1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở việt nam hiện nay

138 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---o0o--- NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAM

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAM

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

MÃ SỐ: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN ANH QUỐC

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Người cam đoan:

Nguyễn Thị Phương Lam

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG

CƠ BẢN TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH 10

1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA

HỒ CHÍ MINH 10 1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về đại đoàn kết 10 1.1.2 Truyền thống đoàn kết, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam cho sự hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn

kết .17 1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ

MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT 25 1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục đích, vai trò của đại đoàn kết 25 1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy khối đại

đoàn kết toàn dân .37

Chương 2: Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ

MINH VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN

NAY 62

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC

MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .62 2.1.1 Tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay 62

Trang 5

2.1.3 Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 76 2.2 BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT

TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 87 2.2.1 Những phương hướng cơ bản về xây dựng và phát huy khối đại

đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam 87 2.2.2 Một số bài học rút ra từ tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh 97 cho việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện

nay từ tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh 97 2.2.3 Một số giải pháp xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết ở Việt

Nam hiện nay 108

KẾT LUẬN 121

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc ta giành độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc và tiến lên chủ nghĩa xã hội Một trong những yếu tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng nước ta là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng theo ngọn

cờ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Từ kinh nghiệm lịch

sử, từ yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác -

Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động”[20,tr.127]

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm khoa học

về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Quan điểm này được Đảng

và dân ta vận dụng vào quá trình đấu tranh, lao động, xây dựng, sáng tạo, bảo vệ đất nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, giàu mạnh Xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh là tư tưởng đại đoàn kết Đó là quan điểm nhằm tập hợp, phát huy sức mạnh dân tộc, quốc tế vì mục tiêu độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh đã khơi dậy và phát huy đến đỉnh cao sức mạnh của cả cộng đồng xã hội Tư tưởng đại đoàn kết ấy đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu quan trọng Với sự nghiệp đổi mới, dân tộc ta đang đứng trước cơ hội và những nguy cơ thử thách lớn Vấn đề tập hợp, đoàn kết, phát huy mọi nguồn lực trong nước và tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế đang đặt ra cấp bách Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương khóa IX Đảng ta chỉ rõ: “Củng cố và tăng cường

Trang 7

khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất tổ quốc Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[20,tr.12,13] Vì vậy, nghiên cứu để làm sáng rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết luôn là một yêu cầu lý luận cấp bách nhằm tìm hiểu những giá trị quý báu trong kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào quá trình xây dựng, thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là vấn đề xung đột dân tộc, sắc tộc Các thế lực trong và ngoài nước đang triển khai chiến lược diễn biến hòa bình, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết để chống phá thể chế chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lúc này hơn bao giờ hết, việc hiểu rõ và kế thừa, phát triển, vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận, thực tiễn rất thiết thực đối với sự nghiệp đổi mới Từ nhận thức trên,

tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy

sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn

thạc sĩ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay trong nhiều thập kỷ qua đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu với một

số lượng công trình lớn Những công trình đã công bố có thể khái quát như sau:

Trang 8

Trước hết là các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng

sản Việt Nam được thể hiện qua nghị quyết của Bộ chính trị, các văn kiện

đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Trong các nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng qua các thời kỳ luôn coi đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Tư tưởng chủ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là: Khơi dậy, phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, đặt quyền lợi của dân tộc, lợi ích của con người lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội; xuất phát từ lợi ích dân tộc,

mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng để xây dựng và phát triển đất nước Tư tưởng đó được thể hiện qua các kỳ đại hội: Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong đó phải kể đến Nghị quyết Đại hội lần thứ VII và nghị quyết các Hội nghị Trung ương 2,3,4,5 (khóa VII) toát lên những tư tưởng chủ đạo: Phải khơi dậy và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc; đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc và lợi ích của con người lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội, làm nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc;

Trang 9

phải xuất phát từ lợi ích dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Tranh thủ mọi khả năng có thể, tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước; đổi mới tư duy về đại đoàn kết, chúng ta chủ trương đoàn kết mọi người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài, vì mục tiêu chung giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nghị quyết 07/NQ/TW, ngày 17.11.1993 của Bộ Chính trị về đại đoàn kết toàn dân tộc

và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất còn nhấn mạnh: Chấp nhận những điểm khác nhau không trái với những lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù… Nghị quyết hội nghị TW

7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chỉ rõ: Cần xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai Đây thực

sự là một quan điểm rất mới, thành quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận

của Đảng ta, thay thuật ngữ “đại đoàn kết toàn dân” bằng thuật ngữ “đại

đoàn kết toàn dân tộc” với nội hàm đầy đủ hơn, toàn diện hơn

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những chủ

đề lớn của đại hội X Đại hội XI tiếp tục khẳng định bài học về đại đoàn kết Ngoài những nội dung về phát huy sức mạnh toàn dân tộc của đại hội

X, trong những năm tới đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của mọi lĩnh vực hoạt động trong đất nước ta; giải phóng mọi tiềm năng, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế; phát huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và ý chí kiên cường của người Việt Nam

Trang 10

Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về

đoàn kết được thông qua cuộc đời và sự nghiệp của Người Ở những

công trình này, các tác giả đã phân tích và làm sáng rõ phẩm chất nhân cách của Hồ Chí Minh Cuộc sống đời thường và quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh đã trở thành những bài học lớn về đoàn kết dân tộc,

giai cấp và quốc tế Với chủ đề này có các tác phẩm: Hồ Chủ tịch – tinh

hoa của dân tộc lương tâm của thời đại, Phạm Văn Đồng, Nhà xuất bản Sự

thật, Hà Nội, 1975; Chủ tịch Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp, Ban Tư

tưởng - Văn hóa Trung ương, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975; Tư

tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển, Đại tướng Võ

Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1993; Sự hình thành về cơ

bản tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo sư Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1997; Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh do Giáo

sư Đặng Xuân Kỳ chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1997; Thời thanh niên của Bác Hồ, Hồng Hà, Nhà xuất bản Thanh niên,

Tp Hồ Chí Minh, 1976 Trong đó, đặc biệt phải kể đến cuốn Hồ Chủ tịch –

tinh hoa của dân tộc lương tâm của thời đại, Thủ tướng Phạm Văn Đồng

đã khẳng định: “Hồ Chủ tịch hình ảnh của dân tộc”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại” Tác phẩm giúp cho các nhà nghiên cứu, nhà lý luận và các tầng lớp nhân dân hiểu biết thêm về phong cách sống, làm việc của Hồ Chí Minh trong suốt

sự nghiệp hoạt động cách mạng Tiếp theo công trình nghiên cứu kể trên,

đó là cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh do Giáo sư Đặng

Xuân Kỳ chủ biên Trong đó, tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh được phản ánh khá rõ qua chương 2 của tác phẩm này Đó là những quan điểm

mà tác giả đã vạch ra như: “tập hợp, huy động lực lượng toàn dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng là phương pháp cách mạng chung đã được vận

Trang 11

dụng trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ cách mạng; nhưng phải căn cứ vào tình hình cụ thể ở từng giai đoạn, để xác định những hình thức, biện pháp thích hợp”[40, tr.79]

Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu sự vận dụng sáng tạo tư

tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam Với nội dung của chủ đề này có những tác phẩm: Lê

