Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đưa ra một sự hiểu biết tổng quan và biện chứng về văn hoá giao tiếp trong công sở của người Hàn Quốc, song song đó là sự so sánh với Việt Nam n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN: HÀN QUỐC HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2010
Tên công trình:
VĂN HOÁ GIAO TIẾP TRONG CÔNG SỞ CỦA HÀN QUỐC (SO SÁNH VỚI VIỆT NAM)
Người hướng dẫn: PGS-TS Phan Thị Thu Hiền
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Nguyễn Phương Ý Lớp Hàn Quốc 2-08 Khóa 2008-2012 Thành viên: Trần Thị Kim Ngân Lớp Hàn Quốc 2-08 Khóa 2008-2012
Đỗ Ngọc Lan Lớp Hàn Quốc 2-08 Khóa 2008-2012
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lý luận: 6
1.2 Cơ sở hình thành văn hoá giao tiếp của người Hàn 8
CHƯƠNG II : CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP 26
CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC VÀ NGƯỜI VIỆT NAM 26
2.1 Ưa giao tiếp – Ngại giao tiếp 26
2.2 Thích vòng vo 29
2.3 Điềm tĩnh – Sôi nổi 31
2.4 Phép tắc – Thân mật 32
CHƯƠNG III: VĂN HOÁ GIAO TIẾP TRONG DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC 35
3.1 Các phương tiện giao tiếp 35
3 2 Đối tượng giao tiếp 55
CHƯƠNG IV: NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP NƠI CÔNG SỞ CỦA NGƯỜI HÀN VÀ NGƯỜI VIỆT 69
4 1 Những điểm dị biệt: 69
4.2 Những đề xuất cho các bạn trẻ Việt Nam khi làm việc tại các doanh nghiệp Hàn Quốc 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 3Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định Giao tiếp cũng là một quá trình thay đổi thông tin, ý nghĩ, cảm xúc qua đó con người tác động và ảnh hưởng lẫn nhau Do đó trong những môi trường khác nhau chúng ta cũng phải lựa chọn những phương thức giao tiếp sao cho phù hợp
Trong môi trường gia đình từ nhỏ chúng ta đã được dạy bảo là phải lễ phép với ông bà, cha mẹ Sau này khi lớn lên đi làm thì quan hệ giao tiếp trong môi trường công
sở càng phức tạp hơn Làm thế nào để vừa lòng sếp? Làm thế nào để dung hòa các mối quan hệ với đồng nghiệp? Làm thế nào để có một bầu không khí làm việc vui vẻ? Điều này không hề đơn giản một chút nào! Bởi vậy, không phải bất cứ nhân viên nào cũng tìm ra cách để thực hiện tốt những điều trên Sự thành công của một nhân viên không chỉ phụ thuộc vào tính chuyên nghiệp và sự siêng năng làm việc mà còn ở các mối quan hệ cá nhân và kỹ năng giao tiếp của họ
Theo các kết quả khảo sát, thất bại trong giao tiếp thường không phải do khác biệt văn hóa hay bất đồng ngôn ngữ Nhiều người vẫn gặp khó khăn trong giao tiếp với cấp trên, đồng nghiệp hoặc cấp dưới của mình, dù rằng họ nói cùng một thứ tiếng và
có chung một nền văn hóa Qua đó mới thấy được rằng văn hóa giao tiếp trong công sở
là một vấn đề hết sức quan trọng
Đối với những quốc gia khác nhau, những nền văn hóa khác nhau thì văn hóa giao tiếp trong môi trường công sở chắc chắn sẽ có những điểm tương đồng và khác biệt Thông qua việc nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong môi trường công sở ở Hàn
Trang 4Quốc và Việt Nam dưới đây chúng tôi sẽ làm rõ hơn về những nét tương đồng và khác biệt này
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Văn hoá giao tiếp là một đề tài được quan tâm nhiều Đã có nhiều bài nghiên cứu
về văn hoá, văn hoá giao tiếp của cả Hàn Quốc và Việt Nam Điều đó tạo nên nguồn tư liệu vô cùng phong phú cho quá trình nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực văn hoá giao tiếp trong công sở Chúng tôi xin nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về văn hóa giao tiếp mà chúng tôi đã tiếp xúc trong quá trình chuẩn bị đề tài như sau:
Tác giả Nguyễn Quang (2008) đã trình bày về vấn đề giao tiếp phi ngôn ngữ qua
tác phẩm “Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa” Thông qua tác phẩm, chúng
tôi đã có được những lý thuyết về các khái niệm liên quan đến văn hoá, giao tiếp, … Đặc biệt là tác giả đã cho người đọc một cái nhìn tổng thể nhưng thật chi tiết về giao tiếp phi ngôn từ của nhiều nền văn hóa trên thế giới Văn hoá giao tiếp phi ngôn từ qua các phương tiện: cận ngôn ngữ, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ vật thể, ngôn ngữ môi trường
Tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm (1997) đã cung cấp rất nhiều thông tin có giá trị khoa học cao Từ những lý luận này, chúng tôi
có thể hiểu rõ hơn về văn hóa, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật ngôn từ và có được một cái nhìn tổng thể về tiến trình văn hóa Việt Nam (sẽ thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình so sánh văn hóa giao tiếp giữa hai dân tộc Hàn và Việt Nam)
Hai khóa luận tốt nghiệp “Bước đầu tìm hiểu văn hóa giao tiếp của Việt Nam và Hàn Quốc” của Vũ Hồng Vẹn (1999) và “Những hiểu biết về giao tiếp của người Hàn” của Nguyên Phương (2005), Luận văn thạc sĩ của Lee Yoon Hee “Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc (so sánh với Việt Nam)” đã cho chúng tôi
nhiều tư liệu cần thiết và phong phú
Trên trang vanhoahoc.edu.vn có bài “Vai trò của tính cách dân tộc trong tiến trình phát triển của Hàn Quốc (có so sánh với Việt Nam)” và “Vai trò của chủ nghĩa gia đình ở Korea: từ truyền thống đến hội nhập” của tác giả Trần Ngọc Thêm Chúng tôi đã có thêm được những kiến thức về văn hoá Việt Nam và Hàn Quốc
Về các khóa luận tốt nghiệp của ngành Hàn Quốc học, tiêu biểu có “Phong tục giao tiếp của Hàn Quốc” của Nguyễn Ngọc Trâm Oanh (1998) đã khái quát về những
Trang 5phong tục, thói quen trong giao tiếp của người Hàn Quốc xưa và nay Ngoài ra, khóa luận “Tìm hiểu văn hóa kinh doanh của Hàn Quốc thông qua các doanh nghiệp Hàn Quốc” của Nguyễn Thị Thúy Hằng (2006) đã nêu được phần nào những triết lí kinh doanh và những nét văn hóa đặc trưng của một số doanh nghiệp lớn Hàn Quốc
Thêm vào đó, còn có nhiều bài báo, tạp chí, bài viết trên các trang web khác giúp chúng tôi có được những thông tin phong phú và cập nhật làm nền tảng cho việc nghiên cứu và từ đó phát triển lên, khắc phục những hạn chế và bổ sung hoàn thiện cho đề tài này
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Hiện nay quan hệ giữa hai quốc gia Hàn, Việt đã ngày càng khắng khít và tốt đẹp hơn Do đó ngày càng có nhiều người Hàn Quốc sang Việt Nam sinh sống và làm việc Các đợt xuất khẩu lao động người Việt Nam sang Hàn Quốc, các cô dâu xứ Việt trên đất nước Hàn Quốc cũng ngày càng gia tăng về số lượng… Tuy nhiên, vì sự khác biệt văn hoá đã gây ra không ít khó khăn trong giao tiếp của người Hàn Quốc và người Việt Nam Trong quá trình hội nhập để cùng phát triển thì mối quan hệ trong công sở
là vô cùng quan trọng Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đưa ra một sự hiểu biết tổng quan và biện chứng về văn hoá giao tiếp trong công sở của người Hàn Quốc, song song đó là sự so sánh với Việt Nam nhằm phát hiện những mâu thuẫn thường nảy sinh trong công sở của người Việt Nam và Hàn Quốc và đề ra những phương án giải quyết mâu thuẫn đó
4 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Về ý nghĩa lí luận, từ việc phân tích, tổng hợp những tài liệu về văn hóa Hàn Quốc nói chung tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành nên nét văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp riêng của người Hàn Từ đó tiến hành so sánh tìm ra những nét tương đồng, dị biệt về văn hóa ứng xử trong công ty giữa Việt Nam và Hàn Quốc,
đề ra những khuyến nghị giúp phần nào giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ công
ty làm cơ sở nền tảng phát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc trong tương lai
Trang 6Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài là tài liệu tổng hợp và tham khảo cung cấp kiến thức cũng như kinh nghiệm làm việc cho sinh viên ngành Hàn – những người đã, đang và
sẽ làm việc trực tiếp tại các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Việt Nam, cho những người Hàn Quốc đang đầu tư và làm việc tại Việt Nam, cũng như những người quan tâm đến văn hóa cả hai nước
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Hướng tiếp cận liên ngành: thông qua việc kết hợp các kiến thức, phương pháp của những ngành khoa học liên quan như ngôn ngữ học, dân tộc học, địa lý, lịch sử… để giải quyết vấn đề
- Phương pháp hệ thống: Hàn Quốc và Việt Nam đều thuộc phương Đông, trong đó Hàn Quốc ở Đông Bắc Á, Việt Nam ở Đông Nam Á Cả Hàn Quốc và Việt Nam đều
có các đặc điểm đặc thù của phương Đông nhưng thêm vào đó là các đặc điểm nổi bật đặc trưng gắn với điều kiện hình thành và phát triển của khu vực Do đó, từ phương pháp hệ thống gắn liền đặc điểm của khu vực nhỏ với khu vực lớn hơn để có thể có được tầm nhìn cả từ bao quát đến chi tiết
- Phương pháp so sánh: cần thiết để liên hệ so sánh hai mảng văn hoá Việt – Hàn
6 BỐ CỤC:
Bài nghiên cứu khoa học của chúng tôi gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này trình bày những yếu tố lý luận và thực tiễn làm nền tảng cho việc hiểu biết về văn hoá giao tiếp nói chung và những đặc điểm văn hoá giao tiếp của người Hàn và người Việt nói riêng Khái niệm văn hoá, văn hoá giao tiếp… là gì? Điều kiện địa lý tự nhiên, nguồn gốc hình thành tộc người cũng như những yếu tố phát sinh trong quá trình phát triển lịch sử của người Hàn và người Việt đã hình những đặc điểm văn hoá giao tiếp như thế nào? Đó là câu hỏi mà chương 1 sẽ giải đáp
Chương 2: Các đặc điểm cơ bản trong văn hoá giao tiếp của người Hàn Quốc và người
Việt Nam
