Tính cấp thiết của đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sá
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…. …
NGUYỄN ĐẶNG THÙY DIỄM
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…. …
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng dẫn của
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 8
1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội và những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 8
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội 8
1.1.2 Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới 13
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa 25
1.1.4 Phẩm chất và tài năng Hồ Chí Minh 30
1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 36
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của văn hóa 36
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa 40
1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất của văn hóa 46
1.2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chức năng của văn hóa 53
Kết luận chương 1 59
Chương 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY62 2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng của việc xây dựng, phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay 62
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay 62
2.1.2 Thực trạng của việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay65 2.2 Những định hướng cơ bản của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay 79 2.2.1 Phát huy vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của cách mạng 79
2.2.2 Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tính chất tiên tiến của văn hóa nhân loại trong xây dựng và phát triển văn hóa 82
2.2.3 Xây dựng và phát triển văn hóa mang tính khoa học, đại chúng 85
2.2.4 Xây dựng và phát triển văn hóa nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn, tình cảm và phẩm chất cao đẹp, hướng tới chân – thiện – mỹ 87
Kết luận chương 2 91
Kết luận 93
Danh mục tài liệu tham khảo 96
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng cách mạng cho đời sau
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” [29, 83]
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại Với tầm vóc một danh nhân văn hóa thế giới, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu về mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, giáo dục… Trong những lĩnh vực đó chúng ta không thể không nhắc tới những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong lĩnh vực văn hóa
Được giáo dục bởi truyền thống Khổng giáo, thêm vào đó là chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phương Tây, cộng với phẩm chất, tài năng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng tư tưởng về văn hóa trên những cơ sở
Trang 6trên, rồi từ đó Người đúc kết lại để xây dựng một bản sắc văn hóa Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã, đang và sẽ là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tư tưởng đó vừa có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, vừa có tác dụng chỉ đạo
cụ thể trong hoạt động thực tiễn cho dân tộc Việt Nam
Theo Người, văn hóa là “một hệ thống các quan điểm lý luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Nó chắc lọc, tổng hợp và kết tinh được những giá trị văn hóa của phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, mà cốt lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tinh hoa và bản sắc của dân tộc Việt Nam” [7, 112] Theo Người, văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vị trí đặc biệt quan trọng Chính tư tưởng này của Người đã và đang định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là phản ánh nền văn hóa mới, nền văn hóa mới đó không chỉ cho dân tộc Việt Nam, mà còn đóng góp vào sự tiến bộ của văn hóa, văn minh nhân loại Cả nước ta đã, đang vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa Mỗi người, mỗi nhà, mỗi tỉnh đều vận dụng tư tưởng của Người về văn hóa trong quá trình hoàn thiện, xây dựng và phát triển bản thân Hồ Chí Minh là nhà lý luận văn hóa, đồng thời chính là danh nhân văn hóa kiệt xuất Ở Người, lời nói và việc làm thống nhất với nhau Chính vì vậy, những chỉ dạy của Người có sức thuyết phục cao Đó cũng chính là niềm tự hào và hạnh phúc đối với sự nghiệp cách mạng văn hóa của đất nước và của nhân dân ta
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế ở Việt Nam nói chung và các tỉnh trong cả nước nói riêng trong đó có tỉnh Đồng Nai là cuộc hành trình đến với những giá trị văn hóa đích thực nhất Bởi lẽ, theo
Trang 7Người: văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế Tuy nhiên, hành trình phát triển kinh tế ở tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung không phải là con đường bằng phẳng Thực tiễn cho thấy có nhiều vấn
đề mới đang nảy sinh Trong đó, xu thế toàn cầu hóa với việc mở cửa, hội nhập đang đòi hỏi mỗi dân tộc trên thế giới cần thiết phải khẳng định bản lĩnh của mình Trong tất cả những sức mạnh cần khẳng định, sức mạnh văn hóa cần thiết phải đặt vào vị trí hàng đầu, vì không chỉ riêng tỉnh Đồng Nai
mà cả nước đang đứng trước một trong những vấn đề lớn đầy thử thách của văn hóa Những thành tựu vượt bậc về khoa học kỹ thuật của nhân lọai, bên cạnh sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thị trường đã vô hình làm cho thế giới nhỏ lại, làm cho các dân tộc trên thế giới tiếp cận văn hóa với nhau một cách dễ dàng Những yếu tố cấu tạo nên nền văn hóa dân tộc chắc chắn
sẽ không tránh khỏi quy luật thâm nhập, ảnh hưởng và đào thải lẫn nhau là điều không thể tránh khỏi
Thời gian qua đã có không ít sự đảo lộn các giá trị văn hóa, các giá trị văn hóa tốt đẹp, các truyền thống như: tình nghĩa, vị tha, trung thực… bị lấn lướt, bị xâm hại của những giá trị ngoại lai, xa lạ, sự lộn xộn, lúng túng, bị động, đặc biệt là những biến động phức tạp của các lĩnh vực tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo… Đó cũng là một trong những vấn đề nan giải của tỉnh Đồng Nai nói riêng và của cả nước nói chung Song nhân dân tỉnh Đồng Nai cũng không lường hết được tác động phức tạp của quá trình đó Cho nên, văn hóa đang chịu những sức ép, những va đập mạnh và đang đứng trước những những thử thách chưa từng có
Tỉnh Đồng Nai có bề dày về truyền thống văn hóa và có ưu thế chiến lược vùng trọng điểm phát triển kinh tế trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để khai thác đúng tiềm năng của tỉnh, thì phải nhìn nhận rằng: với những đặc điểm về dân cư, về kinh tế, chính trị… thì việc giữ
Trang 8gìn, phát huy các giá trị văn hóa trên địa bàn tỉnh trong tình hình hiện nay thì cần phải có những hướng giải quyết một cách thấu đáo
Hơn nữa, việc phát triển nền văn hóa mới còn phải bổ sung những thiếu hụt, phát triển những nội dung mới do yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước đang đặt ra, cũng như xu thế chung của thời đại đang đòi hỏi Xây dựng văn hóa trong thời điểm như hiện nay là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và của nhân dân tỉnh Đồng Nai nói riêng
Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đề cập đến bản chất, vai trò, chức năng của văn hóa và việc phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Đó là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử Ngày nay cũng có nhiều bài báo, bài viết, công trình nghiên cứu nói nhiều về vấn đề này như:
“Tìm hiểu tư tưởng văn hóa, văn nghệ Hồ Chí Minh” của Đỗ Huy, Lê
Hữu Ái, (1995), “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa” của
Doãn Chính, Tạp chí Khoa học xã hội (4), tr 35-41, (2003), “Góp phần
nghiên cứu văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” của
Thành Duy, (2004), “Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây
dựng nền văn hóa Việt Nam” của Lê Quý Đức (2001), “Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề văn hóa trong phát triển” của Đỗ Thị Minh Thúy, (2006)…
Trang 9Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ở các tỉnh trong cả nước nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, cũng có nhiều bài viết nói về
việc vận dụng này như: Văn Hóa Đồng Nai của T.s Huỳnh Văn Tới, Th.s Phan Đình Dũng, PGS TS Phan Xuân Biên (giới thiệu), (sơ thảo, 2005), Bản
sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai của T.s Huỳnh Văn Tới (1998), Lịch sử
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên tỉnh Đồng
Nai (1930 – 2000), Đồng Nai hai mươi lăm năm xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội (2000), Tài liệu chuyên đề nghiên cứu nghị quyết đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 – 2015 Ban Tuyên giáo
tỉnh Ủy Đồng Nai năm 2010 Tài liệu của Tỉnh ủy Biên Hòa – Ban tuyên
giáo, số 52 – CV/BTGTU V/V tổ chức hoàn thiện, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 – 2015)…
Nhìn chung, những tư tưởng về văn hóa đã và đang được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà tri thức với số lượng công trình bài viết tương đối phong phú chứa đựng nhiều bài viết có giá trị sâu sắc Với lòng ham mê nghiên cứu, học hỏi trên cơ sở kế thừa những công trình đã có trước đó, tác giả mong muốn góp phần làm sáng
tỏ hơn nữa và trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất, chức năng, vai trò của văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa
ở tỉnh Đồng Nai trong tình hình hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa, từ đó vận dụng tư tưởng của Người trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
Trang 10Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất, phân tích điều kiện lịch sử - xã hội và những tiền đề hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Thứ hai, phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa
Thứ ba, nêu lên những điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng của việc
xây dựng, phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
Thứ tư, nêu lên những định hướng cơ bản của việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa, đồng thời các luận điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa - xã hội
Phương pháp xuyên suốt của luận văn là phương pháp biện chứng duy vật; ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp kết hợp giữa phân tích
và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, khái quát hóa, trừu tượng hóa, so sánh, đối chiếu, khảo sát,
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và
phát triển văn hóa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” góp phần làm rõ và sâu sắc
thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa; chỉ ra vị trí, vai trò, chức năng của
Trang 11văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng trong việc học tập môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và được chia thành 4 tiết
Trang 12Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội và những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội
* Tình hình trong nước:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Sau bốn năm chiến tranh, triều đình nhà Nguyễn đã ký bốn hàng ước đầu tiên giao chủ quyền ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp Nhưng không dừng lại ở đó, thực dân Pháp lại bành trướng mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Nam Kỳ Biến Nam Kỳ trở thành một bộ phận của nước Pháp, Bắc Kỳ là đất bảo hộ còn Trung Kỳ là đất nửa bảo hộ Triều đình nhà Nguyễn vẫn còn tồn tại dưới chế
Trang 13Xét ở một góc độ nào đó thì cũng có tiến bộ hơn so với văn hóa phong kiến nông nghiệp bảo thủ của Nho giáo Điều đó cũng dễ hiểu khi người dân Việt Nam dễ dàng tiếp thu, nhưng ảnh hưởng nhiều nhất là tầng lớp trí thức Nho học yêu nước mà thôi Đó là Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền… bắt đầu áp dụng và mở cuộc vận động duy tân khá lớn trong việc lập trường, dạy chữ quốc ngữ Đồng thời cũng dấy lên phong trào đòi bài trừ các hủ tục lạc hậu, mang đậm chất phong kiến
Nhằm phục vụ đắc lực cho mục đích cai trị của mình, thực dân Pháp phát hành báo chí và cho xuất bản Ở Nam Kỳ, tờ báo đầu tiên ra đời là tờ Gia Định báo (15/ 04/ 1865), tiếp theo là các tờ báo khác như: Nhựt trình Nam Kỳ, Thông loại khóa trình, Phan yên báo, Thực nghiệp dân báo… và nhiều tờ báo khác nữa, chúng không ngừng phát hành để tác động vào thuộc địa làm cho họ bị “pha tạp” văn hóa dẫn đến “hỗn loạn”
Âm mưu của thực dân Pháp là dùng văn hóa Pháp để tấn công và đi đến xóa bỏ nền văn hóa cổ truyền của người dân Việt Nam Ngoài việc xây dựng trường học, thực dân Pháp còn xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống… Nhìn chung, đó là có phần văn minh của phương Tây Như vậy khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam thì cũng có sự xâm nhập những yếu tố mới của văn hóa mới và nền văn hóa truyền thống của người Việt Nam Trong nền văn hóa mới ấy là hệ tư tưởng dân chủ tư sản tinh thần của phương Tây được du nhập mạnh mẽ vào nước ta, tạo nên sự giao thoa giữa văn hóa Phương Tây nói chung, văn hóa Pháp nói riêng và văn hóa Việt Nam đã tạo nên sự biến đổi to lớn trong truyền thống văn hóa của người Việt Nam Thứ văn hóa ngoại lai đó đã xâm nhập vào thuộc địa bằng con đường cưỡng bức là chính Tuy nhiên nó cũng sinh ra nhiều cái xấu bởi do nó theo sau gót thực dân, mang theo những “cặn bã” ở chính quốc sang Việt Nam, nó được khuyếch đại và trộn lẫn vào những cái lạc hậu, cổ xưa của phong kiến
Trang 14Văn hóa Việt Nam cũng luôn mang trong mình một triết lý vươn lên đạt được sự công bằng dân tộc Chính triết lý ấy đã cho thấy rằng nền văn hóa Việt Nam không ngừng vươn lên, không ngừng phản kháng chống lại văn hóa phong kiến phương Bắc xâm lược để rồi vượt ra khỏi nghìn năm Bắc thuộc Để rồi từ đó, tiếp tục đánh thắng Tống, Bình, Nguyên, đuổi Minh, phá Thanh, giữ vững nền độc lập, tự chủ của đất nước Khi đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam, kéo theo một nền văn hóa lai căng nhằm biến Việt Nam thành thuộc địa của chúng thì triết lý văn hóa Việt Nam lại bùng lên, chống lại văn hóa Phương Tây và cuộc xâm lược của thực dân Pháp, bởi vì sự xâm lược và chính sách ngu dân thâm độc của thực dân Pháp đã khiến cho văn hóa Việt Nam ngày càng kiệt quệ
Trước tình thế đó đã tạo động lực cho Hồ Chí Minh nghiên cứu về văn hóa và áp dụng vào điều kiện lịch sử của nước nhà, sau này Đảng ta đã áp dụng những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây
dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đặc biệt là trong Đề cương
văn hóa Việt Nam năm 1943 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương,
Đảng ta đã xác định văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật
Ba nguyên tắc vận động văn hóa trong giai đoạn này là là dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa Tiếp đến là ngày 21 tháng 10 năm 1958, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ban hành chỉ thị số 109/CT –
TW Về việc tăng cường lãnh đạo công tác văn hóa, trong chỉ thị này Đảng ta
đã khẳng định: “Đi đôi với nhiệm vụ cải tạo và phát triển kinh tế, chúng ta cần tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa” [84, 19]
Khi đế quốc Mỹ tiến hành leo thang mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cả nước đã hòa mình vào cuộc chiến, để nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, Đảng viên và thanh niên thì Đảng ta đã tập trung chỉ đạo công tác bổ
túc văn hóa Chỉ thị của Ban Bí thư số 97 – CT/TW ngày 18 – 05 – 1965 Về
Trang 15đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa để nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ
và nhân dân lao động Nhằm phát huy cao độ các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, tuyên truyền trong việc động viên nhân dân vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Ban bí thư đã ban hành Chỉ thị số 104 – CT/TW ngày
28 tháng 07 năm 1965 Về công tác văn hóa văn nghệ trong tình hình mới và Chỉ thị số 118 – CT/TW ngày 23 tháng 12 năm 1965 Về việc tăng cường
công tác thông tin và cổ động Cho đến ngày nay toàn Đảng toàn dân ta đã
vận dụng tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh khá thành công
* Tình hình thế giới:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc trên nhiều châu lục đã nảy sinh ra mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa các dân tộc bị
áp bức với các nước đế quốc Nhằm mục đích phục vụ cho sự bành trướng
và phát triển của mình, các nước đế quốc đã tăng cường vơ vét bóc lột các nước thuộc địa Trong tình cảnh đó, hầu hết các nước phương Đông chưa thoát khỏi chế độ phong kiến, phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào chúng Do đó, các nước cũng
ở trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển, bởi vì chủ nghĩa đế quốc tước đoạt
tự do, chúng đầu độc và phá hoại những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tinh thần dân tộc, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội Thời đại đó đã bộc
lộ nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với bọn thực dân đế quốc, mâu thuẫn giữa
đa số người lao động với bọn địa chủ phong kiến
Trang 16Ở phương Đông, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở thuộc địa với tư bản ở chính quốc và tư sản bản xứ Những mâu thuẫn đó ngày một phát triển dẫn đến những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX Những phong trào đấu tranh đó đã mở ra cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc Do sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế quốc, một số nước đế quốc muốn chia lại thuộc địa để có thị trường riêng và đây cũng là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Cuộc chiến tranh tàn khốc này đã làm tiêu hao biết bao nhiêu tiền của và sinh mạng con người này đã làm tăng mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa trên thế giới bị suy yếu và đã tạo điều kiện cho cuộc Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, do Lênin và Đảng Bônsêvich - Đảng tiên phong của giai cấp vô sản lãnh đạo đã chứng minh rằng: một thời đại mới đang xuất hiện – thời đại của giai cấp vô sản đang lên
Nhiều cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản diễn ra, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa,
đã làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”, lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người – thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đồng thời nhà nước Xô Viết ra đời làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính thời đại: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
Phải nói rằng Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo tiền đề và là điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đặc biệt với sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa, trong
đó có Việt Nam mà công lao to lớn là Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ sau Cách
Trang 17mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (tháng 3 năm
1919), tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), “Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I Lênin
được công bố Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập Phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù
là chủ nghĩa đế quốc Tiếp theo là cuộc đấu tranh chống nổi loạn và can thiệp
vũ trang của 14 nước đế quốc (1918 -1920) nhằm bảo vệ cách mạng; công cuộc xây dựng chế độ mới từ 1921 – 1941 bước đầu đã xây dựng được nền móng của chủ nghĩa xã hội; đặc biệt là cuộc đấu tranh giữ nước vĩ đại năm
1941 – 1945 đánh bại chủ nghĩa phát xít, điều này không chỉ bảo vệ được thành quả xã hội chủ nghĩa mà còn góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng nhân loại
Chính những cuộc đấu tranh này đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước giải phóng cho dân tộc Việt Nam
1.1.2 Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới
* Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa Việt Nam:
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng – lý luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 18Hồ Chí Minh tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam, trước hết là chủ nghĩa yêu nước Giá trị truyền thống này cũng có ở tất cả các nước trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam Nhưng đây là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nó có sắc thái riêng Ví dụ như lòng nhân ái mang sắc thái của con người của cộng đồng người Việt Nam Hồ Chí Minh được sinh
ra từ nền văn hoá Việt Nam, trong đó có tiếp nhận từ truyền thống văn hoá quê hương, gia đình, có mở rộng tầm nhìn ra các vùng miền khác, đặc biệt là văn hoá kinh đô Huế và Sài Gòn – Gia Định Hồ Chí Minh không bó hẹp trong một địa bàn quốc gia - dân tộc mà còn tự giác dấn thân vào môi trường quốc tế rộng lớn, tự mình bươn trải trong 30 năm sống ở ngoài nước
Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc
xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước Việt Nam là một quốc gia hình thành từ rất sớm, Tổ quốc Việt Nam đã trở thành Tổ quốc thiêng liêng của người dân Việt Nam Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Trong điều kiện khó khăn, chênh lệch mạnh về lực lượng cũng như vũ khí, dân tộc ta đã nhận ra rằng để thắng kẻ thù phải tập trung sức mạnh về vật chất và tinh thần của toàn dân tộc
Trang 19Như vậy, truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm đơn thuần, một phẩm chất tinh thần mà đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước – chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng chủ lưu của tư tưởng dân tộc, xuyên suốt lịch sử của đất nước Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi
sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu cho một dân tộc anh hùng” [54, 171 – 172]
Tiếp theo là truyền thống tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” là những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc Truyền thống này hình thành cùng lúc với sự hình thành dân tộc,
từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh với thiên nhiên và chống kẻ thù xâm lược, người Việt Nam đã gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm
Việt Nam là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là chính Cho nên nền kinh tế nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên như: nắng, mưa, bão, lũ lụt… mà địa hình đất nước Việt Nam lại chằng chịt sông ngòi dày đặc Một mặt chúng bồi đắp phù sa, mặt khác chúng cũng gây ra những trận lũ dữ dội Vấn đề này không chỉ là chuyện của bất kỳ quận, huyện nào mà là chuyện của cả nước Do đó, để bảo vệ cuộc sống và sản xuất, từ rất sớm người Việt Nam đã biết giúp đỡ nhau, cùng nhau chống chọi lại thiên nhiên, đắp đê phòng lũ lụt Hệ thống đê điều ở vùng châu thổ Bắc
Bộ là những công trình lớn, được hình thành nhờ sức lao động của hàng triệu người dân Việt Nam qua mấy chục thế kỷ
Trang 20Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh) Người thường nhấn mạnh, nhân dân
ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ “nghĩa” để phân rõ bạn thù
Đó là một nền văn hóa trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm, bổn phận của cá nhân phải biết chăm lo, vun đắp cho quê hương, tổ quốc Đây được coi là chuẩn mực cao nhất của nhân cách con người Việt Nam Ta
có thể hiểu rằng, truyền thống văn hóa Việt Nam dạy cho người dân không được quên cội nguồn, dân tộc, biết ơn những người đã khuất
Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đời sống mới là “cần, kiệm, liêm, chính” Người đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, trộm cắp Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm” Nếu một mình no ấm mà để đồng bào xung quanh đói rét… thì
dù giàu cũng không hưởng được Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ… Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ phong tục tập quán cũ, lỗi thời Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân… Đi đôi với vấn đề đó,
Trang 21Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ…)
Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã
kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trong khó khăn, thử thách, người dân Việt Nam vẫn sát cánh bên nhau, tương thân, tương ái, vẫn lạc quan, yêu đời Tinh thần lạc quan có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân, tin vào sự tất thắng của chính nghĩa
Truyền thống văn hóa Việt Nam còn được thể hiện ở một dân tộc cần
cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu Hồ Chí Minh trích dẫn lời ông Bô lúc đó là Toàn quyền Đông Dương Mặc dù là tên đầu sỏ thực dân Pháp, ông Bô đã phải công nhận và không giấu nổi lòng khâm phục đối với truyền thống văn hóa Việt Nam Sau này được ghi lại trong Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Sự cần cù không mệt mỏi” của nhân dân; “cơ sở tổ chức đáng khen” ở khắp nông thôn và chốn kinh kỳ; nếp sống “trên kính dưới nhường, thờ phụng tổ tiên” của các gia đình Việt Nam; và “những câu châm ngôn làm
vẻ vang cho nhân loại” ở khắp các đền chùa
Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần, mà đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, xuyên suốt lịch sử của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người Chính truyền thống yêu nước đó đã thúc đẩy Nguyễn Sinh Cung sau này là Nguyễn Tất Thành, đi tìm
Trang 22đường cứu nước Đó cũng là động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cuộc đời mình
Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, Người thường nêu cao: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nguồn lực chủ yếu, là sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc, là triết lý, là đạo lý sống của mỗi con dân Việt Nam Tất cả những truyền thống tốt đẹp đó được thể hiện ở những thành tựu, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, trở thành nét văn hóa đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam Trong sự nghiệp cách mạng, cả trong kháng chiến và trong xây dựng xã hội mới, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm, tư tưởng
về văn hóa hết sức sâu sắc, đến nay vẫn mang đầy đủ ý nghĩa chỉ đạo trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới và trong quá trình giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
* Tinh hoa văn hóa thế giới:
Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây - chính là nét đặc sắc trong quá
trình hình thành nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh cũng được tiếp thu văn hoá phương Đông qua Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Người đã tiếp thu và kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hóa Phục hưng, của thế kỷ Ánh sáng, của cách mạng
tư sản phương Tây và của cách mạng Trung Quốc
Nắm được quy luật hình thành và phát triển của nền văn hóa dân tộc Người vạch rõ, là văn hóa thì phải giao lưu, phải thâu hóa văn minh của các dân tộc khác Trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, tháng 11 năm 1946, có người cho rằng văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng của văn hóa phương Đông
và văn hóa phương Tây chung đúc lại Vậy ta nên theo văn hóa nào?
Người trả lời: “Ta phải “giữ cốt cách dân tộc, còn phương đông hay phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt là phải học lấy để tạo ra nền văn hóa
Trang 23Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”
Tinh hoa văn hóa phương Đông:
Một là, tư tưởng Nho giáo
Ngay từ lúc còn rất nhỏ, Hồ Chí Minh đã được học chữ Hán với những nhà Nho yêu nước, đã tiếp thu triết lý và đạo đức Khổng - Mạnh qua những sách kinh điển của Nho giáo Chính điều đó chúng ta có thể tìm thấy những yếu tố tích cực, tiến bộ của tư duy chính trị - triết học phương Đông trong tư duy chính trị - triết học của Hồ Chí Minh
Nho giáo vốn là học thuyết về đạo đức, nó chủ trương: từ thiên tử cho đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm đầu Phương pháp giáo dục đạo đức của Nho giáo là nêu gương Khổng Tử nhấn mạnh “Nhân”, “Trí”, “Dũng” còn Mạnh Tử đề cao “Nhân”, “Lễ”, “Nghĩa”, “Trí”
Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng, tình cảm của Người không phải
là những điều “tam cương”, “ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến mà là tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, sự ham học hỏi, đức tính khiêm tốn, “ôn hòa”, cách xử thế “có tình có lý” mà chúng ta đã thấy ở Chu Văn An, Nguyễn Trãi… Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục và coi giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng Người luôn luôn nhấn mạnh “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” và suốt đời kiên trì, nêu gương về đạo đức Cả cuộc đời của Người là tấm gương cho những tư tưởng đạo đức đó
Những kiến thức Hán học mà Người tiếp thu từ nhỏ đã ăn sâu vào tâm trí Cho nên trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Người đã sử dụng cải biên các khái niệm, các mệnh đề tích cực của Nho giáo để diễn đạt cho
Trang 24những tư tưởng của mình Người cũng đã làm thơ bằng chữ Hán, tiêu biểu là
tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”
Nho giáo trước khi vào nước ta, thì bắt gặp chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Do đó, hình thành nên một trào lưu Nho giáo yêu nước, một thứ Nho giáo đã được Việt Nam hóa Đi sâu phân tích tư tưởng của các sĩ phu yêu nước thì thực chất đó là một chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thấm đượm ở trình độ nào đó tinh thần và nội dung của Nho giáo
