1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biểu thức chiếu vật về người lính trong thơ kháng chiến

120 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn của chúng tôi nghiên cứu về các biểu thức quy chiếu về người lính trong th kháng chiến dưới ánh sáng của lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học: đặt chúng trong các BTCV được sử d

Trang 6

M C L C

L I CAM ĐOAN i

M C L C ii

DANH M C CÁC B NG vii

THÔNG TIN K T QU NGHIÊN C U C A LU N VĔN v

M ở đầu 1

1 Tính c p thi t c a đ tài 1

2 L ịch s v n đ nghiên c u: 2

3 M c tiêu nghiên c u và nhi ệm v nghiên c u 5

3.1 Mục tiêu của luận văn 5

3.2 Nhiệm vụ của luận văn 5

4 Đối t ng và ph m vi nghiên c u 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 m vi n i n cứu 6

5 Ph ng pháp vƠ th pháp nghiên c u 7

5.1 Thủ pháp thống kê, phân lo i 7

5.2 ươn p áp mi u tả ngôn ngữ 7

6 Đóng góp c a đ tài 7

7 C u trúc lu n văn 8

CH NG 1 C S LÍ LU N VÀ NH NG V N Đ LIÊN QUAN 9

1.1 Lý thuy t chi u v t 9

1.1.1 Sự chiếu vật 9

1.1.2 BTCV Error! Bookmark not defined 1.1.2.1 BTCV là gì ? 11

1.1.2.2 Tiêu chí xác định BTCV trong luận văn 12

1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu 13

1.1.3.1 Chiếu vật là gì? 13

1.1.3.2 Nghĩa – ý nghĩa – chiếu vật 15

1.1.3.3 Hệ quy chiếu 17

1.1.3.4 Chiếu vật trong tác phẩm văn chương 18

1.2 Lý thuy t ho t động giao ti p 19

1.2.1 Các nhân tố của ho t động giao tiếp 20

1.2.1.1 Ngữ cảnh (situational context; context of situation) 20

1.2.1.2 Ngôn ngữ (language): 22

Trang 7

1.2.1.3 Diễn ngôn (discourse): 22

1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật trong tác phẩm văn c ươn 23

1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và bạn đọc) 23

1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp 23

1.2.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 25

1.3 Gi i thi ệu v th kháng chi n 26

1.3.1 Giai đo n t ơ c ống Pháp 26

1.3.2 T ơ iai đo n chống Mỹ: 27

1.4 Ti u k t 29

CH NG 2 CÁC BTCV V NG I LÍNH TRONG NGÔN NG TH KHÁNG CHI N NHÌN T BÌNH DI N CÁI BI U Đ T 30

2.1 C u t o các BTCV v ng i lính trong ngôn ng th kháng chi n theo hệ chi u v t 30

2.1.1 Các BTCV về n ười lính thuộc hệ chiếu vật thế giới tự nhiên 30

2.1.2 Các biểu thức chiếu về về n ười lính thuộc hệ chiếu vật là thế giới nhân t o 34

2.1.3 Các BTCV về n ười lính thuộc hệ chiếu vật là thế giới con n ười 36

2.2 C u t o c a các BTCV v ng i lính trong th kháng chi n 43

2.2.1 BTCV có cấu t o là ngữ danh từ 43

2.2.2 BTCV có cấu t o là danh từ 56

2.2.3 Quan hệ kết hợp của các BTCV về n ười lín tron t ơ k án c iến 58

2.3 Ti u k t 60

CH NG 3 CÁC BTCV V NG I LÍNH TRONG NGÔN NG TH KHÁNG CHI N NHÌN T BÌNH DI N CÁI Đ C BI U Đ T 61

3.1 Giá tr ị bi u đ t c a các BTCV v ng i lính trong th kháng chi n 61

3.1.1 Chiếu vật về n ười lính trên hệ quy chiếu thế giới nhân t o 61

3.1.2 Chiếu vật về n ười lính trên hệ quy chiếu thế giới con n ười 63

3.2 Giá tr ị nghệ thu t vƠ đặc tr ng văn hóa c a các BTCV v ng i lính trong th kháng chi n 66

3.2.1 Giá trị nghệ thuật của các BTCV về n ười lín tron t ơ k án c iến 66 3.2.2 Đặc trưn văn óa-thời đ i của các BTCV về n ười lín tron t ơ kháng chiến 71

3.2.3 Nhữn điểm khác biệt trong việc biểu đ t ìn tượn n ười lính trong t ơ c ốn áp và t ơ c ống Mỹ nhìn từ các BTCV 73

Trang 8

3.3 Ti u k t 78

K T LU N 80 TÀI LI U THAM KH O 82

Trang 9

DANH M C CÁC B NG

Bảng 2.1 Các nhóm BTCV về người lính từ HCV thế giới con người

trong ngôn ngữ th kháng chiến

Bảng 2.5 Các BTCV có cấu tạo là danh từ trong th kháng chiến Trang 56

Bảng 2.6 Bảng thống kê quan hệ kết hợp của các BTCV về người lính

trong th kháng chiến

Trang 59

Bảng 2.7 Bảng thống kê các BTCV làm thành phần chủ ngữ trong câu Trang 60

Trang 10

M Đ U

1 Tính c p thi t c a đ tài

Ngôn ngữ trong giai đoạn hiện nay không chỉ đ n thuần là tiếng nói của con người dùng để biểu hiện các nội dung như ý nghĩ, tơm tư, tình cảm giữa con người với nhau trong đời sống hằng ngƠy mƠ còn lƠ phư ng tiện giao tiếp quan trọng để gắn kết

cộng đồng tộc người của một quốc gia, hoặc giữa quốc gia này với quốc gia khác Trong khoa học, ngôn ngữ bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi địa hạt ngôn ngữ là

một mảnh đất màu mỡ để cho các nhà khoa học khai phá, nghiên cứu, đóng góp vƠo tri

thức nhân loại

Nghệ thuật ngôn ngữ ra đời từ buổi bình minh của xã hội loƠi người và ngay từ

thời đó, th đã có vị trí hết sức quan trọng Từ khi chưa có chữ viết, con người đã sáng tác vƠ thưởng thức th qua con đường truyền miệng Những sáng tác văn học sớm nhất

của nhân loại ngƠy nay ta được biết hầu hết lƠ th Th có vị trí lớn như vậy trong nhu

cầu đời sống tinh thần nên dễ hiểu khi các nhà khoa học nhơn văn h n hai nghìn năm nay

Việt Nam, Th có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn học vƠ đời sống

xã hội Th lƠ một thể loại văn học truyền thống của dân tộc Việt Nam Là một thể loại văn học nằm trong phư ng thức trữ tình nhưng bản chất của th lại rất đa dạng, với nhiều biến thái và màu sắc phong phú Th tác động đến người đọc vừa bằng ngôn từ giàu cảm xúc, bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc cụ thể:

vừa gián tiếp thông qua liên tưởng và những tưởng tượng phong phú, vừa theo những

mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn từ giàu nhạc điệu Th không chỉ

thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, một thú ch i tao nhã mƠ còn lƠ phư ng tiện giao tiếp xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội Th gắn với cuộc sống khách quan, gắn với chiều sâu thế giới nội tơm…

Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử nước ta bước sang một thời kỳ

mới, thời kỳ độc lập, bảo vệ nền độc lập, xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo

của Đảng Cộng Sản Việt Nam H n nửa thế kỷ đó, nhơn dơn đã tiến hành hai cuộc kháng chiến gian khổ, lập nên kỳ tích đánh thắng những kẻ thù có tiềm lực kinh tế h n

hẳn mình, bảo vệ độc lập và sự toàn vẹn của đất nước Trong hoàn cảnh đầy thử thách này, nền văn học cách mạng đã ra đời và không ngừng phát triển, trong đó th lƠ một

thể loại tiêu biểu Cách mạng đã mang lại cho người nghệ sỹ những phẩm chất hoàn toàn mới trong lao động sáng tạo Bối cảnh lịch sử hào hùng và bi tráng của thời kỳ

