1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu các yếu tố tạo áp lực trong quá trình học tập ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh hiện nay

261 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 261
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một thống kê tổng hợp những ca trắc nghiệm về rối nhiễu tâm lý được thực hiện bởi các trung tâm tư vấn tâm lý - giáo dục trực thuộc Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục TP.HCM cho thấy số trẻ bị

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TẠ THỊ THANH THỦY

TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ TẠO ÁP LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

(Điển cứu tại trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, trường Trung học phổ thông tư thục Trương Vĩnh Ký và trường Trung học phổ thông Lý

Thường Kiệt )

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

MÃ NGÀNH: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Mai

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, Tôi chân thành cám ơn: Ban Giám hiệu, quý Thầy

Cô, quý phụ huynh, các em học sinh, nhân viên tư vấn học đường thuộc ba trường: Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong- quận 5; Trung học phổ thông dân lập Trương Vĩnh Ký – quận 11; Trung học phổ thông Lý Thường Kiệt – huyện Hóc Môn – Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp số liệu về những thông tin thực

tế cần thiết để hoàn thành đề tài luận văn

Chân thành cám ơn: TS Lê Thị Mai giảng viên trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo giải đáp những thắc mắc và những khó khăn trong thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này

Đồng thời tôi xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt các thầy cô khoa Xã hội học,

đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho tôi trong những năm học vừa qua

Xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Do thời gian có hạn cùng với những hạn chế về kiến thức nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự chỉ bảo góp ý của thầy cô và các bạn

Tp.HCM, ngày 28 tháng 02 năm 2012

Tác giả

Tạ Thị Thanh Thủy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Dữ liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tôi đã tiến hành thực hiện tại Thành phố Hồ chí Minh

Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 02 năm 2012

Tác giả luận văn

Tạ Thị Thanh Thủy

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PH ẢN BIỆN

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012

Trang 6

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Các từ viết tắt được sử dụng

THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

2 Giới tính của học sinh ba trường khảo sát (%) 44

3 Học lực của học sinh ba trường khảo sát (%) 45

4 Kinh tế gia đình của ba trường khảo sát (%) 46

6,7,8 Kiểm định Chi Square: Chương trình học * Trường học 53, 54

9, 10, 11 Kiểm định Chi Square: Chương trình học * Học lực 55, 56

12, 13, 14 Kiểm định Chi Square: Chương trình học * Lớp học 57, 58

15 Phân bố thời gian học trong ngày theo các loại hình học: ở

19 Số buổi học thêm/tuần trong trường của học sinh (%) 72

20 Mục đích đi học thêm phân theo học lực của học sinh (%) 73

21 Mức độ chia sẻ việc học với gia đình của học sinh phân

theo từng mối quan hệ (%)

79

22 Mức độ yêu cầu của gia đình đối với việc học của con cái

phân theo trường (%)

80

23 Thái độ của bố mẹ khi con bị điểm thấp phân theo giới

tính học sinh (%)

81

24, 25, 26 Kiểm định Chi Square: Học lực * Mức độ yêu cầu đạt

điểm cao của gia đình với con cái

82, 83, 84

27 Ý kiến của học sinh về “Vào đại học là con đường duy

nhất”(%)

86

28 Sách giáo khoa và sách tham khảo hai môn Toán 12 và

Giáo dục công dân 12

89

Trang 8

29 Mong đợi của nhà trường đối với học sinh phân theo từng

trường (%)

96

30 Hình thức khen thưởng của nhà trường khi học sinh đạt

điểm cao phân theo trường(%)

97

31 Hình thức xử phạt của nhà trường khi học sinh vi phạm kỷ

luật phân theo trường (%)

34 Mức độ so sánh của gia đình với các gương điển hình

phân theo trường học (%)

102

35 Ảnh hưởng của nhóm bạn đến việc học của học sinh(%) 103

37 ảnh hưởng của học tập căng thẳng đến sinh học sinh phân

2 Tương quan giữa tỷ lệ số bài tập trung bình /ngày trong

tổng số bài tập về nhà phân theo lớp học (%)

Trang 9

MỤC LỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ - ĐỒ THỊ

MỤC LỤC Tr

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 5

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Nội dung nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .13

8 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu 13

9 Kết cấu luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 16

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu 17

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 17

1.2 Thao tác hóa khái niệm 26

1.3.Cách tiếp cận và các lý thuyết ứng dụng 30

1.3.1 Tiếp cận cấu trúc chức năng 30

1.3.2 Tiếp cận tương tác biểu trưng 32

1.3.3 Tiếp cận xung đột 33

1.3.4 Lý thuyết vai trò 34

1.3.5 Thuyết xã hội bằng cấp của Radall Collins 36

1.3.6 Thuyết hành vi lựa chọn của Geogre Homans 37

1.4 Mô hình phân tích và giả thuyết nghiên cứu 39

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

Chương 2: Khái quát chung về vấn đề áp lực học tập đối với học sinh Trung học phổ thông 42

Trang 10

2.1 Vài nét về nghiên cứu thực nghiệm 42

2.1.1 Tổng quan về ba trường điển cứu 42

2.1.2 Cơ cấu khảo sát mẫu 44

2.2.Thực trạng vấn đề áp lực học tập đối với học sinh Trung học phổ thông 48

2.1 Chương trình học ở bậc Trung học phổ thông 48

2.2 Thời gian dành cho việc học của học sinh 62

2.3 Bệnh thành tích trong nhà trường 65

2.4 Việc học nâng cao kiến thức của học sinh 72

Tiểu kết 75

Chương 3: Những nguyên nhân từ phía gia đình, nhà trường, xã hội tạo áp lực học tập đối với học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh76 3.1 Sự kỳ vọng của gia đình 76

3.2 Nguyên nhân từ phía nhà trường 87

3.2.1 Sự quá tải chương trình học 87

3.2.2 Phương pháp dạy của giáo viên 94

3.2.3.Mong đợi của nhà trường 96

3.3 Nguyên nhân từ phía xã hội 99

3.3.1 Truyền thông đại chúng 99

3.3.2 Nhóm bạn học tập 102

Tiểu kết 105

Chương 4: Ảnh hưởng của áp lực học tập đối với học sinh Trung học phổ thông hiện nay và một vài biện pháp khắc phục 106

4.1 Ảnh hưởng của áp lực học tập đối với học sinh Trung học phổ thông 106

4.1.1 Ảnh hưởng tích cực của áp lực học tập đối với học sinh 106

4.1.2.Ảnh hưởng tiêu cực của áp lực học tập đối với học sinh 107

4.1.3 Stress học đường 117

4.2 Một vài biện pháp khắc phục 113

4.2.1 Giảm tải chương trình học 113

4.2.2 Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực 116

4.2.3 Phát triển mô hình tư vấn tâm lý học đường 118

Trang 11

4.2.4 Sự quan tâm đúng mức của gia đình 123

Tiểu kết 125

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

Trang 12

PH ẦN MỞ ĐẦU

Trang 13

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội [12, tr.23] Điều quan trọng trước tiên, việc giáo dục phải giúp mỗi người tự nhận

ra sự hiện diện cao quý của họ trong cuộc sống sau này Điều làm nên họ không chỉ là những thành tích, thành tựu hay những công trình bên ngoài, mà chính họ mới là những công trình sáng giá nhất, nghĩa là trở thành điều mà họ trở thành Từ

đó, giáo dục mới trở thành nhân tố quan trọng trong suốt cuộc đời

Bên cạnh đó, giáo dục còn đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn phát triển và truyền bá văn mình nhân loại Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nhanh và mạnh như hiện nay với việc tiềm kiếm những tiềm năng trí tuệ là động lực chính cho sự phát triển thì giáo dục trở nên cần thiết vô cùng Giáo dục được coi là nhân tố quyết định cho sự thành bại của mỗi quốc gia trên trường quốc tế và sự thành đạt của mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình Hơn lúc nào hết, tri thức trở thành cầu nối quan trọng giúp con người tiếp cận thế giới, mở mang tầm hiểu biết và tích lũy vốn sống của mình Giáo dục đào tạo ra những con người năng động và nhạy bén trước mọi thay đổi của cuộc sống, giúp chúng ta hoàn thiện không chỉ về tư duy lý luận sắc sảo, logic mà còn nâng đỡ tâm hồn và phát triển nhân cách toàn diện Việc giáo dục toàn diện này gắn liền với các môi trường giáo dục: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội

Chính bởi tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao trên nên giáo dục hiện nay đang được đề cập và bàn luận sôi nổi trên hầu hết các lĩnh vực truyền thông đại

chúng Rất nhiều “hiện tượng” trong giáo dục được mổ xẻ và phanh phui như

minh chứng rằng không thể xem nhẹ giáo dục trong giai đoạn hội nhập và phát triển được Nhưng một thực tế đáng buồn là giáo dục vẫn đang tồn tại nhiều vấn

đề bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của thế hệ tương lai

Sự thay đổi, cải cách trong giáo dục cũng như chế độ thi cử ngày càng gia

tăng với mục đích “nâng cao chất lượng dạy và học”đang được quan tâm và bàn

luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông đại chúng như sự cụ thể hóa kỳ vọng học đường Tuy vậy sự mong muốn đó đòi hỏi học sinh từng ngày từng ngày

Trang 14

tiếp thu một khối lượng tri thức lớn như kỳ vọng từ trường học Chính vì chương trình học ngày càng tăng nhanh dẫn đến việc dạy và học ngày càng có nhiều vấn

đề nhức nhối: học sinh phải học nhồi nhét, thậm chí nhiều em giống như những con rô bốt di động, những chú gà công nghiệp với cặp kính dày cộm rong ruổi trên con đường kiếm tìm tri thức Học là phải thi – đó là quy luật bắt buộc để kiểm tra chất lượng học tập của học sinh – là một quy chế không thay đổi được Nhưng vấn

đề cần bàn tới ở đây chính là chế độ thi cử với nhiều tầng, nhiều bậc (nhất là học sinh cuối cấp) khiến cho học sinh phải gánh thêm nhiều kỳ vọng – áp lực Sức ép

từ chương trình cải cách nhiều phần mục và nhiều nội dung cộng thêm căn bệnh thành tích trong giáo dục đã cướp đi một phần tuổi thơ trong sáng của các em

Sự thay đổi trong cải cách giáo dục là điều cần thiết để hình thành xã hội học tập Song học mà không có giải trí, không có các hoạt động tinh thần khác sẽ

là một trong những nguyên nhân dẫn đến “căn bệnh học đường” hay chứng “sợ trường học” đang nổi lên trong thời gian gần đây Các em có rất ít môi trường thật

an toàn và trong lành để vui chơi thể thao, thư giãn sau những giờ học căng thẳng Lịch học dày kín, chương trình học quá tải đang tạo ra cho các em những áp lực không nhỏ, áp lực đó lại tăng lên rõ rệt qua các kỳ thi nặng về thành tích, cộng thêm cảm giác bị tù túng trong bốn góc nhà càng khiến các em dễ cáu giận, phản ứng thái quá, hoặc lệch lạc Có em mất phương hướng, không biết làm gì để khẳng định bản thân; sợ đến trường vì thấy bản thân không thể chống lại sự bắt nạt của

bè bạn Có em do quá căng thẳng, mệt mỏi trong học tập đã nổi khùng trước người khác hoặc có ý nghĩ phải làm tổn thương ai đó hay làm tổn thương chính mình

Đấy là những dấu hiệu không khả quan lắm, là nguyên nhân của nhiều “căn bệnh

xã hội” hiện nay

Bên cạnh đó, các em không chỉ học tập kiến thức ở trên ghế nhà trường mà thời gian học tập tại gia đình cũng rất cần thiết Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất cảu cá nhân bơỉ hầu hết mỗi cá nhân đều sinh ra và lớn lên trong gia đình Quan trọng hơn đây còn là nơi nuôi dưỡng mọi ước mơ, là cơ sở cho những bước tiến xa hơn để hoàn thiện và phát triển nhân cách Mỗi gia đình đều có những kì vọng riêng đối với con cái.Những kì vọng này một mặt tạo nên động lực thúc nay từng thành viên – đặc biệt là hoc sinh – cố gắng vươn lên nhưng mặt khác lại tạo cho các em thêm nhiều sức ép Sức ép phải làm một người con tốt, người công dân có ích cho xã hội và sức ép phải hoàn thành ước nguyện của

Trang 15

cha mẹ Sức ép này thể hiện rất rõ trong hoạt động hoc tập và học tập là một trong những hoạt động không nằm ngoài mà sức ép còn có thể cao hơn

Không chỉ có gia đình mà nhà trường mà xã hội cũng là một trong những tác nhân không nhỏ gây nên áp lực cho học sinh Thị trường lao động đòi hỏi một nguồn nhân lực giàu chất xám, có khả năng thích ứng cao và nhất là phải thích nghi được với quy luật đào thải rất cao hiện nay Để chen chân vào được đòi hỏi mỗi cá nhân phải ra sức phấn đấu thậm chí vượt quá khả năng nữa Ngưỡng cửa Đại học là cánh cổng đầu tiên để đi thẳng vào thị trường lao động nhưng hiện tượng”thắt cổ chai” ở lối vào Đại học của hệ thống giáo dục có thể chính là

nguyên nhân của nhiều “hiện tượng” trong giáo dục Nó liên quan trực tiếp đến áp

lực học tập bởi nếu các em không cố gắng hết sức và chịu sự đốc thúc từ nhiều thiết chế xã hội cũng như sự kỳ vọng của các nhóm xã hội thì liệu các em có thể chen chân vào Giảng đường được hay không?

Một thống kê tổng hợp những ca trắc nghiệm về rối nhiễu tâm lý được thực hiện bởi các trung tâm tư vấn tâm lý - giáo dục (trực thuộc Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục TP.HCM) cho thấy số trẻ bị tâm bệnh và rối nhiễu hành vi (do hậu quả của việc học tập nhồi nhét và sự thúc ép của cha mẹ) trong thời gian quý 2 và quý 3/2008 đã tăng 141% so với cùng kỳ năm ngoái [5, tr.64] Cứ sắp tới mỗi kỳ thi, con số này càng tăng

Trên diễn đàn của báo Tuổi Trẻ số ra ngày 28/03/2009 với nhan đề “Báo

động tình trạng học sinh rối loạn tinh thần” đã thu hút không ít sự quan tâm của

bạn đọc Bài viết đề cập việc có đến 80 – 100 bệnh nhân mỗi ngày nhất là mùa thi

và sau mùa thi, trong đó có đến hơn 45% là do áp lực học tập Điều đặc biệt chính

là thông cáo chung: Áp lực học tập - SOS! Điều đáng nói chính là việc: Trẻ em

cần được cân bằng về tâm lý, trí tuệ và cảm xúc mới có thể phát triển bình thường được Trẻ không chỉ thực hiện một vai trò mà là sự chồng chéo các vai trò Liệu rằng trẻ có đủ sức đảm nhiệm tốt các vai trò trên mà xã hội quy định trong khi vau trò nào cũng muốn được hoàn thành?

Ở buổi tọa đàm “Bạo lực trẻ em trong nhà trường- thực trạng và giải pháp”

do Sở Lao động Thương binh và Xã hội TPHCM tổ chức sáng 25/12/2008 đã cho thấy xu hướng bạo lực này có từ gia đình và thầy cô cho nên phải định hướng thái

độ, suy nghĩ cho học sinh Từ cuộc khảo sát thực tế tại BV Tâm thần (TPHCM)

Trang 16

tháng 8/ 2008 với trên hơn 1.000 trẻ đến khám và điều trị cho biết, hơn 90% trẻ cần tư vấn tâm lý đều có triệu chứng căng thẳng, lo âu, buồn rầu, stress do căng thẳng trong học tập, mất ngủ Nặng hơn (khoảng 30%), số trẻ không thiết tha cuộc sống, và có hành động uống thuốc, hoặc tìm những biện pháp khác để tự vẫn Một cuộc điều tra của Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe và Trung tâm Đào tạo Cán bộ Y tế TP Hồ Chí Minh (năm 2009) thực hiện ở học sinh Trung học tại 27 trường trong thành phố cho thấy: có đến 26% nữ sinh và 16% nam sinh có dấu hiệu bệnh trầm cảm Một cán bộ quản lý giáo dục lâu năm nhận xét: phải chăng vì áp lực học tập đã khiến cho ở từng lứa tuổi của học sinh mà nảy sinh hai hiện tượng trái ngược nhau khá phổ biến: cấp II thì tửng theo kiểu phá phách, bất trị còn lên đến Trung học phổ thôngnhiều em lại nóng nảy bất thường, mất hết mọi hứng thú, buồn rầu, mệt mỏi trong sinh hoạt và học tập