Khả Phiêu (2000) Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường Đảng ta và

nhân dân ta tiến vào thế kỉ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Viện Dân

tộc học (1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vấn đề dân tộc, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội; Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí

Minh và các lãnh tụ Đảng (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết

với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội; Song Thành (2000) Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi

mãi soi sáng con đường chúng ta đi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Huỳnh Đảm (2009), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt

Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1997; Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa (chủ biên), Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2000; Tư tưởng Hồ

Chí Minh – soi sáng con đường đưa đất nước đến phồn vinh; Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, Tiến sĩ Bùi Đình Phong,

Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2001; Tư tưởng Hồ Chí Minh – di sản văn

hóa dân tộc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2002… Trong những tác

phẩm trên, trước hết phải kể đến cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh và con

đường cách mạng Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên Cuốn

sách được kết cấu làm mười chương, trong chương V, tác giả đã chỉ ra nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng Đảng, Mặt trận và nhà nước Trong đó, cuốn sách đã khẳng định đại đoàn kết là một trong

Trang 12

những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; một chiến lược cách mạng - chiến lược hành động, tập hợp lực lượng có thể tập hợp được, hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong đấu tranh với kẻ thù dân tộc, giai cấp Không những thế, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh còn trở thành đạo lý sống và lối ứng xử Việt Nam Qua những công trình nghiên cứu này, các tác giả đã luận chứng về việc vận dụng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết vào những vấn đề có tính thời sự hiện nay

Đó là những quan điểm về sự cần thiết phải chỉnh đốn và đổi mới, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh Đồng thời các tác giả đã chỉ ra tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa của Hồ Chí Minh mà mục đích là xây dựng một

xã hội tốt đẹp không còn áp bức, bóc lột, bất công; một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh với những con người có phẩm chất cao đẹp, có điều kiện phát triển toàn diện Tiếp theo công trình trên phải kể đến

cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đại đoàn kết với vấn đề phát huy

sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới do Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh – Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng biên soạn năm 2004 Đây là cuốn sách tập hợp 29 bài viết của nhiều nhà khoa học với nội dung: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết – những vấn đề chung; vấn

đề đoàn kết các dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; vấn đề đoàn kết các tôn giáo

Ngoài các công trình trên, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết còn được nhiều tác giả nghiên cứu, viết thành những bài báo khá cô đọng, sâu sắc đăng trên các tạp chí chuyên ngành Các bài báo của một số tác giả được công bố trên tạp chí Triết học, tạp chí Khoa học Xã hội, tạp chí Cộng sản,… Tư tưởng của Hồ Chí Minh còn được đăng tải qua thông tin đại chúng như Báo Nhân dân, Sài Gòn Giải phóng, Tuổi trẻ,… Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình được công bố liên quan trực tiếp đến đề tài

Trang 13

khoa học của mình, tác giả làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết ở nước ta hiện nay Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là một di sản tinh thần hết sức quý báu và còn là “một khoa học mở” đã, đang và sẽ thu hút nhiều nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu sâu trên các bình diện khác nhau

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là làm rõ hệ thống tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời

kỳ đổi mới ở Việt Nam Để làm rõ mục đích của luận văn, nội dung của luận văn có những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày những cơ sở, quá trình hình thành và nội dung cơ

bản của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh

Thứ hai, phân tích và rút ra bài học trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ

Chí Minh với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp: logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh và đối chiếu… để nghiên cứu và trình bày luận văn

Về tài liệu, tác giả lấy Hồ Chí Minh toàn tập, gồm 12 tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 làm tư liệu gốc thực hiện nghiên cứu

đề tài khoa học Bên cạnh đó, tác giả lấy Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Văn kiện

Trang 14

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng làm tài liệu chuẩn định hướng cho việc nghiên cứu đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học, đề tài góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết Từ đó không chỉ giúp người đọc có sự nhận thức đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết mà nó còn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận của việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua việc nghiên cứu tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới, luận văn góp phần tìm hiểu những giá trị quý báu trong kho tàng tư tưởng của Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu của luận văn

có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu và giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

6 Kết cấu cơ bản của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 2 chương 4 tiết

Trang 15

Chương 1

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG

ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH

1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

Hồ Chí Minh là “vị anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất” được nhân dân Việt Nam và thế giới kính yêu, suy tôn và ca ngợi Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người gắn liền với hoàn cảnh và tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, đó là thời kỳ có những bước chuyển sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết không thể không nghiên cứu tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội trong và ngoài nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Vào giữa thế kỷ XIX, một số nước tư bản ở Âu – Mỹ đã trở thành cường quốc công nghiệp hùng mạnh Nhưng trong quá trình nắm quyền thống trị và quản lý xã hội thì giai cấp tư sản dần từ bỏ vai trò là giai cấp cách mạng của nó Giai cấp vô sản xuất hiện trở thành lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh vì công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội Phong trào công nhân ở các nước đế quốc, đặc biệt là ở Anh, Pháp và Đức đang sôi

động trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản Với khẩu hiệu: “Vô sản

tất cả các nước đoàn kết lại”[44,tr.586], giai cấp công nhân ngày càng phát

triển về số lượng và chất lượng Con đường đấu tranh của giai cấp công nhân đi từ tự phát đến tự giác, lần đầu tiên được tổ chức và đứng lên vũ đài lịch sử với tư cách là một lực lượng độc lập về chính trị

Trang 16

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Các nước

đế quốc trên thế giới đã áp đặt sự thống trị trên khắp các châu lục như: Á, Phi, Mỹ - La tinh Trong bối cảnh đó thì hầu hết các nước ở phương Đông chưa thoát ra khỏi chế độ phong kiến Châu Phi và châu Mỹ – La tinh đa số còn lạc hậu và bị chiếm làm thuộc địa Phần đông các dân tộc còn lạc hậu

bị một số nước tư bản như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp

và Mỹ thống trị Thời đại đó đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức, bóc lột với bọn thực dân đế quốc, mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đặc biệt là ở phương Đông, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở thuộc địa với tư bản ở chính quốc và tư sản bản xứ, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lớn với nhau Những mâu thuẫn đó ngày một phát triển, tích tụ tạo tiền đề cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cách mạng do giai cấp công nhân thực hiện và cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa Thời đại đặt ra nhiệm vụ cơ bản, tất yếu là giải phóng con người mà cụ thể là giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp trong tiến trình phát triển của lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia Tính tất yếu đó dẫn đến Cách mạng Tân Hợi (1911), chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) và cách mạng Tháng Mười Nga (1917)

Cách mạng Tân Hợi do Tôn Văn lãnh đạo là cuộc cách mạng ít nhiều mang tính tiến bộ, do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo và lúc đầu được đông đảo quần chúng tham gia Cương lĩnh, đường lối, sách lược đấu tranh của cách mạng Tân Hợi nhằm tiến tới xây dựng một nước Trung Quốc dân chủ và phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Nhưng cuộc cách mạng này chưa giải quyết một cách triệt để vấn đề giai cấp, chưa bảo vệ được lợi ích đông đảo quần chúng nông dân tham gia cách mạng Do đó, chế độ xã

Trang 17

hội phong kiến mặc dù được xóa bỏ hoàn toàn nhưng chưa thúc đẩy cách mạng tiến lên, chưa đánh lùi được các thế lực phản động

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là cuộc chiến giữa các nước đế quốc

