ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC” NĂM 2007 Tên công trình: Hình tượng “h
Trang 1CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2007
Tên công trình:
Hình tượng “hoa điểu” trong ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm (qua dữ liệu
điện tử) – so sánh với ca dao
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội 2a
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2007
Tên công trình:
Hình tượng “hoa điểu” trong ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm (qua dữ liệu
điện tử) – so sánh với ca dao
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội 2a
Người hướng dẫn : PGS.TS Đoàn Lê Giang Thực hiện : Lê Thị Hạnh chủ nhiệm
Đỗ Thị Hạnh tham gia Nguyễn Thị Hà tham gia
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI Mục đích đề tài
Tìm hiểu về các hình tượng một cách khoa học trên cơ sở chỉ ra số lần xuất hiện của các hình tượng và đặc điểm sinh học của chúng.Tiến hành phân tích những giá trị biểu đạt của các hình tượng xuất hiện trong ba tác phẩm và trong ca dao để chỉ ra được sự giống và khác nhau giữa chúng, đồng thời chỉ ra sự khác biệt trong quan niệm, điểm nhìn nghệ thuật, và những tác động bên ngoài tới hai
bộ phận văn học
Đóng góp của đề tài
Cái mới của đề tài này là đưa ra được những hình ảnh minh hoạ, những lý giải về ý nghĩa của các hình tượng, đối với những hình tượng có những cách hiểu khác nhau chúng tôi đưa ra nhũng cách hiểu của các nhà nghiên cứu trước đồng thời chỉ ra đâu là cách hiêủ hợp lý Chúng tôi cũng tiến hành thống kê ở mức có thể các hình tượng trong ca dao sau đó tiến hành phân tích ý nghĩa của chúng, so sánh với ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm Đặc biệt chúng tôi tiến hành lý giải nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề thi pháp và kiểu tác giả Đề tài chúng tôi có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài của chúng tôi gồm 3 chương
Chương 1: Hình tượng chim muông trong ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm trong so sanh với ca dao
những hình tượng xuất hiện nhiều lần
1.1 Những hình tượng xuất hiện nhiều lần
- Đặc diểm sinh hoc
- Số lần xuất hiện và ngữ liệu
- Ý nghĩa văn học
- So sánh với ca dao
Chương 3: Các vấn đề thi pháp
3.1 Các khái niệm chung
3.2 Hình tượng thiên nhiên trong văn học cổ điển và trong ca dao
3.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự giống và khác nhau về hình tượng trong văn học cổ điển và trong ca dao
3.4 ảnh hưởng qua lại giữa Truyện Kiều và thơ ca dân gian
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8
3 Mục đích của đề tài 12
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Phạm vi nghiên cứu 13
7 Đóng góp của đề tài 13
8 Kết cấu đề tài 14
CHƯƠNG 1 HÌNH TƯỢNG CHIM MUÔNG TRONG TRUYỆN KIỀU, CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGÂM TRONG SO SÁNH VỚI CA DAO 15
1.1 Những hình tượng xuất hiện nhiều 15
1.1.1 Con Rồng 15
1.1.2 Chim Loan, chim Phượng 19
1.1.3 Bướm, Ong 24
1.1.4 Yến, Anh 32
1.1.5 Chim Nhạn, Hồng 37
1.1.6 Quạ và Thỏ 43
1.1.7 Con Ngựa 48
1.1.8 Con chim, con cá 53
1.1.9 Hổ, Sói và Rắn 61
1.1.10 Con Tằm và con Ngài 65
1.2 Những hình tượng khác 71
1.2.1 Chim Quyên 71
1.2.2 Chim Én 75
1.2.3 Con Hạc 78
1.2.4 Con Cò 81
1.2.5 Con Kiến 87
1.2.6 Con Lươn 90
1.2.7 Con Nhện 92
1.2.8 Con Trâu 94
1.2.9 Chó săn và chim Ưng 97
1.2.10 Con Mèo 101
1.2.11 Con Gà 104
1.2.12 Con Dế 108
1.2.13 Chim Xanh 111
1.2.14 Con Chuồn Chuồn 113
1.2.15 Chim Sẻ 115
Trang 5Chương 2 HÌNH TƯỢNG CÂY VÀ HOA TRONG TRUYỆN KIỀU, CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGAM TRONG SO SÁNH VỚI
CA DAO 120
2.1 Những cây và hoa xuất hiện nhiều 120
2.1.1 Cây Bèo 120
2.1.2 Cây Cỏ 127
2.1.3 Hoa Cúc 135
2.1.4 Cây Dâu 141
2.1.5 Cây Đào 147
2.1.6 Hoa Mai 159
2.1.7 Cây Liễu 168
2.1.8 Cây Sen 182
2.1.9 Cây Quế và cây Hoè 188
2.2 Những hình tượng còn lại 196
2.2.1 Cây Cải 196
2.2.2 Hoa Huệ và hoa Lan 198
2.2.3 Cây Mẫu Đơn 202
2.2.4 Mướp Đắng 206
2.2.5 Phù Dung 210
2.2.6 Rêu 212
2.2.7 Trúc 217
2.2.8 Hoa Lê 219
2.2.9 Cây Lau 223
2.2.10 Cây Ngô đồng và cây Phong 227
2.2.11 Cây Thông và cây Tùng 232
CHƯƠNG 3 CÁC VẤN ĐỀ THI PHÁP 237
3.1 Các khái niệm chung 237
3.1.1 Các khái niệm liên quan đến hình tượng nghệ thuật 237
3.1.1.1 Hình ảnh 237
3.1.1.2 Hình tượng nghệ thuật 237
3.1.1.3 Ẩn dụ biểu tượng 238
3.2 Hình tượng thiên nhiên trong văn học cổ điển và trong ca dao 241
3.2.1 Khái quát chung 241
3.2.2 Hình tượng thiên nhiên trong văn học cổ điển 241
3.2.3 Thiên nhiên trong ca dao Việt Nam 242
3.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự giống nhau và khác nhau về hình tượng văn học cổ điển và ca dao Việt Nam 242
3.3.1 Sự giống nhau 242
3.3.2 Sự khác nhau 244
3.3.2.1 Kiểu tác giả 244
3.3.2.2 Điển cố – một vấn đề cần được chú ý trong nghiên cứu thi pháp 256
3.4 Ảnh hưởng qua lại giữa Truyện Kiều và thơ ca dân gian 264
3.4.1 ảnh hưởng qua lại giữa văn học cổ điển và thơ ca dân gian nói chung 264
Trang 63.4.2 Ảnh hưởng của Truyện Kiều đến ca dao 268
Kết luận 275
Tài liệu tham khảo 279
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học là hình thức phản ánh tư tưởng, tình cảm, hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật Vì vậy để hiểu tác phẩm một cách sâu sắc người đọc phải hiểu được giá trị biểu tượng của các hình tượng mà tác giả đề cập tới trong tác phẩm
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm là những tác phẩm văn học
cổ điển Dù vị trí của chúng trong nền văn học dân tộc là không như nhau (Truyện Kiều được coi là hồn dân tộc) nhưng cùng được viết bởi các nhà Nho trong thời kỳ
Trung đại với bút pháp nghệ thuật đặc trưng là tượng trưng, đặc tả, mượn điển cố
Vì vậy, trong các tác phẩm này các tác giả đã sử dụng rất nhiều hình tượng hoa cỏ, chim muông, trang phục để thể hiện những tư tưởng nghệ thuật của mình Trong
đó có nhiều hình tượng giữ vai trò quyết định trong việc thể hiện ý nghĩa của câu thơ Do vậy tìm hiểu ý nghĩa của chúng là một việc làm cần thiết
Những tác phẩm cổ điển này một mặt chịu ảnh hưởng mạnh của thơ ca
Trung Quốc về cả tứ thơ, cốt truyện, ngôn ngữ, ví dụ như Truyện Kiều mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Cung oán ngâm là kết quả của việc mượn ý thơ của Kinh thi và Đường thi mà thành Nhưng dù vậy các tác
phẩm này vẫn thể hiện tinh thần dân tộc, phản ánh cuộc sống của người Việt, do
đó những hình tượng trong ba tác phẩm có ý nghĩa song trùng với nguồn thơ dân gian Chúng ta thiếu cơ sở để khẳng định ca dao ảnh hưởng tới ba tác phẩm hay ba tác phẩm ảnh hưởng tới ca dao, sự giống và khác nhau về ý nghĩa của chúng tạo ra một điều lý thú và đôi khi rất bất ngờ
Trong các công trình nghiên cứu trước đây các nhà nghiên cứu chỉ chú ý cắt nghĩa hình ảnh chú thích về đặc điểm sinh học hoặc nêu vài ý nghĩa của chúng thì cũng chỉ dừng lại ở các câu thơ hoặc giải thích điển cố mà thôi, họ chưa có sự so sánh, đối chiếu với các hình ảnh trong ca dao
Trang 8Với mong muốn góp phần nhỏ bé làm sáng rõ một phần mối quan hệ giữa các giá trị biểu tượng trong ba tác phẩm với ca dao và với lòng say mê của bản thân nhóm chúng tôi, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Chọn văn bản dùng để phân tích
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm hiện nay lưu hành rất nhiều
văn bản Mỗi văn bản ngoài phần giống nhau cũng có sự khác biệt về câu chữ cũng như cách lý giải, chú thích mang dấu ấn riêng của những người khảo cứu và hiệu đính Trên thực tế giá trị của các bản là không như nhau Bản thân chúng tôi cũng cảm thấy rất phức tạp khi tìm hiểu các văn bản có nhiều điểm không tương đồng Lựa chọn một văn bản có giá trị nhất trong các văn bản không phải là chuyện dễ Nhóm chúng tôi cũng xin đưa ra một cách lựa chọn
