẩm trên đây khi bàn về lý tưởng xã hội và chính trị, văn hóa của Nguyễn Trãi, các tác giả đã nêu được những nét khái quát về nguồn gốc và nội dung lý tưởng xã hội và chính trị của Nguyễn trãi cũng như những đóng góp của tư tưởng chính trị, xã hội của Nguyễn Trãi trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử tư tưởng nói riêng
Về những vấn đề chung của tư tưởng của Nguyễn Trãi đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu Các tác giả đã thể hiện sự thống nhất về một số vấn đề chung của tư tưởng Nguyễn trãi như: tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi có cội nguồn ở tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam; Nguyễn Trãi đã tiếp thu và vận dụng những nội dung tích cực “cách mạng” của Nho giáo vào điều kiện thực tế của Việt Nam và đã mang lại được những giá trị lớn lao trong quá trình giành độc lập và xây dựng tổ quốc Mặc dù những khẳng định đó
vẫn cần được nghiên cứu thêm nhưng đã góp phần làm rõ hơn tư tưởng nhân
nghĩa trong đường lối chính trị… của Nguyễn Trãi
Hướng thứ ba là các công trình nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Trãi từ
góc độ triết học, trong đó phải kể đến tác phẩm: Đại cương lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam, tập 1, trong chương VI, do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên đã
đề cập đến tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi và chỉ ra được “một số tư tưởng có tính chất biện chứng ở Nguyễn Trãi” [26, 178] dưới góc độ khái
quát và gợi mở Đây được xem là tiền đề cho người nghiên cứu tiếp theo có
hướng đi chính xác hơn, rõ ràng hơn về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi,
đặc biệt là tư tưởng nhân nghĩa của ông
Một số công trình như: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, nhà xuất bản, Khoa học xã hội, năm 1993; hay Trong dòng
chủ lưu của văn học Việt Nam của Trần Văn Giàu: Tư tưởng yêu nước (1983); Tư tưởng và triết học (1988) cũng đã nghiên cứu về những tư tưởng
cơ bản của Nguyễn Trãi, trong đó có tư tưởng nhân nghĩa của ông
Trang 11Theo hướng này, một số bài viết đăng trên các tạp chí, như bài viết của
Nguyễn Văn Bình: Nhân cách nhà nho trong con người Nguyễn Trãi, tạp chí
triết học, số 4, tháng 8 năm 1998 đã hướng tới giải thích từng nét riêng tiêu biểu ở cốt cách một nhà nho luôn nặng lòng trăn trở vì dân, vì nước thoát ra khỏi cái bóng của Tống Nho nặng nề kinh viện, cứng nhắc… Gần đây nhất
bài viết: Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi của PGS.TS Trịnh Doãn Chính,
tạp chí triết học, số 9 (220), tháng 9 – 2009 đã trình bày khá sâu sắc tư tưởng
triết học của Nguyễn Trãi mà tư tưởng nhân nghĩa là một điểm sáng
Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Trãi
nhưng chưa có một chuyên khảo nghiên cứu riêng về tư tưởng nhân nghĩa
của Nguyễn Trãi và rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay
Tuy nhiên, các công trình đã được công bố trên đây của các nhà nghiên cứu chính là nguồn tài liệu quý báu cho chúng tôi tham khảo, kế thừa
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là nhằm tìm hiểu một cách hệ thống nội dung tư
tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, từ đó nêu lên giá trị và ý nghĩa của nó
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ
cơ bản sau:
Một là: Trình bày khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề
hình thành tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Hai là: Phân tích nội dung tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Ba là: Đánh giá những giá trị lịch sử và rút ra ý nghĩa của tư tưởng
nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay
Trang 124 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Với mục đích và nhiệm vụ trên đây, luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp
so sánh, phương pháp lịch sử và lôgích
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tư tưởng nhân nghĩa là một bộ phận trong toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi qua một số tác phẩm tiêu biểu của ông, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Với việc trình bày, phân tích một cách hệ thống tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, cùng với việc phân tích, đánh giá những giá trị của tư tưởng này, luận văn góp phần làm sâu sắc thêm tri thức về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng Nguyễn Trãi nói riêng
Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay, những giá trị trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi sẽ là những bài học lịch sử bổ ích và thiết thực cho việc xây dựng, giữ gìn, bảo vệ tổ quốc và phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc
nghiên cứu, học tập môn “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam” trong các
trường Đại học và Cao đẳng
7 Kết cấu của luận văn
Phù hợp với mục đích và nhiệm vụ đã nêu, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu làm 2 chương, 4 tiết và danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng, các nhà nghiên cứu thường phân định các nhà tư tưởng thành hai bộ phận: bộ phận thứ nhất gồm những nhà tư tưởng đã sáng tạo ra một trường phái học thuật, một lý thuyết về triết học, chính trị rõ ràng với những luận điểm, những nguyên
lý, quy luật… hình thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh Còn bộ phận thứ hai
đó là những nhà tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn của bản thân, của cộng đồng để từ đó rút ra những quan điểm về những vấn đề nào đó từ đó tác động trở lại thực tiễn, nâng tư duy của dân tộc, của cộng đồng lên một tầm cao mới
Qua việc phân định hai bộ phận tư tưởng như trên, có thể nói Nguyễn Trãi là một trong những nhà tư tưởng thuộc bộ phận thứ hai Ông không có những trước tác riêng luận về tư tưởng, không đề ra học thuyết, quy luật, nguyên lý hay quan điểm thành một hệ thống nào đó, mà từ cuộc sống đầy sôi động của dân tộc cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV rồi tư duy, suy xét để từ hành động tích cực trong cuộc sống Tư tưởng của Nguyễn Trãi rất đa dạng và phong phú, vì nó nảy sinh, bắt nguồn từ thực tiễn đầy biến động của lịch sử dân tộc ta cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV Thực tiễn
ấy cùng với truyền thống hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc, đã đưa Nguyễn Trãi trở thành một nhà tư tưởng lớn “nghìn năm mới có một” [23,
146] Trong tư tưởng của ông, nhân nghĩa chính là tư tưởng cốt lõi mang
giá trị nhân loại phổ biến và vẫn có tính thời sự trong xã hội hiện nay
Trang 141.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIV
ĐẦU THẾ KỶ XV – CƠ SỞ KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
Mỗi con người đều mang dấu ấn của thời đại mình, nên hiểu đúng về giai đoạn lịch sử của một nhà tư tưởng đang sống là điều kiện cần thiết để nắm bắt đúng chiều sâu tư tưởng họ hướng tới
Cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV xã hội phương Tây bước vào giai đoạn chuyển mình dữ dội; trong đó nét nổi bật chính là “cuộc đấu tranh chống phong kiến đang trỗi dậy mạnh mẽ dưới hình thức những cuộc chiến tranh nông dân, những phong trào thị dân và phong trào cải cách tôn giáo” [33, 48] Tình trạng chiến tranh liên miên giữa các nước ở Italia, Pháp và cả ở nước Anh năm 1381… “diễn ra đồng thời cả quá trình xuất hiện nhân tố tư bản chủ nghĩa hình thành song song cùng quá trình hình thành các dân tộc với “sự giác ngộ về quyền dân tộc và ý thức dân tộc” [13, 14] Thời điểm này đã manh nha hình thành nhiều công trường thủ công đem lại năng suất lao động cao thay thế cho nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của nền kinh tế tự nhiên kém phát triển Sự ứng dụng một cách hiệu quả các thành tựu khoa học đã tạo nên động lực vô cùng to lớn đối với việc phát triển xã hội; những bước tiến mạnh
