VƯU THỊ TUYẾT SƯƠNG VAI TRÒ CỦA HỘI ĐOÀN KẾT SƯ SÃI YÊU NƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Thành phố Hồ
Trang 1VƯU THỊ TUYẾT SƯƠNG
VAI TRÒ CỦA HỘI ĐOÀN KẾT SƯ SÃI YÊU NƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI NHÂN VĂN
VƯU THỊ TUYẾT SƯƠNG
VAI TRÒ CỦA HỘI ĐOÀN KẾT SƯ SÃI YÊU NƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chủ nghĩa Xã hội Khoa học
Mã số : 60.32.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ THIÊN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hà Thiên Sơn Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố Các số liệu, tài liệu trích dẫn trong luận văn
Trang 4- Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa CNH,HĐH
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH
SÓC TRĂNG 9 1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên và lịch sử, kinh tế - xã hội tỉnh
Kết luận chương 1 58
Trang 6HIỆN NAY –THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH
ĐỊNH HƯỚNG 60
2.1 Tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 60
2.1.1 Tôn chỉ và mục đích của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 61
2.1.2 Nhiệm vụ của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 63
2 2 Vai trò của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 63
2 3 Thực trạng họat động của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng và những giải pháp mang tính định hướng 94
2.3.1 Thực trạng hoạt động của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 94
2.3.2 Những giải pháp mang tính định hướng nhằm tăng cường vai trò của Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 101
Kết luận chương 2 110
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 125
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sóc Trăng là khu vực tụ cư lâu đời của cộng đồng người Khmer Nam
bộ So với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tỉnh Sóc Trăng
có số lượng người Khmer chiếm tỉ lệ cao nhất, nhiều thế kỷ qua sống cộng
cư bên cạnh cộng đồng người Việt và người Hoa, người Khmer đã thể hiện bản chất cần cù, yêu lao động, nghệ thuật văn hóa truyền thống thể hiện nét đặc thù trong đời sống của cộng đồng người Khmer
Đặc điểm của cộng đồng người Khmer gắn liền với Phật giáo Nam tông, trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt Phật giáo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là chất men kết dính cộng đồng dân cư bền chặt nhất, đây là nét đặc thù nổi bật nhất của xã hội Khmer truyền thống Tổ chức
xã hội cổ truyền của người Khmer mang đậm tính tập thể, tính cộng đồng, nương dựa vào nhau trên cơ sở tổ chức nhà chùa và văn hóa Khmer Chùa theo Phật giáo Nam tông Khmer chính là trung tâm văn hóa luôn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc, các Sư đến Chùa tu đều là con em của đồng bào Khmer Chùa Phật là nơi tu hành của các vị Sư – là cội nguồn, là nơi làm lễ của đồng bào dân tộc với ông-bà, cha-mẹ, là trung tâm văn hoá, là môi trường đạo đức và chùa còn là nơi giáo dục đào tạo con em của đồng bào dân tộc Ngôi chùa Khmer luôn được xây dựng tại trung tâm của phum sóc
và có vai trò quan trọng Tầng lớp sư sãi Khmer là những người quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện để họ làm tốt vai trò của mình trong đời sống cộng đồng người Khmer
Tuy nhiên, nhìn trong tổng thể phát triển nhiều thế kỷ qua, cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng vẫn còn là một cộng đồng người có mức sống tương đối thấp, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn
Trang 8giáo để hoạt động chống phá, gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.Tỉnh ủy Sóc Trăng đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TƯ về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác vùng đồng bào dân tộc Khmer, xác định việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách của Đảng đối với đồng bào dân tộc Khmer là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể Chính vì vậy, nhiều năm qua chính sách phát triển các cộng đồng tộc người ở Sóc Trăng, đặc biệt là cộng đồng người Khmer, đã được các cơ quan chức năng quan tâm, đặc biệt là mạng lưới các tổ chức đoàn thể xã hội Vai trò của mạng lưới xã hội các tổ chức đoàn thể là thật sự quan trọng, đã góp phần đắc lực chia bớt gánh nặng cho chính quyền Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước (ĐKSSYN) tỉnh Sóc Trăng là một trong những tổ chức xã hội có nhiều thành tích trong công tác vận động quần chúng nhân dân thực hiện các phong trào của địa phương
Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc trăng là trung tâm đoàn kết sư sãi và đồng bào phật tử Phật giáo Nam tông Khmer, nhằm phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đồng bào với Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực: sản xuất, đời sống; hỗ trợ đồng bào phật tử thực hiện tự do tín ngưỡng theo phong tục, đạo pháp, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Hội ĐKSSYN Sóc Trăng luôn khẳng định rõ vai trò, trách nhiệm kêu gọi, dẫn dắt tín đồ phật tử đề cao cảnh giác với âm mưu chia rẽ tình đoàn kết các dân tộc, đồng lòng đồng sức xây dựng cuộc sống hạnh phúc, ấm no Trong những năm qua, Hội ĐKSSYN tỉnh Sóc Trăng thật sự là trung tâm đoàn kết
trong giới chư Tăng và bà con Phật tử, thành hội đã phối hợp với Ban Tôn
giáo, chính quyền trong tỉnh và toàn thể sư sãi có nhiều hoạt động thiết thực
và ý nghĩa phục vụ dân tộc, đạo pháp trong ngôi nhà phật giáo chung
Vì vậy, việc tìm hiểu vai trò của Hội ĐKSSYN trong đời sống của cộng đồng người khmer ở Sóc Trăng để vận dụng và phát huy vai trò của
Trang 9Hội trong điều kiện hiện nay là rất cần thiết, với lý do trên, người viết chọn
vấn đề “Vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng
đồng người khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu về dân tộc Khmer Nam bộ nói chung và cộng đồng ngưởi Khmer ở tỉnh Sóc trăng nói riêng đã có nhiều tác giả trong và ngoài tỉnh nghiên cứu như TS Trần Hồng Liên, Nguyễn Chí Bền, Phan Thị Yến Tuyết, Bùi Tiến, PGS.TS Phan An…Hầu hết các tác giả trên đây trong quá trình nghiên cứu đã đề cập các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực: phương thức sinh hoạt, tôn giáo tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật của tộc người Khmer
Trần Thị Ngọc Tuyết Nhận xét về tín ngưỡng tôn giáo ở Sóc Trăng trước 1945 Tài liệu hội thảo khoa học lịch sử hình thành và phát triển tỉnh
Sóc Trăng trước 1945 Tác giả cho thấy cộng đồng người sống ở nông thôn Sóc Trăng đã được hình thành từ ba thế kỷ trước trên cơ sở qui tụ những nhóm lưu dân có nguồn gốc tộc người khác nhau Khmer, Việt, Hoa Trong hành trang của mỗi nhóm lưu dân này đều có những tài sản riêng về văn hóa truyền thống của cộng đồng Cùng với bối cảnh lịch sử khắc nghiệt và môi trường thiên nhiên đã tạo nên một bức tranh về sinh hoạt tín ngưỡng- tôn giáo chung cho cộng đồng sống trên địa bàn này rất phong phú, đa dạng, mang nhiều màu sắc Trong bài viết này, tác giả chỉ chú ý đến sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer trên vùng Sóc Trăng biểu hiện nổi bật trong các nghi lễ truyền thống cúng ông bà, tổ tiên và thờ phụng thần linh, mang đậm dấu ấn tâm linh của cư dân nông nghiệp Tác giả cho rằng đa số người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng đều là tín đồ của Phật giáo Tiểu thừa, do đó sinh hoạt tín ngưỡng-tôn giáo của họ tập trung rõ nét và nổi bật trong ngôi
Trang 10chùa cùng với nghi lễ trong sinh hoạt Phật giáo Tiểu thừa Phật giáo Tiểu thừa đã đi vào đời sống tâm linh của người Khmer Nam bộ tỉnh Sóc Trăng
