1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình nghiên cứu, giới thiệu văn học hiện đại trung quốc ở miền bắc việt nam giai đoạn 1954 1975

179 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (9)
  • 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 3. Nội dung và mục đích nghiên cứu (11)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu đề tài (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (15)
  • 7. Bố cục luận văn (0)
    • 1.1 Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa Trung Quốc (0)
    • 1.2 Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa Phương Tây (0)
    • 1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố chính trị xã hội khác (23)
  • 2. Đặc điểm nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc (0)
    • 2.1 Văn học Trung Quốc ở Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỉ XIX (26)
    • 2.2 Văn học Trung Quốc ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1930 (0)
    • 2.3 Văn học Trung Quốc ở Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954 (39)
  • CHƯƠNG 2 VĂN HỌC HIỆN ĐẠI TRUNG QUỐC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và những tác động đến văn học (18)
    • 1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và những tác động đến văn học miền (0)
    • 1.2 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và những tác động đến văn học miền Bắc Việt Nam (0)
    • 2. Một số tác phẩm Văn học Hiện đại Trung Quốc tiêu biểu (56)
      • 2.1 Tác phẩm mang tính lí luận chính trị (56)
      • 2.2 Tác phẩm thuộc các đề tài, thể loại khác (59)
    • 3. Một số học giả, nhà nghiên cứu tiêu biểu (68)
      • 3.1 Đặng Thai Mai (68)
        • 3.1.1 Khái quát chung (68)
        • 3.1.2 Công việc nghiên cứu, giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc (70)
      • 3.2 Trương Chính (81)
        • 3.2.1 Khái quát chung (81)
        • 3.2.2 Công việc nghiên cứu, giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc (83)
      • 3.3 Lê Xuân Vũ (96)
        • 3.3.1 Khái quát chung (96)
        • 3.3.2 Công việc nghiên cứu, giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc (96)
  • CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT MỘT SỐ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT CÁC TÁC PHẨM CỦA LỖ TẤN 1. Giá trị các tác phẩm của Lỗ Tấn (49)
    • 1.1 Giá trị của truyện ngắn (108)
    • 1.2 Giá trị của tạp văn (111)
    • 2. Các nhà văn Việt Nam nghiên cứu, giới thiệu các tác phẩm của Lỗ Tấn (113)
      • 2.1 Các nhà văn Việt Nam và Lỗ Tấn (113)
      • 2.2 Quan điểm và phong cách dịch (118)
        • 2.2.1 Quan điểm dịch chung (118)
        • 2.2.2 Phong cách dịch (119)
    • 3. Những khác biệt trong các bản dịch (123)
      • 3.1 Về từ ngữ (124)
      • 3.2 Về ngữ pháp (130)
      • 3.3 Về dịch sót ý câu (0)

Nội dung

Trải qua nhiều giai đoạn, người Việt đến với văn học Trung Quốc ở nhiều thể loại khác nhau như thần thoại, điển tích, thơ ca, tiểu thuyết, văn xuôi… đã tạo ra nhiều gam màu khác nhau cho

Nội dung và mục đích nghiên cứu

Do đối tượng khảo sát trải dài hơn 20 năm của giai đoạn lịch sử nhiều biến động, nên việc tìm tòi và thu thập lại những tác phẩm dịch là điều không dễ dàng Chúng tôi hiểu vấn đề này và cố gắng hết sức trong khả năng mình có thể Nội dung của luận văn tập trung làm rõ động thái tiếp thu, tìm hiểu sâu hơn các tác phẩm được dịch phục vụ cho sự phát triển của dòng văn học cách mạng Việt Nam ở miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta 1 , “thời kỳ được xem là độc tôn của lí luận văn học và mỹ học hiện thực xã hội chủ nghĩa” [120] Phân tích những đặc điểm của mối quan hệ văn học Việt Nam – Trung Quốc, khảo sát và mô tả những dịch giả, nhà nghiên cứu cùng những tác phẩm tiêu biểu của họ, và qua quá trình khảo