để giành giật nhau thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới Cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu những cuộc chiến tranh cục bộ, tiềm ẩn hình thành hai tập đoàn gây chiến trên thế giới Một bên là Đức, Áo, Thổ Nhĩ Kì và một bên là Anh, Pháp, Nga Đây là cuộc chiến mang tính chất phi nghĩa, phản động Cuộc chiến đó là sự kế tục chính sách cướp bóc, nô dịch bằng thủ đoạn bạo lực đối với nhân dân các nước khác Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc thì dù thắng lợi thuộc về phe nào đi nữa thì bản chất của chủ nghĩa đế quốc không thay đổi Mâu thuẫn giữa các nước

đế quốc với nhau vẫn âm ỉ và chúng luôn ngấm ngầm đợi thời cơ; mâu thuẫn giữa đế quốc với các dân tộc thuộc địa càng gay gắt hơn

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công do đảng tiên phong của giai cấp vô sản lãnh đạo đã minh chứng một thời đại mới xuất hiện – thời đại ưu thế thuộc về giai cấp công nhân “cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người”[56, tr.300,301] “Chủ nghĩa

Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong

xã hội, có sức sống vô cùng to lớn lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hành động cách mạng, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[56, tr.303] Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã phá vỡ một khâu quan trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, thành lập nhà nước đầu tiên thật sự thuộc về nhân dân lao động Cột mốc vĩ đại đó có vai trò hết sức to lớn là vạch ra con đường đúng đắn cho các phong trào cách mạng

Trang 18

giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp trên thế giới Cách mạng Tháng Mười Nga đã đánh thức và cổ vũ những người bị áp bức bóc lột trên thế giới, khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công Cách mạng Tháng Mười giống như mặt trời chói lọi chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử nhân loại chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế

Trước cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa diễn ra quyết liệt nhưng đều thất bại Cách mạng Tân Hợi đã để lại dấu ấn trong lịch sử nhưng chưa thực sự có sự chuyển biến phù hợp với xu hướng chung của thời đại Chủ nghĩa đế quốc vẫn luôn tiến hành áp đặt sự thống trị lên các dân tộc thuộc địa, mâu thuẫn giai cấp trong các nước tư bản ngày càng gay gắt Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã làm rõ khuynh hướng và ưu thế của thời đại là quyền và lợi ích thuộc về nhân dân lao động

Vào thời điểm cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi thì các nước thuộc địa ở phương Đông, đặc biệt phong trào giải phóng của dân tộc Việt Nam vẫn bị bế tắc về đường lối Hồ Chí Minh cho rằng: “cách mạng Tháng Mười ảnh hưởng tới Việt Nam tương đối chậm Sở dĩ như vậy là vì bọn thực dân Pháp đã kìm giữ, nói đúng ra là hoàn toàn cô lập đất nước này, chúng tìm mọi cách để cố gắng ngăn cản không cho những sự thật về Liên

Xô lọt vào nước chúng tôi và đồng thời chúng lại tung ra những tin tức dối trá về Liên Xô Mặc dù vậy, những người cách mạng Việt Nam đã kiên trì

đi tìm và đã tìm thấy sự thật Dần dần, họ đã biết rõ toàn bộ ý nghĩa vĩ đại của cách mạng Tháng Mười Đối với nhân dân và đặc biệt là đối với những người cách mạng, cách mạng Tháng Mười vĩ đại là ngọn đèn pha soi sáng cuộc đấu tranh cho tự do và hạnh phúc Cách mạng Tháng Mười đã đem lại

Trang 19

cho chúng tôi chủ nghĩa Mác - Lênin Học thuyết bất hủ đó đã vạch ra con đường mà chúng tôi phải đi theo”[52, tr.442]

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết không chỉ chịu sự tác động bởi tình hình thế giới lúc bấy giờ mà còn chịu sự ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX, ở Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn nói riêng cũng như của chế độ phong kiến nói chung đã ở vào buổi xế chiều của nó Sự cố chấp, vị kỷ, ươn hèn của vua quan thời Tự Đức là nguyên nhân trực tiếp làm cho đất nước rơi vào tay thực dân Pháp Tổ quốc mất quyền độc lập, nhân dân phải chịu kiếp lầm than

Một trong những chính sách cơ bản, xuyên suốt của thực dân Pháp chính là chia để trị Nước Việt Nam thống nhất bị chia ra làm ba xứ với những chế độ cai trị khác nhau: Nam kỳ là đất thuộc địa, Bắc kỳ là xứ bảo

hộ, Trung kỳ là xứ lưỡng trị Không dừng ở đó, thực dân Pháp còn áp dụng nguyên tắc chia để trị cả trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Trải qua hai chương trình khai thác thuộc địa do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, xã hội Việt Nam đã chịu tác động mạnh mẽ và bị biến dạng sâu sắc Từ một nước phong kiến trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến

Lúc này, tất cả mọi người Việt Nam yêu nước không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc… đã đồng tâm hợp lực, đoàn kết cùng nhau đứng lên đánh đuổi bọn xâm lược Phong trào cứu nước không chỉ có những người cần lao bị áp bức, bóc lột mà còn có cả những vị khoa bảng nổi tiếng như: Phạm Văn Nghi, Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền… Trong đội ngũ xả thân cho độc lập dân tộc có mặt cả những ông vua yêu nước như: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân; có cả những địa chủ

Trang 20

lớn: Trần Thánh Chiếu; các tín đồ Thiên chúa giáo: Nguyễn Trường Tộ, Mai Lão Bạng; các thổ ty vùng dân tộc ít người: Đèo Cát Hãn…

Từ phong trào Cần Vương thuộc hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỷ XIX, qua phong trào Đông Du, Duy Tân theo xu hướng tư sản đầu thế kỷ

XX, đến cuộc khởi nghĩa Yên Bái, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ… Tất cả những cuộc đấu tranh này đã chứng minh rằng, tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm của nhân dân ta đời nào cũng có và sức mạnh đoàn kết đánh giặc luôn tiềm ẩn trong mỗi người Việt Nam Tuy nhiên, để có thể đánh bại các thế lực đế quốc xâm lược không chỉ dựa vào sức mạnh đoàn kết tự phát mà phải có một sức mạnh đoàn kết tự giác, có tổ chức của cả dân tộc Hồ Chí Minh ở thời điểm đầu thế kỷ XX chưa có đủ khả năng để

lý giải nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước chống Pháp, song bằng sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, Người đã cảm nhận được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng, tìm chọn đồng minh của các nhà yêu nước tiền bối, những nhu cầu khách quan mới của lịch sử dân tộc Đây chính là điểm xuất phát để người: “muốn đi ra ngoài xem nước Pháp

và các nước khác Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[78, tr.13]

Như vậy, thực tiễn đất nước trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chính là cơ sở quan trọng cho sự hình thành tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát tỉ mỉ, toàn diện tình hình các nước Tư bản chủ nghĩa và các nước thuộc địa ở hầu khắp các châu lục Từ vốn hiểu biết hết sức phong phú về đời sống chính trị - xã hội quốc tế, Hồ Chí Minh đã rút ra những nhận thức quan trọng, đó là:

Trang 21

- Thế giới dù hết sức đa dạng, nhân loại dù vô cùng đông đảo, song suy cho cùng, chỉ có hai loại người: bóc lột và bị bóc lột Những người bị bóc lột dù màu da khác nhau, ở những quốc gia khác nhau, đều có chung cảnh ngộ đói khổ, lầm than và do vậy, họ có nhu cầu, nguyện vọng chung -

