Và ngay từ khi thành lập, các trường đại học, cao đẳng đào tạo theo mô hình này đã không ngừng thay đổi chương trình đào tạo, chiêu mộ đội ngũ giảng viên giỏi, đầu tư cơ sở vật chất – tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: KHOA HỌC THƯ VIỆN
Mã số: 60.32.20
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THU THẢO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đối với TS Nguyễn Thu Thảo, người đã hướng dẫn tôi tận tình, giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô giáo khoa Thư viện – Thông tin học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐHQG Tp HCM) đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn (ĐHQG Tp HCM)
Tôi xin cảm ơn các anh chị đồng nghiệp tại TVĐHQT Tp HCM, TVĐHQT RMIT Tp HCM đã cung cấp số liệu và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, cho phép tôi gửi lời cám ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình làm luận văn
Tp HCM, ngày 24 tháng 03 năm 2012
Lã Thị Thanh Phụng
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ - CỤM TỪ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Hướng tiếp cận đề tài 8
8 Đóng góp của đề tài 8
9 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG I: CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO THEO CHƯƠNG TRÌNH QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 10
1.1 Các vấn đề chung về công tác phục vụ NDT trong hoạt động thông tin-thư viện 10
1.1.1 Các khái niệm chung 10
1.1.1.1 Người dùng tin 10
1.1.1.2 Công tác phục vụ người dùng tin 11
1.1.1.3 Chương trình đào tạo quốc tế 11
1.1.2 Các nhiệm vụ của công tác phục vụ NDT 12
1.1.2.1 Nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc 12
1.1.2.2 Hướng dẫn sử dụng thư viện 13
1.1.2.3 Tuyên truyền, giới thiệu về thư viện 13
1.1.2.4 Phục vụ người dùng tin thông qua các sản phẩm, dịch vụ 14 1.1.3 Các nguyên tắc của công tác phục vụ NDT 14
1.1.4 Vai trò của công tác phục vụ NDT 15
1.1.5 Các yếu tố tác động đến công tác phục vụ NDT 16
Trang 51.1.5.1 Nguồn lực thông tin 16
1.1.5.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 16
1.1.5.3 Cán bộ thư viện 16
1.1.6 Tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác phục vụ người dùng tin 17
1.1.6.1 Mức độ đảm bảo các nguyên tắc phục vụ 17
1.1.6.2 Hiệu quả phục vụ người dùng tin 18
1.2 Đặc điểm của các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM 18
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ 18
1.2.2 Phương pháp dạy và học 19
1.2.3 Đặc điểm về người dùng tin và nhu cầu tin 23
1.2.3.1 Đặc điểm người dùng tin 23
1.2.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin 25
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TRONG THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO THEO CHƯƠNG TRÌNH QUỐC TẾ 37
2.1 Hiện trạng thực thi các nhiệm vụ phục vụ người dùng tin 37
2.1.1 Nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin 37
2.1.2 Tuyên truyền, giới thiệu về thư viện 38
2.1.3 Hướng dẫn sử dụng thư viện 39
2.1.4 Phục vụ người dùng tin thông qua các sản phẩm, dịch vụ 41
2.1.4.1 Cung cấp sản phẩm thông tin - thư viện 41
2.1.4.2 Cung cấp dịch vụ thông tin - thư viện 61
2.2 Các yếu tố tác động đến công tác phục vụ NDT 75
2.2.1 Nguồn lực thông tin 76
2.2.2 Nhân lực 79
2.2.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 80
2.2.4 Chính sách phục vụ NDT 84
Trang 62.4 Điểm mạnh của công tác phục vụ NDT TVĐHQT RMIT TP HCM 94
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO THEO CHƯƠNG TRÌNH QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM 96
3.1 Chính sách đầu tư phát triển thư viện 96
3.1.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của thư viện trong hoạt động cung cấp thông tin 97
3.1.2 Tăng cường tiềm lực cho hoạt động thư viện 97
3.1.2.1 Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị 97
3.1.2.2 Tăng cường nguồn lực thông tin 98
3.1.2.3 Tăng cường bổ sung kinh phí cho hoạt động thư viện 100
3.1.2.4 Chú trọng công tác phát triển đội ngũ cán bộ thư viện 101
3.2 Tăng cường nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin 101
3.3 Tăng cường hoạt động tuyên truyền, giới thiệu về thư viện 103
3.4 Tăng cường hoạt động hướng dẫn sử dụng thư viện 105
3.5 Hoàn thiện và phát triển sản phẩm, dịch vụ thông tin – thư viện 107
3.5.1 Hoàn thiện sản phẩm thông tin – thư viện 107
3.5.2 Hoàn thiện dịch vụ thông tin – thư viện 108
3.5.3 Phát triển sản phẩm thông tin – thư viện 110
3.5.4 Phát triển dịch vụ thông tin – thư viện 110
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 1 CÁCH TÍNH KÍCH THƯỚC MẪU ĐIỀU TRA 120
PHỤ LỤC 2 VĂN BẢN DO NHÀ NƯỚC BAN HÀNH 122
PHỤ LỤC 3 MẪU PHIẾU KHẢO SÁT NDT 131
PHỤ LỤC 4 NỘI DUNG PHỎNG VẤN CÁN BỘ THƯ VIỆN 146
PHỤ LỤC 5 HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG CỦA TVĐHQT RMIT TP HCM 148
Trang 79 TLTK Tài liệu tham khảo
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Giáo dục Việt Nam cũng đang từng bước thay đổi để có thể đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hòa nhập quốc tế Trong quy hoạch mạng lưới đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 – 2010 ban hành kèm theo Quyết định số
47/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu: “Các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cần phải đi đầu trong quá trình hội nhập với nền giáo dục đại học, cao đẳng của các nước trong khu vực
và quốc tế, đa dạng hóa các hình thức đầu tư trong và ngoài nước, liên kết với các trường đại học, cao đẳng có uy tín trên thế giới để nâng cao chất lượng đào tạo”
Bên cạnh đó, ở nước ta nhu cầu đạt được bằng cấp đại học trình độ quốc tế hoặc bằng cấp ngoại ngữ được quốc tế công nhận ngày càng cao Vì vậy một số trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Tp HCM được thành lập trên cơ sở liên kết đào tạo với các trường nước ngoài có uy tín để nâng cao chất lượng đào tạo Tính quốc tế của một trường đại học thể hiện ở phương pháp giảng dạy hiện đại, đội ngũ giảng viên hùng hậu, giỏi chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp; Cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ phục vụ nghiên cứu và giảng dạy; Đội ngũ cán bộ quản lý tận tâm, chuyên nghiệp; Lực lượng sinh viên chất lượng cao; Sinh viên tốt nghiệp trở thành những cán bộ có trình độ chuyên môn cao, ngoại ngữ thành thạo, có khả năng làm việc trong nước và nước ngoài, góp phần đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tp HCM nói riêng và cả nước nói chung