Trang 11

này là nội lực sơu xa để thở Việt Nam kế thừa tinh hoa trừ truyền thống đồng thời có

những biến đổi về chất, cả nội dung và hình thức, lƠm phong phú thêm kho tƠng th dân tộc Nhà phê bình HoƠi Thanh đã có nhận xét xác đáng: Hầu hết những người

mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến trong một quyển sổ tay nào đó

thế nào cũng có ít bài thơ Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng

súng, tiếng nhạc, tiếng thơ cùng hòa điệu [83, tr 357]

H n hai mư i năm đã trôi qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, lịch sử đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển, hoạt động sáng tạo nghệ thuật cũng vận động, biến đổi theo Việc nghiên cứu th kháng chiến từ góc nhìn ngữ dụng học, phát hiện và làm sáng tỏ giá trị của th ca kháng chiến không những là trách nhiệm mà còn là sự thôi thúc của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và các thế hệ độc giả

Dụng học trong ngôn ngữ là một phạm trù quan trọng, mới mẻ mƠ theo Đỗ Hữu Châu thì “với nó, ngôn ngữ học đã vượt ra khỏi cái tháp ngà của quan điểm cấu trúc

luận nội tại để đi vƠo cuộc sống” Từ khi xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay ngữ dụng

học luôn thu hút sự chú ý và nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học Và gần đơy việc

khảo sát các biểu thức quy chiếu trong ngôn ngữ nói chung vƠ trong văn th nói riêng

là công việc đầy thú vị, hứng khởi

Luận văn của chúng tôi nghiên cứu về các biểu thức quy chiếu về người lính trong th kháng chiến dưới ánh sáng của lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học: đặt chúng trong các BTCV được sử dụng trong diễn ngôn

Nhắc đến hình tượng người lính là nhắc đến tượng đƠi bất diệt của dân tộc Việt Nam, là linh hồn của cuộc kháng chiến, là niềm tin yêu của nhơn dơn Hình tượng người lính được khắc họa trong th ca qua hai cuộc kháng chiến đầy oanh liệt vẻ vang

của lịch sử dân tộc là kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Qua mỗi cuộc kháng chiến hình ảnh các anh bộ đội cụ Hồ được khắc họa với nhiều vẻ đẹp khác nhau nhưng

tựu trung lại họ lƠ đại diện cho tình yêu đất nước, lòng trung thành sắt son, thủy chung

với Đảng với nhân dân Vì vậy việc khảo sát và tiếp cận “Các BTCV về người lính

trong thơ kháng chiến” lƠ công việc thiết thực, mới mẻ vƠ đầy thi vị mang tính khoa

học cao

2 L ịch s v n đ nghiên c u:

Khái niệm chiếu vật hay còn gọi là quy chiếu (referring expression) trong dụng

học được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm Trên thế giới, phạm trù nƠy được nhà ký hiệu học Mỹ Charles W.Morris nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX Sau đó các nhƠ khoa học khác như Jacob L.Mey, George Yule đã có những công trình

Trang 12

nghiên cứu chuyên sâu làm tiền đề quan trọng cho các thế hệ sau Lịch sử nghiên cứu

về chiếu vật có thể được phân thành 3 giai đoạn nghiên cứu trên thế giới gồm: giai đoạn

thứ nhất (từ 1882 – khoảng 1950) - chiếu vật ngữ nghĩa (semantic reference); giai đoạn

thứ hai (từ khoảng 1950 – cuối thế kỷ XX) - chiếu vật của người nói (speaker‟s reference); giai đoạn thứ ba (khoảng từ cuối thế kỷ XX -nay) - chiếu vật được nghiên

cứu trong phối cảnh liên ngành(interdisciplinary perspectives)

Ngữ dụng học là một chuyên ngành chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến

việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt tới một mục đích nhất định Nó quan tơm đến việc vì sao việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc vào các kiến thức ngôn ngữ học như ngữ pháp, từ vựng của người nói vƠ người nghe mà còn phụ thuộc vào ngữ cảnh của phát ngôn Một vấn đề đầu tiên trong việc nghiên cứu ngôn ngữ trong thực tế sử dụng, xác lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ vƠ người sử dụng đó lƠ vấn

đề quy chiếu và sự lựa chọn biểu thức quy chiếu để chỉ đối tượng được nói đến

Dụng học được giới thiệu ở Việt Nam trước hết lƠ dưới những bài nghiên cứu

của Hoàng Phê, nhất là những bài viết giữa những năm 80 của thế kỷ qua Từ đó cho đến nay phạm trù quy chiếu nói riêng và ngữ dụng học nói chung được các nhà ngôn

ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dơn, Đỗ Thị Kim Liên nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học Đóng góp quan trọng nhất phải kể đến công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Chơu Trong giáo trình “Giản yếu về Ngữ dụng học” ông

dành hẳn một chư ng để nêu lên các vấn đề về chiếu vật, phân loại các dạng chiếu vật

vƠ nêu các phư ng thức chiếu vật Đỗ Hữu Chơu lƠ người đầu tiên có công giới thiệu

lý thuyết ngữ dụng học một cách hệ thống vƠ đầy đủ nhất và tiêu biểu nhất ở Việt Nam Cuốn Đại cương ngôn ngữ học¸ tập 2: Ngữ dụng học - Đỗ Hữu Chơu đã dƠnh

trọn một chư ng đề cập đến chiếu vật và chỉ xuất Theo tác giả, chiếu vật là vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quan tơm do đó cũng lƠ vấn đề thứ nhất của dụng học Bàn

về chiếu vật, Đỗ Hữu Châu chỉ ra tầm quan trọng của chiếu vật và việc xác định được

nội dung của câu quy chiếu Quan trọng h n cả là tác giả nêu ra các phư ng thức quy chiếu Vì quy chiếu là một hƠnh động có tính chủ động của người nói cho nên nó phần nào thể hiện tính mục đích của người nói khi lựa chọn biểu thức quy chiếu Về lí thuyết các giáo trình về ngữ dụng học đều dành ít nhất một chư ng để trình bày các

nội dung liên quan đến vấn đề này

Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt ngữ”

(Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004) đã dƠnh nhiều thời gian để nghiên

cứu về lý thuyết chiếu vật mà tác giả gọi là quy chiếu (reference), và xem mối quan hệ

Trang 13

giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, hƠnh động và tính chất mà chúng thay thế Quy chiếu được xem là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp

với diễn ngôn

Tài liệu nước ngoƠi được tiếp nhận và giới thiệu sớm nhất ở Việt Nam có lẽ là công trình Dụng học của G.Yule do Diệp Quang Ban biên dịch Đơy lƠ một trong

những giáo trình quan trọng về ngữ dụng học, đề cập ngắn gọn những đầy đủ về lý thuyết dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Giáo trình này có thể được xem như

lƠ bước khởi đầu đối với việc tìm hiểu có tính chuyên môn h n vƠ lƠ “cuốn gối đầu giường” đối với những ai bước đầu tiếp cận, nghiên cứu ngôn ngữ học

Như vậy, tiếp cận các kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, đồng thời vận dụng vào thực tiễn sử dụng tiếng Việt, các tác giả trong nước cũng đã có

những công trình về ngữ dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Tuy nhiên, chúng

tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các lý thuyết của ngôn

ngữ học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chư ng không thật sự nhiều, chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ

Các luận án, luận văn trước đơy đã nghiên cứu về đề tƠi người lính, hoặc nghiên

cứu BTCV như:

1 Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Phượng năm 2016 “ Nghiên cứu chức năng tác động trong th kháng chiến 1945 – 1975 từ phư ng diện truyền thông xã hội”

2 Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Chuyên năm 2017 “ Đặc điểm ngôn ngữ của người lính cụ Hồ thời kì chống Pháp từ góc độ vai giao tiếp (trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại)

