Biểu hiện số năm làm công tác xã hội của người trả lời 47 Biểu đồ 2.3 thể hiện công việc cụ thể của Nữ tu trong hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh 58 Biểu đồ 3.1 Thể hiện vai trò
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ NHI CÔNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa có ai công
bố công trình nào khác
Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu thực tiễn của tôi tại một số cơ sở xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 02 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Nhung
Trang 3sự nỗ lực của bản thân, còn có biết bao công lao của các Giảng viên, dày công hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua Trong tâm tình đó, tôi xin chân thành ghi ơn:
Quý Thầy Cô Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu
để tôi có được vốn kiến thức nền tảng trong ngành xã hội
Đặc biệt xin ghi ơn Tiến sĩ Vũ Nhi Công, người hướng dẫn khoa học cho tôi trong luận văn này Cám ơn thầy trong thời gian qua đã giúp em thực hiện và hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cám ơn đến quý Nữ tu đã cộng tác với tôi trong nghiên cứu này bằng cách cho tôi những thông tin, tâm tình, kinh nghiệm cần thiết để tôi thực hiện khoá luận
Tôi xin cám ơn tất cả các tác giả của các công trình nghiên cứu, bài viết mà tôi
đã tham khảo, kế thừa tri thức của quý vị trong nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin cám ơn các bạn bè trong lớp Cao học khoá 2008 rất thân thương, các bạn luôn cùng tôi học tập, nghiên cứu và đặc biệt khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin ghi ơn tình thương yêu nâng đỡ của tất cả mọi người đã dành cho tôi Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Nhung
Trang 42.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 4
2.1.Mục tiêu tổng quát 4
2.2.Mục tiêu cụ thể 4
3.PHẠMVINGHIÊNCỨUCỦAĐỀTÀI 4
3.1 Địa bàn nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu 5
3.3 Khách thể nghiên cứu 5
4.CÂUHỎINGHIÊNCỨU 6
5.PHƯƠNGPHÁPVÀKỸTHUẬTNGHIÊNCỨU 6
5.1 Phương pháp nghiên cứu 6
5.2 Kỹ thuật nghiên cứu 7
5.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin 7
5.2.2 Kỹ thuật xử lý và phân tích thông tin 7
6.PHƯƠNGPHÁPCHỌNMẪU 8
6.1 Dung lượng mẫu 8
6.2 Cách chọn mẫu 8
7.ĐÓNGGÓPCỦALUẬNVĂN 8
7.1 Về mặt lý luận 8
7.2 Về mặt thực tiễn 8
8.GIỚIHẠNCỦALUẬNVĂN 9
PHẦN II: NỘI DUNG 10
CHƯƠNG1:CƠSỞLÝLUẬN 11
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.1.1 Những nội dung nghiên cứu 11
1.1.2 Lĩnh vực chuyên môn 13
1.1.3 Về phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận 13
Trang 51.2 Hướng tiếp cận và lý thuyết áp dụng 19
1.2.1 Hướng tiếp cận 19
1.2.2 Lý thuyết áp dụng 21
1.2.2.1 Lý thuyết vai trò 21
1.2.2.2 Lý thuyết cấu trúc chức năng 22
1.2.2.3 Lý thuyết nhu cầu 24
1.3 Những khái niệm liên quan đến đề tài 29
1.3.1 Khái niệm vai trò 29
1.3.2 Khái niệm công tác xã hội 30
1.3.3 Khái niệm tu sĩ 32
1.3.4 Khái niệm hoạt động xã hội 32
1.4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 33
1.5 Mô hình phân tích 35
CHƯƠNG2:VÀINÉTVỀCÁCHOẠTĐỘNGXÃHỘIVÀĐẶCĐIỂMCỦA CÁCNỮTUTRONGNGHIÊNCỨU 36
2.1 Tổng quan về các hoạt động xã hội của Giáo hội Công giáo tại Viêt Nam và tại thành phố Hồ Chí Minh 36
2.1 1 Giáo hội Công giáo trong xã hội Việt Nam 36
2.1.2 Các hoạt động xã hội của Giáo hội Công giáo sau 1975 đến 1990 37
2.1.3 Những hoạt động xã hội của Giáo hội Công giáo và các dòng tu Công giáo từ 1990 đến nay 40
2.2 Hoạt động xã hội của Nữ tu Công Giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.3 Vài nét đặc điểm về Nữ tu trong nghiên cứu 42
2.4 Sự quan tâm của Nữ tu về các lĩnh vực hoạt động xã hội 47
2.5 Các hoạt động xã hội của Nữ tu Công giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh 57
Trang 63.1.1 Vai trò là người chăm sóc, giáo dục 62
3.1.2 Vai trò là người chăm sóc sức khỏe 66
3.1.3 Vai trò là nhà giáo dục 71
3.1.4 Vai trò là người giúp đỡ 75
3.1.5 Vai trò là nhà tham vấn 79
3.1.6 Vai trò là nhà nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội 81
3.2.1 Các khuôn mẫu hành vi của Nữ tu trong hoạt động xã hội 82
3.2.1.1 Nhận thức của Nữ tu về các vấn đề ưu tiên trong hoạt động xã hội 82
3.2.1.2 Các đức tính cần có nơi người tham gia các hoạt động xã hội 85
3.2.1.3 Khả năng cần có nơi người tham gia các hoạt động xã hội 86
3.2.1.4 Các kỹ năng cần có nơi người tham gia các hoạt động xã hội 88
3.2.1.5 Những phẩm chất cần có nơi người tham gia các hoạt động xã hội 90
3.2.1.6 Kinh nghiệm làm việc của Nữ tu trong hoạt động xã hội 93
3.2.1.7 Phương pháp làm việc của Nữ tu trong hoạt động xã hội 96
3.2.2 Những điều kiện thiết yếu trong các hoạt động xã hội của Nữ tu 101
3.2.2.1 Kiến thức chuyên ngành 101
3.2.2.2 Những điều kiện cần thiết cho một cơ sở xã hội 104
3.2.3 Những thuận lợi, khó khăn và hướng khục phục 107
3.2.3.1 Những thuận lợi 108
3.2.3.2 Những khó khăn 110
3.2.3.3 Hướng khắc phục 113
PHẦN III: KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 116
1.KẾTLUẬN 117
2.KHUYẾNNGHỊ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 7PHỤLỤCII:BẢNPHỎNGVẤNĐỊNHLƯỢNG 144 PHỤLỤCIII:BẢNHỎIGỢIÝPHỎNGVẤNSÂUCÁNHÂN 153 PHỤLỤCIV:VĂNBẢNPHÁPLỆNHTÍNNGƯỠNGTÔNGIÁO 155
Trang 8Biểu đồ 2.1 Biểu hiện tuổi của người trả lời phân theo nhóm 43 Biểu đồ 2.2 Biểu hiện số năm làm công tác xã hội của người trả
lời
47
Biểu đồ 2.3 thể hiện công việc cụ thể của Nữ tu trong hoạt động
xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh
58
Biểu đồ 3.1 Thể hiện vai trò là nhà tham vấn của người trả lời 80
Biểu đồ 3.2 Các yếu tố quan trọng đối với nhân viên xã hội 92
Biểu đồ 3.3 Thể hiện các phương pháp cần có trong hoạt động xã
hội của người trả lời
99
Biểu đồ 3.4 Thể hiện mức độ hài lòng về kiến thức chuyên ngành
của người trả lời
102
Trang 9STT NỘI DUNG CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.2 Các thành phần trong Hôi dòng của người trả lời 44 Bảng 2.3 Trình độ học vấn và chuyên ngành của người trả lời 46 Bảng 2.4 Sự quan tâm của người trả lờ với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
Bảng 2.9 Thể hiện sự quan tâm của người trả lời về các chương trình
phát triển trong hoạt động xã hội
53
Bảng 2.10 Mức độ quan tâm của người trả lời đến các vấn đề và tệ nạn
xã hội
54
Bảng 2.11 Thể hiện sự quan tâm của người trả lời về công tác tham vấn
và nghiên cứu khoa học
55
Bảng 3.1 Thể hiện vai trò của người trả lời trong việc nuôi dưỡng 63
Bảng 3.2 Thể hiện vai trò là người chăm sóc sức khỏe 70
Trang 10của người trả lời
Bảng 3.8 Thể hiện mức độ quan trọng của người trả lời về phẩm chất
