1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu của gia đình trẻ công chức viên chức ở thành phố phan thiết, tỉnh bình thuận

127 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó cho thấy sự bình đẳng giới, đời sống riêng tư của con người được coi trọng hơn, giảm bớt những mâu thuẫn và xung đột phát sinh từ việc chung sống trong gia đình nhiều thế hệ.” “Tính t

Trang 1

ĐẶNG THỊ HIỆP ĐỊNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHI TIÊU CỦA GIA ĐÌNH TRẺ CÔNG CHỨC – VIÊN CHỨC Ở THÀNH PHỐ PHAN

THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGÀNH XÃ HỘI HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012

Trang 2

-

ĐẶNG THỊ HIỆP ĐỊNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHI TIÊU CỦA GIA ĐÌNH TRẺ CÔNG CHỨC – VIÊN CHỨC Ở THÀNH PHỐ PHAN

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tôi đã tiến hành thực hiện tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận vào tháng 8 năm 2011

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 5 năm 2012

Tác giả luận văn Đặng Thị Hiệp Định

Trang 4

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân Xin trân trọng cảm ơn tới: Ban chủ nhiệm Khoa xã hội học, Phòng sau đại học - Trường Đại học KHXH&NV - Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh đã chấp nhận và tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài này

Tác giả đặc biệt cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Xoan, người đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa về nội dung, hình thức cho Luận văn từ khi làm đề cương đến khi hoàn thành đề tài nghiên cứu Cảm ơn các thầy, cô đã nhiệt tình giảng dạy trong suốt khóa học

Cảm ơn công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan đơn vị của tỉnh đóng trên địa bàn thành phố Phan Thiết đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu thập thông tin Cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn đồng môn trong việc góp ý bổ ích và xử lý số liệu trong quá trình hoàn thiện luận văn Cảm ơn nhiều tổ chức, cá nhân đã cho phép tác giả được sử dụng tài liệu, tạp chí, bài báo để làm luận cứ đối chiếu, so sánh với kết quả khảo sát của luận văn

Tác giả cảm ơn trường CĐCĐ Bình Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập nghiên cứu Trên hết, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và tất cả những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi về mặt tinh thần lẫn vật chất để tôi có thể sớm hoàn thành luận văn này

Để luận văn được hoàn thiện hơn, tác giả kính mong Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ, các thầy cô và các bạn góp ý, phê bình và chỉ ra những thiếu sót không thể tránh khỏi trong đề tài nghiên cứu này Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012

Đặng Thị Hiệp Định

Trang 5

THPT: Trung học phổ thông

THCS: Trung học cơ sở

TCVN : Tiêu chuẩn quốc gia - NATIONAL STANDARD BHYT: Bảo hiểm y tế

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN DẪN NHẬP……… …… ………6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục tiêu nghiên cứu 9

3 Đối tưọng và khách thể nghiên cứu 9

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 10

5 Cấu trúc luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

1.1.1.Tổng quan về chương trình hỗ trợ QLCT trong gia đình ở Việt Nam 12

1.1.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu 13

1.2 Các khái niệm chính 20

1.2.1.Gia đình 20

1.2.1.1 Khái niệm gia đình 20

1.2.1.2 Gia đình trẻ 21

1.2.2.Công chức – Viên chức 22

1.2.3.Kỹ năng quản lý chi tiêu 23

1.2.4 Các yếu tố cần lưu ý trong quá trình chi tiêu 24

1.3.Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 25

1.3.1.Lý thuyết tiếp cận 25

1.3.2 Lý thuyết vận dụng 28

1.4 Khung phân tích 30

1.5 Giả thuyết nghiên cứu 31

1.6.Phưong pháp nghiên cứu 31

1.6.1.Các phương pháp nghiên cứu chung 31

Trang 7

1.6.2.Phương pháp thu thập số liệu 32

1.6.2.1.Phương pháp thu thập thông tin định lượng 32

1.6.2.2.Phương pháp nghiên cứu định tính 35

1.6.3.Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHI TIÊU TRONG GIA ĐÌNH TRẺ CÔNG CHỨC – VIÊN CHỨC 37

2.1 Vài nét về địa bàn và tình hình đội ngũ CC – VC tỉnh Bình Thuận 37

2.1.1.Vài nét về địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 37

2.1.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 37

2.1.1.2.Tình hình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Thuận 37

2.1.1.3.Số lượng, trình độ và đặc điểm đời sống của đội ngũ CC – VC sống trên địa bàn thành phố Phan Thiết 40

2.2.Thực trạng hoạt động QLCT trong các gia đình trẻ CC –VC ở thành phố Phan Thiết 42

2.2.1 Kiến thức về QLCT của CC – VC trong gia đình trẻ 42

2.2.1.1.Nhận thức của CC - VC về vai trò, tầm quan trọng của QLCT trong gia đình 42

2.2.1.2.Nhận thức về nội dung QLCT, cách QLCT trong gia đình……… …… 48

2.2.2.Hành vi, thói quen QLCT trong gia đình trẻ……… ….55

2.2.2.1.Lập kế hoạch QLCT trong gia đình……… …55

2.2.2.2.Cách làm khi quản lý tài chính……… ….58

2.2.2.3.Cách sử dụng các khoản thu trong gia đình……… 60

2.2.2.4.Bàn bạc thống nhất trong chi tiêu……… …61

2.2.2.5.Các xử lý các tình huống trong chi tiêu……….….…63

2.2.2.6.Tỉ lệ các khoản chi tiêu trong gia đình so với tổng thu nhập……….…… 66 2.3.Các nguyên nhân dẫn đến thực trạng hoạt động QLCT trong gia đình trẻ …71 2.3.1.Các nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức CC – VC về QLCT

Trang 8

trong gia đình……… 70

2.3.1.1 Nguyên nhân chủ quan……… …………70

2.3.1.2 Nguyên nhân khách quan……… ……….73

2.3.2.Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi, thói quen QLCT trong gia đình trẻ CC – VC ………75

2.3.2.1 Nguyên nhân chủ quan……….… …75

2.3.2.2.Nguyên nhân khách quan……….… ….76

2.4.Ảnh hưởng của QLCT đơi với sự phát triển gia đình……… …….77

2.4.1.Sự tích luỹ, đầu tư trong gia đình……….….…77

2.4.2 Bầu không khí gia đình……….…….79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1.Kết luận……… 84

2 Khuyến nghị……… 85

3 Hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo……….……86

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….87

PHỤ LỤC 1……… ………90

PHỤ LỤC 2……….……100

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1,1, Khung mẫu……… 33

Bảng 1.2 Tổng hợp thông tin mẫu nghiên cứu……… …34

Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của độ ngũ cc- vc tại TP Phan Thiết……… ………41

Bảng 2.2 Độ tuổi đội ngũ cc - vc tại TP Phan Thiết……….…41

Bảng 2.3.Tìm hiểu kế hoạch QLCT so với giới tính……… 43

Bảng 2.4 Nguồn tìm hiểu kiến thức về QLCT……… 43

Bảng 2.5 Các vấn đề cc –vc ưu tiên quan tâm khi chuẩn bị ập gia đình……… ……44

Bảng 2.6.So sánh giữa có tìm hiểu QLCT và mức độ quan tâm tìm hiểu QLCT… …46

Bảng 2.7.Mức độ quan tâm các vấn đề bàn bạc khi chuẩn bị kết hôn……… ….47

Bảng 2.8.Các khoản ưu tiên chi trong gia đình trẻ CC –VC……… … … 49

Bảng 2.9 Mức độ lập kế hoạch QLCT trong gia đình……….… 55

Bảng 2.10.Cách làm của cc -vc khi QLCT trong gia đình……….58

Bảng 2.11.Việc đóng góp tài chính của cc- vc vào quỹ chung của gia đình……….….60

Bảng 2.12.Các lý do cc –vc bàn bạc và không bàn bạc về QLCT trong gia đình…… 62

Bảng 2.13.Cách xử lý các khoản thu khi có chi tiêu đột xuất……….….…… 63

Bảng 2.14.Cách xử lý khi có các nguồn hàng ngoài kế hoạch……… 65

Bảng 2.15.Tỉ lệ chi thường xuyên của các gia đình trẻ……….….…67

Bảng 2.16 Tỉ lệ các loại chi tiêu khác trong gia đình……… … 69

Bảng 2.17 Trình độ chuyên môn và việc tìm hiểu kế hoạch QLCT ……… ….71

Bảng 2.18.Ưu tiên quan tâm QLCT và giới tính………72

Bảng 2.19.Mối quan hệ giữa nơi sinh hoạt và lập kế hoạch chi tiêu……… … 74

Bảng 2.20.Cách làm khi QLCT và nơi sinh hoạt……….……… 77

Bảng 2.21.Cân đối thu chi trong gia đình và thu nhập……… ….……78

Bảng 2.22.Bầu không khí gia đình……….……81

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

2.1.So sánh mức độ ưu tiên tìm hiểu về QLCT và ứng xử vợ chồng………… ……45

2.2 Mức độ ưu tiên bàn bạc các vấn đề khi chuẩn bị kết hôn……….… ….48

2.3.Lý do không lập kế hoạch chi tiêu……… …….52

2.4 Mức độ lập kế hoạch QLCT………57

2.5.Tỉ lệ đóng góp vào quỹ chung trong gia đình của cc- vc……….……61

2.6.Các khoản thu được cc –vc sử dụng khi mua quà tặng ngưòi thân……….….…66

2.7.Mức độ ưu tiên quan tâm tìm hiểu QLCT so với giới tính……….…… 73

2.8 Mức độ mâu thuẫn trong gia đình về QLCT……….…… 80

Trang 11

PHẦN DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là nền tảng của xã hội Gia đình là cái nôi nơi mỗi thành viên được lớn lên và hoàn thiện nhân cách của mình Không thể có được một xã hội trật tự, phát triển nếu như trong xã hội đó gia đình không được mọi người quan tâm xây dựng