Thực tế có không ít cơ sở đào tạo theo chương trình quốc tế thực sự đầu tư nghiêm túc về cơ sở vật chất cũng như chất lượng giảng dạy Và ngay từ khi thành lập, các trường đại học, cao đẳng đào tạo theo mô hình này đã không ngừng thay đổi chương trình đào tạo, chiêu mộ đội ngũ giảng viên giỏi, đầu tư cơ sở vật chất – trang thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế, và việc không kém phần quan trọng là xây dựng một thư viện hiện đại với nguồn lực thông tin mạnh, công tác phục vụ người dùng tin thật tốt để trợ giúp đắc lực cho việc giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và sinh viên trong trường Điều này đã và đang tạo nên sự tín nhiệm trong lòng
Trang 9người học Tuy nhiên, cũng còn một số trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế đã đi vào hoạt động nhiều năm nhưng thư viện của trường vẫn chưa được quan tâm đúng mức, cơ sở vật chất của thư viện nhỏ hẹp, trang thiết bị lạc hậu, vốn tài liệu thiếu, các sản phẩm dịch vụ thư viện chưa được chú trọng nâng cao chất lượng
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Khảo sát công tác phục vụ người dùng tin tại thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM” với mong muốn tìm ra ưu, nhược điểm trong công tác phục vụ người dùng tin của thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM từ đó đưa ra phương án khắc phục những mặt còn hạn chế và chọn ra được những ưu điểm có thể ứng dụng vào thư viện các trường đại học đào tạo theo
chương trình trong nước
+ Luận văn “Hiện đại hóa công tác phục vụ người dùng tin tại Trung tâm Thông tin
- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Lê Minh Thu năm 2006;
+ Luận văn “Đổi mới phương thức phục vụ người đọc tại thư viện một số trường văn hóa nghệ thuật trực thuộc Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch trên địa bàn Tp HCM” của tác giả Lê Thị Xuân Thùy năm 2008
Ngoài ra còn một số bài viết được đăng trên tập san Thư viện như:
+ Công tác phục vụ người đọc ở Thư viện tỉnh Bình Định của tác giả Hồ Công
Trang 10+ Hội nghị “Công tác phục vụ bạn đọc của hệ thống thư viện công cộng” của tác giả Nguyễn Mạnh Khiêm, đăng trên tập san Thư viện, số 3, 2003 (Tr 80);
+ Công tác phục vụ bạn đọc ở Thư viện Phân viện Báo chí và Tuyên truyền của tác giả Vũ Thị Hồng Luyến đăng trên tập san Thư viện, số 3, năm 2002(Tr.65–66); + Công tác phục vụ bạn đọc trong thư viện của tác giả Lê Văn Viết, trích trong giáo trình cẩm nang nghề thư viện xuất bản năm 2000, Tr 370 – 488
Nội dung của các đề tài này chủ yếu khảo sát thực trạng công tác phục vụ NDT và đưa ra giải pháp đổi mới công tác phục vụ tại một số trường đại học đào
tạo theo chương trình trong nước Đề tài“Khảo sát công tác phục vụ NDT tại thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM”
nghiên cứu công tác phục vụ người dùng tin tại thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM thông qua việc đánh giá chất lượng các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho NDT nên phạm vi nghiên cứu của đề tài này hoàn toàn mới
3 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra kiến nghị nâng cao chất lượng công tác phục vụ NDT tại các trường nói trên, đồng thời phát hiện những phương thức ưu việt có thể học hỏi áp dụng vào thực tiễn của thư viện các trường đại học khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Công tác phục vụ NDT của thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tại TVĐHQT RMIT Tp HCM và TVĐHQT Tp HCM
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu chức năng nhiệm vụ của thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế
- Khảo sát điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, nguồn lực thông tin, đặc điểm NDT của TVĐHQT RMIT Tp HCM và TVĐHQT Tp HCM
Trang 11- Nghiên cứu hiện trạng phục vụ NDT của TVĐHQT RMIT Tp HCM và TVĐHQT Tp HCM
- Đánh giá và đưa ra các kiến nghị, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phục vụ NDT
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu
7 Hướng tiếp cận đề tài
- Các tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
- Các đề tài luận văn của ngành
- Các bài báo, tham luận… trong nước và nước ngoài
- Giáo trình, tài liệu tham khảo
8 Đóng góp của đề tài:
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò của công tác phục vụ
NDT trong các trường đại học có chương trình đào tạo tiên tiến tại Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Đóng góp các kiến nghị, giải pháp mang tính khoa học và
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác phục vụ NDT của thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế, đồng thời đúc rút kinh nghiệm cho thư viện các trường đại học khác
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm các chương sau:
Chương I Công tác phục vụ người dùng tin với thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM
Chương II Thực trạng công tác phục vụ người dùng tin trong thư viện các
Trang 12Chương III Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin của thư viện các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn
Tp HCM
Trang 13CHƯƠNG I CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN VỚI THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO THEO
CHƯƠNG TRÌNH QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 1.1 Các vấn đề chung về công tác phục vụ người dùng tin trong hoạt động thông tin-thư viện
1.1.1 Các khái niệm chung
1.1.1.1 Người dùng tin
Người dùng tin (NDT) là người sử dụng thông tin để thoả mãn nhu cầu của mình NDT là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu NDT vừa là khách hàng của dịch vụ thông tin, đồng
thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới
NDT giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: NDT luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin NDT tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin Họ biết các nguồn thông tin và có thể thông báo và đánh giá các nguồn tin đó Chính sách bổ sung phụ thuộc vào yêu cầu của NDT
Tùy vào từng loại trung tâm thông tin – thư viện, NDT được phân thành các nhóm khác nhau Đối với trung tâm thông tin – thư viện của các trường đại học, NDT thường được phân ra thành các nhóm sau:
● Nhóm NDT là cán bộ giảng dạy, nghiên cứu
● Nhóm NDT là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh
NDT giữ vai trò “trung tâm” trong các yếu tố cấu thành thư viện Điều này
Trang 14các nhu cầu tin của NDT Do vậy, tất cả các hoạt động liên quan đến khâu phục vụ
của thư viện đều cần được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu người NDT Các thư
viện không chỉ có nhiệm vụ thỏa mãn nhu cầu tin của NDT mà còn có trách nhiệm
trong việc giúp cho NDT có được những kĩ năng thông tin như xác định nguồn tin,
tìm kiếm và đánh giá chất lượng thông tin Thời gian gần đây các thư viện ở Việt
Nam đã có rất nhiều cố gắng trong việc đào tạo NDT bằng nhiều hình thức khác
nhau Hầu hết các thư viện đại học đều mở lớp hướng dẫn sử dụng thư viện đầu