3 Luận văn của Nguyễn Thị Hạnh năm 2018 “ Các BTCV về người phụ nữ trong th Hồ Xuơn Hư ng vƠ Xuơn Quỳnh”

Đặc biệt, cho đến nay, chúng tôi có thể khẳng định chưa có một công trình nào nghiên cứu về các BTCV về hình tượng người lính trong hai giai đoạn kháng chiến

như đề tài của chúng tôi

Trong th ca thời kì kháng chiến chống Pháp và Mỹ (1946–1975), hình tượng

người lính lƠ đề tài xuyên suốt, hùng tráng của nền th ca Việt Nam, là nguồn cảm

hứng vô tận trong sáng tác của các nhƠ th như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính

Hữu, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo

Nghiên cứu th nói chung vƠ nghiên cứu th thời kì kháng chiến nói riêng, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu, phê bình đã có nhiều công trình vƠ đạt được những

Trang 14

thành tựu lớn Xét trên bình diện lý luận, ngôn ngữ th được nghiên cứu trên nhiều

mặt: thi pháp th , cảm thụ th , tổ chức ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng th , đặc trưng

của th , thể loại th , đặc điểm loại hình, chữ vƠ nghĩa trong th Trên c sở nghiên

cứu ấy, các tác giả đã lƠm rõ vẻ đẹp về nội dung, về hình thức, về giá trị và những đóng góp của th ca của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc cho văn học Việt Nam nói chung vƠ cho văn học cách mạng nói riêng

Tuy nhiên còn rất ít người tiếp cận nghiên cứu hình tượng người lính trong th

thời kì kháng chiến trên phư ng diện các BTCV, đặc biệt là soi chiếu từ góc nhìn ngữ

dụng học, ký hiệu học Vì thế cho đến nay, hướng tiếp cận này vẫn còn là khoảng

trống chưa có ai bước chơn vƠo vƠ đòi hỏi được nghiên cứu để có cái nhìn sâu sắc h n, toàn diện h n về hình tượng người lính trong th kháng chiến

3 M c tiêu nghiên c u và nhi ệm v nghiên c u

3.1 Mục tiêu của luận văn: Nghiên cứu đề tài trên, chúng tôi mong muốn đạt

được các mục tiêu sau:

3.1.1 Xác lập được vị trí, vai trò của các BTCV về người lính như lƠ một bộ phận lƠm nên bình diện “cái biểu đạt” của hình tượng người lính – người anh hùng dơn tộc trong ngôn ngữ th ca kháng chiến

3.1.2 Chỉ ra vƠ cố gắng lƠm rõ mối quan hệ giữa các các BTCV với ý nghĩa biểu trưng của chúng gắn với từng hệ quy chiếu khác nhau cũng như với những đặc trưng tinh thần dơn tộc, tinh thần thời đại, phẩm chất đạo đức, lòng yêu nước của người lính

cụ Hồ trong đấu tranh gian khổ

3.2 N iệm vụ của luận văn

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ chính cần hoàn thành:

3.2.1 Tìm hiểu c sở lý thuyết về chiếu vật, về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chư ng phục vụ cho việc triển khai đề tƠi luận văn;

3.2.2 Xác lập các tiêu chí để xác định vƠ phơn loại các BTCV về người lính cũng như đối tượng được quy chiếu của chúng trong ngôn ngữ th của các tác giả sáng tác

về người lính trong gia đoạn kháng chiến (1945-1975)

3.2.3 Phơn tích, miêu tả đặc điểm của các BTCV được khảo sát trên bình diện cái biểu đạt vƠ cái được biểu đạt; bước đầu so sánh các đặc điểm của các BTCV trong

thơ ca kháng chiến giai đoạn chống Pháp với thơ ca kháng chiến giai đoạn chống Mỹ cứu nước;

Trang 15

3.2.4 Phơn tích, so sánh giá trị biểu đạt của các BTCV theo hệ quy chiếu đối với việc thể hiện ý nghĩa biểu trưng của chúng trong ngôn ngữ th ca kháng chiến

4 Đối t ng và ph m vi nghiên c u

4.1 Đối tượn n i n cứu

Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định lƠ: các BTCV về người lính trong th

ca giai đoạn kháng chiến của dơn tộc Việt Nam

4.2 m vi n i n cứu

Về phương diện nghiên cứu: luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên

cứu đối tượng kể trên ở các phư ng diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn

ngữ khác trong ngôn cảnh, sự vật được quy chiếu trong ngữ cảnh sử dụng và so sánh chúng với các BTCV về người lính tư ng ứng trong th của các tác giả sáng tác trong giai đoạn kháng chiến

Về tư liệu khảo sát:

Do ảnh hưởng tư tưởng và không khí thời cuộc hầu hết những bài th ra đời trong giai đoạn lịch sử này khắc họa rõ nét hình ảnh người lính trong đời sống thường nhật

với nhơn dơn, đời sống chiến đấu, khi hành quân với các phẩm chất đạo đức, lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quả cảm, anh dũng, quyết chiến đấu dƠnh độc lập, tự do cho dân tộc Tuy nhiên trong luận văn nƠy, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát nghiên cứu trong phạm vi các BTCV về người lính trong các bƠi th nổi bật nhất của các tác giả ở

cả hai giai đoạn chống Pháp và chống Mĩ (1945 – 1975), dựa chủ yếu vào tài liệu của tác giả Vũ Huy Thông trong cuốn “Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 –

1975” (Nhà xuất bản Giáo Dục) tập hợp th tuyển gồm 209 bƠi th của các nhƠ th

trưởng thƠnh trong phong trƠo th kháng chiến Việt Nam Chúng tôi chỉ mạn phép

khảo sát những tác phẩm th trong cuốn sách này của h n 40 nhƠ th có tên tuổi, quen thuộc với các thế hệ công chúng như: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh,

Quang Dũng, Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Bằng Việt, Phạm

Tiến Duật, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đăng Khoa, Nguyễn

Duy, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Lâm Thị Mĩ Dạ, Bùi Minh Quốc, Giang Nam, Những bài

th mƠ luận văn khảo sát là những bƠi th tiêu biểu của dòng th kháng chiến, các BTCV

về người lính của 209 bƠi th tiêu biểu này đã được liệt kê cụ thể trong phần PH L C của

luận văn

Trang 16

5 Ph ng pháp vƠ th pháp nghiên c u

5.1 T ủ p áp t ốn k , p ân lo i

Thủ pháp nƠy được chúng tôi vận dụng để thống kê các BTCV hình tượng người lính trong th ca kháng chiến; phân loại các BTCV thống kê được theo những tiêu chí

cụ thể Thủ pháp này nhằm nâng cao tính khách quan cho việc miêu tả cũng như đưa

ra những kết luận dựa trên dữ liệu khảo sát của luận văn

5.2 ươn p áp mi u tả n ôn n ữ

Sau khi thống kê, phân loại c sở ngữ liệu là các BTCV, chúng tôi vận dụng phư ng pháp nƠy để phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo các BTCV về người lính và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích vị từ-tham thể (vị tố - tham thể), thủ pháp phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp phơn tích vai nghĩa Từ những phân tích, lý giải các ngữ liệu, chúng tôi rút ra những vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn cao qua từng chư ng, mục tiêu của luận văn

6 Đóng góp c a đ tài

Khảo sát các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th ca kháng chiến, đề tài này

sẽ mở ra hướng tiếp cận mới: lần đầu tiên ngôn ngữ th của các tác giả viết về đề tài chiến tranh, được nghiên cứu dưới ánh sáng của ngữ dụng học Luận văn được hoàn thành sẽ có những đóng góp sau:

- V lý lu n Luận văn sẽ củng cố vƠ hệ thống hoá được các vấn đề c bản của lý

thuyết chiếu vật của ngôn ngữ học, góp phần lƠm rõ thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu chiếu vật trong tác phẩm văn chư ng; xác lập được một số c sở vƠ thao tác để xác định các BTCV được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở vƠ bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngƠnh ngôn ngữ - văn hóa - văn học vƠo nghiên cứu chiếu vật của Việt ngữ, đặc biệt lƠ chiếu vật trong tác phẩm văn chư ng