Gia đình là một thể thống nhất và nhiều khi được thể hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động gia đình Gia đình có các chức năng sinh sản, kinh tế

tổ chức cuộc sống gia đình, giáo dục, thoả mãn những nhu cầu tâm sinh lí tình cảm Mỗi chức năng đều có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển gia đình, trong đó chức năng kinh tế tổ chức cuộc sống gia đình là chức năng cơ bản của gia đình Để thực hiện chức năng này các gia đình phải tiến hành các hoạt động lao động sản xuất, kinh doanh dịch vụ,… nhằm tạo nguồn thu nhập chính đáng nâng cao đời sống cho gia đình, đảm bảo hạnh phúc gia đình Ngoài ra, có một nội dung không thể thiếu là quản

lý chi tiêu trong gia đình thể hiện cách các gia đình sử dụng nguồn thu nhập để mua sắm những sản phẩm phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của gia đình thông qua

đó mà góp phần thúc đẩy nền sản xuất của xã hội phát triển

Theo kết quả điều tra được công bố ngày 18/8/2005 của Ủy ban Dân số - Gia đình &Trẻ em Việt Nam và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) về thực trạng gia đình Việt Nam, 10 năm qua, quy mô gia đình Việt Nam giảm từ 4,8 người xuống còn 4,4 người/gia đình So với thành thị, quy mô gia đình nông thôn nhiều hơn 0,2 người Trong khi đó, Tây Bắc và Tây Nguyên vẫn là 2 vùng có quy mô gia đình lớn nhất: 5,1 người/hộ Tại diễn đàn cấp Bộ trưởng về gia đình khu vực Đông Á tổ chức ở

Hà Nội mới đây, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm chỉ ra những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi chuyển sang thị trường và hội nhập Liên quan đến gia đình, Phó Thủ tướng lo ngại, sự gia tốc các hoạt động kinh tế xã hội làm cho các gia đình 2 thế hệ chiếm tỷ lệ cao và làm hạn chế khả năng gắn kết giữa các thành viên trong gia đình

Trang 12

Trong sự phát triển của xã hội hiện nay, cơ cấu gia đình đang có sự thay đổi đáng kể: hiện tượng “tứ đại đồng đường”, “tam đại đồng đường” không còn nhiều như trước; hộ gia đình hạt nhân đơn tăng lên; quy mô gia đình thu nhỏ Theo TS Trịnh Hòa Bình -

Viện Xã hội học, “xu hướng hạt nhân hóa gia đình là xu hướng không cưỡng lại được,

bởi gia đình hạt nhân có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi của xã hội Việc thu nhỏ quy mô gia đình là một sự tiến bộ của xã hội Nó cho thấy sự bình đẳng giới, đời sống riêng tư của con người được coi trọng hơn, giảm bớt những mâu thuẫn và xung đột phát sinh từ việc chung sống trong gia đình nhiều thế hệ.” “Tính tự chủ của mỗi thành viên trong gia đình ngày càng cao, họ có những độc lập về kinh tế nhất định

nên làm cho chức năng kinh tế cũng suy giảm mạnh” (Theo giadinh.net.vn)

Như vậy trước xu hướng cơ cấu gia đình hạt nhân ngày càng tăng và chức năng kinh tế của hộ gia đình cũng suy giảm mạnh do tính độc lập tự chủ của mỗi thành viên trong gia đình ngày càng cao, đời sống hôn nhân gia đình đang đứng trước những thách thức và trở ngại lớn trước sự phát triển của xã hội Các gia đình hạt nhân, đặc biệt các gia đình trẻ gặp những thuận lợi trong sự phát triển gia đình nhưng cũng có không ít khó khăn như thiếu kinh nghiệm, thiếu thời gian, thiếu sự quan tâm đến từng thành viên trong gia đình, thiếu những kỹ năng nhất định trước khi kết hôn như cách ứng xử, giữ gìn hạnh phúc trong gia đình, cách quản lí chi tiêu hợp lí …

Trong công trình nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến đổi xã hội đến vai trò giới trong gia đình (phân tích từ các kết quả nghiên cứu ở các tỉnh phía Bắc) cho thấy mâu thuẫn về vấn đề quản lý chi tiêu đứng ở mức thứ ba trong số những mâu thuẫn thường xảy ra ở các cặp vợ chồng [28, tr180] PGS Bùi Thị Kim Quỳ từng đưa ra nhận định

“Quan niệm kế hoạch hóa gia đình lâu nay chỉ quy vào kế hoạch hóa sinh đẻ, thật ra

còn phải tính đến nội dung kế hoạch chi tiêu có tính chất lâu dài hơn, tác động đến không những đời sống vật chất và cả phần giải trí và nâng cao đời sống tinh thần cho tất cả mọi người trong cùng một hộ như quỹ học hành, đào tạo, thưởng thức nghệ thuật”

Trang 13

Theo báo Người lao động ra ngày 27/11/2007, hiện nay tình trạng ly hôn trong các gia

đình trẻ ngày càng tăng Những nguyên nhân dẫn đến ly hôn của các gia đình trẻ nhiều

khi rất nhỏ nhặt nhưng căn nguyên sâu xa của vấn đề là người trong cuộc không có quá trình chuẩn bị trước khi tiến tới hôn nhân, họ ngộ nhận về tình yêu và bước vào đời sống hôn nhân với 3 số không tròn trĩnh: Không có tình yêu đích thực, không biết cách

tổ chức cuộc sống và không biết cách giải quyết những vấn đề nảy sinh

Dưới góc độ nhận thức của xã hội, những năm gần đây, ở các thành phố lớn đã bắt đầu xuất hiện các lớp rèn kỹ năng sống, chương trình phục vụ cho giới trẻ chuẩn bị bước vào cuộc sống hôn nhân gia đình Tuy nhiên, các chương trình này đề cập chủ yếu đến giao tiếp ứng xử, nghệ thuật sống, trang trí, nấu ăn… mà chưa đề cập đến một lĩnh vực rất cần thiết trong cuộc sống gia đình là cách quản lý chi tiêu trong gia đình Các đôi thanh niên nam nữ khi kết hôn, phần lớn chưa được trang bị kiến thức về chi tiêu trong gia đình hoặc nếu có chỉ được học tập kinh nghiệm trên qua bố mẹ Vì vậy, khi kết hôn, họ thường gặp khó khăn lúng túng trong việc chi tiêu, chi tiêu như thế nào cho hợp lý với khoản thu nhập đang có và các nhu cầu của gia đình… từ đó dẫn đến họ chi tiêu một cách tuỳ tiện, không có kế hoạch dẫn đến khi có khó khăn nảy sinh mâu thuẫn là vấn đề thường gặp

Trong khi đó, theo tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng: “Quản lý chi tiêu là một kỹ năng giúp chúng ta hòa nhập cuộc sống, một trong những điều cần thiết để chúng ta tập quản lý cuộc đời Nhiều phụ huynh từng trải qua quãng đời đói nghèo, nếm đủ đắng cay khi tự tay gầy dựng nên sự nghiệp nên họ không muốn con mình phải khổ hay thua kém người khác Thế nhưng việc biết cách quản lý chi tiêu lại rất cần thiết để một

cá nhân ở thế chủ động, không lệ thuộc đồng tiền và biết sử dụng đồng tiền như một phương tiện giải quyết thuận lợi nhu cầu cá nhân.”

Qua những phân tích trên cho thấy QLCT trong gia đình có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống và sự phát triển gia đình Vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài

Trang 14

“Hoạt động quản lý chi tiêu của gia đình trẻ công chức - viên chức ở thành phố Phan Thiết, Tỉnh Bình Thuận ” để nghiên cứu.

