1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chỉnh lý di vật di chỉ gò cát (gò quéo), quận 2, tp hồ chí minh do trung tâm khoa học xã hội và nhân văn thành phố khảo sát, thám sát năm 1992

75 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 14,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đợt này, những hiện vật thu thập được trên mặt đất và trong địa tầng của hố thám sát bao gồm:  Gần 10.000 mảnh gốm, chiếm tỉ lệ áp đảo.. * Loại hình: - Đồ đựng: đa số là những mả

Trang 1

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”

LẦN 9 NĂM 2007

Tên công trình:

CHỈNH LÝ DI VẬT DI CHỈ GÒ CÁT (GÒ QUÉO), QUẬN 2, TP HỒ CHÍ MINH DO TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ KHẢO SÁT,

THÁM SÁT NĂM 1992

Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội

Mã số công trình: ………

Trang 2

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”

LẦN 9 NĂM 2007

TÊN CÔNG TRÌNH:

CHỈNH LÝ DI VẬT DI CHỈ GÒ CÁT (GÒ QUÉO), QUẬN 2, TP HỒ CHÍ MINH DO TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ KHẢO SÁT, THÁM SÁT NĂM 1992

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI

Nhóm tác giả:

Lê Nguyên Anh Nữ Nguyễn Thị Thu Hằng Nữ Trần Đoàn Minh Hoàng Nam Trưởng nhóm: Trần Đoàn Minh Hoàng

Lớp: Khảo cổ học Năm thứ/Số năm đào tạo: 4/4

Khoa: Lịch sử

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hậu

Trang 3

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIN CỦA DI CHỈ GÒ CÁT 5

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 5

1.2 Vị trí của di tích Gò Cát 9

CHƯƠNG 2 DI TÍCH VÀ DI VẬT 11

2.1 Di tích 11

2.2 Di vật 13

2.2.1 Đồ đá 13

2.2.2 Đồ gốm 17

2.2.3 Đồ đồng 38

2.2.4 Đồ trang sức 38

CHƯƠNG 3 DI CHỈ GÒ CÁT TRONG NỀN CẢNH VĂN HOÁ Ở LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI 43

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 50

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Nhóm tác giả đã chọn nghiên cứu và chỉnh lí hiện vật của di tích khảo cổ do Trung tâm Khoa học Xã hội vả Nhân văn thành phố khảo sát và thám sát năm 1992.Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đặt Gò Cát trong không gian thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của di tích Gò Cát Nhóm tác giả đưa ra nhận xét sau khi đã chỉnh lí xong hiện vật đồ đá, đồ đồng, đồ gốm của di tích hiện đang được lưu giữ tại trung tâm Dựa vào những đặc điểm hiện vật là đặc trưng của di tích nhóm tác giả đã so sánh với những di tích khác trong khu vực sông Đồng Nai Nhờ đó, nhóm tác giả đã thu thập nhiều nguồn thông tin đã đưa ra nhận xét một cách toàn diện về di vật và cả di tích Gò Cát Qua đó, phục dựng niên đại và một phần cuộc sống sinh hoạt của cư dân nơi đây

Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước đang tiến nhanh với một nhịp độ rất nhanh và thành phố Hồ Chí Minh là một trọng điểm phát triển Vấn đề không thể tránh khỏi là mặt bằng để xây dựng Bởi thế mà đã có rất nhiều di tích bị giải tỏa để phát triển cơ sở hạ tầng cho các khu công nghiệp Và di tích này không nằm ngoài quy luật thực tế này

Đặc biệt, khu di tích này hiện nay gần như bị xóa sổ, hiện vật phân tán ở nhiều nơi Vì Vì vậy, qua đề tài này chúng tôi hi vọng góp một phần công sức của mình vào việc đánh giá giá trị những di vật còn lại của di tích này, đồng thời, cung cấp cho chúng ta một lí lịch khoa học rõ ràng, nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu và trưng bày bảo tàng

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đề tài nghiên cứu về một di tích thuộc giai đoạn kim khí ở Quận 2 - Tp Hồ Chí

Minh, nơi mà quá trình đô thị hoá đang phát triển mạnh Nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu các nhà máy công nghiệp, khu dân cư ngày càng tăng, diện tích đất tự nhiên ngày càng thu hẹp dần, vì vậy nhiều di tích bị mất đi Trong một tương lai rất gần các di tích tiền sơ sử ở Tp Hồ Chí Minh sẽ không còn nữa Điều này

sẽ khiến cho các nhà khảo cổ thế hệ sau không có những tài liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu các di tích này nói riêng và lịch sử thành phố nói chung

Trước vấn đề cấp bách đặt ra như thế, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Chỉnh lý

di vật di chỉ Gò Cát (Gò Quéo), Q2, Tp Hồ Chí Minh do Trung tâm Khoa học Xã hội

và Nhân văn thành phố khảo sát, thám sát năm 1992”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Đề tài nghiên cứu thuộc về một di tích đã được phát hiện từ năm 1985 và đã được khảo sát, đào thám sát trong nhiều đợt 1990 và 1992 Kết quả các đợt khảo sát chưa công bố những báo cáo cụ thể cũng như bất cứ công trình nghiên cứu nào về di tích này Trong tác phẩm “ Khảo cổ học Tiền sơ sử thành phố Hồ Chí Minh” cũng đã

đề cập đến di tích Gò Cát nhưng chỉ ở mức độ khái quát Đến năm 2006, do nhu cầu giải phóng bề mặt để xây dựng trụ sở mới Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ của viện đã phối hợp với sinh viên và giảng viên bộ môn khảo cổ học của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thống kê bước đầu những hiện vật khảo cổ học được thu thập trong đợt khảo sát năm

1992, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có di chỉ Gò Cát Sau đợt thống

kê này, những di vật của Gò Cát đã được viện nghiên cứu xã hội thành phố tặng cho Bảo tàng Văn hoá Nam Bộ trực thuộc trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Một số hiện vật được lưu giữ ở Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, từ khi phát hiện cho đến nay, di tích Gò Cát gần như là một khoảng trắng trong sự hiểu biết về lịch sử xa xưa của thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành chỉnh lý những hiện vật đã được thu thập trong

Trang 6

năm 1992 để có thể góp phần sáng dần thêm những hiểu biết về di tích Gò Cát - một di tích thuộc thời đại kim khí ở thành phố Hồ Chí Minh đang có nguy cơ bị xoá sổ hoàn toàn

3 Mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu:

Các hiện vật thu nhặt và đào thám sát tại di chỉ Gò Cát (Gò Quéo), Q2, Tp Hồ Chí Minh đã được chỉnh lý kỹ nhằm thu thập những thông tin cần thiết giúp cho quá trình nghiên cứu, nhận xét một cách sâu rộng, toàn diện về di vật cũng như di tích Qua

đó phục dựng lại một phần cuộc sống và sinh hoạt của cư dân ở nơi đây Đặc biệt, khu

di tích này hiện nay gần như bị xoá sổ, hiện vật hầu như phân tán ở nhiều nơi Vì vậy,

hi vọng qua đề tài này chúng tôi sẽ góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc đánh giá giá trị và lưu giữ những di vật còn lại của di chỉ quan trọng này

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp truyền thống của khảo cổ học là tiến hành phân loại, thống kê, so sánh, chụp hình, dập hoa văn di vật theo các tiêu chí về loại hình, chất liệu, kiểu dáng v.v Thông qua đó lập ra những bảng thống kê chi tiết cho từng loại hình riêng Ngoài

ra, việc sử dụng các phương pháp liên ngành như Mỹ thuật, Dân tộc, Văn hoá …đã giúp cho quá trình thực hiện đề tài đạt được yêu cầu trong phạm vi cho phép

5 Giới hạn nghiên cứu:

Đề tài chỉ nghiên cứu các hiện vật đang lưu giữ tại Bảo tàng văn hoá Nam Bộ thuộc Trường ĐH KHXH & NV Tp Hồ Chí Minh gồm các chất liệu gốm, đá … và giới thiệu một số hiện vật ở Viện Nghiên Cứu Xã hội Tp Hồ Chí Minh (công cụ đá, đồng, đồ trang sức, vũ khí) đã thu nhặt và thám sát tại Gò Cát

6 Đóng góp của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu, chỉnh lý, đề tài cố gắng thu thập và cung cấp thông tin toàn diện, kỹ lưỡng về di vật ở Gò Cát Đồng thời giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về vị trí của di chỉ trong nền cảnh chung văn hoá khu vực Đông Nam Bộ, trước hết là trong hệ thống các di tích tiền sơ sử thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

7 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài của chúng tôi gồm ba chương

Chương 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA DI CHỈ GÒ CÁT

Giới thiệu sơ nét về địa lý tự nhiên, quá trình hình thành địa chất của khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói chung và di tích Gò Cát nói riêng Qua đó thấy được vị trí

cư trú của cư dân cổ ở đây

Trang 8

CHƯƠNG 1

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA GÒ CÁT

1.1 Vài nét điều kiện tự nhiên:

Tự nhiên là yếu tố có trước và bao trùm, đề ra những yêu cầu và thách đố, buộc con người sáng tạo ra kỹ thuật để thích nghi và ứng phó Chính vì vậy, trước khi tìm hiểu về mặt khảo cổ ở Gò Cát cần sơ lược về quá trình thành tạo và điều kiện tự nhiên của nó Và bởi vì, Gò Cát là một bộ phận của thành phố Hồ Chí Minh nên để hiểu về

nó cần phải đặt Gò Cát trong bối cảnh chung của vùng đất thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông Nam ăn thông ra biển, Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Đông giáp tỉnh Đồng Nai, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Đây là vùng đất đặc biệt mang tính chuyển

tiếp, tính bản lề giữa vùng đất nâng cao phía Bắc, Đông Bắc (vùng phù sa cũ) và vùng sụp, vùng trũng Tây Nam Bộ (vùng phù sa mới)

Về mặt địa chất, thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài và phức tạp cách nay 165 – 70 triệu năm Trong giai đoạn tân kiến tạo từ Mioxen đệ tứ cách đây 25 triệu năm – giai đoạn lấp đầy các vùng sụp lún, có tác dụng quyết định đến việc hình thành môi trường cảnh quang hiện tại của thành phố Hồ Chí Minh cũng diễn ra khá phức tạp Trong 6 chu kỳ vận động tạo sơn Hymalaya, bốn chu kỳ đầu diễn

ra mạnh mẽ ở miền Bắc, càng về sau, vào cuối đệ tam sang đầu đệ tứ vận động phát triển mạnh ở miền Nam Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, chu kỳ tác động mạnh nhất

là chu kỳ 5 xảy ra trong thời kỳ Pleitocene thuộc đầu kỷ đệ tứ (Q1) làm cho khối núi cực Nam Trung Bộ bị lôi cuốn trong hoạt động nâng lên cùng với sự nâng lên của sơn khối Tây Campuchia và sự sụp võng bù trừ giữa hai sơn khối đó là đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời là hiện tượng phun trào badan mạnh mẽ ở miền Đông Nam Bộ làm thành những thảm rất dày Vào cuối chu kỳ 5 lại diễn ra hiện tượng phun trào badan trẻ nhất phủ lên trên, mở đầu cho chu kỳ 6, còn chính chu kì 6 chủ yếu do dao động của mực nước biển vào giai đoạn băng hà gian băng – còn lục địa về cơ bản coi như ổn định Theo Fontaine và Delibrias, đợt biển tiến gần đây nhất xảy ra vào thời kì Holocene đạt đến mức cực đại 4 – 5m cách đây gần 6000 năm Sau đó biển rút xuống