cần có nơi người tham gia các hoạt động xã hội
91
Bảng 3.9 Kinh nghiệm của Nữ tu trong hoạt động xã hội 94
Bảng 3.10 Thể hiện những điều kiện cần thiết cho một cơ sở xã hội 105
Bảng 3.12 Những điều kiện thuận lợi của người trả lời 108
Trang 12PHẦN I DẪN NHẬP
Trang 131.LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Công cuộc đổi mới đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước, mà nền kinh tế là một trong những lĩnh vực phát triển khá mạnh Song, mặt trái của quá trình chuyển đổi này đã có những tác động tiêu cực tới cá nhân, gia đình và cộng đồng ở nước ta Để vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa mang lại cho xã hội sự ổn định, xã hội đã đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức về các nhân cũng như nhóm người yếu thế trong xã hội cần được trợ giúp Trước tiên cần nói đến là nghèo đói, thất nghiệp và các vấn đề như: người goá bụa, người nghiện ma tuý, người già không nơi nương tựa, các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, việc phá thai, nạn bạo hành gia đình, ly dị và người bị nhiễm HIV/AIDS
Theo báo cáo ngày16/11/2010 của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, nước ta
có khoảng 7,5 triệu người cao tuổi; 5,4 triệu người tàn tật; 1,7 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; khoảng 3,5 triệu hộ gia đình thuộc hộ nghèo và cận nghèo cùng nhiều đối tượng khác cần có sự bảo vệ hỗ trợ [60]
Trong khi tại Việt nam, đội ngũ cán bộ, nhân viên xã hội chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp Ông Jesper Morch, đại diên UNICEF tại Việt Nam cho rằng công tác xã hội có vai trò rất quan trọng, vì muốn công việc này đạt hiệu quả cần có đội ngũ nhân viên xã hội chuyên nghiệp có những giá trị, kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội dễ bị tổn thương hiệu quả và phù hợp [52]
Trong khi đó nhân viên xã hội ở nước ta lại có phần hạn chế Theo thống kê của
Bộ Lao động Thương binh Xã hội vào năm 2009, ở nước Anh, cứ 500 dân cư thì có một nhân viên công tác xã hội Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực có tỉ lệ 1.000 dân cư thì có một nhân viên công tác xã hội Trong khi đó, tại Việt Nam 10.000 dân cư chưa có được một nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp Theo báo cáo này, tại Việt Nam hiện có khoảng 20.000 người hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công tác xã hội, nhưng đa số (chiếm hơn 81%) là chưa qua đào tạo hoặc đào tạo trái ngành Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trung tâm xã hội rất tích cực trong việc tạo điều kiện cho trẻ em, người già đơn độc, người có hoàn cảnh khó khăn có nơi nương tựa Thế nhưng, do chưa được trang bị những kiến thức cơ bản, đặc biệt là những nguyên tắc
Trang 14nền tảng, các phương pháp và kỹ năng trong khi tiếp cận và trợ giúp cho thân chủ của mình, nên chưa mang lại hiệu quả nơi người được giúp đỡ, đôi khi dẫn đến kết quả không tốt nơi thân chủ như gây tổn thương, ỷ lại, hoặc giảm sự hợp tác
Đứng trước các vấn đề xã hội của Việt Nam, đối với người Công giáo, đặc biệt với các Tu sĩ, đang làm việc trong lĩnh vực này rất băn khoăn Vấn đề được đặt ra là khả năng chuyên môn của nhũng người làm việc tại các cơ sở xã hội Nhưng làm sao
để có được hệ thống nhân viên xã hội làm việc đúng hướng, hầu không rơi vào tình trạng như trên đã đề cập
Từ những nhận định trên về các vấn đề xã hội và vai trò của nhân viên trong
công tác này, người nghiên cứu chọn đề tài: “Vai trò của Nữ tu Công giáo trong các
hoạt động xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh” Cứu điển cứu một số cơ sở xã hội
thuộc về các Dòng tu nữ tại thành phố Hồ Chí Minh, là nơi tập trung nhiều cơ sở xã hội của các Dòng tu Công giáo
Trang 152 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1.Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu vai trò của Nữ tu Công giáo trong các hoạt động xã hội tại thành phố
Hồ Chí Minh
2.2.Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu chung, đề tài cụ thể hoá thành các mục tiêu sau:
Tìm hiểu quan điểm, nhận thức của Nữ tu Công giáo về các hoạt động xã hội của họ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Phân tích vai trò nữ tu Công giáo trong hoạt động xã hội mà họ đang thực hiện Tìm hiểu về các chuẩn mực hành vi, các điều kiện trong hoạt động xã hội của
Nữ tu Công giáo và định hướng của Giáo hội Công giáo cũng như của các Hội dòng tác động đến sự ổn định phát triển xã hội
Nhận diện những yếu tố cản trở trong các hoạt động xã hội của người Nữ tu nhằm khắc phục và nâng cao vai trò của họ trong lĩnh vực này
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của các Nữ tu trong lĩnh vực hoạt động xã hội
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Địa bàn nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ sở xã hội, trong đó đa số thuộc về các cơ
sở của các tôn giáo, đặc biệt của các Dòng tu Công giáo với các hoạt động như giáo dục, chăm sóc y tế, phục hồi chức năng, hướng nghiệp dạy nghề Theo danh bạ các cơ
sở xã hội của người Công giáo tại thành phố Hồ Chí Minh, có 28 cơ sở xã hội thuộc về các Dòng tu nữ, đa số các cơ sở tập trung nhiều ở các quận Thủ Đức, quận 3 quận Bình Thạnh Chúng tôi không thể thực hiện nghiên cứu hết 28 cơ sở xã hội của các Nữ
tu Vậy trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ chọn một số cơ sở xã hội tiêu biểu được chia thành hai nhóm: nội thành và ngoại thành
Trang 16ĐỊA BÀN Quận – Huyện N %
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò nữ tu Công giáo trong hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là các Nữ tu đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh
Để nguồn cung cấp thông tin mang tính xác thực và đầy đủ, chúng tôi thu thập thông tin từ các Bề trên các dòng có thành viên của Hội dòng hoạt động trong lĩnh vực này Các Nữ tu đang phục vụ trong các hoạt động xã hội Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập thông tin từ các đối tượng thụ hưởng
Khách thể khảo sát trong định lượng là 120 Nữ tu đang phục vụ tại các cơ sở xã hội thuộc thành phố Hồ Chí Minh
Khách thể trong nghiên cứu định tính gồm có: hai bề trên, mười nữ tu đang phục
vụ tại các cơ sở xã hội, những đối tượng thụ hưởng từ hoạt động xã hội là hai người
Trang 174 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để thực hiện kết quả nghiên cứu vấn đề, chúng tôi dựa vào mục tiêu nghiên cứu
để đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi thứ nhất: các nữ tu tham gia các hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực nào ?