Trang 7Chương này trình bày những đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Hàn và người Việt, tạo cơ sở đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm văn hoá giao tiếp trong môi trường công sở
Chương 3: Văn hoá giao tiếp trong doanh nghiệp Hàn Quốc
Chương này trình bày những nét văn hoá giao tiếp tiêu biểu trong doanh nghiệp Hàn Quốc Thông qua chương này người đọc có thể có được những kiến thức tổng quan và cụ thể về văn hoá giao tiếp trong doanh nghiệp của Hàn Quốc thông qua ngôn từ cũng như phi ngôn từ, và đặc điểm văn hoá giao tiếp với các đối tượng khác nhau
Chương 4: Những điểm dị biệt trong văn hoá giao tiếp nơi công sở của người Hàn và
người Việt
Chương này trình bày những điểm dị biệt trong văn hóa công sở Việt – Hàn trên các phương diện : Vai trò người lãnh đạo, tiến độ làm việc, tốc độ làm việc, kế hoạch khi làm việc, các hoạt động tập thể, tinh thần làm việc, cách ứng xử giữa quản lí
và nhân viên, cách ứng xử giữa các đồng nghiệp Kết hợp với những phần trên ta có thể biết được nguyên nhân gây ra những dị biệt và tránh gây hiểu lầm do khác biệt văn hoá Từ việc hiểu biết lý do vì sao có những dị biệt này người đọc có thể hình thành được cách ứng xử khéo léo, dung hợp với nền văn hoá của đối phương Ngoài ra, chương này còn đưa ra những lời khuyên thiết thực cho những người đã, đang và sẽ làm việc tại các công ty Hàn Quốc
Trang 8CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1 Văn hoá giao tiếp:
Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, việc giao tiếp giữa người với người trong một xã hội và một dân tộc nào đó được kế thừa từ thế hệ trước sang thế hệ sau và hoàn thiện dần để cuối cùng được thực hiện theo những nguyên tắc, những chuẩn mực
và những quy định nhất định và mang tính truyền thống mà xã hội đó, dân tộc đó coi là
có giá trị đạo đức và thẩm mỹ
Vậy “Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc là toàn bộ những nguyên tắc, những chuẩn mực và những quy định chỉ đạo hoạt động giao tiếp giữa người trong xã hội đó và dân tộc đó Để sự giao tiếp đó được xem là có giá trị đạo đức, có giá trị thẩm mỹ hợp lý, phù hợp với quan niệm của xã hội đó và dân tộc đó về văn hóa
và văn minh, về truyền thống và bản sắc dân tộc và phù hợp với những điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế, văn hóa của dân tộc đó Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc được thực hiện thành tập quán, phong tục truyền thống của xã hội đó, dân tộc đó” [Trần Tuấn Lộ 1995: 90] Nói cách khác, theo nhà nghiên cứu Phạm Vũ Dũng thì
“Văn hóa giao tiếp chính là những định chuẩn giao tiếp được tinh tuyển, được tạo thành nề nếp, được hoàn thiện và nâng cao cả về cách thức, nếp ứng xử ngôn ngữ, lời nói và cử chỉ, hành vi, cả về phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau trong xã hội”
[Phạm Vũ Dũng 1996: 20]
Ngoài việc giao tiếp giữa những người trong một nước với nhau, còn có sự giao tiếp giữa những người nước này, dân tộc này với người nước khác, dân tộc khác Với tính chất là sự giao tiếp giữa hai người thuộc hai dân tộc và hai đất nước khác nhau (truyền thống văn hóa, phong tục tập quán khác nhau ) tất nhiên không thể thực hiện bằng cách tuân theo những nguyên tắc, chuẩn mực và quy định của chỉ một bên nào,
mà phải có những nguyên tắc, chuẩn mực chung mang tính quốc tế cho sự giao tiếp giữa hai bên
Mối quan hệ qua lại giữa văn hóa và giao tiếp
+ Văn hóa truyền thống của một dân tộc quy định nên cách thức giao tiếp của dân tộc ấy hay nói cách khác giao tiếp là công cụ truyền đạt văn hóa Mỗi dân tộc có
hệ tư tưởng, giá trị quan khác nhau Đối với Korea, văn hóa truyền thống như hệ tư
Trang 9tưởng Nho giáo, Phật giáo, Shaman giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tính cách dân tộc Chính tính cách dân tộc đã quy định nên những cách thức giao tiếp đặc trưng Chẳng hạn, do ảnh hưởng tính tôn ti trật tự của Nho giáo mà khi giao tiếp, người dưới không được nhìn thẳng vào mắt người trên mà phải luôn nhìn xuống
+ Ngược lại, giao tiếp lại có thể hình thành nên một thứ văn hóa riêng của dân tộc – văn hóa mang tính quốc gia Thông thường, trong giao tiếp giao lưu văn hóa giữa hai hay nhiều nền văn hóa với nhau thì chủ thể của mỗi nền văn hóa sẽ hiểu biết và học hỏi thêm được nhiều nét hay nét đẹp trong văn hóa khác Chẳng hạn, thông qua quá trình giao tiếp với các nền văn hóa phương Tây mà ở Korea đã hình thành nên một loại văn hóa “ppalli ppalli” (빨리 빨리 - nhanh nhanh) Lối giao tiếp nhanh lẹ dần dần
được toàn thể người Hàn thực hiện, và nó trở thành một văn hóa mang tính quốc gia
1.1.2 Công sở
Văn hoá giao tiếp nơi công sở, nói một cách khái quát, là một loạt hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác Nó bao gồm cả những quy định chính thức, được ghi thành văn bản của một công ty và cả những quy định bất thành văn mà chỉ học được bằng kinh nghiệm
Văn hóa giao tiếp nơi công sở còn có thể được hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử của các cán bộ, công chức với nhau và với các công dân tới cơ quan hành chính, nhằm phát huy tối đa năng lực của những người giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc tại công sở Khi văn hóa giao tiếp công sở của cán bộ, công chức được nâng cao thì nấc thang văn hóa ứng xử của công dân đến công sở làm việc cũng
sẽ cao hơn
Ngoài ra, văn hoá giao tiếp nơi công sở thể hiện những tính chất đặc thù của hoạt động thi hành công việc Do vậy giao tiếp cần đảm bảo những nguyên tắc nhất định nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp trong giao tiếp nơi công sở Văn hóa giao tiếp nơi công sở thể hiện trên nhiều yếu tố như trang phục, thái độ ứng xử, đi đứng, điệu
bộ, cử chỉ, lời nói… của mọi người trong cùng môi trường làm việc
Trang 10Hiện nay, môi trường công sở đang được các nhà khoa học cũng như các nhà văn hoá rất quan tâm Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay và nhiều năm về sau, khi mà trào lưu văn hoá ngoại nhập ào ạt tấn công vào đất nước ta Như vậy, văn hoá giao tiếp nơi công sở không chỉ bó hẹp trong phạm vi một đơn vị, mà nó còn ảnh hưởng đến những hoạt động kinh doanh, đến dư luận xã hội
1.2 Cơ sở hình thành văn hoá giao tiếp của người Hàn
1.2.1 Không gian văn hoá
Điều kiện địa lý tự nhiên
Về vị trí địa lý, Korea nằm trên bán đảo Triều Tiên, thuộc khu vực Đông Bắc Á
Toàn bộ bán đảo Triều Tiên từ Bắc xuống Nam có chiều dài khoảng 1.100 km Phía Bắc bán đảo giáp với Trung Quốc và Liên bang Nga; phía Tây là biển Hoàng Hải; về phía Đông là biển Nhật Bản và phía Đông Nam là eo biển Hàn Quốc Trên cả 3 vùng biển (Đông, Nam, và Tây) xung quanh đất liền đều có rất nhiều vũng, vịnh và vô số đảo lớn nhỏ (khoảng hơn 3000 đảo) Từ yếu tố vị trí địa lý đã có những tác động đến văn hóa và chính trị suốt nhiều thời kỳ Trong khi giữ vai trò cầu nối cho sự truyền đạt văn hóa từ châu Á tới Nhật Bản, bán đảo Hàn đã trở thành đối tượng cạnh tranh giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Nga trong cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Về địa hình, khoảng 70% lãnh thổ của bán đảo là núi đá, trong đó chiếm chủ yếu
là đá ga-nít rất gắn chắc Những khu vực này được kết hợp với hoạt động núi lửa thời tiền sử, đáy biển bị đẩy lên đã tạo nên phong cảnh lởm chởm của Korea như chúng ta thấy ngày nay Thêm nữa, bán đảo nói chung được bao quanh bởi những dãy núi Núi Taebaek (태백 – Thái Bạch) như là một xương sống, ngăn cách biên giới giữa bán đảo
Triều Tiên với Trung Quốc Dãy núi hùng vĩ này chạy dọc theo bờ biển phía Đông, kéo dài xuống tận miền Nam của Hàn Quốc, với những vách đá dựng đứng và nhiều
đá nhỏ được tạo nên do sự va đập của hàng nghìn con sóng ngày đêm dội vào Những nhánh núi của hệ thống núi Taebaek một phần đâm thẳng ra phía Tây và Tây Nam của Hàn Quốc và đã tạo ra những độ dốc thoai thoải
Korea có số lượng sông suối tương đối nhiều Toàn bán đảo có 4 sông lớn: sông Yalu (Áp Lục giang), sông Taedong (Đại Đồng giang), sông Nakdong (Lạc Đông giang) và sông Han (Hàn giang) Gần như các con sông chảy về hướng Tây, đổ vào biển Vàng Chính những nhánh núi của dãy Taebaek đan chéo khắp nơi và cắt ngang
Trang 11các con sông này đã tạo nên các đồng bằng nhỏ, hẹp Từ đó, Korea chỉ có khoảng 20% đất đai có thể trồng trọt được và đa số đất trồng trọt được nằm ở các vùng phía Tây và Nam
Khí hậu Korea ôn hòa, có bốn mùa rõ rệt Korea nằm trong vành đai khí hậu ôn
đới ấm gió mùa Đông Á nên hầu hết lãnh thổ nóng và ẩm ướt vào mùa hạ, lạnh và khô hanh vào mùa đông (mùa đông kéo dài hơn các mùa khác), còn mùa xuân và mùa thu ngắn nhưng mát và nắng đẹp Các tháng 6, 7, 8 (mùa hè) trong năm là những tháng có mưa nhiều và to, trong đó tháng 7 là tháng ẩm ướt nhất năm Mùa đông bắt đầu từ cuối tháng 11 và kéo dài đến đầu tháng 3 Vào mùa đông mưa ít và bầu trời quang đãng, chịu ảnh hưởng khí hậu lạnh từ Siberia (Nga) thổi đến
Nhờ tính chất địa hình núi đá mà lại là đá ga-nít cứng nên tính cách con người Hàn Quốc rất là cứng rắn, rất là mạnh mẽ Sống trong một điều kiện địa lý tự nhiên vô cùng khắc nghiệt như thế này, người Hàn Quốc cần phải có sức bền bỉ, mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần Địa hình hiểm trở khiến người Hàn Quốc phải hết sức năng động và linh hoạt để thích ứng với địa hình này Song song đó, sự hòa hợp giữa khí
Hình I.1 70% lãnh thổ bán đảo Triều Tiên là đồi núi (thể hiện bằng màu vàng,
ảnh bên trái) và núi đá chủ yếu là đá ga-nít rất cứng (ảnh bên phải)
Trang 12hậu ôn hòa, biển rộng xung quanh và đất liền đã làm cho dân tộc Hàn Quốc có phần