Trang 9

3m rồi 2m và dừng ở mức này trong suốt một thời gian dài cách đây khoảng 4000 năm Khoảng 3000 năm cách ngày nay, theo Fontaine, mực nước biển xuống tới 0,8m rồi sau đó đạt mức nước như hiện tại Nếu căn cứ vào những mực nước được ghi nhận trên so với độ cao được ghi chú trên bản đồ Địa lý tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh thì

có thể rút ra nhận xét sau: cách đây khoảng 6000 năm, với mực nước 4 -5m, vùng đất thành phố Hồ Chí Minh bị ngập nước khá nhiều, chỉ có “3 cụm cù lao” là nhô lên khỏi mặt nước, cụm Q9, cụm Hóc Môn – Gò Vấp - Nội Thành và cụm Củ Chi Trên những vùng đất cao này đã thấy những di tích khảo cổ như Hội Sơn, Bến Đò, Long Bửu, Rỏng Bàng, Gò Sao và một vài vết tích khảo cổ trong nội thành như ở nhà thờ Sài Gòn, Bảo tàng Cách mạng, Thư viện Tổng hợp, khu Tân Định, Thảo Cầm Viên Với mực nước 2m, cách ngày nay khoảng 4000 năm, chỉ còn huyện Nhà Bè và vùng Cần Giờ là còn bị ngập nước Các di tích khảo cổ tìm được ở phần đất này như di tích Gò Cát, ND 11 Vào khoảng 3000 năm cách ngày nay, gần như toàn bộ vùng đất thành phố Hồ Chí Minh nhô lên khỏi mặt nước

Theo Trần Kim Thạch, vào thời gian này, ở vùng đất thành phố Hồ Chí Minh có những con sông mà ngày nay còn thấy những vết tích Đó là sông Trảng Bàng cổ từ

Cẩm Giang chảy qua Thái Mỹ (Củ Chi) rồi trở ra Lê Minh Xuân (Bình Chánh) hợp

giang với sông Sài Gòn cổ, cũng là trục giao thông thuỷ quan trọng giữa miền Đông và miền Tây Sông Đồng Nai có cửa cổ nằm ở Thủ Đức (Bưng Sáu Xã) (nay thuộc địa phận quận 2) đã từng là nơi tạo ra cửa khẩu cho Sài Gòn

Theo các nhà địa mạo học, thành phố Hồ Chí Minh có 7 dạng địa hình:

 Địa hình bóc mòn, cấu tạo chủ yếu bởi các phun trào tuổi Jura muộn – Kreta, được đặt trưng bởi dạng bát úp đỉnh tròn, sườn thoải, độ cao từ 20 – 25m, phân

bố ở khu vực Long Bửu (Q9)

 Địa hình đồng bằng thềm bậc III, cấu tạo bởi trầm tích pleistocene gồm cuội sỏi, cát sét và tầng trên cùng là tầng “đất xám” có độ cao mỗi nơi một khác, nội thành – Hóc Môn 5 -10m, Củ Chi 10 – 15m, An Nhơn, Quận 9 tới 25m

 Địa hình đồng bằng thềm bậc II, cấu tạo từ các trầm tích sét bột, có nguồn gốc hỗn hợp sông - biển, tuổi Holocene sớm, phổ biến ở phía Tây nội thành là chủ yếu, cao từ 3 – 5m, dọc theo thung lũng ở Củ Chi cao 6 – 8m, ở Thủ Đức cao 6m

Trang 10

 Địa hình thềm bậc I, cấu tạo cũng từ các trầm tích hỗn hợp sông biển, tuổi Holocene giữa - muộn, phân bố rộng rãi ở Bình Chánh, đông Hóc Môn, nam Củ Chi, nam Thủ Đức, Q2, toàn bộ huyện Nhà Bè có độ cao trung bình 1m

 Địa hình đồng bằng, đồng lầy sông biển, được cấu tạo bởi các trầm tích hỗn

hợp, phân bố ở phía tây thành phố từ Thái Mỹ (Củ Chi) đến nông trường Lê Minh

Xuân (Bình Chánh), toàn bộ vùng này đã được nâng cao 1 – 1,5m

 Địa hình bãi bồi sú vẹt, phân bố hầu hết trong huyện Cần Giờ độ cao 0,5 – 1m

Địa hình giồng cát, trong đó Giồng Bình Trị Đông (Bình Chánh) cao 4m và

Giồng Ông Tố (Q2) được cấu tạo từ cát, sạn, sỏi đã bị laterit hoá, phần dưới là cát chứa nhiều vỏ sò, tuổi Holocene giữa, còn Giồng Cần Giờ có tuổi hiện đại

Tương ứng với các địa hình trên là các loại đất đỏ vàng, đất xám, đất phù sa, đất phèn, đất mặn và đất cát biển Điều đáng lưu tâm là khu đồi Long Bình (Quận 9), Rạch

Sơn (Củ Chi), Vĩnh Lộc (Bình Chánh) là những nơi có đất sét để làm gốm

Về mặt khí hậu, sau vận động kiến tạo thành phố Hồ Chí Minh cũng như những vùng khác, khí hậu không có thay đổi gì lắm, cho nên có thể ghi nhận những số liệu hiện nay của thành phố Hồ Chí Minh để từ đó phần nào hình dung khí hậu thành phố

Hồ Chí Minh trong quá khứ Nơi đây mang đặc trưng chung của khí hậu phía nam, chỉ

có hai mùa: mùa khô từ tháng 12 – 4, những tháng còn lại là mùa mưa Với cao độ 0,5 – 30m, lượng nhiệt trung bình hằng năm 370C, lượng mưa trung bình hằng năm là 1949mm, tương đối ít so với các tỉnh miền Đông và nhiều hơn các tỉnh miền Tây Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh mưa phân bố cũng không đều Lượng mưa có xu hướng tăng dần từ tây nam lên đông bắc Ở Cần Giờ, Nhà Bè, nam Bình Chánh mưa từ

1200 – 1500mm, trong khi khu vực nội thành, Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức, Q9 mưa từ

1800 – 1900mm Hơn 90% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa (5 – 11) thường dưới dạng mưa dông nhiệt đới kèm theo sấm chớp vào buổi chiều Mưa nhiều

nhất vào 2 tháng 6 và 9 Trong mùa mưa có khi có những đợt “hạn bà chằn” kéo dài

Về sông ngòi, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 2 con sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đều nằm ở phía tây bắc và đông, cùng về hướng đông nam chảy ra biển bằng nhiều cửa, tạo hệ thống kênh rạch chằng chịt Hệ thống sông rạch thành phố chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều nên tuỳ theo mùa, tuỳ theo con

Trang 11

nước và tuỳ theo lượng nước ngọt ở thượng nguồn đổ xuống mà nước mặn từ biển có thể xâm nhập vào Ở đây không có tình trạng lũ lụt như sông Hồng và sông Cửu Long Nước sông Sài Gòn và sông Đồng Nai chỉ có thể ngập ở vùng Cần Giờ, Nhà Bè và một số nơi ở Bình Chánh v.v

Trên cơ sở địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng như vậy, động thực vật cũng đa dạng

Về thực vật, phát triển các biểu bì nhiệt đới, từ rừng nhiệt đới ẩm ướt đến các truông

cỏ nguyên sinh, trong rừng các cây họ dầu thống trị, ngoài ra còn các loại gỗ quý như trắc, cẩm lai, gõ, mun v.v Thảm thực vật dưới rừng cũng tương đối phát triển, chủ yếu là cỏ tranh, cây cọ, tre v.v Ở vùng đầm lầy sông biển bãi bồi phổ biến các loại cỏ lác, bàng v.v., các loại cây bần, mắm, đước, chà là Về động vật có các loại nai, mễn, chồn, lợn rừng, trăn, rắn cho đến cọp, beo, gấu Dưới sông thì có tôm, cua, sò, ốc, hến, hào, điệp, nghêu, các loài cá như cá bẹ, cá chim, cá nhám v.v đặc biệt là cá sấu Tóm lại, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều dạng địa hình từ loại đất đỏ, đất xám, đất phù sa, có cả đất phèn và đất mặn, nhưng trên đó là hệ động thực vật phong phú, đa dạng mà con người có thể khai thác Có đất sét là nguyên liệu cần thiết cho sản xuất gốm; có cả hệ thống sông rạch vừa là nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt, vừa là đường giao thông và là nguồn cung cấp thực phẩm cho con người Với 2 mùa mưa và khô, ít bão và không có lũ lụt, đất đai thuận lợi cho việc sản xuất trồng trọt Đó là những tiền đề đầu tiên giải thích vì sao những di tích khảo cổ có mặt ở vùng thấp đến vùng cao ở thành phố Hồ Chí Minh (Đặng Văn Thắng và những người khác, 1998: 17 – 26)

Tuy nhiên đối với người tiền sử ngoài nhu cầu ăn uống, còn phải có nhu cầu lao động sản xuất để tạo ra những công cụ lao động và vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày Ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liền kề như Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, thiên nhiên tỏ ra ưu đãi con người về mặt cung cấp nguyên liệu làm công cụ và làm đồ gốm

Ở Đông Nam Bộ, phù sa cổ là nguồn cung cấp sét để người xưa có thể sản xuất gốm tại chỗ Một số nơi có nguồn đất giàu chất sét như: khu công nghiệp Tam Hiệp, ở

Thái Hoà (gần Hố Nai), ở phía Bắc thị trấn Búng, gần Hoà Thạnh, Thuận Giao (Bình Dương), Bến Cát, Tân Uyên, Cù Lao Rùa, Long Bửu (quận 9) Nếu như nghiên cứu về

đất của vùng phù sa cổ để biết được nguồn cung cấp nguyên liệu cho nghề gốm thì

Trang 12

nghiên cứu về đá sẽ cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn để bàn về công cụ sản xuất

Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm đến những vết lộ của đá có khả năng làm nguồn cung cấp nguyên liệu cần thiết để làm ra các công cụ sản xuất, các đồ trang sức

Dựa vào quan sát và thăm dò địa chất ở khu vực núi Bà Đen, phù sa cổ có vẻ ăn sâu dần từ Bắc xuống Nam và đá gốc xuất lộ thành đồi gò ở Trại Bí - Bắc núi Bà Đen,

ở một số đồi gò kế cận và một số đồi gò khu vực Dầu Tiếng Nhiều vết lộ đá gốc xuất hiện ở khu vực Long Bình, sân bay Biên Hoà, Lộ Đức 2 Ở vùng quanh Thủ Đức, ở độ sâu 16m – 50m đã gặp đá gốc, ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, đá gốc đã nằm chìm sâu xuống đến 200m Theo những dữ kiện được biết đến nay, nền đá gốc tỏ ra không bằng phẳng và bị chôn vùi dưới những lớp phù sa Vùng Tân Uyên, Thủ Đức, Long Thành: chất liệu đá gốc là sa thạch, phiến thạch với thâm nhập đacít – anđêdít (vốn là những đất đá có nguồn gốc phún xuất, chống được xâm thực) thường lại là xuất lộ và nay được khai thác thành mỏ đá ở Bửu Long, Tây Bửu Hoà, núi Châu Thới,