2.1.1 Truyện Kiều
Hiện nay giới nghiên cứu đã tìm được nhiều văn bản Truyện Kiều cổ với các tên gọi khác nhau như Kim Vân Kiều truyện, Kim Vân Kiều tân truyện, Đoạn trường tân thanh, Kim Vân Kiều, Truyện Kiều dẫn giải, … Theo thống kê của Lê Quế trong tác phẩm So sánh dị bản Truyện Kiều ông đã thống kê đến năm 2003 có
57 văn bản Truyện Kiều Trong đó bản đầu tiên là bản chép tay Nôm đề năm 1834
do Nguyễn Thạch Giang sưu tầm và bản cuối cùng là Truyện Kiều – bản Kinh đời
Tự Đức – bản Lâm Nọa Phu (1870) do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm
Người ta thường chia dị bản Truyện Kiều thành hai loại: bản Kinh (có
nguồn gốc từ kinh đô Huế, do Đào Nguyên Phổ sưu tầm tặng Kiều Oánh Mậu) và bản Phường in ở Hàng Gai , Hà Nội trước năm 1902 Sự khác của bản Phường và bản Kinh là khác nhau về tên gọi và số câu Bản Phường gọi tên tác phẩm là “Kim Vân Kiều tân truyện” với số câu 3254, còn bản Kinh có tên là “Đoạn trường tân thanh” với số câu là 3258 Bản Phường khác bản Kinh 53 câu
Trong số các bản Kiều bằng chữ Quốc ngữ đáng chú ý nhất là bản do Trương Vĩnh Ký phiên âm Đây là bản Quốc ngữ sớm nhất xuất bản năm 1875 tại Sài Gòn bản này có chú thích Tiếp đến phải kể đến bản Kiều Oánh Mậu năm
Trang 91902, đây là bản phiên âm dựa trên bản do Đào Nguyên Phổ mới sưu tầm Bản này soạn theo phương pháp khoa học, có nguyên tắc, có mục đích rõ ràng, có so sánh nhiều bản cổ để chọn câu, chữ cho phù hợp, khi chú thích kết hợp khảo dị nêu xuất xứ từng câu, từng chữ và quan điểm đánh giá của mình Đây là một bản
có giá trị Bản của Bùi Kỉ – Trần Trọng Kim xuất bản năm 1925 có tên là “Truyện Kiều” (còn có tên Đoạn trường tân thanh phụ chú) chú thích đầy đủ, rõ ràng, xúc
tích và có khảo dị nhiều câu
Trong tất cả các bản Quốc ngữ hiện hành nhóm chúng tôi chọn bản do Đào Duy Anh hiệu đính và chú giải Sở dĩ như vậy vì đây là một bản mang nhiều ưu điểm của các văn bản trên như chú thích đầy đủ, rõ ràng, tham khảo nhiều dị bản
Mặt khác bản này nằm trong Từ điển Truyện Kiều là cuốn sách khảo sát một cách đầy đủ những từ ngữ, hình ảnh dùng trong Truyện Kiều và nêu lên ý nghĩa của nó
Đây là bản phổ biến, hiện Đào Duy Anh không chấp nhận bản Kinh và văn bản không khác mấy so với bản Phường
2.1.2 Chinh phụ ngâm
Vấn đề văn bản Chinh phụ ngâm cũng không kém phần phức tạp so với Truyện Kiều Hiện nay có 5 bản Nôm là Chinh phụ ngâm bị lục in ở nhà xuất bản Long Hòa, bản Chinh phụ ngâm in ở nhà in Trương Thịnh Đường, Chinh phụ ngâm bị lục in ở nhà in Liễu Văn Đường Đáng chú ý nhất là bản Chinh phụ ngâm diễn ca (bản viết tay, in trong Chinh phụ ngâm khúc của Tôn Thất Lương diễn giải
và chú thích) ở nhà in Tân Việt và bản Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (bản viết tay in trong Chinh phụ ngâm tân khúc do Nguyễn Văn Xuân sưu tầm) in ở nhà
xuất bản La Bối, Sài Gòn
Về văn bản chữ Quốc ngữ có tới 12 bản Ở mỗi bản số lượng câu là không
như nhau Có giá trị hơn cả là bản của Tôn Thất Lương, Chinh phụ ngâm bị khảo
do Hoàng Xuân Hãn hiệu đính, bản Chinh phụ ngâm do Lại Ngọc Cang hiệu đính
và giới thiệu Nếu xét về bản Nôm thì bản của Tôn Thất Lương in trong Chinh phụ ngâm của nhà xuất bản Tân Việt có giá trị hơn cả Nó giúp chúng ta cải chính
được vài chữ mà các bản Nôm hoặc bản Quốc ngữ khác đã sai lầm Nhưng bản
Trang 10Quốc ngữ trong cuốn sách này lại có nhiều điểm khác so với bản Nôm Ví như câu
7 bản Nôm viết: “Chín lần gươm báu chống tay”, nhưng bản Quốc ngữ ghi :
“Chín tầng gươm báu trao tay” Nên cần xem xét lại bản Quốc ngữ
Bản Chinh phụ ngâm do Lại Ngọc Cang hiệu đính có giá trị làm tài liệu
tham khảo tốt Trong đó có hai phần: khảo luận (từ trang 9 đến trang 47), văn bản
(từ trang 151 đến 381) có in bốn bài A, B, C, D trong Chinh phụ ngâm bị khảo co
2.1.3 Cung oán ngâm
Cung oán ngâm được Nguyễn Gia Thiều viết vào thời Lê Trung Hưng,
được sao chép bằng tay hoặc lưu truyền bằng lối truyền miệng Đến thế kỷ 20 mới
có bản khắc in bằng chữ Nôm và đã có hai bản
Cung oán ngâm khúc in trong tập Danh gia quốc âm
Cung oán ngâm khúc trùng san khắc in năm Nhâm tý (Duy Tân, tháng
6 năm 1912)
Có 9 bản Cung oán ngâm bằng chữ Quốc ngữ Các bản này không khác nhau bao nhiêu, tất cả các bản đều có 356 câu Trong đó bản Cung oán ngâm do
Vân Bình – Tôn Thất Lương chú giải - nhà xuất bản Tân Việt (1950) có giá trị hơn
cả Ở bản này ta thấy phương pháp chú giải khoa học, có chú ý tới các dị bản, diễn nghĩa các câu, chú giải đầy đủ rõ ràng
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm ra đời thời trung đại và là
những tác phẩm lớn của văn học Việt Nam Vì vậy chúng đã thu hút được sự quan tâm, tìm tòi của các nhà nghiên cứu như Đào Duy Anh, Nguyễn Quảng Tuân,
Trang 11Nguyễn Thạch Giang … Các nhà nghiên cứu bằng nhiều cách khác nhau đã cố gắng cắt nghĩa cái hay của các tác phẩm cũng như ý nghĩa của các hinh tượng Vấn đề là chưa tìm được nguyên bản nên giữa họ có nhiều tranh cãi không chỉ về câu chữ mà còn về các giá trị biểu hiện của các hình tượng trong ba tác phẩm
Trong công trình nghiên cứu đáng chú ý là cuốn Từ điển Truyện Kiều của Đào
Duy Anh đã liệt kê từ ngữ, số lần xuất hiện và cả những hình ảnh đã sử dụng
Nguyễn Quảng Tuân 30 năm trăn trở, tìm tòi xuất bản cuốn Từ ngữ Truyện Kiều
trong đó lý giải, phản bác ý kiến của các nhà nghiên cứu khác để khẳng định ý kiến của mình và sự hợp lý các từ mình sử dụng Đây là một công trình nghiên cứu
có giá trị Lê Xuân Lít đã tổng kết tất cả các công trình nhiên cứu của người đi
trước trong cuốn 200 năm nghiên cứu và bàn luận Truyện Kiều đồng thời cũng có những phát hiện mới thể hiện rõ trong cuốn Tìm hiểu từ ngữ Truyện Kiều Và còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác xoay quanh ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm ở những góc độ khác nhau
Rất nhiều các công trình khảo đính nêu ý nghĩa các hình tượng sử dụng trong ba tác phẩm nhưng nhìn chung là còn khá chung chung Trong đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu các hình tượng “hoa điểu” trong ba tác phẩm trên
Bên cạnh việc đi sâu tìm hiểu ý nghĩa các hình tượng, chúng tôi sẽ đối chiếu, so sánh các hình tượng trong văn học cổ điển với các hình tượng trong ca dao nếu chúng cùng xuất hiện, đây là điều chưa có công trình nghiên cứu nào thực
hiện Trước chúng tôi chỉ có Nguyễn Xuân Kính trong Thi phap ca dao trong quá
trình làm rõ giá trị biểu tượng của một số hình tượng như cây trúc, hoa mai, hoa nhài đã chỉ ra các ý nghĩa văn học của chúng trong văn học cổ điển cũng như ca dao để thấy sự giống và khác nhau Tuy nhiên sự cố gắng đó cũng rất ít ỏi so với
số lượng hình tượng được sử dụng trong ba tác phẩm
Là những sinh viên khoa ngữ văn, để phục vụ công việc học tập và nghiên cứu chúng tôi đã tiếp cận các tác phẩm cũng như các công trình nghiên cứu và thấy đây là một đề tài hay Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước và
Trang 12việc tìm hiểu các hình ảnh trong ca dao chúng tôi mạnh dạn chỉ ra và lý giải sự giống nhau, khác nhau của các giá trị biểu tượng trong cùng một hình tượng Từ
đó làm rõ mối quan hệ giữa ba tác phẩm với ca dao nói riêng và giữa văn học viết với văn học chưa thành văn nói chung
3 Mục đích của đề tài
Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn:
Hiểu sâu hơn về ý nghĩa của ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm
Hiểu rõ hơn về các hình tượng văn học cả trên phương diện sinh học cũng như ý nghĩa biểu tượng Tránh cách hiểu không chính xác về hình tượng trong ba tác phẩm cũng như áp dụng ở các tác phẩm khác
Thấy rõ mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết đồng thời chỉ
ra được dấu ấn của tác giả ở khía cạnh điểm nhìn nghệ thuật, thế giới quan và những ảnh hưởng của các nền văn hóa tác động đến các tác giả trong việc tạo ra thế giới nghệ thuật
4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Chỉ ra tên gọi của các hình tượng bằng tiếngViệt và bằng tiếng Hán
Liệt kê số lần xuất hiện và ngữ liệu
Chỉ ra những đặc điểm sinh học là cơ sở tạo ra các giá trị biểu tượng
Nêu ý nghĩa văn học của các hình tượng
So sánh sự giống và khác nhau trong giá trị biểu hiện của các hình tượng trong ca dao và trong ba tác phẩm
Trên cơ sở so sánh và liệt kê chúng tôi chỉ ra nguồn gốc sự khác biệt, đồng thời làm sáng rõ đặc điểm thi pháp và quan niệm của hai nền văn hóa ảnh hưởng tới hai bộ phận văn học
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiếp cận tài liệu
Phân tích tài liệu
So sánh, đối chiếu
Trang 13 Thống kê tài liệu
Đưa hình ảnh minh họa
6 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Về tác phẩm: Chúng tôi nghiên cứu trong phạm vi văn học Trong ba tác
phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm (các bản đã chọn ở trên) và
ca dao Việt Nam
Về đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi nghiên cứu các loài trong sinh chủng
có xuất hiện trong ba tác phẩm nếu chúng mang những ý nghĩa văn chương nhất định Trong hội hoạ Trung Quốc thuật ngữ “hoa điểu” dùng để chỉ tất cả các loài cây cỏ, hoa lá, chim muông, côn trùng trong thế giới chứ không phải là chỉ riêng
về chim và hoa
7 Đóng góp của đề tài
Đề tài của chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu hết ý nghĩa của các hình tượng trong ca dao và trong ba tác phẩm bởi kho tàng ca dao là vô cùng phong phú, trong khi đó do thời gian có hạn và khả năng chưa tới nên chúng tôi không khảo sát hết được
Tuy nhiên với đề tài này chúng tôi muốn góp một tiếng nói nhỏ trong việc
tìm hiểu các tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm
Chúng tôi chỉ ra được sự giống và khác nhau trong giá trị biểu tượng của các hình tượng trong ca dao và trong ba tác phẩm, trên cơ sở đó làm rõ thế giới quan của hai bộ phận sáng tác là người bình dân và các nhà Nho cùng những ảnh hưởng của hai nền văn hóa Trung Quốc và truyền thống Việt
Đặc biệt chúng tôi đưa ra những tranh cãi lâu nay trong giới nghiên cứu về một số loài và chúng tôi đưa ra ý kiến của mình dựa trên việc tìm hiểu kĩ các ý kiến trước đó cũng như việc tìm hiểu thực tế các loài trong tự nhiên
Đưa ra các hình ảnh ví dụ minh hoạ cho các loài chúng tôi đề cập đến để làm sáng rỏ hơn về các loài đó trong môi trường sống thực tế và cũng để tránh những sự nhầm lẫn đáng tiếc khi tiếp cận các hình tượng
Góp phần tìm hiểu sâu hơn về các tác phẩm
Trang 14Gợi cảm hứng tìm tòi, phát hiện cho những ngưỡi có quan tâm nghiên cứu sau
8 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài còn có ba chương, tám tiết cụ thể như sau:
Chương1: Hình tượng chim muông trong ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh
phụ ngâm, Cung oán ngâm trong so sánh với ca dao
1.1 Những hình tượng chim muông xuất hiện nhiều
3.1 Các khái niệm chung
3.2 Hình tượng thiên nhiên trong văn học cổ điển và trong ca dao
3.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự gống nhau và khác nhau về hình tượng trong văn học cổ điển và ca dao Việt Nam
3.4 Ảnh hưởng qua lại giữa Truyện Kiều và thơ ca dân gian
Trang 15CHƯƠNG 1
TRUYỆN KIỀU, CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGÂM
TRONG SO SÁNH VỚI CA DAO
Thế giới động vật vô cùng sinh động Bên cạnh những loài động vật hung dữ hay có hại là kẻ thù của con người thì cũng có những loài động vật sống rất gần gũi với con người Từ rất sớm những con vật này đã trở thành những nhân vật sống động trong các tác phẩm văn học dân gian cũng như các tác phẩm văn học thành văn Trong văn học cổ điển hình tượng những con vật mà tiêu biểu là chim
muông xuất hiện khá nhiều Trong khi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hình tượng
“hoa điểu” trong ba tác phẩm Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm (qua dữ liệu điện tử) – so sánh với ca dao” chúng tôi thống kê được 32 loài chim
muông xuất hiện trong ba tác phẩm, đồng thời chúng tôi cũng tiến hành khảo sát những hình ảnh này trong ca dao và phát hiện ra rất nhiều điều lý thú Trong thế giới chim muông sinh động đó có những con vật có thật nhưng cũng có những con vật tưởng tượng, có những con trong văn học cổ điển là cao quý thì trong văn học dân gian mà cụ thể là ca dao lại rất tinh nghịch Số lần xuất hiện và số lượng nét nghĩa biểu trưng của các hình tượng là không như nhau do đó chúng tôi xin chia ra những hình ảnh tiêu biểu và hình ảnh khác
1.1 Những hình tượng chim muông xuất hiện nhiều
Trang 16Rồng là loài vật đứng đầu trong tứ linh: Long – Lân – Quy – Phụng Theo tưởng tượng thì rồng rất lớn, mình kiểu rắn, có bốn chân (hoặc nhiều hơn), thân mình có vẩy cứng Đầu rồng lớn, mắt lồi và sáng, miệng rộng, có râu dài Rồng bay giỏi khi gặp mây
1.1.1.3 Số lần xuất hiện và ngữ liệu
Số lần xuất hiện: 03 lần trong Truyện Kiều
Ngữ liệu:
Câu 2196 Tấn Dương được thấy mây rồng có phen
Câu 2212 Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng
Câu 2672 Trước hàm rồng cá gieo mồi thủy tinh
1.1.1.4 Ý nghĩa văn chương
Rồng là loài cao quý, được coi là biểu tượng của vua chúa ở một số nước như Việt Nam, Trung Quốc Vì vậy, trong đời sống cũng như văn chương Trung đại, rồng là loài tượng trưng cho những người có đức tính đáng trọng hay tài giỏi hơn người Xét trong từng trường hợp ở các câu thơ trong Truyện Kiều, rồng có một số ý nghĩa tiêu biểu sau:
Thứ nhất: Hình ảnh “mây rồng” chỉ việc gặp thời cơ thuận lợi, công danh
hiển đạt
Kinh dịch có viết: “Vân tùng long, phong tùng hổ” tức “mây theo rồng, gió theo hổ” Ý nói những vật cùng khí loại thường cảm ứng mà tìm đến với nhau Lời sớ của Khổng Dĩnh Đạt đời Đường có nói: “Mây theo rồng, gió theo hổ là bởi
vì rồng là vật sống dưới nước, mây là khí nước, vì thế rồng gầm thì mây lành bay lên Đó là mây theo rồng Hổ là loài mãnh thú, gió là do khí chấn động Đó là sự tương cảm của vật đồng loại nên hổ gầm thì gió nổi Thế là gió theo hổ”
Trong Truyện Kiều Nguyễn Du có câu:
“Thưa rằng lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.”
Là được lấy ý từ câu “Long phi Tấn Dương” (Rồng bay ở Tấn Dương)
Tấn Dương thuộc huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây – Trung Quốc – nơi Đường
Trang 17Cao Tổ khởi binh dấy nghiệp để xây dựng triều đại nhà Đường Thúy Kiều đã nói lên được niềm tin của mình đối với Từ Hải, nàng tin sẽ có phen Từ Hải lập nên được nghiệp đế vương như Đường Cao Tổ vậy
Thứ hai: Điển tích “cưỡi rồng” để chỉ việc lấy được người chồng xứng
đáng Theo Sở quốc tiên hiền truyện: Hoàng Hiền và Lý Ưng là hai danh sĩ đời
Hậu Hán đều lấy con gái Thái úy Hoàn Huyên Người đương thời bảo hai cô gái
ấy được cưỡi rồng (thừa long), ý là đã lấy được người chồng xứng đáng Nguyễn
Du đã lấy ý này để nói về cuộc tình duyên của Thúy Kiều và Từ Hải Kiều lấy
được Từ Hải như được “cưỡi rồng” vậy, vì Từ Hải lúc bấy giờ là một trang anh
hùng hảo hán trong thiên hạ Còn Từ Hải cưới được Kiều, một trang sắc nước hương trời, cả hai thật xứng đôi:
“Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyên sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.”