năm cho sinh viên năm nhất Ví dụ như Thư viện RMIT Việt Nam đã thực hiện việc
hướng dẫn tra cứu CSDL cho NDT vào một ngày nhất định trong tuần, giúp NDT
tìm kiếm thông tin theo chuyên đề, hoặc đã xây dựng được trang facebook phục vụ
cho việc hỏi đáp giữa NDT và CBTV [42]
1.1.1.2 Công tác phục vụ người dùng tin
Công tác phục vụ NDT là hoạt động của thư viện nhằm tuyên truyền và đưa
ra phục vụ các dạng tài liệu, các sản phẩm, dịch vụ thông tin – thư viện nhằm thỏa
Trước đây, hầu hết các thư viện đều phục vụ NDT bằng phương thức truyền
thống nên chất lượng phục vụ không cao Ngày nay với việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào công tác phục vụ NDT đã rút ngắn được thời gian tra tìm tài liệu, tạo
ra nhiều sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện có chất lượng, các hình thức tuyên
truyền giới thiệu sản phẩm, dịch vụ phong phú đa dạng hơn từ đó kích thích nhu cầu
tin của NDT
1.1.1.3 Chương trình đào tạo quốc tế
Chương trình đào tạo là kế hoạch cho toàn bộ một khóa học Chương trình
này sẽ bao gồm mục tiêu của khóa học, những chủ điểm, những nguồn tài liệu được
sử dụng trong khóa học và những tiêu chí kiểm tra đánh giá Chương trình đào tạo
cũng có thể bao gồm những mục tiêu học tập, những hoạt động học tập và những
câu hỏi nghiên cứu Chương trình đào tạo đại diện cho kế hoạch của cả một khóa
học, những yếu tố của cả mục tiêu và phương diện của khóa học [50]
Trang 15Chương trình đào tạo quốc tế là chương trình đào tạo tại các trường có tư cách pháp nhân và uy tín của nước ngoài được ứng dụng vào các trường liên kết đào tạo, tạo động lực và điều kiện cho các đơn vị trực thuộc đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình và phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế
1.1.2 Các nhiệm vụ của công tác phục vụ người dùng tin
1.1.2.1 Nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc
Nhu cầu đọc là đòi hỏi khách quan của chủ thể (cá nhân hoặc một nhóm xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì hoạt động sống của con người, là một loại nhu cầu tinh thần bậc cao của con người vì chỉ có con người mới
có khả năng giải mã thông tin, mới có khả năng hình thành nhu cầu đọc Nhu cầu đọc phụ thuộc vào trình độ học vấn, trình độ văn hóa của từng cá nhân
Hứng thú đọc là sự ham thích đọc sách thuộc môn loại, thể loại nào đó Hứng thú đọc ảnh hưởng đến việc lựa chọn, cảm thụ và đánh giá tác phẩm Hứng thú đọc là động cơ thúc đẩy việc đọc
Nhu cầu đọc và hứng thú đọc có liên quan mật thiết với nhau Nhu cầu đọc là
cơ sở để nảy sinh hứng thú Hứng thú đọc tạo điều kiện cho việc thực hiện nhu cầu đọc đạt hiệu quả cao hơn
Nghiên cứu nhu cầu, hứng thú đọc giúp cho việc phục vụ bạn đọc có hiệu quả, tiến hành việc hướng dẫn đọc có hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ TT-TV; Giúp tuyên truyền sách đúng đối tượng NDT; Giúp cán bộ thư viện kiểm tra công tác của mình
Nhu cầu hứng thú đọc phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ văn hóa, giáo dục, hoạt động nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, dân tộc và học vấn…
Có hai phương pháp nghiên cứu nhu cầu hứng thú là nghiên cứu trực tiếp (trao đổi ý kiến với người đọc, phỏng vấn, quan sát khoa học) và nghiên cứu gián tiếp (thống kê thư viện, phân tích thẻ bạn đọc, nghiên cứu thẻ sách, phiếu khảo
Trang 161.1.2.2 Hướng dẫn sử dụng thư viện
Hướng dẫn sử dụng thư viện là hoạt động giúp NDT lựa chọn những tài liệu phù hợp với nhu cầu và sở thích, hình thành ở NDT các yêu cầu và nhu cầu tài liệu mới; Giúp NDT sử dụng các sản phẩm, dịch vụ TT-TV; Giúp NDT sử dụng các trang thiết bị hiện đại trong thư viện…
Các hình thức hướng dẫn sử dụng thư viện: Tổ chức các lớp tập huấn sử dụng thư viện; Cán bộ thư viện hướng dẫn trực tiếp NDT khi họ đến sử dụng thư viện; Biên soạn các tài liệu hướng dẫn để dán trên bảng thông báo, cập nhật trên website hoặc phát trực tiếp cho sinh viên; …
1.1.2.3 Tuyên truyền, giới thiệu về thư viện
Tuyên truyền, giới thiệu về thư viện là việc giới thiệu hoặc khai thác nội dung tài liệu trong thư viện, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ TT-TV cung cấp, quảng bá hình ảnh thư viện
Hoạt động tuyên truyền giới thiệu trong thư viện giúp cho NDT tiết kiệm thời gian tìm và chọn tài liệu phù hợp với nhu cầu của mình; Giới thiệu những phương pháp khai thác tài liệu có hiệu quả; Phát huy tính tích cực đọc của NDT và góp phần định hướng đọc cho NDT; Thu hút NDT đến với thư viện, góp phần làm tăng vòng luân chuyển của tài liệu, tạo điều kiện cho NDT khai thác hết những tài liệu phù hợp với nhu cầu của mình có trong thư viện
Có hai hình thức tuyên truyền trong thư viện là tuyên truyền miệng và tuyên truyền trực quan, tùy theo thời gian, điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng cụ thể mà thư viện tiến hành hoạt động tuyên truyền cho phù hợp
Tuyên truyền miệng là việc sử dụng lời nói trực tiếp tác động vào nhận thức của người nghe Tuyên truyền miệng có khả năng thông tin nhanh và kịp thời những vấn đề mới nhất, có thể truyền đạt thông tin đến nhiều người một lúc, có tính linh hoạt vì người làm công tác tuyên truyền có thể mở rộng, rút ngắn hoặc thêm bớt vấn
đề cho phù hợp với từng đối tượng, thời gian, hoàn cảnh cụ thể Có rất nhiều phương pháp tuyên truyền miệng nhưng phương pháp tuyên truyền miệng khả thi
Trang 17và thường được sử dụng nhất tại các thư viện đại học là hình thức điểm sách và hội nghị bạn đọc
Tuyên truyền trực quan trong thư viện là việc giới thiệu nội dung tài liệu, các sản phẩm dịch vụ TT-TV qua các hình thức cảm thụ bằng mắt, để lại những dấu ấn lâu bền trong lòng người xem Các hình thức tuyên truyền trực quan trong thư viện đại học thường sử dụng là hình thức triển lãm, trưng bày sách, tranh ảnh; Panô tuyên truyền sách, Panô hướng dẫn nghiệp vụ thư viện
Ngoài ra, việc tuyên truyền, giới thiệu về thư viện còn được một số thư viện thực hiện thông qua website thư viện Các thông tin được giới thiệu trên website thường là thông tin quảng bá về thư viện (giới thiệu về lịch sử hình thành thư viện, chức năng nhiệm vụ thư viện, tiềm lực của thư viện, các sản phẩm dịch vụ thư viện cung cấp cho NDT; thông tin về tài liệu (chọn một số sách có nội dung mới và có giá trị để giới thiệu trên website bằng hình thức điểm sách) [4], [14]
1.1.2.4 Phục vụ người dùng tin thông qua các sản phẩm và dịch vụ
Thư viện phục vụ NDT thông qua phương thức cung cấp các sản phẩm, dịch vụ TT-TV cho NDT Các sản phẩm TT-TV sẽ trợ giúp cho NDT trong việc tìm kiếm tài liệu phù hợp với nhu cầu của mình, bao gồm danh mục tài liệu, thư mục, cơ sở dữ liệu thư mục, cơ sở dữ liệu toàn văn…Các dịch vụ TT-TV bao gồm dịch vụ mượn tài liệu (dịch vụ đọc tại chỗ, dịch vụ mượn về nhà, dịch vụ mượn liên thư viện), dịch vụ sao chụp tài liệu, dịch vụ tìm tin theo yêu cầu, dịch