đó là cơ sở để liên hiệp lại;

- Cũng như giai cấp công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, nông dân

bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa tiềm ẩn một năng lực cách mạng vĩ đại và nung nấu lòng căm thù sâu sắc đối với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân Trên thực tế, ở nhiều nơi, các dân tộc bị áp bức, bóc lột, đã tiến hành dưới nhiều hình thức đấu tranh chống đế quốc, chống thực dân Song những cuộc đấu tranh anh dũng đó đều không đi đến thắng lợi;

- Nguyên nhân thất bại của phong trào cách mạng thuộc địa, suy cho cùng, theo nhận thức của Hồ Chí Minh là do các dân tộc bị áp bức, bóc lột

ở các nước thuộc địa chưa có lý luận tiên tiến soi đường, chưa có chính đảng của giai cấp vô sản đứng ra tập hợp, tổ chức;

- Các dân tộc bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa chưa có sự liên kết với nhau trên phạm vi quốc tế để tiến hành cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa Thực dân;

- Giữa phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa còn thiếu sự phối hợp, gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau, làm hạn chế sức mạnh của trận tuyến đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc;

Những nhận thức quan trọng đúc kết từ thực tiễn phong trào cách mạng thế giới chính là cơ sở vững chắc để Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế - một bộ phận hữu cơ trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh

Trang 22

1.1.2 Truyền thống đoàn kết, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam cho sự hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là sự cuộc đấu tranh không mệt mỏi chống hạn hán, bão lụt, chống chiến tranh xâm lược của ngoại bang Từ trong cuộc tranh đấu trường kỳ đó đã sớm định hình ý thức cộng đồng, ý thức tập thể, và cao hơn là ý thức dân tộc Ý thức ấy ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước

Yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, với các thế hệ người Việt Nam đã trở thành tình cảm tự nhiên:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”;

Đã trở thành một triết lý nhân sinh:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”;

Những giá trị nhân bản sâu sắc và quý giá đó không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian, mà còn được Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm, thành phép trị nước và đánh giặc: “khoan thư sức dân làm kế gốc sâu rễ bền”,

“Trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “Tướng sĩ một lòng phụ tử”… Nghệ Tĩnh - quê hương Hồ Chí Minh là một miền điển hình cho truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước, lại sớm có điều kiện quan tiếp xúc các nhà yêu nước và đồng bào địa phương, Hồ Chí Minh đã tiếp thu được những giá trị nhân bản của truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân

Trang 23

nghĩa Việt Nam Người đã khái quát: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất

cả lũ bán nước và cướp nước”[50, tr.171] Truyền thống, đạo lý đó là cơ sở đầu tiên hết sức quan trọng để Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, xây dựng

tư tưởng đại đoàn kết

Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và các thế lực phong kiến phản động, tay sai, một số nhà yêu nước tiền bối đã đề xuất tư tưởng cứu nước, tiêu biểu nhất là cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh Đối với Hồ Chí Minh, hai cụ Phan là những bậc tiền bối, đáng kính và những tư tưởng cứu nước, đặc biệt là tư tưởng tập hợp lực lượng dân tộc, lực lượng quốc tế của hai cụ đã có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình đi tìm đường cứu nước và xây dựng đường lối cứu nước của Người

Đóng góp tích cực của hai cụ Phan là ở chỗ, sau thất bại của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, phong trào yêu nước, chống Pháp của nhân dân ta đứng trước khủng hoảng, bế tắc lớn, trong dân chúng xuất hiện khuynh hướng dao động, bi quan…, hai cụ đã đánh lên hồi chuông cảnh tỉnh đồng bào, kêu gọi mọi người tập hợp lại, tiến vào cuộc tranh đấu mới với những phương thức mới Tư tưởng yêu nước của hai cụ Phan đều lấy chủ nghĩa yêu nước làm nền tảng, đồng thời lại có những sắc thái khác nhau, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, đem đến cho phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX của nhân dân ta những màu sắc mới Về phương diện tuyên truyền, kêu gọi, tập hợp lực lượng yêu nước chống Pháp, cụ Phan Bội Châu là nhà ái quốc có những đóng góp nổi trội Trong quá trình vận động cách mạng, cụ Phan đã viết nhiều trước tác: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Sùng bái giai nhân, Việt Nam quốc sử khảo, … cổ súy cho sự đồng tâm hợp lực, kêu gọi dân ta đoàn kết, đứng lên

Trang 24

cứu nước Theo cụ Phan Bội Châu, tất cả dân Việt đều là “cháu con một họ”, “chú bác anh em”, đều có tài sản chung là giang sơn gấm vóc của ông cha để lại, cho nên phải có trách nhiệm “chung nhau một lòng’ mà giữ lấy

Di sản tư tưởng của Cụ về hợp quần chúng, về đoàn kết bao hàm hai phương diện: liên kết quốc tế và đoàn kết dân tộc

Về phương diện liên kết quốc tế, Phan Bội Châu đã đi tìm một đối tượng liên kết mới - đó là nước Nhật Sau Minh Trị duy tân, đặc biệt sau chiến thắng nước Nga sa hoàng 1904 - 1905, Nhật nổi lên như một cường quốc ở châu Á, được tôn vinh là “anh cả da vàng”, đưa lại niềm hi vọng cho các nước trong khu vực Phan Bội Châu nhìn thấy ở Nhật Bản một chỗ dựa cho công cuộc cứu nước ở Việt Nam Bởi theo Cụ, Nhật Bản đáp ứng được những tiêu chí cần thiết cho sự liên kết, đó là “đồng châu, đồng chủng, đồng văn” Đến năm 1908, sau khi Nhật - Pháp cấu kêt trục xuất Cụ

và học sinh Việt Nam đang học tại Nhật, Cụ mới vỡ lẽ ra rằng: đồng châu, đồng chủng, đồng văn không bằng đồng bệnh Cụ đã đến với Tôn Trung Sơn và chính phủ cách mạng Quảng Châu, đặt tin tưởng ở một nước có những người cùng cảnh ngộ, có cùng mục tiêu chiến đấu Có thể nói, đây là bước tiến đáng kể trong tư tưởng liên kết quốc tế của của cụ Phan Bội Châu Những quan điểm của Phan Bội Châu về: đồng châu, đồng chủng, đồng văn không bằng đồng bệnh được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển: muốn giải phóng dân tộc mình cần thiết phải đoàn kết với các dân tộc khác cùng chung cảnh ngộ Vì vậy, từ rất sớm người đã kêu gọi: “Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”[45, tr 452]

Trên phương diện đoàn kết dân tộc, cụ Phan Bội Châu là một trong

số ít người Việt Nam sớm có ý tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ cứu nước thành “trách nhiệm của quốc dân”, “trách nhiệm của hàng triệu người” và,