mẽ về kinh tế kéo theo những thay đổi về chính trị - xã hội làm cho xã hội phương Tây diễn ra tình trạng phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc; vai trò của chủ xưởng ảnh hưởng rõ rệt trong xã hội, hàng loạt nông dân từ nông thôn ra các thành phố trở thành người làm thuê cho các công trường thủ công – tiền thân của giai cấp công nhân về sau này
Một khi nền kinh tế thay đổi sẽ kéo theo của sự thay đổi đời sống văn hóa Thời kỳ này, phương Tây đòi hỏi cần giải phóng con người khỏi những ràng buộc cũ của thần quyền, quy định của nhà thờ, của giáo huấn tôn giáo, giáo hội và phân tầng đẳng cấp nghiệt ngã hướng tới phục hưng nền văn hóa
Sự phát triển các mặt của con người với quyền sống, quyền được yêu thương
Trang 15chăm sóc của con người được lên tiếng bảo vệ mạnh mẽ hơn hết Đây là thời
kỳ “văn hóa phục hưng”, là cái vươn mình tỉnh dậy sau đêm trường trung cổ
ở phương Tây Trào lưu phục hưng văn hóa đã mang lại những giá trị vô cùng lớn lao “phá tan thế giới quan của giáo hội phong kiến, phá tan sự sùng bái mù quáng đối với thần quyền, thức tỉnh mọi người đấu tranh cho cuộc sống chính đáng của con người” [13, 15] Bước sang thời phục hưng, sự phát triển của tư bản chủ nghĩa ở phương Tây đã là xu thế không gì có thể ngăn cản nổi Công cuộc phục hưng văn hóa và quá trình hình thành dân tộc làm cho chủ nghĩa nhân đạo và ý thức dân tộc trở thành sản phẩm tinh thần tiến
bộ nhất của phương Tây
Trong lúc Châu Âu đang vươn mình vượt qua đêm dài trung cổ, thì ở Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc - nhà Minh thuộc dòng Hán tộc lên cầm quyền và xây dựng chế độ chuyên chế phát triển tới đỉnh cao, với tham vọng bành trướng, mở rộng lãnh thổ đất đai Triều Minh nuôi ý định coi Trung Quốc là tâm điểm của thế giới, Hoàng Đế Trung Hoa là con trời cai trị muôn dân, quyền uy của đế chế ấy bao trùm lên tất cả các nước láng giềng Vào đầu thế kỷ XV, hướng bành trướng chủ yếu của nhà Minh là vùng Đông Nam Á bao gồm cả âm mưu xâm lược nước ta Năm 1368, nhà Minh bước đầu sai sứ
đi giao bang với Việt Nam cho tới năm 1384 thì nhà Minh ngang nhiên lấn tới đòi Việt Nam phải cống nộp lương thực và tiến tới hai năm sau lại ép Việt Nam cho mượn đường để đánh Chăm Pa Trong lúc đó, ở Việt Nam cuối thế
kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, chế độ phong kiến sau thời gian mấy thế kỷ hưng thịnh bắt đầu bước vào khủng hoảng với những biến động sâu sắc
Xã hội Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, với các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, có lúc thịnh, lúc suy nhưng nhìn chung chế độ phong kiến đang trên đà phát triển mạnh mẽ, quốc gia phong kiến ngày càng được củng cố và trưởng thành về mọi mặt Tuy nhiên, như một quy luật, nhà
Trang 16Trần sau thời kỳ hưng thịnh, đã bắt đầu đi vào giai đoạn suy vong và trải qua những biến động sâu sắc Những biến động ấy xét đến cùng là do điều kiện kinh tế - xã hội quy định
Kinh tế điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ, sau một thời gian phát triển đến cuối đời Trần đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất Trong lúc đó, kinh tế hàng hóa phát triển làm lay chuyển chế độ điền trang thái ấp Chính kinh tế điền trang thái ấp đã làm cho tiểu nông bị phá sản, trở thành tá điền hoặc nô tỳ, tạo nên tình trạng đói khổ, trộm cướp và nhiều cuộc nổi dậy của nông dân, nô tỳ chống giai cấp quý tộc ăn bám Trong khi đó uy lực của đồng tiền đã xóa nhoà ranh giới giai cấp quí tộc, bình dân, làm cho quí tộc có những quan hệ “bình đẳng” với bình dân
Sự xuất hiện lực lượng xã hội mới đời Trần thế kỷ thứ XIV là giai cấp tiểu nông, tiểu thủ công và thương nhân Giai cấp tiểu nông và công thương hợp thành giai cấp tiến bộ, và giai cấp đại địa chủ - quí tộc hay địa chủ hợp thành giai cấp bảo thủ
Điều kiện lịch sử trên đây đã làm cho mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến Việt Nam ngày càng gay gắt - đó chính là mâu thuẫn giữa hình thức đại sở hữu của chế độ phong kiến với hình thức sở hữu nhỏ của nông dân và thợ thủ công Sở dĩ các nhà kinh tế học xác định đây là mâu thuẫn cơ bản của thời đại phong kiến, vì các giai đoạn của chế độ phong kiến phát triển hay tan rã đều gắn liền với sự phát triển của mâu thuẫn này, và khi mâu thuẫn này tăng lên sẽ làm cho giai đoạn này chuyển sang giai đoạn khác
Cuối thời Trần, giai cấp quý tộc ăn chơi xa xỉ, xây dựng dinh thự, đền đài, lăng tẩm, chùa chiền… Các ngôi chùa với trang thiết bị và chi phí rất lớn đều do quí tộc bỏ tiền xây dựng Một đại quí tộc có thể nuôi hàng nghìn nô tì
để hầu hạ và làm quân đội riêng như một triều đình nhỏ gồm những gia trưởng, gia thần Cũng chính giai cấp quý tộc đã hiến cho chùa hàng vạn mẫu
Trang 17ruộng và những số tiền bạc rất lớn có thể nuôi sống hàng trăm vạn nhà sư trên toàn quốc, từ đó hình thành một đoàn quân ăn bám khổng lồ Do đó, ở thế kỷ XIV có tình trạng ngược đời là những năm đói kém, người tiểu nông bị phá sản lại tự nguyện (chứ không phải bị bắt buộc, bị bắt, bị bán hoặc vì nợ) đến các nhà quí tộc xin làm gia nô, hoặc đến chùa xin làm thầy chùa Như năm
1344, sử cũ có ghi: “Bấy giờ, mất mùa, đói kém, nhân dân phần nhiều đi làm
thầy chùa và làm gia nô cho các thế gia” [13, 150]
Sự lớn mạnh của quý tộc lãnh chúa nhờ kinh tế điền trang thái ấp, làm cho nhà nước quân chủ ngày càng suy yếu Sự suy yếu của nhà nước quân
chủ được thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, ruộng công và ruộng tư (của nông dân)
càng bị thu hẹp, do đó nguồn tài chính của bộ máy chính quyền trung ương chủ yếu dựa vào tô thuế ngày càng bị giảm sút (thái ấp điền trang của quý tộc đương nhiên không mất thuế) Vì vậy, nhà nước lâm vào khủng hoảng tài chính triền miên, nhà nước thường xuyên kêu gọi nhà giàu bỏ thóc cứu đói
hoặc nộp thóc vào kho nhà nước hoặc nộp thóc cho quân lương Thứ hai, bọn
quý tộc vương hầu ngày càng giàu có xa hoa chỉ muốn thu về quản lý các thái
ấp, điền trang riêng của mình, vì vậy ruộng đất ngày càng được tập trung vào trong tay quý tộc, địa chủ, nhà chùa làm cho sản xuất tự do của nông dân bị
đe dọa, số lớn nông dân bị nông nô hóa, một số trở thành lưu vong, sản xuất nông nghiệp đình đốn , mất mùa đói kém xảy ra thường xuyên, đời sống nông dân vô cùng khốn khổ Bọn quý tộc còn bỏ mặc việc quốc gia, giao phó cho các quan chức chủ yếu là các nho sĩ Do đó, việc hạn chế chế độ đại sở hữu của quí tộc, thủ tiêu chế độ nô tì, đồng thời thu hẹp đội ngũ tăng
ni là một yêu cầu cấp thiết để loại dần những nhân tố kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
Từ cuối thế kỷ XIV, khi nhà Minh đã thiết lập nền độc lập và thống nhất trên toàn thể lãnh thổ Trung Hoa và bắt đầu xúc tiến về việc xâm lược