vụ phổ biến thông tin chọn lọc…
1.1.3 Các nguyên tắc của công tác phục vụ người dùng tin
Khi nghiên cứu về công tác phục vụ NDT, chúng ta cần phải quan tâm đến một
số nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc phục vụ có phân biệt: NDT chịu ảnh hưởng của các yếu tố nghề
nghiệp, trình độ văn hóa, hứng thú, tâm lý – những yếu tố gây ảnh hưởng tới việc chọn sách đọc và việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của thư viện Chính điều này
Trang 18- Nguyên tắc phát huy tính tự giác và sáng tạo của NDT trong quá trình đọc, sử
dụng sản phẩm dịch vụ Hình thành ở NDT ý thức tự nguyện đọc sách, giúp họ hình
thành hứng thú đọc sách mới
- Nguyên tắc hệ thống: Cán bộ thư viện phải tạo cho NDT tính tuần tự, logic,
hệ thống trong quá trình đọc, cũng như trong khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thư
viện Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: Từ đơn giản đến phức tạp; Từ dễ đến khó; Từ
đã biết đến chưa biết; Từ gần đến xa
- Nguyên tắc trực quan của việc tuyên truyền sách báo: Nguyên tắc này dựa
trên việc sử dụng các phương tiện trực quan khác nhau để tác động lên sự cảm thụ bằng mắt của bạn đọc Nó giúp cho việc tuyên truyền sách báo cũng như các sản phẩm dịch vụ có hiệu quả nhất Cần kết hợp nguyên tắc này với phương pháp tuyên
truyền bằng lời sẽ sinh động hơn [4]
1.1.4 Vai trò của công tác phục vụ người dùng tin
Đánh giá chất lượng hoạt động của thư viện, điều trước tiên quan tâm tới là công tác phục vụ NDT Tất cả các khâu công tác khác trong thư viện như bổ sung,
xử lý kĩ thuật sách, thông tin – thư mục, tuyên truyền đều với mục đích phục vụ
NDT tốt nhất
- Công tác phục vụ NDT giúp cho việc vận hành kho sách và cho dù kho sách rất quý mà không được sử dụng tốt thì kho sách sẽ mất giá trị
- Công tác phục vụ NDT giúp cho người sử dụng thỏa mãn nhu cầu tin
- Công tác phục vụ NDT giúp cho việc đánh giá hiệu quả xã hội của thư viện Thư viện càng thu hút được nhiều người sử dụng đến với mình thì vai trò, tác dụng xã hội của nó càng lớn [4, tr.376]
Như vậy, công tác phục vụ NDT hay việc tổ chức phục vụ NDT là một hoạt động của thư viện nhằm thúc đẩy, thỏa mãn nhu cầu tin của NDT thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn và cung cấp vốn tài liệu cũng như các sản phẩm, dịch vụ thông tin- thư viện dưới nhiều hình thức Công tác phục vụ NDT bao gồm các hình thức tổ chức và phương pháp phục vụ NDT trong và ngoài thư viện Với ý nghĩa
Trang 19trên công tác phục vụ NDT luôn được coi là công tác quan trọng nhất của thư viện Bởi vì, thông qua công tác này vốn tài liệu quý giá cũng như các sản phẩm, dịch vụ của thư viện mới được sử dụng hiệu quả, mới phát huy được tác dụng trong phát triển mọi mặt của đất nước, từ đó vị trí vai trò xã hội của thư viện mới được khẳng định
1.1.5 Các yếu tố tác động đến công tác phục vụ người dùng tin
1.1.5.1 Nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin của một thư viện là tiềm lực, là sức mạnh và niềm tự hào của một thư viện Hiệu quả phục vụ NDT của một cơ quan thông tin – thư viện phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin càng lớn Dựa vào nguồn lực thông tin của thư viện, cán bộ thư viện có thể tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ thông tin có chất lượng cung cấp cho NDT
1.1.5.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Cơ sở vật chất, trang thiết bị của thư viện đại học bao gồm trụ sở, các trang thiết bị của thư viện Cơ sở vật chất tốt, trang thiết bị hiện đại tạo điền kiện cho người sử dụng tiếp xúc tốt nguồn thông tin dưới nhiều hình thức, nâng cao được khả năng tiếp nhận, trao đổi thông tin, giúp cho cán bộ thư viện có điều kiện cung cấp cho NDT các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao
1.1.5.3 Cán bộ thư viện
Cán bộ thư viện là yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của thư viện Họ
là người thu thập, gìn giữ, phát triển nguồn lực thông tin của thư viện, tạo điều kiện tối ưu cho người đọc khai thác có hiệu quả các nguồn tin
Cán bộ thư viện là người lựa chọn, bảo quản tài liệu, sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định, tuyên truyền tích cực tài liệu phù hợp với nhu cầu NDT Ngoài ra, người cán bộ thư viện còn huấn luyện kiến thức thông tin và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu tin
Trang 20Thực tiễn cho thấy rằng, ngày nay với sự xuất hiện của nhiều loại hình thư viện như thư viện điện tử, thư viện ảo… thì vai trò của người cán bộ thư viện không mất đi mà trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Sự phát triển của thư viện hiện nay đòi hỏi thủ thư phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ thì mới có khả năng đáp ứng được các yêu cầu đa dạng và phức tạp của NDT
1.1.6 Tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác phục vụ người dùng tin
Trong khuôn khổ luận văn này, chất lượng và hiệu quả của công tác phục vụ người dùng tin sẽ được đánh giá dựa trên mức độ đảm bảo các nguyên tắc phục vụ
và hiệu quả phục vụ NDT
1.1.6.1 Mức độ đảm bảo các nguyên tắc phục vụ
+ Nguyên tắc phục vụ có phân biệt: Để việc phục vụ NDT có phân biệt, thư viện phải tiến hành nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin của NDT Dựa vào kết quả nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin, thư viện sẽ nhận định được các nhóm NDT của thư viện và nhu cầu tin của từng nhóm NDT Trên cơ sở
đó thư viện đề ra phương thức phục vụ chuyên biệt cho từng nhóm đối tượng cụ thể
Vì vậy, mức độ đảm bảo nguyên tắc phục vụ có phân biệt sẽ được đánh giá dựa trên việc các thư viện đã thực hiện công tác nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin chưa? Mức độ thực hiện công tác nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin như thế nào? Thư viện đã thực hiện phục vụ chuyên biệt cho từng đối tượng NDT chưa?
+ Nguyên tắc phát huy tính tự giác và sáng tạo của NDT trong quá trình đọc,
sử dụng sản phẩm dịch vụ: Mức độ đảm bảo nguyên tắc này của các thư viện sẽ được đánh giá thông qua công tác hướng dẫn người dùng tin sử dụng thư viện
+ Nguyên tắc hệ thống được đánh giá thông qua việc đánh giá công tác tư vấn và hướng dẫn NDT sử dụng tài liệu, sản phẩm, dịch vụ TT-TV một cách tuần
tự, logic, hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ biết đến chưa biết…
+ Nguyên tắc trực quan của việc tuyên truyền sách báo: Mức độ đảm bảo nguyên tắc này được đánh giá trên cơ sở xem xét các thư viện đã tổ chức tuyên
Trang 21truyền tài liệu bằng phương thức trực quan chưa? Hình thức tuyên truyền có đa dạng không? Tác dụng của việc thực hiện công tác tuyên truyền như thế nào?