1 Trong bài viết, chúng tôi xin gọi chung là Đảng ta cho tên gọi của Đảng Cộng Sản Việt Nam qua các thời kỳ. sát, phân tích dữ liệu nhằm làm rõ vai trò của văn học dịch Trung Quốc đối với tiến trình phát triển nền văn học cách mạng Việt Nam Mặt khác, thông qua kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sẽ phần nào chỉ ra được một số đặc điểm cơ bản của quy luật tiếp nhận văn học dịch nước ngoài ở Việt Nam

Mục đích của luận văn là bên cạnh việc kế tục những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước, bổ sung và tìm ra những nét mới của dòng văn học dịch Trung Quốc giai đoạn 1954 – 1975 để phần nào góp phần làm sáng tỏ hơn tiến trình phát triển của văn học cách mạng Việt Nam.

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Cho đến nay các công trình nghiên cứu về đề tài văn học Trung Quốc đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện từ rất lâu trong lịch sử văn học nước nhà Tuy vậy đề tài Nghiên cứu và giới thiệu cứu Văn học Hiện đại Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 chưa là đề tài được nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, trực tiếp cụ thể

Với đối tượng khảo sát rất đa dạng, phong phú, cùng số lượng tác phẩm đồ sộ, xáo trộn, khó thu thập, vì vậy phần lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi không đi vào dàn trải mà tập trung vào phần cốt lõi: Mạch đón nhận văn học Trung Quốc diễn ra trong lịch sử văn học Việt Nam như thế nào, những kết quả đạt được Để thuận tiện, chúng tôi tạm chia lịch sử nghiên cứu về đề tài làm hai giai đoạn: trước và sau năm 1975

Trước 1975, cụ thể trước Cách mạng tháng Tám tiêu biểu Dương Quảng Hàm với Việt Nam văn học sử yếu (1942) nghiên cứu khá phong phú về vị trí văn học Trung Hoa trong lịch sử văn học Việt Nam [115] 1 Trong giai đoạn kháng

1 Theo Vương Trí Nhàn: Văn học VIỆT NAM thế kỷ XX: http://vuongtrihai.wordpress.com/van- h%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87t-nam-th%E1% BA%BF-k%E1%BB%B7-xx/: Việt Nam văn học sử yếu (1942) của Dương Quảng Hàm là sách giáo khoa dùng cho học sinh ba năm liền ở bậc trung học Ở năm thứ nhất, sau thiên (phần) viết về văn chương bình dân là thiên viết về Ảnh hưởng của nước Tàu, giảng kỹ về các sách cổ điển như Tứ thư, Ngũ kinh v.v… Đến năm thứ hai thì thiên thứ nhất cũng lại mang tiêu đề Ảnh hưởng của văn chương Tàu, và đi vào phân tích sơ bộ tác phẩm của hàng loạt các danh sĩ được biết tới nhiều ở Việt Nam như Khuất Nguyên, Đào Tiềm,

Lý Bạch, Hàn Dũ, Tô Đông Pha Qua năm thứ ba, lại có một chương nói về Ảnh hưởng của nền văn mới nước Tàu và nền Pháp học đối với tư tưởng và ngôn ngữ người Nam chiến chống Pháp, tiêu biểu có hai học giả Vũ Ngọc Phan với bài Sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại, tiếp tục ghi nhận sự hiện diện của tiểu thuyết Trung Quốc ở nước ta qua con đường dịch thuật trong buổi đầu của nền văn học mới Nghiêm Toản với bài Việt Nam văn học sử trích yếu cũng đánh giá cao vai trò của việc dịch thuật, biên khảo tư tưởng học thuật và văn học Trung Quốc “để tài bồi cho nền quốc văn mới ngày một phong phú hơn” [26: 10 -11] Sau năm 1954, Đặng Thai Mai tiếp tục là người đi đầu đưa Văn học Hiện đại Trung Quốc vào nước ta Đáng chú ý với những bài viết trong các tập Trên đường học tập và nghiên cứu, tác giả đã nhìn nhận vấn đề một cách lô gích, khoa học trên lập trường tư tưởng Mac- xít để nhận chân về mối quan hệ lâu đời và mật thiết giữa hai nền văn học (chúng tôi xin đề cập cụ thể ở CHƯƠNG 2) Các học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn như Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Phan Khôi, Trương Chính, Lê Xuân Vũ… đều có bài viết về các tác gia, tác phẩm của Văn học Hiện đại Trung Quốc Riêng Trương Chính thì song song với việc dịch tác phẩm Văn học Hiện đại Trung Quốc, đặc biệt các tác phẩm của Lỗ Tấn, ông vẫn luôn dõi theo động tỉnh hoạt động văn học nước nhà để viết ra những bài nhận xét, góp ý về công tác biên dịch Trong TCVH 1 số

