Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Quản lý khoa học và Dự án, khoa Ngữ văn Trung Quốc, khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Ch
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN Tên đề tài: VĂN HỌC NGƯỜI HOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG MỐI QUAN HỆ GIAO LƯU VỚI VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ
Điện thoại Email
1 TS Nguyễn Đình
Phức
Chủ nhiệm
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
Tên đề tài
VĂN HỌC NGƯỜI HOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG
MỐI QUAN HỆ GIAO LƯU VỚI VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Quản lý khoa học và Dự án, khoa Ngữ văn Trung Quốc, khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn tới GS Trần Ích Nguyên, GS Trương Thế Hào, GS Dương Hưng, Ông Nguyễn Trung Bộ, Chủ tòa soạn báo Sài Gòn Giải Phóng, Bà Dương Quân Tuệ, Hiệu trưởng Trường Hoa văn Thiếu nhi Q.5, TS Trương Gia Quyền, Giảng viên Khoa Ngữ văn Trung Quốc, ĐHKHXN&NV, TS Lê Quang Trường, Giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐHKHXN&NV, các cán bộ thư viện và phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng, Văn phòng Chi hội văn học Hoa văn TP.HCM đã nhiệt tình giúp tôi trong việc sưu tầm tư liệu phục
vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè – những người đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 07 năm 2012
Trang 4BÁO CÁO TÓM TẮT
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
(Đính kèm trong các báo cáo toàn văn của báo cáo định kỳ, báo cáo tổng kết
hoặc xin gia hạn)
THÔNG TIN CHUNG A1 Tên đề tài
Tên tiếng Việt:
Văn học người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh trong mối quan
hệ với văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc
Tên tiếng Anh:
Literature of the Chinese living in Ho Chi Minh City related with Viet Nam and Chinese Literrature
A2 Thuộc ngành/nhóm ngành A3 Loại hình nghiên cứu
Nghiên cứu cơ bản X
Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu triển khai
A4 Thời gian thực hiện
Khoa học Xã hội Toán Khoa học và Công nghệ Vật liệu Khoa học Nhân
trường
Xây dựng Khác:…
Trang 5Tổng kinh phí: 50 (triệu đồng), gồm:
Kinh phí từ ĐHQG-HCM: 50 triệu đồng
Kinh phí cấp đợt 1: 27 triệu đồng theo QĐ số
200/HĐ-XHNV-SĐH-QLKH ngày 26/4/2010 Kinh phí cấp đợt 2: 23 triệu đồng theo QĐ số
200/HĐ-XHNV-SĐH-QLKH ngày 26/4/2010
Kinh phí từ nguồn huy động (vốn tự có và vốn khác): …0… triệu
đồng
A6 Chủ nhiệm
Học hàm, học vị, họ và tên: TS Nguyễn Đình Phức
Ngày, tháng, năm sinh: 25/12/1973 Nam/ Nữ: Nam
Cơ quan:…Khoa Ngữ văn Trung Quốc, ĐHKHXH&NV………
Điện thoại: 0908604894 Email: : dinhphuc74@hotmail.com A7 Cơ quan chủ trì Tên cơ quan: Trường ĐHKHXH&NV
Họ và tên thủ trưởng: PGS.TS Võ Văn Sen
Điện thoại: Fax:
Email:
A8 Danh sách tham gia thực hiện
1 ThS Nguyễn Thị Thiêm Trung tâm Lưu trữ Quốc
gia II
Sưu tầm và chỉnh lý văn bản văn học Hoa văn
2 ThS Lộ Thị Thùy Trang Học viên cao học VHNN Chỉnh lý và phân loại văn
bản Hoa văn
3 ThS Trần Thiếu Nga Học viên cao học VHNN Chỉnh lý và phân loại văn
bản Hoa văn
4 Lê Thị Thu Thảo Sinh viên ngành Hán
Nôm
Sưu tầm và chỉnh lý văn
bản
Nôm
Sưu tầm và chỉnh lý văn
bản
5 Phạm Thị Hồng Xuân Sinh viên ngành Ngữ văn
TQ
Sưu tầm và chỉnh lý văn
bản
BÁO CÁO
Trang 6TT Nội dung đăng ký Kết quả đạt được
Mức độ hoàn thành nội dung đăng ký
Khảo sát số lượng tác giả, tác phẩm
văn học người Hoa TP HCM
Viết lịch sử dòng văn học Hoa văn
TP HCM
Xét văn học Hoa văn TP HCM trong
quan hệ giao lưu
Hoàn thành Trên 100%
B1.2 Nội dung chưa hoàn thành theo tiến độ đăng ký
phục
Không
B2 Sản phẩm nghiên cứu (kèm minh chứng)
B2.1 Ấn phẩm khoa học
1 Nguyễn Đình Phức, “Sự hình thành và phát triển của thơ hiện đại
Trung Quốc”, Nghiên cứu văn học số 7 (461) tháng 7-2010, trang
111-121
2 Nguyễn Đình Phức, “Sự hình thành và phát triển của thơ hiện đại
Trung Quốc”, in trong sách Văn học cận đại Đông Á từ góc nhìn so sánh, Nxb Tổng hợp TP HCM, 2011
3 Nguyễn Đình Phức, “Quá trình tiếp nhận thuyết Thần vận của
Vương Sĩ Trinh ở Việt Nam và Triều Tiên” (Prosess of receiving Shen
Yun theory of Wang Shi Zheng in Vietnam and Korea), Hội thảo khoa
học quốc tế Hàn Quốc và phối cảnh Đông Á, TP HCM, 8/2011,
tr.76-91
4 Nguyễn Đình Phức, Dấu ấn của hai GS Diệp Truyền Hoa và GS
Đới Ngoạn Quân trong dòng văn hóa Việt Hoa, in trong tạp chí Suối Nguồn số 6, xuất bản tháng 9-2012
5 Nguyễn Đình Phức, Quá trình tiếp nhận ba học thuyết Thần vận,
Cách điệu, Tính linh ở Việt Nam và ảnh hưởng của chúng vào lý luận thơ ca chữ Hán thế kỷ XIX (論清代神韻、格調、性靈三大詩論派别
Trang 72012 (Phụ giấy mời đọc tham luận tại Hội thảo của Ban tổ chức)
B2.2 Đăng ký sở hữu trí tuệ
Mô tả sản phẩm/kết quả nghiên cứu (căn cứ đề cương được phê
duyệt)
Công nghệ/ giải pháp hữu ích đã chuyển giao công nghệ (kèm minh
chứng)
TT
Tên công nghệ/ giải pháp hữu ích
đã chuyển giao (sản phẩm chuyển
giao- Thông số kỹ thuật của sản
phẩm)
Năm chuyển giao
Đối tác ký hợp đồng
Ngày ký hợp đồng
Doanh thu từ hợp đồng
Quy
mô
1
B2.3 Kết quả đào tạo (kèm minh chứng)
- 02 luận văn thạc sĩ đã được triển khai liên quan đến mảng nội đề tài
nghiên cứu, trong đó 01 đã bảo vệ thành công và 01 đang trong thời
gian triển khai
+ Lộ Thị Thùy Trang, Vọng Thư thảo của Đới Vọng Thư - đỉnh cao
của thơ tượng trưng Trung Quốc, năm 2011, bảo vệ đạt kết quả tốt
+ Trần Thiếu Nga, Hà Tiên thập vịnh trong bối cảnh văn học Đàng
Trong, đang trong giai đoạn triển khai thực hiện
- 01 công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Trường 2010,
nghiệm thu chất lượng tốt
+ Phạm Thị Lành, Khảo sát điền dã văn học người Hoa ở TP HCM,
Khoa Văn học và Ngôn ngữ, bảo vệ đạt kết quả tốt
B3 Hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước đã được tổ chức, tham
gia
Trang 8thần vận, tính linh và cách điệu ở VN, trong đó có sự đóng góp quan trọng của các nhà thơ Hoa kiều
TP HCM Cán bộ được cử đi trao đổi HTQT về KH&CN (Hội nghị, hội thảo, tập
huấn ngắn hạn) thông qua đề tài/dự án
21/12/2011
Đại học Thành Công, Đài Nam, Đài Loan
Sưu tầm, chỉnh lý tư liệu nghiên cứu văn hóa người Hoa ở VN
Tìm được một số tư liệu văn học người Hoa do Đài Loan sưu tầm
2 TS Nguyễn
Đình Phức
Từ 16/5 đến
22/5/2012
Đại học Dân Tộc Quảng Tây, Trung Quốc
Bàn về hợp tác đào tạo kết hợp sưu tầm tư liệu văn học người Hoa
TP HCM
Tìm được một số công trình nghiên cứu của học giả TQ về đối tượng nghiên cứu
Kinh phí sử dụng đến thời điểm báo cáo (Ghi rõ từng nội
dung cụ thể như thuê khoán chuyên môn, mua sắm trang thiết
bị, photo, in ấn,…)
50.000.000 (Thuê cán bộ chuyên môn sưu tầm, chỉnh
lý, mua và photo tài liệu)
Trang 9B5 Nhận xét và đánh giá kết quả đạt được so với yêu cầu