2.Mục tiêu nghiên cứu

2.1.Mục tiêu tổng quát

Xuất phát từ thực tế nghiên cứu về hoạt động chi tiêu trong hộ gia đình, đề tài này chúng tôi tập trung vào tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ công chức - viên chức, các yếu tố tác động dẫn đến thực trạng và những ảnh hưởng của

nó đối với sự phát triển gia đình

2.2.Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát , chúng tôi đặt ra những mục tiêu cụ thể như sau

Thứ nhất đề tài tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu của các gia đình trẻ cụ thể qua ba nội dung cơ bản là kiến thức về quản lý chi tiêu, hành vi và thói quen quản lý chi tiêu, kết quả của quá trình quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ

Mục tiêu thứ hai là tập trung phân tích những yếu tố tác động cụ thể đến kết quả quản lý chi tiêu trong gia đình ở cấp độ vĩ mô và vi mô

- Tiếp theo đề tài tìm hiểu những ảnh hưởng của hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình đến sự phát triển gia đình trẻ và bầu không khí tâm lý trong gia đình

Cuối cùng đề tài phân tích những hiệu quả và hạn chế của thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình từ đó đề xuất các khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng, các nhà quản lý hoạch định chính sách trong việc trang bị kỹ năng quản lý chi tiêu cho thanh niên và các gia đình trẻ nhằm giúp họ có kỹ năng cơ bản trong quá trình sống, lập gia đình và phát triển gia đình

3.Đối tượng và khách thể

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ

3.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 15

Những công chức - viên chức mới lập gia đình từ 5 năm trở lại đây sống trên địa bàn thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Chúng tôi chọn nhóm gia đình có thời gian kết hôn từ 5 năm trở lại vì đây là nhóm mà trong giai đoạn này sự phát triển gia đình thường gặp những khó khăn nhất định trong việc hòa nhập, chấp nhận nhau khi bước vào cuộc sống gia đình Đối tượng tham gia phỏng vấn là nam, nữ công chức, viên chức đại diện cho gia đình của họ

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

4.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên việc vận dụng các lý thuyết và cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội học, cũng như sử dụng các phương pháp điều tra xã hội Đề tài được nghiên cứu sẽ làm tài liệu tham khảo về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cho các nghiên cứu thực nghiệm về quản lý chi tiêu trong gia đình, đặc biệt là kỹ năng quản

lý chi tiêu trong gia đình trẻ Đây cũng là cơ hội để chúng tôi tiếp cận và học hỏi thêm

về nghiên cứu gia đình

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ còn có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng Đó là việc nắm bắt kịp thời những khó khăn của các gia đình trẻ trong hoạt động quản lý chi tiêu của mình Trên cơ sở đó có kế hoạch định hướng cho thanh niên chuẩn bị lập gia đình có một kiến thức và kỹ năng quản lý chi tiêu hợp lý nhằm phát triển đời sống gia đình thuận lợi

Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ để tìm hiểu

rõ những ảnh hưởng của hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình đối với sự phát triển gia đình và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng quản lý chi tiêu hiện nay của gia đình trẻ Những phát hiện của cuộc nghiên cứu sẽ góp phần tích cực vào việc điều chỉnh, bổ sung những kỹ năng sống cần thiết hiện nay cho thanh niên trong xu hướng phát triển của xã hội và hoạch định những chương trình phù hợp với quy luật phát triển

Trang 16

5 Cấu trúc của luận văn

Luận văn này được chia làm ba phần như sau:

Phần dẫn nhập bao gồm lý do chọn đề tài, giới hạn đối tượng và khách thể nghiên cứu, đồng thời đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ để thực hiện những mục tiêu đã đề

ra trong nghiên cứu; ý nghĩa lý luận và thực tiễn mà nghiên cứu này đạt được

Phần nội dung bao gồm

Chương I của luận văn đề cập đến cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, trong đó có các mục như: tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến đề tài mà tác giả đang thực hiện, các khái niệm liên quan cũng được làm rõ ở chương này Chúng tôi cũng nêu ra và phân tích những lý thuyết sẽ được áp dụng trong luận văn Từ đó, những giả thuyết và khung phân tích được đưa ra Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn

Chương II đề cập đến thực trạng của hoạt động quản lý chi tiêu trong các gia đình trẻ công chức - viên chức ở thành phố Phan Thiết Thực trạng này được thể hiện ở các mặt nhận thức của công chức - viên chức vừa lập gia đình được 5 năm về vấn đề quản lý chi tiêu trong gia đình, hành vi và kết quả quản lý chi tiêu của họ trên cơ sở những kiến thức họ có được về quản lý chi tiêu trong gia đình Những phân tích về các nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng nhận thức, hành vi và kết quả quản lý chi tiêu trong gia đình của các công chức - viên chức bao gồm những yếu tố như giới tính, trình

độ học vấn, các mối quan hệ xã hội, văn hoá gia đình, nơi sinh hoạt Ảnh hưởng của hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình đến bầu không khí gia đình, sự đầu tư phát triển gia đình

Cuối cùng là phần kết luận và khuyến nghị, phần này sẽ tổng kết lại những điểm chính mà những phần trên đã nêu ra và tóm lược lại việc làm sáng tỏ những giả thuyết, mục tiêu đã được đặt ra ban đầu Dựa vào những kết quả thu được từ cuộc nghiên cứu

sẽ có những khuyến nghị dành cho từng đối tượng có sự tác động đến hoạt động quản

lý chi tiêu trong gia đình từ cấp vi mô cho đến vĩ mô

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan về chương trình hỗ trợ về quản lý chi tiêu trong gia đình ở Việt Nam

Cho đến nay ở Việt Nam các chính sách chính thức hỗ trợ cho các gia đình trẻ trong việc trang bị kiến thức và kỹ năng về quản lý chi tiêu hầu như chưa được đề cập đến Ở lĩnh vực này, đến nay chỉ nhận đựơc sự quan tâm của các tổ chức phi chính phủ như Dự án VIE – 88 - P.09 của Unesco vào năm 1988 được triển khai thí điểm ở 10 tỉnh thành trong cả nước về vấn đề giáo dục đời sống gia đình cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12, trong đó vấn đề quản lý chi tiêu trong gia đình được triển khai vào năm lớp

11 Đến thời điểm hiện nay, Giáo dục tài chính cho học sinh phổ thông đang được Tổ chức cứu trợ trẻ em tại Việt Nam kết hợp với Sở Giáo dục Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh thực hiện dưới sự tài trợ của Quỹ Citi Dự án Giáo dục tài chính được thí điểm đầu tiên tại 2 trường THPT Marie Curie và Nguyễn Du của thành phố Hồ Chí Minh

Như vậy về thực chất đây chỉ là các dự án của các tổ chức phi chính phủ được triển khai cho học sinh, nhằm trang bị cho các em kỹ năng quản lý chi tiêu cá nhân chuẩn bị làm nền tảng cơ bản cho việc quản lý chi tiêu trong gia đình

Ngoài ra trong giai đoạn hiện nay đề án “5 triệu bà mẹ nuôi, dạy con tốt” trong

giai đoạn 2010 -2015, do Hội liên hiệp phụ nữ đề xuất đã được chính phủ phê duyệt Theo đề án, nội dung giáo dục, bồi dưỡng gồm: các kiến thức về nuôi con theo khoa học bao gồm dinh dưỡng cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, sức khỏe và dinh dưỡng bà mẹ khi mang thai, phòng chống các bệnh thông thường ở trẻ em; phương pháp dạy con như: đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, giáo dục trẻ vị thành niên, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em, giáo dục giới tính, phòng chống lạm dụng tình dục trẻ em, phòng chống sử dụng lao động trẻ em; quyền và nghĩa vụ của trẻ em và việc

Trang 18

bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của trẻ em; giáo dục gia đình: tổ chức cuộc sống gia đình, xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, bình đẳng gia đình, phòng chống bạo lực gia đình

Dù đề án không đề cập trực tiếp đến quản lý chi tiêu trong gia đình, nhưng một nội dung trong đề án giáo dục gia đình là tổ chức cuộc sống gia đình đã đề cập đến nội dung này Việc trang bị kiến thức cho các bà mẹ để tổ chức cuộc sống gia đình và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một nội dung thực sự được quan tâm trong đề án này

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Cho đến nay ở Việt Nam nghiên cứu về vấn đề hoạt động, kỹ năng quản lý chi tiêu trong gia đinh trẻ chưa được chú trọng và chưa được ưu tiên trong danh mục đề tài của giới nghiên cứu Vì vậy việc nghiên cứu hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ lại càng hiếm gặp, chỉ có những bài viết hay nghiên cứu xung quanh vấn đề mức thu nhập và chi tiêu trong hộ gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến mức chi tiêu trong hộ gia đình, mâu thuẫn gia đình nảy sinh do vấn đề quản lý chi tiêu, mô hình quản lý tiền trong hộ gia đình Hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình trong thời kỳ đổi mới đã có những sự thay đổi và cũng đa dạng, phức tạp hơn Qua quá trình tìm kiếm và nghiên cứu các nguồn tài liệu tham khảo khác nhau, sau đây chúng tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến chủ đề đang nghiên cứu Cụ thể:

Mức thu nhập và chi tiêu trong hộ gia đình

Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý - trong cuộc điều tra định lượng trên 7600 hộ gia đình ở 12 tỉnh trên toàn quốc, trong đó điều tra về quản lý gia đình chiếm 1500 phiếu Trong cuộc điều tra về quản lý gia đình, nội dung tập trung vào khai thác các khoản chi tiêu trong gia đình, trong đó chi tiêu cao nhất dành cho cải thiện bữa ăn hàng ngày, thứ hai dành cho học hành, thứ ba quan hệ họ hàng, hiếu hỉ…Qua cuộc điều tra này tác giả đã nhận thấy sự chuyển biến tích cực trong tư duy kinh tế của các gia đình khi dành tiền thu nhập đầu tư vào sản xuất tăng lên

Trang 19

Bằng phương pháp phân tích thứ cấp số liệu thống kê về kết quả điều tra mức sống hộ gia đình của tổng cục thống kê từ năm 1993 đến năm 2002, bài “ Gia đình và hoạt động tiêu dùng” của tác giả Trần Thị Vân Anh đã nêu lên thực trạng hoạt động tiêu dùng của gia đình qua nguồn thu nhập, mức tiêu dùng của các hộ gia đình Gia đình ở thành thị nguồn thu chủ yếu từ tiền công, tiền lương chiếm 80% tổng thu của gia đình; hộ gia đình nông thôn thì thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp chiếm 70% tổng thu của hộ gia đình Tuy nhiên mức chi tiêu ở các hộ gia đình thành thị cao hơn các hộ gia đình ở nông thôn Cụ thể năm 1993 mức chênh lệch này là 2,3 lần; năm

1998 vẫn giữ mức 2,3 lần, năm 2002 giảm nhẹ xuống còn 2,2 lần So sánh mức chi tiêu dùng ở hai thời điểm 1998 và 2002 tác giả nhận định xu hướng chi cho các khoản ăn uống tăng lên còn các khoản chi ngoài ăn uống như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, may mặc giảm xuống trong hai giai đoạn 1998 -2002 Qua xem xét cách tổ chức tiêu dùng

và mức tiêu dùng, tác giả đã nhận định sự biến đổi và chuyển dịch cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình có liên hệ cụ thể về nhu cầu và tập quán tiêu dùng của các nhóm hộ gia đình

Người giữ tiền trong gia đình

Tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã đề cập “Có hai cách quản lí tiền phổ biến trong gia đình Việt Nam, đó là hoặc do người vợ quản lí hoặc cả hai vợ chồng cùng quản lí Các cách khác như chồng quản lí, tiền của ai người đó quản lí hoặc các thành viên khác trong gia đình quản lí hầu như chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ… trong các gia đình hiện nay, người quản lí tiền trong gia đình thường là phụ nữ… càng vào các tỉnh phía Nam người đàn ông, người chồng càng ít quan tâm đến công việc quản lí gia đình nói chung

và quản lí tiền nói riêng.” [16, tr 13-14]

Việc đóng góp chung kinh tế vào ngân sách chung của các thành viên là điều để duy trì đời sống vất chất của gia đình Kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng về quản lý ngân sách chung trong sinh hoạt gia đình đã nhận định ngân sách chi tiêu hàng ngày chủ yếu do người vợ đảm nhận, vấn đề chi tiêu trong gia đình vẫn thuộc về người

Trang 20

phụ nữ Người phụ nữ không chỉ là “tay hòm chìa khóa” trong chi tiêu hàng ngày mà

đã tham gia nhiều hơn vào việc quản lý tài sản chung của gia đình

Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa với công trình nghiên cứu về “mô hình quản lý tiền trong hộ gia đình” đưa ra nhận định: Các gia đình đều có ngân sách chung là phổ biến, người giữ ngân sách chung chủ yếu là người vợ, tuy nhiên người chồng vẫn thể hiện vai trò của của mình thông qua việc quyết định chi tiêu trong gia đình tùy theo mức độ chi tiêu Hầu như người vợ toàn quyền quyết định chi tiêu từ ngân sách chung cho ăn uống hàng ngày Trái lại, những quyết định liên quan đến những công việc quan trọng như mua sắm tài sản lớn quyền quyết định chính thuộc về người chồng

Qua phân tích các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu về cách quản lí chi tiêu chưa nhiều Ở trên tác giả Nguyễn Linh Khiếu, Đỗ Thị Lệ Hằng cũng

mới chỉ đề cập tới khía cạnh ai là người giữ ngân sách chung

Người quyết định chi tiêu

Khi tổng quan các đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy người phụ nữ thường

là người “nắm tay hòm chìa khoá” trong gia đình Phải chăng là người giữ tiền, người

vợ cũng là người có toàn quyền quyết định chi tiêu trong gia đình? “Quyền quyết định chi tiêu không liên quan nhiều tới việc ai là người giữ tiền trong gia đình.” [1, tr 38] Tác giả Nguyễn Linh Khiếu cũng khẳng định “Dĩ nhiên, trên thực tế người quản lí - giữ tiền trong gia đình không đồng nghĩa với người có quyền cao nhất trong quyết định các khoản chi tiêu” [16, tr.14]

Trong một nghiên cứu trước đó về “Tương quan giữa vợ và chồng trong một số lĩnh vực hoạt động của vợ chồng trong một số lĩnh vực hoạt động của gia đình” (1994), tác giả Nguyễn Linh Khiếu khẳng định: Trong việc mua sắm tài sản đắt tiền, người chồng tham gia với tỉ lệ cao Tuy nhiên trong nghiên cứu sau này, tỉ lệ hai vợ chồng cùng bàn bạc khi quyết định chi tiêu ngày càng tăng, mặc dù trong các quyết định chi tiêu lớn trong gia đình (đặc biệt ở khu vực phía Bắc), người chồng vẫn chiếm tỉ lệ cao hơn người vợ (Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu, Đỗ Thị Bình, 2002)

Trang 21

Trong một nghiên cứu khác, tác giả Vũ Tuấn Huy (2002) đã đưa ra một cách nhìn dung hoà hơn “Trong cấu trúc xã hội ngày nay, vai trò của người cha và người mẹ mang tính phân công tách biệt, nhưng bổ sung cho nhau” [13, tr.29] Nhưng qua nghiên cứu thực tiễn tại ba tỉnh Yên Bái, Huế và Sóc Trăng, tác giả nhận thấy: “Cả hai giới đều quan niệm về vai trò chính của người đàn ông trong gia đình như là người trụ cột

về kinh tế Mặc dù thành kiến như vậy đã dần dần thay đổi khi phụ nữ tham gia vào những nghề nghiệp mới và mức sống tăng lên, sự bám chặt vào những thành kiến này vẫn còn rất mạnh và tiếp tục là những chuẩn mực” [13, tr.31]

Mặt khác, mức độ đóng góp thu nhập cá nhân vào thu nhập gia đình cũng là yếu tố làm tăng quyền quyết định chi tiêu trong việc mua bán tài sản lớn và công việc hiếu hỉ, đặc biệt là đối với người vợ

Như vậy là, cho dù trong phần lớn các gia đình, người vợ là người giữ tiền, nhưng quyết định lớn trong gia đình vẫn thuộc về ông chồng (do các nhân tố chủ quan

và khách quan) Song theo thời gian, quan hệ vợ chồng trong gia đình ngày càng dân chủ bình đẳng hơn, thể hiện ở tỉ lệ cả hai vợ chồng cùng tham gia vào các quyết định chi tiêu lớn trong gia đình ngày càng tăng

Những yếu tố ảnh hưởng đến mức chi tiêu

Dựa trên kết quả khảo sát toàn quốc về Mức sống Việt Nam năm 1993 tác giả

Vũ Triều Minh phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức chi tiêu khác nhau ở 4800 hộ gia đình trên toàn lãnh thổViệt Nam Ngoài việc phân tích đặc điểm kinh tế của gia đình, môi trường sống, tác giả còn tập trung vào phân tích ảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp, trình độ học vấn, giới tính… của chủ hộ Qua đó tác giả đã đưa ra nhận định yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến mức chi tiêu trong gia đình là nghề nghiệp Trình độ học vấn không ảnh hưởng nhiều đến mức chi tiêu trong các hộ gia đình và sự chêch lệch về mức chi tiêu ở các vùng như thành thị và nông thôn là không lớn

Bên cạnh đó việc nghiên cứu về “Nhu cầu vật chất của công chức trẻ tại thành phố hồ Chí Minh” đã được tác giả Võ Thị Thanh Tuyền Đề tài đã nêu ra một vấn đề

Trang 22

nhu cầu vật chất là một trong những nhu cầu luôn có và cần thiết trong giới công chức trẻ Tuy nhiên trong giới công chức trẻ có những nhận thức chưa đúng đắn về nhu cầu vật chất và việc thỏa mãn nhu cầu vật chất như chưa nhận thức rõ nhu cầu nào là trước mắt, nhu cầu nào là lâu dài, cơ bản và không cơ bản, cần thiết và chưa thật cần thiết, giữa mong muốn và khả năng kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội Nên vẫn có hiện tượng chạy theo mốt thời trang, quá chú trọng đến nhu cầu vật chất, xem nhẹ nhu cầu tinh thần, coi nhẹ việc rèn luyện nhân cách