êm dịu về tính cách Từ đó, người Hàn Quốc trở nên yêu chuộng sự bình yên, yêu chuộng hòa bình Chính vì hai hướng tác động của điều kiện địa hình như thế mà trong tính cách người Hàn Quốc vừa cứng rắn (trong khi chống chọi với kẻ thù, thiên tai ) vừa êm dịu (khi không có bất cứ thiên tai hay kẻ địch nào, tức là khi họ được sống trong hòa bình)
Việt Nam:
Về địa lý Việt Nam nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương lục địa Châu Á
Diện tích phần đất liền khoảng 331.698 km2 Vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km2 với khí hậu nhiệt đới gió mùa Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, vịnh Bắc Bộ và Biển Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia ở phía Tây Việt Nam hình chữ S và khoảng cách từ Bắc tới Nam là khoảng 1.650 km, vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km Với đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt Việt Nam rất có lợi thế về những cây trồng nhiệt đới như: lúa, cao su, cà phê….Bên cạnh đó, Việt Nam còn là một đất nước giàu khoáng sản Trước hết là dầu khí, tiếp theo là quặng sắt khoáng sản ngoài khơi Với hệ thống sông dốc đổ từ các cao nguyên phía Tây, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển thủy điện
Về địa hình, địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng Tây
Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20% Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40% và độ che phủ khoảng 75% Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt nam có ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn,
và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam
Trang 13Bản dồ vị trí địa lý Việt Nam
Khí hậu, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa ở miền Nam với hai mùa (mùa
mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9 và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4)
và khí hậu gió mùa ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông) Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm Hằng năm, lượng mưa từ 120 đến 300 cm Hằng năm Việt Nam luôn phải chống bão và lụt lội với 5 đến 10 cơn bão/ năm Gần 90% lượng mưa đổ vào mùa hè Nhiệt độ trung bình hằng năm ở đồng bằng nói chung cao hơn so với vùng núi và cao nguyên
Loại hình kinh tế
a Du mục:
Các chuyên gia khẳng định nguồn gốc người Hàn cổ đại là những kị binh Vì vậy người Hàn Quốc rắn rỏi và cao lớn hơn hẳn so với nhiều dân tộc khác Đông Á Họ mang trong mình dòng máu du mục nên thích di chuyển Theo thống kê đăng ký thường trú của Cục thống kê quốc gia, tính đến năm 1992, hơn 2% dân cư Hàn Quốc mỗi năm luôn thay đổi địa chỉ nhà ở
Tài sản của dân du mục là đàn súc vật Súc vật ăn cỏ, ăn hết cỏ, không thể ngồi đợi cho cỏ mọc, phải đi tìm bãi cỏ khác Vì thế nghề chăn nuôi theo bầy đàn dẫn đến nếp sống du cư, vừa đi vừa ở, nay đây mai đó, lang thang trên các đồng cỏ, không bao giờ ở một chỗ nhất định
Súc vật di chuyển phải được điều động có kỷ luật, với đánh đập la hét, loại bỏ những con vật yếu đuối, bệnh tật Vì vậy hun đúc nên tính kỷ luật và nóng vội của
Trang 14người Hàn: trong công ty, hễ ai đó làm sai phạm điều gì, họ thẳng thắn nhận lỗi và chịu trách nhiệm về mình Nóng nảy, hay xúc động _ tính cách đó của người Hàn Quốc đã trở lên nổi tiếng thế giới
Lối sống du mục cũng giải thích tính khắc nghiệt trong quan hệ giữa người với người Cách sống nay đây mai đó bắt buộc dân du mục thường xuyên tranh chấp để chiếm đoạt từng bãi cỏ, từng vũng nước … họ cạnh tranh dữ dội trong học tập, cuộc sống cũng như công ty để chiếm được vị trí cao Nếp sống đó dần dần cũng rèn luyện cho dân du mục tính hiếu chiến, thích cưỡng đoạt với óc độc tôn độc hữu Người Hàn nhiều khi rất độc đoán trong cách nghĩ, điển hình như là họ áp dụng Nho giáo một cách cứng nhắc còn hơn chính cả người Trung Quốc, tôn ti trật tự rất được đề cao và phụ nữ thì bị coi thường
Dân du mục thường xuyên di động, đòi hỏi phải tổ chức thế nào để di chuyển gọn gàng, nhanh chóng; lối sinh hoạt đó rèn luyện cho dân du mục cách nghĩ nhanh, ứng biến cũng nhanh trước những thay đổi bất ngờ của cuộc sống Đó có lẽ là một phần nguyên nhân của việc nền kinh tế Hàn Quốc đạt được mức tăng trưởng cao nhất thế giới từ năm 1980
Những kinh nghiệm của kỷ luật và kỹ thuật chăn nuôi theo bầy đàn chuyển hóa vào tâm thức, biến thành môi trường văn hóa tinh thần Trên cơ sở đó, văn hóa du mục phát sinh chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Dân tộc Hàn tự hào mình là thuần chủng Hàn Quốc là đất nước có tính thuần nhất dân tộc cao nhất trên thế giới, đại đa số là người Hàn
Dân gốc du mục hằng ngày điều động đàn súc vật đến những bãi cỏ, di chuyển luôn luôn, coi trọng những người khỏe mạnh, tháo vát Lề lối sinh hoạt đó tạo cho người chăn nuôi theo bầy đàn (dân du mục) tinh thần trọng sức mạnh, trọng võ (thiên
về quân sự), trọng nam giới (khinh nữ) Đối tượng của nghề chăn nuôi theo bầy đàn không tản mạn mà tập trung vào đàn súc vật Hàng ngày quan sát nhận xét từng con vật, chọn lọc, loại bỏ các con vật yếu đuối, bệnh tật Mỗi lần làm thịt con vật, mổ xẻ vật ra, tách rời các bộ phận Thói quen đó dần dần chuyển hóa vào tâm thức, biến thành môi trường văn hóa tinh thần đó chính là đầu mối của lối tư duy phân tích trong giao tiếp của người Hàn đặc biệt là trong kinh doanh Vì sống du cư nên lối sống trọng động làm nẩy sinh nguyên tắc trọng lý, trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ và kéo theo trọng nam khinh nữ Ở Hàn Quốc người phụ nữ khi đã lấy chồng thì không còn mối
Trang 15quan hệ với cha mẹ ruột, tức là không còn bất cứ nghĩa vụ hay trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ mà chỉ tập trung chăm lo cho chồng và con Còn ở công ty, hiện tại dù người phụ nữ được vào làm việc, nhưng vẫn còn phân biệt trong đó Nữ giới thường không được giữ vị trí cao trong công ty, mà thường chỉ giữ những chức vụ không mang tính quyết định
Để duy trì nguyên tắc, kỷ luật, văn hóa trọng động, gốc du mục đưa cách cư xử
mà quyền lực tuyệt đối nằm trong tay người cai trị Đó là đầu mối xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế khắc nghiệt ở Hàn Quốc, điển hình là chế độ độc tài Park Chung Hee thể hiện quyền lực độc tài bằng sức mạnh Tư duy phân tích, cách tổ chức cộng đồng theo nguyên tắc, dẫn đến một đặc điểm quan trọng là tâm lý trọng cá nhân coi trọng cá nhân người cai trị - ông vua là con trời (dùng trong các triều đại phong kiến trước đây của Triều Tiên) – thời dân chủ về sau coi trọng tự do cá nhân của mỗi con người
b Lúa nước
Từ thời kỳ đồ đồng (khoảng thế kỷ VIII - IV tr.CN), nghề nông nghiệp lúa nước vốn bắt nguồn từ khu vực Đông Nam Á cổ đại phía nam sông Dương Tử qua cư dân Hoa Hạ ở lưu vực sông Hoàng Hà đã thâm nhập vào bán đảo Korea và từ đó trở thành loại hình kinh tế chủ yếu trong suốt lịch sử Korea 1 Chất nông nghiệp lúa nước thiên về âm tính và trọng tĩnh
1
www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view&id=554&Itemid=47
Hình I.2
Trang 16Từ hai tính chất nông nghiệp (âm tính) và du mục (dương tính), kết hợp với điều kiện sống khắc nghiệt đã quy định nên những nét tính cách đặc trưng của người Hàn Chính những tính cách này đã góp phần hình thành nên những quy phạm, những chuẩn mực trong văn hóa giao tiếp của người Hàn
(gốc nông nghiệp)
VH TRỌNG ĐỘNG (gốc gu mục)
Coi thường, tham vọng chế ngự thiên nhiên
Lối nhận
thức tư duy
Thiên về tổng hợp và biện chứng (trọng quan hệ); chủ quan, cảm tính và kinh
nghiệm
Thiên về phân tích và siêu hình (trọng yếu tố); khách quan, lý tính và thực nghiệm
Trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam
Cách thức tổ chức CĐ
Linh hoạt và dân chủ, trọng cộng đồng
Nguyên tắc và quân chủ, trọng cá nhân Ứng xử với
môi trường
xã hội
Dung hợp trong tiếp nhận;
mềm dẻo, hiếu hòa trong
đối phó
Độc tôn trong tiếp nhận; cứng rắn, hiếu thắng trong
đối phó
Văn hóa lúa nước của người Việt Nam:
Dân tộc Việt Nam là chủ nhân của nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước (văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn, gần 10.000 năm trước Công Nguyên) ổn định lâu đời hàng 5.000 – 6.000 năm, có địa bàn sinh hoạt ở châu thổ sông Hồng và sông Mã, khác hẳn với gốc du mục của tộc Hoa Hạ, phát tích ở tây bắc sông Hoàng Hà N
Trang 17Cánh đồng lúa nước Việt Nam
Có thể nói văn minh lúa nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến tính cách người Việt Nam Để tạo ra cuộc sống hòa thuận lâu dài, người Việt luôn lấy tình nghĩa làm đầu
Từ truyền thống “tình làng nghĩa xóm” đã được kết tinh một giá trị độc đáo của văn hóa dân tộc là “tình nghĩa” Tình nghĩa là sự kết hợp hài hòa tình cảm yêu thương (tình) với tinh thần trách nhiệm (nghĩa), là nét đặc sắc của triết lý nhân sinh người Việt Cũng từ nền văn minh lúa nước đã dần hình thành đặc trưng thấu tình đạt lý trong ứng xử của người Việt, điều này được thể hiện trong bản chất văn hóa làng xóm
Nhìn chung, người Việt Nam có đặc trưng thấu tình đạt lý trong cách ứng xử Điều đó thể hiện bản chất nhân văn của con người Việt Nam Cũng chính từ cuộc sống luôn gắn bó với đồng ruộng, xuất phát từ thực tế lao động sản xuất, mà người Việt đi đến nhận xét: trồng cái gì thì sẽ được hưởng cái đó Từ nhận thức tự nhiên, người Việt liên hệ đến gia đình và suy rộng ra cả xã hội: cha nào con nấy, nòi nào giống ấy Vì thế
họ vững tin vào phúc đức, ở hiền gặp lành Trong việc buôn bán kinh doanh, cân, đong, đo đúng, không gian dối Thế nhưng bên cạnh những đức tính tốt đẹp mà ta có được từ ảnh hưởng của văn minh lúa nước, chúng ta cũng vẫn còn tồn những mặt khiếm khuyết Đó chính là tính kỷ luật kém và thụ động Người Việt sống nặng về tình nghĩa, nên đôi khi tạo ra nếp sống tùy tiện, không tuân thủ đúng pháp luật nhà nước