- V thực tiễn Thông qua việc khảo sát các BTCV về người lính trong ngôn ngữ

th ca kháng chiến, luận văn sẽ cung cấp thêm tư liệu vƠ kết quả phơn tích mới cho việc nghiên cứu vƠ giảng dạy lý thuyết chiếu vật trong ngôn ngữ th nói riêng vƠ trong giao tiếp tiếng Việt nói chung; cung cấp thêm c sở vƠ phư ng tiện ngôn ngữ cho việc khám

phá các giá trị vƠ nét đẹp của ngôn ngữ thơ ca kháng chiến, từ đó giúp ích cho việc

nghiên cứu vƠ giảng dạy tác phẩm văn chư ng từ góc nhìn ngôn ngữ học

Trang 17

7 C u trúc lu n văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chư ng

Chư ng 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan

Chư ng nƠy trình bƠy khái quát những vấn đề lý thuyết quan trọng nhất đến việc triển khai đề tài luận văn, đó lƠ lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Từ

đó, chúng tôi cũng trình bƠy những định hướng của việc vận dụng các lý thuyết đó trong việc nghiên cứu đề tài

Chư ng 2: Các BTCV về người lính trong ngôn ngữ thơ kháng chiến nhìn từ bình

diện cái biểu đạt

Chư ng nƠy triển khai việc khảo sát, phân loại các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th ca của các tác giả sáng tác trong giai đoạn kháng chiến của dân tộc trên các phư ng diện: cấu tạo và quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn

cảnh Từ đó, chúng tôi so sánh các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th ca của các tác giả sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp vƠ th ca kháng chiến chống

Mỹ trên bình diện cái biểu đạt

Chư ng 3: Các BTCV về người lính trong ngôn ngữ thơ ca kháng chiến nhìn từ

bình diện cái được biểu đạt

Trong chư ng nƠy, chúng tôi phân loại và miêu tả đặc điểm về chiếu vật trên hệ quy chiếu mƠ chúng được sử dụng để quy chiếu tới các thực thể cụ thể Từ đó, chúng tôi phân tích và nêu ra một số giá trị chủ yếu của các BTCV này trong ngôn ngữ th

của hai giai đoạn kháng chiến của dân tộc

Trang 18

“BTCV” vƠ “chiếu vật” trong luận văn về c bản lĩnh hội, trích dẫn từ các công trình nghiên

cứu của nhiều tác giả để đảm bảo tính khách quan của vấn đề lý thuyết được trình bày trong

luận văn

1.1.1 Sự chiếu vật

Về thuật ngữ chiếu vật, từ trước đến ngay, theo nhiều nhà nghiên cứu thì có nhiều cách định nghĩa khác nhau.Thuật ngữ nƠy được dịch từ tiếng Anh “reference”,

tiếng Pháp lƠ “référence”, ngoƠi ra còn được gọi là sự sở chỉ, tạo nên ngữ cảnh của

nó được gọi là chiếu vật

Các nhƠ ngôn ngữ học như : Đỗ Hữu Chơu, Cao Xuơn Hạo, Nguyễn Thiện Giáp đều có sự thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm reference với tư cách lƠ vấn đề

của ngữ dụng học Luận văn của chúng tôi sử dụng thuật ngữ sự chiếu vật (reference)

chiếu vật (CV) (referent) lƠ các danh từ, còn quy chiếu (to refer) với tư cách động

từ Theo quan điểm ngữ dụng học, chiếu vật lƠ quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ

vƠ biểu thức ngôn ngữ được sử dụng với đối tượng/ thực thể (entity) (vật chất hoặc tinh thần, có thật hay tưởng tượng hoặc hư cấu, số ít hay một tập hợp…) trong một thế giới khả hữu (possible world) mƠ ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại

Cụ thể theo G.Yule, “Sự quy chiếu là một hành động trong đó một người nói, hay

người viết sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho một người nghe hay người đọc có

thể nhận diện được cái gì đó”[47, tr.43]

Theo Đỗ Hữu Châu: “Chiếu vật chính là quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với

các bộ phận tạo nên ngữ cảnh được gọi là sự chiếu vật… Chiếu vật là hiện tượng ngữ

dụng học đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng

giao tiếp” [8, tr.186-187]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp có cách nhìn nhận khác: “Quy chiếu là một hành

động trong đó người nói hoặc người viết dùng các hình thức ngôn ngữ cho phép

Trang 19

người nghe, người đọc nhận diện cái gì đó Những hình thức ngôn ngữ ấy là những

biểu thức quy chiếu” (referring expression) [18, tr.28]

Qua cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi rút ra nhận xét chung: các công trình khoa học của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên đều có sự thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm

„reference‟ với tư cách lƠ vấn đề của ngữ dụng học vƠ được coi là hiện tượng ngữ dụng

học đầu tiên vì để có căn cứ cho việc xác định nghĩa của đ n vị ngôn ngữ đang

thực hiện chức năng giao tiếp người ta nhờ vào chiếu vật bởi vì nhờ có chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh Chiếu vật không phải lúc nƠo cũng duy nhất, nó có mối quan hệ mật thiết với ngữ cảnh, có nghĩa lƠ dựa vào ngữ cảnh thì sự vật quy chiếu sẽ khác nhau, sẽ thay đổi

Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phư ng tiện nhờ đó người nói phát ra một

biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức ngôn ngữ nƠy, người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh

ta định nói đến” [3,61] Như vậy, chiếu vật là một “hƠnh vi” - hành vi chiếu vật Các phư ng tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật được gọi là

“BTCV” Các sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất hay sự việc được quy chiếu tới

gọi lƠ “nghĩa chiếu vật” của BTCV Khi nghĩa chiếu vật là sự vật thì cần phân biệt chiếu vật cá thể, chiếu vật loại (tập hợp) và chiếu vật một số cá thể

Bàn về thuật ngữ chiếu vật, tác giả Đỗ Thị Kim Liên có nêu ví dụ để giải thích

chứng minh:

Ví dụ: Mèo là một khái niệm để chỉ loƠi nói chung, được định nghĩa trong từ điển

giải thích nhưng khi ta nói “Con mèo này rất đẹp”là phải ứng với một con mèo cụ thể,

qua lời một nhân vật cụ thể mà theo nhận thức của người Việt thì nó phải đẹp thật [48, tr.52]

Như vậy, trên c sở tiếp thu những quan niệm khác nhau về sự chiếu vật, chúng

tôi đưa ra khái niệm về sự quy chiếu (hay chiếu vật): đó là sự tương ứng giữa từ (hoặc

giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện

thực được nói tới

"Sự chiếu vật" về hình tượng người lính, chúng tôi hiểu lƠ quan hệ giữa biểu thức ngôn ngữ được các tác giả sử dụng trong các tác phẩm th với đối tượng/thực thể cụ thể xuất hiện trong ngữ cảnh cụ thể mƠ ở đó biểu thức ngôn ngữ được sử dụng để chỉ

ra Các biểu thức ngôn ngữ nƠy được các nhƠ th sử dụng để quy chiếu tới thực thể cụ thể nƠo đó tồn tại trong một thế giới khả hữu vƠ đã được đưa vƠo ngữ cảnh giao tiếp

Trang 20

1.1.2 BTCV

1.1.2.1 BTCV là gì ?

Khi biểu thức ngôn ngữ được phát ngôn sử dụng để chỉ ra một thực thể nƠo đó trong ngữ cảnh cụ thể của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì biểu thức đó lƠ biểu thức ngôn ngữ chiếu vật, hay gọi cách ngắn gọn nhất lƠ các BTCV (BTCV) (referring expression)

Trong luận văn nƠy, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “BTCV” để chỉ tất cả các phư ng tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu

khảo sát, bao gồm cả những BTCV có cấu tạo lƠ từ (chẳng hạn: súng, võng, dốc…) vƠ tổ hợp từ (chẳng hạn: vườn hoa lá, xe không kính, bếp Hoàng Cầm …)