Bình An, khu làng đại học; các đất đá trầm tích (sa thạch, phiến thạch) cũng có ở Bình

An, Bình Thắng, Lộ Đức 2, gần làng Thiện Tân ở dọc con sông Đồng Nai Các nhà địa chất Việt Nam còn phát hiện được trong vùng xuất lộ đá gốc Thủ Đức – Châu Thới - Bửu Long loại đá sừng anđaludít, cocdierit, badan, anđêrit, anđêdito badan, đacít thậm chí có cả opancanxêđoan với nhiều màu sắc có thể được sử dụng để chế tạo đồ trang sức (Trần Văn Giàu, 1987: 34 - 35)

Trên đây là những nét chung nhất về điều kiện tự nhiên và khí hậu của thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Vị trí của di tích Gò Cát (Gò Quéo):

Địa điểm khảo cổ học Gò Cát còn gọi là gò Quéo hay gò cây Quéo nằm ở vị trí 10° 47 vĩ Bắc và 106° 47 kinh Đông, thuộc phường Bình Trưng Đông, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh Nó là một phần của Giồng Ông Tố (quận 2), cao trình 5m so với mực nước biển (Trần Văn Giàu, 1998 : 73), nằm trong tổng thể địa hình dạng giồng cát của thành phố Hồ Chí Minh Vì thế Gò Cát có những đặc trưng của khí hậu và quần động thực vật của thành phố

Gò Cát là một doi đất cát nằm ven theo đường bờ biển cổ Những bằng chứng

về hoá thạch và địa tầng cho thấy rằng khoảng thời gian dài 4 – 6 nghìn năm cách ngày nay, vùng này đã bị ảnh hưởng của biển (Trần Văn Giàu, 1987: 31) Từ cuối Holocene

Trang 13

giữa thì biển thoái từ từ đẩy giồng cát vào sâu trong đất liền Giồng nằm giáp với vùng

“rừng Sác” của sông Đồng Nai Cảnh quang ngày nay vẫn còn mang đậm tính chất giao thoa giữa sông và biển (Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 1990:70) Các nhà địa chất học đã ghi nhận xưa kia sông Đồng Nai có cửa cổ nằm ở vùng này

Theo lời kể của dân gian, Gò Cát xa xưa là vùng trũng hoang, “điểu thú quần hoang, tuyệt vô nhân tích”, nhiều cổ thụ, chim hạt, sếu về làm tổ đẻ trứng vào mùa xuân, dưới đất nhiều kỳ đà, cá sấu (Đỗ Đình Truật, Nguyễn Hải Đường, 1998 : 494) Lượng mưa ở đây cũng tương đối lớn, trên 1800mm/ năm Xét về mặt điều kiện sống thì nơi đây có khả năng cung cấp được nguồn nước và nguồn thực phẩm cho con người Mặc khác, Gò Cát lại nằm ở một vị trí khá thuận lợi cho việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như trao đổi hàng hoá với các vùng khác Từ đây

có thể theo dòng Đồng Nai ngược lên Bến Đò, Hội Sơn, có thể đến Long Bửu để lấy đất sét cho sản xuất gốm hoặc đến vùng Thủ Đức (khu làng đại học), vùng Bửu Long, Châu Thới để lấy đá chế tạo công cụ, và cũng có thể theo các con rạch nhỏ đi vào sông Vàm Cỏ để đến các khu vực ở miền Tây Nam Bộ Có thể nói Gò Cát là cầu nối giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ

Có lẽ vì những điều kiện đó nên sau khi biển rút, vào khoảng 3000 đến 2500 cách ngày nay, cư dân cổ ở các vùng cao của thành phố Hồ Chí Minh đã mở rộng địa bàn cư trú của họ ở Gò Cát (Đặng Văn Thắng, 1998: 26)

Trang 14

Di tích Gò Cát đã được đào thám sát ba lần nhưng chưa có đợt khai quật nào chính thức Bên cạnh đó, báo cáo về các đợt thám sát rất sơ sài và một số đợt đã không được công bố Dưới đây là thông tin về các đợt thám sát và thu nhặt ở Gò Cát

* Đợt 1: tháng 3 năm 1985, di tích Gò Cát được bảo tàng lịch sử Việt Nam

thành phố Hồ Chí Minh đào thám sát hai hố, mỗi hố 1m x 1m = 1m2 Tầng văn hoá của hai hố giống nhau:

 Lớp đất mặt dày từ 0.2 – 0.4cm là lớp cát vàng pha sạn sỏi nhỏ

 Bên dưới là tầng văn hoá dày 0.1m, cát nhuyễn hơn có màu vàng sậm chứa nhiều mảnh gốm

 Sinh thổ là lớp cát vàng có kết cuội vàng

Trong đợt này, người ta đã thu được trong hố thám sát và lượm trên mặt đất 17 hiện vật đá, 1 rìu đồng và 530 mảnh gốm, 16 bi gốm, 1 thỏi đất nung

* Đợt 2: Đặng Văn Thắng và Phạm Quang Sơn đã khảo sát lại Gò Cát vào

tháng 6 – 1990 và thu được 8 hiện vật đá, 116 mảnh gốm, 27 bi gốm và 4 thỏi đất nung

* Đợt 3: cuối năm 1992, trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (nay là Viện

nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh) đã đến khảo sát di tích Gò Cát Vào thời điểm này, ở Gò Cát hằng ngày có đến hàng chục xe công – nông đến đây lấy cát bất chấp lệnh ngăn cấm của chính quyền địa phương khiến cho toàn bộ mặt giồng lởm chởm gốm, tầng văn hoá bị phá huỷ nghiêm trọng

Trang 15

Đoàn khảo sát đã thu thập hiện vật trong các hố đào và trên mặt đất và chọn nơi

để đào hố thám sát nhưng không đảm bảo là những hiện vật thu được vốn còn nằm nguyên tại chỗ hay không Một số nơi tầng văn hoá sâu đến 1.1m (Trần Văn Giàu, 1998: 73)

Những thông tin về đợt khảo sát này đã không được công bố chính thức Dựa trên vị trí của hiện vật trong địa tầng (được người khảo sát ghi lại trên hiện vật), có thể nhận thấy chúng được phát hiện trong ba khu vực khác nhau B, C, D với độ sau tương ứng là:

Khu B: hiện vật thu thập trong địa tầng có độ sâu từ 20 – 70 cm

Khu C: hiện vật thu thập trong địa tầng có độ sâu 1.1m

Khu D: hiện vật thu thập trong địa tầng có độ sâu từ 30 – 40 cm

Trong đợt này, những hiện vật thu thập được trên mặt đất và trong địa tầng của

hố thám sát bao gồm:

 Gần 10.000 mảnh gốm, chiếm tỉ lệ áp đảo Trong số đó rất ít mảnh còn được nguyên vẹn và có giá trị nghiên cứu đối với nhà khoa học Theo những người khảo sát thì vị trí địa tầng của những mảnh gốm đó không đảm bảo

 852 viên bi gốm và một thỏi đất nung

Căn cứ trên những đồ đồng đã phát hiện được, những người khảo sát cho rằng ở

Gò Cát có hai giai đoạn rõ ràng:

* :Giai đoạn 1: có những hiện vật thể hiện mối quan hệ với Đông Nam Bộ (đặc

biệt với Dốc Chùa)

* Giai đoạn 2: có những hiện vật thể hiện mối quan hệ với người Đông Sơn

(như chuông đồng, qua đồng)

Giữa hai giai đoạn này có một sự gián cách có thể đến vài thế kỷ và vì lý do gì

là điều sau này cần được làm rõ (Trần Văn Giàu, 1998: 74)

Trang 16

2.2 Di vật:

2.2.2 Đồ đá:

Theo ý kiến của Th.s Nguyễn Ngọc Hoa, chất liệu đá ở di tích Gò Cát bao gồm những chất liệu sau: gồm đá cát bột kết, đá phiến sét bột kết, cát sạn kết, cát kết, thạch anh, silic, đá Pheralit, đá phun trào Nguồn gốc của các loại đá này chủ yếu ở Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương

Trong di tích Gò Cát có các loại hình công cụ sau: rìu tứ giác, rìu có vai, đục, cuối – mai, hòn nghiều, bàn mài, phác vật, phế vật, đá nguyên liệu, mảnh tước, tiêu bản đá không rõ chức năng (có 317 tiêu bản các loại, xem phần phụ lục bảng 9)

a Rìu đá:

Rìu tứ giác: Rìu được làm từ chất liệu bột kết, có thiết diện ngang hình chữ

nhật, góc lưỡi lệch, hai mặt cong không đều, còn nhiều vết ghè đẽo trên thân Bề mặt rìu bị phong hoá tạo nên lớp patin Kích thước trung bình rìu tứ giác là: dài thân 9 – 12cm, rộng thân 1,9 – 5,2cm dày thân 1 – 3cm (Bản ảnh 18, H.1 – 3; Bản ảnh 19, H.1)

- Kí hiệu (KH) GQ 92 40cm D: rìu tứ giác có thiết diện ngang hẹp, một mặt

cong lồi, được mài nhẵn, một mặt phẵng còn nhiều vết ghè Lưỡi rìu bị vỡ một phần

Bề mặt có phủ một lớp patin màu xám,, kích thước rìu: dài 11,9cm; rộng đốc 3,9cm; rộng lưỡi 5,2cm

- KH GQ 92 70cm B (Rc 12): rìu tứ giác có thiết diện ngang hình chữ nhật được

mài toàn thân, lưỡi vát đều hai bên và bị mẻ ở lưỡi Rìu có màu xám trắng

- KH GQ 92 B: rìu tứ giác nhỏ màu xám trắng, thiết diện ngang hình chữ nhật,

được mài toàn thân, hai mặt cong không đều, góc lưỡi lệch Kích thước: dài 5,5cm; dày 0,9cm; rộng lưỡi 1,9cm

- KH GQ 92, 25 – 30cm (33 Đ1): rìu tứ giác có màu xám trắng, thiết diện ngang

hình chữ nhật, thân được mài 2 mặt khá nhẵn, phần đốc gần nhọn, hai mặt cong đều, góc lưỡi lệch và lưỡi bị vỡ Kích thước: dài 6,4cm; rộng lưỡi 2,0cm; dày 1,2cm

- KH GQ 92 TN: rìu có màu xám, được mài nhẵn hai mặt, nhưng ở bên cạnh

sườn vẫn còn vết ghè đẽo, thiết diện ngang hình chữ nhật, một phần lưỡi rìu bị mẻ Bề mặt có lớp patin màu xám Kích thước: dài 11,8cm; rộng đốc 3cm; rộng lưỡi 4,3cm; dày 2,8cm

Trang 17

- KH GQ92.TN: rìu có màu xám nhạt, thiết diện ngang hình chữ nhật, góc lưỡi

lệch, một mặt được mài nhẵn còn một mặt vẫn còn các vết ghè đẽo, lưỡi rìu được sử dụng mòn Kích thước: dài 9cm, rộng đốc 3,1cm; rộng lưỡi 3,8cm; dày 1,8cm

- KH GQ92.TN: rìu có màu xám nhạt, hai mặt cong đều nhưng vẫn còn nhiều vết

ghè đẽo Góc lưỡi lệch, phần lưỡi và đốc bị vỡ một số mảng Bề mặt có phủ một lớp patin màu xám Kích thước: dài 7,75cm; rộng đốc 3,9cm; rộng lưỡi 5.2cm; dày 2,8cm