Đây là một mảng nghiên cứu quan trọng, liên quan đến rất nhiều lĩnh
vực, thậm chí cả đến vấn đề dân tộc và an toàn quốc gia, cần thúc đẩy
nghiên cứu trong thời gian tới
Ngày 31 tháng 7 năm 2012
Chủ nhiệm
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 11TÓM TẮT 1
DẪN LUẬN 4
CHƯƠNG 1: CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 10
1.1 ĐỊA DANH TP HCM, ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở TP HCM 20
1.3 DANH NHÂN HOA KIỀU, DẤU ẤN TRONG VĂN HÓA VIỆT HOA 48
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÒNG VĂN HỌC 59
NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 59
2.1 TÍNH TÍCH CỰC CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC 59
2.2 TÁC GIẢ VĂN HỌC NGƯỜI HOA 78
2.3 TÁC PHẨM VĂN HỌC NGƯỜI HOA 122
2.4 LỊCH SỬ VĂN HỌC NGƯỜI HOA TP HCM 143
CHƯƠNG 3: VĂN HỌC NGƯỜI HOA TP HCM, 167
NHÌN TỪ CÁC MỐI QUAN HỆ GIAO LƯU 167
3.1 ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC NGƯỜI HOA TP HCM TRONG QUAN HỆ VỚI VĂN HỌC TRUNG QUỐC 167
3.2 VĂN HỌC NGƯỜI HOA TP HCM TRONG QUAN HỆ VỚI VĂN HỌC VIỆT NAM 208
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 226
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 231
Trang 12TÓM TẮT
Văn học người Hoa TP HCM tồn tại và phát triển tính đến nay
đã ngoài hai trăm năm Theo cùng tiến trình lịch sử của Thành phố, dòng văn học này cũng trải qua rất nhiều thăng trầm với nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Những đóng góp của dòng văn học người Hoa TP.HCM vào sự phát triển của dòng văn học Việt Nam nói chung, văn học TP HCM nói riêng trong suốt nhiều thế kỷ là một vấn đề khoa học cần phải được nghiên cứu
Báo cáo này của chúng tôi gồm ba chương:
Chương 01: Người Hoa ở TP HCM
Nội dung chương này chủ yếu tập trung khảo sát những vấn đề phức tạp, có khả năng phát sinh, gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình triển khai nghiên cứu đề tài Những vấn đề được khảo sát ở chương này gồm: Đâu là hạn định không gian và thời gian của văn học người Hoa
TP HCM? Chủ nhân của văn học người Hoa TP HCM là những ai, những cộng đồng nào, số lượng bao nhiêu và nguyên nhân nào khiến họ
có mặt tại TP HCM và Việt Nam? Đây là những vấn đề tưởng như không mới, nhưng lại hết sức khó khăn khi phải đi vào giải quyết Chúng tôi cho rằng, những nghiên cứu trong đề tài này chỉ có giá trị khi làm rõ được những vấn đề nêu trên Ngoài ra, ở chương này chúng tôi còn xoáy sâu vào giới thiệu dấu ấn còn lưu trong văn hóa Việt Hoa từ một số danh nhân Hoa kiều TP HCM
Chương 02: Một số vấn đề về văn học người Hoa TP HCM Vấn đề có hay không một dòng văn học người Hoa tồn tại trên địa bàn TP HCM vẫn là một vấn đề gây tranh cãi Ở chương này, chúng tôi chọn cách trình bày như sau: trên cơ sở giới thiệu toàn bộ số lượng tác giả tác phẩm trong suốt tiến trình phát triển của dòng văn học người Hoa TP HCM, tiến hành nhìn nhận, đánh giá dòng văn học này
ở một số khía cạnh như: lịch sử phát triển, các mảng thành tựu chính,
hệ thống tác giả, tác phẩm nhìn từ số lượng và chất lượng,
Chương 03:Văn học người Hoa, nhìn từ các mối quan hệ giao lưu
Nội dung chương này trên cơ sở xem xét mối quan hệ giao lưu
đa chiều giữa văn học người Hoa TP HCM với văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam, và các dòng văn học người Hoa khác tại Việt Nam,
Trang 13rút ra một số nét chính về dòng văn học người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Our report includes 3 chapters:
Chapter 1: The Chinese living in Ho Chi Minh City
The content of this chapter mainly focus on the survey of complicated problems which may cause troubles to the process of studying the subjects The subjects surveyed in this chapters include: What is the limit of space and time of HCMC Chinese Literature? Who are the owners of HCMC Chinese Literature, which communities, how many they are and what result make them to stay in HCMC and Viet Nam? This seems no new but it is difficult to resolve We think that the research in this subject just get value when we can clear the above problems
Chapter 1: Some problems of The Ho Chi Minh City Chinese Literature
The subject that if a stream of HCMC Chinese Literature exists or not is still a problem of debate In this chapter, we choose the following representation: introduction of the overal writers and works during the development of HCMC Chinese Literature, implement to recognize and evaluate this stream of some aspects such as: history of development, the main achievement, system of writers and works based on quatative and quality
Chapter 3: Chinese Literature under the aspect of multidimentsion relation
The content of this chapter is based on the exchange relation between HCMC Chinese Literature to the Chinese Literature, the Viet Nam Literature as well as other stream of Chinese Literature in Viet Nam, withrawing some main aspects about the stream of HCMC Chinese Literature
Trang 15DẪN LUẬN
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Theo thống kê, hiện ở Việt Nam có khoảng hơn một triệu người Hoa, trong
đó có tới hơn một nửa sống tại TP HCM, tập trung ở các quận 5, 6, 8, 10 và 11 Người Hoa ở TP HCM có nguồn gốc phức tạp, họ có thể là con cháu người Minh Hương, tức những di thần nhà Minh, do không thần phục ngoại tộc Mãn Thanh cai trị, đã chạy sang Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 17; họ có thể là con cháu của những người Hoa di cư tự do từ khoảng đầu thế kỷ 18 cho đến nửa đầu thế kỷ 20; họ cũng
có thể là những Hoa kiều di cư từ các tỉnh miền Bắc Việt Nam vào những năm 1954-1955, hoặc những Hoa kiều từ Campuchia chạy dạt sang để tránh họa diệt chủng của Pôn Pốt;… Nhưng cho dù họ là ai, có gốc gác ra sao, thì tựu trung lại,
họ đều là những người Hoa, mang trong mình dòng máu yêu văn học, trong thi thư Văn học người Hoa ở Việt Nam trong quá khứ từng vang danh với rất nhiều tên tuổi như Mạc Thiên Tứ, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Vương Văn Anh, Trương Hảo Hợp, Lâm Duy Nghĩa, Trần Tiễn Thành, Ở thời hiện đại, các vị có gốc gác Minh Hương như Đông Hồ, Quách Tấn, Yến Lan, Hồ Dzếnh, Vương Hồng Sển, Trịnh Công Sơn, Lâm Thị Mỹ
Dạ, Lý Lan, đều là những tên tuổi có tiếng và có cống hiến không nhỏ cho văn hóa, văn học Việt Nam
Văn học người Hoa TP HCM là bộ phận quan trọng cấu thành và tạo nên diện mạo riêng cho văn học Hoa văn Việt Nam Từ khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế
kỷ 20, khi văn học Việt Nam chuyển hẳn sang sử dụng chữ Quốc ngữ, dòng văn học người Hoa do nhiều nguyên nhân bắt đầu có xu hướng tách rời, ngoài một số ít tác giả chuyển sang sáng tác bằng tiếng Việt, còn lại vẫn sáng tác bằng Hoa văn Thời gian qua đi, khi ấn tượng của người Việt Nam, đặc biệt là các thế hệ trẻ về chữ Hán và văn hóa Hán càng nhạt dần, thì dòng văn học này dường như bị quên