Ngoài những yếu tố duy tâm, lạc hậu, Nho giáo cũng có những yếu tố tích cực Nó đề cao những mệnh đề “trung – hiếu”, “nhân nghĩa”, “tứ hải giai huynh đệ”, “dân vi quý, xã tắc tứ chi, quân vi khinh” nêu phương châm
“khắc kỷ phục lễ”,…
Chúng ta đều biết Khổng giáo là tư tưởng của thời Xuân Thu chiến quốc Do đó, bên cạnh những nội dung tích cực nhất định, đạo Khổng đã phản ánh tình trạng xã hội phong kiến, phân chia “quân tử với tiểu nhân”, coi thường lao động chân tay; đặc biệt coi khinh phụ nữ… Những luận điểm đó hoàn toàn xa lạ với tư tưởng Hồ Chí Minh: Đấu tranh cho một xã hội bình đẳng, dân chủ; tôn trọng lao động – cả lao động trí óc và lao động chân tay; tôn trọng phụ nữ, chủ trương nam nữ bình quyền… Người đã chọn lọc rất kỹ những điều này khi áp dụng vào điều kiện thực tiễn của dân tộc, cái nào hay, phù hợp thì lấy, cái nào không hay, không phù hợp thì loại bỏ
Trong khi tiếp thu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế; hành động giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học để áp dụng vào thực tế của đất nước ta lúc bấy giờ
Đây là điểm mà Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, vì các học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để cai trị Hồ Chí Minh đã thay đổi về bản
Trang 25chất các khái niệm cũng như các mệnh đề đạo đức của Nho giáo, khiến cho
nó trở nên thích hợp với nền văn hóa của nước Việt Nam ta Hồ Chí Minh còn phê phán, loại bỏ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực của học thuyết này Người cũng đã ở kinh thành Huế, nơi ngự trị của vua chúa phong kiến nhà Nguyễn vốn sùng bái Nho giáo, thấy rõ tính chất thủ cựu, ươn hèn của chúng
và cảm nhận sâu sắc tấm lòng nhân ái, nghĩa tình của người dân xứ Huế
Hai là, tư tưởng của Phật giáo
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Ngay khi Nho giáo trở thành quốc giáo, Phật giáo vẫn còn ảnh hưởng rất lớn trong tầng lớp nhân dân, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn hóa Việt Nam, từ tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng đến phong tục tập quán, lối sống…
Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng “vị tha”,
“từ bi bác ái”, “cứu khổ cứu nạn”, “thương người”, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng; chủ trương sống không xa lánh đời mà gắn bó với nhân dân, tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của dân tộc Việt Nam
Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẫn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc
Tiếp theo là Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn), đề cao lao động, chống lười biếng Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật
Trang 26giáo Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và chính điều đó đã để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà
tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử… trong các bài nói, bài viết khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ba là, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Khi đã trở thành người mác-xít, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu thêm về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong chủ nghĩa ấy “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”, đó là “dân tộc độc lập”, “dân quyền tự
do”, “dân sinh hạnh phúc”
Hồ Chí Minh đã từng được nghe những từ “dân sinh”, “dân quyền”,
“dân quốc” do các nhà Nho yêu nước nói đến trong khi tọa đàm với cha mình là cụ Nguyễn Sinh Sắc Nhưng có lẽ ngay khi về tới Quảng Châu – trung tâm của Cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ (1924), Người mới có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn Lúc này là thời kỳ Tôn Trung Sơn cải tổ Quốc dân đảng Trung Quốc Sau khi ông mất, Nguyễn Ái Quốc đã dự Đại hội II của Quốc dân Đảng Trung Hoa
và cũng đã chịu hậu quả của những phần tử phản bội lại ý tưởng của Tôn Trung Sơn sau vụ chính biến của Tưởng Giới Thạch tháng 4 năm 1927
Hồ Chí Minh đã thấy ở chủ nghĩa Tam dân và chính sách “thân Nga, liên Cộng, phù trợ công nông” của Tôn Trung Sơn có những tư tưởng tiến
bộ, tích cực và có thể vận dụng vào Việt Nam Người đã nhận xét: chủ nghĩa
ấy thích hợp với điều kiện ở nước ta
Tuy nhiên chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư sản, nằm trong hệ tư tưởng tư sản nên có nhiều hạn chế Người đã thấy rõ những hạn chế đó, cho nên khi cụ Phan Bội Châu chuyển
Trang 27Việt Nam Quang Phục hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, theo cương lĩnh của Tôn Trung Sơn thì Hồ Chí Minh đã có những lời khuyên chân thành là không thể dừng lại ở những chủ trương của Quốc dân Đảng Hơn nữa, khi vận dụng chính sách mà Người cho là thích hợp nhất đối với Việt Nam như khẩu hiệu “Độc lập – tự do – hạnh phúc” rút ra từ chủ nghĩa Tam Dân và tư tưởng “tự do – bình đẳng – bái ái” của cách mạng tư sản Pháp, thành tiêu ngữ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì Người đã phát triển khái niệm
“Độc lập – tự do – hạnh phúc” lên một trình độ mới, mang tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính cách mạng triệt để của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng
Qua việc xem xét thực tế cuộc sống của dân chúng, trực tiếp hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội ở các nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút
ra những nhận xét, đánh giá, để tìm ra những gì là “tinh hoa” tốt đẹp cần tiếp thu và những gì còn hạn chế cần khắc phục
Tinh hoa văn hóa phương Tây:
Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp tục hướng đến văn hóa phương Tây Văn hóa phương Tây được
Hồ Chí Minh tiếp nhận đồng thời với quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, là một phần hết sức quan trọng trong tư tưởng của Người, xét cả về chiều rộng và chiều sâu tư tưởng
Ngay từ lúc còn học ở trường tiểu học Đông Ba và trường Quốc học Huế, Người đã từng biết đến khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp, được tiếp xúc với những tờ báo tiếng Pháp có xu hướng tự do qua người lính lê dương tiến bộ Văn minh phương Tây với những thành tựu khoa học kỹ thuật đã khơi gợi tư duy cho Người, khiến Người muốn tìm sang các nước phương Tây để tìm hiểu những gì ẩn dấu
Trang 28đằng sau khẩu hiệu ấy Hồ Chí Minh đã thể hiện thái độ tiếp nhận những khái niệm tự do, dân chủ một cách rõ ràng, cụ thể Lúc bấy giờ trong xã hội phong kiến Việt Nam không hề có những khái niệm tự do – dân chủ Chỉ có
ở phương Tây với ý nghĩa đích thực của nó từ khi gắn với triết học ánh sáng Pháp, thế kỷ XIX Rồi từ đó Hồ Chí Minh ra đi từ một nước thuộc địa phong kiến để tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc, tiếp nhận tư tưởng đó như
là hạt nhân cho lý tưởng cứu nước và giải phóng dân tộc
Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở New York, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống
của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ
Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự
do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945