- KH GQ92.TN: rìu có màu xám nhạt, thiết diện ngang hình chữ nhật, góc lưỡi

lệch, một mặt được mài nhẵn, một mặt vẫn còn vết ghè, lưỡi được sử dụng mòn Kích

thước: dài 9cm; rộng đốc 3,1cm; rộng lưỡi 3,8cm; dày 1,7cm

- KH GQ 92 TN: rìu có màu xám nhạt, hai mặt cong đều nhưng vẫn còn vết ghè

đẽo, góc lưỡi lệch, phần lưỡi và phần đốc bị vỡ một số mảng Bề mặt có phủ lớp patin

màu xám Kích thước: dài 7,75cm; rộng đốc 3,9cm; rộng lưỡi 3,8cm; dày 2,1cm

- KH GQ 92 TN: rìu có màu trắng hồng, thiết diện ngang hình chữ nhật, hai mặt

cong đều, được mài nhẵn Kích thước: dài 9,2cm; rộng đốc 2,2cm; rộng lưỡi 3,8cm;

dày 1,5cm

Rìu có vai: chủ yếu làm từ chất liệu đá bột kết Loại hình rìu có vai ở di tích Gò

Cát (Gò Quéo) chủ yếu là rìu vai xuôi nhưng là vai xuôi lệch Rìu có thiết diện hình chữ nhật, vai lệch và cong lưỡi Kích thước trung bình: dài thân 6 – 11cm, rộng thân 2,5 – 5cm; dày thân 1,5 – 2,5cm (Bản ảnh 19, hình 2 – 4)

- KH GQ 92 40 (Rcv 3): rìu có thiết diện ngang hình chữ nhật được mài nhẵn

Lưỡi xòe cong hình parabol, lưỡi sắc, góc lưỡi hơi lệch, thiết diện đốc hình chữ nhật Kích thước: dài 8,1cm; rộng lưỡi 5cm; rộng chuôi 5,7cm; dày 1,5cm

- KH GQ 92 70 B (Rcv 1): rìu có vai màu xám Thân được mài khá nhẵn Thân

đốc có thiết diện ngang hình chữ nhật Lưỡi cong parabol, góc lưỡi lệch Bề mặt phủ lớp patin màu xám Kích thước: dài 11,3cm; rộng lưỡi 2,3cm; rộng vai 4,7cm; rộng chuôi 5,3cm; dày 2,1cm

- KH GQ 92 20 D (Rcv 7): rìu bị vỡ chỉ còn một bên vai Hai mặt thân được mài

nhẵn, lưỡi cong parabol, thiết diện ngang hình chữ nhật Kích thước: dài 6,1cm; rộng lưỡi 1,3cm; rộng vai 2,5cm; rộng chuôi 3,4cm; dày 1,5cm

Trang 18

Ngoài ra, còn có ba chiếc rìu có vai thu nhặt được Cả ba chiếc rìu này đều được mài tòan thân nhưng đôi chỗ vẫn còn vết ghè, thiết diện ngang hình chữ nhật, góc lưỡi lệch, lưỡi cong parabol Bề mặt phủ một lớp patin màu xám trắng

b Đục: (Bản ảnh 20, hình 3)

- KH không rõ: đục có màu xám, thiết diện ngang hình vuông, thân được mài

nhẵn nhưng vẫn còn vết ghè Đốc thu hẹp lại so với phần lưỡi, lưỡi gần nhọn Bề mặt phủ lớp patin màu xám Kích thước: dài 5,1cm; rộng nhất 1,4cm; dày 1,3cm; phần lưỡi rộng nhất 1,05cm

- KH GQ 92 TN (35 Đ5): đục nhỏ màu xám Thân được mài nhẵn nhưng đôi

chỗ còn vết lõm Đốc hẹp so với lưỡi Rìa lưỡi cong, thiết diện ngang hình oval

c Cuốc đá / Mai đá:

- KH GQ 92 D 30cm 5Cb 2: là loại cuốc có vai xuôi lệch, thân có vết ghè, bề

mặt bị rỗ, lưỡi hơi xòe cong hình parabol, thiết diện ngang Thân có một mặt phẳng, một mặt cong lồi, lưỡi vát không đều, khá sắc

- KH GQ 92 2D 40cm 5Cb 3: là loại cuốc có vai lệch, thiết diện ngang thân

hẹp, đốc nhỏ hẹp dần lưỡi cong đều hình parabol Bề mặt thân bị rỗ, thân có một mặt phẳng, một mặt cong lồi, lưỡi vát, khá sắc

d Phác vật - Phế vật: có hai dạng chính:

- Phác vật rìu tứ giác: có 8 cái Trong đó có 4 phác vật đã gần hoàn chỉnh và 4

phác vật chỉ mang tính định hình thành rìu tứ giác Các phác vật này được ghè đẽo bằng những nhát khá tinh vi không có những vết lõm sâu Bề mặt thân cong đều nhưng góc lưỡi lệch

- Phác vật rìu có vai: 6 cái Các phác vật này chỉ ở dạng sơ sài, mới định hình

được ở phần vai và một phần thân

Ngòai ra còn có 3 phác vật là những hình khối được tách thành những khối vuông không rõ dùng để chế tác rìu có vai hay rìu tứ giác

- Phác vật đục: 1 cái Phác vật đã định hình thành một cái đục

Trong các công cụ đá của di tích Gò Cát, nhiều người nghĩ rằng những lưỡi rìu

đã được sử dụng như là một công cụ - có thể là một dạng nạo nhỏ Những lưỡi rìu trong di tích Gò Cát được mài rất nhẵn, lưỡi cong hình parabol, lưỡi rìu sắc, dạng gần giống hình bán nguyệt Các lưỡi rìu trên bề mặt có phủ một lớp patin màu xám trắng

Trang 19

Hiện tượng dùng những công cụ đã bị hư (tận dùng phần lưỡi, hay chế tạo lại từ công cụ bị hư) để tái sử dụng là một hiện tượng rất phổ biến trong các di tích thuộc văn hóa Đồng Nai Đây là một xu hướng tiết kiệm nguyên liệu của cư dân cổ Đồng Nai

Nhưng theo ý kiến của GS Lê Xuân Diệm, việc tái sử dụng công cụ là một hình thức tiết kiệm sức của cư dân cổ chứ không phải là tiết kiệm nguyên liệu

f Chày nghiền:

- KH GQ 92 40cm b (D2): thân hình trụ, được mài nhẵn, một đầu to 3,75cm,

một đầu nhỏ 2,8cm Hai đầu có dấu vết sử dụng Đá có màu đỏ sậm, lốm đốm chấm vàng

- KH GQ 92 TN: đá có màu xám đen, lốm đốm vàng, được mài nhẵn toàn thân,

một mặt có vết vỡ, thiết diện ngang thân hẹp Chày nghiền có một đầu to, một đầu nhỏ Cả hai đầu chày bằng, hai mặt thẳng có hình thang

g Hiện vật đá không rõ chức năng:

Ở di tích Gò Cát có một số hiện vật đá lạ hình thang, có màu đỏ và được mài nhẵn Đầu to được mài vát và thường bị vỡ ở mặt vát làm lộ ra màu sắc của đá, nhạt hơn so với màu đá bên ngoài một số tiêu bản có dấu vết sử dụng ở phần đầu nhỏ Kích thước trung bình của các tiêu bản này dài khoảng 8 – 12 cm, rộng từ 4 – 6 cm, dày từ 4 – 5cm Chất liệu đá là silic

Trang 20

Loại di vật này đã được tìm thấy trong di tích Gò Cao Su ở Long An và được bảo tàng Long An trưng bày với chức năng là đá thờ Tuy nhiên, hiện vật đá này có chức năng như thế nào hiện nay chưa rõ và cần phải nghiên cứu thêm

h Đá cuội:

Ở Gò Cát đã thu nhặt được 3 hòn đá cuội, các hòn cuội này có màu xám, kích thước phổ biến : dài từ 7 – 8 c, rộng từ 4 – 5,5cm, dầy từ 2 – 3 cm và rất vừa tay cầm

để sử dụng Các hòn cuội ở đây đều có dấu vết sử dụng ở một đầu

Các đá cuội ở di tích Gò Cát rất giống với các đá cuội được chôn trong di tích Giồng Cá Vồ

k Mảnh tước và đá nguyên liêu

Ở Gò Cát đã tìm được 92 mảnh tước và 110 mảnh đá nguyên liệu Những mảnh tước này có cùng chất liệu với đá nguyên liệu Đó là loại đá bột kết, cát kết mịn Ngoài

ra ở đây còn có một số lượng lớn mảnh đá cát kết thô (22 mảnh)

Theo thạc sĩ địa chất Nguyễn Ngọc Hoa, chất liệu của các công cụ đá ở Gò Cát giống với chất liệu của đá nguyên liệu và mảnh tước

Ở di tích Gò Cát đã tìm thấy công cụ, bàn mài, phác vật công cụ, mảnh tước, đá nguyên liệu cho thấy rất có thể di tich Gò Cát là một công xưởng chế tác đá

Trang 21

màu của xương gốm Một số đồ gốm có chất liệu này còn được tô màu nâu đỏ hoặc màu đen sôcôla Tuy nhiên số lượng gốm tô màu thường rất ít

Đồ gốm được làm bằng đất sét pha với cát mịn và lọc kỹ Xương gốm rất mịn có màu xám đen, độ dày khoảng 0.35cm Gốm được miết láng, áo gốm có màu xám trắng Loại này cũng chiếm số lượng khá ít, được tìm thấy chủ yếu ở khu B trong địa tầng có độ sâu 50 – 70 cm

Gốm thô: gốm làm bằng đất sét pha với bã thực vật, mùn, vỏ trấu (trên

bề mặt một số mảnh gốm còn để lại dấu vết của hạt trấu), đôi khi có pha thêm một ít

vỏ nhuyễn thể nghiền nát Xương gốm thường có màu đen hoặc nâu đỏ, độ dày của xương gốm từ 0.35 – 1.3cm Gốm loại này cũng được miết láng Một số ít kết hợp với

tô màu nâu đỏ hoặc trang trí hoa văn Lớp áo thường bong tróc nặng có màu vàng hoặc vàng cam, đối với loại đồ gốm có xương đỏ xốp thì áo gốm cũng có màu đỏ như xương gốm Loại gốm có chất liệu này cứng chắc gần như gốm mịn

* Loại hình:

- Đồ đựng: đa số là những mảnh gốm vỡ và khó có thể phục nguyên được hình

dáng ban đầu nhưng dựa vào những mảnh miệng và thân đồ gốm có thể nhận biết một

số dạng đồ đựng phổ biến ở Gò Cát là bình miệng loe cổ thắt thân hình cầu, đáy tròn

có chân đế loe cao hay thấp; dạng nồi nhỏ có miệng khum thân hình cầu với đáy bằng; dạng đĩa nông lòng; bát bồng; các dạng chậu có đường kính lớn với kiểu miệng giống kiểu miệng của các loại chậu ở Long Bửu, Dốc Chùa Ngoài ra còn xuất hiện một loại bình có đáy lõm gần đáy thuôn khá đặc biệt, với kiểu dáng gần giống với loại âu có đế