10 năm 1960 hay ở các số sau đó, ông đều viết lên chính kiến của mình về vấn đề này Khi viết Mấy ý kiến về việc dịch thuật văn học Trung Quốc hiện đại ở nước ta trong mười lăm năm, tác giả bước đầu đánh giá về tình hình hoạt động và thực hiện công tác thống kê:

Nhìn chung, trong mười lăm năm qua, đặc biệt từ khi hoà bình lập lại, điều kiện xuất bản được dễ dàng hơn, các nhà xuất bản Văn học, Văn hoá, Quân đội nhân dân, Lao động, Thanh niên, Phụ nữ, Kim đồng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã đặt vấn đề dịch các tác phẩm nước ngoài (ở đây chỉ nói riêng các tác phẩm Trung Quốc) thành một trong những trọng tâm công tác Mặt khác người làm công tác dịch thuật, cũng như nhà xuất bản, khi lựa chọn tác phẩm để giới thiệu, đã đi vào hướng đúng, nghĩa là đã chọn được

1 Giai đoạn 1960 – 6.1963 mang tên Tạp chí nghiên cứu văn học Từ 7.1963 – 2003 đổi thành Tạp chí văn học, từ 2004 lấy lại tên Tạp chí nghiên cứu văn học, trong bài viết chúng tôi xin thống nhất viết là Tạp chí văn học và viết tắt là TCVH. những tác phẩm có nội dung lành mạnh, có tác dụng giáo dục tư tưởng tiến bộ, của các nhà văn nước bạn [12: 29] Đặc biệt tại mục Trao đổi ý kiến trong số đầu tiên của TCVH xuất bản năm

1960, đã liên tục đăng tải ý kiến “tranh luận” sôi nổi của nhiều người như Nguyễn Thái Bình, Hướng Minh, Huyền Kiêu, Sơn Hinh, Trương Chính, Mộ Thanh, Lê Xuân Vũ, Mai Thương… về vấn đề dịch tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt Những bài viết đã không còn tranh luận về “lập trường tư tưởng” mà trọng tâm làm rõ khái niệm và quan niệm nên dịch thế nào cho tốt Rải rác về sau trong các bài viết của TCVH, Quân đội… có đăng tải về vấn đề dịch văn học và nhận định về xu hướng đón nhận văn học nước ngoài mà Văn học Hiện đại Trung Quốc là một đề tài được bàn đến nhiều

Sau năm 1975 đặc biệt từ sau khi đất nước thực hiện đổi mới năm 1986, việc nghiên cứu văn học được tiến hành trong điều kiện thuận lợi hơn, công việc nghiên cứu Văn học Hiện đại Trung Quốc được bàn đến với thái độ khách quan và khoa học hơn trong sự so sánh ảnh hưởng với văn học Xô Viết, văn học Pháp… Các nhà văn, nhà nghiên cứu như Lương Duy Thứ, Bằng Giang, Lê Huy Tiêu, Phan Cự Đệ, Phương Lựu… trong các bài viết đều đề cập đến việc dịch, đánh giá, nhận định chung về dịch văn học Trung Quốc Riêng luận án, chúng tôi nhận thấy các công trình tiêu biểu ít nhiều liên quan đề tài mình thực hiện: Những đóng góp về lý luận và phương pháp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai (từ trước cách Mạng Tháng Tám đến 1975) của TS Vũ Quốc Long Nội dung của luận án tập trung đánh giá tác phẩm Lỗ Tấn – Thân thế, văn nghệ mà Đặng Thai Mai viết năm 1944 Quá trình nghiên cứu và giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 của TS Nguyễn Văn Hiệu Nội dung của luận án đề cập sâu vào ảnh hưởng của văn học dịch Trung Quốc trong tiến trình hiện đại học hoá văn học Việt Nam Nhân vật trong truyện ngắn Lỗ Tấn của TS Trần Lê Hoa Tranh Nội dung của luận án khai thác bút pháp Lỗ Tấn miêu tả các nhân vật trong các truyện ngắn.《中国现代文学在越南》của TS Nguyễn Hoà Bình Nội dung của luận án giới thiệu tổng quan về bức tranh Văn học Hiện đại