Xung đột, mâu thuẫn gia đình liên quan tới việc chi tiêu

Sự khác nhau của các thành viên trong gia đình trong việc sử dụng nguồn thu nhập là một trong những nguyên nhân gây nên mâu thuẫn và xung đột trong gia đình Kết quả khảo sát các gia đình trẻ tại quận Ba Đình, Hà Nội của hai tác giả Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Bích Hoà cho thấy có 28,2% số người được hỏi cho rằng trong gia đình họ xảy ra xung đột bắt nguồn từ quản lí chi tiêu “Mâu thuẫn trong quản lí chi tiêu có thể gián tiếp phản ánh mức độ bất bình đẳng về vai trò và vị thế của vợ hoặc chồng trong kinh tế gia đình.” (Nguyễn Tuấn Anh, Trần Bích Hoà 2004, tr 24)

Tác giả Vũ Tuấn Huy đã phân tích và đưa ra những vấn đề xã hội của gia đình nước ta hiện nay qua bài “Những vấn đề của gia đình Việt Nam trong quá trình biến đổi xã hội theo xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa” như: sự chuyển đổi ý nghĩa của hôn nhân và gia đình theo hướng chú ý đến cá nhân; những biến đổi của hành vi gia đình theo xu hướng phục hồi những đặc trưng truyền thống và bị tiền tệ hóa; cơ cấu của gia đình biến đổi theo hướng thu nhỏ về quy mô và đa dạng; vấn đề bình đẳng giới; bạo lực trong gia đình và ly hôn; kiểm soát và đầu tư của cha mẹ đối với con cái Trong

đó tác giả đã nêu lên vấn đề ứng xử giữa vợ và chồng, nuôi dạy con cái và kinh tế gia đình là những lĩnh vực tiềm năng dễ xảy ra mâu thuẫn vợ chồng Trong lĩnh vực kinh

tế gia đình thì mẫu thuẫn vợ chồng xảy ra liên quan đến quản lý chi tiêu nhiều hơn là liên quan đến mức thu nhập của hộ gia đình và việc làm của người vợ và người chồng

Trang 23

Điều này cho thấy quản lý chi tiêu trong gia đình đóng một vai trò quan trọng đối với

sự phát triển gia đình theo xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Các nghiên cứu trên đã đưa ra được người giữ ngân sách chung trong hộ gia đình, quyền quyết định chi tiêu trong gia đình, các yếu tố ảnh hưởng quyền quyết định chi tiêu và những mâu thuẫn gia đình có liên quan đến vấn đề quản lý chi tiêu Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa đề cấp đến kiến thức và kỹ năng quản lý chi tiêu trong gia đình, một vấn đề có bản giúp các gia đình trẻ có cách quản lý chi tiêu một cách hiệu quả

Vấn đề quản lí chi tiêu như thế nào cũng được báo giới quan tâm Các bài báo thường theo hai hướng: Thứ nhất, các bài báo đưa ra các lời khuyên về việc quản lí tiền

và quản lí chi tiêu trong gia đinh Thứ hai, nhiều bài báo viết về ảnh hưởng của các cách quản lí tiền tới các mối quan hệ gia đình, đặc biệt là tới mối quan hệ vợ chồng

“Biết cách quản lí và chi tiêu tiền bạc thì gia đình yên ấm, không biết cách thì vợ chồng

dễ phát sinh mâu thuẫn Vấn đề quĩ chung, quĩ riêng làm quan hệ vợ chồng xa cách, ít quan tâm tới nhau.” (Theo Phụ nữ TP HCM, “Tiền trong gia đình”, Vnexpress Net, Thứ Năm 21/4/2005) Chuyện các bà vợ kiểm soát quá gắt gao thu nhập cũng như chuyện chi tiêu của chồng cũng làm cho quan hệ vợ chồng căng thẳng, rạn nứt (Theo Phụ nữ, “Những chiêu vòi tiền của các bà vợ”, Thứ bảy, 16/4/2005) Báo tuổi trẻ TPHCM ngày 3/5/2010 đã đăng bài viết về “Quản lý chi tiêu và khám phá giá trị bản thân”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng đã đưa ra ý kiến : “Quản lý chi tiêu là một kỹ năng giúp chúng ta hòa nhập cuộc sống, một trong những điều cần thiết để chúng ta tập quản lý cuộc đời Cách quản lý chi tiêu của mỗi cá nhân tùy thuộc nhiều vào cách hành

xử của gia đình đối với đồng tiền Nhiều phụ huynh từng trải qua quãng đời đói nghèo, nếm đủ đắng cay khi tự tay gầy dựng nên sự nghiệp nên họ không muốn con mình phải khổ hay thua kém người khác Thế nhưng việc biết cách quản lý chi tiêu lại rất cần

thiết để một cá nhân ở thế chủ động, không lệ thuộc đồng tiền và biết sử dụng đồng

tiền như một phương tiện giải quyết thuận lợi nhu cầu cá nhân.”

Trang 24

Dự án giáo dục tài chính cho học sinh THPT do tổ chức cứu trợ trẻ em tại Việt

Nam, Quỹ Citi phối hợp với Sở Giáo dục – Đào tạo TPHCM triển khai từ tháng

12-2009 đến 30 -6 -2011 tại một số trường PTTH trên địa bàn TPHCM Qua kết quả khảo sát trên 200 học sinh tại 2 trường THPT Nguyễn Du và Marie Curie cho chúng ta nhìn thấy một bức tranh về thực trạng việc quản lý chi tiêu của thanh thiếu niên hiện nay Theo ý kiến của bà Lisa Sherburne – Trưởng ban HIV va sức khỏe thanh niên của tổ chức cứu trợ trẻ em tại Việt Nam trả lời phỏng vấn phóng viên báo Thanh niên : ‘ Giáo dục tài chính mang lại giá trị suốt đời cho bạn trẻ và cho mọi người nói chung Giáo dục tài chính giúp các em có thể hạn chế những rũi ro trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, kèm theo là những thay đổi chuyển biến trong gia đình Đây là giai đoạn các

em trưởng thành nên rất cần trang bị những kỹ năng cần thiết để có thể ra quyết định đúng đắn về tài chính và tự chịu trách nhiệm về những quyết dịnh đó.”

Tuy nhiên các bài báo mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu trường hợp, chứ chưa có một con số thống kê lớn trên diện rộng Nhìn chung, quản lí chi tiêu như thế nào cũng

là một công việc quan trọng và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống kinh tế của gia đình, cũng như tới hạnh phúc của gia đình

Qua tổng quan các tài liệu, chúng tôi nhận thấy rằng

Về mặt nội dung:

Thứ nhất, đề tài người quản lí chi tiêu, người ra quyết định chi tiêu là chủ đề khá thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như các nhà báo Tuy nhiên, các nghiên cứu gia đình tập trung nhiều vào nghiên cứu vai trò của giới trong phân công lao động, các yếu tố ảnh hưởng đến quyền ra quyết định và tạo quyền, xung đột trong gia đình, thu nhập và chi tiêu trong hộ gia đình, dường như chưa có nghiên cứu nào đánh giá về kiến thức và kỹ năng quản lý chi tiêu trong gia đình trẻ hiện nay và các yếu tố ảnh hưởng Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn tìm hiểu thực trạng việc quản lí chi tiêu trong gia đình trẻ

Trang 25

Thứ hai các tài liệu đã nêu lên được tầm quan trọng của quản lý chi tiêu trong gia đình đối với sự phát triển gia đình

Thứ ba, kết quả quản lý chi tiêu trong gia đình chịu ảnh hưởng của một số yếu

tố sau: Văn hóa gia đình, trình độ học vấn, nghề nghiệp, con thứ mấy trong gia đình, thu nhập

Về mặt phương pháp:

Các nghiên cứu trên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như điều tra định lượng, phân tích tài liệu, và phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm Các phương pháp này đều thể hiện rõ ưu thế của mình trong các nghiên cứu trên Phương pháp điều tra thuyết phục người đọc về số liệu thống kê và khả năng khái quát của nó Phân tích tài liệu và tài liệu thứ cấp làm cho bài viết của các tác giả thêm phần sâu sắc và thuyết phục Dữ liệu do phỏng vấn sâu đem lại nhiều thông tin quí giá bổ sung và mở rộng vấn đề nghiên cứu

Trong đề tài của mình, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp điều tra định lượng và phỏng vấn sâu, ngoài ra có bổ sung thêm phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp qua sổ ghi chép chi tiêu trong hộ gia đình có khả năng cung cấp nhiều thông tin thú

vị hơn Bên cạnh đó đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những CC - VC ở một địa bàn mới là thành phố trực thuộc tỉnh đang trong quá trình phát triển