Kiểu 1: miệng loe, mép miệng dày 2-4cm và cuốn tròn ra phía ngoài Miệng và

thân tạo thành một đường xiên, thân phình rộng; loại miệng này có đường kính rất lớn

từ 40-50cm Rất có thể đây là miệng của một loại chum lớn (Bản vẽ I, hình 1,2)

Đối với loại gốm mịn thì xương gốm có màu xám trắng, sét có pha nhiều nhuyễn thể và cát, gốm rất cứng Xương gốm dày 1cm Ở phần mép miệng cuộn tròn

Trang 22

được tạo ra bằng cách tạo một phần của mép miệng ở bên ngoài, sau đó gắn kết vào phần miệng của chum và tiến hành xoa nhẵn Khi đắp một phần mép miệng vào hiện vật làm sẵn nên khi đắp vào đã để lại một khoảng trống ở giữa rộng khoảng 0.4cm Do

kĩ thuật làm gốm chưa cao nên phần đắp ơ bên ngoài mép miệng đã bị tách ra

Đối với loại gốm thô: xương gốm có màu xám đen, gốm có pha nhiều bã thực vật nên gốm rất bở So với loại gốm thô có mép miệng cuốn ra ngoài nhỏ hơn, mép miệng dày 2cm và không thấy có dấu vết mép miệng được đắp thêm để tạo độ dày

Kiểu 2: miệng loe xiên

Kiểu 2a: miệng loe xiên, bản miệng rộng 5,5 – 6,5cm; mép miệng dày khoảng

1,5cm tạo gờ trong và gờ ngoài Ở phía trong bản miệng có một gờ nổi lên song song với gờ trong của mép miệng; ở giữa gờ nổi và gờ trong bị lõm xuống giống như dạng lòng máng Miệng gốm và thân gốm tạo thành một đường gấp khúc, thân phình rộng (Bản vẽ I, hình 3)

Ở bên ngoài của bản miệng có những đường gợn sóng nổi lên; đây là một dấu vết kỹ thuật của làm gốm dải cuộn, do xoa chưa nhẵn nên dấu vết đó còn lưu lại

Kiểu miệng này hầu hết là loại gốm mịn, xương gốm có màu xám đỏ, sét có pha nhiều vỏ nhuyễn thể, xương gốm dày 0,5cm; xương gốm ở phần thân mỏng hơn 0,25 – 0,3cm Áo gốm có màu đỏ nhạt, bên trong bản miệng áo gốm bị bong tróc rất nhiều

Rất có thể đây là kiểu miệng của loại hình nồi

Kiểu 2b: cũng tương tự như kiểu 2a Miệng loe xiên, bản miệng rộng 5cm (hẹp

hơn so với bản miệng kiểu 2a), mép miệng dày 1cm tạo gờ trong và gờ ngoài; nhưng trong kiểu miệng 2b không có gờ nổi phía trong bản miệng như kiểu 2a Miệng gốm

và thân gốm tạo thành đường gấp khúc, thân phình rộng Các dấu vết kỹ thuật để lại bên ngoài bản miệng cũng giống như kiểu 2a, nhưng phần tiếp giáp ở mặt ngoài giữa phần miệng và phần thân có một gờ nhỏ nổi lên (Bản vẽ I, hình 4)

Xương gốm có màu đỏ nhạt, sét có pha nhiều vỏ nhuyễn thể và cát, gốm rất cứng, xương gốm dày 1cm Áo gốm có màu xám nhạt, nhưng bị bong tróc nhiều

Kiểu 2c: miệng loe, bản miệng rộng, mép miệng mỏng 0.3cm bản miệng thì

gần đứng nhưng lên phần mép miệng lại được vuốt nhẹ ra ngoài tạo thành gờ ngoài Phần miệng và thân tạo thành đường gấp nhẹ, phần thân hơi xuôi xuống và phình rộng Mặt trong của bản miệng không nhẵn mà lại có những đường gợn

Trang 23

Xương gốm có màu xám trắng, sét có pha nhiều cát và nhuyễn thể, xương gốm dày 1cm Áo gốm có màu đỏ nhạt và bị bong tróc nhiều ở phần mép miệng

Kiểu 3: miệng loe, bản miệng rộng

Kiểu 3a: miệng loe, bản miệng rộng từ 3 - 4cm và được gấp khúc như chữ V

với phần thân; mặt trong của bản miệng không được nhẵn (Bản vẽ I, hình 5)

Đối với loại gốm mịn: xương gốm có màu đỏ nhạt, sét có pha nhiều cát và vỏ nhuyễn thể, xương gốm dày 0,9 – 1cm, gốm rất cứng chắc Áo gốm có màu đỏ nhạt hoặc xám bạc Trong loại gốm mịn này có 4 mảnh gốm có miệng loe, bản miệng rộng 3,5cm; mép miệng dày 1,2cm; tạo gờ trong và gờ ngoài Miệng và thân tạo thành đường gấp khúc, xương gốm rất dày 1,2cm, xương gốm có màu xám, sét có pha nhiều cát Áo gốm có màu đỏ nhạt

Đối với loại gốm thô, xương có màu xám đen, sét có pha nhiều bã thực vật, gốm rất bở xương gốm dày 0,5cm Áo có màu xám đen và bị bong tróc nhiều

Kiểu 3b: giống kiểu 3a, nhưng bản miệng hẹp hơn 2-3cm (Bản vẽ II, hình 1) Kiểu 3c: miệng loe, bản miệng rông 6 – 7cm, mép miệng mỏng 0,2cm được

vuốt nhẹ ra ngoài Thân phình rộng Xương gốm có màu xám bạc, sét có pha nhiều bã thực vật Xương gốm dày 0,2cm – 0,3cm Áo gốm màu xám (Bản vẽ II, hình 2)

Kiểu 4: miệng khum, mép miệng dày

Kiểu 4a: miệng khum, mép miệng hơi tròn hoặc gần vuông và dày 1cm Phần

thân hơi phình ra và hơi xiên vào ở phần đáy Đường kính miệng từ 20 – 30cm (Bản

vẽ II, hình 3)

Bên ngòai từ miệng xuống phần thân có hoa văn chải Hoa văn chải trên các mảnh miệng này không theo một dạng nhất định và phần lớn chải từ miệng xuống thân; một số mảnh miệng thì hoa văn chải chồng chéo lên nhau Loại miệng này có cả

ở chất liệu mịn và thô Với chất liệu thô xương gốm có màu xám đen, sét có nhiều bã thực vật, gốm bở, xương gốm dày 0,2cm Áo gốm có màu xám và bị bong tróc nhiều, hoa văn trên mảnh gốm không còn rõ ràng

Với chất liệu gốm mịn, xương gốm có màu xám, màu đỏ nhạt, sét có pha nhiều cát; xương gốm dày 0,2cm Áo gốm có màu đỏ nhạt, hoa văn trên các mảnh gốm này còn khá rõ

Trang 24

Kiểu 4b: miệng khum, mép miệng mỏng 0,15cm Đường kính miệng rộng từ 10

– 15cm, mép miệng tròn không đều Phần miệng hơi gấp vào so với phần thân Thân hơi phình và có xu hướng đi xiên vào trong ở phần đáy Đây là một loại nồi nhỏ có đáy bằng (Bản vẽ II, hình 4)

Xương gốm có màu xám đen, sét có pha nhiều cát, xương gốm cứng chắc Xương gốm ở phần miệng dày 0,25cm, xương gốm ở phần thân có phần mỏng hơn 0,15cm Đặc biệt, xương gốm ở phần gần đáy rất dày 0,8 – 1cm

Áo gốm có màu đỏ nhạt và bị bong tróc rất nhiều Bề mặt bên trong của mảnh gốm rất lồi lõm và có dấu vết của hai con kê

Kiểu 5: miệng loe, đứng, bản miệng rộng 2,3 – 6cm Đây là dạng miệng của bát

bồng

Kiểu 5a: miệng loe đứng, bản miệng rộng 3 – 6cm, bản miệng đứng, mép

miệng được bẻ ra ngoài tạo gờ Ở phần ngoài miệng có những đường gờ nổi, tùy loại miệng lớn nhỏ mà có từ 1 – 2 đường Phần miệng và phần thân tạo thành một đường gấp khúc, phần thân đi xiên vào trong Đây là một dạng miệng của bát bồng (Bản vẽ

II, hình 5)

Đối với loại miệng có bản miệng lớn 5 – 6cm thì xương gốm dày 1cm, có màu xám; sét có pha nhiều cát và bã thực vật nên tương đối cứng Phần mép miệng được bẻ

ra ngoài rộng 1,8cm, phần ngòai bản miệng luôn có 3 gờ nổi

Đối với loại miệng có bản miệng nhỏ với kích thước 3 – 4cm, xương gốm mỏng hơn 0,4 – 0,5cm; có màu xám, sét pha nhiều bã thực vật nên gốm bở Phần mép miệng được bẻ nhẹ ra bên ngoài, rộng 0,5cm và chỉ có hai gờ nổi ở phần ngoài bản miệng

Kiểu 5b: miệng đứng, mép miệng mỏng 0,15cm Phần miệng và phần thân tạo

thành một đường gấp khúc Thân gốm xiên vào trong Đây là loại miệng bát bồng có lòng nông (Bản vẽ II, hình 6)

Đối với loại gốm mịn, xương gốm có màu đỏ nhạt, sét pha nhiều vỏ nhuyễn thể

và cát; gốm cứng chắc Xương gốm dày 0,2cm Áo gốm có màu đỏ

Đối với loại gốm thô, xương gốm có màu xám đen, sét có pha nhiều bã thực vật, gốm bở Xương gốm dày 0,2cm Áo gốm có màu xám trắng

Kiểu 5c: miệng loe, bản miệng bẻ ngang, rộg 2 – 3cm, miệng và thân tạo thành

một đường gấp, đây là một loại dĩa nông lòng có chân đế, xương gốm mịn, sét có pha

Trang 25

nhiều cát, xương gốm dày 0,3cm Áo gốm có màu xám đỏ Phần gần đáy có hoa văn chải ( Bản vẽ III, hình 1,2)

Kiểu 6: miệng loe, bản miệng dày 1 – 1,5cm, được bẻ ngang tạo thành một mặt

phẳng rộng 3 – 4cm Đường kính miệng từ 30 – 50cm Miệng và thân tạo thành một đường vuông góc (Bản vẽ III, hình 3)

Đây có thể là miệng của một loại chậu

Hầu hết các mảnh miệng đều là gốm thô Xương gốm đen, sét có pha nhiều bã thực vật và cát, tương đối cứng Xương gốm dày 0,7cm Áo gốm có màu xám nhưng

bị bong tróc rất nhiều Ngòai ra có hai mảnh gốm ở phần bên ngòai của thân có gờ nổi cao Phần bản miệng dạng cũng có hiện tượng tương tự

Kiểu 7: miệng loe, bản miệng rộng 4 – 6cm, mép miệng dày 1cm, tạo gờ trong

nổi cao Bản miệng dạng lòng máng Miệng và thân tạo thành đường cong, thân phình rộng (Bản vẽ III, hình 4)

Đường kính miệng 30 – 50cm Đây có thể là miệng của một loại nồi lớn

Xương gốm có màu xám đen, sét có pha nhiều bã thực vật và cát, gốm dày 0,5 – 0,7cm Áo gốm thường có màu xám và trắng mốc Đặc biệt có một mảnh miệng trong kiểu 7 có điểm khác biệt là bên trong bản miệng có một gờ nổi ở giữa chia bản miệng ra làm hai phần