Với những suy nghĩ và trăn trở trên, tác giả đã quyết định thực hiện đề tài

“Tìm hiểu các yếu tố tạo nên áp lực trong quá trình học tập ở học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” với mẫu nghiên cứu được

chọn từ ba trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, trường Trung học phổ thông tư thục Trương Vĩnh Ký và trường Trung học phổ thông Lý Thường Kiệt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để khảo cứu và đánh giá

2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu các yếu tố tạo nên áp lực trong quá trình

học tập ở học sinh Trung học phổ thông (THPT) tại thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) hiện nay

Khách thể nghiên cứu: Học sinh THPT

Phạm vi nghiên cứu: 3 trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – quận 5,

THPT Lý Thường Kiệt – huyện Hóc Môn và THPT tư thục Trương Vĩnh Ký - quận 11 trên địa bàn TPHCM

- Về địa bàn nghiên cứu: Do bị giới hạn về thời gian và nguồn nhân (kinh tế

lẫn nhân lực), cuộc nghiên cứu này chỉ tiến hành khảo sát tại 3 trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – quận 5, THPT Lý Thường Kiệt – Hóc Môn và THPT tư thục Trương Vĩnh Ký- quận 11 Đây là 3 trường có những nét đặc thù riêng: Một trường chuyên có chất lượng đào tạo cao trong thành phố, lại

Trang 17

nằm ở một quận trung tâm và có bề dày lịch sử Một trường không chuyên (hệ công lập) ở ngoại thành TPHCM với chất lượng đào tạo thấp hơn Một trường THPT tư thục được đanh giá là trường đào tạo trung học ngoài công lập có uy tín trong thành phố với kết quả tốt nghiệp THPT hàng năm trên 90%

- Về đối tượng nghiên cứu: Hiện nay học sinh nói chung và học sinh THPT

đang phải tiếp nhận một chương trình học với nhiều thay đổi Việc đáp ứng những yêu cầu cao về trình độ của gia đình, nhà trường và xã hội đã khiến không ít học sinh THPT chịu nhiều áp lực: áp lực điểm số, áp lực thành tích,

áp lực thi cử….Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh cũng như thời gian dành cho các hoạt động vui chơi giải trí

- Về khách thể nghiên cứu: Sở dĩ nghiên cứu chọn lứa tuổi học sinh THPT với

độ tuổi từ 15 – 18 vì đây là độ tuổi đầu thanh niên, có nhiều biến động tâm sinh lý đặc thù nhất Đặc biệt đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong cuộc đời, chuẩn bị bước từ trường học sang trường đời nên rất được quan tâm và

kỳ vọng

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Thông qua việc tìm hiểu những yếu tố gây nên áp lực hoc tập cho học sinh

để có cái nhìn toàn diện hơn về khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh phổ thông trung học và chất luợng giáo dục đào tạo ở bậc phổ thông cũng như sự tác động của áp lực học tập lên quá trình xã hội hoá cá nhân Qua đó tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cũng như mục đích đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng (có kiến thức khoa học, có kỹ năng sống và khoẻ mạnh về thể chất lẫn tinh thần)

3.2 Mục tiêu cụ thể

Cuộc nghiên cứu này phân tích thực trạng áp lực học tập hiện nay của học sinh thông qua :

o Chương trình học ở bậc Trung học phổ thông

o Chủ nghĩa thành tích trong trường học

o Việc học tập nâng cao kiến thức của học sinh

Trang 18

Phân tích các nguyên nhân tạo nên các áp lực học tập thông qua:

o Tương quan giữa kết quả học tập và thời gian giành cho việc

học

o Tương quan giữa chương trình giảng dạy và thời gian học

o Tương quan giữa thời gian học tập và tổng thời gian trong

một ngày (24 tiếng)

o Tương quan giữa kỳ vọng của nhà trường, của gia đình và

hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông

o Tương quan giữa thời gian hoạt động ngoại khóa và thời gian

học tập của học sinh

o Tương quan giữa thị trường lao động hiện nay và hoạt động

học tập của học sinh Trung học phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng áp lực học tập và ảnh hưởng của nó với học sinh THPT

Xác định những cứ liệu trong việc tìm hiểu những học sinh sẽ phải gánh chịu những ảnh hưởng không tốt gì từ những áp lực trên? Tác giả đề tài

sẽ phải tìm hiểu, thu thập thông tin từ nhiều nhóm đối tượng: học sinh nam, học sinh nữ, các bậc phụ huynh, các Thầy cô trong nhà trường và

cả các nhân viên xã hội đang làm việc hay cộng tác tại các phòng tham vấn/ tư vấn học đường trên địa bàn TPHCM

Kết quả đề tài cũng phải cung cấp những thông tin chính xác về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gây nên áp lực học tập đến học sinh? Họ đã gặp những khó khăn gì và đã giải quyết chúng như thế nào? Những vấn đề gì đang được đặt ra?

5 Nội dung nghiên cứu:

o Mô tả thực trạng chung của vấn đề “áp lực học tập” hiện nay của học sinh phổ thông trung học tại 3 trường ở TPHCM qua các chiều cạnh: chương trình học ở bậc THPT, chủ nghĩa thành tích trong nhà trường, việc học nâng cao kiến thức của học sinh

Trang 19

o Tìm hiểu một vài yếu tố tạo nên sự căng thẳng trong việc học tập của học sinh từ phía gia đình, nhà trường, xã hội và chỉ ra được tại sao những yếu tố này còn tồn tại

o Xem xét sự cân đối giữa thời gian học tập và thời gian thư giãn để từ đó có lời giải thích hợp cho bài toán “cân bằng học tập và vui chơi”

o Hệ quả của tình trạng áp lực cao và mức độ ảnh hưởng tới sức khoẻ thể chất, tinh thần của học sinh

o Đề xuất một số khuyến nghị hướng đến sự cân bằng

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng Việc thu thập và phân tích các thông tin định lượng để xác định mức độ áp lực đến đâu, đồng thời qua đó chỉ ra yếu tố gây nên áp lực Từ đó có sự phân tích

cụ thể và chi tiết những hình thức áp lực này của từng yếu tố đến học sinh THPT

Ngoài ra, tác giả sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để có dữ liệu phân tích sâu hơn những loại hành vi ứng xử của học sinh để vượt qua được (hoặc bị tác động xấu/ hạn chế bởi ) tình trạng bị áp lực Từ đó có cái nhìn toàn

vẹn nhất về vấp đề áp lực trong hoạt động học tập của học sinh

Để thu thập các dữ liệu nghiên cứu định lượng và định tính, tác giả sử dụng

các phương pháp thu thập thông tin sau:

Để thu thập thông tin định lượng : Tác giả sử dụng công cụ khảo sát bằng bảng hỏi với các câu hỏi được xây dựng sẵn Mẫu nghiên cứu là những học sinh

THPT (độ tuổi từ 16 – 19 tuổi) đang học tập tại ba trường (THPT Trương Vĩnh

Ký, THPT chuyên Lê Hồng Phong, THPT Lý Thường Kiệt ) trên địa bàn TPHCM Cuộc nghiên cứu tiến hành cả hai phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn và mẫu phân tầng (phân tầng theo tiêu chí giới tính)

Nội dung chính của bảng hỏi:

- Thông tin về nhân khẩu học

- Vấn đề lien quan đến hoạt động học tập của học sinh

+ Mục đích của việc học

+ Chia sẻ việc học

- Mối quan hệ giữa gia đình và việc học tập của học sinh

+Mức độ quan tâm của gia đình với con cái

Trang 20

+Sự kỳ vọng của gia đình với con cái

+Mức độ hài lòng của gia đình

+Cảm giác của học sinh về sự mong đợi của gia đình

- Mối quan hệ giữa nhà trường và việc học tập của học sinh

+Cảm nhận của học sinh về chương trình học THPThiện nay

+Nội dung và phương pháp giảng dạy THPT

+Mục đích của việc học thêm

+Mức độ quan tâm của nhà trường với học sinh

+Sự kỳ vọng của nhà trường với học sinh

+ Cảm giác của học sinh về sự mong đợi của nhà trường

- Mối quan hệ của cộng đồng và nhóm bạn đến việc học tập của học

sinh + Sự kỳ vọng từ phía xã hội

+Ảnh hưởng của nhóm bạn đến việc học tập

+Cảm giác của học sinh về sự mong đợi của xã hội

- Việc học tập của học sinh

+ Thời gian học (tại trường, tại nhà, học thêm, học ngoại khóa…)