từ bé và theo họ suốt cả cuộc đời Bài viết này giúp tác giả phân tích sâu hơn
về đời sống văn hóa của cộng đồng Khmer Nam bộ tỉnh Sóc Trăng
Nguyễn Khắc Cảnh, Phum Sóc Khmer ở ĐBSCL, (1998) tác giả trình
bày tương đối toàn diện và có hệ thống về Phum sóc của người Khmer ở ĐBSCL, về hình thái tổ chức xã hội truyền thống và thang bậc phát triển xã hội của người Khmer ĐBSCL trong kết cấu xã hội nói chung của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
TS Nguyễn Mạnh Cường, Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại),năm 2008 tác giả trình bày những đóng góp của người Khmer
thông qua các sự kiện lịch sử mà tộc người Khmer trải qua, những thành tựu trong sản xuất và truyền thống văn hoá tâm linh… được tác giả khai thác ở nhiều góc độ nhằm đánh giá đúng vai trò của tộc người Khmer trong lịch sử cũng như đề cao vị thế của Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam góp phần nhỏ vào quá trình tự nhìn lại mình của người Khmer trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước Việt Nam hôm nay
Nghiên cứu của Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp (2003) Thực trạng kinh tế - xã hội và những giải pháp xoá đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng, tác giả phản ánh rất cụ thể hiện trạng đời sống kinh tế - xã hội của
cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng Đề tài cũng phân tích một số vấn đề trong đời sống của người Khmer nhưng cách tiếp cận chủ yếu từ góc độ nghiên cứu đánh giá nghèo đói Các yếu tố văn hoá, phong tục tập quán chưa được xem như là các chỉ báo tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội
Phạm Thị Phương Hạnh (Chủ biên), Lương Minh Hinh, Vũ Thống
Nhất, Huỳnh Công Tín, Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội 2011 Tác phẩm này
Trang 11giúp tôi nhận thức rõ về quá trình cộng cư lâu đời của dân tộc Kinh, Hoa, Khmer trên mãnh đất Nam bộ; người Khmer đã có sự giao thoa văn hóa với các dân tộc anh em; nhưng cơ bản, người Khmer vẫn giữ được những nét văn hóa đặc sắc, những cốt cách, tinh hoa của dân tộc mình Thể hiện rõ nét nhất qua các ngôi chùa Khmer và sinh hoạt ở mỗi Phum sóc, gắn liền với phật giáo Nam Tông Tiểu thừa, qua tiếng nói, chữ viết, các lễ hội truyền thống, các hình thức nghệ thuật như: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, những bản sắc vô cùng độc đáo đó của đồng bào Khmer Nam Bộ đã đóng góp không nhỏ vào sự đa dạng, phong phú của văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của văn hóa Việt Nam nói chung
Lâm Thanh Sơn, Ngôi chùa trong đời sống văn hóa của người Khmer tỉnh Sóc Trăng Luận văn thạc sĩ khoa học văn hóa Hà Nội 1997 Đối tượng
nghiên cứu của luận văn là một số ngôi chùa Khmer lớn và lâu đời ở ĐBSCL và các sinh hoạt văn hóa tại các ngôi chùa Khmer Trong luận văn tác giả đã khảo sát các hoạt động văn hóa tại các ngôi chùa, từ đó rút ra những kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa cơ sở vùng dân tộc Khmer ở ĐBSCL Tác giả cũng nêu lên những định hướng tổ chức các hoạt động văn hóa cho phù hợp với phong tục tập quán của người Khmer theo phương châm tôn trọng tự do tín ngưỡng, đồng thời xã hội hóa các hoạt động văn hóa Bài viết này giúp tôi nắm được vai trò quan trọng của các vị sư sãi trong đời sống của cộng đồng Khmer ở tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn hiên nay
TS Trần Hồng Liên (chủ biên)(2002), Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở
Sóc Trăng,Nxb khoa học xã hội, tác giả có bài viết về phát triển cộng đồng Khmer ở Sóc Trăng thông qua một số tổ chức đoàn thể, theo TS Trần Hồng
Liên mạng lưới phát triển cộng đồng khmer bao gồm các tổ chức đoàn thể
xã hội như Ủy ban mặt trận tổ quốc, ban dân vận, ban dân tộc, hội liên hiệp
Trang 12phụ nữ, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, theo tác giả Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng là một tổ chức đoàn thể quan trọng góp phần vào việc nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng khmer Có thể thấy
TS Trần Hồng Liên đã tìm hiểu một cách khái quát về vai trò Hội đoàn kết
sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng Qua bài viết của tác giả, giúp tôi phân tích, làm rõ vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở tinh Sóc Trăng
Những công trình trên đã cung cấp cho tác giả luận văn một cái nhìn
về cộng đồng người Khmer ở các địa phương của ĐBSCL từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng, hầu như chưa có một tác giả nào đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề này vừa có ý nghĩa
cơ bản, vừa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay
Trong luận văn, ngoài việc tiếp thu những thành quả nghiên cứu của những người đi trước, tác giả đi sâu tìm hiểu vai trò của Hội ĐKSSYN trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng Trên cơ sở đó tác giả đề xuất giải pháp cụ thể nhằm củng cố và phát huy vai trò Hội ĐKSSYN trong đời sống của cộng đồng người khmer ở tỉnh Sóc Trăng phù hợp với tình hình mới
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là phân tích, làm rõ vai trò của Hội đoàn kết
Sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng đồng người khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp có tính định hướng nhằm phát huy vai trò tích cực của Hội ĐKSSYN trong đời sống của cộng
đồng người khmer ở tỉnh Sóc Trăng
Trang 13Thứ hai, phân tích vai trò của Hội ĐKSSYN trong cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng – thực trạng và những giải pháp mang tính định hướng
3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu về vai trò Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước trong cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng từ năm 2007 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, những chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Sóc Trăng Về các vấn đề có liên quan đến đề tài, nhất là quan điểm vận dụng và phát huy vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
Ngoài ra, luận văn còn trân trọng kế thừa những thành quả nghiên cứu của một số công trình có liên quan tới đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được triển khai trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin,
có chú ý đến tính đặc thù về mặt phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học để luận giải những vấn đề đặt ra trong nội dung đề tài, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã hội
Trang 14- Ngoài những phương pháp chung như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh chú trọng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phỏng vấn sâu trong quá trình phân tích vai trò của Hội ĐKSSYN trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
Một số phương pháp chuyên ngành như mô hình hóa, khảo sát tổng kết dựa vào thông số từ nghiên cứu thực tiễn cơ sở để xây dựng những luận điểm có tính lý luận - đây là phương pháp quan trọng để thực hiện nghiên cứu
đề tài này
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn trình bày một cách có hệ thống dưới giác độ khoa học pháp lý về vai trò của Hội ĐKSSYN Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Sóc Trăng tham khảo để ban hành nghị quyết về công tác vùng đồng bào dân tộc Khmer, xác định việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách của Đảng đối với đồng bào dân tộc Khmer là trách nhiệm của các cấp
ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể
- Hội ĐKSSYN tỉnh Sóc Trăng và Hội ĐKSSYN các tỉnh trong khu vực ĐBSCL có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này để tập trung đánh giá lại quá trình công tác của Thành hội trong thời gian qua, từ đó có cơ sở phát huy những ưu điểm, đồng thời cũng chỉ ra những tồn tại cần khắc phục, rút
ra bài học kinh nghiệm trong quá trình hoạt động, phát huy vai trò tích cực của thành hội trong cộng đồng người Khmer
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 15Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG
1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên và lịch sử, kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng
1 1 1 Điều kiện địa lý - tự nhiên và lịch sử
Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực Tây Nam bộ, nằm cuối lưu vực sông Hậu Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu giang, Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long, Tây - Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, Đông – Nam giáp Biển Đông Địa hình tương đối bằng phẳng với độ cao trung bình từ 0,5m-1m so
Trang 16với mực nước biển, có dạng lồng chảo, hướng dốc chính từ Sông Hậu thấp dần vào phía trong, từ Biển Đông và từ kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.331 km2, với 3611km sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và 72 km bờ biển Trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng có hai sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh đổ ra 03 cửa sông lớn là Trần Đề, Định An và Mỹ Thanh Đây là điều kiện thuận lợi để Sóc Trăng giao lưu, buôn bán và phát triển kinh tế, xã hội với các tỉnh khác của ĐBSCL Bãi biển trải dài và đất đai chủ yếu là cát – bùn rất thuận tiện cho việc nuôi trồng, đánh bắt các loại thủy – hải sản phong phú, đa dạng có giá trị kinh tế cao Đất nông nghiệp 276,958 ha, chiếm 81,86% so với tổng diên tích tự nhiên Sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng khai thác chế biến thủy sản là hai thế mạnh về kinh tế chủ yếu của tỉnh
Sóc Trăng có hệ thống sông rạch chằng chịt len lỏi tới mọi vùng ở ĐBSCL, ngược dòng sông Hậu có thể buôn bán với Campuchia và Lào Xuôi dòng sông Hậu ra biển có thể giao lưu quốc tế, có các cửa biển thông
ra biển Đông Sóc Trăng nằm trong vùng biển Đông với các nước Philippin, Indonesia, Malaysia, Singapo Có thể nói, sông ngòi chính là mạch máu của miền đồng bằng này Những lợi ích của nó đối với sản xuất, sinh hoạt là hết sức quan trọng Sóc Trăng nằm cuối vùng hạ lưu sông Mê Kông, được phù
sa bồi lắng khá mạnh Hàng năm theo rừng cây ngập mặn ( cây sú, cây vẹt, cây mắm, cây đước…) lấn dần ra biển đông, có nơi dài hàng trăm mét, tạo thành những bãi cát – bùn ven biển rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy – hải sản nước mặn
Về giao thông, Sóc Trăng có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất thuận lợi Trên địa bàn tỉnh có các tuyến giao thông huyết mạch của khu vực ĐBSCL, có 04 tuyến quốc lộ đi qua, gồm Quốc lộ 1A, Quốc lộ 60, Quốc lộ Nam Sông Hậu và Quốc lộ Quản lộ - Phụng Hiệp nối Sóc Trăng với
Trang 17các tỉnh, thành khác trong khu vực và thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống đường thủy của tỉnh theo dòng sông Hậu có thể giao thương với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Thái Lan
Với vị trí địa lý thuận lợi trên, tỉnh Sóc Trăng có lợi thế khá tốt so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long về phát triển kinh tế tổng hợp, đặc biệt là về phát triển kinh tế biển và ven biển, kể cả vận tải đường biển
Thời tiết, khí hậu, điều kiện tự nhiên Sóc Trăng có nhiều thuận lợi cơ
bản, Sóc Trăng được tạo hóa phú cho một vị trí thông thoáng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu sóc Trăng tương đối ổn định với hai mùa mưa nắng rõ rệt Mùa mưa chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam kéo dài 6 tháng ( từ tháng 5 đến tháng 11 ) Mùa khô chịu ảnh hưởng gió mùa Đông- Bắc kéo dài
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Do nằm sát Biển Đông và Vịnh Thái Lan nên tốc độ gió rất mạnh bình quân 2,2m/s, chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu biển nên biên độ dao động của nhiệt độ tại Sóc Trăng trung bình chỉ từ 25 đến 28,50C độ ẩm trung bình 84%, biên độ nhiệt theo mùa trung bình 5 - 6 độ C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng 1) trong năm có thể xuống 23 - 24 độ C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 4) có thể lên đến 31 - 32 độ C Số giờ nắng khá cao trung bình 2.585 giờ/năm, lượng mưa trung bình 1.489mm/năm, với hơn 90% lượng nước mưa tập trung vào 6 tháng mùa mưa Khí hậu như vậy rất thích hợp với sự phát triển thảm thực vật, đặc biệt với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Nhìn chung, đặc điểm khí hậu và thời tiết của tỉnh có nhiều thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là sản xuất nông nghiệp Điều kiện khí hậu
có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng nhiệt đới,
độ ẩm tương đối cao có tác động mạnh đến thúc đẩy tăng trưởng sinh khối,
Trang 18tăng năng suất của các cây trồng Thời tiết không có bão như các vùng khác cũng là một thuận lợi để sinh hoạt và phát triển sản xuất [23, tr3]
Đặc điểm cư địa nêu trên ổn định trong hàng trăm năm, tạo cho Sóc Trăng trở thành một vùng đất trẻ đang sinh sôi, nảy nở rất thuận lợi cho việc phát triển lớp thảm thực vật nhiệt đới và khai thác, nuôi trồng các loại thủy – hải sản có giá trị dinh dưỡng cao và có giá trên thị trường
Nhìn tổng quát, vùng cư địa Sóc Trăng có địa mạo giống như lòng chảo, hướng đất dốc chính từ sông Hậu thấp dần thoai thoải vào phía trong
và từ biển Đông thấp dần vào vùng nội địa, phía nam là vùng trũng dạng lòng chảo, rất khó thoát nước nên thường xuyên bị ngập úng kéo dài, nhất là vào mùa mưa
Nghiên cứu điều kiện tự nhiên ở Sóc Trăng, chúng ta thấy rõ bên cạnh những thuận lợi cơ bản, điều kiện tự nhiên của Sóc Trăng cũng hàm chứa những khó khăn và mâu thuẫn nội tại Đó là tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt, do 90% lượng nước tập trung vào mùa mưa, không có nguồn nước dự trữ Địa hình bằng phẳng, độ dốc trung bình chỉ 1cm/1km khiến điều kiện thoát nước dễ dàng và nước trở nên cạn kiệt vào mùa khô; tác động thường xuyên của thủy triều đưa nước biển tràn sâu vào nội địa, nhất là vào mùa khô, nước biển có thể lấn sâu 60 – 70km cách
bờ biển gây nhiễm mặn nặng Sự thiếu vắng các nguồn lợi khoáng sản cũng
là trở ngại cho sự phát triển ngành công nghiệp và các ngành nghề khác [11,
tr24] Mặc khác, với điều kiện tự nhiên hình thành 3 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn, đất đai màu mỡ, ruộng đồng phì nhiêu, khí hậu ôn hoà; có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, ngư nghiệp và chế biến hàng nông, hải sản xuất khẩu Giao thông đường thuỷ, đường bộ đều thuận lợi nhờ địa thế của tỉnh nằm trên trục Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau; Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Tiền Giang Bờ biển dài là
Trang 19một lợi thế so sánh của Sóc Trăng so với các tỉnh ĐBSCL rất thuận lợi cho việc giao thương từ Sóc Trăng đến mọi miền của đất nước và quốc tế Những nhân tố “ thiên thời, địa lợi” đó đã và đang được chính quyền và nhân dân địa phương vận dụng để phát triển kinh tế, nhằm đẩy mạnh công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) tỉnh nhà
Sóc Trăng một vùng đất phía Tây sông Hậu, có thể xem như là địa bàn