1.2.Các khái niệm chính

1.2.1 Gia đình

1.2.1.1 Khái niệm gia đình

Hiện nay, ở Việt Nam và cả trên thế giới, các tác giả đang sử dụng rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình tuỳ theo góc độ nghiên cứu của mỗi tác giả

Về mặt chiết tự, chữ “gia đình” bao gồm 2 chữ “gia” và “ đình”, Chữ “gia” mang ý nghĩa nhà ở - xuất hiện khi con người biết chăn nuôi, chữ “đình” có nghĩa là cái sân Như thế, gia đình, theo nghĩa từ ngữ là một đơn vị kinh tế nhỏ, sống chung dưới một mái nhà trong cộng đồng xã hội

Trang 26

Theo nhà xã hội học Nga T.A Phanaxeva có 3 loại quan niệm về khái niệm gia đình là:

- Loại quan niệm thứ nhất: gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, có liên kết với nhau bằng chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ ruột thịt

- Loại quan niệm thứ hai: gia đình là một nhóm nhỏ có quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và trách nhiệm

- Loại quan niệm thứ ba: Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có mối quan hệ ràng buộc về vật chất, tinh thần, theo nguyên tắc, mục đích sống như nhau về các vấn đề chủ yếu trong sinh hoạt

Theo chúng tôi trong phạm vi đề tài này chúng tôi chọn khái niệm : “Gia đình là một nhóm xã hội được gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống Các thành viên trong gia đình có quan hệ tình cảm mật thiết với nhau bởi các trách nhiệm và quyền lợi, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ” Phạm Đức Trọng (2009)

1.2.1.2.Khái niệm gia đình trẻ

Gia đình trẻ thuộc gia đình hạt nhân có độ tuổi của chủ hộ gia đình dưới 35, chịu trách nhiệm đầy đủ trong hoạt động quản lý gia đình, tồn tại với tính cách hộ gia đình trẻ, được hình thành trong các tầng lớp trí thức, công nhân viên chức, lao động thủ công, nông dân Gia đình trẻ cũng có thể có ba thế hệ, sống cùng một mái nhà, cùng một ngân sách kinh tế, chung người chủ hộ chăm lo và quyết định mọi việc phải là tuổi trẻ,

ông bà có vai trò nhất định về sự giáo dục con cháu tạo sự ổn định gia đình [5, tr.51]

Gia đình trẻ với tư cách là đại biểu cho gia đình hiện đại, có trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp ngày càng được xác định như một giá trị cần thiết, trình độ văn hóa và tư duy phát triển phong phú, đã tạo ra bộ mặt tinh thần lành mạnh và tiến bộ trong xã hội, nổi lên với những biểu hiện sau:

- Có cơ cấu nhân khẩu gia đình hợp lý và nhỏ hẹp từ 1-2 con và thường có 2 thế hệ, con cái và bố mẹ

Trang 27

- Có chức năng kinh tế rất năng động và được phát triển phong phú trong đó vai trò

vợ chồng đều là quan trọng

- Chức năng tiêu dùng gắn liền với việc tổ chức cuộc sống vật chất tinh thần trên tình yêu thương và sự quan tâm có trách nhiệm, trên cơ sở hiểu biết giúp đỡ và đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên

- Chức năng con cái được quan tâm đặc biệt và đặt trách nhiệm cao cả ở người bố và người mẹ, với ông bà và con cái

- Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bao gồm quan hệ huyết thống cho đến quan hệ tinh thần đạo đức, quyền lực uy tín và hoạt động giao tiếp cũng được phát triển thích ứng với xã hội hiện đại với những giá trị nhân văn và cao đẹp của nhân loại mà họ đã lựa chọn

1.2.2 Công chức – viên chức

1.2.2.1.Công chức

- Là công dân Việt Nam

- Được các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp

tỉnh, cấp huyện tuyển dụng, hoặc thi tuyển theo luật công chức

- Được giao, giữ một công vụ thường xuyên và làm một lĩnh vực chuyên môn nào

Là công dân Việt Nam đựơc tuyển dụng theo vị trí làm việc, làm việc tại đơn vị

sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn

vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ

có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự

Trang 28

nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức và các quy định khác của pháp luật

có liên quan

Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập

Viên chức có thời gian làm việc 5 năm trở lên tại đơn vị sự nghiệp công lập được xét chuyển thành công chức không qua thi tuyển; viên chức được tiếp nhận, bổ sung vào vị trí làm việc được pháp luật quy định là công chức thì quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm đồng thời là quyết định tuyển dụng; viên chức chuyển sang cán bộ, công chức hoặc ngược lại đều được bảo đảm có quyền lợi về chế độ, chính sách

Luật Viên chức quy định, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo

vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập như các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao…; theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập Trong khi đó, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách (trừ công chức lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập (Luật viên chức 2010)

1.2.3 Kỹ năng quản lý chi tiêu

Kỹ năng theo tự điển Giáo dục học thì kỹ năng có hai bậc :

Bậc một kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ

Bậc hai kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khác nhau

Chi tiêu dùng tiền vào việc gì đó (Tự điển tiếng Việt – NXB Đà Nẳng 2006)

Quản lý theo tự điển Tiếng Việt là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định,

Trang 29

tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định

Như vậy trong phạm vi của đề tài chúng tôi xây dựng khái niệm: kỹ năng quản lý chi

tiêu là khả năng thực hiện đúng hoặc thành thạo, linh hoạt, sáng tạo việc trông coi, giữ gìn tổ chức, điều khiển việc mua sắm, tiêu dùng, tích lũy trong gia đình theo yêu cầu

phát triển của gia đình trong hoàn cảnh nhất định

1.2.4 Các yếu tố cần lưu ý trong quá trình chi tiêu

Chi tiêu trong gia đình là một nội dung quan trọng cần lưu ý trong cuộc sống gia đình Nó có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống cũng như không khí gia đình Trong nghệ thuật quản lý và chi tiêu, người chủ gia đình cần biết linh động, tùy hoàn cảnh gia đình mà cân đối

Chi tiêu có kế hoạch là biểu hiện thống nhất chi tiêu trong gia đình, bảo đảm nguyên tắc công khai tài chính, giúp mọi người kiểm tra lẫn nhau và cùng có trách nhiệm trong việc chi tiêu

Trong quản lý chi tiêu, người chủ gia đình cần chú ý một số yếu tố sau:

- Phải cân đối các khoản chi tiêu

- Cần phải có sổ chi tiêu

- Trong gia đình người vợ nên là người giữ tiền và quản lý chi tiêu

- Nên chi tiêu theo nguyên tắc, trước khi chi tiêu cần tự đặt các câu hỏi: mua cái gì? Mua ở đâu? Mua cho ai? Mua bằng cách nào? Trả tiền mặt hay trả góp?

- Tiền nên phát hẳn cho người chi

- Trong khi chi tiêu cần có quan điểm chung

- Không quá dè xẻn trong chi tiêu để lo phần tích lũy mà ảnh hưởng sức khỏe của từng thành viên trong gia đình

- Khi mua sắm không nên chạy theo quảng cáo khi không có nhu cầu, chỉ mua những thứ cần thiết và nên xem giá ở nhiều nơi trước khi mua

Các khoản chi tiêu trong gia đình bao gồm:

- Chi tiêu thường xuyên: là những khoản chi cố định bao gồm: tiền học phí, tiền chợ,

Trang 30

tiền điện nước, điện thoại… Đây là những khoản có thể tính toán được ngoài ra còn có một khoản nhỏ cho chi tiêu vặt

- Chi tiêu không thường xuyên: gồm các khoảng chi cho mua sách vở, bảo hiểm, giải trí, nghỉ mát…

- Chi tiêu theo mục đích chiến lược: mua sắm máy móc, đồ dùng gia đình, sửa chữa nhà cửa, …

- Chi tiêu đột xuất là khoản chi tiêu không thể dự trù trước như hiếu hỉ, thăm khám chữa bệnh…

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu chi trong gia đình

- Nếp sống gia đình: việc thu chi trong gia đình chịu ảnh hưởng của xu hướng hướng nội hay hướng ngoại trong gia đình

- Lợi tức gia đình là tất cả các nguồn lợi mang đến cho gia đình như nguồn thu từ lương, mua bán, sản xuất, nguồn chi tiêu, nguồn tiết kiệm, dự phòng và nguồn đầu

tư phát triển

- Số người trong gia đình

- Thời kỳ phát triển gia đình

- Ảnh hưởng của chổ ở

- Các loại chi phí

Cân đối thu chi trong gia đình

Cân đối thu chi là phải sắp xếp sao cho tổng thu lớn hơn tổng chi

Tổng thu = tổng chi + dự phòng + tiết kiệm đầu tư + chi tiêu lớn

Chi tiêu hợp lý là thỏa mãn những nhu cầu cần thiết trong gia đình, của từng thành viên gia đình và có phần tiết kiệm tích lũy, đầu tư phát triển kinh tế gia đình để tạo nên cuộc sống có chất lượng cao trong gia đình [25, 98- 101]