Theo cuốn Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt và cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng

của tác giả Đỗ Hữu Châu thì kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, cơu) được dùng để chiếu vật

được gọi là BTCV Chúng tôi đồng tình với quan niệm cho rằng “Cũng như các tín

hiệu ngôn ngữ, BTCV có cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt của BTCV là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay CV tương ứng.” [8, tr.187] Theo như các nhƠ nghiên cứu đều có chung quan điểm nếu như

một đ n vị ngôn ngữ có cả hai mặt là cái biểu đạt (vỏ âm thanh của tín hiệu ngôn ngữ)

vƠ cái được biểu đạt (lƠ ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ); thì ngược lại cái biểu đạt của BTCV là toàn bộ sự kết hợp của các đ n vị cấu thành nên nó cả trên phư ng diện vỏ

âm thanh vƠ ý nghĩa, còn cái được biểu đạt của BTCV chính là sự vật được quy chiếu hay chiếu vật của nó

Trong cuốn Nghĩa học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp có nêu: “Xét về mặt tín hiệu

học, trước hết, từ hình thức là cái biểu đạt của ý nghĩa của từ (cái được biểu đạt); thứ

hai, từ hình thức cùng với ý nghĩa của nó lại là cái biểu đạt của cái sở chỉ; thứ ba,

trong những phát ngôn cụ thể, toàn bộ “từ hình thức-ý nghĩa-sở chỉ” còn có thể đóng

vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác Như vậy, ý nghĩa (sense) và sở chỉ

(referent)chỉ là cái được biểu đạt (signified)” [18,tr.48]

Như vậy, trong luận văn nƠy, các BTCV có trong ngôn ngữ th về hình tượng người lính sẽ được luận văn này miêu tả trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt (hình

thức cấu tạo và quan hệ kết hợp cả về ý nghĩa và cú pháp); bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV) Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “BTCV” để chỉ tất cả các phư ng tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của

ngữ liệu khảo sát, bao gồm cả những BTCV có cấu tạo là từ (chẳng hạn: trăng, súng,

Trang 21

gió,…) vƠ tổ hợp từ (chẳng hạn: rừng núi, ngọn súng, ngọn gió, quê hư ng, Trường

S n.…).; bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV)

Theo lý thuyết ngữ dụng học, không chỉ các sự vật, hiện tượng mới được quy chiếu bằng ngôn ngữ và trở thành CV của BTCV Ngoài sự vật còn có hƠnh động, tính

chất, trạng thái, quá trình, sự kiện…cũng có thể được sử dụng để quy chiếu đến trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể BTCV không chỉ cấu tạo dưới dạng danh từ, đại từ hay ngữ danh từ mƠ còn có các động từ/ngữ động từ, tính từ/ngữ tính từ, các cấu trúc mệnh đề (cụm C-V) Trong phạm vi của luận văn nƠy, khi tiến hành khảo sát và miêu tả các BTCV về hình tượng người lính trong th kháng chiến, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc

khảo sát các BTCV có cấu tạo là một trong 3 kiểu: danh từ, ngữ danh từ và quan hệ kết

hợp

Với cách hiểu về BTCV như đã trình bƠy trên, chúng tôi đã vận dụng khái niệm này vào việc xác định đối tượng khảo sát của luận văn lƠ các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th kháng chiến giai đoạn (1945-1975)

1.1.2.2 Tiêu chí xác định BTCV trong luận văn

- Tiêu chí thứ nhất-tiêu chí cấu trúc: Xét đến tính hoàn chỉnh, độc lập tư ng đối

của nó về mặt cấu tạo: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ Nếu là một cụm từ, việc xác lập đường biên của BTCV sẽ kết thúc ở chỗ có thể làm cho phần biểu thức ngôn

ngữ được xét đủ tư cách lƠ một ngữ danh từ hoặc một tổ hợp từ có kết cấu sóng đôi

- Tiêu chí thứ hai-tiêu chí chức năng: Một biểu thức ngôn ngữ có kết cấu hoàn

chỉnh sẽ được luận văn coi lƠ BTCV khi biểu thức ngôn ngữ đó chỉ ra được một đối tượng, một thực thể cụ thể nƠo đó, trong thế giới khả hữu-hệ quy chiếu của

Hai tiêu chí về cấu trúc và chức năng lƠ không thể tách rời nhau khi xác định BTCV trong các cơu th được khảo sát Một BTCV cần thiết phải đáp ứng được cả hai tiêu chí thì mới nằm trong phạm vi đối tượng khảo sát của luận văn

Như chúng ta đã biết, các BTCV trong một diễn ngôn có quan hệ với ngữ cảnh, đặc biệt là với các đối ngôn (người nói, người nghe) trong một cuộc giao tiếp; Các sự

vật thuộc hoàn cảnh giao tiếp hoặc thuộc thoại trường; Không gian, thời gian của cuộc giao tiếp và của các sự vật được chiếu vật trong diễn ngôn Vì thế, khi khảo sát một BTCV, ngoƠi căn cứ vào hai tiêu chí cụ thể như trên, chúng ta cũng cần xem xét mối quan hệ với ngữ cảnh để hiểu đúng vƠ sát về BTCV

Luận văn chỉ xét các BTCV mà trong cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ thực hiện

chức năng chiếu vật trong trường hợp được xét có xuất hiện ít nhất một trong các yếu

tố ngôn ngữ (từ/ thành tố cấu tạo từ) thuộc các nhóm sau đơy:

Trang 22

Các từ hoặc các yếu tố đồng nghĩa từ vựng chỉ về người lính trong các bƠi th ở

hai giai đoạn kháng chiến oanh liệt của dân tộc: người lính, chiến sĩ,…

Các yếu tố ngôn ngữ biểu thị các sự vật liên quan đến khái niệm hình tượng người lính

1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu

Georgia M.Green viết: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ ra cái cách nhờ chúng mƠ người nói phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó

sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nƠo anh ta đang nói đến” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [8, tr.193])

Theo Đỗ Hữu Chơu: “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phư ng tiện, nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngữ vi với biểu thức nƠynghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh

ta định nói đến” [8, tr.61]

Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng, CV là một đối tượng thực thể cụ thể được phư ng tiện ngôn ngữ biểu thị thông qua việc thực hiện chiếu vật của người sử dụng

và phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể vƠ do đó Đỗ Hữu Chơu cho lƠ “vật được chiếu” [8]

Đỗ Hữu Chơu cũng giải thích: trong một phát ngôn thường có một hoặc một số BTCV

Mỗi BTCV được dùng để chỉ một yếu tố nƠo đó nằm trong: Đối ngôn, hoàn cảnh giao

tiếp và thoại trường hợp thành ngữ cảnh của phát ngôn được nói tới trong phát ngôn

đó Chính vì điều này mà tầm quan trọng của chiếu vật được nâng cao xứng đáng với

vị trí được xem lƠ đầu tiên của một ngành khoa học mới Các BTCV được xem như lƠ

những “cái cần cơu” mƠ diễn ngôn thả vào hiện thực đề tài, kết nối diễn ngôn với ngữ

Trang 23

cảnh Nếu không có các BTCV thì diễn ngôn sẽ trở thành mông lung, không biết dựa vƠo đơu để miêu tả hay để bày tỏ thái độ về nó [8, tr.187]

Trong cuốn Giáo trình Ngữ dụng học của Đỗ Thị Kim Liên, tác giả có phân tích

1 ví dụ trong bƠi th Nước non ngàn dặm của Tố Hữu:

Con thuy n rời bến sang Hiên Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung

Chập chùng Thác Lửa, Thác Chông, Thác Dài, Thác Khó, Thác Ông, Thác Bà Thác, bao nhiêu thác cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