Trang 18Việt Nam (chưa kể sự tấn công và cướp phá liên tục của Chiêm Thành) thì vấn đề tăng cường Nhà nước quân chủ tập trung, tăng cường lực lượng quốc phòng, trở thành cấp thiết số một đối với nước ta Hoàn cảnh khách quan này đẩy mạnh xu hướng quân chủ độc đoán quan liêu phát triển Người ta thấy dưới thời Trần Nghệ Tông, chức vụ cao nhất về dân sự và quân sự dần dần được trao cho các quan liêu ngoài quý tộc Năm 1371, Hồ Quý Ly được cử làm Trung tuyển quốc thượng hầu, Phan Nghĩa làm Lang trung Bộ Lễ, Đỗ Tử Bình làm Hành khiển tham mưu quân sự, Hồ Tông Xác làm Học sĩ viện Hàn lâm Đến năm 1375, một chủ trương quan trọng nữa được công bố: tuyển chọn tất cả những quan viên người nào có tài, luyện tập nghề võ, thông hiểu thao lược thì đều được làm tướng coi quân, dù không phải là tôn thất Như thế là kẻ sĩ trước đây đã lần lượt được trao phó những chức vụ hành chính cao nhất, bây giờ lại được trao phó những chức vụ quân sự cao nhất Chỉ sau khi Nhà nước đã trao chính quyền vào tay tầng lớp quan liêu, nhất là lượng quân đội trung ương, và gạt dần quý tộc ra khỏi các chức vụ quan trọng nhất, thì lúc ấy Nhà nước quân chủ mới tiến hành bước tấn công cuối cùng quyết định vào toàn bộ giai cấp quí tộc nhằm tước bỏ thế lực kinh tế - chính trị của quí tộc và tập trung sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự vào Nhà nước trung ương Chế độ quân chủ phân quyền của giai cấp quí tộc lãnh chúa, chuyển thành chế độ quân chủ tập quyền của giai cấp trung và tiểu địa chủ Nhà nước quân chủ nhà Trần do quí tộc nắm từ thời Nghệ Tông chuyển dần sang quan liêu hóa, do tầng lớp quan liêu nắm - nhà Trần đã đi vào suy thoái
Những biến động trong xã hội Việt Nam cuối triều Trần biểu hiện cuộc khủng hoảng của bộ phận kinh tế điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ
Đó là cuộc khủng hoảng trên bước đường phát triển của chế độ phong kiến nước ta Cuộc khủng hoảng đó bộc lộ rõ yêu cầu cần thủ tiêu kinh tế điền
Trang 19trang thái ấp và quan hệ nông nô, nô tỳ để mở đường cho chế độ phong kiến tiến lên một giai đoạn mới cao hơn
Nhận thức được nguyên nhân sâu xa của tình trạng khủng hoảng nên
Hồ Quí Ly lên nắm quyền đã tiến hành một loạt cải cách, những cải cách của ông có mặt tích cực, tiến bộ nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển đầy
đủ của xã hội Bấy giờ Nhà nước qui định: chỉ Đại vương và Trưởng công chúa thì ruộng không bị hạn định, còn thứ dân không được qua 10 mẫu Người nào ruộng quá hạn định thì phải nộp vào quan – nghĩa là biến thành ruộng của Nhà nước (quốc khố điền) Như thế, cải cách của Hồ Quý Ly năm
1397 như là phản đề của chủ trương năm 1266: nhằm khuyến khích quí tộc
bỏ vốn chiêu tập dân nghèo khai khẩn đất hoang lập điền trang riêng Phép hạn điền này nhằm xóa bỏ sở hữu ruộng đất của quí tộc và của địa chủ, chỉ còn lại ruộng của tiểu nông bao gồm cả phú nông Năm 1398, Hồ Quý Ly hạ lệnh đo ruộng của dân, người nào có ruộng phải khai báo số mẫu, trên mặt ruộng cắm thẻ để tên mình Ruộng nào không có người khai nhận thì Nhà nước lấy làm ruộng công Về chủ trương này, lúc ấy đã có người vạch ra:
“Đặt ra phép này chỉ để ăn cướp của dân” [72, 31] Có thể giải thích câu nói
đó như sau: ngày xưa các xã thường ẩn lậu ruộng công để giảm bớt số tô đóng cho Nhà nước Và những ruộng tư cũng ẩn lậu Những ruộng ẩn lậu trước đây đã không khai, giờ đây tất không dám nhận Dựa vào đó, Nhà nước
sẽ tịch thu làm ruộng công Năm 1401, nhà Hồ lập phép hạn nô, qui định số gia nô được dùng theo cấp bậc, số thừa phải sung công, nghĩa là trở thành nô
lệ Nhà nước Mục đích cải cách này được sử cũ chỉ rõ: là nhằm đè nén thế lực
họ Trần Vì quí tộc nhà Trần có hàng trăm, hàng nghìn gia nô, để làm ruộng, hầu hạ và làm quân đội riêng Về thuế ruộng, thời Trần mỗi mẫu ruộng tư nộp
3 tháng thóc, đến nhà Hồ (1402) tăng lên 5 tháng Thuế đinh nói chung cũng tăng thêm Ngoài ra, chúng ta có thể nêu thêm những chính sách quan trọng
Trang 20khác Năm 1396, Hồ Quý Ly ra lệnh tất cả những nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục Năm 1405 có nạn đói, nhà Hồ hạ lệnh cho quan các phủ, châu, huyện kiểm tra số thóc của nhà giàu, bắt bán cho dân theo giá hai bên cùng thỏa thuận Đây là biện pháp tấn công vào bọn thương nhân đầu cơ thóc gạo (bởi vì lớp địa chủ đã bị xóa bỏ từ tám năm trước theo chính sách hạn điền) Chính bọn đầu cơ này đã gây nên nạn đói, vì sử không hề ghi thiên tai mất mùa kèm với nạn đói như thường thấy từ trước đến nay Đây không phải là chẩn cấp mà là bán theo giá thỏa thuận, nghĩa là người ta có tiền nhưng không đong được thóc - nạn đầu cơ khá rõ Hồ Quý Ly còn dùng một biện pháp mạnh nhằm thu hẹp tầng lớp thủ công và thương nhân – bắt họ chuyển sang sản xuất nông nghiệp Đó là năm triều đình hạ lệnh dân các lộ, người nào không có ruộng mà có của dời đến lộ Thăng Hoa – đất Chiêm Động và
Cổ Lũy của Chiêm Thành cũ – để khai khẩn đất đai trồng trọt “Không có ruộng mà có của”, đó chính là tầng lớp thợ thủ công và thương nhân rất phát triển ở đời Trần
Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly trong chừng mực nó tước bỏ sở hữu lớn của quý tộc, địa chủ; tước bỏ nô tì của quý tộc, do đó tước bỏ thế lực chính trị, quân sự của lãnh chúa; đánh vào kinh tế nhà chùa, bắt sư hoàn tục; đánh vào bọn đầu cơ thóc gạo gây ra nạn đói – là một cải cách tiến bộ Nhưng lại
có mặt bảo thủ khi khôi phục và phát triển sở hữu Nhà nước, phát triển chế
độ nô lệ Nhà nước; nó tăng thuế điền và đánh thuế đinh khá nặng, nó biến thương nhân thành nông dân Về mặt kinh tế, cuộc cải cách này là phản động,
vì nó nhằm thu hẹp chế độ tư hữu đã rất phát triển để khôi phục lại chế độ công hữu, cụ thể là chế độ sở hữu Nhà nước (sẽ là cơ sở của chế độ quân chủ chuyên chế và quan liêu), nó thu hẹp giai cấp công thương Về mặt xã hội nó gây nên tình trạng bất mãn trong nông nô, nô tì và giới công thương Những nông nô, nô tì của quí tộc, địa chủ giờ đây thành nông nô, nô tì của Nhà nước,
Trang 21họ bị nhiều tầng lớp áp bức hơn, bị bóc lột nhiều hơn Những tiểu nông cũng bất mãn về thuế ruộng tăng lên gần gấp đôi, thuế đinh nặng và cũng một phần
vì họ bị Nhà nước cấp một phần ruộng tư của họ và ruộng khẩu phần của làng
xã Tầng lớp công thương bất mãn vì họ buộc phải đi khai hoang làm ruộng
Dưới triều Hồ (1400 - 1407) tuy xã hội có những bước tiến nhất định, nhưng khủng hoảng điền trang thái ấp, chế độ nông nô, nô tỳ vẫn chưa được giải quyết Nhà Hồ đứng trước những thử thách cực kì nghiêm trọng Chính quyền nhà Hồ mới được thành lập chưa được củng cố, thiếu cơ sở xã hội vững chắc, mâu thuẫn xã hội có từ cuối đời nhà Trần vẫn không được hòa hoãn Nhà Hồ xây dựng một đô thành mới ở Thanh Hoá gọi là Tây Đô Thành Thăng Long, lúc này đổi là Đông Đô rồi Đông Quan lại một lần nữa chứng kiến quân xâm lược ngoại bang giày xéo Năm 1406, nhà Minh phái
20 vạn quân sang xâm lược Đại Việt Sau 6 tháng chống cự yếu ớt, cuộc kháng chiến của triều Hồ bị thất bại hoàn toàn
Sau 4 thế kỷ độc lập, tự chủ với cuộc kháng chiến thất bại của Hồ Quý
Ly, lịch sử dân tộc ta lâm vào tình trạng tối tăm Sự thống trị tàn bạo của quân Minh, đã cản trở và kìm hãm sự phát triển của xã hội đại Việt, đe dọa vận mệnh của dân tộc và sự sinh tồn của mọi người Cuộc kháng chiến do
nhà Hồ lãnh đạo thất bại, “vì lòng dân không theo”, bởi lẽ “Họ Hồ đã dùng
gian trí để cướp lấy nước, lại gian trí để hiếp lòng dân Lệnh bảo sao ban bố
mà mọi người oán nỗi thương sinh; việc di dân thi hành mà mọi người đều kêu bề thất sở Gia dĩ thuế má phiền, giao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm Chỉ vụ ích kỷ, phì gia, chẳng nghĩ khổ dân hại nước” [62, 197] Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV trên bình diện văn hóa, nước ta từ một vài thế kỷ trước công nguyên đã bị Trung Quốc bành trướng từ lưu vực Trường Giang tràn đến lưu vực Sông Hồng Bắt đầu một thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc về chính trị Hán hoá và giải Hán hoá, một