1.3 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

1.3.1 Lý thuyết tiếp cận

1.3.1.1 Lý thuyết cấu trúc – chức năng

Trang 31

Lý thuyết cấu trúc chức năng được khởi nguồn từ A.Comte và nó còn gắn liền với các tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như E.Durkheim, Herbert Spencer, Talcolt Parsons, G Murdock …

Thuyết cấu trúc – chức năng phân tích cơ cấu của một xã hội, những mối quan hệ giữa các hệ thống khác nhau của nó Họ coi xã hội tương tự như một cơ thể, bao gồm nhiều cơ quan, nhiều bộ phận Các cơ quan này cùng hoạt động với nhau để cơ thể sống được Các bộ phận khác phải thực hiện các chức năng đối với nhau và với toàn cơ thể Lý thuyết này lý giải về gia đình hoạt động như thế nào, gia đình liên quan với xã hội bên ngoài và với các thành viên ra sao

Gia đình được coi là đơn vị quan trọng và thực hiện những chức năng cơ bản và then chốt với xã hội Cơ cấu xã hội lại tạo ra bối cảnh chung về văn hóa và tổ chức, bối cảnh này ảnh hưởng đến đời sống gia đình

Theo G Murdock: ông cho rằng ở tất cả các xã hội, gia đình thực hiện 4 chức năng cơ bản đó là: tính dục, tái sinh sản, kinh tế và giáo dục Đây là những chức năng hết sức quan trọng với xã hội

Với chức năng kinh tế của gia đình, hiện nay các gia đình tập trung nhiều vào việc sản xuất, đảm bảo thu nhập cho gia đình nhưng một phần của chức năng này là quản lý và sử dụng nguồn thu nhập đó một cách hợp lý là một phần rất quan trọng trong việc phát triển gia đình, nếu chức năng này chỉ tập trung vào một vế là sản xuất tạo thu nhập mà không hoàn thành việc quản lý chi tiêu sẽ cản trở sự phát triển của gia đình Để thực hiện chức năng này, mỗi cá nhân phải sử dụng vốn xã hội được hình thành từ quá trình mỗi cá nhân tích luỹ kinh nghiệm thông qua mạng lưới xã hội

QLCT trong gia đình là một tiểu chức năng trong hệ thống các chức năng của gia đình Trong sự phát triển của xã hội hiện nay, vai trò và chức năng của người vợ, người chồng cũng có những thay đổi Nếu vợ, chồng không thực hiện hết chức năng của mình, hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình không được mọi người thực hiện tốt thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển gia đình Đề tài tiếp cận lý thuyết chức năng còn

Trang 32

nhằm để phân tích về vai trò của quản lý chi tiêu trong gia đình trong chức năng kinh tế của gia đình

Thuyết cấu trúc - chức năng theo Parsons là thuyết hành động Theo « giả thuyết

cơ bản » của ông về hành động xã hội là « phải hiểu hành động là một thể loại nhất định về quan hệ giữa các hệ khác biệt với nhau về phân tích - một quan hệ mà ta có thể

mô tả là sự đan xen lẫn nhau hay thâm nhập lẫn nhau giữa các hệ thống xã hội khác nhau » Như vậy hoạt động quản lý tài chính theo lý thuyết này bao gồm cá nhân người quản lý chi tiêu trong khả năng thu nhập mà họ có đựoc và điều kiện sống của gia đình, các kiến thức và kỹ năng mà họ có được về QLCT giúp họ xác định cách quản lý chi tiêu phù hợp cho gia đình mình Theo Parsons, để gia đình hoạt động có hiệu quả với

tư cách một hệ thống xã hội phải có sự phân công lao động rõ ràng theo giới Việc đóng góp về kinh tế của vợ chồng có mối quan hệ nhất định với quá trình ra quyết định trong quản lý chi tiêu

1.3.1.2.Lý thuyết lựa chọn duy lý

Đại diện cho lý thuyết này là James Coleman, ông cho rằng hệ thống xã hội phải được

lý giải bởi các yếu tố nội tại, cá nhân, trong đó các hành động của các cá nhân luôn hướng tới một mục đích, mục tiêu nhất định Mục tiêu đó (hành động) được định hình bởi giá trị, sở thích vì vậy các cá nhân cần có sự lựa chọn hợp lý giữa các mục tiêu trong phạm vi đi từ sự lựa chọn cá thể đến sự lựa chọn tập thể một cách có hệ thống

Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người hoạch định hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.Tức là trước khi quyết định một hành động nào đó con người luôn luôn đặt lên bàn cân để cân đo, đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận để thực hiện hành động và ngược lại nếu chi phí lớn hơn hành động thì họ không hành động

Trang 33

Lý thuyết cho rằng mỗi người xem xét một loạt những kích thích và lựa chọn ra những kích thích phù hợp và có ích cho bản thân mình, như những kích thích nào không phù hợp hoặc không có ích sẽ bị khước từ, loại bỏ Lý thuyết muốn biết những

gì con người cho là có lợi và họ phản ứng thế nào đối với những cái họ cho là có lợi

đó

Lý thuyết này được vận dụng nhằm phân tích sự lựa chọn của công chức, viên chức trong việc tham gia vào các hành động quản lý chi tiêu trong gia đình họ Việc lựa chọn và quyết định chi tiêu dựa trên cơ sở tính toán cân nhắc lợi ích cho cá nhân và gia đình họ Tuy nhiên sự lựa chọn, cân nhắc này còn phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng quản lý chi tiêu mà họ có được để đưa ra những quyết định đúng đắn và có lợi cho gia đình

1.3.2.Lý thuyết áp dụng

Từ việc tiếp cận các lý thuyết như đã đề cập ở phần trên, trong đề tài này để lý giải tại sao quản lý chi tiêu là một chức năng rất quan trọng trong gia đình nhưng lại không được sự quan tâm của các gia đình trẻ ? Cách họ đã quản lý chi tiêu như thế nào sau khi lập gia đình ? Những yếu tố nào tác động cụ thể đến kết quả quản lý chi tiêu trong gia đình ? Trên cơ sở đó, chúng tôi đã vận dụng khung lý thuyết phân tích của tác giả

Ronald S.Burt về « các lỗ trống cấu trúc » để làm sáng tỏ vấn đề

Theo Burt mỗi người chúng ta đều có những mối quan hệ xã hội khác nhau, thông qua các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân sẽ thu nhận những thông tin, hình thành vốn xã hội của bản thân Ông ghi nhận hiệu quả của các mối quan hệ xã hội của vợ và chồng trong việc hình thành vai trò vợ chồng Các thông tin và niềm tin được cung cấp bởi các mối quan hệ xã hội được đánh giá cao tương tự như nhau và ảnh hưởng mạnh bởi hầu hết các hạn chế quan hệ.Trong mạng lưới quan hệ của vợ và chồng có những lỗ trống mà người vợ hoặc chồng không thể liên hệ được như mối quan hệ giữa người vợ

và mẹ của vợ hoặc quan hệ giữa người chồng và bạn bè nam giới của họ về quản lý chi

tiêu

Trang 34

Theo White (1992) phụ nữ tìm hiểu vai trò truyền thống vợ chồng từ bà mẹ, trong khi đó người chồng thì học hỏi từ bạn bè nam giới của họ Vì vậy trong mỗi cá nhân có sự khác biệt nhất định về việc tìm hiểu vai trò của vợ chồng từ các nguồn khác nhau, mối quan hệ xã hội khác nhau Như vậy khi kết hôn mỗi người sẽ đem vốn kinh nghiệm xã hội về vấn đề này để vận dụng vào gia đình mình Điều này tạo nên sự đa dạng trong cách quản lý chi tiêu ở mỗi gia đình Điều này dẫn đến cả hai vợ chồng có

xu hướng đàm phán và xây dựng vai trò chung của vợ chồng trong quản lý chi tiêu Bởi vậy, sự đa dạng của mạng lưới xã hội tạo ra vị trí được coi như là vốn xã hội cho những hành động cụ thể trong quản lý chi tiêu gia đình Việc quản lý chi tiêu trong gia đình là một hành động kinh tế quan trọng trong gia đình (Linet at, 2001)

Các cặp vợ chồng trong giai đoạn sống khác nhau, có thể biểu hiện khác nhau, mô hình quản lý chi tiêu trong gia đình tuỳ thuộc vào ngữ cảnh của mỗi gia đình (Chen et at, 2000) Các gia đình chưa có con và gia đình đã có con sẽ có những mô hình quản lý chi tiêu khác nhau do phụ thuộc vào ưu tiên chi tiêu trong gia đình

Như vậy vốn kiến thức về quản lý chi tiêu và kỹ năng quản lý chi tiêu trong gia

đình của vợ và chồng được hình thành và chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố khác nhau như mối quan hệ xã hội của cá nhân, số năm kết hôn của mỗi gia đình, nền văn hoá xã hội, văn hoá gia đình, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi, thu nhập của cá nhân