cư trú tập trung cổ xưa nhất của người Khmer ở ĐBSCL Có nhiều cách giải thích khác nhau về địa danh Sóc Trăng Theo tác giả Lê Hương, “Sóc Trăng phiên theo cách gọi Khmer là Srok Khleang, Srok có nghĩa là xứ, cõi; Khleang có nghĩa kho, vựa, chỗ chứa bạc Srok Khleang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua” [49,tr.253] Theo cụ Vương Hồng Sển thì nơi đây có đặt một kho bạc của vua Khmer tại làng Hòa Mỹ (huyện Mỹ Xuyên)” [14,tr.7] Lại có thuyết cho rằng những cư dân khai phá đầu tiên của vùng đất này sau những vụ thu hoạch họ gom những sản phẩm thu được về cất giữ để sử dụng dần, nhưng vì trộm cướp nhiều nên họ tập hợp thành kho chứa lớn thay phiên nhau bảo vệ gìn giữ Tuy nhiên có thể hiểu một cách tổng hợp: Sóc Trăng do đọc chạy từ tiếng Khmer Srock Khleáng) là một vùng đất hoang vu được khai thác rất giàu có như một kho lúa của nhà vua Thời vua Minh Mạng, Sóc Trăng còn được gọi là Nguyệt Giang, vì xem chữ “Sóc” như là chữ “ Sông” (giang) và chữ “Trăng” là “ Nguyệt”
Về lịch sử hình thành vùng đất Sóc Trăng, nhiều nhà khoa học đã đi đến quan điểm chung, nhiều nguồn sử liệu cho biết mãi đến thế kỷ XVIII vùng đất Sóc Trăng vẫn còn hoang hóa, dân cư thưa thớt
Từ thế XV – XVII, Sóc Trăng nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung còn là nơi chưa định rõ về mặt ranh giới Trước đó, ở đây luôn diễn ra những cuộc tranh chấp giữa Phù Nam với Chân Lạp, sau đó bằng sức mạnh quân sự, chân Lạp đã chiến thắng, xây dựng hệ thống chính quyền để quản
Trang 20lý những vùng chiếm được Trong một thời gian dài, vùng đất phía nam này không thuộc sự quản lý của bất cứ quốc gia nào, nó trở thành vùng đất tự do cho những người từ khắp các địa phương khác nhau đến sinh sống Chính vì thế, nơi đây hội tụ của những người Việt tha phương, người Khmer nghèo khổ và của cả những người Hoa di dân Những người Khmer là cư dân đầu tiên có mặt trên mảnh đất này [ 34, Tr.12]
Cuối thế kỷ thứ XVI, vì Trịnh – Nguyễn phân tranh, cộng đồng người Việt ở các tỉnh miền Trung, miền Bắc không chịu được sự bóc lột hà khắc của chế độ phong kiến đã vượt biển, băng rừng tiến về Phương Nam (vùng
đất mới Nam bộ) hy vọng có cuộc sống tốt hơn Cộng đồng người Việt “ mở cõi” cho tổ quốc tiến dần về cực nam ra tận biển Đông với mốc cuối cùng là
Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau Cũng trong thời kỳ này, những nông dân nghèo người Khmer chống lại sự bóc lột hà khắc, nạn lao dịch nặng nề của giai cấp phong kiến và vua chúa các triều đại Angkor đã di cư đến vùng đất này Sau này, khi cuộc chiến tranh của các tập đoàn phong kiến Trịnh –Nguyễn nổ ra thì quá trình di dân ở Việt Nam về hướng ĐBSCL được xúc tiến mạnh mẽ và qui mô ngày càng lớn [55, tr.11]
Cùng với cuộc di dân của người Việt, người Khmer thì người Hoa cũng có mặt rất sớm trên vùng đất Sóc Trăng Đầu tiên là những thương gia dùng thuyền đi dọc biển Đông đến vùng đất này Bên cạnh đó cũng có những tướng lĩnh, quan lại nhà Minh cùng binh lính không khuất phục nhà Thanh đã sang Việt Nam cư trú tại vùng đất này Như vậy ở Sóc Trăng đã có
ba dòng người di cư với ba tộc người khác nhau tạo nên một cộng đồng xã hội Việt Nam của vùng Nam bộ tỉnh Sóc Trăng
Vùng đất Sóc Trăng được khai phá tương đối muộn, nhưng tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội và dân số tập trung nhanh chóng, sớm hình thành các đô thị trù phú như: Bãi Xào, Khánh Hưng, Vàm Tấn [102, tr.176]
Trang 21Đến năm 1834, Nam kỳ được chia làm sáu tỉnh: Ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; Ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Tỉnh An Giang được chia làm ba phủ: Tuy Biên, Tân Thành
và Ba Xuyên; Vùng đất Sóc Trăng thuộc phủ Ba Xuyên
Đến năm 1867, thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt, đến năm
1876, Pháp chia Nam kỳ thành bốn khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xắc (Bassac), mỗi khu vực hành chánh lại chia làm nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc Bát Xắc [102, tr.177]
Năm 1899, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương ra Nghị định qui định các hạt được thống nhất gọi là tỉnh, Sóc Trăng vẫn giữ nguyên tên cũ gọi là tỉnh Sóc Trăng
Trong tổng thể Nam bộ, tiến trình nhập cư và khai phá vùng đất Sóc Trăng muộn hơn nhưng tốc độ khai phá khá nhanh Bằng những nổ lực phi thường của cả ba dân tộc Việt, Hoa, Khmer cùng chung lưng đấu cật đã mang thành quả to lớn cho vùng đất mới, tạo cho Sóc Trăng thành một vùng đất trù phú
Năm 1926, Thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành bốn quận: Châu Thành, Long Phú, Kế Sách và Phú Lộc [102,tr.63] Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm huyện Vĩnh Châu và một số xã huyện Rạch Giá Đến năm 1955, Sóc Trăng giao huyện Vĩnh Châu cho tỉnh Bạc Liêu, đến năm 1957 Sóc Trăng giao huyện Kế Sách cho tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng nhận thêm các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Vân, Giá Rai và thị xã Bạc Liêu, năm 1973 Sóc Trăng giao các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Vân và thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau.” [55, tr.14]
Trang 22Tháng 12/1976, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Quyết định nhập Sóc Trăng, Cần Thơ và TP Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang
Ngày 10/12/1991, Quốc hội lần thứ X, khóa VIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyết định tách Hậu Giang thành tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Cần Thơ Tỉnh Sóc Trăng nằm trên quốc lộ I, nối liền Sóc Trăng với các tỉnh phía Nam và các tỉnh phía Bắc
Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4/1992 gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã Sóc Trăng
Ngày 11/01/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 04/2002/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú và thành lập thêm huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng Ngày 31/10/2003, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 127/2003/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thạnh Trị
và thành lập thêm huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Ngày 08/2/2007, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số 22/2007/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng Ngày 24/9/2008, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 02/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỹ
Tú và thành lập thêm huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng Đến ngày 23/12/2009, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị quyết số 64/NQ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính hai huyện Mỹ Xuyên, Long Phú và thành lập thêm huyện Trần Đề tỉnh Sóc Trăng Và đến cuối năm 2011, thực hiện Nghị Quyết số 90/NQ-CP ngày 25 tháng 08 năm
2011, huyện Vĩnh Châu trở thành thị xã Vĩnh Châu
Trang 23Địa lý hành chính của tỉnh Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến
thiên của lịch sử Tính đến năm 2011, Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính
Đơn vị Diện tích km 2 Dân số ( người) Mật độ dân số
(Ghi chú: Số liệu thống kê ngày 31/12/2010)
Đơn vị hành chính của tỉnh có 9 huyện và 01 thành phố, 1 thị xã, 109
xã, phường, thị trấn và 775 khóm, ấp; trong đó có 85 xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg, ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ; Trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Sóc Trăng