Trung Quốc ở Việt Nam; Vai trò của văn học dịch đối với quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX của TS Nguyễn Đình Vĩnh Luận án dành ra chương 2 để nói về ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến tiến trình hiện đại hoá văn học (chủ yếu bàn về hiện đại hoá tiểu thuyết)

Luận án của TS Nguyễn Văn Hiệu là gợi mở thú vị để chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở giai đoạn nối tiếp theo mạch lịch sử nước nhà là điều cần thiết và nhiều thú vị, để những người yêu thích dòng văn học này có được chiếc cầu nối liên kết, giúp làm sáng tỏ hơn quá trình nghiên cứu, giới thiệu văn học dịch Trung Quốc ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử nước nhà có nhiều biến động.

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở xác định đối tượng và mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, thống kê

Phương pháp lịch sử chủ yếu được thể hiện ở CHƯƠNG 1- là phương pháp để chúng tôi xác định lại những tiền đề lịch sử, điều kiện chính trị - xã hội cũng như hình thái kinh tế đưa đến việc ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học Trung Quốc vào Việt Nam (có đề cập sự hình thành và vị trí của văn học bằng chữ Nôm trong lịch sử) cho đến tận những thập kỷ đầu của thế kỷ XX

Các phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, thống kê chủ yếu được thể hiện ở CHƯƠNG 2 và CHƯƠNG 3 giúp chúng tôi nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống, thể hiện được mục đích và nội dung trình bày của luận văn, không rơi vào sa đà với chi tiết vụn vặt, nhỏ lẻ mà tập trung làm nổi bật được vấn đề nghiên cứu.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn tiếp bước vấn đề nghiên cứu của luận án TS Nguyễn Văn Hiệu

Quá trình nghiên c ứ u và gi ớ i thi ệ u v ă n h ọ c Trung Qu ố c ở Vi ệ t Nam t ừ cu ố i th ế k ỷ XIX đế n Cách M ạ ng Tháng Tám n ă m 1945 Những trình bày của luận văn mong muốn chứng minh xu hướng phát triển tất yếu của văn học nước nhà giai đoạn mình nghiên cứu Góp phần lí giải về sự gắn bó mật thiết ở nhiều mặt (đặc biệt về điều kiện chính trị và bối cảnh xã hội) của quá trình giao lưu đón nhận văn học Trung Quốc

Về mặt sử liệu thì luận văn có ý nghĩa như một tài liệu tham khảo giúp cho các học giả, nhà nghiên cứu khoa học có cơ sở đi sâu nghiên cứu những vấn đề có tính khoa học cao hơn, có ý nghĩa ứng dụng thực tế hơn, mong muốn góp phần nâng cao chất lượng bản dịch để người nghiên cứu hoặc độc giả quan tâm có điều kiện tiếp cận bản dịch chuẩn xác hơn Luận văn có thể cung cấp cho độc giả, người học những chuyên ngành có liên quan đến văn hoá - lịch sử Trung Quốc một công cụ tham khảo nhằm giúp cho họ có cái nhìn quy chuẩn hơn về dòng văn học này

7 Bố cục của luận văn

Bố cục của luận văn được phân chia như sau: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương chính:

CHƯƠNG 1: Tổng quan quá trình nghiên cứu, giới thiệu Văn học Hiện đại Trung Quốc trong lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến những năm

Chủ yếu nêu tổng quan về quá trình du nhập, ảnh hưởng và vị trí của văn học Trung Quốc, văn học viết bằng chữ Hán, chữ Nôm trong lịch sử hơn mười thế kỷ của dân tộc ta