Câu hỏi thứ hai: vai trò của Nữ tu được thể hiện thế nào qua các hoạt động xã hội?
Câu hỏi thứ ba: các chuẩn mực về khuôn mẫu hành vi, những điều kiện, những
kỳ vọng của Nữ tu thể hiện thế nào qua các hoạt động xã hội?
Câu hỏi thứ tư: những thuận lợi và khó khăn nào nữ tu thường gặp trong các hoạt động xã hội?
5 PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài này là phương pháp nghiên cứu định lượng Thông qua việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng, đề tài sẽ mô tả các vai trò, tìm hiểu nhận thức về các chuẩn trong khuôn mẫu hành vi của các Nữ tu qua các hoạt động xã hội của họ tại tại phố Hồ Chí Minh Từ đó,
có cái nhìn khái quát về vai trò của Nữ tu Công giáo thông qua các hoạt động xã hội của họ Đồng thời nhận diện những đóng góp cũa họ cho xã hội qua các hoạt động này cũng những hạn chế cần khắc phục cho hướng hoạt động sắp tới của họ được tốt hơn
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích một cách thấu đáo các vai trò, những chuẩn mực về khuôn mẫu hành vi, những điều kiện, những thuận lợi và khó khăn trong các hoạt động xã hội của các Nữ tu Qua đó, đưa ra những đánh giá một cách xác thực hơn về vai trò của họ và có những đề phù hợp
Trang 185.2 Kỹ thuật nghiên cứu
5.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Thông tin định lượng: phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng Việc sử dụng phương pháp định lượng qua việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng để phân tích vai trò của nữ tu Công giáo qua việc tìm hiểu về các lĩnh vực hoạt động, cá chuẩn mực về khuôn mẫu hành vi qua phương pháp hoạt động, các kỹ năng, khả năng chuyên môn cũng như các chính sách về tôn giáo và xã hội Từ đó đưa ra những đánh giá xác thực những mặt tích cực, những đóng góp của người Nữ tu Công giáo cho sự ổn định và phát triển xã hội cũng như hạn chế về vai trò của nữ tu Công giáo trong hoạt động này Đồng thời tìm ra những phương hướng làm việc tốt hơn nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của người nữ
tu trong các hoạt động xã hội
- Thông tin định tính: thu thập thông tin định tính qua việc phỏng vấn sâu cá nhân bằng bản phỏng vấn bán cấu trúc để mô tả vai trò của nữ tu Công giáo trong hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên
cứu trong thông tin định lượng
5.2.2 Kỹ thuật xử lý và phân tích thông tin
- Đối với thông tin định lượng: xử lý số liệu của bản hỏi định lượng bằng chương trình Spss for windows để phân tích xác xuất thống kê Sau kkhi thông tin được mã hóa và nhập liệu, tác giả tiến hành phân tích đơn biến để mô tả đặc điểm nhân khẩu học của khách thể nghiên cứu, phân tích các vai trò, nhận thức của Nữ tu về các chuẩn mực khuôn mẫu hành vi trong các hoạt động xã hội mà họ đang thực hiện Cuối cùng, nhiên cứu đánh giá vai trò của Nữ tu trong hoạt động xã hội thông qua kết quả phân tích
- Đối với thông tin định tính: Xử lý bản phỏng vấn sâu bằng cách ghi lại những kinh nghiệm của người được phỏng vấn thành những câu chuyện Sau đó, chúng tôi phản ánh lần thứ hai, bằng cách giải thích, phân tích và rút ra thực chất của vấn đề
Trang 196 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
6.1 Dung lượng mẫu
- Thông tin định lượng: 120 Nữ tu
- Thông tin định tính: 12 Nữ tu và hai đối tượng là người thụ hưởng chương trình xã hội
6.2 Cách chọn mẫu
Để nguồn thu thập thông tin mang tính đại diện, trong đề tài này, chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên là các Nữ tu đang tham gia các hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh Mẫu khảo sát được dàn trải tương đối cân bằng qua hai nhóm quận huyện nội thành và ngoại thành
Mặc dù Đảng và Nhà Nước ta đã rất coi trọng và ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp quy nhằm hỗ trợ cho những người có hoàn cảnh đặc biêt khó khăn, song Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn nên chưa thể giải quyết một cách triệt để Nghiên cứu này cố gắng đóng góp một phần nhỏ những kiến nghị để việc thực hiện những chính sách đạt được hiệu quả hơn
7.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn chỉ ra đâu là những đóng góp của Nữ tu Công giáo cho sự ổn định và phát triển xã hội, đâu là yếu tố thuận lợi, đâu là hạn chế cần khắc phục để giúp cho người tu sĩ thực hiện tốt các hoạt động xã hội
Trang 20Xem xét về những chuẩn mực về khuôn mẫu hành vi, những điều kiện, chính sách xã hội và tôn giáo là những yếu tố mà người Nữ tu có thể hội nhập tốt vào các hoạt động xã hội
Kết quả nghiên cứu là bài học thực tế cho chính bản thân người nghiên cứu và một đóng góp nhỏ cho các Nữ tu trong lãnh vực hoạt động xã hội có thể tham khảo
8 GIỚI HẠN CỦA LUẬN VĂN
Luận văn có một số hạn chế như sau:
Đề tài nghiên cứu về “Vai trò của Nữ tu Công giáo trong hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh” có hạn chế về mẫu nghiên cứu Người nghiên cứu chỉ nhắm đến Nữ tu Công giáo, không nhắm đến toàn thể các tu sĩ Công giáo và chỉ thực hiện tại một số cơ sở xã hội thuộc thành phố Hồ Chí Minh nên có những hạn chế nhất định Nếu có thể nghiên cứu thêm về các Dòng tu Nam và Nữ hoặc giữa tu sĩ và người ngoài
để có những tương đồng và khác biệt trong lĩnh vực này, thì đề tài sẽ phong phú và mang nhiều ý nghĩa
Đề tài nghiên cứu cũng chưa tiếp cận được với nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Do đó, kết quả tổng quan có phần hạn chế, điều đó cho thấy số lượng đề tài nghiên cứu về vai trò của nhân viên xã hội nói chung và Nữ tu trong hoạt động xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh không nhiều
Cuối cùng nghiên cứu này cũng chỉ giới hạn tại một số cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, hy vọng nghiên cứu sau sẽ nghiên cứu ở tâm vĩ mô, để có được những kết quả khách quan hơn
Trang 21PHẦN II NỘI DUNG
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc tham khảo các bài viết (báo chí, tạp chí), các nghiên cứu có liên quan đến
đề tài, cho thấy các vấn đề đã được đề cập đến có thể kể đến các khía cạnh như: lối sống của người tu sĩ Công giáo, nguyên nhân thúc đẩy, các lĩnh vực hoạt động xã hội của các tôn giáo Việc tìm hiểu vai trò của Nữ tu Công giáo trong hoạt động xã hội, với phạm vi hiểu biết của người nghiên cứu có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau:
1.1.1 Những nội dung nghiên cứu
- Nguyên nhân thúc đẩy các tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội
Tác giả Nguyễn Huy Quý, thuộc Học viện Quốc gia hành chính, khi nghiên cứu