Dân số trung bình toàn tỉnh ước tính năm 2011 là 1.307,4 ngàn người Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 64,24%, Khmer chiếm 30,71% và Hoa chiếm 5,02% Dân số thành thị chiếm 27,64% và dân số nông thôn chiếm 72,36%
Trang 24Qui mô dân số đứng thứ 6 của khu vực ĐBSCL Dự kiến năm 2012 dân số tỉnh Sóc Trăng là 1.321.000 người [23, tr.5]
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tỉnh Sóc Trăng nằm ở vị trí ven biển và cửa sông Hậu, với nhiều
tuyến giao thông thủy bộ quốc gia đi qua, nguồn tài nguyên đa dạng và ít bị ngập lũ tạo cho Sóc Trăng có lợi thế về mở rộng giao lưu với các tỉnh trong khu vực cũng như với bên ngoài và lợi thế phát triển kinh tế ở cả 3 khu vực (nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp-xây dựng, dịch vụ - du lịch), Tỉnh Sóc Trăng có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng
Đất đai của Sóc Trăng có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng Hiện đất sử dụng cho nông nghiệp chiếm 83,64%, đất lâm nghiệp 4,40%, đất chuyên dùng và các loại đất khác 11,57% Trong tổng số 276958 ha đất nông nghiệp có 160.910 ha sử dụng cho canh tác lúa, 18.342 ha dùng trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày, 43073 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái [5, tr.6 ]
Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt
và bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng và trên cơ sở đó hình thành những khu du lịch sinh thái phong phú Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái
Do đặc điểm vị trí thuộc vùng đồng bằng châu thổ với đất đai phì nhiêu, khí hậu ôn hòa, nên thế mạnh của tỉnh hiện nay là nông nghiệp và
Trang 25thủy sản Sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển khá nhanh theo hướng thâm canh tăng vụ, tăng năng suất sản phẩm
Phát triển thủy hải sản là mũi nhọn kinh tế chủ lực của tỉnh Sóc Trăng có bờ biển tự nhiên dài 72km, có nhiều cảng lớn như: cảng Tràn Đề, Đại Ngãi và cảng nước Sâu Sản phẩm khai thác từ biển và ven biển là tiềm năng và nguồn lợi to lớn tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư Với thế mạnh nuôi trồng và khai thác thủy hải sản đã tạo nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến phát triển, xuất khẩu nuôi trồng thủy sản đang là trọng điểm trong các chương trình cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp chế biến hàng nông - thủy sản và thực phẩm với các mặt hàng chính như gạo, thủy hải sản đông lạnh, nấm rơm muối, đường kết tinh, bia Trong đó, các mặt hàng gạo xay xát và thủy hải sản chế biến đạt chất lượng cao được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng Một trong những thành tựu kinh tế nổi bật của tỉnh là sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu thủy sản, trong đó tôm đông lạnh là mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Ngoài ra, Sóc Trăng còn thích hợp cho việc phát triển du lịch xanh, du lịch sông nước, với 7.000ha cây ăn trái đặc sản, cụm cù lao có khí hậu mát
mẻ, trong lành dọc sông hậu cùng những kiến trúc văn hóa cổ xưa như chùa Dơi, chùa Khleang, chùa đất sét Sóc Trăng có đầy đủ các đặc điểm thế mạnh đại diện cho vùng ĐBSCL về lúa gạo trái cây, du lịch sinh thái và đặc biệt là thủy sản Nhận thức được vai trò của Sóc Trăng trong sự nghiệp phát triển chung cả vùng, tỉnh đã xây dựng kế hoạch, chương trình và đề ra các giải pháp cụ thể phát triển các lĩnh vực thế mạnh nêu trên phù hợp với quy hoạch phát triển chung của vùng ĐBSCL, đặc biệt là trong giai đoạn nước ta hội nhập sâu rộng vào Tổ chứa thương mại thế giới (WTO)
Trang 26Sóc Trăng đặt ra kế hoạch, mục tiêu đến năm 2020 là tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nhằm phát triển một nền kinh tế năng động, toàn diện, bền vững theo hướng CNH, HĐH Trong đó ưu tiên tập trung đầu tư chiều sâu cho các ngành kinh tế mũi nhọn (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến nông sản, hải sản, thực phẩm xuất khẩu) song song với việc xử lý tốt các vấn đề văn hóa xã hội, trật tự, an ninh quốc phòng, công bằng, tiến bộ xã hội và môi sinh môi trường
Là tỉnh có nhiều điểm tương đồng về vị trí địa lý, văn hóa với các tỉnh khác trong khu vực ĐBSCL, quá trình hợp tác kinh tế giữa Sóc Trăng
và các tỉnh khác trong và ngoài nước đã có mức tăng trưởng đáng kể Xây
dựng hạ tầng thiết yếu về giao thông, điện, nước, sản xuất thức ăn thủy sản, chế tác, lắp ráp thiết bị, chế biến nông sản Cùng với chính sách khuyến khích đầu tư, môi trường kinh doanh tại Sóc Trăng trong những năm gần đây cũng trở nên hấp dẫn hơn thông qua thực hiện cơ chế cấp phép “một cửa liên thông”
Ngoài các lợi thế trên, Sóc Trăng có nguồn nhân lực dồi dào, trong
đó có khoảng 760.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 60% dân số toàn tỉnh, đây sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của Sóc Trăng trong
tương lai [98, tr.4]
Sau 20 năm tái lập tỉnh, Sóc trăng đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, tồn tại chủ yếu sau: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm, tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế còn thấp, Chuyển dịch sản xuất nông nghiệp chưa gắn kết với công nghiệp bảo quản, chế biến và tiêu thụ hàng nông sản địa phương, còn tình trạng xuất khẩu nguyên liệu thô, sản phẩm chế biến có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng thấp Hàng hóa, dịch vụ chưa đa
Trang 27dạng, thiếu sức cạnh tranh; các ngành dịch vụ chưa phát huy được tác dụng
là cầu nối thúc đẩy sản xuất phát triển; hội nhập kinh tế chậm Nguồn lực yếu và thiếu, chưa khai thác hết nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội Một số vấn đề xã hội bức xúc như thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống dân cư chưa bền vững.[23, tr.36]
Nhìn chung, Sóc Trăng hiện tại đang là tỉnh nghèo và có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn ở mức khá cao (năm 2011 là 21,25%), là một trong các tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất vùng ĐBSCL Mặc dù trong thời gian qua tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc đầu
tư kết cấu hạ tầng, nhưng do nguồn lực còn rất hạn chế, việc đầu tư chưa đáp ứng so với yêu cầu, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
- Về văn hóa xã hội, Sóc Trăng là tỉnh đa dân tộc chủ yếu là người
Việt, người Khmer và người Hoa Đây là vùng dân cư hỗn hợp, với nhiều nguồn gốc địa phương khác nhau Một đặc điểm hết sức quan trọng của tỉnh
là ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng sinh sống và giữ vững mối đoàn kết từ lâu đời Ba dân tộc từng nắm tay nhau chống thực dân phong kiến, từng
“chung lưng đấu cật” chiến đấu chống giặc ngoại xâm; từng góp công xây dựng nên những thành tựu kinh tế của tỉnh nhà và hiện nay cùng với Đảng
và Nhà nước nỗ lực thực thi công cuộc đổi mới đất nước
Bên cạnh đó, Sóc Trăng còn là vùng đa dạng về mặt tín ngưỡng, tôn giáo và còn có sự chênh lệch khá lớn về lối sống, phong tục tập quán, trình
độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong suốt quá trình phát triển cộng đồng ba dân tộc đã có mối quan hệ khăng khít với nhau, xây dựng tình thân
ái, đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, tôn trọng về sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín ngưỡng, tạo nên sự hài hòa trong cuộc sống kinh tế, văn hóa –xã hội của ba dân tộc trong cộng đồng người ở
Trang 28vùng đất Sóc Trăng Đặc biệt người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quí báu như trọng nhân nghĩa, thẳng thắng, bộc trực, hào phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc, chân thành Đó là bản tính của người dân Nam bộ tỉnh Sóc Trăng