Trang 16lãng, dường như hoàn toàn không có bất kỳ mối liên hệ nào với đời sống văn học Việt Nam hiện đương đại
Văn học người Hoa TP HCM tồn tại và phát triển tính đến nay đã ngoài hai trăm năm, theo cùng tiến trình lịch sử của Thành phố, dòng văn học này cũng trải qua rất nhiều thăng trầm với nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Những đóng góp của dòng văn học người Hoa TP.HCM vào sự phát triển của dòng văn học Việt Nam nói chung, văn học TP HCM nói riêng trong suốt nhiều thế kỷ qua là một vấn đề khoa học cần được quan tâm nghiên cứu Thế nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn thiếu những công trình mang tính giới thiệu, cũng như xoáy sâu vào mảng nghiên cứu nêu trên, đây đó trên các diễn đàn báo chí trong và ngoài nước xuất hiện một số bài viết có liên quan, nhưng nhìn chung khá phiến diện, chưa thấy được sự phong phú, tính đa diện của dòng văn học này
Xuất phát từ thực tế nêu trên, kết hợp những yêu cầu từ phương diện nghề nghiệp, mặc dù biết đây là một vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn, thậm chí có độ nhạy cảm khá cao, nhưng chúng tôi vẫn quyết định chọn để đi sâu vào nghiên cứu
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Người Hoa ở Việt Nam là vấn đề khoa học hoàn toàn không mới đối với giới học thuật tại Việt Nam cũng như trên thế giới Thế nhưng, vẫn thuộc đối tượng nêu trên, có một vấn đề nhánh rất cần nghiên cứu, nhưng cho đến nay giới học thuật vẫn dậm chân tại chỗ, đó là, văn học người Hoa ở Việt Nam
Văn học người Hoa TP HCM là dòng văn học có lịch sử lâu đời, bao gồm nhiều giai đoạn phát triển và nhiều trào lưu, xu hướng khác nhau Cho đến nay, ngoại trừ mảng văn học Minh Hương được chú ý nghiên cứu, các mảng còn lại hầu như vẫn chưa được quan tâm, chưa hề có bất cứ công trình nào đứng từ góc độ tổng quan để nhìn nhận và đánh giá, thậm chí chỉ là giới thiệu về đối tượng văn học người Hoa TP HCM
Thành tựu nghiên cứu ở mảng văn học Minh Hương, thuộc dòng văn học người Hoa TP HCM, có thể kể đến bốn công trình tiêu biểu sau:
Trang 17- Trịnh Hoài Đức, Cấn Trai thi tập, GS Trần Kinh Hòa chỉnh lý và viết lời
giới thiệu Tác phẩm được xuất bản năm 1962 tại Hong Kong
- Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, Gia Định tam gia, Hoài
Anh biên dịch - chú giải, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006
- Cao Tự Thanh, Văn học Hán Nôm ở Gia Định, in trong Hội đồng Khoa
học Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên,
Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập II, Văn học - Báo chí - Giáo dục,
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Văn học người Hoa TP HCM được cấu thành bởi hai thành tố quan trọng, tức những tác phẩm được viết bằng tiếng Việt và những tác phẩm được viết bằng Hoa văn của các tác giả người Hoa (bao gồm cả người Minh Hương) Do đây là một phạm vi quá rộng, với một đề tài mang tính chất cá nhân như đề tài này ắt không thể bao quát hết, hơn nữa, những tác giả người Hoa chọn ngôn ngữ sáng tác bằng tiếng Việt, các tác phẩm của họ, bạn đọc Việt Nam thảy đều khá quên thuộc
Ví dụ những truyện ngắn, tiểu thuyết của Lý Lan, những tác phẩm khảo cứu của
Trang 18Vương Hồng Sển,…Thế nên, để tiện cho việc nghiên cứu, ở đề tài này, chúng tôi đem phạm vi khảo sát thu hẹp lại, tức chỉ khảo sát những tác phẩm được sáng tác bằng Hoa văn
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu xoáy vào ba nội dung sau:
Thứ nhất, khảo sát toàn bộ thành tựu văn học Hoa văn TP HCM, cụ thể về
số lượng tác giả, tác phẩm, lập truyện và viết đề yếu cho các tác phẩm văn học hiện còn
Thứ hai, trên cơ sở những kết quả khảo sát và nghiên cứu, viết lịch sử phát triển của dòng văn học Hoa văn TP HCM
Thứ ba, khảo sát mối liên hệ giữa văn học người Hoa và các dòng văn học khác, cụ thể là văn học Việt Nam, Trung Quốc, và văn học người Hoa ở những vùng khác trên lãnh thổ Việt Nam
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp chủ yếu được sử dụng:
- Phương pháp điền dã: hỏi, ghi chép và sưu tầm tư liệu
- Phương pháp hiệu thù: khảo sát và chỉnh lý các nguồn tư liệu đã thu thập được
- Phương pháp mô tả văn bản của ngành Bản bổn học: Chủ yếu dùng cho mục mô tả văn bản văn học Hoa văn TP HCM
- Phương pháp thống kê, phân loại tác phẩm
- Phương pháp tiểu sử tác giả: Chủ yếu dùng vào viết truyện cho các tác giả văn học Hoa văn TP HCM
- Phương pháp lịch sử: Ứng dụng vào việc xem xét tiến trình phát triển của dòng văn học Hoa văn TP HCM
- Phương pháp phân tích và so sánh văn học: Thông qua thao tác phân tích
và so sánh, tìm ra đặc trưng của dòng văn học Hoa văn TP HCM
Tư liệu nghiên cứu
Trang 19Nguồn tư liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm:
- Phần lớn các tác phẩm thuộc dòng văn học người Hoa TP HCM đã được chúng tôi và tổ công tác sưu tầm, chỉnh lý; những tác phẩm văn học người Hoa TP HCM trong điều kiện hiện nay có thể tiếp cận được
- Những công trình của người sau, bao gồm cả học giả trong nước và ngoài nước đề cập đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Một số sách lý luận văn học Trung Quốc và Việt Nam
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học
Bổ sung một đối tượng cần được quan tâm nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn học Việt Nam, giúp độc giả có cái nhìn khách quan hơn về dòng văn học người Hoa TP HCM; mở ra một hướng nghiên cứu mới, những thành tựu có được sau khi nghiên cứu, không chỉ giúp chúng ta thấy rõ hơn các bước trong quá trình giao thoa văn hóa, văn học Việt Nam trong quá khứ, mà còn khiến các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam hiểu nhau hơn, có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy tiến trình hòa hợp dân tộc trong phạm vi quốc gia nói chung, TP HCM nói riêng Ở phạm vi nước ngoài, đây là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, những kết quả nghiên cứu mà đề tài này thu được cũng sẽ có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy công cuộc giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nằm trong tầm ảnh hưởng của văn hóa Hán
Trang 20Trên cơ sở kết quả sưu tầm, chỉnh lý và nghiên cứu về văn học người Hoa
TP HCM, có thể mở chuyên đề dành cho sinh viên chuyên ngữ ngành Ngữ văn Trung Quốc tại Khoa Ngữ văn Trung Quốc
Sản phẩm đề tài là sách nghiên cứu Văn học người Hoa TP HCM trong mối quan hệ giao lưu với văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc có thể xuất bản
dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các ngành Văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài, Văn hóa học,…thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; có thể dùng làm sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu cho các học giả, các cán bộ ngành khoa học xã hội và nhân văn tại các Viện nghiên cứu
Trang 21CHƯƠNG 1: CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
1.1 ĐỊA DANH TP HCM, ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Thành phố Hồ Chí Minh hiện là thành phố lớn nhất Việt Nam, tên gọi này
chính thức được sử dụng từ ngày 02 tháng 7 năm 1976 Theo Danh mục hành chính tới ngày 31 tháng 12 năm 2006 của Tổng cục Thống kê Việt Nam, thành phố
Hồ Chí Minh có tổng cộng 19 quận nội thành và 05 huyện ngoại thành Trong đó,
19 quận nội thành gồm 12 quận đánh số từ 01 đến 12 và 07 quận dùng cách đặt tên riêng, đó là: Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức, Bình Tân Năm huyện ngoại thành gồm: Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ
Tên gọi thành phố Hồ Chí Minh nếu truy ngược về thời điểm trước 02/7/1976, ắt không thể tách rời ba địa danh Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định Ba địa danh này, cùng với những biến đổi không ngừng ở phương diện hành chính, kể
từ năm 1698, khi chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh (cũng đọc là Kính) sang kinh lược Cao Miên, lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, cho đến tận thời điểm trước 30/4/1975, khiến nội hàm của chúng luôn có sự sai biệt cực lớn Ở đây, xuất phát từ mục tiêu cần thiết phải khu biệt rõ, xác định rõ đặc điểm không gian
và thời gian của đối tượng nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, trước khi bắt tay vào nghiên cứu, cần thiết phải làm rõ nội hàm của ba địa danh nêu trên
Về địa danh “Gia Định”, trải qua khoảng thời gian hơn 300 năm, kể từ năm
1696, về mặt hành chính, tên gọi “Gia Định” tương ứng với rất nhiều đơn vị và địa giới hành chính khác nhau, khi thì là phủ, lúc lại là trấn, tỉnh, thành, hoặc thậm chí chỉ toàn bộ xứ Nam Kỳ
Trang 22Đất Gia Định thuở xa xưa vốn thuộc nước Phù Nam, sau bị Chân Lạp thôn tính, đất này sau đổi tên là Thủy Chân Lạp (le Chanla des eaux ou Basse Cochinchine), cũng là để phân biệt với tên gọi Lục Chân Lạp (le Chanla des montagnes ou Cambodge)1
Năm 1658, triều đình Chân Lạp có nội biến, thái hậu Ngọc Vạn khẩn cầu chúa Nguyễn, khi ấy là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, cũng là cháu ruột của bà xuất quân đánh dẹp Nặc Ông Chân, giành lại ngôi báu cho dòng họ Prea Outey Chúa Hiền bèn lệnh cho quan Khâm Mệnh Trấn Biên thuộc dinh Phú Yên là Tôn Thất Yến đem 3000 quân sang giúp, quân triều đình bắt được Nặc Ông Chân áp giải về Quảng Bình “Người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đình đem nhượng hết cả đất ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh trở chuyện gì.2”
Sang năm 1674, Nặc Ông Đài lại liên kết với quân Xiêm La chống lại Đại Việt Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần lại sai Cai cơ Nguyễn Dương Lâm đem quân đánh chiếm Sài Gòn, thừa thắng quân Đại Việt tiến đến tận Nam Vang Như vậy, đến thời điểm này, chúa Nguyễn đã làm chủ cả một vùng Đồng Nai rộng lớn
Phủ Gia Định (từ năm 1698 đến năm 1800)
Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), Minh Vương Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, công việc chủ yếu của ông trong
chuyến đi này được Trịnh Hoài Đức ghi lại trong Gia Định thành thông chí như
sau:
Lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ và Ký lục để cai trị3
Đây là lần đầu tiên đất này được định danh, được định rõ ranh giới, đồng thời được đăng ký vào sổ bộ của Việt Nam Khi ấy phủ Gia Định bao gồm hai
Trang 23huyện Phước Long (Biên Hòa) và Tân Bình (Sài Gòn), tổng diện tích khoảng 30.000 km2. 4
Năm 1708, Mạc Cửu xin cho trấn Hà Tiên thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn Chúa Minh chấp thuận, đồng thời trao cho ông chức Tổng binh Hà Tiên Mùa xuân năm Nhâm Tý (1732), chúa Nguyễn lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ (lỵ sở ở địa phận thôn An Bình) Năm 1756, tổ chức cai trị đạo Trường Đồn (sau là Định Tường)
Như vậy, từ năm 1779, phủ Gia Định bao gồm: dinh Phiên Trấn (Sài Gòn), dinh Trấn Biên (Biên Hòa), dinh Trường Đồn (Định Tường), dinh Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang) và trấn Hà Tiên Như vậy, ở giai đoạn này, phủ Gia Định đã bao gồm toàn bộ diện tích đất Nam Bộ, tổng diện tích rộng khoảng 64.743 km2
Từ năm 1790 đến năm 1800, sau khi chiếm lại thành Gia Định, Nguyễn Ánh
đã cho xây thành Bát Quái (còn gọi là thành Gia Định), đặt Gia Định làm kinh Gia Định Thành Gia Định được xây dựng năm 1789, tọa lạc trên khu đất gò thuộc làng Tân Khai (nằm ở phía bắc Sài Gòn)
Trấn Gia Định (từ năm 1800 đến năm 1808)
Vào năm Canh Thân (1800), đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định Sau khi thu phục kinh đô Phú Xuân, Nguyễn Ánh lại đổi kinh Gia Định thành thành thuộc trấn Gia Định Đặc chức quan “tổng trấn” cai quản năm trấn, bao gồm Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn (Long Hồ), Trấn Định (Trường Đồn) và Hà Tiên
Thành Gia Định (từ năm 1808 đến năm 1832)
“Ngày 12 tháng giêng năm Mậu Thìn (1808), đổi trấn Gia Định làm thành Gia Định, chỉ định Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng trấn, Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn.” Về quy mô, cũng như Bắc Thành, cai quản các trấn ở miền Bắc, thành Gia Định cai quản 05 trấn trong nam là Phiên An (vốn là Phiên Trấn), Biên Hòa
4
Nguyễn Phan Quang (1998), Góp thêm tư liệu Sài Gòn – Gia Định từ 1859 – 1945, Nxb Trẻ TP.HCM,
tr.32
Trang 24(vốn là Trấn Biên), Định Tường (vốn là Trấn Định), Vĩnh Thanh (vốn là Vĩnh Trấn) và Hà Tiên Ngoài ra, còn kiêm quản thêm trấn Bình Thuận ở phía bắc Biên Hòa
Tỉnh Gia Định (từ năm 1836 đến năm 1867)
Sau khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng đổi “ngũ trấn” thành “lục tỉnh”, trong đó trấn Vĩnh Thanh phân thành hai tỉnh Vĩnh Long và An Giang, thành Gia Định đổi thành tỉnh Phiên An, ba tỉnh còn lại gồm Biên Hòa, Định Tường và Hà Tiên Vào năm 1835, sau vụ Lê Văn Khôi, Minh Mạng quyết định phá hủy thành Bát Quái, đồng thời cho xây Phụng Thành vào năm 1836 Cũng trong năm 1836, tỉnh Phiên An đổi tên thành tỉnh Gia Định, thành Phiên An cũng đổi tên là thành Gia Định
Năm 1859, thực dân Pháp chiếm Sài Gòn, phá tan và san thành bình địa thành Gia Định (Pháp gọi là thành Sài Gòn) Năm 1862, triều đình Huế phải ký
“hòa ước”, nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường Sau “hòa ước” 1862, tỉnh Gia Định vẫn gồm 03 phủ Tân Bình, Tân An và Tây Ninh