+Hiệu quả của các phương pháp học

+Số tiết học trong 1 tuần, 1 buổi

+Số bài tập về nhà trong 1 buổi học

- Những ảnh hưởng từ việc học căng thằng

+ Sức khỏe thể chất, tinh thần

+Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh

Nội dung của bảng hỏi này đề cập đến các vấn đề thuộc về thông tin cá nhân học sinh cũng như các thông tin liên quan đến hoàn cảnh gia đình để tiện so sánh Nhưng quan trọng hơn vẫn là các vấn đề xoay quanh hoạt động học tập, những điều làm căng thẳng khi học tập tại nhà, tại trường cũng như mức độ hài lòng của

bố mẹ đối với kết quả học tập của con cái Thông qua đó có cách điều chỉnh để áp lực này không phải là điều khiến học sinh lo lắng

Cuộc nghiên cứu này tiến hành ở 3 trường:

- Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – quận 5 là một trong những trường chuyên có tiếng của TP với chất lượng đào tạo phổ thông xếp loại hàng đầu, chất lượng đầu vào và đầu ra rất cao Việc trở thành học sinh của

Trang 21

trường phải trải qua một kỳ thi tuyển rất gắt gao Với một môi trườnng học tập căng thẳng và đầy tính cạnh tranh như thế, đòi hỏi bản thân mỗi học sinh phải cố gắng hết mình

- THPT Lý Thường Kiệt – huyện Hóc Môn lại là một trường ngoại thành,

cơ sở vật chất và chất lượng đầu vào không cao bằng các trường nội thành

- Trường THPT tư thục Trương Vĩnh Ký – quận 11 là một trường dân lập bán trú Học lực của các em lúc mới vào trường nhìn chung là thấp so với học sinh công lập Nhiệm vụ và phương hướng của trường: đào tạo học sinh THCS và THPT; từng bước vững chắc tiếp cận mô hình giáo dục hiện đại, hội nhập với các nước phát triển trong khu vực và thế giới Vì thế, học lực của các em lúc mới vào trường nhìn chung là thấp so với học sinh công lập

Để thu thập thông tin định tính : tác giả sử dụng công cụ phỏng vấn sâu

đối với các đối tượng cụ thể sau

 6 học sinh của 3 trường thuộc 3 khối lớp: 10,11 và 12

 3 phụ huynh học sinh có con em đang theo học lớp 10, 11, 12

 3 giáo viên của 3 khối lớp 10, 11, 12

 1 nhân viên phụ trách mảng tư vấn học đường

 13 cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm, sau đó tiến hành gỡ băng và phân tích theo nhóm vấn đề

Đối với dữ liệu thứ cấp: Thu thập và phân tích thông tin từ các cuộc nghiên

cứu xoay quanh vấn đề này Chủ yếu ở khía cạnh ảnh hưởng của nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình đến việc giáo dục con cái trong đó có cả hoạt động học tập; các mối quan hệ giữa hoạt động học tập và các thiết chế xã hội khác Bên cạnh đó

là các thông tin từ các ấn phẩm truyền thông đại chúng: sách, báo, tạp chí xã hội học…và nguồn số liệu từ phòng kế toán của 3 trường THPT tiến hành khảo sát

Mẫu nghiên cứu là học sinh nam nữ của cả 3 khối lớp (10, 11, 12) bao gồm

cả học sinh nam và học sinh nữ, có sự cân bằng về giới tính và đều ở trong độ tuổi

từ 16-19 của trường ba trường PTTH nói trên

Cách chọn mẫu: Tác giả sẽ lập ra danh sách các trường THPT (hệ công lập –

chuyên; hệ công lập; hệ tư thục) trên địa bàn TPHCM phân thành 3 cụm Chọn ngẫu nhiên ba trường đại diện cho ba cụm với những đặc trưng và tính chất đại

Trang 22

diện cho mỗi cụm Sau đó, tác giả sẽ lấy số liệu từ phòng kế toán của 3 trường: THPT tư thục Trương Vĩnh Ký, THPT chuyên Lê Hồng Phong, THPT Lý Thường Kiệt ở cả 3 khối lớp 10, 11, 12 Phân ra từng cụm cụ thể như sau

o Đơn vị mẫu bậc 1 là 3 trường THPT

o Đơn vị mẫu bậc 2 là 3 khối lớp 10, 11,12 của 3 trường

o Đơn vị mẫu bậc 3 là 9 lớp của cả 3 cấp học tại 3 trường khảo sát

Như vậy, sau khi chọn ngẫu nhiên (bốc thăm) trong danh sách lớp được cung cấp trong mỗi khối lớp tại ba trường khảo sát, tác giả sẽ chọn ra các mẫu phù hợp cho mỗi lớp: 15 nam và 15 nữ / lớp học (được chia bằng phương pháp phân tầng theo giới tính, tuổi – lớp)

Trang 23

DUNG LƯỢNG MẪU

270 mẫu

KHUNG MẪU Học sinh THPT tại TPHCM

THPT Lý Thường Kiệt – huyện Hóc

Môn

1789 học sinh

THPT tư thục Trương Vĩnh Ký –

1 lớp (5)

1 lớp (6)

1 lớp (7)

1 lớp (8)

1 lớp (9)

Trong mỗi lớp (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9) sẽ chọn ra 15 học sinh nam và 15 học sinh nữ

(30 x 9 =270)

Trường PTTH

chuyên

Trường THPT công lập

Trường THPT

tư thục

Trang 24

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

7.1.Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu đề với nội dung phân tích những yếu tố tạo nên áp lực trong

quá trình học tập của học sinh THPT có một ý nghĩa khoa học rất lớn Trước hết,

đề tài nghiên cứu có vận dụng những kiến thức chuyên ngành Xã hội học: Xã hội học giáo dục, Giới và phát triển, Dư luận xã hội, và kiến thức chuyên ngành Công tác xã hội: Công tác xã hội với cá nhân, nhóm, trẻ em, gia đình, học đường…Tác giả có dịp được vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn, và cũng trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thu được, mong muốn lớn của tác giả là có thể bổ sung cho hệ thống những kiến thức chuyên ngành Xã hội học và Công tác xã hội về lĩnh vực trẻ em, gia đình, trường học Thứ hai, đối với Xã hội học, đối tượng nghiên cứu của ngành là áp lực học tập, một khái niệm vẫn còn khá mới mẻ trong các nghiên cứu Xã hội học Do đó, ngoài ý nghĩa khoa học là làm phong phú thêm hệ thống kiến thức chuyên ngành xã hội học thì kết quả nghiên cứu của đề tài còn gợi

mở cho những hướng nghiên cứu khác nhau trong những đề tài tiếp sau và làm tài liệu tham khảo, giúp ích cho những người quan tâm tiếp tục những nghiên cứu sâu hơn

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giúp cho các nhà làm công tác giáo dục mà trước hết là phụ huynh học sinh, nhà trường và chính bản thân các em học sinh THPT có cái nhìn toàn vẹn hơn về vấn đề học tập cũng như rèn luyện kỹ năng sống, góp phần điều chỉnh những hành vi không phù hợp đang và sẽ xảy ra

Nghiên cứu góp phần khắc hoạ chi tiết hơn một góc nào đó trong bức tranh chung về sự phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ của học sinh THPT dưới tác động của áp lực trong quá trình học tập đến học sinh Qua đó hướng đến việc tìm ra xu hướng giáo dục thiết thực và phù hợp nhất với quá trình học tập và phát triển của học sinh

8 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu

8.1 Thuận lợi:

Trong quá trình tiến hành cuôc khảo sát này, chúng tôi đã học thêm được rất nhiều, đặc biệt là được cọ xát với thực tiễn, sống cùng thực tế để hiểu sâu hơn

Trang 25

về nghiên cứu khoa học thực nghiệm Thông qua đề tài này thì một trong những vấn đề giáo dục được mổ xẻ và phần nào thấy được tầm quan trọng của giáo dục trong đời sống xã hội Khi tiến hành khảo sát tại ba trường, chúng tôi nhận được

sự giuíp đỡ rất tận tình của quý thầy cô trong trường trong việc cung cấp những số liệu, những thông tin cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi làm bảng hỏi Đặc biệt hơn là sự tham gia nhiệt tình của các bạn học sinh thuộc ba khối lớp của

ba trường

8.2 Khó khăn

Tuy nhiên chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn về mặt phương pháp cũng như công tác liên hệ với đối tượng tiến hành khảo sát Đặc biệt là trong việc thu thập số liệu do trường cung cấp bởi những thông tin này liên quan đến chất lượng giáo dục của trường Hơn nữa đây là vấn đề mà các phương tiện truyền thông đại chúng đề cập đến rất nhiều nên không tránh khỏi những thông tin cung cấp không phản ánh đúng thực tế đang diễn ra Khó khăn lớn nhất chính là ở nội dung mà chúng tôi nghiên cứu vì nó đụng chạm đến rất nhiều vấn đề trong đó có phương pháp giảng dạy của giáo viên Thêm vaò đó, khi đề cập đến hiện tượng tăng tiết tại trường THPT Lý Thường Kiệt thì cả thầy và trò của trường đều cho là rất cần thiết