Trang 25

cứu nước “không phải là một tay, một chân mà làm nên, mà phải do tâm

huyết của hàng vạn người anh hùng vô danh” Năm 1905, trong Việt Nam

vong quốc sử, Phan Bội Châu chia người trong nước ra làm năm bậc, tất cả

đều chung một cha, một mẹ, một bầu trời, một mặt đất, tất cả đều là đồng

bào và có nghĩa vụ làm cho đất nước nhà hồi sinh Năm 1906, trong Hải

ngoại huyết thư, Cụ tiến thêm một bước khi nói tới “mười hạng người đồng

tâm”, bao gồm: các nhà hào phú, các quan lại tại chức, các con nhà quyền quý, giáo đồ Thiên chúa giáo, lính tập, hội đảng, thông ngôn, ký lục, bồi bếp, giới phụ nữ, con em các gia đình bị giặc tàn sát, những người đi du học Điểm mới mẻ trong tư tưởng đoàn kết của Cụ không chỉ là nêu lên sự đồng tâm của mười hạng người nói trên mà còn ở chỗ, lần đầu tiên, Cụ nhấn mạnh và hô hào đoàn kết giáo lương, đoàn kết các tín đồ tôn giáo trên lập trường cứu nước, trên nguyên tắc tự do tín ngưỡng, lần đầu tiên Cụ nói tới vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Đến năm 1908,

trong Việt Nam quốc sử khảo, cụ Phan tiến thêm một bước nữa khi đặt vấn

đề đoàn kết các dân tộc thiểu số vào một cuộc đấu tranh chung Cụ còn là người sớm đưa ra những ý tưởng về tổ chức các chính đảng yêu nước của nhân dân - mà khi đó Cụ gọi là “hội”: Duy Tân hội, Quang Phục hội… Đây

là những quan điểm, chất liệu sống động được Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa và phát triển quan điểm về tập hợp lực lượng sau này

Do những hạn chế của cá nhân và lịch sử, tư tưởng đoàn kết của cụ Phan Bội Châu không tránh khỏi những thiếu sót Nói về lực lượng yêu nước của dân chúng, Cụ chưa thấy được vai trò, vị trí của hai lực lượng đông đảo và quan trọng nhất là nông dân và công nhân; khi đề cập đến các hội, Cụ chưa nêu ra được một lý luận khoa học dẫn đường, chưa có đường lối tổ chức hội một cách hệ thống, hoàn chỉnh… Mặc dù còn nhiều hạn chế, song tư tưởng xuất phát từ lòng yêu nước nhiệt thành của cụ Phan đã thức

Trang 26

tỉnh và tập hợp được nhiều người cứu quốc, đặc biệt là lớp người trẻ tuổi vào cuộc đấu tranh chống Pháp vì độc lập dân tộc Hồ Chí Minh là một trong những người sớm chịu ảnh hưởng tư tưởng của Phan Bội Châu, song điều đặc biệt là, Hồ Chí Minh không tiếp thu nguyên vẹn những tư tưởng

đó mà kế thừa những tư tưởng hợp lý và bồi đắp, khắc phục những điểm còn hạn chế, thiếu sót

1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng đối với sự hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

Cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong

đó có những quan điểm cốt lõi: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử

Thời đại mà Hồ Chí Minh sinh ra và hoạt động là thời đại cách mạng

vô sản Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học, tiên tiến của thời đại, có sức hấp dẫn, chinh phục hàng triệu khối óc, trái tim nhân loại Sức hấp dẫn của học thuyết đó chính là ở chỗ, các nhà sáng lập đã đặt giai cấp vô sản - giai cấp làm thuê, bị bóc lột trong xã hội tư bản

- trở thành chủ thể sáng tạo của lịch sử, sáng tạo ra một thế giới mới, tự do, bình đẳng, bác ái thực sự, không còn có người bóc lột người Trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tư bản, giai cấp vô sản “chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ Họ sẽ giành được cả thế giới” Trong

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác và Ăngghen đã đưa ra một khẩu hiệu chiến đấu vang dội “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”

Chủ nghĩa Mác - Lênin khi nói đến sứ mệnh lịch sử giải phóng loài người của giai cấp vô sản đã chỉ rõ, ở trong mỗi nước, giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất, ngoài ra, còn có những tầng lớp bị giai cấp tư sản

Trang 27

bóc lột cũng làm cách mạng như tiểu nông, tiểu tư sản thành thị Giai cấp

vô sản lãnh đạo cách mạng phải đoàn kết với những người bị áp bức, hình thành “nhân dân” trong nước Để đảm bảo thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch

sử, giai cấp vô sản cần phải có một bộ tham mưu ở mỗi nước và trên phạm

vi thế giới để vạch đường, chỉ lối Chính Mác và Ăngghen đã sáng lập ra

“Đồng minh những người cộng sản” và soạn thảo bản “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nổi tiếng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã trở thành cương lĩnh đoàn kết, đấu tranh của giai cấp vô sản toàn thế giới, và như Lênin nhận định: toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh, cho đến ngày nay, sống và hoạt động nhờ có tinh thần của cương lĩnh đó

Từ tổ chức đầu tiên của những người cộng sản do Mác và Ăngghen sáng lập, sau này Lênin đã xây dựng một đảng kiểu mới - Đảng Bônsêvích Nga để lãnh đạo giai cấp vô sản và quần chúng bị bóc lột ở nước Nga Sa hoàng tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới Việc thành lập Đảng Cộng sản - Bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản ở từng nước, và Quốc tế Cộng sản - Bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản toàn thế giới là hạt nhân cho mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc là một tư tưởng sáng chói của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin

Sau khi thành lập tháng 3 - 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã lần lượt lập các tổ chức quốc tế khác với tư cách các tổ chức quần chúng, hợp thành một trận tuyến cách mạng rộng lớn: Quốc tế thanh niên, Quốc tế nông dân, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế cứu tế đỏ, Liên đoàn chống đế quốc…

Mô hình tổ chức này của Quốc tế Cộng sản, về sau, đã được lặp lại trong cấu trúc hệ thống chính trị cách mạng các nước do giai cấp vô sản lãnh đạo, đặc biệt ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, nơi mà “yếu tố dân tộc còn

Trang 28

chiếm ưu thế, cho nên có điều kiện tập hợp trong mặt trận thống nhất tất cả những lực lượng dân chủ trong nước để tiến hành đấu tranh cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc”[70,tr.29]

Do điều kiện lịch sử quy định, C Mác và Ph Ăngghen chưa có điều kiện để đi sâu tìm hiểu, đánh giá vai trò của phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa Lúc cuối đời hai ông đã bắt đầu nghiên cứu và viết một loạt bài bênh vực phong trào giải phóng dân tộc ở Ailen, lên án chính sách thống trị thực dân Anh ở Ấn Độ… V.I.Lênin đã tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng quốc tế của C Mác và Ph Ăngghen phù hợp với thời kỳ lịch sử mới Ông đã nêu vấn đề đoàn kết những người vô sản với nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột nhằm chống

kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thành một khẩu hiệu chiến lược: “Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại!”