“Nguyên nhân và sự đóng góp của các tôn giáo trong lĩnh vực xã hội” [2], tác giả nghiên cứu các hoạt động của ba tôn giáo: Công giáo, Tin lành và Phật giáo Nghiên cứu trình bày những nguyên nhân thúc đẩy, các lĩnh vực hoạt động xã hội, và cuối cùng đánh giá từng lĩnh vực hoạt động xã hội của ba tôn giáo này Tác giả nhận xét rằng, có hai nguyên nhân thúc đẩy ba tôn giáo nói trên tham gia vào các hoạt động xã hội đó là nguyên nhân nội tại (tinh thần Bác ái của Thiên Chúa giáo, lòng từ bi của đạo Phật) và nguyên nhân ngoại lai (sự biến đổi của cơ cấu gia đình từ truyền thống sang hiện đại và tiến trình đô thị hóa) Tác giả dựa trên thông điệp “Các vấn đề mới” (Rerum Novarum)
và các nghị quyết của đại hội các Giám Mục Châu Á để lý giải nguyên nhân thúc đẩy các hoạt động xã hội của người Công giáo Đối với Phật Giáo, tác giả dựa trên quan niệm “Từ bi, cứu nhân độ thế ” của Phật giáo
Cùng nghiên cứu về nguyên nhân, đề tài “Nữ tu Đồng Nai với phong trào thi đua yêu nước theo đường hướng Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” [37] Phong trào thi đua yêu nước sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc, tác giả Đinh Xuân Trang và Lê Tâm Đắc đã nêu ra những nguyên nhân mấu chốt mà người Công giáo nói chung và người
tu sĩ nói riêng tham gia vào các hoạt động xã hội xuất phát từ thư chung năm 1980
Trang 23“Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” Đồng hành cùng dân tộc qua sứ mạng của mỗi Hội dòng nhằm phục vụ hạnh phúc của đồng loại.1
Mặt khác, tác giả Nguyễn Huy Quý còn nhận xét rằng chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân lớn nhất làm cho gia đình Việt Nam biến đổi, chủ nghĩa cá nhân đã lật đổ những định chế truyền thống, xây dựng một trật tự xã hội mới lấy cá nhân làm nòng cốt Hơn nữa, tiến trình đô thị hóa cũng làm cho cơ chế gia đình biến đổi từ truyền thống sang gia đình hạt nhân Trong khi định chế mới chưa đựợc xây dựng vững chắc, định chế cũ bị xóa bỏ, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, cá nhân không còn tìm thấy nơi gia đình là chỗ dựa cho bản thân, mà cần hướng đến những định chế hay đoàn thể khác trong các tôn giáo lớn
- Các lĩnh vực họat động xã hội của các tôn giáo
Các nghiên cứu trên cho thấy các lĩnh vực xã hội mà các tôn giáo nói chung và người Nữ tu Công giáo nói riêng tham gia, thường thuộc các hoạt động giáo dục, các chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc trẻ mồ côi và người nghèo tại các cô nhi viện, nhà tạm cho những người nghèo Tác giả Nguyễn Huy Quý cũng nhận xét rằng, đây là lĩnh vực được các tôn giáo đáp ứng nhiều nhất, đồng thời cũng cần sự chú ý nhiều hơn nữa về mọi mặt, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và dạy nghề Viện dưỡng lão, các viện dưỡng lão vào thời điểm này không đơn thuần là những người già lão nhưng thuộc nhiều thành phần khác nhau, bao gồm các thành phần: khiếm thị, tê liệt, khuyết tật, những người mắc bệnh lao, những bệnh nhân mắc các chứng bệnh nan y mà các bệnh viện không có khả năng chữa trị, những người hành khất được các cảnh sát đem vào Tác giả nhận định rằng, không ai có thể phủ nhận được những cố gắng của
1
Gắn bó với dân tộc và đất nước: Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2) Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa
Sự gắn bó hoà mình này đưa tới những nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm lại trong hai điểm chính:
- Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc
- Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc
Trang 24các vị Nữ tu Nhưng vấn đề đặt ra là, nếu các viện dưỡng lão đủ mọi thành phần như vậy, chắc chắn việc chăm sóc sẽ không hiệu quả, vì một nhân viên xã hội không thể một lúc đảm nhận hàng loạt các vai trò và chuyên môn khác nhau
1.1.2 Lĩnh vực chuyên môn
Tác giả Nguyễn Huy Quý qua nghiên cứu của mình đã nhận xét rằng, các thành viên làm xã hội thuộc Giáo hội Công giáo thường là các Tu sĩ và được đào tạo chuyên môn
Cùng nghiên cứu về lĩnh vực chuyên môn, đề tài “Công tác xã hội với trẻ em bị xâm hại tình dục và khả năng đáp ứng về chuyên môn của nhân viên xã hội trong lãnh vực này”[1], tác giả Huỳnh Thị Bích Phụng cho thấy, các nhân viên làm việc tại hai trung tâm, mái ấm Hoa Hồng Nhỏ và trung tâm Afesip đều có trình độ và chuyên ngành đào tạo Tám trên mười người có trình độ đại học và được đào tạo chuyên ngành
xã hội học, hai nhân viên còn lại có trình độ lớp 12 Mặc dù đã được đào tạo qua chuyên môn, nhưng nghiên cứu cho thấy nhân viên xã hội chưa đạt được kết quả tốt ở một số lĩnh vực như phục hồi tâm lý, hội nhập xã hội, theo dõi tiến trình biến đổi tâm
lý trẻ Vậy thì, để làm tốt công tác xã hội còn phụ thuộc ở nhiều yếu tố khác
1.1.3 Về phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Quý sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phân tích tư liệu có sẵn qua sách báo Song với tác giả Đinh Xuân Trang và Lê Tâm Đắc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với một số Dòng tu thuộc tỉnh Đồng Nai
Trong cách tiếp cận, tác giả Nguyễn Huy Quý và Đinh Xuân Trang sử dụng cách tiếp cận tôn giáo học Hai tác giả này đi từ tổng quát sau đó mở rộng đến từng vấn
đề Tác giả Đinh Xuân Trang cho thấy được sự hiện diện và những đóng góp của người
Nữ tu Công giáo Đồng Nai trong xã hội Điểm xuất phát của vấn đề đi từ các quan điểm dựa trên Công đồng Vatiocano II, có sự chứng minh, sự xâu chuỗi trong cách trình bày Đứng trên phương diện là thành viên của viện nghiên cứu tôn giáo và đề tài được báo cáo trong cuộc hội thảo khoa học của Ủy ban Đoàn kết Công Giáo Việt Nam
Trang 25vào năm 2005 với chủ đề: “Công đồng Vaticano II và thư chung 1980, nhìn lại và hướng tới”, tác giả đã dựa vào nội dung của thư chung 1980 nói rằng: “Người Công giáo gắn bó với quê hương, hòa mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước Sống Phúc
Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” đặt tên cho tựa đề nghiên
cứu của mình “Nữ tu Đồng Nai với phong trào thi đua yêu nước theo đường hướng
sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” Để nghiên cứu các hoạt động xã hội của các Dòng
tu nữ thuộc Giáo hội Công giáo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tác giả Huỳnh Thị Bích Phụng sử dụng cách tiếp cận xã hội học và phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng vào đề tài của mình để tìm hiểu khả năng hội nhập của trẻ bị lạm dụng tình dục và khả năng chuyên môn của nhân viên xã hội trong lĩnh vực này
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên có một số điểm hạn chế như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Quý không sử dụng lý thuyết tiếp cận, có thể nói lý thuyết đóng một vai trò trung tâm trong hầu hết các nghiên cứu xã hội.2 Lý thuyết là một tiến trình giải thích và cần thiết cho việc thực hiện một vấn đề nghiên cứu Về phương pháp nghiên cứu, nghiên cứu cho biết sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và phân tích tư liệu có sẵn qua sách báo, nhưng trong quá trình phân tích tác giả lại không trích dẫn những trường hợp điển hình, vì thế làm cho người đọc dễ hiểu nhầm đây là một nghiên cứu thứ cấp Song với tác giả Đinh Xuân Trang và Lê Tâm Đắc, trong nghiên cứu của mình, tác giả dùng tựa đề “phong trào thi đua yêu nước…” không phù hợp với đường hướng của Giáo hội Công giáo nói chung và của các dòng tu nói riêng Vì sứ mạng của Giáo hội Công giáo là sống chứng nhân Ki Tô giáo một cách liên lỉ chứ không theo phong trào, nếu theo phong trào sẽ có lúc kết thúc phong trào Lập luận này của tác giả không có cơ sở và không khách quan, vì các dòng tu Công giáo luôn luôn phải sống sứ