9 Kết cấu của luận văn

Đề tài gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận

Phần mở đầu bao gồm nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu; đối tượng - khách thể và phạm vi nghiên cứu; phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, những thuận lợi

và khó khăn trong quá trình nghiên cứu

Phần nội dung chính có 3 chương, có kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài

Chương 2: Khái quát chung về vấn đề áp lực học tập đối với học sinh trung

học phổ thông tại TPHCM hiện nay

Trang 26

Chương 3: Những nguyên nhân từ phía gia đình, nhà trường, xã hội tạo nên

áp học tập đối với học sinh THPT tại TPHCM hiện nay

Phần kết luận bao gồm những nhận định dựa trên những thông tin thu được, đồng thời đưa ra một vài khuyến nghị đối với các tổ chức, cơ quan chính quyền để

có những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về quá trình học tập và nhằm hạn chế áp lực đối với học sinh THPT

Ngoài ba phần chính trên luận văn có thêm phần phụ như danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, biểu đồ, đồ thị; danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Trang 27

PHẦN NỘI DUNG

Trang 28

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

Kiến thức nhân loại vô tận bao la và giáo dục chính là chìa khoá để chinh phục đỉnh cao tri thưc ấy, là đòn bẩy kích thích cá nhân cùng hoạt động vươn lên Đối với học sinh, lại còn quan trọng hơn khi học tập là hoạt động chính và việc lĩnh hội kiến thức một cách khoa học là điều rất cần thiết Nhưng một thực trạng đáng buồn hiện nay chính là việc học sinh chịu áp lực quá nhiều trong học tập, thời gian học chiếm gần hết thời gian hoạt động trong ngày Đã có không ít bài báo, tạp chí, kể cả những cuộc nghiên cứu xoay quanh các khía cạnh của vấn đề này Hầu hết đều tập trung vào mổ xẻ căn bệnh thành tích trong giáo dục cũng như giáo dục trong gia đình hiện nay cũng như mặt trái của việc giáo dục phi phươnng pháp Thế nhưng việc nghiên cứu một cách quy mô vaò tận gốc rễ của vấn đề mang tính hệ thống lại không nhiều và chưa đầy đủ Mặc dù đây là một đề tài có tính thời sự nóng bỏng và đề cập rất nhiều trong thời gian qua nhưng vẫn chỉ là sự phản ánh của các phương tiện truyền thông đại chúng Chủ yếu là đề cập đến sự quá tải chương trình học đối với hoc sinh nói chung,vẫn chỉ dừng ở việc kêu goị cảnh báo và chỉ tập trung ở những thời điểm nhất định như mùa tựu trường, mùa thi… Sự phản ánh này dù sao cũng khai thác được phần nào thực trạng học tập hiện nay của học sinh các cấp hướng sự tham gia đông đảo của dư luận nhằm tìm

ra hướng giải quyết phù hợp Các bài báo chưa đi sâu vào khai thác những khía cạnh xã hội của hiện tượng này

Bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Minh –“Gia đình - nguồn hỗ trợ tình cảm cho thanh niên và vị thành niên”- tạp chí XHH- số 3(95) 2006, tr 45 chủ yếu phân

tích các yếu tố về điều kiện kinh tế, đặc điểm loại hình gia đình cũng như học vấn của cha mẹ đã tác động như thế nào đối với sự phát triển của con trẻ Ngoài ra, bài viết còn đưa ra một số biểu hiện cảm giác của bản thân trẻ khi gia đình đặt quá nhiều kì vọng cũng như xoay quanh việc gia đình là một trong những nguyên nhân tạo áp lực cho trẻ trong học tập cũng như trong sinh hoạt hàng ngày (đặc biệt đề cập đến sức khỏe tâm lý) Dựa vào số liệu điều tra quốc gia về vị thành niên và

Trang 29

thanh niên Việt Nam SAVY năm 2003; mẫu điều tra bao gồm 7584 thanh niên trong độ tuổi 14-25 ở 42 tỉnh thành phố của Việt Nam [13, tr 56], bài viết tập trung phân tích mối quan hệ giữa các đặc điểm gia đình và một số mặt trong đời sống tinh thần của thanh niên và vị thành niên Tác giả đã khá thành công khi vận dụng lý thuyết xã hội hóa vào phân tích, quá trình xã hội hóa cá nhân không thể

hoàn thành tốt nếu môi trường gia đình không lành mạnh Nét mới trong nghiên

cứu này chính là việc đề cập đến vai trò gia đình với tư cách là nguồn hỗ trợ tình cảm cho vị thành niên được đánh giá thông qua chỉ báo về mối quan hệ giữa các đặc điểm gia đình dưới sự cảm nhận của con trẻ, về giá trị của họ, về sự kỳ vọng vào tương lai, về những trạng thái tiêu cực đã từng xuất hiện khi trẻ phải chịu sức

ép quá lớn từ việc học Các yếu tố tác động được chia thành 3 nhóm: nhóm văn hóa, nhóm yếu tố gia đình, nhóm yếu tố cá nhân đã thật sự làm rõ được vấn đề Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa chú trọng vào phân tích nguyên nhân nào là nguyên nhân chính tạo ra áp lực trong giáo dục của con trẻ, đặc biệt là sự kỳ vọng của gia đình đang ở mức nào Kỳ vọng có hẳn chỉ là trong học tập hay còn ở những hoạt động khác? Có chăng chỉ là ở khía cạnh nhỏ về đặc điểm kinh tế gia đình hay học vấn của cha mẹ nên chưa đủ độ thuyết phục và cơ sở chứng minh

Trong một bài viết được đăng trong ấn phẩm “ Trẻ em, gia đình và xã hội” của Mai Quỳnh Nam (chủ biên), tác giả Nguyễn Thị Hoa, đã đề cập khá cụ thể

xoay quanh “Hành vi có vấn đề của vị thành niên – những ảnh hưởng của bố mẹ”

(tr 167) Khái niệm hành vi có vấn đề được tác giả đề cập trong bài viết của mình chính là khái niệm chỉ một tổ hợp những hành vi không bình thường, gồm những hành vi chống đối xã hội, hành vi tình dục sớm và nguy hiểm, những biểu hiện không tốt trong học tập, sử dụng các chất kích thích (hút thuốc là, uống rượu….) của trẻ vị thành niên Tác giả cho rằng hiện tượng vị thành niên có vấn đề ngày càng gia tăng Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng đó chính là sự ảnh hưởng của bố mẹ đối với các em Phần lớn những người làm bố, làm mẹ đều yêu thương con cái, mong muốn chúng ngoan ngoãn, trở thành người

có ích Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, những đặc điểm nhân cách của bố mẹ

Trang 30

đã ảnh hưởng không tốt đến hành vi đạo đức của con cái; trong những trường hợp khác, cách ứng xử không đúng mực của bố mẹ với con cái cũng là yếu tố ảnh hưởng không tốt đến chúng Bài viết còn chỉ ra rằng những bất hòa của bố mẹ với con cái ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của con cái Do buồn chán, lo sợ mà nhiều em sinh ra chán nản học hành thua sút hẳn Ở trường các em bị thầy cô khiển trách, về nhà các em không được bố mẹ động viên, quan tâm hoăc thậm chí

có những bố mẹ khi biết kết quả của con cái sa sút không chịu tìm hiểu lý do mà chỉ lo chê trách con em mình

Nếu như tác giả Nguyễn Hữu Minh đề cao yếu tố kỳ vọng thì một nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Hồng Thái lại xoáy vào yếu tố cung cách đối xử (hành vi) của cha mẹ đối với con cái Lâu nay, khi chúng ta nghe đến cụm từ lạm dụng, ngược đã trẻ em…chúng ta hầu như chỉ nghĩ đó là sự đánh đập, hãm hiếp, buôn bán trẻ em….Song mấy ai nghĩ rằng nó còn là sự áp đặt ý muốn của người

lớn- lạm dụng trẻ em về tâm lý và cảm xúc Chính vì thế trong bài viết “ Lạm dụng, ngược đã trẻ em – một vấn đề xã hội cần quan tâm” đăng trên tạp chí XHH