Nhìn chung các mảnh miệng ở di tích Gò Cát chủ yếu là miệng loe, trong đó tập trung là kiểu miệng của loại hình nồi Các kiểu miệng ở di tích Gò Cát gần giống với các kiểu miệng ở Dốc Chùa, Long Bửu, Hội Sơn

Trang 26

quét lên mảnh gốm trước khi nung, dưới tác dụng của nhiệt độ tạo thành màu đỏ sẫm ( Đặng Văn Thắng …,1998: 92)

Các mảnh gốm màu tập trung ở độ sâu 50cm (Khu B) cho đến độ sâu 30 thì số lượng giảm, xuất hiện rất ít

Ở khu C, gốm màu cũng xuất hiện song ít và chỉ tập trung ở các kiểu miệng 3b, 5b, 7

Điều đáng lưu ý ở gốm Gò Cát là ngòai các mảnh gốm màu được xác định trong tầng văn hóa thì còn một số lượng gốm màu rất lớn trong phần gốm thu nhặt Đặc điểm gốm màu trong phần gốm thu nhặt không khác gì so với gốm màu trong tầng văn hóa Phần lớn là các mảnh gốm thô có màu đỏ sậm và nó có thể được tô trước khi nung

Nhìn chung các mảnh gốm màu ở di tích Gò Cát rất giống với các mảnh gốm màu ở di chỉ Long Bửu (Quận 9, Tp HCM)

Như vậy, bên cạnh di tích Long Bửu thì ở Gò Cát lại thấy xuất hiện gốm màu

Sự xuất hiện của gốm màu ở các di chỉ thuộc văn hóa Đồng Nai hay gốm màu ở đây chỉ là kết quả của sự giao lưu trao đổi với các nơi khác Đây là một vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu lâu dài Với những ghi nhận về gốm màu ở Gò Cát hiện nay thì chưa thể đưa ra một kết luận nào xác đáng nhưng nó sẽ góp thêm tư liệu để nghiên cứu gốm màu trong văn hóa Đồng Nai

Với sự xuất hiện của gốm màu trong các di tích văn hóa Đồng Nai đã đặt ra một hướng nghiên cứu mới về đồ gốm và thị hiếu thẫm mỹ của cư dân cổ Đồng Nai

Trang 27

Các mảnh miệng được mài trong di tích Gò Cát có hai dạng: một loại là phần được mài nhẵn bóng không thấy dấu vết của ghè trước khi mài và thiết diện dọc được mài rất thẳng Một loại là mảnh miệng được mài nhưng vẫn thấy vết ghè hoặc vỡ quá sâu để lại nên bề mặt không nhẵn

Gốm ghè và mài đã thấy rất nhiều ở các di tích khảo cổ ở Nam Bộ Chẳng hạn,

ở Giồng Phệt, cư dân cổ ở đây đã ghè miệng chum rộng hơn để có thể đưa người chết vào trong chum một cách dễ dàng hơn

Ở Gò Ô Chùa (Long An), xuất hiện rất nhiều gốm ghè và mài Đặc biệt ở di tích này, cư dân cổ đã dùng mảnh miệng và mảnh chân đế để làm gốm ghè tròn hoặc ghè vuông Nhưng các mảnh miệng được ghè chỉ là những bản miệng, các mảnh gốm được ghè chung quanh ba mặt và chỉ để lại một phần của mép miệng; và các mảnh gốm ghè này không được mài

Ở Gò Ô Chùa (Long An), xuất hiện rất nhiều gốm ghè và mài Đặc biệt ở di tích này, cư dân cổ đã dùng mảnh miệng và mảnh chân đế để làm gốm ghè tròn hoặc ghè vuông Nhưng các mảnh miệng được ghè chỉ là những bản miệng, các mảnh gốm ghè chung quanh 3 mặt và chỉ để lại một phần của mép miệng; và các mảnh gốm ghè này không được mài

Chức năng của các loại gốm ghè vẫn còn đang được tìm hiểu, và là một câu hỏi cho các nhà nghiên cứu Hiện tượng mảnh gốm còn nguyên vẹn được mài nhẵn theo thiết diện dọc chưa thấy xuất hiện ở các di tích khác mà nó khác hòan tòan với loại gốm ghè và mài ở một số di tích khảo cổ vùng Nam Bộ

b.Thân:

Trong tổng số mảnh gốm thì mảnh thân chiếm số lượng nhiều nhất, trong đó chiếm đa số là mảnh thân có chất liệu thô (71%) Dựa vào những mảnh vỡ có thể đoán biết được hình dáng thân đồ đựng Những loại bình hoặc nồi thường có mảnh thân có

độ cong nhiều, xương gốm có độ dày trung bình 0.35 – 1cm Đa số các mảnh thân có dạng hơi cong hình cầu Tuỳ vào kích thước của loại hình đồ đựng mà độ cong nhiều hay ít Ở đây cũng thấy nhiều mảnh thân gấp khúc và thường có xương không dày, có thể là phần thân của loại bát mâm bồng hoặc của một loại bình giống với bình bụng gãy của Long Bửu Ở Gò Cát có một số lượng lớn những mảnh vỡ thân có xương khá

Trang 28

dày, trên 1.3cm, độ cong ít, xương gốm thường pha cát và nhiều vỏ nhuyễn thể rất có thể là mảnh vỡ của chum, một hiện vật khá phổ biến ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn sơ kì sắt có thể tìm thấy trong các di tích khảo cổ học Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ

Kiểu 1a: chân đế rất thấp, gần như sát với đáy đồ đựng Chân đế có chiều cao

khoảng 0,2cm đến 0,9cm, đường kính từ 5 – 6cm Chân đế có độ dày 0,5cm (Bản ảnh 6)

Chủ yếu gốm được làm bằng chất liêụ sét trong đó trộn nhiều bã thực vật Chân

đế kiểu này có xương gốm đen, xốp Áo gốm màu hồng đỏ Bề mặt bên ngoài bị bong tróc nặng

Chân đế được taọ theo kiểu chân đế liền

Kiểu 1b: chân đế thấp đứng, cao khoảng 1 – 2,3cm, đường kính từ 4,5 – 5 cm

Chân đế có độ dày đều từ trên xuống 0,8cm (Bản vẽ V, hình 1; Bản ảnh 6)

Chủ yếu gốm được làm bằng chất liệu sét trong đó trộn nhiều bã thực vật Chân

đế kiểu này có xương gốm cứng, màu đen, xốp Áo gốm màu hồng đỏ Bề mặt bên ngoài bị bong tróc nặng

Chân đế kiểu này được làm bằng phương pháp dải cuộn, kiểu chân đế liền Ở đáy chân đế có phần gốm nhọn Có thể đây là phần gốm được để lại trong quá trình vuốt láng để gắn chặt hơn chân đế với đáy đồ đựng phiá trên

Kiểu 1c: chân đế thấp loe, cao khoảng 1,4 – 3,5cm, đường kính từ 5 – 6,5cm

Chân đế có độ dày đều từ trên xuống 0,7 – 1cm Phía bên gần đáy đồ đựng dày, càng

về dưới độ dày xương gốm mỏng dần (Bản vẽ V, hình 2,; bản ảnh 6)

Trang 29

Gốm được làm bằng chất liêụ thô, gồm sét trộn với nhiều bã thực vật Chân đế kiểu này có xương gốm cứng, có màu đen, xốp Áo gốm mặt ngoài màu cam đậm, trong màu xám, cả hai mặt đều được miết láng

Kiểu 2: chân đế trung bình

Kiểu 2a: chân đế loe, mép chân đế bẻ cong nhẹ tạo bề mặt tiếp xúc của mép

chân đế lớn Chân đế có chiều cao trung bình 3 – 3,7cm Thành chân đế dày đều từ trên xuống.Tỷ lệ về độ rộng của đường kính trên và dưới chênh lệch không lớn lắm nhưng độ rộng của chân đế kiểu này rất đa dạng (rộng đường kính dưới từ 8cm – 18cm, có chân đế rộng đến 36cm).Vì vậy ở di tích này phổ biến loại chân đế có đường kính rộng dưới (Bản vẽ V, hình 3; bản ảnh 7)

Thành phần chất liệu là sét pha bã thực vật và cát Bề mặt bị bong tróc và phủ lớp áo vàng nhạt hay màu gạch non Xương cứng thường có màu đen xám

Chân đế thường được chế tạo trước khi gắn liền với đáy đồ đựng

Kiểu 2b: tương tự như kiểu 2a Nhưng mép chân đế vê tròn (Bản ảnh 7)

Kiểu 3: chân đế cao

Kiểu 3a: chân đế có độ cao 5,4 – 6,5cm Kiểu chân đế này có độ choãi lớn

Đường kính trên từ 3,3 – 4,5cm và đường kính dưới Độ dày chân đế giảm dần từ trên xuống, ở phần tiếp giáp đáy đồ đựng dày khoảng 0,6 – 0,9cm càng về mép chân đế xương càng mỏng 0,4cm (Bản vẽ VII, hình 3; Bản ảnh 8)

Đa phần vẫn là chất liệu gốm thô với sét và trộn nhiều bã thực vật Bên cạnh đó,

có vài chân đế có thêm ít vỏ nhuyễn thể pha sét với cát mịn

Xương gốm thô, cứng màu xám đen

Áo gốm rất ít bong tróc hần như vẫn còn nguyên màu sắc với màu hồng đỏ Chân đế kiểu này được tạo thành theo cách làm chân đế liền Đặc biệt đáy đồ đựng của chân đế được xoa láng không có phần dư nào của gốm

Tuy rằng được miết láng nhưng mặt trong của chân đế ta vẫn thấy các vòng tròn Đây chính là dấu vết kỹ thuật chế taọ gốm bằng phương pháp dải cuộn Có nghĩa

là chân đế kiểu này làm bằng tay

Gốm được nung ở nhiệt độ cao vì xương gốm rất chắc

Kiểu 3b: chân đế có độ cao từ 5,4 – 6,3cm Chân đế có dáng loe, mép chân đế

được vê tròn bẻ nhẹ ra ngoài tạo bề mặt tiếp xúc lớn Đường kính trên 4,5cm và đường

Trang 30

kính dưới 7,5cm Thành chân đế khá dày khoảng 0,5 – 0,7cm Độ dày thành chân đế khác nhau (Bản ảnh 8)

Gốm được làm bằng chất liệu thô, gốm xốp, trộn nhiều bã thực vật, mặt ngoài

có nhiều cát hạt mịn Xương gốm thô cứng, có màu xám đen Gốm bở xốp nhẹ Nhìn chung, lớp áo gốm này bị bong tróc nhiều cả hai mặt trong ngoài Áo gốm màu cam vàng

Đây là kiểu chân đế liền từ mép chân đế đến đáy đồ đựng

Bên dưới phần đáy chân đế có dấu vết kỹ thuật dải cuộn và có phần gốm thừa nhô ra ngoài

Nhiệt độ nung gốm cao

Đường kính từ 4,5 – 5 cm Chân đế có độ dày đều từ trên xuống 0,8cm

Gốm được làm bằng chất liệu thô, gồm sét, trộn nhiều bã thực vật Chân đế kiểu này có xương gốm cứng, màu đen, xốp