Hạt Gia Định (từ năm 1885 đến năm 1889)
Năm 1867, Pháp vi phạm “hòa ước” đem quân chiếm nốt ba tỉnh miền Tây
là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Cũng trong năm này, Pháp quyết định bỏ tên
“tỉnh Gia Định”, đổi sang gọi là “tỉnh Sài Gòn”, tuy vẫn giữ nguyên địa bàn của tỉnh Gia Định trước đó, nhưng lại bỏ đơn vị phủ, huyện, chia làm 07 hạt tham biện (inspection), trong đó có Hạt Sài Gòn (không bao gồm thành phố Sài Gòn), bao gồm hai huyện Bình Dương và Bình Long
Vào năm 1872, Hạt Sài Gòn lại nhập thêm huyện Ngãi An (tức Thủ Đức), đây vốn là phần đất thuộc tỉnh Biên Hòa
Trang 25Vào năm 1885, Hạt Sài Gòn lại đổi tên thành “Hạt Gia Định”, nguyên nhân
có lẽ để tránh lầm lẫn với tên gọi “thành phố Sài Gòn”, một đơn vị hành chính tồn tại song song và độc lập khi ấy
Tỉnh Gia Định (từ năm 1889 đến năm 1975)
Vào năm 1889, thực dân Pháp đổi “hạt” thành “tỉnh”, đồng thời thực hiện thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Như vậy, Gia Định trở thành một trong
số 20 tỉnh thời Pháp thuộc (xét trong phạm vi địa bản Nam Kỳ lục tỉnh dưới thời Minh Mạng), ở thời điểm này, diện tích của nó đã thu hẹp, chỉ còn 18 tổng, 200 xã thôn và tổng diện tích là 1.840 km2
Về hai địa danh “Sài Gòn” và “Chợ Lớn”, từ năm 1862, sau khi chiếm được
ba tỉnh miền Đông, thực dân Pháp vẫn giữ nguyên ranh giới hành chính của tỉnh Gia Định cũ, với tỉnh lị mang tên Sài Gòn và ba phủ: Tây Ninh (lị sở Tây Ninh), Tân Bình (lị sở Sài Gòn) và Tân An (lị sở Tân An) Vào năm 1867, sau khi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, thực dân Pháp đã tiến hành một số thay đổi nhất định Cụ thể, đổi tên “tỉnh Gia Định” thành “tỉnh Sài Gòn”, bao gồm 7 hạt: Sài Gòn (trung tâm hành chính: Sài Gòn, gồm hai huyện Bình Dương và Bình Long); Phước Lộc (trung tâm hành chính: Cần Giuộc, hạt này đổi tên thành hạt Cân Giuộc vào năm 1870); Tân Hòa (trung tâm hành chính: Gò Công, hạt này đổi thành tòa tham biện
Gò Công vào năm 1870); Tân An (trung tâm hành chính: Bình Lập); Tây Ninh (trung tâm hành chính:Tây Ninh) và Quang Hóa (trung tâm hành chính: Trảng Bàng)
Vào năm 1874, tỉnh Sài Gòn từ 07 hạt rút xuống còn 05 hạt, bao gồm: Sài Gòn (Bình Long, Bình Dương và Ngãi An), Chợ Lớn (tức địa phận của hai huyện Phương Long và Tân Long cũ), Tân An (Tân Thạnh, Cửu An), Gò Công (bao gồm
04 tổng của huyện Tân Hòa cũ) và Tây Ninh (gồm hai huyện Tây Ninh và Quang Hóa)
Trang 26Vào năm 1874, từ đơn vị “hạt tham biện” (inspection), thực dân Pháp chuyển đổi thành “địa hạt” (arrondissement), nhưng ranh giới hành chính của tỉnh Sài Gòn trước đó vẫn được giữ nguyên
Theo nghị định của Pháp ký ngày 05 tháng 01 năm 1876, Pháp bãi bỏ lục tỉnh, toàn bộ “lục tỉnh Nam Kỳ” thời Nguyễn được phân lại thành 04 khu vực (circonscription) Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Hậu Giang, kế đó lại phân nhỏ thành 19 địa hạt và hai thành phố biệt lập là Sài Gòn và Chợ Lớn5 Trong đó khu vực Sài Gòn bao gồm 05 địa hạt: Sài Gòn (huyện Bình Dương, Bình Long), Tây Ninh (huyện Tân Ninh, Trảng Bàng), Thủ Dầu Một (huyện Bình An), Biên Hòa (huyện Phước Chánh, Long Thành) và Bà Rịa (huyện Phước An); riêng ba khu vực còn lại Mỹ Tho gồm 04 địa hạt (Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Chợ Lớn), Vĩnh Long gồm 04 địa hạt (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc) và Bassac tức Hậu Giang, bao gồm 06 địa hạt (Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng) Có thể thấy rõ, 5 hạt tham biện (inspection) vốn thuộc địa bàn tỉnh Sài Gòn trước đó, nay đã nằm trong hai khu vực hoàn toàn khác nhau
Vào ngày 13 tháng 12 năm 1880, thực dân Pháp lập thêm địa hạt 20, gồm hai tổng Bình Chánh Thượng và Dương Minh Đối chiếu với thực tế ngày nay, tổng Bình Chánh thượng bao gồm các vùng Tân Định, Chợ Đũi, Đa Kao, Hòa Hưng và một phần nhỏ của quận 3; tổng Dương Minh bao gồm các khu vực Cầu Kho, Chợ Quán, Chợ Đũi, Đa Kao, Khánh Hội, Bàu Đồn,… Khi ấy, thành phố Sài Gòn nằm trong phạm vi huyện Bình Dương, thành phố Chợ Lớn nằm trong phạm
vi huyện Tân Long, nhưng hai thành phố này quy thuộc hai khu vực hoàn toàn khác nhau Thực tế, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn khi ấy chỉ chiếm diện tích rất nhỏ, trong đó Chợ Lớn có tổng diện tích khoảng gần 700 ha và Sài Gòn khoảng
447 ha Cả hai thành phố tuy đã có mức độ đô thị hóa nhất định, nhưng vẫn còn
5
Comité agricole et industriel, La Cochinchine Française en 1878, Paris, 1878 Dẫn lại Nguyễn Đình Đầu (1994), Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb TP HCM, tr.91 Xem thêm Philippe Langlet, Quach Thanh Tam (2001), Atlas historique des six provinces du sud du Vietnam du milieu du XIX e au début du XX e siècle, Paris, page 8
Trang 27sáp nhập với một số xã thôn cũ Bước sang đầu thế kỷ XX, cùng quá trình quy hoạch đầu tư ngày càng nhiều của thực dân Pháp vào thành phố Sài Gòn, sự gia tăng không ngừng về số lượng người Hoa ở thành phố Chợ Lớn, khiến tốc độ đô thị hóa ở hai thành phố này diễn ra ngày càng nhanh, cả hai không ngừng khuếch trương địa bàn, dần dần tiến tới tiếp cận và giáp ranh nhau
Vào năm 1885, địa hạt Sài Gòn đổi tên thành địa hạt Gia Định Ba năm sau, vào ngày 12 tháng 01 năm 1888, thực dân Pháp quyết định bỏ đơn vị hành chính địa hạt 20, sáp nhập các xã thôn vốn thuộc địa hạt này vào thành phố Sài Gòn Theo học giả A Landron, “ranh giới của địa hạt 20 trải dài từ sông Sài Gòn đến Rạch Tàu, từ Rạch Ông Lớn đến Chợ Quán, Rạch Bầu Vào năm 1887, địa hạt 20
có 12.376 dân Năm 1888, nhà cầm quyền Pháp ra nghị định xóa bỏ địa hạt 20 này cùng một số vùng khác để nhập vào Sài Gòn – Chợ Lớn.”6
Vào năm 1889, thực dân Pháp lại đổi “hạt” thành “tỉnh”, trên địa bàn Sài Gòn, Gia Định trước đó đồng thời tồn tại hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn và hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn
Thành phố Sài Gòn
Tổng diện tích của thành phố khoảng trên 1000 ha, tương ứng với địa bàn các quận 1, 3 và 4 hiện nay Về đông tây tứ cận, phía bắc giáp rạch Thị Nghè, phía đông giáp sông Sài Gòn, phía nam giáp rạch Bầu Đồn, phía tây giáp thành phố Chợ Lớn, ranh giới dao động khoảng vị trí từ đại lộ Nguyễn Văn Cừ và khu nhà thờ Chợ Quán nằm trên đường Trần Bình Trọng thuộc quận 5 ngày nay
Thành phố Chợ Lớn
Tổng diện tích của thành phố Chợ Lớn xấp xỉ thành phố Sài Gòn, tương ứng toàn bộ địa bàn quận 5, một phần quận 6 và một phần quận 10 ngày nay Về đông tây tứ cận, phía bắc giáp đại lộ 3-2, phía nam giáp kênh Tàu Hũ, phía tây giáp rạch
6
Nguyễn Đình Đầu (1994), Tổng kết nghiên cứu địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb TP HCM, tr.36.