Tháng 9 - 1921, đại hội các dân tộc phương Đông họp ở Cuba Tham

dự Đại hội có 1891 đại biểu, đại diện cho 37 dân tộc Trong Tạp chí “Các dân tộc phương Đông” xuất bản ngay sau đại hội, có bài viết đã ghi nhận:

“Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản họp ở Mátxcơva năm 1920 đã tiến hành thống nhất tất cả quần chúng cách mạng của giai cấp vô sản Tây Âu

và nông dân nghèo đang đấu tranh nhanh chóng lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thành một tổ chức thống nhất sắt đá Đại hội của các dân tộc phương Đông bổ sung cho sự thống nhất đó bằng cách thu hút vào đó hàng triệu nông dân các nước phương Đông, hàng triệu người lao động tất cả các thuộc địa và nửa thuộc địa lạc hậu”[70,tr.30]

Tiếp đó, tháng 12 - 1921, Quốc tế Cộng sản triệu tập đại hội các dân tộc Viễn Đông tại Mátxcơva Đại hội thông qua một nghị quyết, trong đó nhấn mạnh rằng: “con đường thực sự dẫn tới tự do và độc lập của các dân tộc bị áp bức ở Viễn Đông trải qua sự liên minh của quần chúng lao động

Trang 29

Viễn Đông với giai cấp vô sản các nước tiên tiến và chỉ liên minh với họ mới chống lại được các nước đế quốc”[70,tr.30]

Năm 1923, Quốc tế Cộng sản bắt tay chỉ đạo việc xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất ở một nước cụ thể - nước Trung Hoa cách mạng Bằng việc thúc đẩy sự hợp tác giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng, trên một mục tiêu chung có tính nguyên tắc là chống chủ nghĩa đế quốc, Quốc tế Cộng sản kỳ vọng có thể rút từ kinh nghiệm thực tiễn cách mạng Trung Hoa để áp dụng cho phong trào cách mạng các nước có hoàn cảnh tương

tự Cho dù sự chỉ đạo xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất ở Trung Quốc không mấy thành công, nhưng tư tưởng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa rất tích cực

Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Động lực thúc đẩy người tin theo Lênin, tin theo Quốc tế Cộng sản vì đối với Người, Lênin là

“Hiện thân của tình anh em bốn bể”; là vì, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập đến sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng trên toàn thế giới, lực lượng cách mạng từng nước vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa

đế quốc Một mặt, cần nhấn mạnh rằng, chính nhờ có những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học để đánh giá chính xác những yếu tố tích cực và tiêu cực của các tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó, Người đã xây dựng cho mình một tư tưởng đại đoàn kết hoàn chỉnh Chủ nghĩa Mác - Lênin là “kim chỉ nam”, là “cẩm nang thần kỳ”, nhưng không phải là một giáo điều Người học tập, tiếp thu những nguyên lý về liên minh công - nông, về quan hệ giữa phong trào cách mạng

vô sản ở các nước chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa…, đồng thời, trên nhiều phương diện, nhất là việc nhận thức, giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp, cách mạng thuộc địa - cách mạng chính

Trang 30

quốc… Người có nhiều sáng tạo riêng, rất độc đáo, hiệu quả Vì vậy, tư tưởng đại đoàn kết của Người luôn mang một sắc thái riêng - sắc thái Hồ Chí Minh, sắc thái Việt Nam

1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục đích, vai trò của đại đoàn kết

Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc, là tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử dựng nước và giữ nước ở Việt Nam Kế thừa và phát huy truyền thống đó, Hồ Chí Minh luôn xem khối đoàn kết toàn dân là một trong những nhân tố cơ bản quyết định đến việc xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ, giàu mạnh Đại đoàn kết là một trong những khái niệm cơ bản trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh

Ở Bài Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc

ngày 10 - 01 - 1955 Người định nghĩa về khái niệm Đại đoàn kết như sau:

“Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa

số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” [51,tr.438]

Đây chính là định nghĩa đầy đủ nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, đồng thời định nghĩa này còn chỉ ra nguyên tắc đầu tiên của đại đoàn kết theo tư tưởng của người Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nối tiếp luận điểm trên đây bằng nêu rõ các nguyên tắc của đại đoàn kết:

- “Đoàn kết rộng rãi và lâu dài: Đoàn kết của chúng ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài Đoàn kết chính là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”[51, tr.438]

Trang 31

Nguyên tắc rộng rãi thể hiện ở chỗ: “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” [51; tr.438]; “Bất kì ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” [51,tr.438]

Nguyên tắc lâu dài, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta gọi là nguyên tắc chiến lược của đại đoàn kết, theo tư tưởng của Người thể hiện cả cơ sở của đại đoàn kết và mục tiêu của đại đoàn kết chính là lợi ích của dân tộc: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”

Cơ sở và mục tiêu này còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong

“Bốn mục đích hòa bình, thống nhất, dân chủ của Mặt trận: Muốn thống nhất, phải có hòa bình Muốn độc lập thì phải thống nhất Muốn thật sự độc lập thì phải có dân chủ Bốn điểm đó như bầu trời có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc; Như một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông; không thể tách rời nhau, không thể thiếu một điểm nào” [51,tr.438]

Hồ Chí Minh xây dựng khối đoàn kết rộng rãi, lâu dài, chặt chẽ, vững chắc và thiết thực nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ Chiến lược và mục tiêu của đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn liền với yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau Mỗi thời kỳ, Hồ Chí Minh lại xây dựng khối đại đoàn kết cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới Nhưng mục tiêu tổng quát, bao trùm, phổ biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết là “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ Đoàn kết để kiến thiết nước nhà Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”[48, tr.219] Đoàn kết nhằm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Nước Việt Nam là một, dân tộc

Trang 32

Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của dân tộc

Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục đích mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người Mục tiêu chiến lược trong

tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết là lấy tinh thần yêu thương, quý trọng

và hạnh phúc của con người làm tiền đề xuất phát Giải phóng dân tộc để từng bước tiến lên giải phóng giai cấp và giải phóng con người Thực hiện quyền con người và quyền công dân là mục đích của khối đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh Quyền con người được Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” - “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[48,tr.3]

Quyền công dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định làcó quyền làm việc, nghỉ ngơi, học tập, tự do thân thể, “có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình, có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, có quyền bầu cử, ứng cử”[53, tr.593]

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được Đại đoàn kết không chỉ là theo nghĩa hạn hẹp của đời thường mà còn thể hiện rõ tinh thần phổ quát về lòng khoan dung mang đậm tình người Mục đích của đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn kết với chiến lược của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là mọi người được tự do, công bằng, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc Mục đích ấy đã trở thành lòng ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh là làm sao cho nhân dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Mục đích “làm cho ích quốc, lợi dân” luôn gắn liền với những suy nghĩ và hành động của Người

Trang 33

Yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược của sự nghiệp cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là nhằm kiến thiết nước nhà Việc xây dựng chế độ xã hội mới phải “kiên quyết làm thật tốt việc giáo dục cải tạo những người trước kia là tề ngụy và phỉ, những người trước đã tham gia các tổ chức phản động Việc này phải làm kiên quyết, nhưng phải hết sức cẩn thận và khôn khéo, nghiêm khắc với kẻ ngoan cố, đối với người thật sự cải tạo thì khoan hồng”[55, tr.54] để phân hóa kẻ địch, lôi kéo họ về với cách mạng Đoàn kết nhằm ngăn chặn các thế lực, các tổ chức, các phần tử

vì “quyền lợi ích kỷ và hận thù giai cấp” đi ngược lại với lợi ích dân tộc, phá hoại trật tự xã hội và an ninh quốc gia Thành quả cách mạng thuộc về tay nhân dân thì “Không được báo thù báo oán Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn Nói lẽ phải họ tự nghe Tuyệt đối không được dùng cách kịch liệt”[48, tr.420]