Rồng mà kết hợp với loan phượng sẽ tạo nên một biểu tượng đẹp về một cặp vợ chồng đẹp đôi
Thứ ba: “Rồng cá” được lấy từ chữ “giao long” chỉ nơi hiểm nguy “Giao”
là con giao thuộc loài rồng; “Long” là con rồng Vì Giao Long thường ở những nơi hang sâu vực thẳm, chỗ ít người đến được bởi đến đó quá nguy hiểm
Nguyễn Du viết:
“Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi
Trước hàm rồng cá gieo mồi thủy tinh.”
Là để chỉ việc tự tử của Thúy Kiều khi nàng đã ngán ngẩm cho số mệnh bạc bẽo
của mình Trong Hoa tiên ta bắt gặp câu tương tự: “Đem thân băng tuyết gởi hàm giao long”
Dù chỉ là một loài tưởng tượng, nhưng rồng lại có một vị trí hết sức đặc biệt quan trọng trong tâm thức con người, đặc biệt là những nước tôn thờ rồng như Trung Quốc, Việt Nam Điều đó thể hiện trong nền văn hóa của những dân tộc này
1.1.1.5 So sánh với ca dao
Trang 18Sự giống nhau:
Qua việc tìm hiểu ý nghĩa văn học của rồng, khi đối sánh với ca dao, chúng
ta thấy giữa ca dao Việt Nam và văn học cổ điển đã có những gặp gỡ trong tư tưởng – đó là rồng là tượng trưng cho những con người cao quý, có khí chất hơn người Điều đó được thể hiện ở những câu ca dao như:
“Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.”
Thời cổ có lẽ tổ tiên ta rất lấy làm tự hào về dòng dõi “con rồng cháu tiên”
của mình và khinh thường những thị tộc khác (ở đây chỉ rắn “liu điu” – một loài rắn bé nhỏ) Về sau trong thời phong kiến, vấn đề dòng dõi vẫn được giai cấp thống trị chú ý và đề cao
Và thân phận con người đã được định sẵn từ khi sinh ra:
“Con vua rồi lại làm vua Con sãi nhà chùa đi quét lá đa.”
Và cũng là để chỉ những con người có đức tính đáng quý, nhưng khi vào ca dao, rồng lại thực sự xuất hiện thân thiết, không còn là hình ảnh độc quyền của vua chúa, tầng lớp trên nữa, nó đã được nhân dân ta dùng để chỉ những người ở tầng lớp bình dân nhưng họ sang trọng hoặc khôn khéo:
“Bây giờ rồng đến nhà tôm Rồng đeo cây ngãi thì ôm rồng vào.”
Người ta đã không tôn sùng con rồng lên tuyệt đối nữa, rồng đấy nhưng
không có “cây ngãi”, tức tình nghĩa thì cũng không được quý trọng
Sự khác nhau:
Con rồng trong văn học cổ điển là con rồng uy nghi, vùng vẫy trong mây gió, nhưng khi đến với người dân quê nó lại ra một chú rồng to lớn, hậu đậu vô cùng khi ở trên cạn:
“Rồng nằm bể cạn phơi râu
Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi.”
Trang 19Hình ảnh ấy của rồng được tỉ dụ với lời nói dối quá dở của một anh chàng nào đó thật xứng đáng
Và khi gặp hình ảnh “rồng - mây” được các tác giả cổ điển gắn với cái việc
gặp thời vận, thì cũng cặp hình ảnh ấy trong ca dao nó lại biểu hiện cho sự sum
họp, sự gắn bó quấn quýt giữa trai gái trong tình yêu: Rồng gặp mây; rồng ấp lấy mây; rồng xa mây; rồng ngược mây xuôi; lời rồng mây; rồng mây gặp hội…
Ví dụ:
“Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Lỡ mai rồng ngược mây xuôi Biết bao giờ lại nói lời rồng mây.”
1.1.2 Chim Loan, chim Phượng
Trang 20chim phượng, lông ngũ sắc trong đó sắc xanh nổi bật hơn, rất rực rỡ Theo Quảng Nhã: Chim Loan thuộc loài phượng hoàng, trong đó con trống là phượng, con mái
là hoàng Chim sống lâu khác thường và có thể tái sinh
1.1.2.3 Số lần xuất hiện và ngữ liệu
Số lần xuất hiện: 08 lần trong đó Truyện Kiều 05 lần; Chinh phụ ngâm 01
lần và Cung oán ngâm 02 lần
Ngữ liệu:
Truyện Kiều:
Câu 223 Giọng Kiều rền rĩ trướng loan
Câu 254 Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan
Câu 726 Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Câu 1871 Người vào chung gối phòng loan
Câu 2212 Phỉ nguyên sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng
Câu 2582 Dây loan xin nối cầm lành cho ai
Chinh phụ ngâm:
Câu 208 Dây loan kinh đứt, phím loan ngại chùng
Cung oán ngâm:
Câu 216 Gương loan sẻ nữa giải đồng bẻ đôi
Câu 224 Gối loan tuyết đóng chân cù giá đông
1.1.2.4 Ý nghĩa văn chương
Hình ảnh loan phượng thường xuyên xuất hiện trên mũ, áo và đồ dùng của hoàng hậu khi xưa Nó được coi là biểu tượng của hoàng hậu Sau này phạm vi sử dụng của nó được mở rộng ra trong các gia đình quyền quý
Thứ nhất: Hình ảnh loan xuất hiện bên cạnh những vật dụng hay nơi ở của
phụ nữ như :“gối loan”; “gương loan”; “phòng loan”; “trướng loan”…
Thứ hai: hình ảnh cây đàn gắn liền với hình tượng chim loan như “dây
loan”; “phím loan”; và cũng để chỉ sự gắn kết giữa hai con người – ở đây là hình
ảnh vợ chồng
Trang 21Do điển rằng: Xưa, sứ giả của Tây Hải đưa keo loan dâng vua Hán Vũ Đế Trong một lần đi săn, dây cung của vua bị đứt, vua bèn lấy keo ấy để gắn, suốt
ngày bắn mà không đứt nữa Vua thấy hay quá bèn đặt tên keo là “tục huyền giao” (tức gieo mối dây) Sau này có từ “tục huyền” tức là nối dây, hay nối lại
dây đàn để chỉ việc kết duyên lại lần nữa Và vì thế nên những bộ phận của dây đàn cũng được gắn với loan
Trong Truyện Kiều, khi Thúy Kiều trao duyên cho Thuý Vân nàng đã nói:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”
Tức là mong Vân thay chị mà nối duyên với Kim Trọng Và sau này khi Hồ Tôn Hiến định gả Kiều cho tên thổ quan hầu nói:
“Dạy rằng hương lửa ba sinh
Dây loan xin nối cam lành cho ai.”
Ấy là với ý nối lại duyên tình dang dở vậy
Thứ ba: Loan phượng chỉ cặp vợ chồng hạnh phúc, đẹp đôi Chúng ta thấy
cụm từ “Loan phiêu phượng bạt” để chỉ cảnh vợ chồng li tán tức là hình ảnh đôi
chim Loan phượng đã trở thành biểu tượng của vợ chồng chung thủy Do loài chim này luôn đi có đôi, có cặp với nhau Theo Dị Uyển: Kê Tân Vương có nuôi một con chim loan rất đẹp, nhưng đã ba năm mà không thấy nó hót, phu nhân mới
nói: “Nghe bảo chim loan thấy bóng nó thì kêu, nay ta thử cho nó soi gương xem sao” Quả vậy, chim loan thấy bóng mình trong gương liền cất tiếng kêu thảm
thiết, đến nửa đêm, chim loan kêu tiếng cuối cùng rồi chết Từ đó hình ảnh
“gương loan” cũng thường gắn với hình ảnh người vợ chờ chồng, nhớ chồng khi
soi vào gương mà tấm gương này vợ chồng thường soi chung:
“Phòng tiêu lạnh ngất như đồng
Gương loan sẻ nửa, giải đồng bẻ đôi.”