Trang 28Lò Gốm, phía đông giáp thành phố Sài Gòn, ranh giới dao động khoảng từ vị trí nhà thờ Chợ Quán trên đường Trần Bình Trọng thuộc quận 5 và đại lộ Nguyễn Văn Cừ ngày nay
Tỉnh Gia Định
Toàn tỉnh bao gồm 18 tổng với 200 xã thôn Các tổng gồm: An Bình, An Điền, An Thành, An Thít, An Thổ, An Thủy, Bình Thạnh Hạ, Bình Thạnh Trung, Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung, Bình Trị Hạ, Cần Giờ, Dương Hòa Thượng, Dương Hòa Hạ, Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung, Long Tuy Hạ, Long Vĩnh
Hạ
Tỉnh Chợ Lớn
Toàn tỉnh bao gồm 11 tổng với 69 xã Các tổng gồm: Cầu An Hạ, Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung, Long Hưng Hạ, Phước Điền Thượng, Phước Điền Trung, Phước Điền Hạ, Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung, Lộc Thành
là Khu Sài Gòn – Chợ Lớn
Ngày 12 tháng 01 năm 1888, quan toàn quyền Đông Dương ra nghị định xóa
bỏ Khu Sài Gòn – Chợ Lớn, lập lại hai thành phố như cũ
Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập trở lại hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, với tên gọi là “khu Sài Gòn – Chợ Lớn” (région de
Trang 29Saigon – Cholon) Trưởng Khu có toàn quyền quyết định mọi việc, dưới Trưởng Khu tuy đặt ra viên Đốc lý, nhưng nhìn chung không có nhiều quyền hành Không những thế, Trưởng Khu còn kiêm luôn chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Khu Vào ngày 19 tháng 12 năm 1941, tức khoảng 10 năm sau đó, Tổng thống Pháp lại ký sắc lệnh bãi bỏ hẳn hai chức Đốc lý và cả hai Hội đồng của hai thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn, mới mục đích tập trung quyền lực về Trưởng Khu và Hội đồng quản trị của Khu
Vào năm 1940, Pháp lại lập ra các quận, tương đương với các đơn vị phủ, huyện xưa; về hành chính, đứng đầu mỗi quận là một viên phủ hay Đốc phủ sứ Khi ấy, tỉnh Gia Định được chia thành 4 quận với 16 tổng và 80 xã Bao gồm:
Quận Hóc Môn: gồm 05 tổng, thuộc địa phận hai huyện Hóc Môn và Củ
Chi ngày nay
Quận Thủ Đức: gồm 05 tổng, địa bàn chủ yếu gồm 02 quận Thủ Đức và
quận 9 ngày nay, hai quận này vốn là đất thuộc địa bàn tỉnh Biên Hòa
Quận Gò Vấp: gồm 02 tổng, thuộc địa bàn các quận Gò Vấp, Bình Thạnh,
Phú Nhuận và các huyện Bình Chánh, Hóc Môn ngày nay
Quận Nhà Bè: gồm 4 tổng, thuộc địa bàn hai huyện Nhà Bè và Cần Giờ
ngày nay
Riêng tỉnh Chợ Lớn, vốn được thành lập vào năm 1876, trên cơ sở hai huyện Tân Long của phủ Tân Bình và huyện Phước Lộc thuộc phủ Tân An; vào năm
1956, tỉnh này lại sáp nhập với tỉnh Tân An thành tỉnh Long An Tên tỉnh mới này
là sự phối hợp giữa chữ “Long” của huyện Tân Long và chữ “An” thuộc tỉnh Tân
An
Như vậy, sau khi tỉnh Chợ Lớn sáp nhập cùng tỉnh Tân An để hình thành tỉnh Long An, địa giới của tỉnh Gia Định và hai thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn có thể nói về cơ bản đã trùng khít với địa giới hành chính của thành phố Hồ Chí Minh ngày nay Đến đây địa bàn hoạt động của đối tượng nghiên cứu thuộc đề tài này về
cơ bản đã được hoạch định Thế nhưng, vẫn còn một điểm cần phải đặc biệt chú ý,
đó là, nội hàm của tổ hợp “người Hoa thành phố Hồ Chí Minh” mà chúng ta hiểu
Trang 30ngày nay chắc chắn không trùng khít với nội hàm của tổ hợp “người Hoa thuộc khu Sài Gòn – Chợ Lớn” của quá khứ Thấy được điểm này, kết hợp với nhiều yếu
tố khác, chúng ta sẽ dễ dàng thấy rõ, những cách biểu đạt kiểu như số lượng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng năm cuối thế kỷ XIX là bao nhiêu bao nhiêu,
là hoàn toàn có vấn đề, bởi một lượng lớn người Hoa ở Gò Vấp và một lượng không nhỏ người Hoa ở các thôn xã khác thuộc tỉnh Gia Định đã bị loại bỏ ra ngoài Thế nên, đối với đối tượng nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng, cần thiết phải đặt ra một số quy ước như sau:
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trước sau đều được hiểu là văn học của người Hoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh “Thành phố Hồ Chí Minh” nếu xét về mặt hành chính và địa giới, sẽ bao gồm: toàn bộ các xã thôn thuộc tỉnh Gia Định và hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn
Thứ hai, từ điều mục trên đây, cần thiết phải thấy rõ, một số lời phát biểu và một số kết quả điều tra, thống kê xã hội học về đối tượng người Hoa trong quá khứ của một số học giả trong và ngoài nước mà chúng tôi dẫn ra trong công trình nghiên cứu đôi khi mang tính phiến diện
Thứ ba, hiện tượng di cư và giao lưu giữa các nhà văn, nhà thơ là một thực
tế hết sức phổ biến, trong đề tài này, chúng tôi quan niệm, để được xem là tác giả văn học người Hoa thành phố Hồ Chí Minh, trước hết tác giả cần phải là người Hoa, đồng thời phải có khoảng thời gian tương đối sống và sáng tác tại thành phố
Hồ Chí Minh
Tóm lại, việc khảo rõ hoàn cảnh lịch sử địa lý hay xác định rõ địa bàn hoạt động của đối tượng nghiên cứu luôn là vấn đề cần thiết, đặc biệt là địa bàn hoạt động của đối tượng nghiên cứu thuộc đề tài này, một địa bàn hết sức phức tạp, luôn
có sự thay đổi không ngừng về nội hàm trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử Chúng tôi cho rằng, nếu không có những khảo cứu trên đây, đề tài nghiên cứu này
sẽ vô cùng mơ hồ, chắc chắn không đủ cơ sở để tiến hành
Trang 311.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở TP HCM
1.2.1 Người Hoa Việt Nam, số lượng, thành phần và nguyên nhân di cư
1.2.1.1 Số lượng người Hoa ở Việt Nam
Khác với hầu hết các cộng đồng dân tộc cư trú trên đất nước Việt Nam, cộng đồng người Hoa vốn không có nguồn gốc bản địa, họ chủ yếu di cư đến từ các tỉnh phía Nam Trung Hoa Do đặc điểm địa lý, so với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, người Hoa đến Việt Nam khá sớm Theo nguồn thư tịch cổ Việt Nam và Trung Quốc, người Hoa có mặt ở Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên Không kể binh lính và các đội quân xâm lược, người Hoa di cư với