Tóm lại, khung phân tích trên là rất có ích cho việc nghiên cứu các nhân tố vĩ

mô và cả vi mô tác động đến thực trạng quản lý chi tiêu của các gia đình trẻ hiện nay Trong đó cũng có thể áp dụng để xem xét và lý giải các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình

Trang 35

Thực trạng HĐ QL chi tiêu trong gia đình trẻ CC -VC

lý chi tiêu

Kết quả quản

lý chi tiêu

Hệ quả của hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình

Trang 36

1.5 Giả thuyết nghiên cứu

1.5.1.Đa số các cặp vợ chồng trẻ khi kết hôn chưa được trang bị kiến thức và kỹ năng về quản lý chi tiêu trong gia đình

1.5.2 Có nhiều nguyên nhân khác nhau như văn hóa gia đình, thu nhập, nghề nghiệp, giới tính, tuổi, môi trường sống, nhận thức của xã hội… dẫn đến kết quả quản

lý chi tiêu trong gia đình ở các nhóm gia đình trẻ trong đó kiến thức và kỹ năng quản lý chi tiêu trong gia đình của thanh niên là nguyên nhân cơ bản

1.5.3 Kiến thức và kỹ năng quản lý chi tiêu trong gia đình có ảnh hưởng đến việc tạo bầu không khí tâm lý trong gia đình và điều kiện phát triển gia đình

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Vì đây là đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Xã hội học và để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu chính được

sử dụng bao gồm:

1.6.1.Các phương pháp nghiên cứu chung

Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của Xã hội học trong đó bao gồm phương pháp phương pháp định lượng và phương pháp định tính

Phương pháp định tính và định lượng là hai phương pháp nghiên cứu thường được sử dụng trong nghiên cứu xã hội học thực nghiệm Nếu như với phương pháp định lượng chúng ta có thể tìm hiểu, so sánh giữa các nhóm đối tượng khác nhau thì với phương pháp định tính sẽ giúp phản ánh hiện thực theo hoàn cảnh tự nhiên của đối tượng nghiên cứu, các suy nghĩ của đối tượng về quản lý chi tiêu trong gia đình và cách làm của họ Kết hợp giữa ưu điểm về tính khái quát hoá, tính khách quan của phương pháp định lượng và điểm mạnh của phương pháp định tính là có thể mô tả chi tiết về các kinh nghiệm sống phức tạp của con người về một vấn đề gì đó, như cách làm trong quản lý chi tiêu gia đình, điều này sẽ cung cấp cho chúng ta một cách nhìn mới, một cách hiểu sâu hơn về thực trạng hoạt động này qua những thông tin mà họ cung cấp

Trang 37

Muốn giải thích một thực trạng xã hội thì không chỉ tìm hiểu những biểu hiện, những yếu tố tác động bên ngoài thông qua các tỉ lệ, con số thể hiện mà phải tìm hiểu

cả những yếu tố tác động bên trong để có cách lý giải xác đáng Chính vì vậy, trong đề tài này chúng tôi đã có sự kết hợp cả hai phương pháp như đã đề cập ở trên

1.6.2.Phương pháp thu thập số liệu

1.6.2.1.Phương pháp thu thập thông tin định lượng:

Trong nghiên cứu định lượng, đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin sẵn có và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập thông tin

* Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát các nguồn tài liệu sách, báo chí, báo cáo, thống kê nhằm tạo cơ sở lý luận, đồng thời hệ thống hoá những cơ sở dữ liệu thu thập được theo từng vấn đề nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi được soạn sẵn cho các đối tượng công chức, viên chức đã lập gia đình từ 5 năm trở lại, nhằm thu thập những thông tin về thực trạng hoạt động quản

lý chi tiêu trong gia đình trẻ Bảng hỏi được chia là 2 phần, phần thông tin cá nhân

và thực trạng hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình Trong phần thực trạng chúng tôi chia làm ba phần bao gồm tìm hiểu về nhận thức, hành vi và kết quả quản

lý chi tiêu của các công chức - viên chức trong gia đình

Phương pháp chọn mẫu

Trên danh sách các cơ quan ban ngành đóng trên địa bàn thành phố Phan Thiết

để lựa chọn mẫu điều tra Trong trường hợp lý tưởng, thực hiện cách chọn mẫu xác suất đáp ứng được tính đại diện của thông tin Tuy nhiên, do tình hình thực tế rất khó nắm được chính xác số lượng công chức viên chức đã lập gia đình từ 1 đến 5 năm và

Trang 38

khó khăn về điều kiện thời gian, kinh tế vì vậy chúng tôi đã áp dụng cách chọn mẫu phi xác suất theo cách chọn chỉ tiêu Vì vậy, một trong những điểm hạn chế của đề tài này là thông tin khảo sát sẽ không thể đảm bảo tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu

Bảng 1.1 Khung mẫu

1 Giáo dục Các trường THPT; Trường THCS; Trường Tiểu học,

Trường Mẫu giáo, các trường Cao đẳng, trung cấp

nghề

2 Y tế Bệnh viện Tỉnh, bệnh viện thành phố Phan Thiết,

Trung tâm mắt, bệnh viện lao phổi, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ

3 Kinh tế - Kỹ thuật Ngân hàng chính sách, Công ty khai khác công trình

thuỷ lợi tỉnh, sở Điện lực, chi cục thuế

4 Hành chính – văn

phòng

Văn phòng tỉnh uỷ, văn phòng uỷ ban tỉnh,sở Nội vụ, hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, tỉnh đoàn, khối các cơ quan ban ngành thành phố Phan Thiết, sở Giáo dục và đào tạo, sở Lao động - thương binh và xã hội, thành uỷ TP Phan Thiêt, sở Khoa học công nghệ, sở Tư pháp, Liên

đoàn lao động tỉnh

Trên danh sách của các cơ quan, ban ngành ở trên địa bàn thành phố, chúng tôi chia mẫu thành bốn cụm mẫu thuộc các lĩnh vực như giáo dục, y tế, kinh tế - kỹ thuật, hành chính Trên cơ sở khung mẫu lựa chọn trong mỗi cụm mẫu một số đơn vị bằng phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện theo mẫu chỉ tiêu Lập danh sách các đối tượng công chức,

viên chức đã lập gia đình được 5 năm trở lại ở các cụm mẫu này và tiến hành khảo sát

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 1.2 Tổng hợp thông tin mẫu nghiên cứu

Trang 39

lệ 57% Trong tổng số 200 người được hỏi số lượng lập gia đình được một đến hai năm có 64 người chiếm tỉ lệ 32% và 136 người lập gia đình được 3 đến 5 năm chiếm

tỉ lệ 68% Trong mẫu được hỏi phần lớn đã có một con chiếm tỉ lệ 66%, các gia đình

Trang 40

có 2 con chiếm tỉ lệ 12.5 % và chưa có con chiếm tỉ lệ 21.5% Ngành nghề của các đối tượng trong mẫu được hỏi giáo dục chiếm 31.5%; y tế chiếm 18%; kinh tế chiếm 6.5

%; hành chính văn phòng chiếm 32%; kỹ thuật chiếm 8%, nhóm nhành nghề khác chiếm 4%

1.6.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Trong phương pháp nghiên cứu định tính chúng tôi xây dựng một số câu hỏi để phỏng vấn thu thập và làm rõ thêm thông tin cần thiết Bên cạnh đó chúng tôi cũng

sử dụng thu thập các tài liệu khác như sổ chi tiêu của gia đình để phân tích làm sáng tỏ vấn đề

Phỏng vấn sâu

Nghiên cứu thực hiện thu thập thông tin định tính thông qua công cụ phỏng vấn sâu với những câu hỏi tập trung vào việc tìm hiểu cách lập kế hoạch chi tiêu trong gia đình, các hành vi quản lý chi tiêu trong gia đình, các mâu thuẫn của gia đình có liên quan đến quản lý chi tiêu

Đối tượng mẫu phỏng vấn sâu là những đối tượng có tham gia trong cuộc phỏng vấn bằng bảng hỏi soạn sẵn trong điều tra định lượng Chúng tôi chọn ra 10 công chức - viên chức mới lập gia đình được 5 năm bao gồm 3 nam và 7 nữ là người trực tiếp quản lý chi tiêu trong gia đình và cả không trực tiếp tham gia quản

lý chi tiêu trong gia đình thuộc cả bốn nhóm lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, hành chính Mục tiêu để tìm hiểu rõ hơn một số thông tin như nguyện vọng, yêu cầu, cách quản lý chi tiêu trong gia đình, những biện pháp có thể khắc phục tình trạng trên mà ở bản hỏi soạn sẵn không khai thác được

1.6.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

Thông tin định lượng được xử lý thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS Đề tài đã xử lý và phân tích những số liệu thống kê mô tả các yếu tố được giả định là có

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w