vụ tông đồ, xã hội của dòng mình qua mọi thời đại sao cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội, có chăng sự khép kín ấy là do hoàn cảnh lịch sử của đất nước
Như vậy, các nghiên cứu trên đã gợi mở cho nghiên cứu sắp tới về tính chuyên môn hóa các lĩnh vực trong hoạt động xã hội Trong hoạt động xã hội các vấn đề cũng
2
Trang 26khác nhau và có liên quan với nhau nên tính liên ngành, các kỹ năng, chuyên môn cũng cần được xem xét Với đề tài sắp tới, chúng tôi sẽ sử dụng lý thuyết xã hội học để tiếp cận trong nghiên cứu của mình
1.1.4 Về chức năng, vai trò và các lãnh vực hoạt động của nhân viên xã hội
1.1.4.1 Về chức năng và vai trò của công tác xã hội
Thông qua các chức năng phòng ngừa, chữa trị và phát triển của công tác xã hội, nhân viên xã hội luôn đa dạng hoá vai trò trong công việc của mình Theo National Association of Social Workers nói về vai trò của nhân viên xã hội như sau:
Nhân viên xã hội là người quan tâm đến các nhu cầu chung của cá nhân, nhóm và cộng đồng với mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người Bằng cách đó, họ tìm cách phát huy các quyền của cá nhân hay nhóm người mà
họ đang làm việc để giải quyết các khó khăn cho cá nhân hay nhóm người cần được giúp đỡ Do đó, các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, một phần đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự mở rộng về các quyền của con người
Về phía nhân viên xã hội thường là những người hết lòng vì cộng đồng Vì vậy, hệ thống giá trị, sự rèn luyện và kinh nghiệm bản thân của nhân viên xã hội đòi hỏi họ thực hiện trách nhiệm chuyên nghiệp cho việc thúc đẩy quyền con người [5,tr.115-116]
Quan điểm này cho thấy nhân viên xã hội đóng vai trò là người môi giới của sự hoà giải, là người biện hộ và tham gia các hoạt động cộng đồng Họ đóng góp cho các giá trị về phẩm giá con người và công bằng xã hội, nâng cao vị thế người nghèo và những người dễ bị tổn thương, khuyến khích tinh thần hiệp nhất và thiện chí giữa các nhóm [3, tr.182]
Trang 27Theo Andrea Barry, với ba chức năng nêu trên, nhân viên xã hội thực hiện các vai trò sau:
Vai trò tư vấn
Thông qua tư vấn, nhân viên xã hội tìm kiếm những giải pháp cho cá nhân, gia đình, các nhóm, tổ chức và cộng đồng đang gặp khó khăn thử thách Trong vai trò tư vấn của công tác xã hội, nhân viên xã hội và thân chủ bàn bạc, chia sẻ chuyên môn và cân nhắc với nhau để triển khai kế hoạch cho sự thay đổi, nhằm mục đích cho thân chủ
tự giải quyết các vấn đề của mình
Vai trò là người trao quyền
Với vai trò là người trao quyền, nhân viên xã hội sử dụng những cách tiếp cận khác nhau để cung cấp các điều kiện cần thiết cho thân chủ nhằm đạt được mục đích của họ, giúp họ đương đầu với những thách thức trong cuộc sống, tham gia vào quá trình phát triển tất yếu trong cuộc sống của họ, và thực hiện nhiệm vụ của mình và cuối cùng “trao quyền” cho thân chủ nhằm nâng cao đời sống cho họ
Vai trò là người hỗ trợ
Hỗ trợ khuyến khích sự tham gia của các thành viên trong tổ chức về những nỗ lực thay đổi, cung cấp phản hồi mang tính xây dựng, và chia sẻ thông tin về năng động nhóm Vì là người hỗ trợ, nhân viên xã hội tăng cường mối liên kết trong các tổ chức với nhau
Vai trò là người lập kế hoạch
Vì là nhà hoạch định xã hội, nhân viên xã hội cần hiểu được nhu cầu của cộng đồng, nhận ra những thiếu hụt và các rào cản trong việc cung cấp các dịch vụ, và có thể tạo điều kiện thuận lợi dựa vào tiến trình của cộng đồng hoặc thay đổi xã hội Các nhà hoạch định xã hội sử dụng nghiên cứu và lập kế hoạch chiến lược để thu thập hệ thống các dữ liệu, khám phá thay thế các tiến trình của hành động, và đề nghị thay đổi đối với các nhà lãnh đạo cộng đồng
Trang 28Vai trò là người đồng nghiệp và giám sát
Thông qua vai trò đồng nghiệp và vai trò giám sát, nhân viên xã hội phát triển quan hệ đối tác làm việc với các học viên thông qua sự tham gia của họ trong các tổ chức chuyên nghiệp, với các thành viên trong nhóm tại địa phương [68]
Vai trò là người môi giới và người ủng hộ
Nhiệm vụ chuyên nghiệp của nghề công tác xã hội là giúp mọi người tiếp cận với nguồn tài nguyên Nhân viên xã hội liên kết thân chủ với nguồn lực sẵn có bằng các cung cấp thông tin về các lựa chọn tài nguyên, tạo điều kiện thuận lợi trong việc nối kết thân chủ với các cơ quan nguồn lực, theo dõi và đánh giá những nỗ lực của họ
Vai trò là người triệu tập và người hoà giải
Nhân viên xã hội phục vụ như người triệu tập và người hoà giải với các nhóm chính thức và các tổ chức Triệu tập thúc đẩy các cuộc thảo luận liên cơ quan và lập kế hoạch, huy động mạng lưới cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả Khi có tranh cãi hoặc xung đột lợi ích phát sinh, nhân viên xã hội là người trung gian sử dụng kỹ năng đàm phán và giải quyết xung đột
Vai trò là tác nhân thay đổi hành vi
Nhân viên xã hội là người hoạt động nhằm đem lại sự thay đổi về hành vi, thói quen và nhận thức của các cá nhân, các nhóm [65]
1.1.4.2 Các Lĩnh vực hoạt động trong công tác xã hội:
Nhìn vào quá trình phát triển của ngành công tác xã hội ở các nước Châu Âu cũng như ở Việt Nam, đội ngũ những người làm công tác xã hội tham gia vào các lĩnh vực rất đa dạng và phong phú như từ các cơ sở đào tạo, y tế, bộ máy quản lý nhà nước, các tổ chức giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng đồng, các hoạt động kinh doanh cũng như các hoạt động công nghiệp Công tác xã hội cũng hướng đến các đối tượng đa dạng về
Trang 29lứa tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, mức sống, tôn giáo, cũng như có những năng lực cá nhân và xã hội khác nhau.[52]
Tác giả Trần Văn Kham cũng cho thấy rằng, các đối tượng trong ngành công tác
xã hội mà theo Hworth có thể bao gồm các lãnh vực như: người vô gia cư, các gia đình
có vấn đề về con trẻ, lạm dụng tình dục, các xung đột trong hôn nhân, các gia đình đơn thân; các cá nhân nhiễm HIV/AIDS và cuộc sống của các thành viên trong gia đình; mang thai ở tuổi vị thành niên; những cá nhân đồng giới hoặc chuyển đổi giới tính và các thành viên trong gia đình của họ; những người khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần
và các thành viên trong gia đình; trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; người di cư; người già không nơi nương tựa; những người có những khủng hoảng liên quan đến các biến cố trong cuộc sống; các nạn nhân của thiên tai dịch bệnh.[55]
Các chức năng, vai trò và các lãnh vực hoạt động của các tác giả được trình bày
ở trên là cơ sở lý luận cơ bản cho đề tài này để tìm hiểu vai trò của người Nữ tu Công giáo trong hoạt động xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời cũng tìm hiểu vai trò của người Nữ tu Công giáo được thể hiện ưu tiên ở những lãnh vực nào trong các hoạt động xã hội
Ngoài ra còn có một số bài viết trong các tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, nội san liên Tu sĩ Thành phố Hồ Chí Minh “Chia sẻ”, báo Công giáo và Dân tộc, nguyệt san
Công giáo và Dân tộc, báo Sài Gòn giải phóng… đã đề cập đến lối sống tu trì của giới
Tu sĩ Công giáo với những hoạt động tông đồ như giáo dục văn hóa cho trẻ em, những hoạt động bác ái xã hội mang tính lịch sử, linh đạo, liệt kê dựa trên các văn bản của Giáo hội Công giáo như lịch sử Công giáo Việt Nam, Công đồng Vaticano II, Hiến chế, Sắc lệnh, Thông điệp của Giáo hội Công giáo về các Dòng tu
Từ những phân tích trên, đề tài tiến hành phân tích vai trò của người Nữ tu Công giáo trong họat động xã hội, xem người Nữ tu Công giáo đóng vai trò nào qua các hoạt động đó Việc đánh giá này dựa trên kết quả thu thập được từ các Nữ tu Công giáo trong nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn sâu, bản hỏi trong nghiên cứu định lượng
Trang 301.2 Hướng tiếp cận và lý thuyết áp dụng
1.2.1 Hướng tiếp cận
- Cách tiếp cận nghiên cứu vai trò
Trong đời sống thực tế, mỗi người có một vị trí và vai trò nhất định Ví dụ vai trò của một giáo viên là giảng dạy, của bác sĩ là chữa bệnh, của cha mẹ là chăm sóc và giáo dục con cái Do đó, có thể nói vai trò của một cá nhân trong xã hội là xác định những gì cá nhân ấy phải làm ở một không gian và thời gian nhất định theo những qui tắc chuẩn mực mà xã hội đặt ra
Ralph Linton đã mô tả “vai trò” nhằm xác định vị thế của một người trong một
hệ thống xã hội [13, tr 639-640] Theo ông, vai trò là kiểu hành vi hướng tới sự mong đợi của những người xung quanh Cũng nhấn mạnh đến yếu tố hành vi, nhưng cụ thể hơn, Robert K Merton cho rằng vai trò chính là chức năng mà hành vi cá nhân hay thiết chế xã hội đảm nhận thực hiện [24, tr.248] Đối với Talcott Parsons thì vai trò của một người chính là thực hiện chức năng xã hội trong mối liên hệ với những người khác
Trong lý thuyết hệ thống xã hội về cấu trúc vai trò, nhà xã hội học Talcott Parsons đã phân tích sự tham gia của mỗi nhân vật trong hệ thống xã hội ở hai phương diện:
Một là trên phương diện vị trí, trên phương diện này vị trí của một người được
“định vị” trong mối liên hệ với những người khác trong hệ thống xã hội Parsons gọi đây là “vị thế xã hội”
Hai là trên phương diện quá trình, đó là những gì mà một người thực hiện trong mối liên hệ với người khác trong một bối cảnh có ý nghĩa chức năng đối với hệ thống
xã hội Parsons gọi đó là “vai trò” xã hội
Nhằm làm rõ những luận điểm về cấu trúc vai trò của hệ thống xã hội, Parsons
đã phân tích trường hợp thực hành y tế hiện đại trong xã hội ngày nay, theo quan điểm của tác giả thì đây là một cấu trúc xã hội điển hình, đặc trưng và đơn giản nhất của hệ thống chăm sóc sức khỏe trong xã hội hiện đại; là cấu trúc các vai trò gồm vai trò của
Trang 31bệnh bằng chuyên môn, kỹ thuật một cách vô tư không thiên vị đối với người bệnh Vai trò của bác sĩ hướng đến lợi ích tập thể, với ý nghĩa bác sĩ có nhiệm vụ và trách nhiệm đặt lợi ích của người bệnh trên lợi ích cá nhân, mà không vì động cơ lợi nhuận Đối với người bệnh, xã hội miễn cho họ một số trách nhiệm phải thực hiện, đó là vai trò xã hội của người khỏe mạnh, chịu sự chi phối bởi những mong đợi xã hội
Nhà xã hội học Robert Merton đã phân tích lý thuyết vai trò tập hợp (role-set) nhằm làm rõ quan niệm của tác giả về lý thuyết trung gian trong xã hội học Thuyết vai trò tập hợp nhằm trả lời câu hỏi: vị thế xã hội được hình thành như thế nào trong một cấu trúc xã hội? Theo thuyết này thì mỗi vị thế đòi hỏi không chỉ một vai trò mà hàng loạt các vai trò, do đó tác giả đã gọi thuyết này là vai trò tập hợp (role – set) Chẳng hạn, một người có vị thế là bác sĩ thường đóng một loạt các vai trò trong quan hệ thường ngày không chỉ với bệnh nhân mà còn với thân nhân của người bệnh, đồng nghiệp của mình, với các y tá, các kỹ thuật viên và các nhân viên khác, tức các vai trò tập hợp này tương ứng với vị thế của một bác sĩ Tương tự các vai trò khác trong xã hội cũng có những vai trò liên quan đến vị thế của mình Tuy nhiên, Merton cũng phân biệt vai trò tập hợp là tập hợp các vai trò gắn với một vị thế nhất định mà không phải với nhiều vị thế xã hội [48]
Theo lý thuyết tương tác của G H Mead (1934), Mead mô tả vai trò như là một quá trình tương tác có tính rèn luyện và sáng tạo Vì Mead quan niệm rằng, đứa trẻ ngay từ nhỏ, học cách của người lớn đã làm, ông nói: đây là quá trình “học đóng vai”
để khi lớn đảm nhận những vai trò đó Như vậy, khi đảm nhận một vai nào đó, người ta phải nắm vững những trách nhiệm và nghĩa vụ về vai trò của mình Hơn nữa, người ta cũng phải hiểu rõ những vai trò ở những vị trí khác có mối liên hệ với vị trí của mình Chính vì thế mà Mead cho rằng: trong bất cứ một vai trò nào đều có mối liên hệ, tương tác với các vai trò khác Trong quá trình tương tác, những phản ứng của người khác sẽ góp phần củng cố hoặc thay đổi quan niệm về vai trò của mình và G.H Mead dùng thuật ngữ “đóng vai” để nói đến cách ứng xử của một vai trò nào đó có thể được tạo ra hoặc có thể thay đổi trong các mối quan hệ tương tác[45]
Trang 32- Cách tiếp cận nhu cầu
Mỗi con người đều có nhu cầu về học hành, về lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất và ngoài những nhu cầu đó, thì nhu cầu được tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cũng còn là một trong số những nhu cầu cơ bản của con người Với cách tiếp cận này, chúng tôi sẽ phân tích vai trò của Nữ tu Công giáo trong việc đáp ứng các nhu cầu cho con người qua các lãnh vực hoạt động khác nhau Người Nữ tu đã đáp ứng được những nhu cầu nào và những nhu cầu nào còn hạn chế
1.2.2 Lý thuyết áp dụng
Có thể nói rằng, lý thuyết đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các nghiên cứu
xã hội, việc dùng luận cứ để giải thích hay bảo vệ một lý thuyết cần dựa trên cơ sở hợp
lý Các lý thuyết khoa học xã hội trước tiên phục vụ trong việc đáp ứng được mục đích hiểu biết hơn là mục đích dự báo, vì có nhiều vấn đề có thể làm xáo trộn bởi thời gian