Đấu tranh thực hiện chuyên chính là yêu cầu tất yếu của đại đoàn kết trong điều kiện phát huy dân chủ nhân dân Việc đấu tranh để thực hiện đoàn kết trong xã hội tiến bộ, hài hòa mang giá trị bền vững ở loài người Thực hiện đoàn kết trong chế độ xã hội mới thì lực lượng của nhân dân ta mạnh mẽ, sức sống của chế độ ta dồi dào và tính chất của chính quyền ta tốt đẹp Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết không hẹp hòi theo nghĩa thực dụng, cơ hội chủ nghĩa mà chứa đựng giá trị cao cả và nhân văn sâu sắc Đoàn kết không chỉ nhằm giữ vững thành quả cách mạng về tay nhân dân mà còn nhằm mục đích xây dựng đời sống mới trong môi trường xã hội tiến bộ Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết tất cả các thành phần, giai cấp, nguồn gốc xuất thân khác nhau cho dù trước đây làm gì và

Trang 34

theo phe phái nào nhưng nếu vì “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, công bằng, tự do” của dân tộc thì gắn kết với họ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết còn phản ánh rõ qua chính sách trọng dụng, đãi ngộ hiền tài để phát huy hết năng lực, phẩm chất, sáng kiến của mọi người Đoàn kết là để tập trung lực lượng hợp thành một mặt trận thống nhất hùng mạnh để giữ gìn hòa bình, ngăn chặn chiến tranh, thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ khác nhau vì độc lập tự do không chỉ cho dân tộc mình

mà còn cho các dân tộc khác trên thế giới Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nhằm xây dựng môi trường xã hội hòa bình, thân thiện và hoà đồng mà còn có mục đích phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Khi điều kiện vật chất được nâng cao tất yếu sẽ tạo cơ sở cho con người phát triển về tinh thần

Đời sống mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết không chỉ có

ý nghĩa đối với việc xóa bỏ những lối sống, cách suy nghĩ cổ hủ, lạc hậu

của nền văn hóa cũ Trong xã hội cũ bọn thực dân đầu độc dân ta với rượu

chè, cờ bạc, thuốc phiện và các tệ nạn xã hội khác Đại đoàn kết là đấu tranh nhằm xóa bỏ cái xấu, gây tác động tiêu cực đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đoàn kết toàn dân để xây dựng môi trường xã hội lành mạnh tạo điều kiện cho con người được làm người, được phát huy hết tài năng, sáng kiến để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, phục vụ Tổ quốc và nhân loại Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vì con người và cho con người Triết lý đại đoàn kết của Hồ Chí Minh sâu sắc ở chỗ không chỉ là giải phóng con người khỏi áp bức bất công trong xã hội mà còn nâng giá trị con người về mặt văn hóa, nhận thức Nhưng muốn triệt để giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh, một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải đặt con người trong một môi trường xã hội tốt đẹp, lành mạnh; con người sẽ có

Trang 35

điều kiện phát triển toàn diện cả về năng lực, phẩm chất Môi trường xã hội

là cơ sở, điều kiện tất yếu của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, lối sống, cách suy nghĩ, tư duy… Song để có một môi trường xã hội thực sự quan tâm đến nhu cầu về cuộc sống và nhu cầu được nhận thức của mỗi người thì phải xây dựng cho được một xã hội dân sự trên cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân

1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết giai cấp, tôn giáo, dân tộc và quốc tế

Theo Hồ Chí Minh, “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại

đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các

tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng

như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”[51, tr.438] Trong đó “quan trọng bậc nhất, là phải tăng cường đoàn kết: đoàn kết giữa học viên và cán bộ, giữa nhà trường và đơn vị, đoàn kết giữa học viên mới tốt nghiệp với cán bộ và chiến sĩ ở đơn vị, đoàn kết giữa đơn vị miền Bắc và đơn vị miền Nam, giữa đơn vị chiến đấu và đơn vị sản xuất, đoàn kết chặt chẽ giữa quân đội và nhân dân ”[53, tr.152] và rộng hơn nữa là đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới

Sự cần thiết ưu tiên hàng đầu của đại đoàn kết là đoàn kết nội bộ Đó

là đoàn kết cấp trên với cấp dưới, bên trong và bên ngoài, cán bộ cũ và cán

bộ mới, đảng viên cũ và đảng viên mới Đại đoàn kết trong nhân dân là tâm điểm cho sự gắn kết giai cấp, dân tộc và quốc tế Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết là phải tăng cường đoàn kết nội bộ và đoàn kết với nhân dân để làm tròn nhiệm vụ Trong ngành có nhiều loại cán bộ phải đoàn kết cho chặt chẽ; nếu chỉ đoàn kết nội bộ mà không đoàn kết với nhân dân thì không làm được việc Cách mạng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi là vì

Trang 36

đoàn kết Vì vậy, khối đại đoàn kết phải được củng cố và tăng cường để tiếp tục đấu tranh giành thắng lợi Thực hiện đoàn kết trong nội bộ nhân dân là phải tạo điều kiện để mọi người được phát triển, phát huy hết tài năng, phẩm chất và sáng kiến; phải quan tâm đến đoàn kết các gia đình có công với nước, các tầng lớp trong xã hội Thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho nhân dân trong đời sống xã hội là đoàn kết Người nhắn nhủ:

“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[56, tr.185] Công bằng và lòng dân là yêu cầu, nhiệm vụ và

cũng là mục đích của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Bởi sự nghiệp cách

mạng là do nhân dân thực hiện, họ là người làm chủ vận mệnh của dân tộc

và đồng thời là người sáng tạo ra lịch sử Cuộc sống của đại đa số nhân dân lao động là thành quả lịch sử do họ tạo ra

Với những gia đình chính sách, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng ta

phải biết “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, biết kính trọng

và đền đáp công ơn những thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với nước Thương binh, liệt sĩ là những người quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ gìn tính mệnh của đồng bào Tinh thần hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do Hồ Chí Minh nhắc nhở nhân dân ta phải “đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”[54, tr.3] Thân thể thương binh tàn phế không mọc lại và liệt sĩ không thể tái sinh Gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân Bổn phận của công dân Việt Nam là phải biết ơn,

“uống nước phải nhớ nguồn”, phải thương yêu và giúp đỡ những gia đình

đó Lòng bác ái của đồng bào ta không có giới hạn, phải khai thác phát huy hơn nữa

Trang 37

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết còn là đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, đảng phái trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam Theo Người, khi xuất hiện chế độ tư hữu thì xã hội chia thành hai giai cấp, giai cấp bóc lột và giai

cấp bị bóc lột, do đó có mâu thuẫn xã hội và có đấu tranh giữa các giai cấp

Mỗi người thuộc vào giai cấp này hoặc giai cấp khác, không ai đứng ngoài giai cấp Mỗi giai cấp có vị trí, vai trò, nhiệm vụ khác nhau nếu biết đoàn kết thì khai thác, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của nhân dân Trong

sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mỗi giai cấp, tầng lớp lại có những lợi ích khác nhau nhưng đều có chung mục đích là độc lập, thống nhất, chủ quyền dân tộc Quyền lợi tối cao đó là cơ sở phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp đến mức thấp nhất các lợi ích khác biệt, mâu thuẫn giữa các giai cấp, thành phần khác nhau Đồng bào ta đại đa số là nông dân và bần cố nông Làm cách mạng phục vụ lợi ích của nhân dân trước hết là nhân dân lao động Kháng chiến là vì Tổ quốc, vì nhân dân