Trang 22thế lưỡng phân lịch sử, một mâu thuẫn cực kỳ cơ bản của xã hội và văn hoá Việt Nam Đất Việt có nguy cơ bị dứt khỏi nền đồng văn Đông Nam Á để trở thành vùng phía trước của nền văn minh Trung Hoa ở khu vực này Trước tình hình đó, đất Việt có bị giải thể văn hoá ít nhiều, có sự giao tiếp văn hoá Việt - Hoa, cũng như trào lưu chống hỗn dung văn hoá Ba quá trình hỗ tương
giao tác, tất yếu sản sinh hai khuynh hướng văn hoá: Thứ nhất là khuynh
hướng Trung Quốc hoá: hữu thức về phía bọn đô hộ, bọn tay sai, bọn vong
ngoại, gần như vô thức về phía những đại biểu của dân tộc và nhân dân Thứ
hai là khuynh hướng Việt hoá: bảo lưu tinh hoa truyền thống, giải hán hoá,
thâu hoá những đóng góp của các yếu tố ngoại sinh, kết hợp tất cả lại trong một cấu trúc mới, trong một dòng tạo mới Văn hoá Đại Việt – Thăng Long
ra đời trên cơ sở đó
Chối từ sự đô hộ của nước ngoài, nhưng không chối từ phần đóng góp rất
có thể là quan trọng về nhiều mặt của các yếu tố văn hoá ngoại sinh, chính là đặc điểm thường xuyên của của đất Việt, người Việt, văn hoá Việt, đó cũng
là ý thức của hệ tư tưởng yêu nước của dân tộc Việt Nam Nếu ý thức hệ là cái cốt lõi của một nền văn hoá, thì hệ tư tưởng yêu nước thương dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt kỷ nguyên Đại Việt, quán xuyến văn hoá Thăng Long
Ở nước ta, đến cuối thế kỷ XIV, thời thế đã thay đổi, nên cần đổi mới văn hóa Nhưng cái đề nghị đổi mới lại là xu hướng Trung Quốc hoá, phản dân tộc (đại diện là các Nho Thần Lê Phạm) Cái truyền thống thì bảo thủ (mất tính năng động buổi đầu Trần) muốn giữ nguyên trạng, nhưng lại nhân danh dân tộc, nêu lên một nguyên lý đúng: Nam, Bắc khác nhau không cần bắt chước nhau Do đó, xã hội, văn hoá khủng hoảng mà không có đường lối giải quyết Đúng lúc ấy nhân vật Hồ Quý Ly xuất hiện trên chính trường lịch sử
Hồ Quý Ly vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừa muốn phê phán xét lại Nho giáo, nhưng cũng chưa xây dựng nổi một ý thức hệ Việt Nam làm cốt lõi cho
Trang 23nền văn hoá Việt Nam Ông bất lực trước việc hoạch định một một mô hình dân tộc của sự phát triển Ông kiên quyết chống Minh, ông cũng muốn giải Hán hoá nền văn hoá Việt, giáo dục Việt Song ông chỉ mới thổi “tiếng kèn ngập ngừng” với những biện pháp nửa vời Tâm thức ông cũng đầy mâu thuẫn giữa hai dòng nước Trung Quốc hoá và dân tộc hoá - sau bốn lần lấy họ
Lê, ông lại lấy họ Hồ, truy lên gần 500 năm về trước là gốc Hoa, từ Phúc Kiến di cư sang xứ Nghệ; tự cho là dòng dõi Ngu Thuẫn bên Tàu để đổi quốc hiệu là Đại Ngu Trả lời xứ Minh hỏi về phong tục nước ta, ông cũng lại lấy Hán, Đường là “chuẩn mực” Vì vậy, Hồ Quý Ly xây dựng một nền độc tài
cá nhân Ông không nắm được dân, “trăm vạn người trăm vạn lòng”, ông không cố kết được nhân tâm, hoà hợp dân tộc Dân tâm lìa tan và ông để mất nước vào tay bọn giặc Minh
Cướp được nước ta, bọn bành chướng Minh hiện nguyên hình là những tên man rợ mới, man rợ lớn Chúng ráo riết thực hiện âm mưu tái Trung Quốc hoá đất Việt, người Việt, văn hoá Việt Trong khoảng 20 năm (1407-1427), bên cạnh sự đô hộ hà khắc về chính trị, vơ vét tham lam về kinh tế, giặc Minh
đã thi hành một chính sách huỷ diệt độc ác đối với văn hoá Việt Nam Chúng
đã quyết tâm đạp cho tan nát những cơ cấu văn hoá dân tộc xây dựng suốt hơn 400 năm, chủ yếu dưới thời Lý-Trần Vua Minh đã trực tiếp ra mật lệnh cho bọn tướng xâm lăng, khi tiến quân vào nước ta, thấy bất cứ cuốn sách cuốn vở nào, gặp bất cứ tấm bia đá nào đều phải thiêu huỷ đập phá hết Tên tướng Trương Phụ lượm lặt hết các sách vở cổ kim của ta, đóng thùng trở về Kim Lăng Tháng 7 năm Mậu Tuất (1418), nhà Minh còn sai tiến sĩ Hạ Thì
và Hành nhân Hạ Thanh sang tìm tòi và thu lượm hết các sách chép về lịch sử
và sự tích xưa nay do người Việt viết Năm 1419, nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo của Trung Quốc sang thay thế cho những sách trước kia chúng lấy đi Chính sách huỷ diệt văn hoá thâm độc
Trang 24đó đã phá hoại gia tài văn hoá, tinh thần của dân tộc ta không phải là ít Nếu không, cái gia tài văn hoá, văn học, tư tưởng thời Lý - Trần để lại sẽ phong phú vô cùng
Dưới ách thống trị của nhà Minh, nền kinh tế bị tàn phá, mất mùa đói kém, dịch bệnh, công thương nghiệp xa sút Đời sống của mọi tầng lớp nhân dân điêu đứng Sự sống còn của dân tộc đòi hỏi phải thủ tiêu ách độ hộ của nhà Minh, khôi phục độc lập tự do cho đất nước, giá trị nhân phẩm cho con người Đó là nhiệm vụ lịch sử dân tộc ta đặt ra sau sự thất bại của nhà Hồ Từ thất bại của Hồ Quý Ly trước nạn ngoại xâm và sau đó là những phong trào chống Minh thất bại của quí tộc nhà Trần, chúng ta thấy có một sự khủng hoảng trong đường lối chiến tranh cứu nước
Tình hình trên đây đe dọa đến vận mệnh dân tộc Việt Nam, vì vậy những nhà yêu nước, những nhân vật kiệt xuất mang trong mình tư tưởng lớn
vì nước, vì dân lần lượt xuất hiện Một trong những nhà tư tưởng lớn đó phải
kể đến Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai (1380-1442) vốn quê ở Chi Ngại, lộ Lạng Giang nay thuộc Chí Linh – Hải Dương Ông xuất thân trong gia đình dòng dõi, khoa bảng, từng nắm giữ những chức tước lớn trong triều Thân sinh của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh (trước đây là Nguyễn Ứng Long) nổi tiếng thông minh hơn người song vì nhà nghèo nên đi dạy học ở nhà quan tư đồ Trần Nguyên Đán rồi có cảm tình và lấy Nguyễn Thị Thái – con gái của quan tư đồ làm vợ Nguyễn Phi Khanh sau này cũng học và đậu tới tiến sĩ Quan tư đồ Trần Nguyên Đán là vị tôn thất nhà Trần, “vốn dòng thần minh…từng ôm cái chí xuất trần Thanh thiên bạch nhật, tỏ rõ tấm lòng
trung với nước” [49; 196] Người ông ngoại kính yêu luôn ở bên nuôi dưỡng
Nguyễn Trãi từ khi sinh ra và lớn lên bằng những lời dạy thấm đẫm truyền thống dân tộc, đạo lý làm người Từ ông ngoại cho tới cha đều là những nho
sĩ uyên bác có kiến thức sâu rộng và chí hướng cao đẹp cùng lòng nhiệt
Trang 25thành yêu nước, nhất là Trần Nguyên Đán từng nổi danh là người từng đọc
ba vạn cuốn sách Người cha đồng thời là người thầy dạy đầu tiên đã hướng ông học đọc sách, hướng cho ông tới “vườn chư tử, bề lục kinh” Ông ngoại không chỉ truyền cho kiến thức mà còn mang tới những kinh nghiệm phong phú của lịch sử trước kia để lại, lịch sử đương thời nên ngay từ nhỏ Nguyễn Trãi đã phần nào có thêm vốn hiểu biết, bản lĩnh vững vàng để quan sát và thể nghiệm việc đời
“Lục tế nhi đồng phả ái thư”
(Sáu tuổi đã ham đọc sách)
Khi lớn lên đã nổi tiếng là học giỏi trong giới nho học:
“Thanh niên phương dự ái nho lâm”
(Thuở thanh niên tiếng thơm ngát rừng nho) [62, 364]
Không uổng công chăm lo dạy dỗ của cha và ông ngoại, Nguyễn Trãi
từ rất sớm bộc lộ trí tuệ hơn người, chăm lo mài dùi kinh sử và mới 20 tuổi ông đã đậu Thái học sinh (tiến sĩ) dưới triều Hồ rồi làm Ngự sử đài “Trong khi được ông và cha giảng văn, dạy chữ Nguyễn Trãi cũng được học ở hai
người thân tâm hồn” [61; 12] được tiếp thu những vốn sống từ gia đình và
truyền thống cùng tiếp thu những kiến thức đương thời đã góp phần hình thành nên tư tưởng Nguyễn Trãi có những nét riêng không một ai cùng thời
có được Nguyễn Trãi đón nhận lòng “cao đẹp của những người trí thức gắn