Văn hóa ở Sóc Trăng có một nét riêng biệt và độc đáo trong vùng đất Nam bộ Nền văn hóa ở Sóc Trăng đã phát triển khá sớm và phong phú Cộng đồng các dân tộc đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa cộng cư giữa ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, góp phần hình thành nét văn hóa chung cho vùng đất Nam bộ Hát bội của người kinh; hát Dùkê, múa trống của người Khmer; hát tiều của người Hoa là những nét văn hóa-văn nghệ chung của vùng đất Nam bộ Những công trình kiến trúc cổ kính mang tính dân tộc độc đáo như: Chùa Phật, Thánh thất, Đình thần của người Kinh và người Hoa đã được xây dựng
từ rất xưa với lối kiến trúc độc đáo của các cư dân đầu tiên mang tới Riêng chùa Khmer, toàn tỉnh hiện có 92 ngôi chùa Các chùa Khmer luôn là những công trình kiến trúc nghệ thuật khang trang, lộng lẫy góp phần làm phong phú thêm nét văn hóa đặc sắc của tỉnh Sóc Trăng
Cả ba cộng đồng người Việt, Khmer, Hoa đã trải qua một quá trình thích nghi độc đáo, quá trình tích hợp tự nhiên từ quan hệ láng giềng, quan
hệ ngôn ngữ đến quan hệ hôn nhân Vì vậy ngày nay, ở tất cả các ấp, xóm không còn riêng của một tộc người nào, mà đã có sự hòa hợp trong sản xuất, trong sinh hoạt Đặc biệt trong quan hệ hôn nhân giữa ba cộng đồng người Việt, Khmer, Hoa là sự pha trộn huyết thống, tiếp biến văn hóa truyền thống, chúng ta khó phân biệt được những nét riêng biệt của từng tộc người trong sinh hoạt đời sống thường nhật, cả trên lĩnh vực văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần Văn hóa ẩm thực trong cư dân Sóc Trăng cũng sớm xuất hiện những sản phẩm nổi tiếng như: Bún nước lèo, Mắm cá, Lạp xưởng,
Trang 29bánh Pía, Mè láo; các sản phẩm cây trồng như lúa Ba trăng, lúa Nàng thơm, nhãn và chiếu cói là những sản phẩm nổi tiếng của Sóc Trăng [38,tr.4]
Về tôn giáo, Sóc Trăng có hai hệ phái Phật giáo: Phật giáo Đại thừa của người Việt và người Hoa, Phật giáo tiểu thừa (Theravada) của người Khmer, một số tôn giáo khác như Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo và một số tín ngưỡng khác chiếm tỷ lệ không đáng kể trong cộng đồng dân cư ở Sóc Trăng Dân tộc và tôn giáo là những vấn đề rất nhạy cảm về chính trị các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề này gây nên bất ổn định
về chính trị - xã hội
Các thiết chế văn hóa trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư xây dựng Toàn tỉnh có 65 tụ điểm văn hóa chùa Khmer, 1 đoàn nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp, có 2 di sản
di tích lịch sử cấp quốc gia, 5 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh (3 chùa Khmer, 2 chùa Hoa ), một nhà trưng bài đang lưu giữ trên 462 hiện vật văn hóa truyền thống có giá trị về văn hóa lịch sử của đồng bào Khmer [93, tr.5 ]
Các lễ hội theo phong tục tập quán và lễ hội tôn giáo của đồng bào, sư sãi Khmer, Hoa được tổ chức theo nghi thức cổ truyền, phù hợp với điều kiện kinh tế và đúng quy định của pháp luật Đặc biệt, lễ hội Ok- Om –bok, Đua ghe Ngo của đồng bào Khmer được Bộ văn hóa thể thao du lịch đưa vào danh sách 15 lễ hội thuộc chương trình quốc gia về du lịch Việt Nam
Trải qua bao thăng trầm biến cố và phát triển của lịch sử, các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng đã có mối quan hệ gắn bó huyết thống, xây dựng nên tinh thần thân ái, đùm bọc lẫn nhau trong khó khăn, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín ngưỡng, tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân tộc Đặc biệt, trong quan hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quý trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào phóng, giản dị,
Trang 30tình cảm mộc mạc chân thành, đó là bản tính truyền thống của người dân Nam bộ nói chung và người dân ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng
1.2 Quá trình hình thành, phát triển và những đặc điểm cơ bản của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
Cộng đồng người Khmer Nam bộ là một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer Người Khmer xuất hiện rất sớm ở lưu vực sông Mê Kông, theo nhiều nhà nghiên cứu thì họ có mặt ở vùng lưu vực sông Mê Kông khoảng từ 200 – 300 năm trước công nguyên Khoảng từ thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ VIII ở vùng đất Nam bộ
đã xuất hiện một nền văn hóa rực rỡ- văn hóa Oc Eo, đánh dấu một bước tiến có ý nghĩa lịch sử của cộng đồng người Khmer Nam bộ trong việc chinh phục vùng đất này Người Khmer Nam bộ sống tập trung thành Phum, Sóc, trồng lúa nước, không du canh du cư Họ thuộc về quốc gia Phù Nam Người Phù Nam theo đạo Bà La Môn đa số là trong hoàng tộc, còn lại dân tộc thường thì theo đạo phật, tín ngưỡng dân gian thờ Arăh, Neakta, Têvođa,Kru Thờ người đã khuất là truyền thống xa xưa của họ
Quốc gia Phù Nam có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước chiếm ưu thế, thủy lợi phát triển mạnh Cư dân Phù Nam là chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo – kết quả của quá trình giao lưu văn hóa giữa văn hóa Đồng Nai bản địa và văn hóa Ấn Độ cổ Nối tiếp sau vương quốc Phù Nam
là Chân Lạp (Chenla) Đến thế kỉ VI sau công nguyên, do các cuộc chiến tranh liên miên giữa các quốc gia vốn rất phát triển trong khu vực như; Chân Lạp, Lâm áp, Chăm pa Ban đầu, Chân Lạp là nước chư hầu của Phù Nam dần thoát khỏi sự phụ thuộc của Phù Nam, tấn công Phù Nam và cuối cùng thống trị được vương quốc này Quốc gia Phù Nam bị yếu thế Thay vào đó là
Trang 31các lãnh chúa thi nhau cai quản và củng cố các vị trí của mình theo từng vùng Đến khoảng năm 550 quyền lực Phù Nam hoàn toàn bị lật đổ Cũng trong thời gian này, nạn ngập lụt triền miên do quá trình biển tiến và phù sa vùng đồng bằng sông Cửu Long, đã làm hoang phế rồi vùi lấp nền văn hóa rực rỡ Óc Eo Nhiều thế kỷ kế tiếp, vùng đất Nam bộ rơi vào tình trạng bỏ hoang
Đến thế kỷ thứ X, biển rút dần, những giồng đất lớn nổi lên ở vùng Sóc Trăng, Trà Cú, Đồng Tháp Mười, Giồng Riềng, biến vùng này thành vùng đất đai màu mỡ
Thế kỷ XI quốc gia ĂngKor phát triển hùng mạnh và trở thành đế chế ĂngKor – Người Khmer Nam bộ lúc này thuộc về đế chế ĂngKor Đến thế
kỷ XV do tranh giành quyền lực và bị các nước láng giềng Xiêm tấn công chính vì thế quốc gia ĂngKor cũng dần dần phân hóa và suy yếu.[15,tr.4] Từ thế kỷ XII, những người nông dân Khmer nghèo chống lại sự bóc lột hà khắc, nạn lao dịch của vua chúa và giai cấp phong kiến triều đại Ăngkor đã di cư đến vùng đất trên ngày một đông Tại đây, họ chiếm cứ những giồng cát lớn,
tổ chức thành những cụm cư trú tập trung theo mối quan hệ dòng họ và gia đình Tập quán cư trú này tác động sâu sắc tới khía cạnh tâm lý xã hội của người Khmer cho đến ngày nay dù không gian cư trú đã hoàn toàn biến đổi
Thế kỉ XVII – XVIII, vùng đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long nói chung và khu vực miền Nam sông Hậu nói riêng còn hoang vu Đó
là lúc nhiều quốc gia phong kiến ở những vùng lân cận lâm vào khủng hoảng, trên đường suy yếu, thậm trí xấu xé lẫn nhau như ở Trung Quốc diễn
ra sự tranh giành quyền lực giữa nhà Thanh và nhà Minh Ở Chân Lạp bùng lên những mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ vương triều Ăngkor Ở Việt Nam xảy ra cuộc nội chiến tương tàn giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh và họ Nguyễn Chính sự khủng hoảng và suy yếu của các quốc gia phong kiến này