Vì thế, lý thuyết cần thiết trong việc thực hiện một vấn đề nghiên cứu Song khi nghiên cứu các lãnh vực khác nhau như trong khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu thường sử dụng một số lý thuyết để lý giải cho việc nghiên cứu của mình Trong phạm vi đề tài, chúng tôi sử dụng lý thuyết vai trò, lý thuyết cấu trúc – chức năng và lý thuyết tâm lý học nhân cách, cụ thể là lý thuyết về bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow
1.2.2.1 Lý thuyết vai trò
Theo quan điểm của Robert Merton, Thuyết vai trò tập hợp nhằm trả lời câu hỏi: vị thế xã hội được hình thành như thế nào trong một cấu trúc xã hội? Theo thuyết này thì mỗi một vị thế đòi hỏi không chỉ một vai trò mà hàng loạt các vai trò Tương tự vai trò của Nữ tu Công giáo trong các hoạt động xã hội cũng có những vai trò liên quan đến vị thế của mình
Chúng tôi vận dụng quan điểm này để tìm hiểu vai trò của Nữ tu Công giáo trong các hoạt động xã hội Với vị trí là nhân viên xã hội, Người Nữ tu trong hoạt động
xã hội đã thực hiện các vai trò nào
Trang 33Parsons, Muốn làm rõ những luận điểm về cấu trúc vai trò của hệ thống xã hội, ông đã phân tích trường hợp thực hành y tế hiện đại trong xã hội ngày nay, theo quan điểm của tác giả thì đây là một cấu trúc xã hội điển hình, đặc trưng và đơn giản nhất của hệ thống chăm sóc sức khỏe trong xã hội hiện đại, là cấu trúc các vai trò gồm vai trò của nhân viên y tế và vai trò của người bệnh Vai trò của người bác sĩ là cứu chữa người bệnh bằng chuyên môn, kỹ thuật một cách vô tư không thiên vị đối với người bệnh
Vận dụng quan điểm này, chúng tôi tìm hiểu vai trò của Nữ tu trong hoạt động
xã hội, họ đã vận dụng các chuẩn mực về khuôn mẫu hành vi làm sao tạo được sự thuận lợi, mang lại kết quả tốt đẹp trong các hoạt động xã hội, nhờ vậy xã hội có thể ổn định và phát triển
1.2.2.2 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng là một trong những lý thuyết đầu tiên và quan trọng của ngành xã hội học Nó có nguồn gốc từ triết học, xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XIX và phát triển làm cơ sở lý luận dùng để xem xét, phân tích các họạt động xã hội Lịch sử của lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học Auguscomte, H Spencer, E Durkhiem, B Malinowski, T Parsons và những người khác
Sự phát triển của lý thuyết cấu trúc chức năng là kết quả đóng góp lý luận của
xã hội học, của nhiều tác giả khác nhau nhưng các tác giả của thuyết này đều nhấn mạnh đến tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành một chỉnh thể, và mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định nhằm góp phần bảo đảm sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững Lý thuyết này có thể được tóm tắt như sau: Bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau Chúng cùng nhau vận chuyển để tạo ra cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định của một
hệ thống Chúng ta chỉ có thể hiểu được một hệ thống khi ta hiểu được cách mà nó đóng góp và sự vận hành của hệ thống ấy Sự đóng góp này ta gọi là chức năng
Tóm lại, theo lý thuyết cấu trúc chức năng, các hiện tượng xã hội, các vấn đề xã hội, các tổ chức xã hội tồn tại là vì chúng thực hiện một chức năng nào đó, nó bao gồm chức năng công khai, chức năng tiềm ẩn, và cả phản chức năng Chức năng công khai
Trang 34là chức năng mà mọi thành viên trong xã hội đều biết một cách rõ ràng Chức năng tiềm ẩn là chức năng khó có thể giải thích được mà nó ẩn sau hành động [11]
Áp dụng lý thuyết chức năng vào đề tài để làm rõ vai trò của của các Nữ tu qua các hoạt động xã hội, mà các vai trò đó thể hiện qua ba chức năng là: phòng ngừa, chữa trị và phát triển
- Chức năng phòng ngừa
Người tham gia các hoạt động xã hội thực hiện vai trò phòng ngừa những vấn đề
xã hội mới có thể xảy ra là nhiệm vụ rất quan trọng Để làm được việc này công tác nghiên cứu và dự báo xu hướng vận động của xã hội cần được làm tốt, tiếp theo là vận động, tư vấn để chính quyền có những chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh các vấn đề xã hội
- Chức năng chữa trị hay phục hồi
Đối với các vấn đề xã hội đang tồn tại thì nhiệm vụ của người tham gia vào các hoạt động xã hội là góp phần giải quyết các vấn đề đó, thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội như: chăm sóc sức khoẻ, cải thiện tình hình kinh tế và việc làm, hạ tầng
cơ sở, nước sạch vệ sinh môi trường, giảm bớt và trị liệu khi cá nhân, nhóm và cộng đồng đang gặp phải những khó khăn
Mặt khác, có những người hoặc nhóm người khi gặp vấn đề thì họ bị tổn thương
về thể chất cũng như tâm lý Do vậy họ cần được giúp đỡ để vượt qua và hoà nhập với
xã hội Người làm việc trong các lĩnh vực hoạt động xã hội cần quan tâm đặc biệt đến việc phục hồi những chức năng thể chất, tinh thần và xã hội cho mọi đối tượng được chữa trị và giúp đỡ những người bị tổn thương và thiệt thòi nhanh chóng hội nhập với cộng đồng xã hội
Ví dụ như một người bị tai nạn dẫn tới khuyết tật về vận động Họ cần được giúp đỡ để phục hồi khả năng vận động và vượt qua những chấn thương về tâm lý để tự tin hơn trong cuộc sống
Trang 35- Chức năng phát triển
Người tham gia các hoạt động cần có những cách thức hoạt động hỗ trợ cho người gặp khó khăn, cho họ có thể phát huy được những khả năng của bản thân để vươn lên tự lập trong cuộc sống
Tất cả những chức năng nêu trên được thể hiện qua những vai trò, khuôn mẫu hành vi, những điều kiện và những kỳ vọng của người tham gia làm việc trong các hoạt động xã hội cũng như các chính sách có liên quan đến các hoạt động xã hội
1.2.2.3 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong của trường phái Tâm lý học nhân văn, thế giới lúc ấy đang biết đến hai trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Thuyết hành vi (Behaviorism), ông nhấn mạnh đến động cơ có mục đích, con người khi thực hiện một hành vi họ đều nhắm đến một mục đích nào đó Năm 1943, ông đã tìm ra một trong các
lý thuyết mà nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục, quản lý nhân sự trong kinh doanh, các hoạt động
xã hội Đó chính là lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong
đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước [16, tr.297-301]
Theo Abraham Maslow, nhu cầu con người có thể được đặt trên một hệ thống phân cấp đi từ động cơ sinh học đơn giản đến phức tạp nhất của ước muốn nội tâm
và xã hội: Nhu cầu sinh lý (nhu cầu cơ bản), nhu cầu an toàn, nhu cầu được thuộc về (nhu cầu xã hội), nhu cầu được yêu thương (quý trọng) và nhu cầu khẳng định mình
Nhu cầu sinh lý (physiolocal need – hunger, thirt, and so forth)
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh
lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái Đây là những nhu cầu cơ bản và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất Qua kết quả nghiên cứu của mình,
Trang 36Maslow cho rằng đây là những nhu cầu cần thiết cho mỗi người Theo ông, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn
Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi nói rằng: "Có thực mới vực được đạo" Vì con người cần phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động mới có khả năng vươn tới nhu cầu cao hơn
Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu
Một em bé sống trong một gia đình thiếu ăn, thiếu mặc thì chắc hẳn việc cắp sách đến trường là một điều hết sức khó khăn hay ao ước có được mái nhà an toàn là điều xa xỉ đối với chúng
Nhu cầu về an toàn (safety and security need long term survival and stability) Khi những nhu cầu về sinh lý được đáp ứng đầy đủ, xu hướng tiếp theo của con người là tìm sự an toàn, ổn định Lúc này họ có nhu cầu về một trật tự an toàn, cá nhân cần đến một trật tự sống với những quy định giới hạn cụ thể Nhu cầu an toàn thể hiện
ở cả thể chất và tinh thần trong đời sống con người Nhu cầu này thường được khẳng định thông qua các mong muốn như sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở Các chế độ bảo hiểm
xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm cũng là chính sự thể hiện đáp ứng nhu cầu an toàn này
Nhu cầu được thuộc về và được chấp nhận (belongingness and love need affiliation and acceptance)
Cao hơn nữa là nhu cầu quan hệ, như quan hệ giữa người với người, giữa con người với tổ chức hay giữa con người với tự nhiên, hoặc còn gọi là nhu cầu về tình cảm Con người luôn có nhu cầu yêu thương và được yêu thương Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển Đây là ưu tư mà con người gặp thường ngày, vì chúng ta muốn tham gia vào các sinh hoạt của cộng đồng như đi nhà thờ, tham gia vào các hội đoàn, gia nhập các câu lạc bộ hoặc chọn những công việc có
cơ hội tiếp xúc với người khác
Trang 37Abraham Maslow nhấn mạnh rằng, nếu nhu cầu này không được đáp ứng thoả mãn, nó có thể gây ra các bệnh về tinh thần Chúng ta cũng biết rõ rằng: sự cô đơn có thể dễ dàng giết chết con người, nhiều em ở độ tuổi mới lớn bỏ gia đình đi lang thang
vì các em không cảm nhận được tình thương yêu từ gia đình
Nhu cầu được tôn trọng và được công nhận (self-esteem need - achievement and recognition)
Sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống xã hội của con người Việc một người được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người có ích trong cộng đồng xã hội Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu "thuộc về một tổ chức" Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được mọi người trong nhóm nể trọng, quý mến, đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấy mình có "vị trí" trong nhóm đó
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
Maslow mô tả nhu cầu này như sau: Đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình, là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người
tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng Thuyết này sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động, đồng thời khi nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người Theo cách đó, nhu cầu trở thành động cơ quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người
Áp dụng trong hoạt động xã hội
Để thỏa mãn các nhu cầu của cá nhân, vai trò của nhân viên xã hội nói chung và người tu sĩ trong hoạt động xã hội nói riêng là tìm hiểu những vấn đề và những phương
Trang 38thức cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, tạo điều kiện sống cho cá nhân và thăng tiến xã hội, vì trong các lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm:
Tăng cường chức năng của các thành phần trong xã hội và sự giao lưu giữa các thành phần với nhau
Vận dụng những tài nguyên có sẵn trong xã hội hoặc góp phần thúc đẩy sự hình thành những tài nguyên mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội
Giúp phục hồi tiềm năng của cá nhân để họ có thể tự thăng tiến đến mức cao nhất mà họ có thể đạt được
Cụ thể trong nghiên cứu này người Nữ tu giúp các đối tượng mình phục vụ tìm được sự bình an, sống hạnh phúc trong hoàn cảnh cụ thể của mình, bằng thái độ phục
vụ tận tình những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có nơi ăn chốn ở, có cơ hội học hành
để thăng tiến bản thân Đối với những người già không nơi nương tựa cho họ có nơi an dưỡng và tìm được sự bình an, niềm vui và hạnh phúc qua cung cách phục vụ của mình Sự thỏa mãn những nhu cầu ở tầng thấp là tiền đề cho sự thỏa mãn ở tầng cao hơn, vì con người chỉ đạt được nhu cầu ở cấp cao hơn khi các nhu cầu thấp hơn đã được thỏa mãn, và ở trạng thái này người ta có khả năng chấp nhận thực tế, không chối
bỏ sự thật, chấp nhận bản thân và mọi người, không có thành kiến, yêu mình, yêu người và nhìn đời bằng nhãn quan vui tươi [39,tr.97-98]
Trang 39Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (Maslow's Hierarchy)[7,tr.448-455]
Trang 401.3 Những khái niệm liên quan đến đề tài
1.3.1 Khái niệm vai trò
Trong từ điển tiếng Việt, Từ ngữ vai trò nói về một người đóng một vai nào đó trên sân khấu hay giữ một chức vụ nào đó ngoài xã hội [36]
Nhà nhân học Ralph Linton đã đưa ra khái niệm vai trò như sau: Vai trò là hành
vi của một người nắm giữ vị thế mà hành vi đó hướng vào việc đáp ứng những kỳ vọng của người khác về quyền và trách nhiệm gắn với các vị thế của người đó” [23,tr.52]
Cũng nhấn mạnh đến yếu tố hành vi, nhưng cụ thể hơn, Robert K Merton cho rằng vai trò chính là chức năng mà hành vi cá nhân hay thiết chế xã hội đảm nhận thực hiện [24,tr.248]
Theo tác giả Trần Đình Tuấn, vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do
xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó [40]
Các tác giả Trần Thị Kim Xuyến và Nguyễn Thị Hồng Xoan, cũng đưa ra một khái niệm về vai trò như sau: vai trò xã hội là những hành vi mà xã hội mong đợi ở một
cá nhân, nó như một vai diễn của một diễn viên trên sân khấu, vì mỗi người trong xã hội đều đóng một số vai trò trong một thời gian nào đó và những vai trò ấy cá nhân học hỏi trong quá trình giáo dục
Nằm trong tổng thể vai trò xã hội, ngành công tác xã hội thể hiện vai trò riêng của mình là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ cho cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ với con người
và để nâng cao hệ thống an sinh xã hội Để thực hiện được những điều này, nhân viên
xã hội cần thực hiện các nhiệm vụ như tham vấn, trị liệu, tư vấn, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, truyền thông, hoạch định và nghiên cứu Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và vai trò của mình trong cơ quan, tổ chức mà nhân viên xã hội thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như lựa chọn phương pháp thực hiện phù hợp
Từ những khái niệm trên, liên hệ đến đề tài nghiên cứu, có thể nhận thấy rằng, vai trò của người nhân viên xã hội nói chung và Nữ tu Công giáo trong công tác xã hội