Người cung nữ đau khổ vì sự cô đơn, bẽ bàng cho phận mình khi đã bị vua lạnh nhạt sau những ngày nồng thắm
Trang 22Thứ tư: Như đã nói ở phần con rồng, hình ảnh “rồng – phượng” là hình
ảnh đẹp, biểu tượng của một cặp vợ chồng môn đăng hộ đối, kiểu như Từ Hải và Thúy Kiều vậy
Qua đây ta thấy rằng loan phượng là một hình ảnh xuất hiện dù trong hoàn cảnh nào cũng gắn liền với giai cấp quý tộc, những kẻ giàu sang, có địa vị trong xã hội do loan phượng là loài chim cao quý và xưa những gì cao quý thường là thể hiện cho vua chúa, quý tộc mà thôi
1.1.2.5 So sánh với ca dao
Trong cao dao, hình ảnh loan phượng xuất hiện khá nhiều có khi đi chung,
có khi đi riêng lẻ, lại có khi xuất hiện cùng rồng và rất nhiều khi xuất hiện cùng cây ngô đồng với những ý nghĩa khác nhau và có những ý nghĩa rất cổ điển lại có những ý nghĩa rất dân gian
Sự giống nhau:
Loan phượng trong ca dao cũng xuất hiện với tư cách là hình ảnh tỉ dụ cho những cặp tình nhân, những cặp vợ chồng, bởi loan phượng là cặp chim chung thủy Hình tượng ấy xuất hiện ở những câu ca dao như:
“Giở xem một chuyện phong tình
Cho loan nhớ phụng cho mình nhớ ta.”
Hay:
“Phụng với loan gá nghĩa trên cành Loan chưa bỏ phụng sao phụng đành bỏ loan.”
Sự chia ly ấy làm cho những người yêu nhau không thiết tha gì đến cuộc sống nữa
“Gà lạc bầy gà kêu chíu chít
Phụng lìa loan phụng lại biếng bay.”
Hình ảnh phượng loan luôn gắn bó khăng khít với nhau tạo nên một cặp biểu tượng đẹp trong đời sống tình cảm của con người, đặc biệt là tình yêu và cũng như trong văn học cổ điển, hình ảnh loan phượng cũng xuất hiện trong chốn buồng the của người phụ nữ:
“Ngồi trong của sổ chạm rồng
Trang 23Chăn loan, gối phụng không chồng cũng hư.”
Và cũng có hình ảnh rồng phụng là cặp vợ chồng, người yêu lý tưởng:
“Phụng với rồng cùng đồng nhan sắc Trách ai làm phụng bắc rồng nam.”
Sự khác nhau:
Như đã nói, người xưa tin rằng loan phụng xuất hiện là báo có thành nhân
ra đời Trong tiếng Hán cổ thường xuất hiện các chữ như “loan tương, phượng tập” chỉ việc những con người hiền tài tụ họp, bởi người ta cho rằng những người
hiền tài cũng cao quý như chim phụng, chim loan Tuy nhiên rất tiếc trong khảo sát ba tác phẩm chúng tôi thấy không xuất hiện hình ảnh ấy Nhưng trên thực tế, văn học cổ điển vẫn xuất hiện loan phượng với ý nghĩa này Ví dụ trong thơ Nguyễn Đình Chiểu có câu:
“Ngày nay thánh chúa trị đời
Nguyền cho loan phụng gặp nơi ngô đồng.”
Vì vậy chúng tôi cũng xin đưa ra ý nghĩa này vì nó có liên quan đến phần ca dao chúng tôi trình bày dưới đây
Chúng ta thấy hình ảnh cây ngô đồng xuất hiện Đây là một hình ảnh sóng
đôi “phượng hoàng – ngô đồng” Theo Kinh thi phần Đại Nhã “Chim phượng hoàng vang tiếng hót trên ngọn đồi cao kia, cây ngô đồng mọc về hướng mặt trời, cành lá xum xuê, tiếng hót hòa vang”, lời chú thích nêu đại ý: “chim phượng hoàng không chịu đậu khi không gặp cây ngô đồng” Điều này có nghĩa là “người hiền tài gặp minh chúa thì đắc dụng, minh chúa dùng người hiền tài thì được nhiều phúc lộc.”
Trong ca dao Việt Nam, cặp hình tượng sóng đôi “phượng hoàng – ngô đồng” xuất hiện khá nhiều nhưng lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, đó chính
là một cặp tình nhân:
“Bây giờ ta lại gặp ta
Sẽ xin nguyệt lão, trăng già xe dây
Xe vào như gió như mây
Trang 24Như chim loan phụng đỗ cây ngô đồng.”
Hay như:
“Phượng hoàng vỗ cánh bay cao
Quyết tìm cho thấy được cây ngô đồng.”
Cây ngô đồng từ ý nghĩa là nơi để trưng dụng người tài trong văn học cổ điển, sang ca dao đã trở thành một người yêu lý tưởng, một bến bờ hạnh phúc của những con người khát khao yêu đương Nhưng cũng có khi họ hoài nghi phượng hoàng:
“Thôi đừng tưởng gió nhớ mây
Phượng hoàng mấy thuở ấp cây ngô đồng.”
Chim loan, chim phượng vẫn là hình ảnh của những con người đẹp đẽ:
“Tiếc vàng mà lộn với thau
Tiếc con chim phượng lộn đàn le le.”
Những người nông dân lại rất hóm hỉnh khi bị bọn quý tộc địa chủ coi khinh mình
là le le, quạ khoang Họ đã không ngần ngại nói rằng:
“- Trên rừng ba sáu thứ chim
Thiếu gì loan phụng đi tìm quạ khoang?
- Quạ khoang có cựa quạ khoang
Tuy rằng loan phụng nhưng không có gì.”
Hình ảnh loan phượng lúc này lại bị gắn cho những kẻ “tốt mã giẻ cùi” bị
lên án phê phán Trong văn học cổ điển, không bao giờ loan phụng lại xuất hiện dưới cơ của con quạ khoang xấu xí và hôi hám và mang ý nghĩa phê phán như thế
Như vậy dù là hình tượng có nguồn gốc xa xôi từ văn học cổ điển Trung Quốc nhưng nó đã quá gần gũi với người dân Việt Nam đến nỗi chúng ta phải ngạc nhiên vì những lai lịch của nó Ca dao Việt Nam đã làm tái sinh loan phượng trong thế giới văn chương
1.1.3 Bướm và Ong
1.1.3.1 Tên
Tên tiếng Việt: Bướm và Ong
Trang 25Tên chữ Hán: Điệp, Ong
Ngữ liệu:
Xuất hiện chung: 07 lần
Truyện Kiều: 06 lần
Câu 38 Tường đông ong bướm đi về mặc ai
Câu 938 Bướm ong bay lại ầm ầm tử vi
Câu 1229 Biết bao bướm lả ong lơi
Câu 1238 Thân sao bướm chán ong chường bấy thân
Câu 1586 Bướm ong đặt những lời nọ kia
Câu 3098 Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa
Cung oán ngâm: 01 lần
Câu 30 Bướm ong càng xao xác ngoài hiên
Xuất hiện riêng:
Ong: 04 lần
Truyện Kiều: 03
Câu 864 Con ong đã tỏ đường đi lối về
Câu 3144 Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình
Trang 26Câu 1578 Con ong cái kiến kêu gì được oan
Cung oán ngâm:
Câu 318 Lối đi về ai chẳng chiều ong
Bướm: 05 lần
Truyện Kiều: 01 lần
Câu 1326 Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
Cung oán ngâm: 03 lần
Câu 38 Vườn xuân bướm vẫn còn rào
Câu 219 Hoa này bướm nỡ thờ ơ
Câu 235 Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ
Chinh phụ ngâm: 01 lần
Câu 232 Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa
1.1.3.4 Ý nghĩa văn chương
Do trong thực tế, ong bướm là loài hút mật hoa để sống, chúng nhởn nhơ bay từ hoa này đến hoa khác hút mật cạn kiệt ở các bông hoa Dưới mắt nhìn của các tác giả cổ điển thì đó là một hình ảnh phản cảm, như sự chơi bời hoa nguyệt một cách phóng túng
Thứ nhất: Đại đa số các hình ảnh ong bướm trong văn học cổ điển là để
chỉ những khách làng chơi Những kẻ phong tình hay cũng có thể là những kẻ đi tán tỉnh con gái
Ví dụ như để chỉ những kẻ đi tán gái, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
“Êm đêm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”
Chú ý “Tường đông ong bướm” phải đọc ngắt nhịp đôi 2/2 vì ở đây Nguyễn Du
có mượn ý câu “Du đông lân nhi lân kỳ xứ tư” của Mạnh Tử, tức “qua nhà láng giềng phía đông để dỗ con gái người ta” Ở đây có nghĩa là dù có nhiều người qua
lại, nhưng Kiều và Vân chưa hề vướng víu một ai Cũng với ý ấy, khi nói về tài
sắc của mình và việc mình được nhiều người để ý, cô cung nữ trong Cung oán ngâm đã tự hào rằng:
Trang 27“Tài sắc ấy vang lừng trong nước
Bướm ong càng xao xác ngoài hiên.”
Và sau này, chính những người được Kiều yêu như Kim Trọng, Thúc Sinh cũng
được gọi là con “ong cũ”, “con bướm lượn vành”
Với Thúc Sinh thì:
“Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi.”
Với Kim Trọng thì:
“Tình nhân lại gặp tình nhân
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình.”