Trang 32đã tác động rất sâu sắc tới cục diện vùng đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long, trong đó có miền đất phía Nam sông Hậu Các cuộc chiến tranh liên miên đã làm cho đời sống nhân dân ngày càng cơ cực, bi đát mất mát nặng nề Từ thế kỷ XV trở đi khi đế chế Ăngkor sụp đổ, người dân Campuchia, kể cả quan lại, sư sãi và trí thức Khmer đương thời, càng rơi vào cảnh đói nghèo và bị đàn áp nặng nề bởi phong kiến ngoại tộc Thái Lan,
để thoát khỏi áp bức ngoại tộc người Khmer đã di cư đến ĐBSCL ngày một đông Họ đã dừng chân ghé vào khắp các vùng đất ĐBSCL, được dân bản
xứ giúp đỡ Cuộc di dân tự do này kéo dài đến thế kỉ XVII ( 1625 ) khi mà triều đình ĂngKor có mối quan hệ ban giao hữu nghị với triều đình nhà Nguyễn Vua ĂngKor lúc này là Cheay Ched Tha thứ 2 đã chính thức nhập 40.000 hộ người Việt Nam vào ĐBSCL sinh sống
Trong bối cảnh đó, miền đất Sóc Trăng có đặc điểm địa lý – tự nhiên khá độc đáo: vừa nằm ven sông Hậu, vừa giáp biển (với 3 cửa sông lớn: Định An, Ba Thắc, Trần Đề) lại có nhiều giồng đất ở bình độ tương đối cao,
vì vậy Sóc Trăng sớm trở thành đầu mối giao lưu và là địa bàn dừng chân lý tưởng cho những nhóm di dân bằng đường biển và đường sông rạch – vốn là những tuyến giao thông chủ yếu và duy nhất
Đầu thế kỉ XVII ở Sóc Trăng, người Khmer là tộc người có dân số đông nhất tại địa phương Tại Sóc Trăng và các vùng phụ cận, trong một thời gian khá dài, người Khmer sinh sống tự quản, không chịu sự quản lý của bất cứ một quốc gia nào, vì Sóc Trăng là một vùng đất biến viễn, xa xôi chưa ai tới Các đợt di dân của người Việt và người Hoa đã đẩy nhanh quá trình khẩn hoang vùng đất mới Trải qua nhiều thế kỷ cộng cư, các dân tộc Việt, Khmer, Hoa đã có một quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa lâu dài nên
đã hình thành một thiết chế văn hóa chung cho vùng đất Nam bộ, bên cạnh những yếu tố văn hóa riêng của từng tộc người
Trang 33Như vậy cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng xuất hiện khá sớm, do những người di cư tự do đến cư trú, tổ chức xã hội của người Khmer bắt đầu vào những năm của thế kỉ XIII và thịnh hành vào thế kỉ XVI-XVII về sau này nhiều Chùa ở Sóc Trăng đã chứng minh đều đó:
- Chùa prasath-Kông “Tắc gồng” ở Tham Đôn Huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc trăng xây dựng từ năm 1224, người Khmer trong vùng còn gọi là chùa Vua Theo lời kể của các cụ già và sư cả ở chùa, một ông vua Khmer nào đó
đã từng chạy loạn và dừng chân ở đây, vùng đất nơi vua ở gọi là đất vua, sau
đó người Khmer chọn đất đây làm chùa nên bà con gọi là chùa vua [25, tr.32]
- Chùa Chrem Tung Chắc ở Đại Tâm (Mỹ xuyên) xây dựng từ năm 1465;
- PeAn Som Rath ở An Hiệp – Mỹ Tú từ năm 1494
Ở huyện Mỹ Tú, xã phú Tân có một Sóc (Srok) người Khmer gọi là
“Som Pu Thlây” nghĩa là thuyền vỡ bị chìm, người dân cho biết rằng theo ông bà kể lại, xa xưa khi ấy sông nước còn mênh mông, có một con thuyền lớn, chở tới hàng trăm người của một hoàng thân hay hoàng tử Khmer nào
đó, chạy loạn về vùng này Chiếc thuyền bị thủng chìm dần những người trên thuyền phải vứt đồ đạc đi, kể cả những vật quý như chuông vàng, lu bằng đồng đen để “đựng nước” sau đó nơi nảy nổi lên thành giồng cát, người Khmer gọi là giồng “Som Pu Thlây” và sóc trên giồng đó gọi là sóc
“Som Pu Thlây”
Nhiều địa danh ở sóc trăng đến nay hãy còn mang dấu vết cư trú xa xưa của người Khmer Vốn là một dân tộc có nến văn minh Ăngkor rực rỡ, người Khmer đến đây xây Chùa, lập Sróc, mở mang nơi định cư mới với những tên gọi địa danh rất dân gian được lấy từ đặc điểm tự nhiên hay tình
cờ trong cuộc sống và còn được giữ đến ngày nay như Baichhau ( Bãi xàu ) tiếng Khmer có nghĩa là cơm sống; Srók Pô (Sốc Vồ ) có nghĩa là làng có
Trang 34cây Đa; Pong Tức ( Tuân Tức ) có nghĩa là trứng nước… và hàng trăm tên gọi tương tự khác còn được lưu giữ cho đến ngày nay
Từ lịch sử hình thành dân tộc, điều kiện cư trú, điều kiện chính trị của đất nước chúng ta có thể hiểu người Khmer Nam bộ là cộng đồng người có nguồn gốc từ dân tộc Khmer Campuchia song lại hình thành, phát triển trong quá trình khai phá vùng đất mới và hòa nhập vào nền văn hóa chung của dân tộc Việt Nam và trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng, có thể thấy người Khmer đã đóng góp nhiều công sức cho phát triển, mở mang vùng đất ngày càng phì nhiêu màu mở, giàu có và trong cuộc sống chống ngoại xâm bảo vệ quê hương đất nước, đặc biệt từ ngày có Đảng Cộng sản cộng đồng người Khmer có nhiều cống hiến quan trọng cho cách mạng Tuy nhiên, có một số vấn đề phức tạp, trong số người Khmer có những người bị kẻ thù lợi dụng, kích động đi ngược lại lợi ích của đại đa số trong cộng đồng, gây nguy hại cho dân tộc, cộng đồng và ảnh hưởng đến vấn đề an ninh trật tự ở địa phương
Hiện nay cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng với một lực lượng
sư sãi hàng nghìn người tập trung ở các chùa mà hạt nhân là Hội ĐKSSYN, một đội ngũ cán bộ cách mạng lão thành, nếu ta biết tranh thủ tốt các vị sư sãi, có một vị trí rất quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong cộng đồng người Khmer
Để tìm hiểu về vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong đời sống của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc trăng, luận văn trình bày một cách vắn tắt về tộc người Khmer trên một số mặt như dân số, hình thái cư trú, văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo
Trang 351.2.2 Những đặc điểm cơ bản của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
1.2.2.1 Đặc điểm về kinh tế, tổ chức xã hội của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc trăng
Cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng có thể khái quát qua các đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng có số dân cao nhất so với các tỉnh ĐBSCL, hình thái cư trú của người Khmer có những nét riêng, do chịu sự tác động của lịch sử tộc người, điều kiện địa lý môi sinh và
sự phân bố dân cư chung của tỉnh Đây là yếu tố quan trọng giúp họ bảo lưu
và giữ gìn truyền thống văn hóa tộc người của người Khmer
Dân số toàn tỉnh Sóc Trăng hiện nay theo số liệu của cục thống kê tỉnh Sóc Trăng tính đến hết 31/12/2010 là 1.300.828 người trong đó người Khmer có 399.463 người chiếm khoảng 30,7 % dân số toàn tỉnh
Bảng 1: Dân số Khmer trong tỉnh ( nguồn: Cục thống kê dân số tỉnh Sóc Trăng 12/2010) ĐVT: Người
Năm Dân số chung toàn tỉnh Dân số khmer Tỷ lệ
Trang 36Bảng 2: Phân bố dân cư Khmer trong tỉnh tính đến 2010 (Nguồn của Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng).ĐVT: Người
Đơn vị Dân số ( người) Người Khmer Tỷ lệ
Ghi chú: Số liệu Thống kê ngày 31/12/2010
Ở tỉnh Sóc Trăng, đồng bào Khmer cư trú xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trên khắp các huyện, thị trong tỉnh Trong đó Huyện Vĩnh Châu có người Khmer đông nhất, tiếp theo là huyện Mỹ Xuyên, Mỹ Tú Các điểm
cư trú của người Khmer, ngoài việc phân bố ven biển và ven cửa sông Hậu, còn trãi dài theo các trục đường lộ chính “Sóc Trăng – đại ngãi; Sóc Trăng – Bạc Liêu” Trãi qua quá trình định cư cùng chung sống với người Kinh, người Hoa, người Khmer đã tạo nên một truyền thống văn hóa, lịch sử phong phú và góp nhiều công sức vào việc khai phá và bảo vệ vùng đất Sóc Trăng Tuy sống xen kẽ với các dân tộc khác nhưng đặc điểm cư trú của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng có những nét riêng, có thể
Trang 37quy hình thái cư trú của cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng thành các vùng chủ yếu sau:
Hình thức cư trú trên đất giồng cát: Người Khmer gọi đất cát giồng là