số lượng lớn vào Việt Nam rồi định cư ở đây thường diễn ra phổ biến từ sau các cuộc nội chiến ở Trung Quốc Tập trung chủ yếu vào các thời kỳ như: cuối đời Đông Hán – đầu đời Tam Quốc; cuối Tống – đầu Nguyên; cuối Minh – đầu Thanh; chiến tranh Trung – Nhật; sự kiện Quốc dân đảng bị đánh đuổi khỏi Trung Quốc; Theo dòng lịch sử, cùng với sự biến động của lịch sử Trung Quốc, số lượng người Hoa đến Việt Nam giai đoạn trước 30/4/1975 không ngừng gia tăng Họ cư trú khá tập trung ở những nơi có điều kiện buôn bán làm ăn, dần dần hình thành các khu phố Khách (Chinatowns) khá sầm uất như Vân Đồn – Quảng Ninh, Phố Hiến – Hưng Yên, Hội An – Quảng Nam, Chợ Lớn – TP Hồ Chí Minh, Thế nhưng, những biến động chính trị trên đất nước Việt Nam cùng những mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc từ sau 30/4/1975, khiến số lượng người Hoa ở Việt Nam giảm sút đáng kể
Để có cái nhìn tổng quan về số lượng người Hoa ở Việt Nam diễn tiến qua các thời kỳ, chúng tôi căn cứ vào một số nguồn thư tịch trong và ngoài nước, tạm liệt kê theo bảng dưới đây:
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG NGƯỜI HOA Ở VIỆT NAM
TỪ 1878 ĐẾN 2009
Trang 32Đơn vị tính: người
Năm
Nơi cư trú Thân phận
Tổng hợp nơi ở và thân phận
Tổng số người Hoa trên toàn Việt Nam
Dẫn nguồn Miền
Bắc
Miền Nam
(không bao gồm miền
Trung)
Hoa duệ
(cha Hoa, mẹ
sử10
(NKLT)
Trương Vĩnh Ký11
sử13
1940 35.550 314.781
Lãnh sự quán Trung Quốc tại Sài Gòn14
Xem Diêu Đan (1946), Trung Nam bán đảo Hoa kiều sử cương yếu, Thượng Hải thư điếm, tr.12
15 Xem Uất Thụ Côn (1951), Nam Dương niên giám, tr.211
16
Hồ Chí Minh (1946), Cáo quốc dân đồng bào (tài liệu chữ Hán), bản viết tay điển tàng tại Thư viện
Quốc gia Hà Nội
Trang 33(Minh Hương)
Việt Nam thống kê niên giám22
Tân văn xã25
Dân Quốc niên giám26
Hoa kiều thương nghiệp niên giám27
dissertation, University of Pittburgh, p.94
Trần Khánh soạn, Trần Kim Vân, Trần Hán Bảo dịch, “Việt Nam Hoa nhân nhân khẩu học phân tích”,
in trong tạp chí Bát Quế kiều san, số 03 năm 2001, tr.60
23
Stern, Lewis M (1984), The Vietnamese Communist Policy toward Overseas Chinese 1920 – 1982, Ph
D dissertation, University of Pittburgh, p.131
24
Niên giám năm 1953 Victor Purcell soạn, Quách Tương Chương dịch (1974), Đông Nam Á chi Hoa kiều, Đài Bắc, Chánh Trung xuất bản xã, tr.284
25
Riêng miền Trung Việt Nam còn có 50.000 người Hoa Số liệu công bố ngày 28 tháng 3 năm 1952 Số
lượng này thống nhất với số lượng do tờ Viễn Đông kinh tế bình luận ra ngày 03 tháng 7 cùng năm Xem
Hưá Văn Đường (1994), “Việt Nam Hoa nhân xã đoàn cập kỳ văn hóa hoạt động”, in trong Chu Hoằng
Nguyên chủ biên, Đông Nam Á Hoa nhân xã đoàn cập kỳ văn hóa hoạt động chi nghiên cứu, Đài Bắc, Trung Ương nghiên cứu viện, tr.259 Xem thêm Quách Thọ Hoa (1970), Việt Nam thông giám, Đài Bắc,
Ấu Sư xuất bản xã, tr.154
Trang 34thống kê cục28
583.000 (SGCL)
Trương Văn Hòa29
- 1.500.000
Stern30
thống kê niên giám31
707.977 (NKLT)
Annuaire des États Associés32
750.000
Trần Khánh33650.000
(SGCL)
Pháp quốc Viễn Đông nhật báo34
Stern, Lewis M (1984), The Vietnamese Communist Policy toward Overseas Chinese 1920 – 1982, Ph
D dissertation, University of Pittburgh, p.162
Trần Khánh soạn, Trần Kim Vân, Trần Hán Bảo dịch, “Việt Nam Hoa nhân nhân khẩu học phân tích”,
in trong tạp chí Bát Quế kiều san, số 03 năm 2001, tr.59
34
Trương Văn Hòa (1975), Việt Nam Hoa kiều sử thoại, Đài Bắc, Lê Minh xuất bản xã, tr.51
35
Năm 1954-1955, có khoảng 45000 người Hoa ở miền Bắc Việt Nam di cư vào miền Nam Xem Stern,
Lewis M (1984), The Vietnamese Communist Policy toward Overseas Chinese 1920 – 1982, Ph D
dissertation, University of Pittburgh, p.162
36
Trần Khánh soạn, Trần Kim Vân, Trần Hán Bảo dịch, “Việt Nam Hoa nhân nhân khẩu học phân tích”,
in trong tạp chí Bát Quế kiều san, số 03 năm 2001, tr.62
37
Trần Khánh soạn, Trần Kim Vân, Trần Hán Bảo dịch, “Việt Nam Hoa nhân nhân khẩu học phân tích”,
in trong tạp chí Bát Quế kiều san, số 03 năm 2001, tr.59
38
Trần Khánh soạn, Trần Kim Vân, Trần Hán Bảo dịch, “Việt Nam Hoa nhân nhân khẩu học phân tích”,
in trong tạp chí Bát Quế kiều san, số 03 năm 2001, tr.59
Trang 35430.000 Việt Nam
thống kê niên giám41
Pháp văn Triêu báo42
Hoa kiều tổng kiểm tra43
thống kê niên giám44
Hoa48
Liên Hợp Quốc491.000.000 1.035.000 Hoa kiều
đều khoảng trên 900 người Xem Quách Thọ Hoa (1970), Việt Nam thông giám, Đài Bắc, Ấu Sư xuất bản
xã, tr.154
49
“Kế hoạch viện trợ kỹ thuật trong phát triển kinh tế cho Việt Nam cộng hòa” của Liên Hợp Quốc năm
1959 Xem Victor Purcell soạn, Quách Tương Chương dịch (1974), Đông Nam Á chi Hoa kiều, Đài Bắc,
Chánh Trung xuất bản xã, tr.302
50
Xem ? (1964), Hoa kiều chí tổng chí, Đài Bắc, Hải Ngoại xuất bản xã, tr.126.
Trang 36182.397 427.235 Bộ Nội
chánh Việt Nam cộng hòa51
-855.000
Chính trị gia niên giám52
Purcell53
1.500.000 ( SGCL:700 000)
Ky55
Thống kê Hà Nội56
New York57
chánh Việt Nam cộng hòa58
niên giám59
giới ngoại văn60
Kết quả thống kê số ngoại kiều ra vào của Bộ Nội chánh Việt Nam cộng hòa Xem Quách Thọ Hoa
(1970), Việt Nam thông giám, Đài Bắc, Ấu Sư xuất bản xã, tr.154
Xem Stern, Lewis M (1984), The Vietnamese Communist Policy toward Overseas Chinese 1920 –
1982, Ph D dissertation, University of Pittburgh, p.183
56
Mạc Đường (1994), Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, tr.127
57
Thời báo New York số ra ngày 14 tháng 5 năm 1961 Xem Victor Purcell soạn, Quách Tương Chương
dịch (1974), Đông Nam Á chi Hoa kiều, Đài Bắc, Chánh Trung xuất bản xã, tr.17
58
Xem Quách Thọ Hoa (1970), Việt Nam thông giám, Đài Bắc, Ấu Sư xuất bản xã, tr.49 Cần chú ý, đây
là kết quả tự nguyện đăng ký của người dân, không phải kết quả từ một cuộc tổng điều tra dân số có quy
Tờ báo tiếng Pháp La Monde Diplomatique, xem Trần Khánh soạn, Trần Kim Vân, Trần Hán Bảo dịch,
“Việt Nam Hoa nhân nhân khẩu học phân tích”, in trong tạp chí Bát Quế kiều san, số 03 năm 2001, tr.59
Trang 37867.450 (Chưa kể tỉnh Lạng Sơn)
Hứa Văn Đường64
53.672
(3.817,
HN)
877.691 (475.739,
TP HCM)
935.074 Amer65
474.712 (TP HCM)
Ban chỉ đạo điều tra dân
961.702 Hứa Văn
Đường6749.040
(2.648,
HN)
850.614 (433.551,
TP HCM)
900.185 Amer68
hóa TP HCM69
Xem Hưá Văn Đường (1994), “Việt Nam Hoa nhân xã đoàn cập kỳ văn hóa hoạt động”, in trong Chu
Hoằng Nguyên chủ biên, Đông Nam Á Hoa nhân xã đoàn cập kỳ văn hóa hoạt động chi nghiên cứu, Đài
Bắc, Trung Ương nghiên cứu viện, tr.259
Trang 38Nam72862.371 Tổng cục
Thống kê Việt Nam73
giao Việt Nam74
Thống kê Việt Nam77(Chữ viết tắt: SGCL = Sài Gòn-Chợ Lớn, NKLT = Nam Ký lục tỉnh, HN = Hà Nội.)