CHƯƠNG 2: Văn học Hiện đại Trung Quốc và vai trò của nó ở miền Bắc

Nội dung chương giới thiệu các thể loại và một số tác phẩm văn học Trung Quốc được nghiên cứu và giới thiệu trong giai đoạn 1954 – 1975 Ngoài ra, nội dung chương cũng đề cập đến ba học giả, nhà nghiên cứu là Đặng Thai Mai, Trương Chính, Lê Xuân Vũ nghiên cứu, giới thiệu Văn học Hiện đại Trung Quốc tiêu biểu, có uy tín, có ảnh hưởng trên văn đàn Việt Nam, có những tác phẩm dịch xuất sắc, số lượng tác phẩm dịch nhiều

CHƯƠNG 3: Nhận xét một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm của Lỗ

Mục đích là chỉ ra những nét đẹp cùng sự sắc sảo trong lựa chọn ngôn từ dịch thuật, đồng thời cũng chỉ ra một số hạn chế trong một số bản dịch mà chúng tôi chọn giới thiệu.

TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU, GIỚI THIỆU

VĂN HỌC TRUNG QUỐC TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ THẾ KỶ X ĐẾN NHỮNG NĂM 1954

1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và những tác động đến văn học

1.1 Ảnh hưởng của yếu tố văn hoá Trung Quốc đến văn học Việt Nam

Lịch sử Việt Nam từ xưa đã có nhiều gắn kết và chịu ảnh hưởng của chính trị, tư tưởng, văn hóa… Trung Quốc Dù ở thời kỳ Bắc thuộc kéo dài 11 thế kỷ (179 TCN – 938) hay khi Ngô Quyền giành độc lập năm 938 về sau, thì Việt Nam trên nhiều phương diện luôn phải “đối đầu” với Trung Quốc để khẳng định sự tồn tại và vị thế của mình trong khu vực Trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc luôn bị áp bức và thường chịu áp lực bị đồng hóa “bị thủ tiêu nền văn hóa” Đến khi giành được độc lập, dù mối quan hệ chính trị không còn là “thống trị - bị trị”, nhưng về mặt văn hóa vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng của phương Bắc Người Việt xưa chưa có hệ thống chữ viết riêng, các văn bản diễn thuyết chính trị bằng văn bản của người Việt chỉ có khi tiếp xúc với văn hóa Hán và dùng chữ Hán ghi chép lại Trên bình diện đó, thượng tầng kiến trúc của đời sống xã hội phong kiến Việt Nam, trong đó văn hóa, văn học tiếp tục chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Quốc Những quan niệm, học thuyết chính trị, các áng văn, thơ của Trung Quốc đi vào văn hóa, văn học Việt Nam như sự tiếp nhận tự nhiên và cần thiết ở các quốc gia láng giềng nhỏ hơn, kém phát triển hơn về nhiều mặt, vì vậy việc sử dụng Hán văn ở thời trung đại như lẽ tất yếu trong các vấn đề xã hội Ở vị trí địa lí ngã ba giao lộ, ngoài cơ hội tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa, Việt Nam đã tiếp nhận thêm nền văn hoá lớn khác là văn hóa Ấn Độ, tạo nên nét đa dạng cho nền văn hóa bản địa của mình Văn hóa Ấn Độ đi vào Việt Nam bằng con đường “giao lưu hòa bình”, nó phù hợp và chủ yếu tác động vào tâm linh con người Việt Nam thông qua Phật giáo, một phần Ấn giáo Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nền văn hoá Ấn Độ đã không được các triều đại chọn lựa để

“chuyển hóa” thành hệ tư tưởng cai trị chính thống

Thế kỷ X dân tộc ta có hệ thống chữ Nôm 1 - là bước tự khẳng định tính độc lập về văn hóa và chính trị với Trung Quốc, nhưng những ràng buộc, những quy tắc của chữ Nôm vẫn phần nào khiến chính trị, xã hội, văn hóa của Việt Nam không vượt ra khỏi ảnh hưởng văn hóa Hán Hiện trạng này cũng xảy ra tương tự ở Triều Tiên, Nhật Bản