– số 4(84) – năm 2003, tr.76 tác giả đã cho chúng ta biết thêm về nghiên cứu mới

này Đây là kết quả thực nghiệm từ cuộc nghiên cứu “Lạm dụng ngược đãi trẻ em”

do UNICEF phối hợp với Trung tâm nghiên cứu về phát triển tiến hành nhằm khảo sát sơ bộ về các hình thức lạm dụng trẻ em và tìm hiểu xem cộng đồng hiểu biết như thế nào về các hình thức lạm dụng trẻ em Nghiên cứu này sử dụng chủ yếu là các phương pháp định tính với 9 nhóm trẻ em (học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ sở, học sinh trung học phố thông, trẻ ở các trung tâm bảo trợ xã hội, trẻ trường giáo dục, trẻ đường phố, trẻ lang thang trẻ cộng đồng, sinh viên năm đầu, trung tâm phục hồi chức năng) và 7 nhóm người lớn (cha mẹ, giáo viên, giảng viên, cơ quan chính phủ, cơ quan phi chính phủ, cán bộ trung tâm bảo trợ xã hội, doanh nghiệp tư nhân) thuộc các hoàn cảnh xã hội khác nhau tại Hà Nội, Lào Cai,

An Giang Ở đây, tác giả chỉ ra rằng tình trạng lạm dụng ngược đãi trẻ em trong thời gian qua ở Việt Nam bị tác động một cách tiêu cực do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế và đời sống cơ chế thị trường đem lại thể hiện ở cả thể xác lẫn tinh

Trang 31

thần Khác với các nghiên cứu trước, nghiên cứu này đề cập đến việc trẻ không được chăm sóc đầy đủ về thể chất và tinh thần ngay trong những gia đình có kinh

tế khá giả Ngoài ra, bài viết còn xoay quanh việc người lớn áp đặt ý muốn của mình cho trẻ về tâm lý, cảm xúc Trong khi nhiều chuyên gia phúc lợi trẻ em và các chuyên gia có liên quan khác đã nhận thấy được sự nguy hại của lạm dụng tâm

lý, cảm xúc trẻ em thì người ta lo lắng rằng xã hội vẫn chưa nhận thức đúng về vấn đề này Bệnh chạy theo thành tích tại các trường học, khiển trách mắng mỏ con khi con bị điểm thấp và nhất là vấn đề tạo ra sức ép học tập lên vai trẻ được xếp vào hình thức lạm dụng này Tuy vậy, cuộc nghiên cứu chưa chỉ ra được mức

độ và phạm vi ảnh hưởng của sức ép lên vai trẻ Sự kỳ vọng này phụ thuộc như thế nào vào điều kiện kinh tế gia đình?

Với những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn hơn thì trẻ có bị lạm

dụng không và mức độ ra sao? Tác giả Phạm Thu Phương trong nghiên cứu “Nghề nghiệp của cha mẹ và việc giáo dục con cái trong gia đình” (tr 121) đề cập trong tài liệu “Trẻ em, gia đình và xã hội” của Mai Quỳnh Nam (chủ biên), NXB chính

trị xã hội 2004 đã chỉ ra những yếu tố tác động cụ thể trên Giáo dục con cái trong gia đình không phải chỉ là mối quan tâm mà còn là nỗi lo lắng hàng đầu của các bậc cha mẹ đặc biệt là tại nơi thành thị nơi xảy ra nhiều thay đổi nhanh chóng Các bậc cha mẹ ngoài công việc luôn phải dành thời gian và tiền bạc để đầu tư cho con cái nhưng không phải cách đầu tư nào cũng là phù hợp và đạt hiệu quả Phương pháp thu thập thông tin được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp định lượng 150 hộ gia đình 150 hộ gia đình được chọn trong mẫu thuộc phường Kim Liên Mẫu được chọn từ 10 tổ dân cư trong tổng số 20 tổ của phường Trong đó 40,7% người trả lời là nam giới và 59,3% là nữ giới Phương pháp phân tích bảng hai chiều được sử dụng chủ yếu đề xem xét sự khác biệt về nghề nghiệp trong quan niệm, kỳ vọng và thực tế nuôi dạy con cái của cha mẹ ở mỗi gia đình Nghiên cứu này đã mở ra một hướng mới khi đưa ra những thông số trong việc giáo dục ý thức học tập của con trẻ Đa số các bậc cha mẹ luôn kỳ vọng về tương lai tốt đẹp của con cái nhưng lại có những phương pháp giáo dục khác nhau tùy thuộc vào

Trang 32

đặc điểm kinh tế, học vấn, nghề nghiệp của gia đình Kỳ vọng cho con học hết trung học 4,9%, học hết cao đẳng đại học 94,3% 38% người được trả lời cho rằng yếu tố quan trọng nhất để trẻ học tốt là theo nghề nghiệp của người trả lời Kỳ vọng vào một tương lai tốt đẹp của con cái ở hầu hết các bậc cha mẹ là con cái học tốt

để sau này có nghề nghiệp ổn định, điều đó thúc đẩy việc các bậc phụ huynh dồn

ép con mình phải học Nét mới trong nghiên cứu: Cụ thể hóa bằng những biến độc lập như đặc điểm kinh tế, học vấn, nghề nghiệp của gia đình đối với vấn đề tạo sức

ép cho trẻ Ở đây, kỳ vọng trong học tập của con cái quan hệ mật thiết với phương pháp giáo dục riêng từng phụ huynh Đặc biệt là mối tương quan rõ nét giữa trình

độ học vấn của cha mẹ với khả năng học tập của con cái Bên cạnh đó, việc kỳ vọng vào khả năng học tập của con trẻ không chỉ là phụ thuộc vào yếu tố nghề nghiệp mà nó còn là sự cộng hưởng của rất nhiều yếu tố khác Kỳ vọng quá mức

sẽ gây áp lực cho học sinh Ở đây cần xác định vai trò của ba yếu tố chính là gia đình, nhà trường, xã hội trong việc giáo dục con em, đặc biệt liệu có hay không mối tương quan giữa phương pháp dạy và kỳ vọng của gia đìn

Đề tài KX 07 – 09 của trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ “ Gia đình và những vấn đề về giáo dục gia đình” thì giáo dục gia đình là yếu tố quan

trọng vừa giúp học sinh cảm thấy thoải mái trong việc học nhưng đồng thời khiến các em tăng thêm áp lực Cha mẹ là những người thầy dạy học không tiếc công sức thời gian để hướng dẫn con cái nhưng đáng tiếc có nhiều trường hợp họ lại thiếu kiến thức cần thiết khiến trẻ cảm thấy sợ hãi, không hứng thú trong việc học Cách tiếp cận nhóm trong nghiên cứu này của tác giả xem ra đã đánh đúng vào tiêu điểm của vấn đề Gia đình vừa là một thiết chế xã hội nhưng đồng thời cũng là một nhóm chính thức với tất cả các mối quan hệ gắn kết Học sinh vừa là thành viên của nhóm ấy nhưng điều cần phân biệt ở đây là các quy tắc đề ra trong nhóm cũng như các kỳ vọng Một kỳ vọng vượt quá khả năng sẽ tạo ra xung đột và xung đột lớn nhất là xung đột vai trò

Hiện tượng học sinh phổ thông có hành vi lệch chuẩn đang ngày càng gia tăng và đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Việc học sinh phổ thông vi

Trang 33

phạm các chuẩn mực hành vi không những gây khó khăn rất lớn cho xã hội mà còn ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách của các em Môi trường giáo dục không thuận lợi sẽ ảnh hưởng rất lớn và có tính chất khởi nguồn cho hành vi

lệch chuẩn của học sinh Trong một nghiên cứu của tác giả Lưu Song Hòa “Cách thức cha mẹ quan hệ với con và hành vi lệch chuẩn của con trẻ” được thực hiện

bằng phương pháp xã hội học đã thu được nhiều kết quả đáng quan tâm Tổng số khách thể tham gia khảo sát gồm 1.116 người trong đó khách thể chính gồm 532 học sinh THCS và 519 cha mẹ tham gia khảo sát chính thức, PVS 6 học sinh và 4 phụ huynh học sinh; 12 học sinh và 12 cặp cha mẹ tham gia thực nghiệm; 12 học sinh tham gia nhóm đối chứng Những hành vi lệch chuẩn này chủ yếu là trốn học,

bỏ học, bạo hành trong trường học và cãi lại lời cha mẹ Trong đó, có 36% ý kiến được hỏi tại sao bạn lại có những hành vi như trên khi trả lời cho rằng chịu kỳ vọng quá lớn từ gia đình Đây chính là một nhận định khá cụ thể về kỳ vọng gia đình đối với học sinh