bó với nhân dân, học ở ông ngoại tấm lòng thương nhân dân đến bạc đầu” [61; 13] Cũng chính vì thế dù cuộc đời ông đã trải qua bao biến cố lịch sử
và với mỗi biến cố đó do hoàn cảnh của gia đình và bản thân, ông đều đứng trên đỉnh cao của người trong cuộc để đón nhận thông tin, để ngẫm nghĩ và phân tích, để đánh giá và tìm ra con đường thoát Chính những điều đó làm cho nhận thức của ông năng động, sáng suốt
Trang 26Tuy xuất thân “danh gia vọng tộc” nhưng từ nhỏ Nguyễn Trãi được dạy lối sống rất giản dị, mộc mạc và sau thời gian lưu lạc suốt 10 năm là quãng thời gian ghi dấu sâu đậm nơi tâm trí ông về dân Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, nhà Hồ đem quân chống cự nhưng không thành Cha con Hồ Quý Ly cùng một số triều thần bị bắt đưa về Trung Quốc trong đó có Nguyễn Phi Khanh Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi muốn tròn đạo hiếu đã cùng em là Nguyễn Phi Hùng đi theo cha Trên đường đi, Nguyễn Phi Khanh
đã nói với Nguyễn Trãi: “Con là người có học có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, báo thù cho cha Như thế mới là đạo hiếu” [62, 13] Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc cứu nước
Về đến Thăng Long, Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết ông là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc Theo Đại Việt sử ký toàn thư và theo Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí thì “Tổng binh Trương Phụ ép Phi Khanh viết thư gọi ông, ông bất đắc dĩ phải ra hàng Phụ biết ông không chịu ra làm, muốn giết đi, nhưng Thượng thư Hoàng Phúc thấy mặt mũi khác thường, tha cho và giam lỏng ở thành Đông Quan” [8, 192], và ông trở về ở trong ngôi nhà của người cha khi còn làm quan dưới triều Hồ ở phía thành Đông Quan với cuộc sống của người dân mất nước đầy cơ cực, thiếu thốn:
“Góc thành Nam lều một gian,
No nước uống thiếu cơm ăn
Con đòi trốn, đường ai quyến
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen xú xứa, ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam, lều một gian” [62, 395]
Trang 27Nguyễn Trãi là người am hiểu thời thế, biết rõ bản chất của kẻ thù và không thể chịu sống cảnh cá chậu, chim lồng trong khi thù nước hận nhà từng ngày đang nung nấu tâm can ông Vì vậy, sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), ông trốn khỏi Đông Quan và ẩn náu trong nhân dân ở những vùng quê xa sôi, hẻo lánh:
“Kể từ khi chim lạc ra làng khác
Đếm ngón tay thanh minh đã qua mấy lần
Xa nghìn dặm mồ mả không được lạy quét,
Trải mười năm thân cựu đả thảy hao mòn” [62, 272]
Suốt mười năm lưu lạc, Nguyễn Trãi đã có thời gian sống gần gũi nhân dân, đồng cảm với nỗi khổ của dân và thấy được sự thống trị tàn bạo của quân Minh Những tội ác khủng khiếp của giặc Minh đối với dân tộc ta được Nguyễn Trãi tố cáo: vơ vét thuế má, bao tầng sưu dịch, xông pha làm chướng đãi cát lấy vàng, mò ngọc trai, đào hầm bẫy hươu đen, chăng lưới bắt chim
trả, xây dinh thự, phá nghề canh cử: “Từ đấy tướng giặc ngày càng kiêu, thế
giặc ngày càng dữ, bắt giết kẻ trung lương, ngược đãi người cô độc Trong nước oán than, người ta không sống được Chính sự hà khắc, hình phạt nặng
nề, không cái gì là chúng không làm Cấm mắm muối để khốn sự ăn uống của dân, nặng thuế má lao dịch để vét tài sản của dân Xuống biển mò ngọc, đục núi lấy vàng, ngà voi, sừng tê long trả, gỗ thơm, phẩm sản vật của ta, tất chúng muốn lùng vơ vét cho hết, không bỏ sót thứ gì để lấp dục vọng sâu như hang hốc Phàm dân ta bị coi là phản trắc, khó trị tất bị chúng lừa dối đưa đi nơi khác để thỏa lòng cùng binh độc vũ Lại xây hơn 10 thành, chia quân đóng giữ để trấn áp lòng người, khiến cho kẻ sĩ trí mưu của ta không hành động gì được Lại khéo dùng danh mục cưỡng ép hào kiệt giả cho vào triều (Minh) làm quan để an trí ở đất Bắc” [62, 48] Tóm lại, tội ác của chúng chủ
yếu là đối với dân đen, con đỏ: “Thui dân đen trên lò bạo ngược; Hãm con đỏ
Trang 28dưới hố tai ương” (Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống
dưới hầm tai vạ) [62, 77] Do bị áp bức, bóc lột nên chính họ buộc phải vùng
lên đánh đuổi giặc Minh Vì vậy, phong trào đấu tranh của “dân đen”, “con đỏ” và những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta nổ ra ở khắp nơi với yêu cầu dân chủ, dân cày rõ rệt Phong trào đấu tranh của nông dân càng phát triển mạnh mẽ càng bị quân giặc đàn áp dã man Dân đen, con đỏ dĩ nhiên không phải là quý tộc, địa chủ, bọn ngụy quan, hay thương nhân giàu, mà “dân đen”,
“con đỏ” là thợ thủ công, chính họ đã đi theo Lê Lợi làm cuộc kháng chiến
Xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân và căm thù giặc, Nguyễn Trãi nung nấu tìm phương sách đánh giặc cứu nước, cứu nhà Tuy nhiên, việc tìm đường cứu nước ở thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn, bởi vì những kinh nghiệm của Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt chống Tống, Trần Hưng Đạo chống Nguyên không còn đủ để đối phó với giặc Minh Tên giặc “thiên triều” xâm lược này đã có những điểm khác với cha ông nó, trong một điều kiện lịch sử
đã thay đổi
Sinh ra và lớn lên vào cuối thế kỷ XIV, Nguyễn Trãi đã chứng kiến những lãnh địa rộng lớn, sự giàu có, xa hoa cực kỳ của đại quý tộc nhà Trần với hàng nghìn gia nô Rồi ông lại chứng kiến sự suy tàn của giai cấp quý tộc bởi những cải cách của Hồ Quý Ly, nhất là cuộc đại tàn sát quý tộc năm
1399 Ông có thể chứng kiến uy thế của nhà Hồ, với những bạo lực cải cách: phát hành tiền giấy, di dân khẩn hoang qui mô, xây thành trì kiên cố, đóng thuyền chiến, dời đô vào Thanh Hóa, v.v…Rồi ông lại chứng kiến sự thất bại nhanh chóng của nhà Hồ trước sự xâm lược của giặc Minh, việc cha con Hồ Quý Ly và cả người cha thân yêu của ông bị giặc Minh bắt giải về Trung Quốc Ông đã từng trải những năm sống cơ cực dưới ách chiếm đóng của giặc Minh; thương dân, thương thân, đau khổ vì thấy mình bất lực Ông đã chứng kiến phong trào kháng chiến anh dũng do quý tộc nhà Trần lãnh đạo
Trang 29lần lượt thất bại với những hành vi hy sinh bất khuất trước quân thù của những quý tộc yêu nước nhà Trần Nguyễn Trãi không đến với các cuộc khởi nghĩa hậu Trần, đó là chủ kiến của ông Nguyễn Trãi cũng đã thấy được xu thế phát triển của lịch sử, ông đã nhìn ra chỗ yếu của những người lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa hậu Trần Đó là tư tưởng bảo thủ, chỉ quanh quẩn dựa vào đám quý tộc đã hết vai trò lịch sử mà không biết tìm đến nguồn sức mạnh
vô cùng to lớn của lớp “cùng dân manh lệ” (dân cày phu tráng) đông đảo Nguyễn Trãi không tham gia kháng chiến, mà ông đã đi lùi về phía Nam, tìm kiếm những người đồng tâm, đồng chí để cứu nước Ông cũng được chứng kiến sự thiết lập một chế độ chiếm đóng quân sự của bọn xâm lược Minh với thành lũy và đồn bốt khắp nơi, với chính sách làm kiệt quệ sức người, sức của của dân ta với sự khủng bố tàn bạo chưa từng có Đất nước đứng trước thử thách mới của lịch sử để rồi chứng kiến cuộc chiến tranh giữ nước của anh hùng tương ngộ Lê Lợi - Nguyễn Trãi (1418) Với tấm lòng yêu nước, thương dân, tận mắt thấy thiên tài và đức độ của anh hùng Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn trãi đã tham gia vào cuộc kháng chiến Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi nhằm mục đích giải phóng dân tộc, khôi phục nền độc lập dân tộc, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, nghĩa là nó bảo vệ khối cộng đồng dân tộc của tất cả các giai cấp trong dân tộc Việt nam: nông dân,