“Đây Phnô” Đất giồng là loại phù sa cổ, trên mặt là đất cát pha thịt, dưới sâu là đất sét, dễ thoát nước, đất đai khô ráo và không bị nhiễm mặn Do lịch
sử tự nhiên, sau thời kỳ biển lùi, để lại trên đất Sóc Trăng ngày nay rất nhiều giồng cát có chiều dài hàng chục cây số Người Khmer đầu tiên đến Sóc Trăng đã chọn giồng làm nơi cư trú chủ yếu để xây dựng nơi ở, các khu sinh hoạt khác như: Chùa chiền, tháp, Salteh (nhà ban phước), phum sóc và sớm biết khai phá vùng đất trũng xung quanh giồng trồng lúa nước [ 6,tr.10 ]
Tuyệt đại đa số các Phum Sóc của người Khmer là ở trên đất giồng
“Đây là hình thái cư trú phổ biết nhất và cũng là hình thái cư trú sớm nhất của người Khmer ở vùng ĐBSCL” [18,tr.39] Có thể nói đất giồng là nơi cư trú đầu tiên của người Khmer ở ĐBSCL và Sóc Trăng Vì lẽ tự nhiên, thời
xa xưa, ở khu vực Sóc Trăng nói riêng và ĐBSCL nói chung còn hoang vu, ngập lụt thì chính đất giồng là nơi dừng chân thích hợp đầu tiên của con người “Trên đất giồng, trải qua bao nhiêu thế hệ kế tiếp nhau, người Khmer
đã biến đổi môi sinh tạo nên một cảnh quan cư trú mang tính đặc thù, thể hiện văn hóa tộc người truyền thống của người Khmer ở ĐBSCL khác với người Khmer Campuchia” [19,tr.7] Riêng đối với cộng đồng người Khmer tỉnh Sóc Trăng cư trú và khai thác giữa những vùng trồng lúa lớn và những vùng trồng màu trên đất giồng quanh thị xã Sóc Trăng, Long Phú, Mỹ Tú,
Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, người Khmer đã lập cư lâu đời trên những giồng đất này Trong quá trình sinh sống, cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng từ rất sớm đã nắm được phương pháp trị thủy cũng như các phương pháp thủy lợi khác Ở gần sông rạch lợi dụng khi thủy triều lên, những người nông dân đưa nước vào ruộng rồi đắp đập nhỏ giữ nước, rửa phèn cho ruộng “Đến kỳ
Trang 38hạn khi lúa sắp lên đòng thì phá đập xả phèn, bắt cá xong khi thủy triều lên lại đắp đập để chứa nước sông bồi đắp phù sa.” [16,tr.220] Cụ thể, “hiện nay ở huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng có 54 ấp người Khmer, thì 50 ấp là trên đất giồng Trên các giồng này, cư dân tập tung hết sức đông đúc, như giồng Kompong Thung nằm phía Bắc thị xã Sóc Trăng thuộc ba xã Phú Tâm, Phú Tân và An Hiệp là một ví dụ” [19,tr.6]
Cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng thường cư trú trên các
“giồng” khác với người Việt ở vùng thấp và người Hoa ở vùng chợ Việc cư trú lâu đời đã tạo thành khối đoàn kết cộng đồng dân tộc chặt chẽ và cũng rất thuận lợi trong việc bảo lưu bền vững các giá trị truyền thống qua các phong tục lễ nghi
Hình thức cư trú trên đất ruộng: Vào khoảng thế kỷ XVIII đến XIX,
công cuộc khai khẩn và di dân của người Việt đến Sóc Trăng ngày càng được đẩy mạnh, ngoài ra còn do áp lực của tăng nhanh dân số, làm cho đất đai hoang hóa ngày càng bị thu hẹp Những vùng đất tốt, màu mỡ đã bị khai phá gần hết chỉ còn rừng hoang, bưng phèn, những cư dân ở Sóc Trăng phải
đi xa hơn khai phá những vùng đất cằn cỗi, những bưng phèn chỉ canh tác được một vụ “Dưới áp lực của dân số, những giồng đất không còn đủ sức chứa do mật độ dân cư ngày càng đông Mặt khác, để tiện lợi trong việc canh tác, các phum sóc chật chội trên các giồng được chia ra, người Khmer bắt đầu chuyển xuống đất ruộng đắp thành những giồng nhân tạo để thành lập các phum sóc mới” [18,tr.41] Hình thức cư trú này thường gặp ở các
xã Tài Văn, Viên An (huyện Mỹ xuyên), Phú Mỹ (huyện Mỹ Tú) Ngoài
ra, còn có các cụm phum sóc nhỏ hầu như cô lập vào những vùng trũng, nhưng những cư dân ở đây đã đắp các giồng nhân tạo để xây dựng phum sóc, hình thức này thường thấy các vùng ven biển Vĩnh Châu như các xã: Lạc Hòa, Vĩnh Hải, Vĩnh Châu; Lịch Hội Thượng[20,tr.103] Đây là kiểu
Trang 39cư trú độc đáo, phản ánh một tập quan cư trú đã thành một thói quen và khả thích ứng, sáng tạo của người Khmer trong cuộc đấu tranh sinh tồn và khai phá vùng đất mới
Hình thức cư trú ven theo kênh và các con rạch nhỏ: Sóc Trăng có hệ
thống kênh rạch chằng chịt được hình thành bởi những kênh rạch tự nhiên hoặc kênh đào tạo nên một nền văn minh kênh rạch của vùng sông nước Hình thức cư trú này của người Khmer cũng khá phổ biến và là nơi cư trú khá lâu đời, so với loại hình cư trú trên đất ruộng Do sống theo hai bờ sông, rạch, các ngôi nhà của người Khmer xây dựng nối tiếp nhau quay mặt ra kênh, trông giống như làng xóm của người Việt, phía sau có mảnh vườn nhỏ, có khi có ao cá, xa hơn là đất ruộng Khuôn viên của gia đình được bao bọc bởi một vòng mương làm ranh giới giữa các hộ Mỗi phum sóc có thể có hai hoặc ba lớp nhà như vậy nằm song song dọc theo kênh [18,tr.43] Hình thức cư trú này chủ yếu dọc theo hai bờ kênh xáng (Phụng Hiệp-Mỹ Tú); Ở huyện Kế Sách, người Khmer tập trung ở dọc kênh đào từ Thị trấn Kế Sách đến xã Thới An Hội
Có thể thấy rằng, hình thức cư trú ven theo kênh và các con rạch nhỏ của đồng bào Khmer tạo nên một lối sống, cách sinh hoạt mang nét đặc thù văn hóa riêng Hình thái cư trú này mang tính chất phân vùng tự nhiên, không có sự tác động của Nhà nước, nhưng phần nào tự nó đã nói lên một điều là Sóc trăng có sự phân liệt vùng văn hóa rất thuận lợi cho việc tổ chức văn hóa cơ sở
Hình thức cư trú dọc theo trục lộ giao thông: Khác với người Việt và
người Hoa trong vùng, theo truyền thống của người Khmer không có thói quen cư trú dọc theo các trục lộ giao thông, họ thường bám đất giồng và các kênh rạch để cư trú thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Hình thức cư trú dọc theo trục lộ giao thông của người Khmer là kết quả của quá trình đô thị
Trang 40hóa nông thôn của Đảng, Nhà nước nhằm nối các thị trấn, thị tứ và các trục
lộ liên xã, liên huyện trong những năm gần đây ở tỉnh Sóc Trăng Điều này không phải do nhu cầu phát triển kinh tế thương nghiệp hay dịch vụ, mà đó
là quá trình công nghiệp hóa trong nông nghiệp và nông thôn Tuy cư trú dọc theo các trục lộ giao thông nhưng đồng bào Khmer chủ yếu vẫn làm nông nghiệp, chỉ có một số ít chuyển sang buôn bán hay làm các nghề dịch
vụ khác Hình thức cư trú này thấy rõ ở các tuyến đường từ thị xã Sóc Trăng đến Đại Ngãi; Sóc Trăng đến Bạc Liêu và các tuyến đường ven biển huyện Vĩnh Châu
Hình thái cư trú hỗn hợp các dân tộc là hình thái chiếm ưu thế trên vùng người Khmer cư trú Ở những vùng trọng điểm lúa thuộc những sóc trên giồng xa đường giao thông và những sóc dọc theo các con kênh rạch, hiện tượng cư trú hỗn hợp Khmer – Việt chiếm ưu thế Ngược lại ở những điểm cư trú của người Khmer ven trục lộ giao thông, đặc biệt là ven các thị
xã, thị trấn thì hình thái cư trú hỗn hợp ba dân tộc Khmer – Việt – Hoa là phổ biến
Như vậy, tùy theo những vùng môi sinh khác nhau nên mỗi vùng có những hình thức cư trú khác nhau ở các dạng sóc thuần Khmer và sóc hỗn hợp Khmer-Việt; Khmer-Hoa Nhưng dù môi sinh như thế nào, thành phần tộc người có khác nhau, nhưng xét về cấu trúc xã hội, tính chất và chức năng của phum sóc vẫn không có gì thay đổi Đây là yếu tố quan trọng nhất giúp người Khmer bảo lưu và giữ gìn được truyền thống văn hóa tộc người của mình Phum sóc Khmer chính là cái khung văn hóa – xã hội để trong đó văn hóa Khmer nảy nở, phát triển và lưu truyền đến ngày nay
Thứ hai, cộng đồng người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng sinh sống chủ yếu
ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp có một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế và có ảnh hưởng đến các mặt sinh hoạt văn hóa, xã hội, tôn giáo