Tác phẩm “ Tư vấn tâm lý học đường – diệu pháp hóa giải những ẩn khuất

về tâm lý” của tác giả Kiến Văn – Lý Chủ Hưng , NXB Phụ nữ 2007, tr 224 đề

cập đến đặc trưng và cách đánh giá vấn đề thường gặp của học sinh cũng như các phương pháp trị liệu Đối tượng của tư vấn tâm lý trường học phần nhiều là học sinh vị thành niên Phương thức hình thành vấn đề ít nhiều cũng liên quan đến sinh hoạt của nhà trường, hình thức biểu hiện của vấn đề rất đa dạng, xét nguyên nhân bên trong cũng có nhiều nhân tố trong đó năm loại tâm lý này thường gặp nhất:

Trang 34

- Với học sinh: bồi dưỡng hành vi, đối chất, nâng cao xác suất phát sinh hành

vi tốt và hạ thấp hành vi không tốt, khắc phục sợ hãi và xây dựng lòng tin trường học

- Tư vấn tâm lý giáo viên: làm dịu xung đột và áp lực công việc, tích cực điều tiết với hoàn cảnh khó khăn, nâng cao tố chất tâm lý và sự thấu cảm học sinh

- Tư vấn tâm lý phụ huynh: tôn trọng và bảo hộ quyền lợi của học sinh, hỗ trợ tâm lý lạc quan cho phụ huynh, liệu pháp tư vấn gia đình …

Theo kết quả nghiên cứu "Nhu cầu tham vấn của học sinh một số trường trung học trên địa bàn Hà Nội" của TS Nguyễn Thị Mùi và các cộng sự khoa Tâm

lý (Đại học Sư phạm Hà Nội) hoàn thành vào tháng 5/2006 cho thấy, thái độ của học sinh về cuộc sống hiện tại quả đáng lo ngại Với 546 học sinh THCS và THPT tham gia nghiên cứu, số học sinh cảm thấy "rất hài lòng và yên tâm" chiếm tỷ lệ 3,2% [5, tr 164] Trong khi đó, hơn 96% học sinh đều có băn khoăn, lo lắng ở những mức độ khác nhau, trong đó mức lo lắng xen lẫn hài lòng hơn 70% Kết quả

này cho thấy, tâm trạng lo lắng, bất an là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các học

sinh Sau khi phỏng vấn sâu gần 400 học sinh, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số lĩnh vực thường nảy sinh khó khăn tâm lý ở học sinh 27,75% thanh thiếu niên đang gặp những khó khăn trong quan hệ với người khác (cha mẹ, gia đình, quan hệ với bạn bè và thầy cô giáo ) và 20% bối rối trong việc ý thức về các vấn đề của bản thân (sự đánh giá của người khác về mình, sự tự phát triển của bản thân, học tập, tu dưỡng đạo đức, ước mơ, lý tưởng và nghề nghiệp tương lai)

Giáo dục là công cụ sàng lọc của xã hội và mô hình trường chuyên lớp chọn cũng là một trong những khía cạnh khi phân tích về những áp lực trong quá trình học tập Theo như nhận xét của Einstein [7, tr.173] “nghệ thuật quan trọng của người Thầy là đánh thức niềm vui trong lao động và trong nhận thức” nhưng liệu

rằng giáo dục nhà trường đã làm được điều đó chưa? Trong bài viết “Cận cảnh học sinh trường chuyên”, Báo Sài gòn tiếp thị, số 711 ngày 31/12/2009 – phóng

viên Kim Dung cho biết: Lo lắng bị loại khỏi trường, lại phải chịu áp lực bởi kỳ

Trang 35

vọng của gia đình, sự thúc ép của giáo viên… đa số học sinh trường chuyên trên địa bàn TPHCM phải ăn vội, ngủ thiếu, cắt xén giờ chơi để chạy theo lịch học, bài

vở Hầu như học sinh nào cũng nhận xét môi trường giáo dục và chương trình đào tạo của trường mình rất tốt, thu nhận được nhiều Cha mẹ các em cũng rất yên tâm Tuy nhiên, chương trình học khiến cuộc sống của các em gần như chỉ gắn với việc học và luôn bị ám ảnh về điểm số Nhiều học sinh tự gây áp lực cho mình bằng cách ganh đua, học đêm học ngày để kiếm điểm, để trụ hạng Những cuộc ganh đua điểm số diễn ra phổ biến Kết quả là kiến thức quá nặng cũng làm cho cuộc sống của học sinh trường chuyên thiếu cân bằng và không ít trường hợp học sinh học đến nỗi phát bệnh tâm thần

Bên cạnh đó, một bài viết khác trên Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 9/6/2009 –

phóng viên Ngô Liên Hương nhân tháng hành động vì trẻ em với nhan đề “Tản mạn về áp lực” cung cấp thêm trẻ em chịu rất nhiều áp lực: về ăn, mặc ở, học

hành, vui chơi… Bên cạnh áp lực học đường, trẻ còn song song chịu áp lực từ phía gia đình Họ sẵn sàng mời thầy dạy kèm cho con Họ gửi con tại tất cả các lớp học thêm có thể Rồi nữa, ngoài đầu tư học văn hóa, họ còn cho con học thêm các môn năng khiếu Có trẻ học một lúc hai hoặc ba lớp hoặc hơn nữa như đàn, vẽ, võ , bơi…Thời gian với bọn trẻ còn eo hẹp hơn cả cha mẹ chúng Cha mẹ hãy là người khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy những tiềm năng của con trẻ Đừng vội so sánh Cũng đừng nôn nóng hay vô tình (có thể như vậy) sẽ tạo ra áp lực cho chính con cái mình

Báo Lao Động Cuối tuần số 21 Ngày 25/05/2008 nhấn mạnh “Áp lực tăng tiết: nhiều học sinh bỏ học, rối loạn tâm thần”; “Hãy để các em được nghỉ ngơi trọn vẹn_ báo Sài gòn giải phóng ngày 25/02/2007 – phóng viên Hoàng

Giang”… đã phản ánh tình trạng học sinh học quá nhiều, kỳ vọng của cha mẹ thì càng lúc càng tăng cộng thêm tình trạng học thêm, dạy kèm (gia sư) làm cho các

em thiếu hẳn những thời gian nghỉ ngơi Kết quả, có một số trường hợp rối loạn tâm thần, mất niềm tin vào cuộc sống

Trang 36

Thời báo kinh tế Sài Gòn số ra ngày 08/05/2008 có đề cập đến bài viết của

tác giả Trần Hữu Quang “Những áp lực trong trường học” lấy kết quả phân tích từ

cuộc khảo sát năm tỉnh thành miền Nam (An Giang, Đaklak, Trà Vinh, Vĩnh Long, TPHCM) vào tháng 11-12 năm 2007 do Thời báo Kinh tế Sài Gòn thực hiện

đã phác họa một bức tranh khá tổng quát về áp lực của giáo viên và của học sinh trong trường học hiện nay Áp lực của giáo viên được đề cập đến trong khảo sát khá đa dạng: ngoài các loại công việc phải kiêm nhiệm (giáo viên chủ nhiệm (chiếm 66% giáo viên), làm đồ dùng dạy học (49%), làm các loại sổ sách (45%), làm công tác đoàn thể (32%), thu tiền học phí hoặc các khoản thu khác (20%) ), người giáo viên còn phải gánh chịu nhiều áp lực ngay trong lao động chuyên môn của mình, như: chương trình quá tải, sách giáo khoa có nhiều nội dung nặng nề và không thích hợp, cách ra đề thi nhiều khi bất hợp lý, áp lực hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục ở địa phương, áp lực của các phong trào thi đua, áp lực của các đợt thanh tra, kiểm tra và dự giờ Phần lớn giáo viên (79%) cảm thấy “bị áp lực

về chỉ tiêu, thành tích trong hoạt động giảng dạy” Áp lực nặng nề không phải chỉ xảy ra với giáo viên, mà kể cả với học sinh, khi phải đối phó với một chương trình bất hợp lý, những bộ sách giáo khoa quá tải, và phải liên tục đi học thêm mà không còn thời gian nghỉ ngơi hay vui chơi Kết quả cuộc khảo sát của chúng tôi cho biết có tới 48% học sinh trong mẫu điều tra ở năm tỉnh thành có đi học thêm, trong đó 22% học thêm ngay tại trường, và 26% học thêm tại nhà thầy cô Tỷ lệ đi học thêm cao nhất là ở cấp THPT: 65%, trong khi ở cấp THCS là 51%, và tiểu học 35% So sánh giữa các tỉnh thành trong mẫu khảo sát, TPHCM là nơi có tỷ lệ đi học thêm cao nhất: 75%, trong khi ở Trà Vinh và Vĩnh Long là 35%, An Giang 21%, và Daklak 66%