Cách mạng giải phóng dân tộc ở Hồ Chí Minh là vì quyền làm chủ của nhân dân và đại đa số người lao động Sự mâu thuẫn giai cấp tùy thuộc vào tính chất, mức độ việc phân chia lợi ích trong xã hội Song việc đoàn kết giai cấp, lực lượng đại diện cho những thành phần với lợi ích khác nhau; hợp nhất nhiều đảng phái khác nhau và các tổ chức không đảng phái xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn khó tránh khỏi va chạm và xung đột nhưng trên thực tế thì rất đơn giản vì rằng mọi người đều cùng chung một mục đích là cứu nước; đều có những công tác thiết thực và phải làm tròn; đều hiểu rằng còn thì cùng còn, mất thì cùng mất và người phụ trách giải quyết công việc đúng đắn [47, tr.453]

Vấn đề đoàn kết giai cấp, tầng lớp khác nhau được Hồ Chí Minh xác định là “việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai tầng (tầng lớp, giai cấp) trong nước”[48; tr.20] Việc xây

Trang 38

dựng đại đoàn kết trong giai đoạn kiến thiết nước nhà tuy có khó hơn lúc đánh giặc giành độc lập tự do nhưng không có nghĩa là không thể đoàn kết được Bởi nguồn gốc xuất thân của mỗi người không quyết định đến tính chất của khối đại đoàn kết nhưng có ảnh đến lập trường giai cấp Một trong những yếu tố góp phần vào việc xây dựng khối đoàn kết được bền chắc là năng lực, phẩm chất, trình độ giác ngộ, lý tưởng của mỗi người

Hồ Chí Minh cho rằng con người khi ra đời không thể lựa chọn cho mình sinh ra ở giai cấp, gia đình nào Thành phần giai cấp nhất định có ảnh hưởng đến tư tưởng của con người nhưng nó không phải là một ảnh hưởng quyết định Khi đã đứng vào hàng ngũ cách mạng và được rèn luyện thì có thể đấu tranh, cải hóa để thoát ly khỏi ảnh hưởng của giai cấp bảo thủ và những quan hệ xấu Vấn đề nguồn gốc xuất thân có ảnh hưởng thế nào, điều

quyết định vẫn là do bản thân mỗi người Năng lực, phẩm chất, lý tưởng của

mỗi người là nhân tố quan trọng góp phần cho việc đoàn kết các thành phần giai cấp khác nhau Tất cả các giai cấp, tầng lớp có lợi ích khác nhau nhưng đều chung mục đích vì độc lập, thống nhất đất nước, mỗi người có phẩm chất, cùng chung lý tưởng, lại có tư tưởng tiến bộ tất yếu sẽ đoàn kết được

Việc xây dựng xã hội mới, không chỉ cần có sự đoàn kết công, nông

và trí thức mà còn biết khai thác, sử dụng giai cấp tư sản dân tộc để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là cách mạng do công nông thực hiện Cuộc cách mạng đó không tách khỏi cuộc cách mạng chống phong kiến Liên minh giữa quần chúng nông dân đông đảo với giai cấp công nhân là cơ sở chủ yếu để có thể lập ra một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc Trong quá trình xây dựng xã hội mới, nếu phải cải tạo giai cấp tư sản dân tộc thì “cải

tạo hòa bình đối với giai cấp tư sản dân tộc Về kinh tế, chúng ta không tịch thu tư liệu sản xuất của họ, mà dùng chính sách chuộc lại Về chính trị,

chúng ta vẫn cho họ có quyền lợi thích đáng, họ vẫn được giữ địa vị một

Trang 39

thành viên trong Mặt trận Tổ quốc”[54, tr.15,16] Vì giai cấp tư sản dân tộc vốn đã nhỏ bé lại bị đế quốc và phong kiến chèn ép, không thể ngóc đầu lên Cho nên số đông họ đã đi theo nhân dân lao động chống đế quốc và phong kiến, đã tích cực tham gia kháng chiến Cuộc cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là một cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ

Để đưa cuộc cách mạng đó đến thắng lợi thì cần phải thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi, đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội với mục đích được giải phóng khỏi ách thuộc địa Một điều phải chú ý về vai trò của giai cấp tư sản nói chung tại các nước thuộc địa và phụ thuộc, đặc biệt là giai cấp tư sản Việt Nam không giống vai trò của giai cấp tư sản tại các nước tư bản Giai cấp tư sản dân tộc có thể tham gia tích cực vào cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ Bác kêu gọi với cả “các bạn ngoại kiều, người buôn bán, kinh doanh, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân và trí thức,

đã chung sống với nhân dân Việt Nam Các bạn đã khai cơ lập nghiệp ở Việt Nam Những hoạt động chính đáng về kinh tế và văn hóa của các bạn cũng có lợi cho Việt Nam” [51,tr.361] và khuyên họ “yên lòng làm ăn như

thường” sẽ được giúp đỡ, bảo vệ

Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là đoàn kết nhân dân, các giai cấp, tầng lớp khác nhau mà còn là đoàn kết lương giáo, các tôn giáo khác nhau cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Đoàn kết “đồng bào Giáo và đồng bào Lương” được xếp vào một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Công hòa ở giai đoạn “ngàn cân treo sợi tóc” Hồ Chí Minh đã “đề nghị chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”[48, tr.9] Nhân dân cả nước, cả giáo lẫn lương phải đoàn kết chặt chẽ, cương quyết giữ vững quyền tự do, độc lập, thống nhất Tổ quốc Việc xây dựng nền dân chủ cộng hòa đòi hỏi phải tôn trọng tự do tín ngưỡng Đồng bào Phật giáo và Công giáo, các chức sắc tôn giáo được tạo điều kiện hành đạo và phát triển Nước nhà có

Trang 40

độc lập tất yếu đạo Phật và Công giáo mới được mở mang

Việc đoàn kết cả người có đạo và người không có đạo, đoàn kết tất

cả các tôn giáo khác nhau vì độc lập tự do và hạnh phúc của Tổ quốc Đoàn kết tôn giáo là một trong những động lực tác động trực tiếp đến đồng bào các tôn giáo khác nhau Động lực ấy đã kích thích đồng bào theo các tôn giáo tham gia hy sinh của cải, xương máu trong cuộc kháng chiến chống thực dân phản động, giải phóng dân tộc khỏi xâm lược, áp bức của chủ nghĩa thực dân, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia Thực hiện những công việc đó là “chúng ta làm theo lòng đại từ, đại bi của Đức Phật Thích Ca”, thực hiện “tinh thần hy sinh phấn đấu tức là noi theo tinh thần cao thượng của Đức chúa Giêsu” Hồ Chí Minh rất quý trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người nhưng cũng lên án, phê phán những kẻ lợi dụng, nhân danh tôn giáo để chia rẽ, kích động gây mất đoàn kết dân tộc Người cho rằng nếu thiên đường có thật thì sẽ quá chật không đủ chỗ để chứa chấp tất cả bọn “tông đồ” đi áp bức thuộc địa

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết không chỉ là đoàn kết tôn giáo

mà còn đoàn kết các tộc người khác nhau cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Bởi vì nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều tộc người khác nhau Các tộc người sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Các tộc người anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp Chế độ dân chủ nhân dân

là phải phục vụ lợi ích của nhân dân Đồng bào tất cả các tộc người, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng nhau xây dựng xã hội làm cho cả dân tộc được hạnh phúc, ấm no Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w