1.1.6.2 Hiệu quả phục vụ người dùng tin
Hiệu quả phục vụ người dùng tin được đánh giá dựa trên mức độ thỏa mãn nhu cầu tin: Vì thư viện cung cấp thông tin cho NDT thông qua các sản phẩm, dịch
vụ TT-TV nên mức độ thỏa mãn nhu cầu tin sẽ được đánh giá dựa trên số liệu thu thập được từ ý kiến đánh giá của NDT về chất lượng nội dung thông tin của các sản phẩm, dịch vụ TT-TV; Thời gian tìm tin (đối với sản phẩm TT-TV), thời gian cung cấp thông tin (đối với dịch vụ TT-TV); Giá cả dịch vụ TT-TV và thái độ phục vụ của cán bộ thư viện
Ngoài ra hiệu quả phục vụ người dùng tin còn được thể hiện qua số liệu lượt NDT đến sử dụng thư viện, lượt đọc, vòng quay trung bình của một tài liệu
1.2 Đặc điểm của các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế
Các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế thực hiện chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức đào tạo bậc cao đẳng, đại học, sau đại học cho người Việt Nam và nước ngoài với đội ngũ giảng viên giỏi trong và ngoài nước, với nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy tiên tiến và trang thiết bị theo chuẩn quốc tế nhằm đào tạo nguồn nhân lực có thể nắm bắt được các cơ hội tốt nhất trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu không ngừng thay đổi phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
- Thực hiện nhiệm vụ đi đầu trong việc tiếp thu nhanh các thành tựu giáo dục tiên tiến của các nước trong khu vực và quốc tế góp phần đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy
Trang 22- Thực hiện vai trò tiên phong trong quá trình hội nhập với nền giáo dục đại học của khu vực và thế giới; Liên kết với các trường đại học có uy tín trên thế giới
để nâng cao chất lượng đào tạo
- Trọng tâm giáo dục cũng như phương pháp dạy và học được thiết kế để
phát triển những kỹ năng quan trọng cần thiết cho môi trường làm việc quốc tế như trí tuệ, cảm xúc, làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề và tư duy độc lập
1.2.2 Phương pháp dạy và học của các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế
Hiện nay trên địa bàn Tp HCM tồn tại ba loại trường đại học quốc tế là trường đại học quốc tế công lập (ví dụ: ĐHQT Tp HCM), trường đại học quốc tế tư thục do cá nhân, tổ chức trong nước thành lập (ví dụ: ĐHQT Sài Gòn )và trường đại học quốc tế tư thục do nước ngoài đầu tư (ví dụ: ĐHQT RMIT Việt Nam) Vì thư viện ĐHQT Sài Gòn mới chỉ bắt đầu được xây dựng và chưa hoạt động nên không
chọn thư viện này làm đối tượng khảo sát
Về chương trình, nội dung giảng dạy:
Chương trình, nội dung giảng dạy có thể do các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế tự thiết kế hoặc áp dụng các chương trình giảng dạy của các trường liên kết đào tạo, các trường đại học nước ngoài đầu tư Nội dung chương trình đào tạo được thiết kế đạt chuẩn quốc tế đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam
Sinh viên được học trong môi trường giảng dạy tốt Các lớp học với sỉ số ít
và chú trọng vào mối quan hệ thầy – trò, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với giảng viên Chương trình đào tạo lấy sinh viên làm trọng tâm, được thiết kế nhằm phát triển kỹ năng tư duy logic và độc lập Nội dung chương trình đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, ứng dụng lý thuyết vào thực tế công việc
Hầu hết các trường đào tạo theo chương trình quốc tế đều bỏ qua một số môn học đặc biệt theo yêu cầu của quy chế đào tạo đại học Việt Nam như các môn về
Trang 23chính trị (các nguyên lý chủ nghĩa Marx-Lenine, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam), giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất
Cấu trúc chương trình của một ngành bao gồm: Các môn học bắt buộc tất cả mọi sinh viên học ngành này phải học; Các môn tự chọn cho phép sinh viên theo đuổi những lĩnh vực cụ thể mà mình yêu thích hoặc khám phá những lĩnh vực mới; Sinh viên sắp ra trường sẽ trải qua kì thực tập thực tế
Giảng viên giảng dạy trong các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế có năng lực chuyên môn tốt, có khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh, nắm vững các phương pháp giảng dạy tiên tiến, sử dụng tốt các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc giảng dạy Hầu hết giảng viên là người nước ngoài được mời từ một số trường đại học có uy tín đến giảng dạy (Trường ĐHQT Tp HCM có 60% giảng viên nước ngoài, Trường ĐHQT RMIT Việt Nam có 95% giảng viên nước ngoài)
Hầu hết cơ sở vật chất trang thiết bị cần thiết cho việc giảng dạy như phòng học, phòng làm việc của giáo viên, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, …đã được chú ý đầu tư Tuy nhiên một số trường chưa chú trọng đến việc đầu tư cho thư viện nên diện tích sử dụng cho thư viện vẫn còn nhỏ hẹp, thiếu trang thiết bị phục vụ, đặc biệt nguồn tài liệu của thư viện chưa đáp ứng được nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên, giảng viên và cán bộ trong trường
Về Điều kiện tuyển sinh:
Mỗi trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế sẽ đưa ra điều kiện tuyển sinh cụ thể, có thể xét tuyển hoặc thi tuyển sinh đầu vào nhưng điều kiện ban đầu vẫn là trình độ tiếng Anh
Thực tế, tại hai trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế được khảo sát:
Đối với Trường ĐHQT RMIT, điều kiện tuyển sinh là học sinh tốt nghiệp lớp 12 với điểm tốt nghiệp môn Toán là 7/10 điểm Trình độ Anh văn IELTS 6,5
Trang 24khi nhập học, học viên sẽ làm một bài kiểm tra để xác định trình độ Điểm nhập học tối thiểu cho trình độ trung cấp là 4,5 (không môn nào dưới 4,0), trên trung cấp 5,0 (không môn nào dưới 4,5) và cao cấp 5,5 (không môn nào dưới 5,0) thang điểm của IELTS [39]
Đối với Trường ĐHQT Tp HCM, học sinh tham gia thi tuyển sinh đủ điểm mới được chọn Điểm TOEFL >= 450 hoặc tương đương Những thí sinh trúng tuyển chưa có bằng TOEFL hoặc tương đương sẽ phải dự kỳ thi kiểm tra tiếng Anh tại trường Nếu chưa đạt yêu cầu về điểm TOEFL sẽ được bảo lưu kết quả một năm để chuẩn bị tiếng Anh hoặc tham gia khóa học dự bị 1 hoặc 2 học kỳ [36]
Về Ngôn ngữ giảng dạy:
Tiếng Anh được sử dụng trong tất cả hoạt động giảng dạy và học tập Điều này giúp cho các bạn sinh viên phát triển khả năng ngoại ngữ cũng như kỹ năng thuyết trình, viết báo cáo và làm việc nhóm Những kỹ năng này sẽ là nền tảng để
các em tự tin bước vào môi trường làm việc thực tế [36], [39]
Về Quy mô đào tạo:
Quy mô đào tạo của các trường đào tạo theo chương trình quốc tế không ngừng tăng lên
Thực tế, tại ĐHQT RMIT Tp HCM, quy mô đào tạo đã và đang tiếp tục phát triển cả về số lượng sinh viên nhập học cũng như số lượng chương trình đào tạo
Số lượng các chương trình đào tạo bậc đại học không ngừng tăng lên và hiện nay ĐHQT RMIT Tp HCM có 2.721 người đang theo học trình độ đại học, 718 người đang theo học chương trình dự bị đại học để chuẩn bị cho những học viên muốn tham gia học tập tại trường nhưng chưa đủ điều kiện (chương trình gồm các môn anh văn, máy tính và hệ thống mạng, quản lý thông tin, chuyên toán hoặc toán tổng quát ), 169 người đang theo học thạc sĩ ngành Quản trị Kinh doanh và Kỹ thuật điện, 899 người đang theo học hệ văn bằng [39]
Trang 25Tại Trường ĐHQT Tp HCM, năm 2004, nhà trường đã tuyển sinh khoá đầu