Theo chúng tôi dù là dùng ong bướm để chỉ cả người yêu nhưng nó không
mang một ý nghĩa tích cực nào, bởi “con bướm” Thúc Sinh là ở chốn lầu xanh cũng chỉ là chơi bời lúc đầu sau mới nảy nở tình cảm, còn “ong cũ” Kim Trọng
thì Kiều cũng đã thốt lên sau bao nhiêu giày vò của lũ ong bướm trong 15 năm lưu lạc
Hình ảnh ong bướm là một biểu tượng của bọn khách làng chơi những kẻ chơi bời Đây là hình ảnh biểu tượng quan trọng và đặc sắc nhất của cặp hình
tượng này Ngoài những câu đã trích ở trên thì chỉ trừ ba câu: 1758 trong Truyện Kiều, 219 trong Cung oán ngâm và 232 trong Chinh phụ ngâm là có ý nghĩa khác,
các câu còn lại đều là ví dụ trong ý nghĩa này
Đầu tiên là mụ Tú Bà khấn khứa cho: “Bướm ong bay lại ầm ầm tử vi”, sau
là loạt hình ảnh ê chề của Kiều sau khi đã “bướm lả ong lơi”, “bướm chán ong chường”, “ong qua bướm lại đã thừa xấu xa” Chúng ta thấy được cái tài của
Nguyễn Du khi ông đã dụng công tách ong và bướm, nó như một sự ê chề, ngán ngẩm của Kiều cho cái cuộc đời gái lầu xanh bất hạnh của nàng Và cuộc đời ấy
lại được mở ra bởi “con ong” Mã Giám Sinh
“Tiếc thay một đóa hoa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về.”
Trang 28Con ong ấy là kẻ chơi bời đã “tỏ” hết các ngón nghề ăn chơi, chỉ chán cho cái bông trà mi đến lúc này đã nở phanh ra rồi
Những hình ảnh ong bướm cứ quẩn quanh cuộc đời Kiều từ đầu đến cuối,
âu cũng là cái kiếp làm bông hoa quá đẹp, quá thơm của nàng mà ra cơ sự như thế
Thứ hai: Mặc dù không phải là ý nghĩa chính, nhưng do một số đặc điểm
nhỏ và các điển tích của Trung Quốc ảnh hưởng đến, nên vẫn còn có trường hợp
bướm ong mang những ý nghĩa khác như:“Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa”
là nói lên tình yêu đôi lứa Là một thân phận bé nhỏ “Con ong cái kiến kêu gì được oan.”
Hay nằm trong điển tích thì “hồn bướm” mang ý nghĩa là quốc mộng Bởi
điều ông Trang Chu nằm mơ thấy mình là bướm khi thức dậy không hiểu bướm hoá ra mình hay mình hóa bướm, nên gọi là “giấc bướm” hay “giấc trang”, “giấc điệp”, “bướm trang”, “giấc hồ” đều cùng một nghĩa Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc cũng cứ quẩn quanh trong cái giấc mơ thực thực ảo ảo ấy:
“Chiều ủ dột giấc mai chưa sớm
Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.”
Qua những ý nghĩa và hình ảnh đã được nêu ra, chúng tôi đi đến một kết luận, mặc dù có những ý nghĩa nhỏ nhưng nó chỉ là những trường hợp cá biệt, còn thực chất trong ý niệm, trong hệ thống ý nghĩa hình tượng văn học cổ điển thì
“bướm – ong” vẫn là cặp hình tượng biểu trưng cho cái tính trăng gió của kẻ
phong tình
1.1.3.5 So sánh với ca dao
Theo khảo sát của chúng tôi, trong ca dao hình ảnh con bướm được đặc biệt chú ý, còn hình ảnh của ong xuất hiện rất ít Vì vậy chúng tôi xin được so sánh hình ảnh bướm trong văn học cổ điển và bướm trong ca dao vì xét thấy điều đó không làm ảnh hưởng gì đến nội dung và giá trị của hình tượng này Còn hình tượng ong chúng tôi cũng xét đến nhưng ít hơn
Sự giống nhau:
Trang 29Mặc dù trong ca dao, con bướm cũng xuất hiện với tư cách là hình ảnh đi
cặp với hoa tạo thành cặp hình tượng “bướm – hoa” với ý nghĩa chỉ con trai và
con gái trong quan hệ yêu đương Con bướm cũng đóng vai kẻ ve vãn tán tỉnh con gái nhà người ta:
“Rừng hoang sóc nhảy tưng bừng
Hoa chưa nở nhụy bướm đừng lao xao.”
Đây là lời nhắc nhở của cô gái đối với những anh chàng đang làm lẽ sang nhà cô
để tán tỉnh mặc dù cô còn nhỏ
Và con bướm là hình ảnh của kẻ tham hoa, tiếc nguyệt:
“Bươm bướm mà đậu cành hồng
Đã yêu cô chị lại bồng cô em.”
Hoa đẹp, bướm lại mê hoa, nên hoa nào bướm cũng muốn đậu cả
Hay một con bướm phụ tình:
“Đừng có bướm rã ong rời
Còn non, còn nước, còn trời, còn trăng.”
Ý nói người đàn ông đã chán chê người phụ nữ, nhưng người phụ nữ vẫn nhớ đến những lời thề non hẹn biển khi xưa nên cô đã nhắc lại cho anh ta nghe Như vậy mới thấy được bộ mặt giả dối của người tình và để cho chàng ta nghĩ lại Và cũng thêm một lời than thở:
“Đạo cang thường khó lắm ai ơi
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.”
Chuyện chơi bời là chuyện một sớm một chiều, còn cái đạo, cái nghĩa vợ chồng
trăm năm giữ được mới thật khó Vậy nên người ta mới khuyên con bướm:
“Bướm bay chi lắm bướm ơi
Đậu đâu bướm đậu một nơi cho rồi.”
Ấy là những con bướm phong tình, những con bướm chơi hoa với cái nghĩa tiêu cực, một sự gặp gỡ trong quan sát của văn chương bình dân và văn chương bác học
Sự khác nhau:
Trang 30Cũng là hình ảnh hoa bướm đấy nhưng trong ca dao dân ca, con bướm ấy cũng say tình lắm, nó đích thực là con bướm của tình yêu, con bướm có tình có nghĩa, con bướm mà những nghệ sĩ dân gian muốn hoá mình vào, muốn gửi những lời nhắn nhủ, những lời tâm sự
Đây là lời tỏ tình của một anh chàng si tình:
“Bông cúc ngả ngang con bướm vàng nhận nhụy
Thấy em cười hữu ý anh thương.”
Ở đây, hình ảnh bông cúc đã “ngả ngang”, đã đẹp, đã mời gọi con bướm đậu, cô gái đi thể hiện tình cảm với người con trai rồi, thật may quá, vậy nên “anh thương” là điều dễ hiểu Và khi họ xa nhau, chỉ xa một buổi chiều mà họ đã rầu rĩ
lắm
“Chiều chiều bóng đổ qua cầu
Con ong say vì mật, con bướm sầu vì hoa.”
Và thêm nữa:
“Bướm xa hoa bướm lại dật dờ
Anh xa xôi bậu đêm chờ ngày trông.”
Và thật sự là, chưa có cái hình ảnh con bướm nào oán trách bông hoa, nó luôn là
kẻ chơi bời, kẻ phụ tình, hay là kẻ chủ động, vậy mà trong ca dao, đã ít nhất một lần con bướm phải than:
“Hoa kia phụ bướm sao đành Bướm đây thuở trước leo nh ành trổ hoa.”
Cái câu chuyện nuôi cá, be bờ mà khi cá lớn thì người khác ăn, phụ vào đây thì hợp lắm Đặc biệt, chúng ta tìm thấy một con bướm với hình ảnh giống như con bướm mà Nguyễn Du ví với Thúc Sinh:
“Người như hoa nở trên cành
Anh như con bướm lượn vành mà chơi.”
Nhưng chính câu thơ trên đã làm thay đổi hẳn ý nghĩa tiêu cực của nó Cô gái
được chàng trai gọi là “người” một cách trân trọng và cô gái đang vào độ chín, độ
Trang 31đẹp của đời con gái, đang tỏa hương thơm quyến rũ chàng trai chứ không phải là
bông hoa lìa cành “bướm chán ong chường” như Thúy Kiều
Trong những câu ca dao có xuất hiện hình ảnh bướm thì chúng ta thấy có một con bướm buồn thật buồn, một con bướm không đậu hoa Không chơi hoa mà
lại “đậu đọt mù u”:
“Bướm vàng đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn.”
Câu ca dao nói lên nỗi niềm của người con gái lấy chồng sớm “Bướm vàng đậu
đọt mù u” chứ không phải đậu đóa mù u “bông trắng lá quấn nhị vàng” đang lúc
viên mãn Đọt mù u không phải là ngọn cây mù u mà là nụ hoa còn non, thế mà bướm đã đậu thì có được gì, có ra gì Cô gái tiếc thương cho tuổi trẻ của mình, tủi thân cho phận làm dâu, làm mẹ khi còn quá nhỏ Lời ca dao cũng là lời ru con não ruột của những người mẹ quá trẻ
Chúng ta thấy rằng con bướm thường đi với hoa để tạo thành một cặp tình nhân, nhưng trong ca dao Nam bộ cũng có hình ảnh một con bướm đậu cây bần:
“Bướm bay dưới dạ cây bần
Đôi ta kết nghĩa Châu Trần từ đây.”
Đây là cặp hình ảnh chỉ ca dao và chỉ ca dao Nam Bộ mới có vì cây bần là loài cây chỉ có ở Nam Bộ
Tuy xuất hiện ít hơn rất nhiều so với bướm, nhưng con ong thỉnh thoảng vẫn lấp ló trong vài câu ca dao Câu ca dao sau không phải là cặp hình tượng
“bướm - hoa” hay “ong - hoa” mà lại là cặp “ong - bướm” với nghĩa là một cặp
đôi yêu nhau Đây là một sự chuyển nghĩa trong quá trình lâu dài của hình tượng ong bướm:
“Mười ngày nửa tháng lâu lâu
Ong kia nhớ bướm thăm nhau đỡ buồn.”