Kiểu 4 : Chân đế cao, đường kính trên tiếp với đáy đồ đựng nhỏ, đường kính

mép chân đế lớn

Kiểu 4 a : Hiện vật bị vỡ, chỉ còn lại phần trên thân không còn thấy mép chân

đế nên không tính được chiều cao toàn chân đế chiều cao còn lại của chân đế từ 5- 6,5

cm Chân đế có độ choãi rộng Đường kính khá lớn, đường kính trên 9cm Thành chân

đế rất dày nhưng không đều nhau khoảng 0,9 – 1,2 cm (bản vẽ VII, hình 8)

Chân đế kiểu này chủ yếu làm bằng chất liệu sét pha nhiều bã thực vật, xương gốm vẫn thô, màu xám đen nhưng không còn xốp, bở, gốm rất cứng, nặng

Áo gốm màu vàng cam lớp áo bị bong tróc gần hết

Dựa vào phần chân đế còn lại ta biết được đây là chân đế rời vì vẫn còn dấu nối bằng đất sét với đáy của đồ đựng ở mặt ngoài của chân đế

Chân đế được làm bằng tay vì quan sát mặt trong chân đế thấy có những đường lõm chạy vòng quanh thân chân đế không đồng tâm Độ dày không đều nhau Chỗ dày nhất 1,2cm, chỗ mỏng nhất là 0,9cm

Kiểu 4b: chân đế choãi rộng, mép chân đế được vê tròn tạo gờ cuộn ra mặt

ngoài Đường kính trên của chân đế là 8cm Do phần mép chân đế còn lại rất ít nên không thể xác định được đường kính dưới Thành chân đế rất dày và cũng không đều (Bản vẽ VII, hình 2; Bản ảnh 8)

Trang 31

Chất liệu chủ yếu lấy từ sét pha nhiều bã thực vật Kỹ thuật chế tác giống kiểu 4a

Kiểu 4c: chân đế cao 10cm Kiểu chân đế này có dáng loe cao, vành mép chân

đế khum nhẹ Mép chân đế cao 1,5cm Đường kính trên 6cm và đường kính dưới 12cm Thành chân đế khá dày khoảng 0,6 – 0,9cm Độ dày thành chân đế khá đều, càng về mép chân đế xương gốm mỏng dần (Bản vẽ V, hình 4)

Thành phần chất liệu chủ yếu là sét, trộn nhiều bã thực vật pha thêm cát nên xương gốm cứng chắc Xương gốm thô có màu xám đen Áo gốm ở mặt ngoài có màu cam vàng, lớp trong có màu vàng Cả hai mặt đều được miết láng Lớp áo gốm này bị bong tróc nhiều ở cả mặt trong lẫn mặt ngoài

Đây là kiểu chân đế thường gắn rời với đồ đựng

Kiểu 4d: chiều cao của chân đế là 10cm Chân đế có dáng loe rộng Bề mặt

chân đế có vết xoa tạo gờ nổi nhẹ ở khoảng 1/3 thân chân đế Trong đó, gần giữa vành

đế có gấp tạo gờ nổi (Bản vẽ V, hình 5; Bản ảnh 8)

Đường kính trên 5,5 – 6cm và đường kính dưới khoảng 15cm Thành chân đế khá dày khoảng 0,6 – 0,9cm Độ dày thành chân đế không đều, ở phía gần đáy đồ đựng xương gốm dày khoảng 0,9cm, càng xuôi về thân xương gốm càng mỏng, chỉ dày 0,5cm, nhưng đến mép chân đế xương gốm dày 0,8cm

Chân đế kiểu này được làm bằng chất liệu thô gồm sét, trộn nhiều bã thực vật Xương gốm cứng, có màu xám Áo gốm ở mặt ngoài có màu nâu, mặt trong có màu vàng Cả hai mặt đều được miết láng Áo gốm bị bong tróc lỗ chỗ

Chân đế thường gắn rời với đáy của đồ đựng

Kiểu 4e: chân đế loe rộng Bề mặt chân đế có vết xoa tạo gờ nổi lớn ở gần mép

chân đế Đây là kiểu chân đế của mâm bồng (Bản vẽ VI, hình 1; Bản ảnh 9)

Do hiện vật không còn nguyên vẹn nên chỉ xác định được đường kính dưới của chân đế là 24cm, chiều cao còn lại 3cm Thành chân đế dày đều 1cm Thành phần chất liệu ở đây chủ yếu là sét pha với nhiều bã thực vật Áo gốm màu vàng nhạt, mặt trong

áo gốm bị bong tróc Xương gốm bở, xốp nhẹ

Chân đế mâm bồng được làm bằng bàn xoay do đó độ dày xương gốm đều, có những đường miết láng cùng song song

Kiểu 5:

Trang 32

Bình có đáy thuôn (Bản vẽ VII, hình 4; Hình 9)

Đây là kiểu bình không có chân đế

Hiện vật chỉ còn một mảnh mất phần miệng, chỉ còn thân và đáy Độ dày còn lại của bình là: 10cm Thân cao, thuôn dần về đáy Đáy bình lõm

Đường kính miệng và đáy bình gần bằng nhau, rộng 11cm

Thành phần chất liệu chủ yếu đất sét nhưng pha thêm rất nhiều bã thực vật và hầu như không có cát

Xương gốm đen, bở, lớp áo gốm mỏng hầu như bị bong tróc hết Xương gốm dày, ở phần thân: 0,9 cm, càng về phiá đáy càng dày, dày 2 cm Đáy bình dày 1,2cm

Gốm được chế tác bằng tay vì còn dấu vết miết láng bằng tay Người thợ tạo đáy bình trước sau đó đến phần thân rồi đến miệng

Loại gốm này nung ở nhiệt độ không cao nên gốm bở, xốp

Kiểu 6:

Đây là loại không chân đế Sản phẩm có đáy bằng hay đáy hình cầu ?(Bản vẽ

VI, hình 6; Bản ảnh 9)

Do chỉ còn lại mảnh vỡ gồm một phần thân và đáy nên không thể xác định được

độ cao hiện vật nguyên Mảnh gốm có chiều cao còn lại 3 cm Đường kính đáy rộng 7

cm Càng về đáy đường kính thân càng nhỏ dần Đáy hiện vật bằng

Thành phần chất liệu gồm sét pha nhiều cát và vỏ nhuyễn thể mịn và có ít bã thực vật

Xương gốm dày đều Phần thân xương dày 0,5cm đến phần chuyển tiếp giữa thân với đáy dày 0,7 cm tới phần đáy chỉ còn lại 0,5 cm

Xương gốm màu nâu Bên ngoài có lớp áo gốm màu đỏ dày 0,1 cm Lớp áo này được làm bằng chất liệu chủ yếu là sét pha cát và vỏ nhuyễn thể.Gốm được nung ở nhiệt độ cao nên xương gốm chắc, cứng Áo gốm rất ít bong tróc Sản phẩm được làm bàn xoay vì xương gốm đều

Nhìn chung, chân đế ở di tích Gò Cát chủ yếu làm bằng chất liệu thô gồm sét,

pha rất nhiều bã thực vật, rất ít pha cát hoặc hầu như không có gốm màu đen, thường

bở, xốp do hàm lượng thực vật cao, ít cát Áo gốm mỏng thường là màu trắng hoặc vàng Loại chất liệu này thường được nung ở nhiệt độ tương đối, không cao lắm và chất liệu bã thực vật nên thường xương gốm bở, xốp, áo gốm hay bong tróc nhiều

Trang 33

Ngoài ra, ở di tích này, cũng có chất liệu gốm mịn với sét, cát, vỏ nhuyễn thể Trong thành phần chất liệu trên có sét rất ít tạp chất, cát hạt mịn (thường trung bình), vỏ nhuyễn thể được nghiền nhỏ Xương gốm có màu đỏ, màu gạch Màu của áo gốm thường đi cùng với màu xương gốm Chân đế loại chất liệu này rất hiếm và chỉ phổ biến ở kiểu chân đế trung bình choãi, đường kính lớn nhưng số lượng rất ít chỉ có vài mảnh

Ở di tích Gò Cát người thợ thủ công chế tác gốm chủ yếu bằng tay và bằng bàn xoay Dấu vết làm bằng tay để lại rất nhiều ở phần trong của chân đế Đặc biệt ở loại hình chân đế thấp choãi Kiểu 1, có hiện tượng mặt trong của chân đế có một phần gốm nhô ra Có ý kiến cho rằng phần gốm thừa này là dấu vết chắc chắn của kỹ thuật chế tác gốm bằng bàn xoay nhanh (Đặng Văn Thắng…, 1998: 73) Trong di tích Bến Đò, Cái Vạn đều có kiểu chân đế thấp này Đặng Văn Thắng đã giải thích rằng: “chúng tôi quan sát thấy rõ núm gốm này được gắn vào chứ không phải chỗ đất thừa của đáy Việc gắn này có lẽ do một dụng ý khác là làm cho đáy của đồ đựng được dày thêm Núm nhọn ở trong chân đế là một đặc trưng ở nhiều di tích như Cái Vạn, Gò Đá ” (Đặng Văn Thắng…,1998: 73)

Theo chúng tôi, núm gốm này có được là do người thợ khi chế tác đồ gốm đã gắn chân đế được chế tạo trước với đáy đồ đựng rồi dùng một phần đất sét miết liền chúng với nhau

Nhìn chung trong kỹ thuật chế tạo gốm ở Gò Cát, chân đế thường được chế tạo riêng rồi mới gắn vào đồ đựng trước khi nung Vì vậy khi đào thám sát, chỉ tìm thấy chân đế rời, rất ít thấy chân đế gắn liền với phần đáy đồ đựng và hầu như không tìm thấy hiện vật nguyên gắn liền với chân đế

d Bếp lò gốm (cà ràng): (Bản ảnh 13, hình 5; Bản vẽ 4, hình 3a – 3b)

Là loại hình bếp lò đặc trưng của người cổ ở khu vực Nam Bộ “Cà ràng” có mặt trong nhiều di tích ven sông như Cái Vạn, Bình Đa, Phước Tân, Gò Me, Suối Chồn, Bưng Bạc, Cần Giờ, Bến Đò, An Sơn, Rạch Núi

Mỗi “cà ràng” gồm hai phần, một phần gắn với ba giá kê (giá đỡ) hay ba “ông đầu râu” để đặt dụng cụ nấu còn phần kia là bàn đế có miệng dùng để đun, đẩy củi hay kéo than nướng thức ăn Bàn đế hầu như bị vỡ, thường có hình tròn, đáy hơi lồi, xung

Trang 34

quanh có bờ thành được vê tròn hoặc chỉ là mép mỏng hay bẻ cụp vào trong Các hiện vật ở đây ghi nhận được hai dạng “cà ràng”

- Loại 1: bản rộng nhưng dẹp, đầu bằng gần vuông góc với hai cạnh bên Phần

đầu cà ràng dày 0,8cm nhưng đến phần tiếp giáp với bàn đế dày 3cm, chân cà ràng dài 7cm, rộng 6,5cm

Chất liệu: cà ràng được làm bằng chất liệu sét pha nhiều bã thực vật và ít cát Lớp áo gốm bị bong tróc nặng, xương gốm màu đen nhạt Bên mặt ngoài có dính rỉ sắt