với 2 khoa đầu tiên: Khoa Quản trị Kinh doanh và khoa Khoa học Máy tính và Kĩ thuật Trong các năm tiếp theo nhà trường liên tục liên kết với các trường đại học có
uy tín trên thế giới để mở thêm ngành mới
Trường hiện đang có 4 khoa và 3 bộ môn trực thuộc Đó là các Khoa Quản trị Kinh doanh, Khoa Khoa học Máy tính và Kĩ thuật, Khoa Điện tử Viễn thông, Khoa Công nghệ Sinh học, Bộ môn Toán, Bộ môn Anh ngữ và Bộ môn Kỹ thuật Y sinh
• Khoa Quản trị Kinh doanh - BA (Business Administration)
• Khoa Khoa học và Kĩ thuật Máy tính - CSE (Computer Science & Engineering)
• Khoa Điện tử Viễn thông - EE (Electrical Engineering)
• Khoa Công nghệ Sinh học - BT (Bio-Technology)
• Bộ môn Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp - Department of Industrial System Engineering
• Bộ môn Toán - Department of Mathematics
• Bộ môn Anh ngữ - Department of English
• Bộ môn Kỹ thuật Y sinh - Department of Biomedical Engineering
Ngoài các chương trình đào tạo liên kết, trường còn tiến hành các hoạt động quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài Việt Nam Trong số đó là thoả thuận hợp tác với Trường Kinh doanh Shidler của Đại học Hawaii, Đại học Thompson Rivers, Ủy ban Trao đổi Văn hóa Giáo dục Quốc tế CIEE [36]
Về Kiểm tra, đánh giá, công nhận tốt nghiệp:
Chất lượng giảng dạy và việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên chương
Trang 26trường nước ngoài đó đánh giá và cấp bằng Đối với các ngành do trường quốc tế đào tạo không thông qua liên kết sẽ do trường quốc tế đó cấp bằng [41]
1.2.3 Đặc điểm về người dùng tin và nhu cầu tin
1.2.3.1 Đặc điểm người dùng tin
Người dùng tin và nhu cầu tin trong trường đại học rất đa dạng và phức tạp, thể hiện ở thành phần, trình độ NDT và mục đích sử dụng thông tin, nội dung, hình thức thông tin được yêu cầu
Để công tác phục vụ NDT có chất lượng cao bắt buộc các thư viện phải nắm vững đặc điểm NDT và nhu cầu tin NDT trong các trường đào tạo theo chương trình quốc tế trên địa bàn Tp HCM chủ yếu là sinh viên, cán bộ giảng dạy - nghiên cứu và cán bộ quản lý trong trường
Căn cứ vào đối tượng phục vụ chính của các thư viện, có thể chia NDT của các thư viện đại học đào tạo theo chương trình quốc tế thành hai nhóm chính sau: Nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và nhóm sinh viên
Nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu bao gồm cán bộ quản lý và cán bộ
giảng dạy, nghiên cứu Cán bộ quản lý tại trường thường kiêm nhiệm công tác nghiên cứu và giảng dạy Cán bộ quản lý là những người nắm giữ cương vị chủ chốt trong trường đại học: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, trưởng, phó các phòng ban trong trường, là những người có trách nhiệm quản lý, điều hành hoạt động của trường đại học, những người nghiên cứu, đề xuất và quyết định các vấn đề quan trọng, liên quan đến sự phát triển của nhà trường Cán bộ giảng dạy là những người quyết định chất lượng giáo dục của trường đại học Cán bộ giảng dạy trong các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế có năng lực chuyên môn tốt, có khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh, nắm vững các phương pháp giảng dạy tiên tiến,
sử dụng tốt các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc giảng dạy Hầu hết cán bộ giảng dạy là người nước ngoài được mời từ một số trường đại học có uy tín đến giảng dạy Họ thường xuyên phải sử dụng thông tin, cập nhật thông tin mới để phục
vụ cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Trang 27Nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu có số lượng không cao nhưng nhu cầu thông tin của họ rất lớn Trong công tác quản lý, thông tin cần cung cấp cho nhóm này có diện rộng, mang tính chất tổng kết, dự báo, dự đoán xu hướng phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Nhóm này làm việc với cường độ cao nên thông tin cung cấp cho họ phải cô đọng, súc tích Trong công tác giảng dạy, thông tin phục vụ cho họ mang tính chuyên ngành, có tính chất lý luận và thực tiễn liên quan đến các lĩnh vực mà họ giảng dạy Hình thức phục vụ thích hợp cho họ là các thông tin chuyên đề, thông tin chọn lọc, thông tin tài liệu mới với các hình thức như sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học…
Vì hầu hết cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế là người nước ngoài nên tài liệu phục vụ phải bằng tiếng Anh Phương pháp phục vụ thích hợp là cung cấp đến tận nơi, đến từng người theo yêu cầu cụ thể, ngoài ra còn có thể phục vụ gián tiếp qua điện thoại, thư điện tử, bưu điện…
Nhóm sinh viên, bao gồm sinh viên các hệ đào tạo và học viên sau đại học
Đây là nhóm NDT đông đảo nhất của các trường đại học Tại các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế, sinh viên đến từ khắp mọi miền đất nước và cũng
có những bạn đến từ quốc gia khác nên đặc điểm của họ rất đa dạng Sinh viên bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong mọi hoạt động giao tiếp học tập tại trường Nhiệm vụ trọng tâm của họ là học tập để hoàn thành tốt chương trình đào tạo của ngành học trong trường đại học và bước đầu nghiên cứu khoa học Thông tin dành cho đối tượng sinh viên đa dạng, phong phú để phục vụ cho việc học tập Đối với các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế, nhu cầu sử dụng tài liệu của sinh viên phụ thuộc vào chương trình học của ngành học họ lựa chọn Họ thường sử dụng tài liệu gắn liền với chương trình học và yêu cầu của giáo viên Ngoài ra sinh viên của các trường này còn có nhu cầu tài liệu liên quan đến giải trí nhưng tỉ lệ không đáng kể
Trang 28Đối tượng
Tên Trường Số lượng
Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu
Tỉ lệ (%) Sinh viên
Tỉ lệ (%) ĐHQT RMIT Tp
ĐHQT Tp HCM 2242 91/242 37,60 1572/2000 78,56
Bảng 1.1 Số lượng người đến sử dụng thư viện trên tổng số cán bộ giảng dạy,
nghiên cứu và sinh viên của trường Qua bảng 1.1 cho thấy số lượng NDT là sinh viên của các thư viện tương đối
cao Số lượng NDT là cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của cả hai trường đến sử dụng còn chưa cao, đòi hỏi các thư viện phải tăng cường hoạt động thu hút đối tượng này đến với thư viện
Do chương trình đào tạo tại các trường quốc tế lấy sinh viên làm trọng tâm, được thiết kế nhằm phát triển kỹ năng tư duy logic và độc lập, đòi hỏi sinh viên phải chủ động tìm tòi, khai thác mọi nguồn tài liệu phục vụ cho việc học tập vì vậy
họ phải đến thư viện nhiều hơn và có nhu cầu cao hơn về nội dung và hình thức tài liệu
Yêu cầu chất lượng học tập quốc tế rất cao, phong phú và đa dạng, do đó chất lượng giảng dạy phải cao hơn trước rất nhiều Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu phải phải thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn để nâng cao chất lượng bài giảng
vì thế họ cũng rất cần nghiên cứu tài liệu
1.2.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin
Nhu cầu tin của NDT tại thư viện các trường đại học quốc tế trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh được khảo sát thông qua việc phát phiếu điều tra nhu cầu tin tới các nhóm NDT Đối tượng khảo sát được chọn theo hình thức chọn ngẫu nhiên các giảng viên, cán bộ nghiên cứu, sinh viên trong các trường Tổng số phiếu phát ra là
580 phiếu trong đó số lượng phiếu phát cho nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu là