Tác giả đã chỉ ra rằng, khi nói đến “con thuyền” người ta nghĩ đến con thuyền gỗ, thuyền nan, thuyền sắt…với màu sắc khác nhau nhưng khi nói “con thuyền” trong đoạn th trên, người nghe liên tưởng đơy không phải là con thuyền bình thường như bao con thuyền khác, nhờ vào ngữ cảnh, vƠo đặc trưng văn bản và mục đích của người nói thì con thuyền được nhắc đến đó lƠ con thuyền của Cách mạng, của Đảng đang

“chèo chống” đưa dơn tộc ta vượt qua bao thác ghềnh, giành thắng lợi vẻ vang

Có thể thấy, từ ngữ không tự thân mình chiếu vật mà chỉ có con người mới thực

hiện hành vi chiếu vật Bằng hành vi chiếu vật đưa sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn bằng các từ ngữ, bằng câu Quan hệ chiếu vật là kết quả của các hành vi chiếu vật Như vậy, chiếu vật là một hành vi ngôn ngữ Trong giao tiếp, nhờ có chiếu vật mƠ người nói vận dụng sự chiếu vật để truyền đạt đến cho người nghe định chiếu vật vƠ đồng thời người nghe phải có thao tác suy ý để nhận ra được sự vật - nghĩa chiếu vật mƠ người nói muốn nói để từ đó hiểu vƠ tìm ra được nghĩa chiếu vật đúng nhất giúp cuộc hội thoại đi đến thành công

Ta có thể nhận thấy được tầm quan trọng của chiếu vật trong phát ngôn cũng như trong tác phẩm văn chư ng Không xác định được nghĩa chiếu vật

của BTCV trong phát ngôn thì không hiểu được nghĩa, được đích của phát ngôn, tức

lời đáp của mình không thoả mãn được đích chủ ngôn trong phát ngôn nghe được Ngoài ra, có thể nói nếu tính nhiều nghĩa lƠ đặc trưng của tác phẩm văn học thì nhiều nghĩa chiếu vật lƠ phư ng tiện đầu tiên của đặc trưng đó

Trong phạm vi ngữ liệu khảo sát của luận văn, các thực thể có tư cách lƠm CV của các BTCV về hình tượng người lính, tùy từng ngữ cảnh cụ thể, có thể lƠ chính các

sự vật thiên nhiên như mặt trăng, ngọn gió, núi rừng, trên con đường hƠnh quơn… cụ thể hoặc có thể lƠ các sự vật, hiện tượng "phi thiên nhiên" như : nhơn vật cụ thể, hình

Trang 24

dáng, điệu bộ, nét mặt, lời nói, tình cảm, cảm xúc, thơn phận… của nhơn vật người

lính cụ thể…

1.1.3.2 Nghĩa – ý nghĩa – chiếu vật

Nghĩa hay ngữ nghĩa (theo nghĩa rộng: nghĩa của ngôn ngữ nói chung– meaning)

ý nghĩa của từ (sense) đều có liên quan tới CV bằng ngôn ngữ

Xét về mặt tín hiệu học thì, thứ nhất từ ngữ ơm lƠ cái biểu hiện của nghĩa của từ (cái được biểu hiện); thứ hai, từ ngữ ơm cùng với nghĩa của mình lại lƠ cái biểu hiện của cái sở chỉ; thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, toƠn bộ tam giác ngữ nghĩa còn có thể

đóng vai trò lƠ một tín hiệu của một sự vật khác Như vậy, nghĩa (sense) và sở chỉ là cái

được biểu hiện Nhưng ý nghĩa (meaning) không phải lƠ cái được biểu hiện mƠ lƠ mối quan hệ giữa cái biểu hiện vƠ cái được biểu hiện [20, tr 310-311]

ụ (meaning) của từ (cũng như của các đ n vị ngôn ngữ khác) lƠ quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoƠi bản thơn nó Hiểu ý nghĩa của một đ n vị nƠo đó lƠ hiểu đ n vị ấy

có quan hệ với cái gì đó, tức lƠ nó biểu thị cái gì Có thể thấy rõ điều nƠy khi chúng ta quan sát cách người ta nắm ý nghĩa của từ như thế nƠo Đối với người lớn, khi không hiểu ý nghĩa của một từ nƠo đó, người ta tra từ điển ụ nghĩa của từ chưa biết được phát hiện thông qua lời giải thích trong từ điển

Thực chất của việc giải nghĩa trong các từ điển (từ điển giải thích cũng như từ điển đối chiếu) lƠ tìm đ n vị ngôn ngữ tư ng đư ng về nghĩa với từ cần giải thích Khi trẻ con nắm ngôn ngữ lần đầu tiên thì phải liên hệ ơm thanh của từ với sự vật Trẻ con nắm nghĩa của từ mèo nhờ nghe được phức thể ngữ ơm [mèo] trong những tình huống phát ngôn cụ thể có sự hiện diện của con mèo Dần dần, trong nhận thức của trẻ, ơm [mèo] có quan hệ với con mèo – từ con mèo cụ thể của nhƠ mình đến cả loƠi mèo nói chung Nắm được mối liên hệ ấy tức lƠ nắm được ý nghĩa của từ mèo Nghĩa (sense) của từ lƠ một hiện tượng tơm lí, có thể diễn đạt bằng siêu ngôn ngữ, ngay từ đầu trẻ con chưa có được Cần phơn biệt ý nghĩa của từ với sự hiểu biết về ý nghĩa đó Trong nhận thức của con người không xuất hiện vƠ tồn tại bản thơn ý nghĩa của các từ vƠ các đ n vị ngôn ngữ khác, mƠ trong nhận thức chỉ có sự hiểu biết về các ý nghĩa của chúng mƠ thôi Khi nghe một cơu nói bằng thứ tiếng mƠ ta chưa biết, ta trực tiếp lĩnh hội mặt ơm thanh của nó, rồi

cố tìm trong nhận thức xem ơm thanh đó có ý nghĩa gì (nhưng không thƠnh công) Hiện tượng nƠy dễ gơy ấn tượng lƠ ý nghĩa của đ n vị ngôn ngữ tồn tại trong nhận thức của chúng ta Sự thật không phải như vậy ụ nghĩa của từ cũng như của các đ n vị ngôn ngữ khác tồn tại thực sự khách quan trong lời nói, còn trong nhận thức chỉ có sự phản ánh những ý nghĩa đó mƠ thôi Không nên lẫn lộn ý nghĩa của từ với nhận thức (sự hiểu biết)

Trang 25

của chúng ta về cái ý nghĩa đó Nếu chúng ta không hiểu một cơu nói bằng tiếng nước ngoƠi có quan hệ với cái gì thì những người biết thứ tiếng ấy vẫn hiểu cơu nói đó có quan hệ với cái gì trong thực tế

Cũng theo Nghĩa học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp có dẫn chứng về cách định

nghĩa về ý nghĩa của nhƠ ngôn ngữ Nga A.I.Smimitsky lƠ định nghĩa được nhiều người

chấp nhận, theo đó, “Ý nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật, hiện tượng

hay quan hệ trong ý thức nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ

và so với ý nghĩa thì ngữ âm của từ hiện ra như vỏ vật chất cần thiết không phải chỉ để biểu thị và trao đổi nghĩa đó với những người khác mà còn cần thiết cho sự nảy sinh, hình thành, tồn tại và phát triển của ý nghĩa” [tr.47]

Định nghĩa trên vừa phản ánh được khái niệm vƠ sở thị lƠ c sở của nghĩa của từ, vừa khẳng định nghĩa của từ lƠ một hiện tượng ngôn ngữ, bị quy định bởi hệ thống ngôn ngữ