nô tì, thợ thủ công, thương nhân, địa chủ Chính Nguyễn Trãi đã chứng kiến
và tự mình tham gia vào một cuộc kháng chiến kỳ diệu nhất trong lịch sử - lâu dài nhất, gian khổ nhất và thắng lợi vẻ vang Chính Nguyễn Trãi đã được rèn luyện trong cuộc kháng chiến trường kỳ và chính ông đã trực tiếp thấy rõ sức mạnh chiến đấu vô địch của nhân dân Trong tư tưởng Nguyễn Trãi, khái niệm “dân” mang một nội dung cụ thể, phong phú Ở bất cứ chỗ nào Nguyễn Trãi nói đến “dân” cũng đều là chỉ vào dân lao động
Trang 30Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đóng góp vào việc xây dựng những giá trị văn hóa và tinh thần mới, mở ra những truyền thống mới Nét đặc thù khác
của văn hóa thời Lam Sơn khởi nghĩa là việc đề cao nhân nghĩa Trong
những văn kiện ngoại giao, dịch văn, Nguyễn Trãi thường đề cao chính nghĩa, đề cao nhân ái, coi như nguyên tắc của đường lối đánh giặc trị nước Mười năm sau ngày phất cờ khởi nghĩa tại núi rừng Lam Sơn, quê hương của người anh hùng Lê Lợi, toàn quân dân Đại Việt đã đại thắng giặc Minh, lập nên một triều đại mới - triều đại Lê Sơ
Trên đây chúng tôi đã phân tích điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV – cơ sở khách quan hình thành nên tư
tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi Tuy nhiên, tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi không chỉ phản ánh điều kiện lịch sử Việt Nam giai đoạn này,
mà còn được ông xây dựng trên cơ sở kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của
Nho giáo cùng những giá trị tích cực trong tư tưởng Phật giáo và học thuyết Lão – Trang
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
Nguyễn Trãi là một trong những nhà tư tưởng yêu nước xuất sắc nhất trong số những nhà tư tưởng yêu nước của dân tộc ta cho đến nửa đầu thế kỷ
XV Tư tưởng của ông đã khái quát lên được những vấn đề có tính quy luật của công cuộc cứu nước và dựng nước, chỉ ra được tầm quan trọng của nhận thức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy của dân tộc lên một tầm cao mới Tuy nhiên, tư tưởng của Nguyễn Trãi không ra đời trên mảnh đất trống không mà kế thừa có chọn lọc những tư tưởng lý luận của các thời đại trước đó, đặc biệt là tư tưởng Nho, Phật, Lão Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các học thuyết trên để thấy được sự ảnh hưởng của nó đối với sự hình thành
tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Trang 31Trước hết là, ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự hình thành tư tưởng
nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Nho giáo (儒 教), còn được gọi là Khổng giáo (孔 教), là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử sáng lập để xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam Những người thực hành theo các tín điều của
Nho giáo được gọi là các nhà Nho
Nho giáo vào Việt Nam từ thế kỷ I trước Công Nguyên; khi ở Trung Quốc nhà Tây Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấy quyền thống trị đất Giao Châu Nhưng trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam còn rất hạn chế Đa phần sự ảnh hưởng
đó chỉ có ở các đô thị, gắn liền với sinh hoạt của những viên quan cai trị và một bộ phận những người bản xứ giúp việc cho những quan cai trị đó Có thể nói, ở Việt Nam lúc bấy giờ, Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền
đô hộ và phục vụ cho chính quyền đô hộ Mặt khác, sự truyền bá Nho giáo cùng với việc phổ biến chữ Hán đã đưa tới Việt Nam một kho tàng tri thức về
xã hội và tự nhiên, đó là nền văn học, sử học, triết học, thiên văn học và y học của người Trung Hoa cổ đại Lúc đó, ảnh hưởng của Nho giáo chưa vượt khỏi phạm vi của các thị trấn để đến với các vùng dân cư rộng lớn của đồng bằng
và trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ Nhân dân ở các làng xã chưa thực sự tiếp thu những chuẩn mực của Nho giáo Trong hàng nghìn năm bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc, Nho giáo được đưa vào Việt Nam chủ yếu với tư cách là công cụ phục vụ cho chính sách cai trị và đồng hóa Việt Nam về văn hóa, nghĩa là người Việt Nam tiếp nhận Nho giáo vẫn với thái độ thụ động
Nho giáo chỉ được người Việt Nam chủ động thừa nhận như là một văn hóa chủ thể và xác lập địa vị cao sang của nó khi nền độc lập dân tộc được hoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào phục hưng dân tộc ở vương triều Lý
Trang 32bắt đầu từ năm 1010 – năm triều Lý dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội ngày nay) Theo Đại việt sử ký toàn thư, Năm 1070, dưới thời
Lý Thánh Tông (1054-1072), triều đình cho xây miếu thờ Khổng Tử, tức Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, phụ thờ Nhan Uyên, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử,
là 4 học trò nổi tiếng của Khổng Tử cùng 72 người học trò giỏi khác của Khổng Tử, định ra nghi lễ bốn mùa cúng tế Bên cạnh đó là Quốc tử giám,
nơi các hoàng thái tử đến học tập
Năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072-1128) triều đình cho
mở khoa thi Minh kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường Hai sự việc này trở thành cái mốc quan trọng đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử đối với vai trò của Nho giáo trong đời sống văn hóa, giáo dục ở Việt Nam Khổng miếu và Quốc tử giám được xây dựng chính thức mở đầu cho nền giáo dục và khoa cử Nho học ở Việt Nam
Trương Hán Siêu (mất năm 1354, đời Trần Dụ Tông) ngoài kiệt tác Bạch Đằng giang phú còn có Bài ký ở tháp Linh Tế trên núi Dục Thúy nổi tiếng với tư tưởng tôn Nho, bài Phật, từng viết trên văn bia chùa Khai Nghiêm ở Bắc Giang: “Phàm kẻ sĩ phu không phải đạo Nghiêu Thuấn không nên tâu trước vua; không phải đạo Khổng Mạnh, không nên chép
thành sách” [8, 188]
Do đó, chỉ đến thế kỷ XV khi chế độ thái ấp, điền trang và chế độ nô tỳ
đã trở thành chướng ngại vật cho sự phát triển xã hội, chế độ đặc quyền đặc lợi của quý tộc mới hết lý do tồn tại, cuối cùng bị thủ tiêu Đến thời Lê sơ, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn và đạt tới giai đoạn cực thịnh của nó
Như trên đã nói, chính điều kiện lịch sử - xã hội quy định nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi Trực tiếp chịu sự giáo dục của người cha và ông ngoại, Nguyễn Trãi đã rèn luyện mình theo khuôn khổ của Nho giáo Do đó, Nho giáo là nguồn gốc tư tưởng của Nguyễn Trãi Ông đã tiếp thu Nho giáo
Trang 33từ nhỏ và trong trường lớp Nho giáo ông đã thi đỗ tiến sĩ, trở thành người trí thức Nho học đương thời Nguyễn Trãi tự coi mình là môn đệ của Khổng Tử, Mạnh Tử và tự khuyên mình phải bền chặt với Nho giáo: “Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn” [62, 433] Trong khi đó, “Đạo Khổng môn” dạy cho con người tuyệt đối trung với Vua, hiếu với cha mẹ, vì vậy ông đã viết: “Bui có một lòng trung liễn hiếu; Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” [62, 418]
Khi Nguyễn Trãi viết: “Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn” [62, 433],
chứng tỏ tư tưởng của ông kế thừa tư tưởng Khổng Mạnh Do đó, khi nghiên
cứu tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chúng ta cần tìm hiểu tư tưởng
nhân nghĩa của Nho giáo để thấy ông đã vận dụng tư tưởng ấy như thế nào
vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Theo Nho gia, nhân là quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội Khổng Tử giải thích nhân tùy theo từng trường hợp cụ thể Có lúc Khổng
Tử giải thích chữ nhân một cách trừu tượng, nhưng cũng có lúc ông nói về