Trang 181.2.1 Chủ thể văn hoá
Theo các bằng chứng khảo cổ học thì trên bán đảo Triều Tiên đã có người sinh sống cách đây khoảng 500 ngàn năm Dựa trên các tài liệu ngôn ngữ và khảo cổ, tổ tiên người Hàn Quốc ngày nay có nguồn gốc di cư từ Bắc Siberia, đến Mông Cổ, Mãn Châu (Trung Quốc) rồi xuống bán đảo vào khoảng 5000 năm trước Công nguyên Họ định cư ở đây, phối ngẫu và di truyền nòi giống [John H Koo & Andrew C Nahm 2004: 34 - 35]
Theo dân tộc học, người Hàn Quốc thuộc chủng Mongloid Người Hàn da vàng, tóc đen, xét về những đặc trưng cơ thể thì người Hàn thuộc tộc người Mông Cổ Ngôn ngữ của họ thuộc ngữ hệ Altai, cùng ngữ hệ với các ngôn ngữ khác như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Tungus, hay Mông Như vậy, người Hàn có liên quan với các tộc người phương Bắc nhiều hơn phương Nam Vì vậy ít nhiều mang trong mình tính chất du mục (trọng động) của dân săn bắn và chăn nuôi Siberia
Việt Nam
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu gần đây, xem xét sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực thì có thể nói rằng tất cả các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:
1 Vào thời kì đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm trước đây), có một bộ phận thuộc Đại Chủng Á, sống ở vùng Tây Tạng di cư về phía đông nam, tới vùng ngày nay là vùng Đông Dương thì dừng lại Tại đây, bộ phận của Đại Chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại Chủng Úc bản địa và kết quả
là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp là Indonésien)
Sơ đồ về sự hình thành chủng Nam Đảo và chủng Nam Á
Trang 192 Cuối thời kì đồ đá mới, đầu thời kì đồ đồng (khoảng 5.000 năm trước đây) Tại khu vực mà ngày nay ta gọi là miền bắc Việt Nam, có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lao tiếp xúc thường xuyên với Đại Chủng
Á từ phía Bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới
là chủng Nam Á (tiếng Pháp là austro- asiatique) Do hai lần hòa nhập
với Đại chủng Á mà Chủng Nam Á có những nét đặc trưng nổi trội của Đại chủng Úc
3 Thời kỳ sau đó, Chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt Đó là một cộng đồng cư dân rất đông đúc bao gồm : Điền Việt (cư trú tại Vân Nam, Trung Quốc), Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt (cư trú tại Quảng Đông, Trung Quốc), Lạc Việt (cư trú tại Quảng Tây, Trung Quốc
và Bắc bộ Việt Nam)…sinh sống từ vùng nam sông Dương Tử đến Bắc
bộ (Việt Nam) Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như : Môn-Khmer, Việt Mường, Tày – Thái, Mèo – Dao…Sau này do quá trình chia tách tiếp tục hình thành các dân tộc và ngôn ngữ như ngày nay Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người
Cổ Mã Lai, Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam đảo Đó là
tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chàm
Sơ đồ về sự hình thành các dân tộc Việt Nam
Trang 201.2.2 Thời gian văn hoá
a Lớp văn hoá bản địa
Tín ngưỡng bản địa: Shaman
Có thể nói rằng Shaman giáo là tôn giáo bản địa của người Hàn Quốc Shaman giáo không có triết lý hay giáo điều nhưng lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên đời sống hàng ngày của người dân Hàn cả quá khứ lẫn hiện tại Giống như các mudang khi làm
lễ gut họ nhảy múa một cách “cực đoan” Họ gần như thoát khỏi cuộc sống hiện tại với những bước nhảy “điên cuồng” Người Hàn hiện đại cũng vậy, khi làm một việc gì đó thường có khuynh hướng làm việc mang tính cực đoan nên trong công ty khi làm việc cũng làm chăm chỉ đến nỗi không thể hình dung được Khẩu hiệu “sẽ sống tốt” (잘살아보세 – jal salabose) trong cuộc vận động Saemaul (새마을 - làng mới2) giúp
người Hàn trong một thời gian ngắn đã tạo nên sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc Thêm nữa, khi uống rượu, họ thường uống đến tăng 1, tăng 2, tăng 3… rồi mới chịu về Tóm lại, khi làm việc gì họ cũng cố làm hết sức, làm một cách cực đoan
b Lớp văn hoá chịu ảnh hưởng khu vực
Phật giáo
Nhìn chung, so với các tôn giáo khác thì Phật giáo ít ảnh hưởng đến tính cách người Hàn Hệ quả của việc này là nó ít ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp của dân tộc Hàn, bởi vì tính cách dân tộc là một trong những yếu tố quy định nên lối giao tiếp của dân tộc đó Từ thời kỳ Joseon đến nay, do Phật giáo bị đàn áp bởi chính quyền thống trị nên nó mất dần vị thế của mình trong xã hội Nhưng khách quan mà nói thì tư tưởng Phật giáo vẫn còn in sâu trong tâm thức của người Hàn Người Hàn vẫn thực hành theo những lời dạy của Phật giáo như hành thiện tích đức, thương yêu giúp đỡ người khác, kiên trì nhẫn nại… Chính những tư tưởng ấy của Phật giáo đã làm phong phú thêm đời sống tinh thần của dân tộc Hàn
2 Phong trào này là phong trào xây dựng, hiện đại hóa nông thôn Hàn Quốc dưới chế độ độc tài Pak Chung-hee Kết quả của phong trào này là nông thôn dần phát triển, đời sống nông dân được cải thiện…
Trang 21Đối với Việt Nam, cách nhận thức hợp lý của Phật giáo về mối quan hệ nhân - duyên - quả đã cung cấp cho người Việt Nam một cách suy nghĩ mang tính chất nhân quả để nhìn con người, cuộc sống, vạn vật: “nhân nào, quả nấy”, “gieo gió, gặp bão”,
“ở hiền gặp lành”
Tư tưởng từ bi bác ái, chủ trương khuyến thiện trừ ác, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn
là những tư tưởng lôi cuốn đông đảo người Việt Nam và trở thành lòng thương người, tính nhân đạo của họ
Như vậy, Phật giáo là nhu cầu tinh thần của bộ phận nhân dân đông đảo, đóng vai trò như sự định hướng cần thiết, là dòng chảy văn hoá chung của dân tộc, gắn liền một cách linh hoạt với đặc điểm tư duy của người Việt Nam, không đơn giản là thuần túy tôn giáo
Nho giáo
Nho giáo là một trong những dòng triết học ra đời từ thời Cổ đại ở Trung Quốc, nhưng ảnh hưởng của nó thì vô cùng lớn, không những với Trung Hoa mà còn sang cả các nước châu Á, đặc biệt là Hàn Quốc
Xã hội truyền thống Hàn Quốc được thể hiện rõ trong mối quan hệ về huyết thống (nguyên tắc về họ tộc), phụ quyền (quyền lực trong gia đình) và tộc quyền (quyền lực rộng rãi hơn về xã hội, chính trị, kinh tế - gắn bó mật thiết với tư tưởng dòng tộc và gia đình)
Nho giáo qui định các mối quan hệ xã hội, con người thông qua tuổi tác, thế hệ, giới tính và địa vị, tạo ra thứ bậc rõ ràng giữa người lớn – kẻ nhỏ, nam – nữ, người cai trị - kẻ bị trị Tính bề trên và tuân phục hàm ý trong các cặp quan hệ này là trọng tâm của hệ tư tưởng huyết thống Nho giáo
Câu châm ngôn cho rằng đàn ông phải tu thân và tề gia cho tốt trước khi có thể trị quốc, bình thiên hạ phản ánh một giáo điều phía sau lý tưởng một trật tự xã hội Nho giáo
Dưới chế độ này, người đàn ông luôn được trao trách nhiệm đại diện, ủng hộ và bảo vệ gia đình mình Nếu anh ta không nắm được quyền lực này và sử dụng vai trò lãnh đạo của mình một cách khôn ngoan, anh ta sẽ mất thể diện của mình với tư cách
là người đứng đầu một gia đình Trật tự trong gia đình được duy trì thông qua nguyên tắc thứ bậc theo đó con cái phải vâng lời cha mẹ, vợ nghe lời chồng và tớ phải nghe lời chủ
Trang 22Xã hội Hàn Quốc dựa trên những niềm tin vào Đạo Khổng, điều này cũng đồng nghĩa việc họ rất kính trọng bố mẹ, cấp trên; có trách nhiệm với gia đình, trung thành với bạn bè, khiêm tốn, thật thà và có tác phong nhã nhặn lịch sự Khía cạnh quan trọng nhất trong xã hội Hàn Quốc chính là sự nhận thức được vị trí của mình trong xã hội cũng như công việc Tôn ti trật tự được tôn trọng không những ở các từ ngữ mà còn ở ngôn ngữ nói Ngôn ngữ Hàn Quốc chú trọng thứ bậc, tuổi tác, các hình thức ngỏ lời, các động từ, từ ngữ thay đổi tùy theo người nói là ai, cho nên, nghe qua cách nói chuyện có thể biết được khoảng cách xã hội, tuổi tác giữa các người nói
Những thay đổi to lớn diễn ra ở châu Á và thế giới nửa sau thế kỷ 20 được cảm nhận rõ trong lối sống hàng ngày của mỗi người dân Hàn Quốc Các phong tục tập quán có nhiều thay đổi lớn do quá trình hiện đại hoá xã hội diễn ra nhanh chóng Tuy nhiên, bất chấp những thay đổi này, Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia mạng đạm dấu ấn Nho giáo nhất trên thế giới Lối sống truyền thống của quá khứ và các phong tục được gìn giữ lâu đời vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng đối với lối sống hiện đại
mà người Hàn Quốc mới chấp nhận trong thời gian gần đây
Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đại Lê Nguyễn Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định
Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đã góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia
Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn ti trật tự… vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thôn, ấp hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn-bè”
Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan hệ giữa người với người Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ này, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng trung quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân
Trang 23Nho giáo từ khi ra đời đến nay đã trên 2500 năm và đã từng ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc đến xã hội Việt Nam đã góp phần xây dựng một xã hội thịnh vượng, ổn định, có trật tự, có pháp luật, một quốc gia thống nhất
Tính dân chủ trong xã hội Hàn Quốc xưa và nay
Hàn Quốc đã là quốc gia thành lập từ mấy ngàn năm và đều thuộc truyền thống Khổng Giáo như các nước Á Ðông khác Hàn Quốc phải đợi sau khi ngọn lửa chiến tranh Nam Bắc nguội bớt người dân mới bắt đầu tranh đấu lập nền dân chủ vào thập niên 1980