Chữ Hán xuất hiện ở Triều Tiên từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ II Trước Công Nguyên, có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi khía cạnh đời sống người dân Mặc dù thế kỷ VI người Triều Tiên tạo ra chữ Idu, thế kỷ XV tạo ra chữ Onmun nhưng chữ Hán vẫn chiếm địa vị chính thống mãi đến tận năm 1894 khi chế độ thi cử bằng chữ Hán bị bãi bỏ Nhật Bản mặc dù không liền biên giới với Trung Quốc nhưng thông qua cửa ngõ Triều Tiên thì chữ Hán du nhập vào đây từ thế kỷ III, phát triển mạnh từ thế kỷ VII – IX được xem như loại chữ “nhã” và chính thức dùng chung với chữ Kana của Nhật – văn tự xuất hiện đầu thế kỷ VIII được xem như loại chữ “tục” - từ thế kỷ XIV [61: 163] Như thế văn hóa Hán và theo đó là chữ Hán khi lan tỏa ra nhiều quốc gia, đã tạo nên tâm điểm văn hóa đối với các nước xung quanh, hình thành nên tính văn hóa vùng rõ rệt

Nói theo cách của Diệu Tần khi đề cập vai trò của chữ Nôm trong lịch sử dân tộc:

“Vai trò chữ Nôm không phải là xuất hiện để tranh giành vai trò của chữ Hán mà là để cùng với chữ Hán phục vụ đời sống tinh thần, công việc hành chính và đào tạo nhân tài cho người Việt… Đó không phải là do uy thế của chính chữ Hán mà là do ưu thế của văn hóa Trung Quốc có sức lan rộng trong vùng Đông Á…” [119]

1 Vẫn có ý kiến khác nhau về thời gian xuất hiện của chữ Nôm: thế kỷ X, XI

Văn học trung đại Việt Nam thể hiện ở hai ngôn ngữ chính thức là chữ Hán và chữ Nôm Chữ Hán cùng văn học bằng chữ Hán trải dài trong lịch sử Việt Nam mặc nhiên tồn tại như là yếu tố nội tại, truyền thống của nước nhà, được xem như dòng văn học cao nhã, chính thống bên cạnh dòng văn học bình dân thể hiện bằng chữ Nôm Trong giai đoạn này không xuất hiện hay tồn tại khái niệm gọi là tiếp nhận hay dịch thuật văn học nước ngoài

Với ảnh hưởng suốt chiều dài lịch sử về chính trị - xã hội, điển hình là sự tồn tại dai dẵng của chế độ phong kiến đã khiến văn hóa, văn học dân tộc đi theo khuôn khổ định sẵn do ảnh hưởng của Trung Quốc và theo “định hướng” của các triều đại phong kiến Việt Nam lấy mô hình chính trị xã hội Trung Quốc làm “mẫu mực” Theo đó quy tắc và nội dung thi cử đều đặt trên nền tảng văn hoá Trung Quốc, lời của Khổng Mạnh trở thành “tín điều” của tất cả những ai theo nghiệp bút nghiên Chế độ khoa cử Việt Nam suốt thời gian dài gắn kết với sự hiểu biết của nền kiến thức phong kiến Trung Quốc Văn học dân tộc theo đó cũng không chính thức lấy sự phân chia theo loại hình sáng tác làm chính yếu, mà phân chia dựa theo sự tồn tại của các triều đại phong kiến như văn học đời Lí, đời Trần, đời Lê…, vì thế từ thể loại, phương pháp sáng tác, các phân chia phân kỳ… vẫn theo lối sẵn có từ Trung Quốc hay từ các triều đại phong kiến Việt Nam trước đó, nên thiếu những bức phá hay phát triển Kiểu phân loại này dù có đôi lúc không liền mạch, không nhất quán nhưng vẫn được xem là đại diện chính thức đến tận năm 1919 1 - khi thực dân Pháp chính thức áp đặt kiểm soát, quản lí, phát triển mô hình giáo dục ở Việt Nam Lưu trọng Lư với tinh thần Một nền văn chương Việt Nam đã “cảnh báo”: “Ta đã vay mượn của người hàng xóm từ một điệu thơ nhỏ nhặt, đến một đạo lí cao xa Rồi xưa kia chúng ta là những người Tàu (…), và chưa có một lúc nào chúng ta là người Việt Nam cả.” [56: 122] Đặng Thai Mai nhìn nhận có phần khách quan hơn, đó là “ảnh hưởng một chiều của văn học Trung Quốc vào văn học Việt Nam Song đó lại hoàn toàn không phải là lối tiếp thu cơ giới, thụ động, rập khuôn máy móc mà