nhân rất cụ thể Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa trừu tượng hay cụ thể, xét tới
cùng, nhân cũng là đạo làm người Nhưng nói chung nhân là bỏ hết tư dục, là yêu người, là không làm cho người khác cái gì mà mình không muốn Nhân
là chí công vô tư, bỏ hết tư tâm Đối với mình cũng như đối với người khác,
lúc nào cũng kính cẩn, thân ái là nhân Người có nhân là người chân thực, giàu tình cảm, cho nên người có nhân là người hiếu đễ, trung thứ Kẻ bất
nhân là kẻ chứa chấp nhiều trí thuật, láu lỉnh, tai quái, nhưng không chân thực
và nghèo tình cảm Vì vậy, tàn nhẫn và gian ác là kẻ bất nhân Khổng Tử cho
rằng, nhân là cái gốc lớn của sự sinh hóa trong trời đất Thế gian nhờ có nhân
mà có, vạn vật nhờ có nhân mà sinh, quốc gia nhờ có nhân mà tồn tại, lễ nghĩa nhờ có nhân mà được dựng ra
Trong tư tưởng Khổng Tử lễ trở thành công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện Chính danh Việc Khổng Tử đề cao “nhân”, gắn liền “nhân” với “lễ”,
Trang 34chứng tỏ ông là người theo chủ nghĩa cải lương phục cổ, muốn duy trì chế độ đẳng cấp, danh phận Tuy nhiên, do điều kiện xã hội thời Xuân thu đã thay
đổi so với giai đoạn Tây Chu nên ông không thể vận dụng y nguyên “lễ” nhà
Chu mà không có sự cải biến, thêm bớt cho phù hợp với tình hình mới Thực
ra, học thuyết về “lễ” của Khổng Tử nhằm bổ sung vào chỗ thiếu sót của tư tưởng đức trị nên xét tới cùng, tư tưởng “lễ trị” của ông không phải là cái gì
đó nhân từ Trong “lễ trị” đã bao hàm cả hình phạt, chế độ đẳng cấp phân
phong thế tập cùng với những nghi thức, lễ tiết khắt khe của các quan hệ xã
hội Với tư tưởng “lễ trị” và lập trường “khắc kỷ phục lễ vi nhân” [8, 180],
Khổng Tử đã thể hiện hoài bão muốn phục hồi lại chế độ nô lệ và bảo vệ địa
vị cầm quyền của giai cấp quý tộc chủ nô Đứng trên lập trường của giai cấp
quý tộc, Khổng Tử đã gắn cho học thuyết nhân một nội dung giai cấp khá rõ nét, luận điểm: “Người quân tử có khi phạm điều bất nhân, chứ chưa từng
thấy kẻ tiểu nhân mà làm được điều nhân” [9, 216] của Khổng Tử cho thấy ông không thừa nhận đức nhân của quần chúng lao động Do đó, về thực chất,
“lễ trị” chỉ là nền chuyên chính của giai cấp chủ nô đối với quần chúng nhân
dân lao động
Kế thừa tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử vẫn đề cao “nhân”, nhưng ông gắn chặt nhân với nghĩa thành phạm trù “nhân nghĩa” Theo ông, nhân nghĩa
là phẩm chất cần thiết cho tất cả mọi người và khi nó được ứng dụng vào việc
trị nước sẽ trở thành “nhân chính” Có thể nói, khi đi từ tư tưởng “nhân
nghĩa” đến đường lối “nhân chính”, Mạnh Tử đã làm cho đạo đức hoá thân
vào chính trị, làm cho tư tưởng đức trị trở nên sâu sắc hơn, có ý nghĩa hơn đối với xã hội Trung Quốc đương thời Trong bối cảnh xã hội thời Chiến quốc,
Mạnh Tử đã phát triển và làm rõ hơn nội dung của “nhân” Nếu ở Khổng Tử coi trọng “lễ”, “trí” như “nhân” thì Mạnh Tử lại rất ít nhắc đến “lễ”, “trí”
và Mạnh Tử luôn luôn đề cao đức nhân và nghĩa, vì vậy “nghĩa” và “nhân”
Trang 35không tách rời nhau Bởi lẽ, một mặt, “nhân” là để yêu người thì “nghĩa” là
để chính mình Vậy nên, nếu không chính mình thì sao có thể yêu người? Mặt
khác, nói đến “nhân” là nói đến quan hệ của ta với người khác, nói đến
“nghĩa” là nói với chính bản thân mình; do đó quan hệ giữa “nhân” với
“nghĩa” là quan hệ giữa con người - “chính tôi” với con người - “không phải
tôi” Khi tách rời mối quan hệ ấy, xã hội chỉ còn là một mớ hỗn độn của
những phần tử không theo trật tự Mặt khác, với ai cũng vậy, có “những điều mình chẳng làm” (tức là mình không thèm làm): đem triển khai, mở rộng ý thức chẳng chịu làm, không thèm làm này tới những điều (đáng chê trách) mà
mình vẫn cứ làm, đó là “nghĩa” vậy Trên thực tế người không thèm “khoét
vách”, “trèo tường” để ăn trộm hàng xóm rất có thể giống nịnh hót nhà vua, không còn biết chính trực là gì nữa: “lúc chẳng nên nói thì lại thưa thốt” hoặc
“lúc đáng nói thì lại ngậm miệng” Sự bất lương “thưa thốt, ngậm miệng” này
thực ra là cùng một “ruột” với sự ăn trộm trắng trợn nhất [28, 976]
Về vai trò của đức “nghĩa”, Mạnh Tử cho rằng, trong tâm tính của con người đức “nghĩa” có vai trò hết sức quan trọng Lòng hổ thẹn là đầu mối của “nghĩa” Những ai không có lòng hổ thẹn thì không xứng đáng làm người, như vậy họ không biết nghĩa vụ làm người, tức là không có “nghĩa” Đức “nghĩa” đã không có thì các đức khác như “nhân”, “lễ”, “trí”, “tín” cũng mất theo và khi ấy, người ta là kẻ “bất thiện” Nên không có “nhân” thì không có “nghĩa” Mặt khác, khi đã thấm nhuần “nhân” trong suy nghĩ và
trong hành động thì khi ấy người ta đã hiểu việc nào nên làm, việc nào không
nên làm, tức là đã có “nghĩa” Một kẻ không phân biệt được việc nào nên
làm, việc nào không nên làm, tiến hành những việc lẽ ra chẳng nên làm là
không có “nghĩa” Kẻ đó không thể là người có “nhân”
Chữ “nghĩa” được hiểu như sau: nghĩa trước hết được hiểu là những
gì hợp đạo lý mà con người phải làm, bất kể làm điều đó có đem lại cho
Trang 36người thực hiện ích lợi gì không Theo Mạnh Tử, “nhân” là tình thương
yêu rộng lớn, thiên về tình cảm “Nghĩa” là việc làm chính đáng theo lẽ phải, thiên về lý trí Hai mặt “nhân” và “nghĩa” cần đi liền với nhau, bổ sung cho nhau “Nhân” là nơi ở yên ổn của người, “nghĩa” là con đường chính đại, là con đường lớn mà con người phải noi theo, là ăn, ở và làm việc phải lẽ, không lầm đường lạc lối: ở thì theo đạo “nhân”, đi thì noi đường “nghĩa” [28, 1035]
Vì vậy, Mạnh Tử cho rằng, việc trị nước chăn dân của các bậc vương giả là vì “nhân nghĩa” chứ không phải vì lợi, do đó, nghĩa là cái đối lập với lợi Ngay những dòng chữ đầu tiên của sách Mạnh Tử, là lời nói nổi tiếng của Mạnh Tử khuyên vua Lương Huệ Vương, khi nhà vua hỏi:
“Cụ không quản xa xôi ngàn dặm tới đây, hẳn cũng có thuật gì làm lợi cho nước tôi chăng? Mạnh Tử trả lời: “Nhà vua hà tất nói lợi, chỉ nên nói tới nhân nghĩa mà thôi” [28, 712]
Đề cao “nhân nghĩa”, Mạnh Tử cho rằng: “Người ta khác loài cầm thú
có bao nhiêu đâu (Đó chẳng qua chỉ là nhân nghĩa mà) người dân thường bỏ mất, người quân tử giữ được” [28, 1073] Theo ông, trên mọi lĩnh vực của đạo làm người cũng như trong mọi mối quan hệ giữa người với người trong
xã hội, xét tới cùng, đều có hai mặt “nhân nghĩa” “Nhân nghĩa” cần thiết
cho tất cả mọi người từ quần chúng nhân dân đến nhà cầm quyền Khi nhà
cầm quyền đem “nhân nghĩa” ứng dụng vào việc trị nước thì thành “nhân
chính” Nếu đem lòng “nhân” mà thi hành “nhân chính” thì mọi việc sẽ trôi
chảy, xã hội sẽ ổn định, thái bình
Nếu Khổng Tử hết sức coi trọng "dân tín", coi đó là điều quan trọng nhất không thể bỏ được trong phép trị nước, thì Mạnh Tử nhận thức một cách sâu sắc rằng: "Kiệt và Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử ấy vì mất dân chúng hễ được dân chúng tự nhiên sẽ được thiên hạ hễ được lòng dân tự
Trang 37nhiên sẽ được dân chúng" [Sđd, tr 19] Ông nói: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, nghĩa là có dân mới có nước, có nước mới có vua, trong nước nhân dân là quan trọng nhất, thứ đến mới là quốc gia (xã tắc) vua là thứ bậc xem nhẹ nhất Bởi dân vốn là gốc nước, ý dân là ý trời, vua phải làm cho dân được ấm no, hạnh phúc
Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa trên đây của Nho giáo ảnh hưởng rất