Sau khi Hàn Quốc chịu cảnh nội chiến Nam Bắc, giới quân nhân chiếm lấy quyền hành vừa lo chống mối đe dọa của cộng sản phía Bắc vừa canh tân nền kinh tế quốc dân Nhưng mặc dù vẫn bị đe dọa xâm lăng, dân Nam Hàn vẫn đứng lên đòi tự
do dân chủ Những năm 1970, 80 khi kinh tế đang cất cánh cũng là những năm các phong trào đòi dân chủ tự do lên cao nhất, với những cuộc biểu tình, đình công, bãi khóa của công nhân và sinh viên Nhờ giữ được truyền thống Khổng Mạnh, đặt công ích lên trên quyền lợi riêng, các tướng lãnh Nam Hàn đã trao trả lại quyền làm chủ cho dân Kinh tế lại càng phát triển vì người dân được tự do hơn Thể chế dân chủ tự do ở Hàn Quốc được hỗ trợ bởi nền đạo lý cổ truyền thấm nhuần Nho Giáo Nền tảng đạo
lý này coi chữ Tín là quan trọng bậc nhất, các nhà chính trị phải nêu gương tín nghĩa, nhờ thế đã tạo nên không khí tín nhiệm chung trong xã hội Chữ Tín cũng là nền tảng của cả chế độ dân chủ lẫn kinh tế thị trường
Có lẽ không có minh chứng, không có sự so sánh nào lại rõ nét hơn thế nếu ta
so sánh giữa hai miền nam bắc Triều Một Nam Hàn đã qua thời kỳ quá độ khủng hoảng chính trị của những năm 60 thế kỷ trước, khi đó Hàn Quốc đã trải qua một cuộc đại phẫu cho một nền dân chủ tiên tiến, một bên là thế lực đương quyền có tính cách của sự độc tài có tính toán chiến lược để ổn định tình hình trong hoàn cảnh chiến tranh, một bên là những lực lượng dân chủ xã hội đã đấu tranh đòi phải thực hiện nền dân chủ Chúng ta đã từng chứng kiến những cuộc biểu tình khổng lồ đòi thực hiện nền dân chủ của thanh niên sinh viên học sinh Hàn Quốc trong những năm 70-80 của thế kỷ trước Chính những cuộc biểu tình này là hàn thử biểu chính trị để chính quyền
Trang 24điều chỉnh đường lối cai trị sao cho phù hợp với lòng dân, đồng thời họ phải tìm cách vận động tuyên truyền cho nhân dân hiểu rằng, họ áp dụng chế độ độc tài theo kiểu thời chiến để đối phó với nạn cộng sản, đang nhăm nhe thôn tính đất nước mà thôi Họ
vì lợi ích dân tộc để giữ vững ổn địng chính trị, chứ không phải vì quyền lợi của một nhóm thiểu số
Chính sự cọ sát mâu thuẫn để tìm đến sự dung hòa thỏa hiệp, đã tạo nên một xã hội Hàn Quốc ổn định và phát triển Rõ ràng chính quyền Seoul đã thuyết phục được nhân dân bằng những chứng minh thực tế, bằng sự trung thành đối với tổ quốc của họ Đồng thời khi đã ổn định lòng dân, thì bước tiếp theo là quá trình thực hiện dân chủ để phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân Người Hàn Quốc đã thành công do họ đã đi đúng hướng Họ xứng đáng trở thành “Rồng” Vì vậy, tuy là một nước dân chủ nhưng
do sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế nên văn hóa xã hội Hàn Quốc vẫn còn đề cao cấp bậc, đặc biệt là trong các doanh nghiệp
Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, bước vào thời kỳ phân hoá xã hội với cuộc đấu tranh triền miên diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau giữa người lao động bị áp bức, bóc lột với kẻ thống trị áp bức, bóc lột Trong cuộc đấu tranh xã hội đó thường xuất hiện những tư tưởng dân chủ nhất định phản ánh khát vọng và ước mơ của quần chúng lao khổ chống lại các bất công và bất bình đẳng xã hội Nội dung và mức độ phát triển của những tư tưởng dân chủ đó tùy thuộc vào tính chất của hình thái kinh tế - xã hội thống trị, vào mức độ phân hoá và đấu tranh xã hội, vào vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp bị áp bức, bóc lột
Về mặt chính trị, tư tưởng dân chủ cao nhất của nông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bọn bạo chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công bằng có vua sáng tôi hiền Đó là tư tưởng: được làm vua, thua làm giặc - bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa
Như vậy, trong đấu tranh xã hội, tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở yêu cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát triển cao nhất
là chủ nghĩa bình quân về kinh tế - xã hội và tư tưởng bạo động về mặt chính trị Tư tưởng đó gắn liền với tâm lý người nông dân công xã, người sản xuất nhỏ, nó có mặt
Trang 25chính đáng và tích cực của nó trong cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế, chống những bất công của xã hội phong kiến, nhưng cũng bộc lộ mặt không tưởng và bất lực của người nông dân trong sự nghiệp tự giải phóng mình
Trên cơ sở quan hệ cộng đồng công xã đó, hình thành và bảo tồn một loạt phong tục tập quán gọi chung là “lệ làng” ít nhiều phản ánh tính chất dân chủ công xã
Nó được biểu thị trong mối quan hệ tương đối bình đẳng giữa các thành viên trong việc chia ruộng đất công và trong các sinh hoạt cộng đồng, trong sự tôn trọng người già bất cứ thuộc đẳng cấp nào, trong việc thừa nhận vai trò to lớn của người mẹ và người phụ nữ trong đời sống gia đình và làng xã Những lệ làng mang tính dân chủ công xã đó được phản ánh rõ nét trong kho tàng văn hoá dân gian, nhất là trong ca dao, tục ngữ
Tư tưởng dân chủ công xã có mặt tích cực của nó trong đời sống xã hội nhưng cũng gắn liền với tính cục bộ, địa phương của công xã và những hẹp hòi của các hình thức dân chủ công xã Công xã chỉ thừa nhận quyền bình đẳng và dân chủ giữa các thành viên khi họ là thành viên của công xã, là bộ phận tạo thành của cộng đồng, nhưng hoàn toàn không công nhận quyền của cá nhân, của con người với tư cách là một thực thể độc lập Dân chủ công xã không dựa trên sự giải phóng con người và tôn trọng quyền của con người, mà trói chặt con người trong quan hệ cộng đồng và chỉ bảo đảm quyền lợi bình đẳng của con người với tư cách là thành viên của cộng đồng
c Lớp văn hoá chịu ảnh hưởng phương Tây
Vào thời kỳ cuối Joseon (giữa thế kỷ XVII – giữa thế kỷ XX) và giai đoạn văn hóa hiện đại (giữa thế kỷ XX – hiện nay), Hàn Quốc tiếp nhận những giá trị văn hóa
kiểu phương Tây và học tập những thành tựu khoa học - kỹ thuật của phương Tây
Sau chiến tranh Nhâm Thìn do Nhật Bản gây hấn, những tư tưởng khai sáng và hiện đại hóa từ phương Tây tràn vào Korea lúc thì trực tiếp, lúc thì gián tiếp qua con đường Nhật Bản, Trung Hoa Hình thành các phong trào “Thực học” (Silhak – 실학 -
實學), “Tây học” (Seohak - 서학 - 西學) Văn hóa dân gian phát triển Văn hóa chính
thống bị suy thoái nhiều, tận cùng của sự suy thoái diễn ra vào thời kỳ Nhật thuộc (1910-1945)
Trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, văn hóa Korea cũng khởi sắc
và phát triển mạnh mẽ cùng với sự đi lên của kỹ thuật Hàn Quốc Trong khi đó, ở miền
Trang 26Bắc bán đảo (Triều Tiên), khoa học - kỹ thuật suy thoái, văn hóa truyền thống không được giữ gìn, quân sự lại được chú trọng
Nhìn chung, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây tuy vẫn còn đang tiếp diễn, hay nói cách khác là nó đang định hình, nhưng đã tạo ra một số đặc điểm dễ nhận thấy:
- Giai đoạn giao lưu với phương Tây ở Korea đã chứng kiến việc đô thị hóa diễn ra nhanh chóng trong xã hội, cùng với nó là sự lớn mạnh của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhu cầu về một cuộc sống văn minh, tiện nghi
- Chính công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà trong xã hội Korea ý thức về vai trò con người cá nhân được nâng cao, nhưng ý thức cộng đồng truyền thống vẫn còn tồn tại khá mạnh mẽ
- Một khi ý thức cá nhân được nâng cao thì sự phân biệt thứ bậc theo trật tự Nho giáo truyền thống dần phai mờ Vị trí của phụ nữ và tầng lớp thường dân được nâng cao Đặc biệt, nếu như trong xã hội Korea truyền thống người phụ nữ không được xem trọng thì trong thời hiện đại họ lại có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội
- Một đặc điểm nổi bật ảnh hưởng của phương Tây là sự thích nghi với một lối sống hiện đại, nhanh nhẹn, làm việc theo tác phong công nghiệp Trong xã hội truyền thống, người Hàn rất thích “chậm chậm” (jeon jeon hi - 전전히), biểu hiện qua việc những
người thuộc tầng lớp quý tộc Lưỡng ban (yang ban – 양반 - 兩班) không bao giờ
chạy Dưới áp lực của công việc trong thời hiện đại, người dân Korea dần dần chuyển sang lối sống hối hả, lúc nào cũng “nhanh nhanh” (ppalli ppalli - 빨리 빨리) Đây
cũng chính là một trong những nét tính cách đặc trưng của người Hàn
Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa phương tây, mặc dù theo truyền thống văn hóa, tâm linh lâu đời của người Việt thì hạnh phúc được đặt nền tảng trên những giá trị tinh thần nhiều hơn là trên những giá trị vật chất Vậy mà những giá trị tinh thần ấy, như đạo lý, nhân nghĩa, đạo làm người theo quan niệm truyền thống Á Đông, thì đang bị xói mòn trầm trọng bởi thời buổi “kinh tế thị trường”, nhất là qua lối sống của lớp dân thành thị mới giàu lên nhờ “mở cửa”, “kinh tế thị trường” và một số khá lớn thanh niên nam nữ
Trang 27Nhìn chung, trong quá trình toàn cầu hóa, văn hóa, tư duy, cung cách làm ăn… của phương Tây cũng đem lại những lợi ích nhất định cho Việt Nam, như về các mặt kinh tế, thu nhập quốc dân, mức sống, tiện nghi vật chất , nhưng đồng thời lại gây ra những tổn hại đáng báo động về mặt tinh thần, đạo lý và các giá trị truyền thống
Trang 28CHƯƠNG II : CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC VÀ NGƯỜI VIỆT NAM
2.1 Ưa giao tiếp – Ngại giao tiếp
Xét về thái độ giao tiếp thì người Hàn vừa ưa giao tiếp, vừa ngại giao tiếp Ở đây, xin lưu ý một điều là không phải người Hàn vừa thích giao tiếp, vừa ngại giao tiếp cùng một thời điểm, cùng một đối tượng mà tùy từng đối tượng, từng thời điểm giao tiếp mà có lúc cởi mở, gần gũi, có lúc lại khép kín, cách biệt
2.1.1 Ưa giao tiếp:
Sống trong xã hội, con người không thể thoát ly khỏi xã hội Ở bất kỳ chế độ xã hội nào, kể cả khi chủ nghĩa cá nhân phát triển đến đỉnh cao như ở xã hội phương Tây, con người vẫn phải gắn với cộng đồng, bởi lẻ tách khỏi cộng đồng, con người không được tiếp thêm sức sống, trở nên bất lực, cô đơn, vô nghĩa Người Hàn cũng thế, họ luôn nhận định rằng con người không thể sống một mình mà không có sự liên hệ với
nhau Tục ngữ Korea có những câu như “Con người không thể sống một mình” (사람은 혼자서는 못산다 - sarameun honjaseoneun mot santa) hay “Hai lòng bàn
tay chạm vào nhau mới phát ra tiếng” (두 손뼉이 맞아야 소리가 난다 - du
sonbbeoki majaya soriga nanta) đã chứng minh cho sự cần thiết của việc cố kết cộng đồng này Từ những quan điểm ấy mà người Hàn cảm thấy cần giao tiếp với người khác nhiều hơn nữa, hay nói cách khác là người Hàn trở nên thích giao tiếp
Hơn nữa, cuộc sống nông nghiệp trồng lúa nước trong xã hội Korea truyền thống có tính thời vụ cao nên cần sự hợp sức của nhiều người để cùng làm vụ mùa Nếu đơn độc, không hợp tác với nhau thì từng người không thể đảm bảo đúng thời hạn, đúng tiết cho mùa vụ của mình để cây lúa có thể cho năng suất cao Đâu đã hết, thiên nhiên khắc nghiệt với bao yếu tố bất ngờ như lũ lụt, hạn hán, mất mùa… luôn xảy ra, buộc con người phải cố kết lại với nhau để chống đỡ và khắc phục hậu quả Nhu cầu tương trợ lúc này rất lớn và cấp bách Tính cố kết cộng đồng trong lúc làm mùa vụ như thế này cũng là nguyên nhân khiến người Hàn coi trọng giao tiếp và dẫn đến việc thích giao tiếp
Xét về thái độ đối với việc giao tiếp, người Việt Nam cũng ưa giao tiếp như người Hàn Sở dĩ người Việt thích giao tiếp là do lối sống cố kết cộng đồng mà nguồn
Trang 29gốc của tính cộng đồng lại là lối sống nông nghiệp lúa nước Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lại thêm điều kiện đất đai, sông nước nhiều thuận lợi cho việc phát triển cây lúa nước, nên nghề nông trồng lúa nước ở Việt Nam có tính thời vụ cao (cao hơn so với nghề nông nghiệp lúa nước ở Korea, vì Korea ở xứ lạnh, lại thêm điều kiện địa lý – tự nhiên tương đối khắc nghiệt) Do một mặt có thể làm nhiều vụ mùa trong một năm, mặt khác lại có có nhiều công việc phải làm (cày xới đất, gieo mạ, cấy mạ…) trong một vụ mùa nên cần nhiều người của nhiều gia đình trong làng hợp sức lại Thành ra, người Việt nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt đẹp với mọi thành viên trong cộng đồng Từ đó, người Việt coi trọng sự giao tiếp và dẫn đến việc thích giao tiếp
Ngoài ra tính cộng đồng của người Việt còn bắt nguồn từ lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của người Việt Nhìn vào lịch sử phát triển của dân tộc và đất nước Việt Nam, nạn ngoại xâm luôn đe dọa Điều này đưa đến một vấn đề: dân tộc Việt Nam phải ứng phó như thế nào để tồn tại và phát triển Chỉ có cách duy nhất là cố kết cộng đồng lại, dùng sức mạnh và ý chí của cả cộng đồng để đánh đuổi quân thù Sự gắn kết với nhau như thế đã dẫn đến tính trọng cộng đồng của người Việt
2.1.2 Ngại giao tiếp
Trong giao tiếp, người Hàn thỉnh thoảng tỏ ra rụt rè, ngại giao tiếp với những người xung quanh Vậy nhận định này có mâu thuẫn với điều khẳng định là người Hàn thích giao tiếp (như trình bày ở trên) hay không? Thật ra, hai tính cách này (ưa giao tiếp và ngại giao tiếp) không mâu thuẫn nhau vì chúng thể hiện trong những hoàn cảnh, môi trường giao tiếp và nhất là trước những đối tượng giao tiếp khác nhau Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ người Hàn trọng tình, trọng quan hệ nhưng lại thiết lập những mối quan hệ có tính lựa chọn: phân biệt rõ thân – sơ, trong – ngoài Bên cạnh đó, thái
độ giao tiếp của người Hàn thiên về thích giao tiếp hay ngại giao tiếp còn tùy thuộc vào mức độ phân biệt quan hệ trên – dưới và quan hệ nam – nữ Nguyên nhân sâu xa của sự phân biệt rạch ròi các mối quan hệ này, cũng là nguyên nhân của tính ngại giao
tiếp, của người Hàn là chủ nghĩa gia đình và những quy định của Nho giáo
Theo Trần Ngọc Thêm, chủ nghĩa gia đình là “một hiện tượng văn hoá - xã hội
đặc thù với ba đặc trưng nổi bật: (1) Cá nhân không thể độc lập tách rời khỏi gia đình
và quan hệ giữa các thành viên gia đình được sắp xếp theo tôn ty trên dưới rất rõ ràng,
Trang 30chặt chẽ, và nghiêm ngặt; (2) Gia đình có một truyền thống mà tất cả các thành viên gia đình qua các thế hệ đều quan tâm gìn giữ; (3) Gia đình trở thành mô hình tổ chức quan trọng nhất, ảnh hưởng của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi những người ruột thịt mà còn được nhân rộng ra toàn xã hội.” [Trần Ngọc Thêm 2004b] Ở đây, chúng tôi xin nhấn mạnh đến tính tôn ti và chủ nghĩa tập thể (khi tổ chức gia đình được nhân rộng ra ngoài xã hội) – hai yếu tố khiến người Hàn ngại giao tiếp Trước hết, cần thấy rằng quan hệ trong gia đình người Hàn (cả truyền thống lẫn hiện đại) là quan hệ tôn ti trên dưới theo vai vế và tuổi tác Để đảm bảo tính ổn định của đời sống gia đình, mọi thành viên trong gia đình ứng xử với nhau theo nguyên tắc: người trên có thể tỏ ra quyền uy với người dưới (nhưng đồng thời phải bảo vệ người dưới), ngược lại, người dưới phải phục tùng tuyệt đối người trên Khi tính tôn ti gia đình mở rộng ra thành tính tôn ti xã hội thì trong quan hệ liên nhân ngoài xã hội, người Hàn vẫn phân biệt trên – dưới đến mức mà “uống nước lạnh phải có trên có dưới” (chanmuldo wi arae itda – 찬
물도 위 아래 있다) Tính tôn ti cao độ như thế vô tình đã tạo ra một khoảng cách vô
hình giữa cha với con, giữa chồng với vợ, giữa anh với em, giữa ông bà với con cháu trong gia đình, giữa cấp trên và cấp dưới trong xã hội và dẫn đến việc người dưới trở nên ngại tiếp xúc với người trên Mặt khác, chủ nghĩa gia đình phát triển thành chủ nghĩa tập thể khi mô hình gia đình được xem trọng và được nhân rộng ra ngoài xã hội Đặc điểm nổi bật nhất của chủ nghĩa tập thể của người Hàn là sự phân biệt thân – sơ
và trong – ngoài tập thể Người Hàn có khuynh hướng thích giao tiếp với những người thân quen (nhất là với những người đồng huyết thống, đồng hương và đồng môn) – những người trong tập thể của mình, nhưng lại ngại giao tiếp với những người của tập thể khác
Một số tư tưởng Nho giáo cũng là nguyên nhân dẫn đến thái độ ngại giao tiếp
của người Hàn Theo Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi tam cương, ngũ thường và ngũ luân Điểm chung của những tư tưởng đó là khuyên con
người ta phải biết sống trong tôn ti trật tự, phải biết có trên có dưới Người trên luôn có
quyền đối với người dưới (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung hay phụ xử tử vong,
tử bất vong bất hiếu) và người dưới phải biết giữ phép tắc, lễ nghi đối với người trên Nho giáo còn phân biệt nam – nữ rất nghiêm ngặt: nữ sinh ngoại tộc và vì thế người phụ nữ phải phụ thuộc vào nam giới (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng
Trang 31tử) Chính những điều này đã khiến cho người dưới luôn khép nép, rụt rè trước mặt
người lớn, dẫn đến việc người dưới ngại tiếp xúc với người trên (bao gồm cả việc người nữ ngại giao tiếp với người nam)
Người Việt Nam cũng có đặc tính ngại giao tiếp, hay rụt rè trước người lạ như
người Hàn Nguyên nhân của tính ngại giao tiếp của người Việt là tính ngự trị - một
trong hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam3 Trong cùng một cộng đồng thì người Việt Nam tỏ ra thích giao tiếp Nhưng khi tiếp xúc với người lạ, người ngoài phạm vi cộng đồng của mình thì người Việt Nam lại tỏ ra rụt rè [Trần Ngọc Thêm 1997: 137]
Qua phân tích hai tính cách ưa giao tiếp và ngại giao tiếp của người Hàn và người Việt, chúng tôi thấy rằng tuy có phần giống (vừa thích giao tiếp, vừa ngại giao tiếp) nhưng có một điểm khác nhỏ: dường như người Việt Nam cởi mở hơn và người
Hàn khép kín hơn…, nếu xét về phạm vi giao tiếp và đối tượng giao tiếp Do người Hàn trọng gia đình còn người Việt trọng làng xã nên trong khi người Hàn chỉ thích
giao tiếp trong gia đình hay với những người xem như gia đình (bạn bè, người cùng tập thể) – thì người Việt không chỉ thích giao tiếp với người trong gia đình hay xem như gia đình mà còn cả hàng xóm láng giềng nữa Do đó, người Việt có phạm vi giao tiếp rộng hơn và đối tượng giao tiếp nhiều hơn so với người Hàn
2.2 Thích vòng vo
Trong văn hóa giao tiếp, nếu như người phương Tây thích nói một cách thẳng thắn những suy nghĩ của mình và bày tỏ tương đối rõ ràng ý muốn của bản thân mình thì đối với người phương Đông nói chung lại thích biểu hiện gián tiếp theo kiểu “vòng
vo tam quốc” - không mở đầu vấn đề muốn nói một cách trực tiếp, không nói thẳng vào vấn đề mà lại bắt đầu bằng những vấn đề khác rồi mới đến vấn đề cần nói Cách thức giao tiếp của người Hàn cũng thuộc kiểu này Trong một cuộc trò chuyện, người Hàn thường không đi thẳng vào vấn đề mà nói vòng vo rồi sau đó mới đề cập đến ý chính
Thiết nghĩ, nguyên nhân chính yếu tác động dẫn đến sự hình thành lối giao tiếp vòng vo của người Hàn là Nho giáo Dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, ở
3
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, làng xã là đơn vị được xem trọng nhất trong xã hội [Trần Ngọc Thêm 1997, 2001] (khác với Korea, đơn vị quan trọng trong xã hội lại là gia đình)
Trang 32người Hàn đã hình thành nên ý thức nghiêm ngặt về lễ nghĩa và tôn ti trật tự trên dưới
rõ ràng Từ đó, khi giao tiếp, người Hàn thường rất thận trọng (có phần dè dặt) trong lời nói nhằm giữ lễ nghĩa Thái độ thận trọng trong lời nói là đặc điểm quan trọng của văn hóa Nho giáo Khổng Tử đã nhấn mạnh việc “ngôn hành nhất trí” - lời nói phải đi đôi với hành động, tức là đã nói được thì phải làm được chứ không được nói xuông
