Với mong muốn cung cấp một góc nhìn mới về giáo dục đối với các tộc người thiểu số bằng những phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngành nhân học nói chung, chúng tôi c
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Khái quát về tộc người Nùng ở Việt Nam
1.3 Sơ lƣợc địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến, huyện Bù Đốp
2.1 Hiện trạng và điều kiện giáo dục tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Yếu tố ảnh hưởng tới việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc đi học của học sinh tiểu học
3.1 Phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm dài hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước
3.2 Một số khuyến nghị và giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Định nghĩa một số khái niệm
Với nội dung nghiên cứu chính là các yếu tố ảnh hưởng tới việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng tỉnh Bình Phước, chúng tôi sẽ làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đề tài nhƣ giáo dục ngôn ngữ, nhân học giáo dục, giáo dục tiểu học, tộc người, văn hóa tộc người để có thể sử dụng chính xác các khái niệm nội hàm của những khái niệm này trong nghiên cứu luận văn
Nhân học giáo dục: Nhƣ chúng tôi đã trình bày ở trên, nhân học giáo dục là một phạm trù rất mới trong nghiên cứu nhân học ở Việt Nam nói chung cũng nhƣ các nghiên cứu nhân học giáo dục ở các tộc người thiểu số di cư tới vùng đất mới Theo PGS TS Phan Thị Yến Tuyết: “Nhân học giáo dục nghiên cứu nhân học trong lớp học, ở gia đình và các vùng phụ cận, xem sinh viên và học sinh nhƣ những chủ thể văn hóa mà quá trình nhập thân văn hóa và thái độ của họ về giáo dục thuộc về một bối cảnh rộng lớn hơn bao gồm cả gia đình, bạn bè và xã hội” ( 2008, tr 55)
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước không chỉ được hiểu đơn thuần hay nhìn nhận ở góc độ bề nổi là do điều kiện kinh tế-xã hội, mà ngay cả vấn đề ngôn ngữ và chính sách giáo dục ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng giáo dục chung cũng như khả năng có thể học lên các lớp cao hơn của học sinh tộc người Nùng
Giáo dục ngôn ngữ: “Theo cách hiểu chung nhất, “giáo dục” là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến đối tƣợng nào đó, làm cho đối tƣợng ấy có đƣợc những phẩm chất và năng lực theo những yêu cầu nhất định Nhƣ vậy, giáo dục ngôn ngữ phải đƣợc hiểu là hoạt động của giáo viên tác động tới học sinh (hay người học nói chung), nhằm làm cho học sinh có được một năng lực nhất định trong sử dụng ngôn ngữ” (PGS.TS Tạ Văn Thông)
Ngoài ra, Luật Giáo dục Việt Nam 2005 nêu rất rõ những khái niệm giáo dục tiểu học, phát triển giáo dục, đầu tư cho giáo dục, trách nhiệm của nhà trường, trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của xã hội Những khái niệm này không chỉ để áp dụng cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển giáo dục cho các tộc người có dân số đông ở Việt Nam, mà còn cho cả những tộc người thiểu khác, trong đó có tộc người Nùng
Giáo dục tiểu học: “Giáo dục tiểu học đƣợc thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp tục học trung học cơ sở” (Luật Giáo dục, 2005)
Phát triển giáo dục: “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lƣợng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng” (Luật Giáo dục, 2005) Đầu tư cho giáo dục: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Nhà nước ƣu tiên đầu tƣ cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tƣ cho giáo dục.” (Luật Giáo dục, 2005)
Ngoài yếu tố bản thân trẻ, yếu tố nhà trường, gia đình và xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc đi học của trẻ Do đó việc làm rõ các khái niệm về trách nhiệm của nhà trường, trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của xã hội giúp chúng tôi có khuyến nghị cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến
Trách nhiệm của nhà trường: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” (Luật Giáo dục, 2005)
Trách nhiệm của gia đình: “Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo dục” (Luật Giáo dục, 2005)
Trách nhiệm của xã hội: “Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có các trách nhiệm sau đây: a) Giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham quan, thực tập, nghiên cứu khoa học; b) Góp phần xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; c) Tạo điều kiện để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể thục, thể thao lành mạnh; và d) Hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình” (Luật Giáo dục,
Ngoài ra, trong luận văn chúng tôi sẽ sử dụng các thuật ngữ “tộc người” và
“văn hóa tộc người” và với tập trung chính vào tộc người Nùng và văn hóa tộc người Nùng di cư từ tỉnh Cao Bằng (một số ít là tỉnh Lạng Sơn) vào xã Tân Tiến và sự phát triển giáo dục của con em tộc người Nùng trong điều kiện sống mới
Tộc người (ethnie) : “Tộc người (ethnie) là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ) Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” (GS Đặng Nghiêm Vạn, 2009)
Văn hóa tộc người: “Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” (GS Ngô Văn Lệ, 2004)
Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được các cơ quan địa phương áp dụng nhằm điều hành việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Chúng tôi muốn tìm hiểu rõ những khái niệm này để đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố kinh tế tới việc đầu tư giáo dục của nhà trường và xã hội nói chung cũng như sự đầu tư cho trẻ đi học ở tộc người Nùng nói riêng