1 Năm 1915: bãi bỏ thi Hương ở Bắc kỳ Năm 1918: bãi bỏ khoa cử ở Trung kỳ Ngày 15.6.1919 khoa thi Hội cuối cùng của Việt Nam tổ chức tại Huế chính là sự tiếp thu có chọn lọc, có điều chỉnh, có sáng tạo cho phù hợp hoàn cảnh xã hội và thực tế đời sống văn hóa – văn học Việt Nam” [67: 22] Từ đó có thể thấy, đến trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập vào Việt Nam thì ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc là rất sâu sắc, thể hiện khá rõ nét ở khía cạnh văn học

Cũng chính bởi yếu tố chính trị - xã hội, lịch sử như thế mà văn hóa và văn học dân tộc với tư cách là yếu tố tinh thần của quốc gia đã có những “phản kháng” nhất định để thích nghi, tồn tại với lịch sử dân tộc Dù loại hình sáng tác hay phân kỳ văn học viết dựa theo triều đại phong kiến thì nội dung của nó cũng luôn gắn chặt với vận mệnh dân tộc, với lịch sử nước nhà, phản ánh sức sống mãnh liệt của dân tộc và song song đó là sự tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo để phù hợp hoàn cảnh xã hội và đời sống của người Việt

1.2 Ảnh hưởng của yếu tố văn hoá Phương Tây đến văn học Việt Nam Bước chuyển ngoặc lịch sử đối với xã hội phong kiến Việt Nam khi thực dân Pháp đặt chân đến năm 1858 đã làm tình hình chính trị xã hội nước nhà chuyển biến sâu sắc Một kiểu tiếp xúc – gặp gỡ mang đến thay đổi chưa từng có về mọi mặt, tác động đến và làm xã hội thay đổi mọi thượng tầng kiến trúc từ chính trị, hệ tư tưởng đến xáo trộn về văn hóa, tôn giáo, xã hội… Một giai đoạn người Việt lại phải đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, chi phối hầu hết các vấn đề dân sinh của dân tộc Những tác động của tình hình chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa… nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam 1932 -

1941 thì đó là “ …cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ…” [114] Nhà cầm quyền thực dân Pháp mưu mô nhưng uyển chuyển hơn các triều đại phong kiến phương Bắc khi dựa vào mỹ từ “chính sách khai hóa”, không theo một chiều đàn áp hay gây cảm giác đồng hóa như văn hóa Hán trước đây Tùy lúc và điều kiện đó là sự “trợ giúp” phát triển khoa học kỹ thuật, mở trường dạy chữ quốc ngữ, xuất bản sách báo (năm 1865 tờ báo Quốc ngữ đầu tiên Gia Định Báo ra hàng tháng)… mục đích làm giảm ảnh hưởng văn hóa Hán, chữ viết Hán trong chiến lược xóa bỏ ảnh hưởng văn hóa chính trị Trung Quốc ở Việt Nam, cũng là ra sức chống lại tầng lớp Nho học phản kháng, đề cao văn hóa “mẫu quốc”, kéo văn hóa Việt Nam vào luồng quỹ đạo văn hóa Pháp, phục vụ mục đích chính trị biến dân tộc Việt Nam thành thuộc địa của Pháp, giai đoạn mà có những tiếng nói cực đoan thốt ra “…trước kia người ta nhắm mắt theo phong kiến Trung Quốc bao nhiêu, thì ngày nay người ta nhắm mắt theo văn hóa tư sản Pháp bấy nhiêu…”, thậm chí có học giả nước ngoài đã miêu tả nền văn học Việt Nam là không chỉ hình thức mà ở cả tư tưởng đều có cả ý của Tàu – Tây – Việt [98: 42]

Bố cục luận văn

Đặc điểm nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc

VĂN HỌC HIỆN ĐẠI TRUNG QUỐC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và những tác động đến văn học

NHẬN XÉT MỘT SỐ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT CÁC TÁC PHẨM CỦA LỖ TẤN 1 Giá trị các tác phẩm của Lỗ Tấn

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w