Như vậy, ý nghĩa (meaning) không phải lƠ cái được biểu đạt (signified) mƠ lƠ mối quan hệ giữa cái biểu đạt vƠ cái được biểu đạt Cần phơn biệt rõ rƠng ý nghĩa của từ với sởchỉ (referent) của nó ụ nghĩa của từ lƠ một hiện tượng tơm lý, có tính chất trừu tượng, chủ quan, trong khi sở chỉ lƠ sự vật khách quan vƠ cụ thể của thế giới bên ngoƠi ngôn ngữ Trong giao tiếp, sở chỉ lƠ mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng từ ngữ, bởi vì trong giao tiếp, người ta sử dụng từ ngữ để thông báo những sự tình của thế giới bên ngoƠi chứ không phải lƠ bƠn về ngôn ngữ ụ nghĩa vƠ sở chỉ thuộc hai bình diện khác nhau: ý nghĩa thuộc nghĩa học, còn sở chỉ thuộc dụng học

Với cách hiểu về chiếu vật như trên, luận văn chúng tôi đã vận dụng khái nhiệm

CV vƠo việc xác định vƠ thống kê các CV cụ thể của các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th kháng chiến (1945-1975) Chúng tôi cũng đặt các CV của các BTCV nƠy trong mối tư ng quan với ý nghĩa từ vựng của các từ, ngữ đóng vai trò lƠm các thƠnh tố cấu tạo nên các BTCV Cái sở biểu vƠ cái sở chỉ của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau Cái sở biểu chính lƠ sự phản ảnh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác nhau vì nó có quan hệ với một lớp đối tượng trong thực tế Ngược lại một cái sở chỉ có thể thuộc vƠo những cái

sở biểu khác nhau, bởi vì cùng một sự vật, tùy theo đặc trưng của mình có thể tham gia

vƠo một số lớp hạng khác nhau, bắt chéo lẫn nhau [18, tr.48]

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi tiến hƠnh khảo sát vƠ miêu tả tất cả các sự vật được quy chiếu cụ thể trong những ngữ cảnh cụ thể của các biểu thức ngôn ngữ có chung “cái sở biểu” ấy

Trang 26

1.1.3.3 Hệ quy chiếu

Hệ quy chiếu (HQC) là một khái niệm công cụ quan trọng mà chúng tôi lấy làm

c sở lý thuyết cho việc triển khai đề tài Để chiếu vật có hiệu quả, người nhận phải

hiểu được thế giới bên ngoƠi được đưa vƠo diễn ngôn Người nhận cần phải xác định

rõ diễn ngôn nói về thế giới thực hay thế giới ảo, thế giới tự nhiên hay thế giới nhân

tạo và các mảng thế giới nhỏ h n nữa: thế giới nghệ thuật, thế giới nhận thức…[50, tr 501]

Sự vật có thể tồn tại trong những thế giới rất khác nhau, có những thế giới hiện

hữu, có thật vƠ cũng có những “thế giới có thể có” (thường được gọi lƠ “thế giới khả hữu”) mƠ trong đó sự vật có thể tồn tại theo một cách khác Cùng một lúc, có nhiều thế giới khả hữu khác nhau đồng thời tồn tại: thế giới thực hữu, thế giới tưởng tượng, hư cấu trong thần thoại, cổ tích hay truyền thuyết vƠ các tác phẩm văn học; thế giới tơm linh, siêu nhiên với sự tồn tại của các hồn ma, bóng quỷ… Tuy nhiên, khi thực hiện quy chiếu bằng các BTCV trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, chỉ một thế giới khả hữu mƠ

ở đó sự vật – CV tồn tại mới được người nói lựa chọn lƠm “HQC” cho BTCV của mình

vƠ đưa vƠo trong ngữ cảnh thông qua phát ngôn

Từ nhận định trên, tác giả cũng đưa ra ví dụ: Mẹ bạn Nam vừa mua cho bạn ấy

con mèo xanh rất đẹp Theo tác giả, chỉ có thể xác định nghĩa chiếu vật của cụm từ con

mèo màu xanh, khi người nhận xuất phát từ hiểu thế giới đồ vật nhân tạo mà không

phải từ thế giới tự nhiên

Từ cách hiểu như trên, chúng ta thấy rằng mảng thế giới bên ngoƠi được sử dụng lƠm c sở cho việc xác định nghĩa chiếu vật của từ ngữ được gọi là hệ quy chiếu Như

vậy, các từ ngữ thực hiện chức năng chiếu vật của mình thông qua một hệ quy chiếu

nhất định

Có thể nói, hệ quy chiếu lƠ một khái niệm công cụ quan trọng mƠ chúng tôi lấy lƠm c sở lý thuyết cho việc triển khai đề tƠi Nói đến hệ quy chiếu lƠ nói đến sự tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thế giới Sự tồn tại trong một thế giới chính lƠ điều kiện để một sự vật có thể được quy chiếu bởi một BTCV cụ thể trong một ngữ cảnh

giao tiếp cụ thể vƠ trở thƠnh CV của BTCV đó “Sự quy chiếu nhất thiết mang theo nó

các tiền đề về sự tồn tại phát sinh từ những kinh nghiệm trực tiếp của ta về các đối tượng trong thế giới vật chất Có thể nói khái niệm “tồn tại vật chất” là cơ sở để định nghĩa mối quan hệ ngữ nghĩa của quy chiếu Sự tồn tại là tiền đề của quy chiếu”[17,

tr.26-27]

Còn theo John Lyons “Sự khác biệt cốt yếu giữa quy chiếu và sở thị là: sở thị của

Trang 27

một biểu thức thì bất biến và độc lập với phát ngôn, nó là một phần nghĩa mà biếu

thức có được trong hệ thống ngôn ngữ, độc lập với cách sử dụng nó trong những tình

huống phát ngôn cụ thể Trái lại, quy chiếu thì biến đổi và phụ thuộc vào phát ngôn”

(Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [20, tr 49])

Việc phơn loại vƠ miêu tả CV của các BTCV trong luận văn nƠy cũng dựa vƠo việc xác định đúng thế giới khả hữu – HQC mƠ ở đó các sự vật được quy chiếu tồn tại Theo

đó, hình ảnh người lính được khắc họa rõ nét trong chiến đấu, lúc hƠnh quơn, lúc trở về với quê hư ng… có thể được phơn chia thƠnh các bộ phận – HQC khác nhau như sau:

thiên nhiên, con người, thực vật, động vật, ẩm thực, đồ dùng gia đình…

Trong hoạt động giao tiếp, có khi một biểu thức ngôn ngữ có thể được sử dụng để quy chiếu tới nhiều sự vật, đối tượng khác nhau trong những thế giới khả hữu khác nhau

vƠ các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau Có khi tại một phát ngôn cụ thể, với một ngữ cảnh

cụ thể thì chỉ có một sự vật tồn tại trong một HQC của biểu thức đó được quy chiếu đến Chính vì vậy, sau khi nhận diện CV cụ thể của BTCV, để phơn loại vƠ miêu tả các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th ca kháng chiến, chúng tôi xác định HQC mƠ vật được quy chiếu tồn tại vƠ được người sử dụng biểu thức đó hướng đến Xét ví dụ sau đơy:

M ặt tr i của bắp thì nằm trên đồi

M ặt tr i của mẹ con nằm trên lưng

Hai cơu th vừa sử dụng phép so sánh, vừa sử dụng phép ẩn dụ, mặt trời của bắp

ấy là mặt trời của vũ trụ đem ánh sáng vƠ sự sống cho muôn loài, soi sáng khắp nhân gian Còn ánh sáng, nguồn sống của cuộc đời mẹ là em bé nằm trên lưng đang ngủ ngon lành Nhờ con ngủ yên trên lưng mƠ người mẹ mới có thể quên đi những mệt

mỏi, mới có đủ nghị lực để chịu đựng với nắng cháy mưa nguồn, với bao vất vả và

hiểm nguy Con lƠ động lực, là khao khát sống, là niềm tin hi vọng của mẹ vƠo tư ng lai tư i sáng Cơu th lƠ niềm xúc động dạt dào về tình mẹ – tình cảm thiêng liêng nhất

với mỗi người

1.1.3.4 Chiếu vật trong tác phẩm văn chương

Một trong những thế giới khả hữu không có thực chính là thế giới khả hữu tồn tại trong các sản phẩm hư cấu – thế giới hư cấu Thế giới khả hữu của các nhân vật hư cấu chính là tác phẩm hư cấu mà ở đó nhơn vật xuất hiện, hƠnh động, nói năng… Trong thế

giới khả hữu đó, nhơn vật tồn tại thực sự vƠ khi được quy chiếu bằng ngôn ngữ thì nó chính lƠ “vật được chiếu” của BTCV được sử dụng Chiếu vật về các thực thể hư cấu cũng có nhiều loại: có chiếu vật của tác giả trong tác phẩm; chiếu vật của người đọc