180 phiếu (ĐHQT Tp HCM 90 phiếu, ĐHQT RMIT Tp HCM 90 phiếu); Số lượng
Trang 29phiếu phát cho nhóm sinh viên là 400 phiếu (ĐHQT Tp HCM 200 phiếu, ĐHQT
RMIT Tp HCM 200 phiếu) Tổng số phiếu thu về là 492 phiếu (thu về từ nhóm cán
bộ giảng dạy, nghiên cứu là 144 phiếu, nhóm sinh viên là 348 phiếu) Tỉ lệ giữa
phiếu phát ra và thu về đạt 84,8%
Số phiếu thu về Tên trường Sinh viên Tỷ lệ
(%)
Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu
Tỷ lệ (%)
Bảng 1.2 Số lượng người dùng tin được khảo sát tại các trường
Nội dung khảo sát nhu cầu tin là mức độ sử dụng thư viện, mục đích sử dụng
tài liệu, lĩnh vực khoa học mà họ quan tâm, dạng tài liệu họ thường sử dụng, ngôn
ngữ tài liệu, thói quen sử dụng công cụ tra cứu; ý kiến đánh giá của NDT về chất
lượng sản phẩm dịch vụ TT-TV, cơ sở vật chất- trang thiết bị thư viện, chính sách
phục vụ của thư viện…
1.2.3.2.1 Nhu cầu tin của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu
Nghiên cứu nhu cầu tin của nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu được thực
hiện tại ĐHQT Tp HCM và ĐHQT RMIT Tp HCM
Vì kết quả thu được từ việc điều tra nhu cầu tin của cán bộ giảng dạy, nghiên
cứu của hai trường ĐHQT Tp HCM và ĐHQT RMIT Tp HCM rất chênh lệch
nhau nên phải tách riêng số liệu mới có thể đánh giá được
* Mức độ sử dụng thư viện:
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Trang 30Bảng 1.4 Mức độ sử dụng thư viện của nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ĐHQT
RMIT Tp HCM
Từ hai bảng số liệu 1.3 và 1.4, thấy rằng cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của
ĐHQT RMIT Tp HCM có mức độ sử dụng thư viện thường xuyên cao hơn ĐHQT
Tp HCM rất nhiều Nguyên nhân là do TVĐHQT RMIT Tp HCM đã xây dựng
được nguồn lực thông tin lớn, cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, chính sách phục
vụ thuận tiện cho NDT, các sản phẩm dịch vụ TT-TV đa dạng, công tác huấn luyện NDT sử dụng thư viện được diễn ra thường xuyên nên thu hút NDT đến với thư viện thường xuyên Ngược lại, TVĐHQT Tp HCM có nguồn lực thông tin kém (tài liệu chủ yếu là giáo trình và tài liệu tham khảo), cơ sở vật chất nhỏ hẹp, các sản phẩm dịch vụ TT-TV nghèo nàn, thư viện chưa tổ chức lớp hướng dẫn sử dụng thư viện nên chưa thu hút được NDT đến sử dụng thư viện thường xuyên
Mức độ không sử dụng thư viện của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu cả hai trường chiếm tỉ lệ khá cao Về lý do không sử dụng thư viện thì hầu hết họ cho biết không có thời gian để đến thư viện Bên cạnh đó, một số cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của ĐHQT Tp HCM không đến thư viện vì tài liệu không phù hợp với nhu cầu; Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của ĐHQT RMIT Tp HCM không đến thư viện
vì họ có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu toàn văn của ĐH RMIT Melbourne tại nhà
Trang 31Tên trường Nghiên cứu Giảng dạy Học tập Giải trí
Kết quả khảo sát ở bảng 1.5 và 1.6 cho thấy mục đích sử dụng thư viện của
cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của hai trường gần như nhau Hầu hết họ sử dụng thư viện cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy Ngoài ra một số người còn sử dụng thư viện cho hoạt động học tập, giải trí nhưng số lượng không đáng kể
* Loại hình tài liệu NDT quan tâm:
Trang 32* Về tập quán sử dụng tài liệu in và tài liệu điện tử của NDT: Với câu hỏi
“Anh chị thường sử dụng loại hình tài liệu nào”, hầu hết NDT nhóm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của hai trường đều trả lời sử dụng cả 2 loại hình tài liệu Tài liệu điện tử có ưu điểm nổi trội vì tính lưu trữ, linh hoạt, cập nhật và chia sẻ thông tin rất cao nên được NDT ưa chuộng Tuy nhiên thói quen sử dụng các dạng tài liệu in vẫn còn rất cao vì tài liệu in đã xuất hiện rất lâu và dễ sử dụng, không đòi hỏi có thiết bị máy tính hỗ trợ
* Ngôn ngữ tài liệu thường sử dụng: Vì yêu cầu đối với trường đại học quốc
tế trong công tác quản lý và giảng dạy phải hoàn toàn sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh nên 100% cán bộ giảng dạy, nghiên cứu được khảo sát đều trả lời sử dụng tài liệu bằng tiếng Anh Bên cạnh đó các tài liệu có ngôn ngữ khác như tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Hoa, tiếng Nga, tiếng Nhật cũng được sử dụng nhưng tỉ lệ không đáng
kể
* Về mức độ sử dụng công cụ tra cứu tài liệu:
- Đối với tài liệu tra cứu:
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
hai trường gần như nhau Mức độ thường xuyên sử dụng chiếm tỉ lệ còn thấp; Mức
độ không sử dụng chiếm tỉ lệ tương đối cao
Trang 33- Đối với danh mục tài liệu: Chỉ có TVĐHQT Tp HCM cung cấp sản phẩm này cho NDT Mức độ sử dụng thường xuyên chiếm tỉ lệ thấp (26,32%), trong khi tỉ
lệ không sử dụng chiếm tỉ lệ khá cao (31,58%) Lí do không sử dụng là do họ có thể vào kho tìm trực tiếp, một số ý cho rằng không hề biết thư viện có công cụ tra cứu này
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Bảng 1.11 Mức độ sử dụng danh mục tài liệu của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu
ĐHQT Tp HCM
- Đối với mục lục trực tuyến:
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Số liệu ờ các bảng 1.12, 1.13 cho thấy mức độ sử dụng mục lục trực tuyến
của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của các trường có tỉ lệ chênh lệch rất lớn Trong khi mức độ sử dụng MLTT thường xuyên của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ĐHQT
Tp HCM chỉ có 20% thì ĐHQT RMIT Tp HCM có đến 56,67% Mức độ không sử dụng MLTT của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ĐHQT Tp HCM có đến 25% thì ĐHQT RMIT Tp HCM chỉ có 10%
Lí do cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ĐHQT RMIT Tp HCM sử dụng MLTT
Trang 34hoàn chỉnh và là công cụ tra cứu chính phục vụ đắc lực cho sinh viên trong việc tra
cứu tài liệu trong thư viện Ngoài ra công tác hướng dẫn NDT sử dụng MLTT để tra
cứu tài liệu trong thư viện đã được tổ chức thường xuyên giúp NDT của trường có
thể sử dụng thuần thục công cụ tra cứu này
Lý do cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ĐHQT Tp HCM ít và không sử dụng
MLTT là do MLTT của TVĐHQT Tp HCM chưa hoàn chỉnh, rất nhiều biểu ghi tài
liệu chưa được hồi cố nên hiệu quả sử dụng công cụ tra cứu này không cao
Nhìn chung, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của các trường đại học đào tạo
theo chương trình quốc tế ít có thời gian đến sử dụng thư viện Nhu cầu tin của họ
mang tính chuyên ngành và chuyên sâu, phục vụ cho mục đích chính là nghiên cứu
và giảng dạy Thói quen sử dụng thông tin vừa mang tính truyền thống vừa mang
tính hiện đại Ngôn ngữ tài liệu họ sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh Mức độ sử
dụng các công cụ tra cứu của cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở hai trường khác nhau
tùy thuộc vào chất lượng công cụ tra cứu của từng thư viện
1.2.3.2.2 Nhu cầu tin của sinh viên
Kết quả khảo sát NDT là sinh viên tại các thư viện như sau:
Bảng 1.14 Mức độ sử dụng thư viện của sinh viên ĐHQT Tp HCM
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Trang 35Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ sinh viên đến thư viện thường xuyên chưa nhiều, tỉ lệ sinh viên thỉnh thoảng và không đến đến thư viện còn khá cao