Họ quan niệm rằng những người dễ nói thường đi đâu cũng không được tin cậy Bởi vì trong suy nghĩ của người Hàn thì “nước càng sâu thì càng không có tiếng” (물이
깊을수록 소리가 없다 – muli gipeulsurok soriga eopda) Và sự thận trọng trong lời
nói được xem trọng nhiều hơn trong cách truyền đạt suy nghĩ ngoài lời nói Dĩ nhiên là không phải tất cả những lời nói đều bị cấm đoán, chỉ tùy theo trường hợp mà thôi Trong số những câu tục ngữ đề cập đến lời nói, có nhiều câu khẳng định mặt tích cực của lời nói như là “một lời nói đáng giá ngàn vàng” (말 한마디로 천냥 빚을 갚는다
– mal hanmadiro cheonnyang bijeul gamneunda) Bên cạnh đó lại có rất nhiều câu tục ngữ đề cập đến tính tiêu cực và thái độ thận trọng khi sử dụng lời nói, chẳng hạn như
câu “nếu nói nhiều thì lời hữu dụng cũng ít” (말이 많으면 쓸 말이 적다 – mari
maneumyeon sseul mari jeokda) hay “nhà nào nói nhiều thì cuộc sống sinh hoạt cũng
không được tốt” (말 많은 집은 장맛도 쓰다 – mal maneun jipeun jangmatto sseuda)
Người Việt Nam cũng thích giao tiếp theo kiểu “vòng vo tam quốc” Để bắt đầu một cuộc giao tiếp, người Việt thường mở đầu bằng những câu hỏi cửa miệng như
“Dạo này anh/chị khỏe không? Công việc như thế nào? ” Khi muốn từ chối hay không nhất trí một điều gì đó với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có xu hướng tránh nói trực tiếp ý nghĩ của mình, vì không muốn tạo xung đột, làm mất thể diện và
phật lòng người khác: "Nói ngay hay trái tai"; "Nói thật trật lỗ tai"; "Người khôn ăn nói nửa chừng - Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo" Cũng vì thế mà thái độ lững lờ có thể gây hoang mang cho đối tượng giao tiếp: "Có yêu thì nói rằng yêu - Chẳng yêu thì nói một điều cho xong - Làm chi dở đục dở trong - Lờ đờ nước hến, cho lòng tương tư"
Trang 33Nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến lối giao tiếp vòng vo của người Việt là
“lối sống trọng tình và lối tư duy coi trọng các mối quan hệ” [Trần Ngọc Thêm 1997: 139] Vì trọng các mối quan hệ nên trong lúc giao tiếp, người Việt tìm cách nói chuyện nhỏ nhẹ, có ý tứ, tế nhị để không làm mất lòng đối phương
2.3 Điềm tĩnh – Sôi nổi
Khi tiếp xúc với người Hàn ta có thể thấy rằng có lúc thì họ rất sôi nổi, dễ nóng giận, hay mất bình tĩnh đến độ cực đoan, nhưng cũng có lúc họ lại tỏ ra nghiêm trang, điềm tĩnh, cư xử nhã nhặn một cách thái quá Đó là một biểu hiện của văn hóa giao tiếp của người Hàn Người Hàn đúng là có lúc quá điềm tĩnh, lại có lúc quá sôi nổi nhưng tùy từng trường hợp, đối tượng, không gian, thời gian… giao tiếp mà họ có cách cư xử phù hợp
2.3.1 Điềm tĩnh
Sở dĩ người Hàn giữ thái độ điềm tĩnh, trang nghiêm một cách thái quá là do ảnh hưởng chất âm tính của văn hóa lúa nước Như đã biết, loại hình kinh tế truyền thống ở Korea là nông nghiệp lúa nước Cuộc sống nông nghiệp yêu cầu sống cố định
ở một chỗ nên người Hàn trọng tĩnh Cuộc sống tĩnh lặng đã khiến cho người Hàn giữ được thái độ điềm tĩnh, không biểu lộ vui buồn thái quá, không phóng túng buông tuồng, không quá chủ động, không quá nhiệt tình… Mặt khác, Nho giáo và Phật giáo – hai tôn giáo ngoại lai du nhập vào bán đảo Korea từ rất sớm (khoảng thế kỷ thứ 3 – 4 sau CN) – cũng đã tác động đến lối giao tiếp chừng mực của người Hàn Với những tư tưởng, học thuyết như “tam cương”, “ngũ thường”, “ngũ luân”, “nam nữ hữu biệt”…, Nho giáo đã khiến cho người Hàn phải biết giữ phép tắc, lễ nghi trong lúc giao tiếp Phật giáo, với lời khuyên con người nên biết tịnh tâm, cũng đã một phần tác động đến lối giao tiếp của người Hàn
Đối với người Việt Nam, lối giao tiếp chừng mực cũng là một đặc điểm cơ bản của văn hóa giao tiếp của người Việt Người Việt Nam cũng như người Hàn vốn có lối sống nông nghiệp trọng tĩnh (người Việt Nam trọng tĩnh hơn người Hàn, vì nghề nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam phát triển hơn ở Korea) nên lối giao tiếp của họ bị ảnh hưởng Không chỉ thế, tư tưởng Nho giáo (giữ gìn lễ nghi phép tắc) cũng như Phật giáo (tịnh tâm) cũng có sự tác động đến văn hóa giao tiếp Dưới những sự ảnh hưởng
đó, người Việt Nam trở nên điềm tĩnh trong nhiều tình huống giao tiếp Người Việt
Trang 34Nam thường hay trầm tư suy nghĩ, thích ngồi ở những nơi yên tĩnh Họ, nói chung, cũng không thích quần áo quá sặc sỡ Người Việt Nam đã quen với một lối sống giản
dị
2.3.2 Sôi nổi
Như đã biết, văn hóa Korea thuộc loại hình văn hóa trung gian, vừa có tính chất của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp nhưng cũng có tính chất thuộc loại hình gốc du mục Thêm nữa, nguồn gốc của dân tộc Hàn lại là những người du mục nói ngữ hệ Altaic Chất du mục Siberia với bản chất hay di động đã khiến cho người Hàn trở nên
họ ca hát nhảy múa (thế hệ trẻ ngày nay khi đi uống rượu thường chọn các quán karaoke vì trong đó vừa có rượu vừa có karaoke) hết mình Họ uống rượu đến mức không còn biết gì Họ tỏ ra sôi nổi trong những hoạt động như thế này
Nếu như người Hàn sôi nổi như thế thì liệu người Việt có sôi nổi như vậy? Thiết nghĩ, nhìn chung thì người Việt Nam không quá sôi nổi như thế Đây là một điểm khác biệt tương đối rõ rệt trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam và người Hàn Người Việt không dễ nóng giận hay không dễ mất bình tĩnh Khi uống rượu thì
họ cũng không kéo nhau đi hết quán này đến quán khác như vậy (nhiều lắm là hai tăng) Sở dĩ người Việt Nam không quá sôi nổi trong giao tiếp là do nguồn gốc nông nghiệp của người Việt Chất âm tính quá nhiều trong lối sống nông nghiệp lúa nước đã kìm hãm không cho người Việt sôi nổi thái quá
2.4 Phép tắc – Thân mật
Lại thêm một đặc điểm mang tính nước đôi trong đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Hàn, đó là người Hàn có lúc tỏ ra quá phép tắc, có lúc lại thân mật Hai tính cách này có mâu thuẫn nhau không? Chắc chắn là không Đó là hai tính cách khác
Trang 35nhau, chúng bộc lộ ra trong những điều kiện, môi trường và đối tượng giao tiếp khác nhau
2.4.1 Tính phép tắc
Korea được mệnh danh là đất nước của những lễ nghi Nho giáo Những lễ nghi Nho giáo đã thâm nhập sâu vào cuộc sống thường ngày của người Hàn Nho giáo không chỉ quy định lễ nghi phép tắc trong cách ứng xử lời nói (trong tiếng Hàn có hệ thống kính ngữ phân thành đến 6 mức độ) mà còn trong hành động, cử chỉ, điệu bộ cơ thể, phục trang… của con người Lúc đầu, những lễ nghi ấy chỉ áp dụng cho giới quý tộc, giai cấp bên trên (vì Nho giáo lúc đầu chỉ mới ảnh hưởng đến giai cấp, tầng lớp bên trên chứ chưa ảnh hưởng đến bình dân), nhưng dần sau đó, chúng đã lan rộng khắp
xã hội Chúng đã trở thành quy ước xã hội, được mọi người trong xã hội Korea thực hiện theo như những chuẩn mực cho sự giao tiếp trong xã hội Mọi người tuân theo những quy phạm chuẩn mực ấy một cách nghiêm ngặt Ngay cả thời hiện đại ngày nay, người Hàn vẫn còn giữ những lễ nghi phép tắc ấy Vì thế mà người nước ngoài khi đến Korea, họ tỏ vẻ ngạc nhiên trước cách cúi chào trang trọng (nghiêng người đến
45 độ) của người Hàn
Ngoài ra, do ảnh hưởng của tính tôn ti (xuất phát từ chủ nghĩa gia đình), giao tiếp của người Hàn trở nên rất nghiêm ngặt, nặng nề lễ nghi Theo trật tự tôn ti, có những quy định chặt chẽ những việc được làm và không được làm giữa người trên – người dưới Mọi người khi giao tiếp phải tuân theo những chuẩn mực đó
Người Việt Nam cũng có lúc giao tiếp một cách phép tắc, nhưng không quá
hình thức như người Hàn Người Việt Nam cũng xem trọng tôn ti trật tự (nhưng không đến mức cao như ở Korea) bởi cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Nhưng sức ảnh hưởng của Nho giáo đến người Việt không bằng sức ảnh hưởng của Nho giáo đến người Hàn, đồng thời ở Việt Nam không có cái gọi là chủ nghĩa gia đình (chỉ có dạng gia đình chủ nghĩa [Trần Ngọc Thêm 2004b]) nên người Việt không quá phép tắc
lễ nghi như người Hàn
2.4.2 Tính thân mật
Do trọng tình, trọng quan hệ nên người Hàn cũng chú ý đến cách giao tiếp thân mật Trong xã hội Korea truyền thống, người Hàn rất nghiêm trang trong lúc giao tiếp với những người trên mình (về địa vị, tuổi tác…) hoặc với người lạ (ngoài gia đình, ngoài tập thể) và tỏ ra không quá phép tắc (vẫn chưa đến mức thân mật) với những
Trang 36người trong gia đình, bạn bè, đồng hương, đồng môn Người Hàn trong cuộc sống hiện đại có khuynh hướng “phi phép tắc hóa” trong lúc giao tiếp với bất kỳ đối tượng nào Điều đó có nghĩa là người Hàn ngày nay cố gắng bỏ đi những lễ nghi giao tiếp hình thức, khách sáo, rườm rà (tất nhiên vẫn còn một số biểu hiện, nhưng đã ít hơn xưa), chỉ cố làm sao cho việc giao tiếp giữa hai bên diễn ra một cách thân mật Nếu như cứ giữ mãi những lễ nghi phép tắc như cũ thì mối quan hệ liên nhân của mỗi người sẽ ngày càng ít đi, bởi lẽ trong cuộc sống hiện đại ít ai chịu gò bó trong khuôn
phép đến mức cứng nhắc như người xưa
Lối giao tiếp thân mật thể hiện rõ nhất là trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong một khối “uri” (우리 – chúng ta) Khối “uri” là một tập thể: tập thể gia
đình, tập thể dòng tộc, tập thể đồng hương, tập thể đồng môn, tập thể công ty, tổ chức… Điểm nổi bật của chủ nghĩa tập thể ở Korea là tính khép kín: các thành viên chỉ gắn bó mật thiết trong quan hệ giao tiếp với những thành viên cùng tập thể và khép kín trong quan hệ với những người nằm ngoài tập thể [Phan Thiện Đào Nguyên 1999: 83] Đối với những người trong một tập thể, họ giao tiếp với nhau một cách thân mật: không cần phân biệt không gian (không gian cá nhân, vị trí ngồi…), thời gian (ai trước
ai sau), có thể cười nói vui vẻ, đi đứng thoải mái, nhìn thẳng vào mắt của nhau, có thể