Trong gần 10 năm bôn ba, khảo sát ở các nước tư bản lớn như Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của họ, Người đã tìm hiểu qua sách báo, tài liệu, qua tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều nhà văn hóa, nhà hoạt động chính trị xã hội thời bấy giờ như: Henri Barbusse, Jacques Duclos, Romain Rolland, Marcel Cachin… và sự có mặt của nhiều người ở các cuộc hội thảo về văn hóa, triết học, chính trị, kinh tế ở các câu lạc bộ, nhà máy, bảo tàng… Những cuộc hội ngộ và những sinh hoạt có tính chất văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật đó một mặt đem lại cho Hồ Chí Minh những giá trị văn hóa Pháp, văn hóa phương Tây nói chung như chủ nghĩa lãng mạn, sự phân tích khoa học và lý tính, mặt khác tăng cường sự hiểu biết chính trị và sự hiểu biết về nhân dân Pháp
Trang 29Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Vôn-te, Rút-xô, Mông-
tét-xki-ơ,… những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như “Tinh thần
pháp luật” của Mông-tét-xki-ơ, “Khế ước xã hội” của Rút-xô,… tư tưởng
dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn Rõ ràng là ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối
tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa
Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M Ca-sanh, P.V Cu-tuya-ri-ê, G Mông-mút-xô… mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa, đổi mới, vận dụng và phát triển
Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước Việt Nam, của dân tộc Việt Nam vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới
Hồ Chí Minh không phải là con số cộng các nền văn hoá dân tộc và thế giới mà là có sự tổng hoà, đúc kết hình thành làm một để kiến tạo nên tư chất của một nhà văn hoá
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục, tiếp xúc, tìm hiểu văn minh phương Đông và phương Tây, nhưng bước ngoặt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ xảy ra khi Người đến
Trang 30với chủ nghĩa Mác – Lênin, rồi từ người yêu nước trở thành người cộng sản Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rằng: chính chủ nghĩa Mác – Lênin đã trang bị cho những người cách mạng phương pháp tư duy khoa học để tìm hiểu thiên nhiên, xã hội, con người… và hướng con người đến với những giá trị chân, thiện, mỹ Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin của Người không chỉ là bước ngoặt trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Việt Nam
mà còn là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam Và cũng chính nhờ thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước
Tháng 7 năm 1920, Hồ Chí Minh đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa” của Lênin Tác động của “Luận cương” đối với Hồ Chí
Minh rất mạnh mẽ và to lớn, mở ra cho Người một chân trời mới, nhận thức mới về cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Người lựa chọn “tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[54, 128] Luận cương của Lênin không chỉ tạo ra bước ngoặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có ý nghĩa mở đầu một thời
kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam: Đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga - con đường cách mạng vô sản do Đảng cộng sản lãnh đạo
Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” Người viết: “Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên… Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình… Tôi tham gia Đảng xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông”,
“bà” ấy – (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức Còn như Đảng là gì, công đoàn
là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu” [54, 126] Năm 1920 là một bước ngoặt lớn đối với cuộc đời hoạt động của
Trang 31Người, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính Người đã đến với chủ nghĩa quốc
tế vô sản
Trong suốt thời gian hoạt động cách mạng, Người tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt thời gian làm việc ở Liên Xô, Người đã hiểu khá sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cộng sản quốc tế Sự tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin là một định hướng quyết định hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh
đi vào hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là chân chính nhất, cách mạng nhất, chắc chắn nhất mà còn khoa học nhất Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Người Đây là nguyên nhân căn bản khiến Hồ Chí Minh không một phút xa rời học thuyết Mác - Lênin Kể cả trong những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất
di bất dịch và lòng trung thành vô hạn đối với chủ nghĩa Mác - Lênin Vì vậy trong ứng xử, Người giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược đi đôi với sách lược linh hoạt mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biết, ứng vạn biến”
Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá, phân tích, tổng kết các học thuyết tư tưởng đương thời cũng như kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để tìm
ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc
Nói về văn hóa thì theo Mác, văn hóa là sự phát triển tất cả các thuộc tính của con người và sức sản xuất của xã hội, vấn đề này được xem như con người có tất cả mọi thuộc tính và mọi mối liên hệ của xã hội Văn hóa là một đối tượng phi tự nhiên nhưng để phân biệt thế giới của các đồ vật tồn tại một
cách tự nhiên Trong bộ Tư bản, Mác đã dùng những nguyên tắc phân tích
Trang 32hàng hóa để ứng dụng vào phân tích văn hóa Chúng ta cũng biết rằng văn hóa cũng là một sản phẩm, cho nên sản phẩm văn hóa cũng là hàng hóa, nhưng là hàng hóa đặc biệt Những phạm trù giá cả, giá trị phải được hiểu không phải là nội dung tự nhiên mà ở nội dung xã hội Như vậy, Mác đã nói đến ý nghĩa thực tiễn của hàng hóa, tức là khi xét giá trị của sản phẩm, của hàng hóa, hàng hóa đặc biệt thì không xét ở bề ngoài mà xét ở những cái tiềm ẩn bên trong Lao động sáng tạo ra văn hóa, nhưng cũng không được lý giải văn hóa bằng bất cứ một kết quả nào đang tồn tại theo kinh nghiệm của lao động Cái chính trong lao động không phải là ở sức mạnh thuần túy sản xuất mà ở chính sức mạnh của xã hội – sản xuất Với tư cách đó, lao động trở thành nguồn gốc và thực thể của văn hóa
Mác viết: lao động, và chỉ có lao động xã hội, mới trở thành nguồn gốc của phồn vinh và văn hóa
Trong khi đó, quan niệm về văn hóa của Lênin rộng và bao quát hơn Theo Lênin, ở đâu có hoạt động của con người là ở đó có văn hóa; phạm vi của văn hóa không chỉ là văn hóa tinh thần mà còn là văn hóa vật chất Lênin coi văn hóa như là một phương diện quan trọng nhất trong tất cả các loại hình hoạt động của con người và văn hóa là kết quả của hoạt động đó
Một trong số những vấn đề mà Lênin hay bàn về văn hóa là:
Cách mạng văn hóa trước hết là cách mạng trong ý thức của quần chúng Lênin cho rằng, hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa là của nhân dân chứ không chỉ là cho nhân dân Đây là một quan điểm rất mới mẻ
Theo Lênin, xây dựng cách mạng văn hóa cần phải có chất liệu, mà chất liệu ở đây là chất liệu về văn hóa và chất liệu về con người, điều mà trong tất cả các chế độ cũ và chế độ tư bản đã bỏ quên
Về tính kế thừa của văn hóa, Lênin đã đưa ra nhiều quan điểm hết sức quan trọng: “Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không
Trang 33phải là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… Văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu” [68, 402]