Về lí do sinh viên ít đến thư viện và không đến thư viện, đa số sinh viên ĐHQT RMIT Tp HCM cho rằng họ không cần đến thư viện cũng có thể truy cập trực tuyến vào cơ sở dữ liệu toàn văn của Thư viện RMIT Melbourne Sinh viên Trường ĐHQT Tp HCM cho biết thời gian phục vụ của thư viện ngắn và trùng với thời gian lên lớp của họ, thư viện không có tài liệu phù hợp với yêu cầu, diện tích thư viện nhỏ hẹp
* Về mục đích sử dụng tài liệu:
Bảng 1.16 Mục đích sử dụng tài liệu của sinh viên ĐHQT Tp HCM
Trang 36* Loại hình tài liệu NDT quan tâm:
ĐHQT Tp
Bảng 1.18 Loại hình tài liệu sinh viên ĐHQT Tp HCM quan tâm
ĐHQT RMIT
Bảng 1.19 Loại hình tài liệu sinh viên ĐHQT RMIT Tp HCM quan tâm
Người dùng tin là sinh viên quan tâm nhiều nhất đến giáo trình và tài liệu
tham khảo, một số ít sinh viên năm 3, năm 4 quan tâm đến tạp chí chuyên ngành và
luận văn, luận án khi họ cần làm bài luận
* Về mức độ sử dụng tài liệu in và tài liệu điện tử:
Tên thư viện Tài liệu in Tài liệu điện tử
Bảng 1.20 Hình thức tài liệu sinh viên ĐHQT Tp HCM thường sử dụng
Tên thư viện Tài liệu in Tài liệu điện tử
Bảng 1.21 Hình thức tài liệu sinh viên ĐHQT RMIT Tp HCM thường sử dụng
Mức độ NDT là sinh viên sử dụng hình thức tài liệu in và tài liệu điện tử của
hai trường gần như nhau Tỉ lệ sinh viên sử dụng tài liệu điện tử cao hơn tài liệu in
Trang 37Lý do sinh viên các trường đào tạo theo chương trình quốc tế có mức độ sử dụng tài liệu điện tử cao là vì họ có khả năng ngoại ngữ nên có thể khai thác tối đa nguồn tài liệu trên internet; một số trường có nguồn cơ sở dữ liệu toàn văn trực tuyến rất lớn phục vụ cho sinh viên truy cập trực tuyến mọi lúc mọi nơi; hầu hết sinh viên của các trường này đều sử dụng máy tính xách tay để phục vụ cho việc học tập nên dễ dàng tiếp cận nguồn tài liệu trực tuyến
* Về ngôn ngữ tài liệu sinh viên thường sử dụng, kết quả khảo sát cho thấy 100% sinh viên sử dụng tài liệu tiếng Anh vì môi trường đào tạo quốc tế đòi hỏi mọi hoạt động diễn ra trong trường như học tập, giao tiếp đều phải sử dụng tiếng Anh Bên cạnh đó cũng có một số sinh viên sử dụng thêm ngôn ngữ khác nhưng số lượng rất ít
* Về mức độ sử dụng công cụ tra cứu tài liệu, với câu hỏi khảo sát “Mức độ
sử dụng các công cụ tra cứu thông tin của anh/chị?”, kết quả khảo sát thu được từ phiếu điều tra của sinh viên như sau:
- Đối với tài liệu tra cứu:
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Bảng 1.22 Mức độ sử dụng tài liệu tra cứu của sinh viên ĐHQT Tp HCM
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Bảng 1.23 Mức độ sử dụng tài liệu tra cứu của sinh viên ĐHQT RMIT Tp HCM
Qua số liệu của (bảng 1.22) và (bảng 1.23) thấy rằng mức độ sử dụng tài liệu
tra cứu của sinh viên các trường có tỉ lệ chênh lệch rất lớn
Mức độ sử dụng tài liệu tra cứu thường xuyên của sinh viên: ĐHQT RMIT
Tp HCM chiếm tỉ lệ 50%, ĐHQT Tp HCM chỉ có tỉ lệ 27,66%; bên cạnh đó, mức
độ không sử dụng tài liệu tra cứu của sinh viên: ĐHQT Tp HCM chiếm tỉ lệ
Trang 38Nguyên nhân là do thư viện ĐHQT RMIT Tp HCM có nguồn tài liệu tra cứu phong phú và phù hợp với nhu cầu của sinh viên thuộc các chuyên ngành đào tạo của trường Thư viện ĐHQT Tp HCM chưa chú trọng bổ sung nguồn tài liệu tra cứu nên hầu hết sinh viên đều có ý kiến là tài liệu tra cứu rất ít và không phù hợp với nhu cầu tài liệu của họ
- Đối với danh mục tài liệu: Trong hai thư viện được khảo sát thì chỉ có TVĐHQT Tp HCM sử dụng danh mục tài liệu phục vụ cho sinh viên tra cứu thông tin Tỉ lệ sinh viên ĐHQT Tp HCM thường xuyên sử dụng danh mục tài liệu thấp (26,19%) Tỉ lệ sử dụng thỉnh thoảng và không sử dụng công cụ tra cứu này tương đối cao Nguyên nhân là do việc tra cứu tài liệu trong danh mục tốn nhiều thời gian
vì phải tra cứu thủ công
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Bảng 1.24 Mức độ sử dụng danh mục tài liệu của sinh viên ĐHQT Tp HCM
- Đối với mục lục trực tuyến:
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Bảng 1.25 Mức độ sử dụng mục lục trực tuyến của sinh viên ĐHQT Tp HCM
Tên trường Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Trang 39dụng công cụ tra cứu này TVĐHQT Tp HCM cần phải hoàn thiện MLTT để đáp ứng nhu cầu tra cứu tài liệu trong thư viện
Nhìn chung, sinh viên các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế
có nhu cầu thông tin rất lớn phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu Phần lớn sinh viên có nhu cầu tài liệu về lĩnh vực mình đang theo học Ngôn ngữ tài liệu họ quan tâm chủ yếu là tiếng Anh Họ có xu hướng sử dụng tài liệu trực tuyến nhiều hơn tài liệu in Mức độ sinh viên sử dụng các công cụ tra cứu ở các thư viện khác nhau tùy thuộc vào chất lượng công cụ tra cứu của từng thư viện
Tóm lại, nhu cầu tin của NDT các trường đại học đào tạo theo chương trình quốc tế là như nhau nhưng mức độ thỏa mãn nhu cầu tin của họ ở các thư viện không giống nhau Nguyên nhân là do sự quan tâm phát triển thư viện ở các trường khác nhau Những thư viện được đầu tư phát triển tốt thì mức độ thỏa mãn nhu cầu tin cao, thu hút người dùng tin sử dụng thư viện ngày càng nhiều Ngược lại, những thư viện không được đầu tư đúng mức thì mức độ thỏa mãn nhu cầu tin không cao, không thu hút được NDT đến sử dụng thư viện
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TRONG THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO THEO CHƯƠNG TRÌNH QUỐC TẾ
2.1 Hiện trạng thực thi các nhiệm vụ phục vụ người dùng tin
2.1.1 Nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin
Nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin là hoạt động rất quan trọng trong công tác phục vụ người dùng tin Hoạt động này nhằm mục đích nắm được nhu cầu về nội dung, loại hình, ngôn ngữ, tập quán sử dụng thông tin của NDT; nắm được mức độ hài lòng của NDT về sản phẩm, dịch vụ TT-TV, cơ sở vật chất – trang thiết bị thư viện, cung cách phục vụ của cán bộ thư viện… Kết quả thu được
từ việc nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin sẽ giúp cho thư viện có chiến lược bổ sung tài liệu phù hợp với nhu cầu NDT và điều chỉnh các hoạt động trong công tác phục vụ ngày càng tốt hơn nhằm thu hút NDT đến với thư viện
Qua việc phỏng vấn cán bộ thư viện về công tác nghiên cứu nhu cầu hứng thú đọc, nhu cầu tin tại các thư viện cho thấy các thư viện đã quan tâm đến công tác này
Thực tế tại TVĐHQT RMIT Tp HCM mỗi năm đều phát phiếu điều tra ý kiến NDT về công tác phục vụ của thư viện Nội dung khảo sát thông qua phiếu điều tra nhằm nắm được mức độ sử dụng thư viện, khuynh hướng sử dụng tài liệu của người dùng tin; mức độ hài lòng của NDT về nguồn lực thông tin, các sản phẩm, dịch vụ TT-TV, cơ sở vật chất-trang thiết bị, chính sách phục vụ của thư viện
và thái độ phục vụ của cán bộ thư viện Bên cạnh đó, thư viện sử dụng phần mềm quản trị thư viện trong công tác phục vụ NDT, cho phép phát hiện và so sánh những
số liệu về số lượng và thành phần NDT theo các nhóm chính, số lượng tài liệu cho mượn, vòng quay của tài liệu, … Các số liệu này sẽ giúp cho thư viện xác định được những NDT nào thích đọc loại tài liệu gì, môn loại nào, chủ đề tài liệu nào được sử dụng nhiều nhất Ngoài ra, trong quá trình phục vụ, cán bộ thư viện thường