lớn đến tư tưởng của người Việt Nam trong đó có Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình nhà Nho và được nuôi dưỡng bằng những quan điểm, tư tưởng của Nho giáo từ nhỏ Chính ông đã học ở ông ngoại Trần Nguyên Đán tấm lòng thương dân đến bạc đầu: “Bạc đầu không phụ ái nhân tâm”, và đặc biệt ở người cha Nguyễn Phi Khanh tư tưởng: “An đắc thử thân
đống thác thược” (Thân này đổi được thành lò bể) [62, 192] nhằm sưởi ấm
lòng người Nguyễn Trãi đã say mê trong bể lục kinh và sớm nổi danh trong rừng nho: “Thanh niên phương dự ái nho lâm” (thanh niên được tiếng gốc
của rừng nho) [62, 120]
Trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Mạnh Tử, Nguyễn
Trãi đã vận dụng sáng tạo và tài tình tư tưởng nhân nghĩa vào trong lĩnh vực chính trị, đường lối trị nước - an dân Đối với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết “cốt để yên dân”, muốn yên dân trước hết phải đánh quân xâm lược Chỉ
khi đã quét sạch quân xâm lược mới có thể “mở nền thái bình muôn thuở”
Nhân nghĩa như vậy là yêu nước, đánh giặc Yêu nước, đánh giặc là hòn đá
thử vàng để từ đó mới biết nhân nghĩa hay không Nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi
rộng hơn yêu nước đánh giặc, nhưng ở thời Nguyễn Trãi khi đất nước bị xâm
lược, không yêu nước đánh giặc thì không còn là nhân nghĩa nữa, vì vậy,
nhân nghĩa nếu không xuất phát từ yêu nước đánh giặc thì sẽ mất hết nội
dung “Trừ bạo” là phương tiện thực hiện nhân nghĩa Vậy nên nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là thứ “phép lạ” làm cho “Càn khôn đã bỉ mà lại thái”;
Trang 38“Nhật nguyệt đã mờ mà lại trong” [62, 81] Nhân nghĩa trong tư tưởng Nguyễn Trãi mang nặng nội dung yêu nước và đậm màu sắc Việt Nam
Nguyễn Trãi đã tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa của Mạnh Tử nhưng
không máy móc, giáo điều mà có sự sáng tạo, và phát triển, thể hiện lòng thương dân, yêu nước sâu sắc, thiết tha của một anh hùng dân tộc Ông đã tạo
ra một sức mạnh khá đặc biệt trong lịch sử của các cuộc chiến tranh, đó là sử
dụng tư tưởng nhân nghĩa để đánh địch Đối với Nguyễn Trãi, nhân dân là
nỗi lòng thương xót, niềm tin yêu, là sức mạnh cuồn cuộn như nước triều dâng, nhân dân là định hướng cho toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi, đó phải
là “an dân”, “điếu dân” Hết lòng thương dân, Nguyễn Trãi đã thực sự thấu
hiểu “dân vi bản”, và tiếp thu tư tưởng “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh” của Mạnh Tử, nhưng quan niệm về dân của Nguyễn Trãi rộng hơn quan niệm về dân của Mạnh Tử Dân trong tư tưởngNguyễn Trãi là toàn thể
nhân dân lao động, gồm cả “dân đen” “con đỏ”; và với Nguyễn Trãi, mọi chủ
trương của triều đình đều phải căn cứ vào lòng dân, căn cứ vào lòng người
mà hoạch định Nếu ở Mạnh Tử: lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân; thì ở
Nguyễn Trãi, nhân không chỉ là lòng trắc ẩn, mà còn vì độc lập của dân tộc,
vì hạnh phúc cho nhân dân, vì hòa bình của đất nước Lòng nhân ái của Nguyễn Trãi không chỉ là đối xử với người dân của nước mình, mà ngay cả đối với những kẻ lầm đường, lạc lối, đối với kẻ thù Vì thương dân và ghét chiến tranh nên Nguyễn Trãi rất yêu chuộng hòa bình, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Nho giáo ở Nguyễn Trãi không phải hoàn toàn là Nho giáo chính thống Bắc phương, tư tưởng của ông có nhiều nội dung vượt ra ngoài Nho giáo chính thống Bắc phương Vượt lên trên Nho giáo kinh viện, giáo điều “trống
rỗng không dùng vào đâu được” [22, 511], bằng sự sáng tạo của mình cộng
với tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, Nguyễn Trãi luôn trăn trở về vận
Trang 39mệnh dân tộc, đồng cảm với cuộc sống của nhân dân, trải nghiệm cuộc đời, vì vậy tư tưởng của ông luôn gắn chặt với thực tiễn đời sống và điều kiện lịch sử nóng bỏng của xã hội đương thời Do đó, tìm hiểu tư tưởng của Nguyễn Trãi, chúng ta không thấy tư tưởng Chính danh và ý thức tôn ti trật tự của Khổng Mạnh, không thấy màu sắc của Hán Nho cũng như lý luận khắc nghiệt của
Tống nho Tuy Nguyễn Trãi có kế thừa những khái niệm “trung”, “nhân”,
“trí”… từ trong tư tưởng của Nho giáo nhưng với Nguyễn Trãi, ý nghĩa chủ
yếu của chữ “trung” là trung với nước, “trung” với toàn thể nhân dân, chứ không phải là trung với một triều đại hay “trung” với những vị hôn quân bạo chúa và càng không phải “trung” với những vị vua bán nước “Trung” là lẽ
sống đối với Nguyễn Trãi, cho nên dù làm quan phục vụ cho nhà Hồ hay nhà
Lê Sơ mục đích của Nguyễn Trãi đều nhằm để cứu nước, cứu dân Vì vậy, với lòng “trung” với vua, yêu nước, thương dân, Nguyễn Trãi đã đề ra những yêu cầu đối với nhà vua: “Phàm việc giám quốc, cầm quân phải hết lòng theo phép trị, cố sức mà làm, đừng có lười nhác Đối với thần thuộc giữ vững hoà mục trong tâm, thương dân như con, cần khoan nhân việc chính trị Chớ lấy ơn riêng mà cứ thưởng Chớ lấy giận riêng mà gia hình Chớ vơ vét bạc tiền để phí phao xa xỉ Chớ vui thích thanh sắc mà phóng
túng hoang dâm” [62, 395]
Nguyễn Trãi là nhà Nho có bản lĩnh, giàu lòng nhân ái, vì nước, vì dân
Đối với ông, nhân nghĩa không chỉ tồn tại trong tư tưởng mà cả trong hành động; và hành động vì nước vì dân mới thực sự là nhân nghĩa Xét tới cùng,
tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “cốt ở yên dân” [62, 77], vì nhân
dân và những người nghèo khổ “Yên dân” là mục đích cuối cùng của
Nguyễn Trãi, cũng là mục đích cuối cùng của nhân nghĩa
Tuy nhiên, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi không chỉ kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo mà còn tiếp thu những kiến thức của giáo lý
Trang 40Phật giáo
Ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên tại một tiểu quốc thuộc Ấn
Độ, trải qua thời gian, đạo Phật lan tỏa nhiều nơi để trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới Một trong những tư tưởng cơ bản của đạo Phật là phủ nhận sự tồn tại bất diệt và vĩnh viễn của những linh hồn cá thể Phật giáo
đã đưa vào tư tưởng người Việt những quan niệm biện chứng sơ khai: tất cả mọi sự vật trong vũ trụ và thế gian này từ thể xác đến linh hồn, vật chất và tinh thần mọi cái đều có biến hóa, có sinh có diệt, không có cái gì là thường hằng vĩnh cửu, sự vật luôn luôn vận động và biến đổi liên tục Đó chính là tư tưởng cơ bản hàm chứa trong khái niệm “vô ngã”, “vô thường” của Phật giáo Đạo Phật công nhận thuyết luân hồi và nghiệp báo, nhấn mạnh đến tính nhân quả của hành động con người trong một kiếp sống hoặc trong những kiếp sống khác Giáo lý nhà Phật đi sâu vào triết lý nhân sinh Nền tảng căn bản để
xây dựng nên tư tưởng của đạo Phật về phương diện này là Tứ diệu đế (bốn
chân lý quý bao gồm khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế) Trong quan niệm “Ngũ
uẩn” của Phật giáo đã chứa đựng quá trình nhận thức bao gồm các bước hợp lý: sắc, thụ, tưởng, hành, thức Trong thuyết “nhân duyên” và mối quan hệ
“nhân quả” của Phật giáo biểu hiện một sự nhận thức có chứa đựng những yếu tố hợp lý, biện chứng sơ khai
Tư tưởng từ bi, bác ái, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn đã gây được sự xúc động trong lòng người trở thành một trong những nguồn gốc sâu xa của lòng thương người, chủ nghĩa nhân đạo
Đạo Phật truyền vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên, theo sử sách năm 159 lần đầu tiên người Thiên Trúc tức Ấn Độ cổ đại đến miền Trung nước ta Sau đó bằng con đường thương mại và truyền đạo, đạo Phật cùng các nhà sư Ấn Độ, được truyền bá mạnh mẽ vào Việt Nam, hình thành nên một trung tâm Phật giáo lớn tại Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) với