Tóm lại, chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa được dựa trên những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử về các hình thái kinh tế xã hội như những giai đoạn phát triển của xã hội loài người, về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Tiếp đó, văn hóa thể hiện tính đặc thù của xã hội, thể hiện mức độ phát triển của lịch sử mà con người đạt được Văn hóa thể hiện sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội, là thể hiện đặc tính về khả năng và sức sáng tạo của con người Hồ Chí Minh không chỉ tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa theo nghĩa thông thường mà là tiếp nhận một chân lý cách mạng, hay nói rõ hơn là một giá trị văn hóa như một chân lý cách mạng có ý nghĩa thời đại mà Người đã phải bỏ ra nhiều công sức cả về trí lực và thể lực mới tìm thấy được
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây với chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tinh thần, phương pháp luận Chính chủ nghĩa Mác – Lênin đã góp phần quyết định sự hoàn thiện về tư tưởng văn hóa, tư tưởng nhân văn mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại sâu sắc ở Hồ Chí Minh
Kế thừa có chọn lọc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về văn hóa Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, cộng với phẩm chất, tài năng vượt thời đại đã tạo nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Thông qua Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với văn hóa Việt Nam Ban đầu nó đã cải tạo phong tục tập quán lạc hậu và gợi lên
Trang 34các ý tưởng về các giá trị văn hóa tốt đẹp như: tự do, công bằng xã hội và ấm
no hạnh phúc Chủ nghĩa Mác – Lênin đã làm thay đổi nhanh chóng diện mạo nền văn hóa của Việt Nam Những người sống nghèo khổ trong tận cùng của xã hội được ánh sáng của chủ nghĩa Mác cổ vũ đứng lên chống áp bức bóc lột, để giành lại nhân phẩm và địa vị của mình Phải nói rằng chủ nghĩa Mác đã thúc đẩy tiềm năng tinh thần cho văn hóa Việt Nam, xác lập một giá trị mới trong lối sống của người dân Việt Nam Chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành yếu tố văn hóa quan trọng thúc đẩy nước ta theo con đường chủ nghĩa xã hội
1.1.4 Phẩm chất và tài năng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh sinh ra ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An, là vùng đất có truyền thống văn hóa hiếu học, lại được ở trong một gia đình có truyền thống văn hóa lâu đời, nơi đây là cái nôi đã hun đúc nên văn hoá Hồ Chí Minh Có
lẽ Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu khí khái của cha mình Cụ Nguyễn Sinh Sắc mạnh ở mặt thương người, nhân ái, ở tính khảng khái, ở cái chí lớn, ở cái cách giáo dục cho con cái
Như vậy, Hồ Chí Minh ngay từ nhỏ đã được thừa hưởng một trí thông minh của cha ông, được thể hiện trong học tập Chính điều đó đã tạo nên ở người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành một đầu óc quan sát, phê phán, phân tích rất tinh tường, một bản lĩnh độc lập, kiên cường trong tư duy Dần dần Người lấn sang cái hiện đại từ cái nền văn hoá cổ - trung - cận đại đầy biến động Hồ Chí Minh tiếp nhận cái tinh túy văn hoá điển hình người phụ nữ Việt Nam chung thủy, đảm đang, hết lòng vì chồng con từ người mẹ thân yêu nhưng mất sớm Hồ Chí Minh là một thành viên hoà đồng với chị và anh của mình làm thành cái đơn vị văn hoá gia đình đẹp đẽ của mình, đã được quê hương và gia đình trang bị cho một vốn học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo, một đầu óc phê phán tinh tường giúp cho
Trang 35Người phân tích, tổng kết phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, để tự tìm một hướng đi mới cho cách mạng Việt Nam nên ngay từ nhỏ Người đã nhận ra những hạn chế trong phong trào yêu nước của các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ Bên cạnh việc khâm phục các cụ: Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Người đã không tán thành cách làm của bất kì người nào Chính điều đó nên khi ở tuổi 20, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước giải phóng cho dân tộc Việt Nam
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều nước như: Á, Phi, Mỹ la tinh… vừa hoạt động vừa nghiên cứu, học tập
ở những trung tâm văn hóa, khoa học và cách mạng của phương Tây như: New York, London, Pari… đã làm bạn với nhiều nhà văn hóa và nhiều nhà cách mạng nổi tiếng Qua đó tự trang bị cho mình kiến thức về nhiều mặt và nhận thức được thời đại mà mình đang sống một cách sâu rộng theo phong cách của Lênin Người học chữ Hán theo phong cách của phương Đông rồi chuyển qua học tiếng Pháp theo phong cách của phương Tây Chỉ trong sáu năm Hồ Chí Minh đã có thể viết văn, viết báo, viết kịch… Bằng tiếng Pháp, Người đã thu hút được người đọc, người nghe, thuyết phục được một bộ phận Đảng viên xã hội theo Quốc tế thứ ba… Người đến Mátcơva trong một thời gian ngắn, thông qua hoạt động ở Hội nghị Quốc tế Nông dân và Quốc
tế Cộng sản, tên tuổi của Người được nhiều người biết đến – một lãnh tụ xuất sắc của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
Người nghiên cứu lý luận Mác – Lênin ở trường Đại học Phương Đông (1923 – 1924), ở trường Quốc tế Lênin (1934 – 1935), sau đó làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Quốc tế Cộng sản (1936 – 1938) Người còn dịch Tuyên ngôn của Đảng
Trang 36cộng sản, Lịch sử Đảng Cộng sản (B) Liên Xô… và nhiều tác phẩm lý luận
khác ra Tiếng Việt để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam
Từ khát vọng đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, “tựa như người đi đường đang khát nước mà
có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” Người đã phấn khởi reo lên như phát minh ra một sáng kiến vĩ đại: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” Người sớm đi tới kết luận: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [53, 28]
Tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã tìm thấy ở đó một động lực văn hóa của thời đại Ngoài việc nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh còn vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam và các nước thuộc địa cùng hoàn cảnh Cũng trong thời gian này, Người đã viết nhiều tác phẩm lý luận nổi tiếng như:
“Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”, “Bản án chế độ thực dân
Pháp”, “Đường cách mệnh” (…), “Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt”
và các văn kiện do Người khởi thảo tại Hội Nghị hợp nhất các Đảng cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, đã đánh dấu sự hoàn chỉnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam là theo con đường cách mạng
vô sản Chính điều đó đã tạo cho Người một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, một đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc đánh giá các cuộc cách mạng tư sản Bằng chứng là thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, Hồ Chí Minh được thừa nhận là nhà lý luận tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới bởi Người là người đầu tiên đã tìm ra con đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại Cách mạng vô sản, là con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Cũng chính Người là người
Trang 37đầu tiên vượt lên trước những nhà cách mạng cùng thời đưa ra luận điểm: cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản
ở chính quốc Hồ Chí Minh là một con người sống có hoài bão, có lý tưởng yêu nước, thương dân sâu sắc, nhất là những người cùng khổ bị áp bức bóc lột, có bản lĩnh kiên định, có ý chí kiên cường trong đấu tranh thực hiện mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn Đặc biệt, Người còn là một con người thông minh, sắc sảo, nhạy bén với cái mới, ham học hỏi, có tư duy độc lập, sáng tạo; có trí tuệ uyên bác, kiến thức sâu rộng; biết nhiều ngoại ngữ, do đó có điều kiện tiếp xúc với văn hóa của nhiều dân tộc Người còn là một con người có lòng tin mãnh liệt nơi nhân dân, có ý chí, nghị lực phi thường, có đầu óc thực tiễn, thiết thực, cụ thể, lý luận gắn liền với thực tiễn, nói đi đôi với làm, có tác phong giản dị, khiêm tốn, gần gũi, hòa mình với quần chúng,
có sức cảm hóa lớn đối với mọi người
Những tư chất và phẩm chất ấy được phát huy trong suốt cuộc đời hoạt động của Người Nhờ vậy, giữa vô vàn lý thuyết, học thuyết khác nhau, đối lập đúng - sai, thật - giả đan xen lẫn lộn, trong khi nhiều chiến sĩ cách mạng từ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng đến Phan Chu Trinh… không phát hiện ở đâu là quy luật, là chân lý, thì chính Hồ Chí Minh đã tìm ra mục tiêu, lý tưởng cách mạng đúng đắn và con đường để đi tới mục tiêu, thực hiện lý tưởng ấy Có thể khẳng định rằng, rất ít nhà cách mạng có được quá trình hoạt động thực tiễn phong phú như Chủ tịch Hồ Chí Minh Người đã tiếp thu nhiều nền văn hóa khác nhau, thu nhận ở mỗi nước một thực tiễn sinh động Với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, óc phê phán tinh tường, Người đã có cách nhìn nhận thật độc đáo và khoa học
Như vậy ở Hồ Chí Minh đã hội tụ những yếu tố của một người cách mạng khi đã chuẩn bị đầy đủ về mặt lý luận; có khả năng đi trước; tổng kết
Trang 38thực tiễn dự báo tương lai, chỉ đường cho phong trào của quần chúng từ tự phát lên tự giác; có được tầm nhìn chính trị rộng lớn để giải quyết thành công mọi vấn đề chiến lược cũng như sách lược của cách mạng; thành công trong việc tổ chức một chính Đảng cách mạng có sức chiến đấu mạnh mẽ, lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm; và Hồ Chí Minh còn là một chủ thể sáng tạo văn hoá, Người là một nghệ sĩ đích thực với tư cách là nhà thơ, viết văn, nhà phê bình văn học
Hồ Chí Minh là một nhân tố quan trọng nhất và tác động mạnh mẽ nhất cho quá trình giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và thế giới của thế kỷ
XX Giao lưu văn hoá là điều tất yếu, là quy luật vận động và phát triển của nhân loại Nó là một quá trình thường xuyên, diễn ra một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của giới cầm quyền Dù có đóng cửa,
dù có bế quan toả cảng như thế nào đi chăng nữa, nhưng quá trình giao lưu văn hoá vẫn cứ diễn ra, vấn đề là ở chỗ nó diễn ra như thế nào mà thôi
Quá trình giao lưu văn hoá là quá trình tiếp nhận những giá trị văn hoá tốt đẹp của nhau, làm giàu thêm văn hoá của bản địa và từ đó mỗi một dân tộc có đóng góp tích cực chung vào kho tàng văn hoá của nhân loại Tình trạng đóng cửa của triều đình nhà Nguyễn, thái độ cực đoan trong chính sách thực dân của Pháp ở Việt Nam đã làm chậm quá trình giao lưu văn hoá của Việt Nam với thế giới Ngay cả phong trào duy tân (đổi mới), những cải cách, những làn gió mới thổi vào xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã làm nên cuộc cách mạng thật sự trong đời sống văn hoá của Việt Nam nhưng chính quyền phong kiến Việt Nam cũng không hài lòng Không hài lòng bởi vì những cải cách đó trên thực tế đã tác động mạnh vào chế độ phong kiến, làm xói mòn những giá trị của chế độ hiện hành Chính quyền thực dân Pháp lẽ
ra phải ưng thuận và ủng hộ cho những cải cách về văn hoá duy tân, phải ủng
hộ cho quá trình vùng lên mạnh mẽ đầu thế kỷ XX như phong trào học chữ
Trang 39quốc ngữ, phong trào vận động đời sống mới Thế nhưng với con mắt cực đoan, bảo thủ cho nên thực dân Pháp lo sợ các phong trào duy tân dẫn tới việc đấu tranh chống lại ngay bản thân thực dân Pháp, tác động không tốt tới
sự cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam Cho nên mới dẫn đến việc phong trào duy tân cũng bị thực dân Pháp đàn áp, bắt bớ, cấm chỉ hoạt động Chính đây là một trong những biểu hiện của sự bóp nghẹt về văn hoá trong quá trình cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng làm cho đất nước Việt Nam tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá của các nền văn hoá thế giới Hồ Chí Minh không phải là con người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà là một con người có ý thức chủ động, tích cực tiếp nhận văn hoá của nước khác Hồ Chí Minh yêu mến văn hoá Pháp, yêu mến văn hoá Mỹ trong khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược đất nước Việt Nam Bởi vì Người cũng hiểu được rằng: quá trình tiếp nhận các nguồn văn hóa như vậy là quá trình làm giàu cho kho tàng văn hoá dân tộc
Sự tiếp biến văn hoá của Hồ Chí Minh được diễn ra trong suốt cuộc đời của mình, nhưng mạnh nhất, có hiệu quả nhất, là từ khi nước nhà đã giành được độc lập, xây dựng cuộc sống mới, lúc làm Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng cầm quyền Nhưng, cái quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề đó
là nhất quán Hồ Chí Minh thâu thái cổ kim Đông – Tây sâu sắc, đem những cái tốt đẹp trong văn hoá của nhân loại hoà vào và phát triển cùng văn hoá dân tộc, nâng tầm văn hoá dân tộc lên, đưa văn hoá dân tộc đóng góp chung vào văn hoá thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau của các dân tộc, góp phần vào bước tiến chung của nhân loại
Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Người đã đưa ngay chính sách văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước Trước hết, Người rất quan tâm đến chống nạn dốt và chỉ rõ: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
Trang 40Người coi sự dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một kẻ thù Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào đời sống mới và viết
sách “Đời sống mới” để hướng dẫn nhân dân thực hiện Phong trào văn hóa
quần chúng do Người phát động đã tạo ra cái nền vững chắc cho sự phát triển của nền văn hóa, nghệ thuật, khoa học, giáo dục… của nước nhà Phẩm chất, tài năng Hồ Chí Minh toát ra từ nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh đã có sức cuốn hút kỳ diệu lớp văn nghệ sĩ, trí thức… tiêu biểu nhất của đất nước,
đi với cách mạng và kháng chiến Như vậy, từ rất sớm Người đã xây dựng bản chất, mục tiêu và những biện pháp cơ bản để xây dựng nền văn hóa của đất nước Đó là nền văn hóa lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở
1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của văn hóa
Hồ Chí Minh không đứng trên tư cách là nhà chính luận văn hóa bàn
về vấn đề văn hóa, song từ thực tế sự trải nghiệm hoạt động cách mạng cứu nước của mình, nó là một bộ phận trong tư tưởng chính trị của Người, là mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và Người đã đưa ra cách hiểu về vấn đề văn hóa khá giản dị Khái niệm về văn hóa sau đây được trích
ở phần cuối tập “Nhật ký trong tù” (1942 – 1943), và đây được coi là lần đầu
tiên mà Hồ Chí Minh đưa ra một định nghĩa về văn hóa:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc,
ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [51, 431]