Nhìn chung không thể thống kê hết có bao nhiêu bài báo cáo cũng như các

ấn phẩm báo chí, các diễn đàn xung quanh vấn đề áp lực học tập Thế nhưng các công trình mang tính quy mô và hệ thống dưới cách tiếp cận của xã hội hoc chưa nhiều và nhất là đề cập đến những ảnh hưởng lâu dài mang tính xã hội chưa được

đề cập Có chăng chỉ là một vài yếu tố đơn lẻ và chưa sát với vấn đề Các nghiên

Trang 37

cứu chủ yếu nhấn mạnh những tác động không tốt về sức khoẻ thể chất, tinh thần cũng như ảnh hưởng của nó đến hoạt động vui chơi giải trí của học sinh Vì thế trong phạm vi của đề tài này, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu áp lực học tập của học sinh dưới góc nhìn xã hội học với việc tìm hiểu những khía cạnh xã hội của

hiện tượng trên

1.2 Thao tác hóa khái niệm

1.2.1 Vai trò- vai trò xã hội

Nói đến vai trò xã hội là nói đến những hành vi xã hội mong đợi ở một cá nhân tương ứng với một địa vị nào đó Vai trò là động lực đưa vị trí vào cuộc sống Khái niệm vai trò được sử dụng khi nói đến vai diễn của một diễn viên trên sân khấu Gắn với một vai trò là một kịch bản mà nó nói với chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với người khác và họ sẽ hành động với chúng ta ra sao

Vậy một vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Nhưng sự mong đợi này xác định các hành vi của con người xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữa một địa vị [9, tr 208]

- Kỳ vọng cưỡng chế: là những mong đợi từ một nhóm xã hội nào đó đối với mỗi thành viên Chế tài áp dụng trong trường hợp này chỉ là áp lực

về tinh thần để làm áp lực đối với các thành viên [8, tr 208]

Trang 38

Đối với học sinh, kỳ vọng này không chỉ mong ước cho tuổi trẻ khỏe mạnh

về thể chất lẫn tinh thần mà còn thể hiện ngay trong hoạt động học tập của học sinh

Áp lực tồn tại trong xã hội, có tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển của cá nhân và xã hội

Về mặt tích cực, áp lực khiến chúng ta đứng vững vàng hơn, bước đi vững chắc hơn, chịu đựng được những áp lực lớn ở tương lai, những cuộc đấu trí kiên cường Hơn nữa, nó sẽ kích thích những sức mạnh tiềm tàng từ trong cơ thể, là động lực thúc đẩy chúng ta tiến tới khải hoàn môn cuộc đời

Áp lực học tập là sự tác động từ nhiều phía gây trở ngại khó khăn cho con

em trong quá trình tiếp cận và đón nhận tri thức Những áp lực này bao gồm: áp lực điểm số, áp lực thi cử, áp lực trường chuyên- lớp chọn, áp lực thành tích cá nhân, áp lực của nhà trường, áp lực của giáo viên, áp lực từ sự kỳ vọng của gia đình – nhà trường – xã hội….Các yếu tố này bao gồm cả sự kỳ vọng và những biện pháp chế tài ảnh hưởng đến tâm lý học sinh gây mệt mỏi, căng thẳng

Trong nghiên cứu này, áp lực học tập của học sinh được đo ở các chiều cạnh:

- Chương trình học Trung học phổ thông

Trang 39

- Thời gian dành cho việc học tại trường, tại nhà, học thêm, vui chơi giải trí…

- Chỉ tiêu, thành tích trong nhà trường

- Việc học nâng cao kiến thức theo nguyện vọng của gia đình

12 4 Quá trình học tập

Học tập là hoạt động nhận thức có hai chức năng xã cơ bản: giáo dục con người tiếp thu những nội dung và phương pháp nhận thức được khái quát hóa dưới dạng các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…tạo ra và phát triển phẩm chất năng lực con người kết tinh trong đó, làm cho tâm lý nhân cách của họ hình thành và phát triển [7, tr 160] Ngoài ra còn giúp cho thế hệ đang lớn lên gia nhập vào xã hội, lĩnh hội được những chuẩn mực giá trị của nó Hình thành được một hệ thống động cơ thúc đẩy, tạo ra sự hứng thú thực sự Hình thành được động cơ này là một quá trình mà trong đó mỗi lần thực hiện xong một nhiệm vụ học tập, người học sẽ giải quyết được một mục đích cụ thể

1.2.5 Học sinh trung học phổ thông

Học sinh là những người đang theo học tại nhà trường phổ thông Khái niệm này có sự phân biệt về trình độ học vấn của học sinh theo từng cấp (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), độ tuổi đến trường, đặc điểm tâm sinh lý cũng như sự trưởng thành về nhân cách

Học sinh trung học phổ thông [7, tr.180]là những người đang theo học tại nhà trường, có trình độ học vấn từ lớp 10 – 12, có chung độ tuổi từ 15 – 19 Đây là giai đoạn mà các em có sự trưởng thành, phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách, đặc điểm tâm lý….ở các em đã bắt đầu ý thức cao về bản thân, bắt đầu tìm kiếm các tiêu chuẩn xã hội và khẳng định vị trí của mình trong cuộc sống Giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên Hoạt động học tập lúc này đòi hỏi sự phát triển khả năng nhận thức cao, đòi hỏi tư duy lý luận, suy đoán logic

1.2.6 Gia đình

Theo quan niệm thông thường thì Gia đình là một đơn vị xã hội có ý nghĩa rất thiêng liêng, một loại tổ chức mà các nền đạo đức và pháp quyền chính thống

Trang 40

qua các thời kỳ đều thừa nhận Theo cách nhìn khoa học thi gia đình là tế bào của

xã hội, là điều kiện tất yếu bảo đảm sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội

Theo Murdock: Gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự hợp tác và tái sản xuất về kinh tế, gồm nhưng người trưởng thành trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận với một hoặc nhiều đứa trẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau [8, tr 35] Gia đình là nơi gần gũi, truyền thụ nền văn hóa dân tộc mà một nội dung quan trọng là văn hóa gia đình Nó đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành nhân cách con trẻ và có ảnh hưởng lâu dài trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân Khi nói đến giáo dục gia đình không chỉ là vai trò đối với con trẻ mà còn có ảnh hưởng lâu dài và toàn diện đối với sự phát triển của cá nhân Giáo dục gia đình mang tính cá biệt, cụ thể, chú ý đến những nét cá biệt của từng trẻ

1.2.7 Nhà trường

Nhà trường - trường học là cơ quan chủ yếu chịu trách nhiệm truyền đạt kiến thức đã được tích lũy bởi xã hội cho các thế hệ trẻ Trường học là là một tác nhân quan trọng, chính yếu của xã hội hóa, nó được cấu trúc và tổ chức một cách chặt chẽ nhằm giáo dục đào tạo ra nhân cách cho xã hội mong đợi Trường học được thiết kế sao cho kiến thức truyền đạt ở các khóa mang tính kế thừa nhau [7,

tr 134] Trong trường học, cá nhân không chỉ tiếp thu những tri thức khoa học của các môn học mà còn cả những quy tắc và cách ứng xử tức là không chỉ học văn hóa mà còn đạo đức, cách thức làm người

1.2.8 Xã hội

Theo nghĩa tổng quát, xã hội là sự gắn bó chung được xác định theo không gian và thời gian của một tập hợp các thực thể sống cùng loại và chia sẻ cùng một quan hệ sống Hiểu hẹp hơn tức là chỉ nói tới con người, một tập hợp người được giới hạn trng không gian, thời gian; đồng thời có sự sắp xếp của các cá nhân hay nhóm cá nhân, những người gắn bó với nhau trong quan hệ tương hỗ trực tiếp và

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w