Ngoài ra, con ong trong văn học cổ điển là một con ong đại diện cho thân phận bé nhỏ của một người hèn kém, nhưng trong ca dao, cũng con ong bé con ấy bên trong nó là cả một sức mạnh lớn:
Trang 32“Em đừng thấy anh bé mà sầu
Con ong bao tuổi nó châm bầu bầu thâm.”
Qua những ví dụ và sự phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng trong con mắt của những người bình dân, con ong, con bướm có những nét đẹp riêng của nó, không chỉ là vẻ nhởn nhơ chơi hoa bề ngoài mà trong đó chứa đựng một tình yêu, tình yêu thực sự
1.1.4 Yến và Anh
1.1.4.1 Tên
Tên tiếng Việt: Yến, Oanh
Tên chữ Hán: Yến, Oanh
1.1.4.2 Đặc điểm sinh học
Chim yến: Vấn đề chim yến là một vấn đề chưa được thống nhất hiện nay
Các bộ từ điển nói rất khác nhau về loài chim này Nhiều từ điển cho rằng yến và
én là một Nhưng bộ Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên viết:
“Yến 1: Chim biển cỡ nhỏ, cùng họ với én, làm tổ bằng nước bọt ở vách đá cao, gồm nhiều loài”
“Yến 2: Chim cùng họ với sẻ, cỡ nhỏ, lông màu vàng, trắng hay xanh, hót hay, nuôi làm cảnh: chim yến bay lượn, yến oanh, yến anh, hải yến, hoàng yến, bạch yến”
Như vậy yến và én chỉ cùng họ với nhau và yến này là yến biển Còn con yến xuất hiện trong các tác phẩm văn học cổ điển là con yến thứ hai, tức con chim yến hót con hoàng yến, thạch yến hay bạch yến Ở các vườn chim cảnh người ta gọi nó là yến hót
Chúng tôi đồng ý với ý kiến này bởi vì chim yến trong các câu thơ ở văn học cổ điển là con yến biết hót ríu rít và chúng rất đẹp, không thể là con yến ngoài biển chỉ chíu chít gọi nhau được
Chim anh: Là loài chim thuộc bộ sẻ, cỡ nhỏ như chim sáo, có bộ lông màu
vàng nên còn gọi là vàng anh, hoàng anh hay oanh chúng hót rất hay Nhiều người cho rằng oanh không phải là chim anh, nhưng theo chúng tôi chúng là một do
Trang 33trong các tác phẩm được khảo sát thì chim oanh cũng là loài chim hót hay và có bộ lông màu vàng và lâu nay chúng ta đều gọi oanh là vàng anh
Ngoài những đặc điểm trên thì chim anh cũng là loài chim báo mùa vì chúng xuất hiện vào mùa xuân và hót nhiều khi tiết xuân ấm áp
1.1.4.3 Số lần xuất hiện và ngữ liệu
Số lần xuất hiện:
Chim yến: 09 lần: Truyện Kiều 07 lần, Chinh phụ ngâm 02 lần
Chim oanh: 12 lần: Truyện Kiều 09 lần, Chinh phụ ngâm 03 lần
Ngữ liệu:
Xuất hiện chung: 07 lần trong Truyện Kiều
Câu 45 Gần xa nô nức yến anh
Câu 64 Xôn xao ngoài cửa kém gì yến anh
Câu 514 Quá chiều nên đã chán chường yến anh
Câu 944 Điều đâu lấy yến làm anh
Câu 955 Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai
Câu 1098 Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh
Câu 1180 Quyến anh rủ yến sự này tại ai?
Xuất hiện riêng:
Chim yến: 02 lần trong Chinh phụ ngâm
Câu 128 Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Câu 351 Chàng xem chim yến trên lương
Chim oanh: 05 lần
Truyện Kiều: 02 lần
Câu 239 Ngoài sân thỏ thẻ oanh vàng
Câu 270 Con oanh học nói trên cành mỉa mai
Chinh phụ ngâm: 03 lần
Câu 125 Thủa lâm hành oanh chưa bén liễu
Câu 127 Nay quyên đã giục oanh già
Câu 232 Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa
Trang 341.1.4.4 Ý nghĩa văn chương
Chim anh và chim yến là những loài chim xuất hiện và hót theo mùa và khi xuất hiện chúng xuất hiện khá nhiều Vì vậy tùy theo mỗi hình ảnh, chúng tôi phân
ý nghĩa của chúng theo một vài hình ảnh như sau:
Thứ nhất: Chim oanh xuất hiện báo tiết xuân ấm áp và chim yến xuất hiện
báo mùa thu đến
Trong Chinh phụ ngâm có đoạn:
“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.”
Lúc người chinh phu lên đường (lâm hành) là lúc tiết xuân còn chưa đến, cây liễu chưa trổ lá non nên chim oanh chưa đến hót Người chồng hẹn đến khi nào chim quyên ca thì về, tức là lúc thời tiết đã sang hè Người vợ chờ đợi, chờ đợi, đến khi
“quyên giục oanh già”, tức là lúc oanh đã già rồi, đã hết xuân rồi, hè lại đến, lẽ ra
lúc này đúng hẹn là chồng nàng phải về, vậy mà không thấy đâu Thời tiết lại
chuyển sang mùa thu khi nàng nghe “ý nhi” hót (chim yến) Thời gian cứ trôi đi
như thế, cũng chẳng thấy tin chồng, người chinh phụ thật buồn
Thứ hai: Chim oanh, chim yến là hình tượng biểu hiện cho tình yêu đôi
lứa, như tình cảm vợ chồng
Theo dân gian thì chim oanh tượng trưng cho đôi vợ chồng mới cưới và mở rộng ra là tình yêu trai gái, do đặc điểm chim hoàng oanh trống mái thường bay đôi với nhau
Trong Truyện Kiều, oanh thường xuất hiện cùng liễu:
“Ngoài sân thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.”
Lúc này là sau những ngày tảo mộ trong tiết thanh minh, Kiều vừa được Đạm Tiên báo mộng tiên đóan số phận gian truân của nàng, nàng chợt nghĩ đến Kim Trọng
Trang 35khi thấy chim oanh hót Và ngay sau những câu thơ đó, chúng ta lại bắt gặp một con oanh nữa:
“Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.”
Trong khi Kiều đang nhớ Kim thì Kim cũng thẩn thơ nhớ Kiều mà không
có cách nào để gặp, thế mà lại nghe con oanh hót, tiếng hót của tình yêu, chàng thấy như nó đang mỉa mai chàng Hai tâm trạng của con người, nhưng Nguyễn Du
đã chỉ dùng một làn gió có mang tơ liễu, chỉ một con chim oanh hót líu lo, thế mà Nguyễn Du đã nói lên được sự đồng điệu của tâm hồn hai con người đang yêu : Thúy Kiều - Kim Trọng
Trong Chinh phụ ngâm, sau khi người chồng đã hẹn mà không về, người
chinh phụ buồn tủi đến mức không muốn làm bất cứ một việc gì kể cả việc nữ công hằng ngày nàng vẫn làm:
“Biếng cầm kim, biếng đưa thoi
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.”
Thêu đôi oanh, đôi bướm là thêu khăn, thêu gối cho chồng, cái gì cũng có đôi có cặp Nàng nghĩ cảnh cách xa của hai vợ chồng nàng, nàng xót thương cho chồng ngoài trận mạc và tủi cho thân phận mình lẻ loi đơn chiếc chốn khuê phòng Đây
là cách thể hiện của tác phẩm trữ tình Trung đại, bộc lộ nỗi lòng bằng cách kể những biểu hiện, việc làm bề ngoài:
“Chàng xem chim yến trên lương
Bạc đầu không nỡ đôi đường lìa nhau.”
Đó là những biểu hiện, những tâm tư, tình cảm mà tác giả đã dùng hình ảnh oanh, yến để thể hiện Không cần nói nhiều, chỉ vậy thôi là đủ, đủ để chúng ta suy nghĩ,
đủ để chúng ta có tâm trạng
Thư ba: Hình ảnh yến anh chỉ sự chơi bời hoa nguyệt và cũng để chỉ trai gái
Trang 36Khi miêu tả những người đến với Đạm Tiên, khi nàng còn là một ca kĩ nổi tiếng với tài năng và sắc đẹp Nguyễn Du viết:
“Nổi danh tài sắc một thì
Xôn xao ngoài cửa kém gì yến anh.”
Ý của tác giả là chỉ những kẻ mong được Đạm Tiên tiếp nhiều như yến anh Ở
đây, Nguyễn Du dùng yến anh là có dụng ý, vì “yến anh” là cụm từ thường dùng
để chỉ sự chơi bời trong chốn lầu xanh
Hãy nghe Tú Bà nói về cái lầu xanh của mụ:
“Muôn nghìn người thấy cũng yêu
Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai.”
Rồi Kiều cũng phải cay đắng thốt lên:
“Rằng: tôi bèo bọt chút thân
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.”
Thế là đã rõ, anh yến là cái kiếp gái lầu xanh vậy Và khi Kiều bị Sở Khanh lừa, Kiều lại nói trong nước mắt:
“Nàng rằng: trời nhé có hay
Quyến anh rủ yến sự này tại ai?”