- Loại 2: đây là loại có thân dày, đầu tròn, thân thon dài đều Đầu cà ràng dày

2cm, thân dày 4cm Cà ràng dài 6cm, rộng 5cm

Chất liệu: chủ yếu là đất sét pha nhiều cát Xương gốm chắc, cứng nặng, màu gạch non, áo gốm bị bong tróc, bề mặt nhám do cát

Như vậy, nhìn chung cà ràng Gò Cát giống cà ràng vùng Đông Nam Bộ cả về loại hình và chất liệu

e Mảnh gốm ghè tròn

Trong nhiều di tích thuộc thời đại kim khí ở Nam Bộ, người ta đã phát hiện được khá nhiều loại di vật này ở Cầu Sắt, Suối Linh, Cái Vạn, An Sơn, Gò Ô Chùa, Giồng Nổi…Ở Gò Cát đã tìm được 13 mảnh gốm ghè tròn, trong đó có 4 mảnh thu nhặt, 4 mảnh ở độ sâu 70cm và 5 mảnh ở độ sâu 50cm Tất cả chúng đều được làm từ mảnh vở của thân đồ đựng thô, không hoa văn Một số mảnh không chỉ ghè mà còn được mài tròn Cũng như ở các di tích khác, loại di vật này hiện nay vẫn chưa xác định được chức năng của nó (Bản ảnh 13, hình 3,4)

f Bi gốm

Cùng với gốm ghè tròn, bi gốm cũng là một loại di vật độc đáo trong văn hoá kim khí ở vùng Nam Bộ Bi gốm là loại hiện vật thường gặp trong các di chỉ ven sông như Bình Đa, Gò Me, Bến Đò (Lưu Văn Du, Nguyễn Đăng Hiệp Phố, 1998: 44), An Sơn, Cái Vạn… Số lượng bi riêng ở di tích Bến Đò (thành phố Hồ Chí Minh) có đến hàng trăm viên, Bình Đa : 50 viên, Cái Vạn : 48 viên… Ở Gò Cát số lượng bi gốm thu nhặt được trên mặt đất và trong địa tầng khá lớn : 852 viên (xem phần phụ lục bảng 16)

Trang 35

Bi gốm Gò Cát được làm từ loại chất liệu khá thuần nhất, có thể nhận thấy được hai loại sau

- Loại 1: bi được làm từ sét pha với khá nhiều cát, đôi khi có nhiều hạt cát

thô Bi loại này thường có màu nâu đỏ, đỏ, xám đen và phổ biến là màu nâu đỏ Bi gốm loại này chiếm tỉ lệ nhiều nhất 59% chung cho cả những viên bi thu nhặt và trong địa tầng

- Loại 2: bi gốm được làm từ sét pha với ít cát Gồm hai loại

Thành phần sét cao pha với cát hạt mịn Loại bi này chủ yếu có màu xám, đôi khi có màu nâu đỏ hoặc gạch non

Thành phần sét cao pha rất ít cát hạt mịn, đôi khi không thấy cát Vỏ được miết láng Bên trong lõi của viên bi thường có lẫn những hạt sạn khá to Quan sát những viên bi loại này thấy rằng chúng thường bị vỡ đôi hoặc vỡ một phần tạo ra lõm hình chỏm cầu để lộ những hạt sạn Bi loại này có màu xám đen hoặc đen đỏ Có những viên vừa có màu đen, vừa có màu đen đỏ, xương gốm đỏ hoặc có vỏ đen xương gốm đen

Bi gốm không có lớp áo nên nhiều viên bi còn lộ những hạt cát pha vào đất sét Qua màu sắc của bi gốm, có thể cho rằng: bi gốm đỏ đẹp chín đều do được làm từ chất liệu đất sét tốt, nung đúng lửa Bi gốm có màu đen hoặc một nửa xám đen có thể do nung quá lửa hay để gần quá lửa bị lửa táp vào Bi gốm có màu xám đen có thể do đất sét thuần hơn hoặc nung chưa chín kỹ ()

Về hình dáng của bi: mặc dù gọi là bi nhưng không phải tất cả các viên bi đều

có hình tròn và giống nhau về kích cỡ, màu sắc Chúng tôi dùng khái niệm bi để gọi tên cho những viên đất nung có hình tròn hoặc gần tròn Theo cách gọi tên này thì khái niệm bi gốm được dùng để gọi những viên đất nung có kiểu dáng như sau:

- Đất nung có hình cầu được làm từ chất liệu loại 1 và loại 2 Bi được làm từ chất liệu loại 1 (bi tròn loại 1) thường có đường kính nhỏ hơn bi được làm từ chất liệu loại 2 (bi tròn loại 2) Đây cũng là dạng bi gốm thường gặp trong các di tích thời đại kim khí ở Nam Bộ Bi tròn loại 1 có đường kính trung bình từ 1.7 – 1.8cm, lớn nhất là 2.15cm và nhỏ nhất là 1.6cm Bi tròn loại 2 có đường kính trung bình từ 1.8 – 2cm Viên bi lớn nhất có đường kính 2.4cm, được tô màu đỏ, viên nhỏ nhất có đường kính 1.2cm (Bản ảnh 10, hình 1)

Trang 36

- Đất nung có hình dáng không tròn lắm được làm từ chất liệu loại 1, kích thước dài nhất và ngắn nhất của một viên bi khoảng 2.2 – 1.7cm (Bản ảnh 10, hình 6)

- Đất nung hình tròn hoặc gần tròn có dấu lõm hình chỏm cầu được làm từ cả hai loại chất liệu (Bản ảnh 11, hình 5)

- Đất nung có dạng tròn, gần tròn hoặc dẹt Trên bề mặt thường có dấu chải của que nhọn tạo thành đường khắc chìm, hoặc que có nhiều răng nhọn, que đầu bằng tạo thành những rãnh nhỏ Loại bi này được làm từ cả hai loại chất liệu (Bản ảnh 10, hình 3,4,5; Bản ảnh 11, hình 4)

- Đất nung có dạng hình tròn hoặc gần tròn (tròn dẹt, tròn dài) có hai lỗ đối xứng hoặc không đối xứng có thể xỏ dây xuyên qua Một số viên chỉ có một

lỗ hoặc hai lỗ nhưng không thông nhau (Bản ảnh 11, hình 1,2,3)

Về công dụng của bi gốm

Không chỉ được tìm thấy trong các di tích khảo cổ ở miền Nam, bi gốm còn được phát hiện ở hầu khắp các địa điểm khảo cổ học ở miền Bắc nước ta vào thiên niên kỉ II – I trước công nguyên nhưng với số lượng không nhiều Chỉ trong các địa điểm khảo cổ học ở phía Nam, bi gốm mới được tìm thấy với số lượng lớn mà các nhà nghiên cứu đã đánh giá như một kho bi gốm ở Bến Đò Mặc dù tìm thấy khá nhiều nhưng cho đến nay vẫn còn khá nhiều tranh luận về công dụng thực sự của bi gốm Trước đây, H Mansuy (1902) đã cho bi gốm là những viên đạn dùng để săn bắt bằng ống xì đồng Nhưng đạn để thổi chim nhỏ thì phải dẻo, bắn đến đâu vo viên đến đấy

mà đạn để thổi chim lớn, tuy có thể phơi khô, nhưng kích thước phải giống nhau như dập khuôn, đạn thật tròn thì mới có thể thổi được (1, tr 38)

Tuy nhiên thực tế cho thấy những viên bi gốm được phát hiện trong các địa điểm khảo cổ thuộc thời đại đồng và thời đại sắt sớm ở nước ta đều được nung chín và kích thước lại không đều nhau, nên khả năng là loại đạn bắn bằng ống xì đồng là khó

có thể Quay về những viên bi gốm ở Gò Cát, bi gốm ở đây có nhiều hình dạng và kích

cỡ, nhưng tập trung số lượng nhiều nhất là loại bi tròn (76.4%) hoặc gần tròn (17.7%) giống với loại bi đã được phát hiện trong các di tích khác Về công dụng của loại bi này nhiều nhà nghiên cứu cho là một loại bi để giải trí Cách giải thích này cũng tương đối hợp lý vì một số bi ở đây được làm khá công phu Chất liệu chủ yếu là sét nhưng bên trong thường có những hạt sạn khá to Có lẽ người ta đã sử dụng những hạt sạn

Trang 37

này như một cái phôi, sau đó bao đất sét bên ngoài những hạt sạn đó và vê tròn Những viên bi này thường được vê khá tròn, được miết láng và nhúng màu trước khi nung Rất có thể viên bi được tạo ra không chỉ để giải trí mà còn phải thỏa mãn nhu cầu thẩm

mỹ của con người Nếu theo cách lý giải của Mansuy, những viên bi này là đạn thì dường như có phần hoang phí Tuy nhiên đối với những viên bi của chất liệu loại 1 và loại 2 không được miết láng thì vừa có thể là bi mà cũng vừa có thể là đạn

Có ý kiến cho rằng những viên bi có lỗ là một loại hạt chuỗi gốm và phế vật hạt chuỗi Nhưng nếu đặt những viên bi có lỗ này trong tổng thể những di vật được tìm thấy ở Gò Cát thì giả thiết này dường như không hợp lý Ở Gò Cát người ta đã tìm được nhiều hạt chuỗi bằng đá và nhiều mảnh vòng đá được chế tác rất công phu Còn những viên bi được cho là đồ chơi của trẻ em lại được làm cẩn thận Trong khi đó những viên đất nung có lỗ này được làm từ chất liệu loại 1 pha rất nhiều cát hạt thô và không định hình nên giả thiết cho đây là hạt chuỗi sẽ không thuyết phục lắm Những viên đất nung này có chức năng như thế nào thì cần được nghiên cứu thêm Đối với những viên bi có rãnh giống với rãnh của “chì lưới” nhưng rãnh vuông,viên bi nhỏ và rất nhẹ nên không thể là chì lưới Có ý kiến cho rằng chúng được dùng để thử nguyên liệu hay thử lửa nung gốm– một loại hiện vật mang tính chất kỹ thuật trong việc nung

đồ gốm Hiện nay trong nhiều lò gốm ở vùng làm gốm Biên Hoà – Lái Thiêu vẫn dùng những cục đất nguyên liệu để kê chồng các sản phẩm gôm, vừa chống dính men, vừa quan sát độ chín của đất hay độ chín của sản phẩm (Nguyễn Thị Hậu, Hà Thị Kim Chi, Trần Thị Tú Uyên, Lê Nguyên Anh, 2006) Tuy nhiên đối với những cục đất được

sử dụng với mục đích kê chồng thường được làm từ loại chất liệu thô, xốp, dễ vỡ nhưng những viên đất nung ở đây được làm từ chất liệu khá tốt, cứng và khó vỡ

Một câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao lại tìm thấy một lượng lớn bi gốm như thế ở

di tích này (cần lưu ý rằng số lượng bi gốm thu thập được chỉ là một lượng nhỏ không đáng gì so với lượng bi đã bị thất thoát khi người ta đến Gò Cát để xúc cát mang đi nơi khác) Có thể đưa ra hai giả thiết sau:

 Những viên bi đó có công dụng thử lửa trong quá trình nung gốm Giả thiết này tỏ ra hợp lý khi ở Gò Cát những người khảo sát đã thu được một lượng rất lớn mảnh gốm vỡ và cả đất nung, chứng tỏ Gò Cát cũng đã từng là một nơi sản xuất gốm

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w