Xét bảng thống kê số lượng người Hoa ở Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận
ra một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, có hai xu hướng dễ thấy nhất trong suốt tiến trình lịch sử của người Hoa ở Việt Nam, đó là, số lượng người Hoa không ngừng gia tăng, kể từ giai đoạn sớm nhất trong lịch sử người Hoa cho đến những năm nửa cuối thập niên
60, nửa đầu thập niên 70 thuộc thế kỷ 20 Nhưng theo chúng tôi, thời điểm số lượng người Hoa ở Việt Nam đạt đến con số cao nhất có lẽ phải định vào giai đoạn nửa cuối thập niên 60, bởi từ những năm 1968 về sau, do chiến sự ngày càng diễn biến phức tạp, nhiều gia đình Hoa kiều ở Việt Nam đã chọn con đường về nước hoặc di cư sang nước thứ ba
Thứ hai, trong suốt lịch sử của người Hoa ở Việt Nam, Sài Gòn – Chợ Lớn (trước 30/4/1975) hoặc thành phố Hồ Chí Minh (từ 2/7/1976 về sau) luôn là địa bàn tập trung nhiều người Hoa nhất trong cả nước Người Hoa đến Việt Nam, ngay
từ khi trong đầu họ khởi phát ý định di cư, mục tiêu của một bộ phận không ít người đã nhắm đến hai chữ Đề Ngạn (Ti An) hoặc Tây Cống (Xi Gong), mà cùng
Trang 39với tiến trình lịch sử, rất nhiều nhóm người Hoa đều có xu hướng di cư đến Sài Gòn – Chợ Lớn, đến thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể như, nhóm người Hoa từ các tỉnh miền Bắc di cư vào Nam khoảng những năm 1954-1955, nhóm người Hoa từ Campuchia chạy loạn sang thành phố Hồ Chí Minh vào những năm 1978-1979, nhóm người Hoa từ các tỉnh miền Trung Việt Nam, miền Đông Nam Bộ, Tây Nam
Bộ không ngừng tiệm tiến vào địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
Thứ ba, số lượng người Hoa được thống kê chắc chắn không phù hợp với thực tế, đặc biệt số lượng người Hoa ở cùng một địa bàn, cùng một thời điểm, nhưng nguồn thống kê khác nhau cũng sẽ khác nhau
Có một số điểm mà bất cứ một học giả nào cũng phải công nhận, đó là, thế
hệ những người Hoa đến Việt Nam từ giai đoạn trước cuối đời Minh đầu đời Thanh hầu như còn rất ít người có ý thức về nguồn gốc dân tộc của mình Do rất nhiều nguyên nhân, bao gồm cả khách quan (sức ép bắt buộc nhập tịch) lẫn chủ quan (dễ làm ăn, được hưởng ưu đãi về thuế như người Việt Nam, ), từ hàng ngàn năm trước cho đến tận ngày nay, hàng loạt thế hệ người Hoa ở Việt Nam đã bị Việt hóa và hoàn toàn hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng của người Việt Nam Đây cũng nguyên nhân quan trọng nhất khiến chúng tôi cho rằng, số lượng người Hoa được thống kê không hoàn toàn phù hợp với thực tế
Vào ngày 23 tháng 12 năm Mậu Tý (1828), tức năm Minh Mạng thứ 9, Trấn quan thuộc Vĩnh Thanh trấn (Vĩnh Long) có công văn sức về các huyện, chỉ đạo cách xử lý thực tế nhập cư của “Thanh khách” (còn gọi “Đáp khách”) vào các trấn, công văn có đoạn như sau:
Tùng tiền, Thanh thuyền lai thương thành hạt, thường hữu đáp khách, mỗi tao đa giả ngũ lục bách nhân, thiểu giả bất hạ tam tứ bách nhân Đãi chí hồi phàm chi nhật, bất quá đà công, thủy thủ, thất bát thập nhân nhi dĩ Dư giai lưu lai phỏng tầm thân quyến, tản cư ư phố diện cập các xã thôn thị tứ, hoặc dĩ thương cổ vi nghiệp, hoặc dĩ nông phố vi sinh, nhất niên chi trung bất
hạ tam tứ thiên nhân Thả cai đẳng nguyên hệ không thủ, nhi khuy kiến thành hạt nãi phì nhiêu chi địa, sơn trạch lợi phì, dị ư sinh nhai Cố cư tụ nhật phiền, nhân khẩu ký đa, bất duy mễ giá
Trang 40nhật ích tăng quý, nhi cái đẳng thích ngã lạc thổ, y thực ký túc, kiêu tứ tùy sinh 78 (从前清船来 商城辖,常有搭客每艘多者五六百人,少者不下三四百人,迨至回帆之日,不过舵工水 手柒捌拾人而已,馀皆留来访寻亲眷,散居于庯面及各社村、市肆或以商贾为业,或以 农圃谋生。一年之中,不下叁肆千人。(明命玖年拾贰月贰拾叁日永清镇镇官饬弘安府 新明县府县官。)
Trước nay, thuyền Thanh đến trấn thành buôn bán, thường có Thanh khách
đi theo, những thuyền nhiều có đến năm sáu trăm người, thuyền ít cũng không dưới ba bốn trăm Đến khi hồi trình, lại chỉ còn người lái thuyền và thủy thủ, bảy tám mươi người mà thôi Số còn lại đều lấy cớ đi tìm người thân, tản về trú ngụ nơi phố xá, thị tứ, xã thôn Trong số họ, hoặc lấy việc buôn bán làm nghề, hoặc làm ruộng mưu sinh, cứ như thế, số lượng (Thanh khách) trong một năm không dưới ba bốn ngàn người Bọn người ấy nguyên là kẻ đến tay không, thấy trấn thành ta đất đai rộng rãi, phì nhiêu, thuận lợi cho việc sinh nhai.Vậy nên tụ tập về ngày càng nhiều, nhân khẩu gia tăng, không chỉ khiến giá gạo tăng lên từng ngày, mà việc bọn họ đến xứ ta, cũng khiến cái ăn cái mặc vốn đủ, liên tục lâm vào tình trạng thiếu thốn
Nên chú ý rằng, đây mới chỉ là thực tế xảy ra trong địa phận trấn Vĩnh Thanh Dưới thời nhà Nguyễn, Vĩnh Thanh là một trấn mới thành lập, đất đai rộng lớn, cư dân thưa thớt, thế nên đây tất yếu là miền đất hứa cho các nhóm di dân đến
từ Trung Hoa Nhưng những vùng có điều kiện ưu đãi như Vĩnh Thanh ở chốn Nam Kỳ lục tỉnh thực không ít, đó là chưa tính đến hầu hết mọi vùng đất trên đất nước Việt Nam đều có thể đem lại cơ hội kinh doanh cho các khách Hoa Nhóm
tác giả Phan Huy Lê trong Nguyễn triều châu bản mục lục, đã thống kê được số
lượng các thương thuyền lớn của Trung Quốc cập cảng Việt Nam buôn bán dưới triều Minh Mạng, cụ thể vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825) có 38 thuyền trong
78
Tư liệu sổ Bộ Hán Nôm, được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, TP HCM, số ký hiệu tài liệu V.0144