ôm nhau tay bắt mặt mừng… Mọi người đối xử với nhau như là anh em trong gia đình
Người Việt Nam cũng trọng quan hệ, trọng tình nên cũng thích thân mật trong giao tiếp Nhưng xét kỹ thì phạm vi đối tượng để thân mật trong giao tiếp của người Việt rộng hơn của người Hàn Người Việt Nam có khuynh hướng “thân mật hóa” trong giao tiếp với cả những người ngoài khối “chúng tôi”, trong khi đó người Hàn chủ yếu thân mật khi giao tiếp với những người trong khối “chúng ta”
Người Việt Nam không chỉ thân mật với những người trong gia đình, dòng họ, bạn bè mà còn cả với những người xa lạ Khi gặp người lạ, người Việt vẫn tỏ ra thân thiện, cư xử hòa nhã, cười nói vui vẻ, có thể tay bắt mặt mừng một cách thân mật với người lạ Điểm nổi bật trong cách thức thể hiện sự thân mật trong giao tiếp của người Việt là nụ cười Đối với người Việt Nam, nụ cười là một cách thức giúp thiết lập, củng
cố và phát triển các mối quan hệ giao tiếp Người Việt hay cười, họ cười không chỉ với người quen mà còn cả những người xa lạ
Trang 37CHƯƠNG III: VĂN HOÁ GIAO TIẾP TRONG DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC
3.1 Các phương tiện giao tiếp
3.1.1 Ngôn từ
a Qua lời nói (lời nói trực tiếp, qua điện thoại)
Nền văn hóa Hàn Quốc do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng Nho giáo mang tính truyền thống của văn hóa Trung Hoa nên họ rất chú trọng đến lời ăn tiếng nói trong giao tiếp hằng ngày Chính vì thế, người Hàn Quốc luôn xem xét kĩ đối tượng giao tiếp là người như thế nào, chức vị tuổi tác ra sao để lựa chọn lời nói và cách xưng hô cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Ngày nay trong xã hội hiện đại, điện thoại là một trong những công cụ làm việc không thể thiếu, nó giúp con người có thể giao tiếp tìm hiểu thông tin, đối thoại với nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn dù đang cách nhau ở một khoảng cách địa
lí rất xa Dù không trực tiếp gặp mặt nhau, nhưng không vì thế mà người Hàn Quốc bỏ
đi các nguyên tắc giao tiếp mang tính chính thống và nguyên tắc của mình trong việc giao tiếp qua điện thoại, hơn thế nữa, đó còn là sự kết hợp hài hòa giữa cách giao tiếp rất nguyên tắc khuôn khổ của Á Đông với cách giao tiếp lịch sự, coi trọng chữ “tín” của phương Tây Đây chính là điểm giao thoa tuyệt vời của Hàn Quốc, chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa trong giao tiếp Để chứng minh rõ hơn điều này, sau đây là một số lưu ý mà người Hàn Quốc rất cẩn trọng trong việc sử dụng điện thoại làm phương tiện giao tiếp
- Đừng hứa sẽ gọi điện cho ai rồi quên khuấy mất
- Đừng gọi nhầm tên người bên kia đầu dây Nếu không biết, hãy hỏi thẳng thắn
- Đừng nghĩ rằng người bên kia không biết bạn đang vừa nói điện thoại vừa ăn uống, hút thuốc, ngáp, …
- Cố gắng kết thúc cuộc này rồi hãy bắt cuộc khác Bạn có thể nhầm lẫn nội dung hai cuộc điện thoại Hơn nữa, người gọi sẽ cảm thấy không được tôn trọng
- Đừng bất nhã yêu cầu người bên kia phải gọi điện vào lúc khác
- Đừng chuyển cuộc gọi qua nhiều người
- Không nên giữ thái độ thiếu nhiệt tình khi nói chuyện, kể cả khi đó không phải là khách của mình Nếu họ muốn gặp người khác, hãy nhiệt tình chuyển hoặc hỏi họ lời nhắn
Trang 38- Đừng phát ngôn nếu không chắc chắn vào những gì mình nói
- Bất ngờ gác máy mà không có sự giải thích, thật ngu ngốc!
b Qua chữ viết (qua mail, chat,…)
Ngày nay xã hội công nghệ thông tin ngày càng phát triển, nó giúp con người
có thể truyền đạt mọi thứ rất nhanh chóng chỉ qua vài động tác trên chiếc máy vi tính
Và có thể nói, với Hàn Quốc, một đất nước mà ngành công nghệ thông tin thuộc loại hàng đầu trên thế giới thì việc giao tiếp bằng việc sử dụng công nghệ là rất phổ biến ở Hàn Quốc Đặc biệt với họ, email là thứ không thể thiếu trong đời sống hằng ngày Email không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt thông tin mà email còn là một trong những loại hình văn hóa giao tiếp rất được chuộng trong các doanh nghiệp của Hàn Quốc Sẽ rất khó giao tiếp với những người hơi nhạy cảm hoặc những người khó có thể tập trung lắng nghe từ đầu đến cuối vì vậy, viết thư để lại tin nhắn cho họ trước khi muốn trực tiếp trao đổi
Ngoài ra, những người gặp khó khăn khi phải diễn đạt bằng lời nói cũng có thể
sử dụng cách này để giao tiếp hiệu quả hơn Giao tiếp doanh nghiệp hiện nay không phải bằng lời, cũng chẳng phải bằng thông báo trên bảng tin hoặc alô khắp các phòng ban mà là bằng những phương tiện hiện đại nhất
Vậy làm thế nào để tiết kiệm chi phí mà công việc lại hiệu quả nhất bằng những phương tiện giao tiếp tiện ích và hiện đại nhất đây? Hai phương pháp thông dụng nhất hiện nay là Chat và Email do nó nhanh và tiện hơn điện thoại, quan trọng nhất là nó còn có tiết kiệm được một khoảng chi phí không nhỏ Nhưng cần lưu ý là khi tạo nick không nên tạo những nick quá trẻ con mà nên tìm một cái tên thật đơn giản nhưng chuyên nghiệp nhằm thể hiện sự nghiêm túc của bạn trong công việc Đối với người Hàn Quốc, khi tạo email hoặc nick chat họ thường viết tắt tên họ hoặc viết rõ cả họ tên, và phía sau là lĩnh vực mà họ đang làm việc Ví dụ như:
leekwangsu.marketing@hanmail.net,
Người Hàn không bao giờ để người chat hoặc người nhận mail phải suy diễn hay “phiên dịch” những lời nhắn của mình Họ thường diễn đạt bằng những câu từ dễ hiểu, thân thiện nhưng cũng không kém phần lịch sự, nhã nhặn Đặc biệt họ không bao giờ sử dụng tiếng lóng hoặc tiếng địa phương khi chat hay mail công việc, vì họ cho rằng đó là một hành động thô lỗ, bất lịch sự Và giống với người Việt Nam, họ cũng
Trang 39chỉ dùng từ và thuật ngữ chuyên môn khi chat với đồng nghiệp cùng ngành nghề mà thôi
tư, tình cảm, thái độ, trạng thái tâm lý… của con người Ánh mắt có thể phản ánh trạng
thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người Với vai trò quan trọng của ánh mắt như thế nên cả người Hàn lẫn người Việt Nam đều có câu:
“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”
Giống như người Việt Nam hay người Trung Quốc, trong giao tiếp, người Hàn thường tránh tiếp xúc ánh mắt quá lâu, hay tránh mở mắt quá to, liếc ngang liếc dọc
Người Hàn quan niệm rằng: “Nếu tầm mắt nhìn cao hơn mặt của người đối diện thì bị coi là ngạo mạn, nếu nhìn lén lút thì có vẻ có việc gì lo lắng, còn nếu nghiêng đầu sang một bên và liếc người khác thì bị cho là hiểm độc, gian xảo” (siseoni namui
eolgule ollaga isseumyeon geomanhan geosigo, ttiro naeryeoga isseumyeon geunsimi inneun geosigo, meorireul giuryeo gyeonnunjilhameyon gansahan geosida - 시선이
남의 얼굴에 올라가 있으면 거만한 것이고, 띠로 내려가 있으면 근심이 있는
것이며, 머리를 기울여 곁눈질하면 간사한 것이다)
Người Hàn rất xem trọng quan hệ nên ánh mắt cũng thể hiện quan hệ giữa người với người Trong giao tiếp của người Hàn, nó phụ thuộc vào vị trí xã hội của mỗi người Nói chung, nhìn thì phải nhìn thẳng, không liếc qua liếc lại Cụ thể, nếu người lớn tuổi hơn hay có địa vị cao hơn thì có thể nhìn thẳng vào mắt người nhỏ tuổi hơn hay có địa vị xã hội thấp hơn Ngược lại, những người có địa vị thấp và nhỏ tuổi hơn thì không được phép nhìn thẳng vào mắt đối phương – những người lớn tuổi hơn
và có địa vị xã hội cao hơn Đối với người Hàn, hành động “nhìn thẳng trực tiếp vào mắt” (nuneul ttokbbaro chyeodaboda - 눈을 똑바로 쳐다보다) là thể hiện sự chống
Trang 40đối quyết liệt Do đó, người dưới phải nhìn xuống chứ không được nhìn lên để tránh thái độ thiếu tôn trọng đối với người trên Còn trong trường hợp hai bên tham thoại là ngang hàng nhau cả về tuổi tác lẫn địa vị thì nguyên tắc trên đây có thể bỏ qua, tuy nhiên giữa hai bên cũng tránh nhìn thẳng vào mắt nhau quá lâu
Ngày nay, trong xã hội hiện đại, những quy tắc này có vẻ đã giảm bớt tính nghiêm khắc Người trẻ hay có địa vị thấp đã có thể nhìn trực tiếp vào khuôn mặt của người già hay người có địa vị cao hơn mình Tuy nhiên, họ vẫn chưa thể nhìn trực tiếp một cách lâu dài vào mắt người lớn hơn về tuổi tác hoặc lớn hơn về địa vị
Nét mặt
Nét mặt đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp Gương mặt con người là
một sáng tạo vĩ đại của Đấng Tạo Hóa Nét mặt giúp cho các đối tác giao tiếp “nói” lên được nhiều điều Ở con người, hầu hết mọi biểu hiện của cảm xúc như vui, buồn, giận hờn, căm tức, sợ hãi, ghê tởm… đều có thể được thể hiện qua nét mặt Từ cái nhăn mặt, cái nhíu mày, cái bĩu môi… đều có ý nghĩa riêng của nó Ngoài ra, ta có thể
“trông mặt mà bắt hình dong”, nghĩa là thông qua nét mặt mà ta đoán biết được cá
tính của một người nào đó Khi giao tiếp, người ta có thể nhìn gương mặt để phỏng đoán người đối diện là người mạnh mẽ hay yếu đuối, sâu sắc hay nông cạn, thông
minh hay đần, siêng năng hay lười biếng… Đối với người Hàn, việc “quan dung sát sắc” (gwandong chalsaek – 관용찰색 - 觀容察色) là thường xuyên mỗi khi bắt đầu
giao tiếp “Quan dung sát sắc”, theo quan niệm của người xưa, có nghĩa là khi gặp một người nào đó, chỉ cần nhìn vào khuôn mặt của người đó thì có thể đoán biết được tính cách hay số phận của họ (đây cũng là hình thức xem bói của người Hàn, trong tiếng
Hàn gọi là quan tướng - gwansang - 관상 - 觀相) Chính vì những “công dụng” trên
của nét mặt mà đối với con người, nét mặt vừa là một phương tiện biểu hiện bản thân mình vừa là cơ sở để người khác đánh giá về mình Riêng đối với người Việt Nam xưa
và người Hàn xưa thì nét mặt rất được xem trọng Đặc biệt trong việc lập gia đình, khi
đi “xem mắt” vợ hoặc chồng, người ta chủ yếu tìm hiểu tính tình của đối tượng thông qua khuôn mặt Còn ngày nay, ấn tượng đầu tiên được tạo nên bởi nét mặt cũng rất quan trọng trong giao tiếp, trong phỏng vấn xin việc…