Hộ nghèo: “ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ
Lý thuyết nghiên cứu
Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến, huyện Bù Đốp
2.1 Hiện trạng và điều kiện giáo dục tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Yếu tố ảnh hưởng tới việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc đi học của học sinh tiểu học
3.1 Phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm dài hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước
3.2 Một số khuyến nghị và giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Định nghĩa một số khái niệm
Với nội dung nghiên cứu chính là các yếu tố ảnh hưởng tới việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng tỉnh Bình Phước, chúng tôi sẽ làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đề tài nhƣ giáo dục ngôn ngữ, nhân học giáo dục, giáo dục tiểu học, tộc người, văn hóa tộc người để có thể sử dụng chính xác các khái niệm nội hàm của những khái niệm này trong nghiên cứu luận văn
Nhân học giáo dục: Nhƣ chúng tôi đã trình bày ở trên, nhân học giáo dục là một phạm trù rất mới trong nghiên cứu nhân học ở Việt Nam nói chung cũng nhƣ các nghiên cứu nhân học giáo dục ở các tộc người thiểu số di cư tới vùng đất mới Theo PGS TS Phan Thị Yến Tuyết: “Nhân học giáo dục nghiên cứu nhân học trong lớp học, ở gia đình và các vùng phụ cận, xem sinh viên và học sinh nhƣ những chủ thể văn hóa mà quá trình nhập thân văn hóa và thái độ của họ về giáo dục thuộc về một bối cảnh rộng lớn hơn bao gồm cả gia đình, bạn bè và xã hội” ( 2008, tr 55)
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước không chỉ được hiểu đơn thuần hay nhìn nhận ở góc độ bề nổi là do điều kiện kinh tế-xã hội, mà ngay cả vấn đề ngôn ngữ và chính sách giáo dục ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng giáo dục chung cũng như khả năng có thể học lên các lớp cao hơn của học sinh tộc người Nùng
Giáo dục ngôn ngữ: “Theo cách hiểu chung nhất, “giáo dục” là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến đối tƣợng nào đó, làm cho đối tƣợng ấy có đƣợc những phẩm chất và năng lực theo những yêu cầu nhất định Nhƣ vậy, giáo dục ngôn ngữ phải đƣợc hiểu là hoạt động của giáo viên tác động tới học sinh (hay người học nói chung), nhằm làm cho học sinh có được một năng lực nhất định trong sử dụng ngôn ngữ” (PGS.TS Tạ Văn Thông)
Ngoài ra, Luật Giáo dục Việt Nam 2005 nêu rất rõ những khái niệm giáo dục tiểu học, phát triển giáo dục, đầu tư cho giáo dục, trách nhiệm của nhà trường, trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của xã hội Những khái niệm này không chỉ để áp dụng cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển giáo dục cho các tộc người có dân số đông ở Việt Nam, mà còn cho cả những tộc người thiểu khác, trong đó có tộc người Nùng
Giáo dục tiểu học: “Giáo dục tiểu học đƣợc thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp tục học trung học cơ sở” (Luật Giáo dục, 2005)
Phát triển giáo dục: “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lƣợng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng” (Luật Giáo dục, 2005) Đầu tư cho giáo dục: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Nhà nước ƣu tiên đầu tƣ cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tƣ cho giáo dục.” (Luật Giáo dục, 2005)
Ngoài yếu tố bản thân trẻ, yếu tố nhà trường, gia đình và xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc đi học của trẻ Do đó việc làm rõ các khái niệm về trách nhiệm của nhà trường, trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của xã hội giúp chúng tôi có khuyến nghị cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc đi học của học sinh tiểu học người Nùng xã Tân Tiến
Trách nhiệm của nhà trường: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” (Luật Giáo dục, 2005)
Trách nhiệm của gia đình: “Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo dục” (Luật Giáo dục, 2005)
Trách nhiệm của xã hội: “Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có các trách nhiệm sau đây: a) Giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham quan, thực tập, nghiên cứu khoa học; b) Góp phần xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; c) Tạo điều kiện để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể thục, thể thao lành mạnh; và d) Hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình” (Luật Giáo dục,
Ngoài ra, trong luận văn chúng tôi sẽ sử dụng các thuật ngữ “tộc người” và
“văn hóa tộc người” và với tập trung chính vào tộc người Nùng và văn hóa tộc người Nùng di cư từ tỉnh Cao Bằng (một số ít là tỉnh Lạng Sơn) vào xã Tân Tiến và sự phát triển giáo dục của con em tộc người Nùng trong điều kiện sống mới
Tộc người (ethnie) : “Tộc người (ethnie) là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ) Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” (GS Đặng Nghiêm Vạn, 2009)
Văn hóa tộc người: “Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” (GS Ngô Văn Lệ, 2004)
Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được các cơ quan địa phương áp dụng nhằm điều hành việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Chúng tôi muốn tìm hiểu rõ những khái niệm này để đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố kinh tế tới việc đầu tư giáo dục của nhà trường và xã hội nói chung cũng như sự đầu tư cho trẻ đi học ở tộc người Nùng nói riêng
Hộ nghèo: “ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