Và ngay cả khi nàng “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang nhà Kim Trọng, khi mà “Sóng tình dường đã xiêu xiêu”, Kiều đã tỉnh táo nói rằng:
“Mây mưa đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến anh.”
Ý nói, nàng Thôi Oanh Oanh đã quá chiều chàng Trương Quân Thụy nên chàng mới chán mà bỏ đi Kiều không muốn mình dễ dãi mà thành ra bị rẻ rúng như thế nên nàng nói:
“Vội chi liễu ép hoa nài Còn thân ắt lại đền bồi có khi.”
Tiếc là không có khi đó
Ngoài ra, hình ảnh yến anh cũng nói về hình ảnh những người đi trẩy hội xuân Nhưng những người ấy toàn là những người trẻ tuổi như chị em Thúy Kiều,
Trang 37như Kim Trọng, đi tảo mộ thì ít, mà đi tán tỉnh nhau thì nhiều Vậy nên Nguyễn
Du mới có câu:
“Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.”
Qua đây, chúng ta có thể rút ra được kết luận rằng, chim oanh yến nếu
chúng đi cùng nhau tạo thành cặp “yến anh” thì nó chỉ về quan hệ trai gái, còn khi
xuất hiện theo mùa thì đó là một dấu hiệu báo mùa rất cổ điển
1.1.4.5 So sánh với ca dao
Hình ảnh chim yến, chim oanh cũng xuất hiện trong ca dao dân ca song rất khiêm tốn, nhưng vẫn đủ để chúng tôi so sánh với văn học cổ điển Chỉ hai hình ảnh, chúng ta sẽ thấy được sự khác nhau trong cách sử dụng hình ảnh này
Trong ca dao, hình ảnh yến anh đi liền với nhau mang ý nghĩa về những con người đang yêu, một tình yêu da diết, chứ không phải là hình ảnh chơi bời:
“Ngày nay loan phụng lẻ bầy
Nam vang xa xứ khô gầy yến anh.”
Khi xa người yêu, chính sự nhớ nhung ấy đã làm cho con người ta “khô gầy”,
nghe thế mới thấy được tình yêu nó có sức mạnh như thế nào
Bên cạnh đó, hình ảnh chim oanh còn được dùng để chỉ một con người đức hạnh tốt đẹp:
“Trách ai làm trai hữu nhãn vô châu
Chim oanh không bắn, bắn con chim sâu đậu nhành tùng.”
Con chim oanh đẹp đẽ ở đây là một cô gái đẹp, đức hạnh, cô trách người con trai
có mắt mà không nhìn rõ, nhìn ra một người xứng đáng làm vợ anh như cô
Hình ảnh yến, oanh trong ca dao không nhiều, cũng không đặc sắc như trong văn học cổ điển Chỉ có hai hình ảnh nên chúng tôi cũng cố gắng so sánh để tìm ra điểm khác nhau giữa hai bộ phận văn học
1.1.5 Chim nhạn, chim hồng
1.1.5.1 Tên
Tên tiếng Việt: Ngỗng trời, Nhạn, Hồng
Trang 38Tên chữ Hán: Nhạn, Hồng
1.1.5.2 Đặc điểm sinh học
Nhạn, hồng là loài chim thuộc họ vịt, cũng gọi là mòng hay ngỗng trời Đây
là loài chim di trú, mùa đông lạnh nhạn bay từ phương Bắc đến phương Nam để tránh rét Con trống gọi là hồng, con mái gọi là nhạn Chúng ta thường gọi chung
là nhạn
1.1.5.3 Số lần xuất hiện và ngữ liệu
Số lần xuất hiện: 12 lần trong đó Truyện Kiều 06 lần, Chinh phụ ngâm 04
lần, Cung oán ngâm 02 lần
Ngữ liệu:
Truyện Kiều:
Câu 566 Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa
Câu 945 Tin nhạn vẩn, lá thơ bời
Câu 1084 Tiện hồng nàng mới nhắn lời gởi sang
Câu 1478 Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên
Câu 2247 Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Câu 2970 Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo
Chinh phụ ngâm:
Câu 25 Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao
Câu 181 Gió tây nổi không đường hồng tiện
Câu 179 Thấy nhạn luống tưởng thư phong
Câu 286 Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu
Cung oán ngâm:
Câu 18 Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa
Câu 225 Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
1.1.5.4 Ý nghĩa văn chương
Trong văn học cổ điển, nhạn là hình ảnh xuất hiện nhiều và có giá trị rất lớn, chủ yếu là với những ý nghĩa sau:
Trang 39Thứ nhất: Nhạn là loài chim mang tin, có điển: Tô Vũ đời Hán sang sứ
Hung Nô, bị giữ lại bắt đi chăn dê ở phương Bắc, nói dối rằng Tô Vũ đã chết Sau này Hung Nô hòa thân với Hán, nhà Hán đòi thả Tô Vũ nhưng Hung Nô không chịu Thường Huệ bày mưu cho Hán sứ nói lừa Thiền Vu Hung Nô rằng, vua Hán bắt được ở Thường Lâm một con nhạn chân có buộc thư nói Tô Vũ ở chỗ nọ bên Hung Nô Hung Nô sợ quá thả Tô Vũ về Từ đó, nhắc đến nhạn người ta nghĩ ngay đến tin tức, thư tín
Trong Chinh phụ ngâm có đoạn:
“Thấy nhạn luống tưởng thư phong Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng
Gió tây nổi không đường hồng tiện
Xót cõi ngoài tuyết quyện mưa sa.”
Sau thời gian đầu có tin đi tin lại với chồng, nhưng đến lúc này người chinh phụ trông ngóng hoài cũng không có tin gì nữa Nàng thấy nhạn nên đã vui mừng sắm áo bông cho mùa lạnh, bởi vì nhạn bay về phương Nam là đông sắp đến, mà cũng là sẽ có tin tức gì đây, nhưng nàng đã mừng hụt Gió tây đã thổi đến không tiện cho chim hồng đến nên thư không sang được, nàng thấy tuyết rơi mà nghĩ thương cho chồng
Trong Cung oán ngâm, người cung phi cũng mong ngóng nhà vua tới từng
giờ từng khắc, nhưng cũng chẳng có tin đâu:
“Ngày sau khắc tin mong nhạn vắng
Đêm nằm canh tiếng lắng chuông rền.”
Và với hình ảnh “hồng tiện”, Truyện Kiều có câu:
“Tan sương vừa rạng ngày mai
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.”
Cánh hồng ở đây chỉ lá thư mà Kiều gửi sang cho Sở Khanh để nhờ Sở Khanh giúp nàng trốn khỏi lầu xanh của Tú Bà Theo Tản Đà thì Nguyễn Du đã
không khéo lắm ở câu này cũng như trong câu: “Phục thư đã thấy tin chàng đến
nơi” sau đó Ông bảo, với Sở Khanh thì Kiều chỉ việc “quẳng sang, ném sang”
Trang 40thôi chứ không cần dùng “hồng tiện”… Và đối với một kẻ như Sở Khanh cũng không nên dùng chữ “phục thư” quá chữ nghĩa, không hợp với một tên bịp bợm
Nhưng chúng tôi lại đồng ý với ý kiến của ông Lê Xuân Lít khi ông cho rằng Tản
Đà đã quá khắt khe khi nói như vậy Thúy Kiều là người nho nhã, đoan trang, học
hành tử tế, nên cái hành động “tiện hồng” mới hợp với nàng Còn Sở Khanh không gì cũng là “mạch thư hương”, bề ngoài cũng dịu dàng nho nhã, nên dùng chữ “phục thư” mới hợp Như vậy, Nguyễn Du dùng từ ấy là đúng lắm
Cả ba trường hợp dùng nhạn hồng làm tin tức đều có gốc từ điển Tô Vũ, điều đó cho thấy ảnh hưởng của văn học cổ điển Trung Quốc đến với văn học cổ điển Việt Nam
Thứ hai: Nhạn hồng chỉ thời gian đã sang hè
Nguyễn Du viết:
“Buồn trông phong cảnh quê người
Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.”
Chim quyên đã bắt đầu kêu nhiều hơn, ở cuối chân trời, chim nhạn đã bay thưa dần về hướng Bắc, thế là mùa hè oi ả đã đến, mùa xuân ấm áp đã qua đi Và thời gian qua nhanh khi hình ảnh chim nhạn mùa xuân và yến mùa thu cứ luân đổi cho nhau:
“Phận bồ từ vẹn chữ tòng
Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.”
Thời gian trôi đi, mỗi loài chim lại tượng trưng cho một mùa, chúng thay đổi cho nhau để làm chủ mùa, chủ thời gian
Thứ ba: hình ảnh “cánh hồng gieo” chỉ cái chết nhẹ nhàng
Khi Tào Thực tả vẻ đẹp của nữ thần sông Lạc, ông viết : “Phiên nhược kinh
hồng, uyển nhược du long” tức nhẹ nhàng bay vút như chim hồng khi kinh hãi,
uyển chuyển mềm mại như con rồng lúc lượn chơi Ở đây Nguyễn Du đã tả việc tự
tử của Thúy Kiều cũng nhẹ nhàng như cánh hồng vậy:
“Ngọn triều non bạc trùng trùng
Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.”