Trang 28

trong các diễn ngôn về tác phẩm; chiếu vật của chính nhân vật trong tác phẩm… Khi đó, ngoài chủ thể thực hiện quy chiếu là tác giả, còn có chủ thể thực hiện quy chiếu là nhân

Từ lí thuyết, các nhà ngôn ngữ học dần dần vận dụng các khái niệm sự chiếu vật,

BTCV, quy chiếu vào thực tiễn ngôn ngữ th ca Việc ứng dụng lí thuyết chiếu vật vào

thi ca để giải mã những điều mà lí luận văn học chưa lƠm được là một sự lựa chọn tất

yếu Tuy nhiên, chiếu vật trong các tác phẩm văn chư ng đa dạng và phức tạp h n rất nhiều so với chiếu vật những diễn ngôn giao tiếp thông thường

Nếu như chiếu vật trong những diễn ngôn giao tiếp chỉ dừng lại ở các tiêu chí cấu trúc, chức năng vƠ liên hệ thì chiếu vật trong các tác phẩm văn chư ng đòi hỏi hệ quy chiếu rộng vƠ sơu h n rất nhiều Để giải mã được toàn bộ hệ quy chiếu xuất hiện trong các tác phẩm văn chư ng, nhƠ nghiên cứu ngôn ngữ học không chỉ thấy được sự tư ng ứng giữa từ (hoặc giữa các đ n vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính

chất trong hiện thực được nói tới mà còn đòi hỏi phải có một vốn hiểu biết sâu về lịch

sử, văn hóa thời đại ra đời tác phẩm (ngữ cảnh rộng); cuộc đời, sự nghiệp của tác giả (ngữ cảnh hẹp), ngữ cảnh trực tiếp,… để có được những tiền giả định chính xác, lập thành một hệ quy chiếu phù hợp vƠ đưa ra những ý nghĩa xác đáng nhất

Có thể nói, chiếu vật trong tác phẩm văn chư ng không còn lƠ việc làm mới, đã

có khá nhiều đề tài nghiên cứu như: chiếu vật trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân, chiếu vật trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng hay chiếu vật trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du,… nhưng ở mỗi đề tài, lí thuyết lại được soi rọi và thẩm thấu ở nhiều phư ng diện khác nhau luận văn nƠy, chúng tôi chọn đối tượng và phạm vi để khảo sát là BTCV người lính trong th của các nhƠ th sáng tác trong giai đoạn kháng chiến (1945-1975) để làm sáng tỏ h n chiếu vật trong các tác phẩm văn chư ng

Lý thuy t ho t động giao ti p

1.2

Sự chiếu vật thể hiện quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ, người tiếp nhận ngôn ngữ vƠ đối tượng trong thực tại khách quan mà ngôn ngữ biểu thị, chỉ nảy sinh

Trang 29

trong hoạt động tư ng tác bằng ngôn ngữ của con người Do vậy, hoạt động giao tiếp

bằng ngôn ngữ cùng toàn bộ các nhân tố tham gia vào hoạt động đó chính lƠ “không gian sống”, “là cái nôi” mƠ ở đó chiếu vật tồn tại Trong luận văn nƠy, việc tìm hiểu

những nhân tố cụ thể của hoạt động giao tiếp (người tạo lập, người tiếp nhận, ngữ cảnh

cụ thể, diễn ngôn…) cũng chính lƠ tìm hiểu những yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ liên quan đến việc sử dụng và tiếp nhận các BTCV về người lính trong th ca kháng chiến

1.2.1 Các nhân tố của ho t động giao tiếp

1.2.1.1 Ngữ cảnh (situational context; context of situation)

Thông thường, ngữ cảnh được hiểu lƠ “bối cảnh ngoƠi ngôn ngữ của một phát ngôn hay lƠ những thông tin ngoƠi ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [13; 97] Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: đối ngôn vƠ hiện thực ngoƠi diễn ngôn G.Yule dùng thuật ngữ ngữ cảnh (context) lƠ một loại môi trường phi ngôn ngữ trong đó ngôn ngữ được sử dụng [47]

Nguyễn Thiện Giáp đưa ra nhận xét: “Muốn biết một câu nói ra phản ảnh sự

tình như thế nào, có đúng hay không, phải biết sở chỉ của các thành tố của nó Muốn xác định sở chỉ của các thành tố cũng như sở chỉ của câu phải đặt câu vào tình huống khi phát ra nó Vì thế, khái niệm ngữ cảnh đặc biệt quan trọng trong ngữ dụng học Ngữ dụng học nghiên cứu những đặc trưng ngữ cảnh đã quyết định hoặc ảnh hưởng đến việc giải thích phát ngôn như thế nào” [20, tr 368- 369]

Tác giả cũng đưa ra một vƠi ví dụ để phơn tích, chứng minh:

a Các hành tinh quay xung quanh các ngôi sao

b Nước sôi ở nhiệt độ 100 độ C

c Trời mưa

d Tôi khát nước

Cơu a hầu như không lệ thuộc vƠo tình huống phát ngôn Nó có giá trị vƠ được xem như 1 chơn lý vĩnh cửu, đư ng nhiên Cơu b có giá trị chơn lý ở hầu như mọi n i trong phạm vi trái đất của chúng ta Cơu c phụ thuộc vƠo thời gian vƠ n i phát ngôn Cơu d phụ thuộc vƠo sở chỉ của tôi vƠ thời gian phát ngôn

Theo Đỗ Hữu Chơu: “Bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những

thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [8, tr.97]

Các nhƠ ngôn ngữ học phơn biệt hai loại ngữ cảnh: ngữ cảnh tình huống (context of situation) vƠ ngữ cảnh văn hóa (context of culture) Ngữ cảnh tình huống

lƠ ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một văn bản, của một trường hợp cụ

Trang 30

thể của ngôn ngữ Ngữ cảnh tình huống lƠ thế giới xã hội vƠ tơm lý trong đó, ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của người nói vƠ người nghe, sự hiểu biết về vị trí, thời gian, sự hiểu biết về phép

xã giao trong xã hội vƠ sự hiểu biết về mã ngôn ngữ dùng (nói hoặc viết), sự hiểu biết

về nội dung giao tiếp vƠ bối cảnh giao tiếp Ngữ cảnh tình huống bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói vƠ người nghe về tất cả các quy ước, niềm tin vƠ các tiền đề được coi lƠ đư ng nhiên của các thƠnh viên trong cộng đồng của người nói vƠ người nghe Ngữ cảnh tình huống lƠ ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một văn bản, của một trường hợp cụ thể của ngôn ngữ Ngữ cảnh tình huống lƠ thế giới xã hội

và tâm lý trong đó, ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Ngữ cảnh văn hóa lƠ ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách lƠ một hệ thống Nó bao gồm hƠng loạt nhơn tố văn hóa như phong tục, tập quán, các chuẩn mực, quan niệm, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị vƠ kinh tế [18, tr.24, 25]

Ngữ cảnh văn hóa lƠ ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách lƠ một hệ thống Nó bao gồm hƠng loạt nhơn tố văn hóa như phong tục, tập quán, các chuẩn mực, quan niệm, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên vƠ xã hội, về chính trị vƠ kinh tế [18, tr.24-25]

Ngữ cảnh là một khái niệ m quan trọng trong ngữ dụng học, “là một nhân t ố

trong việc xác định nộ i dung mệnh đề cho hi ện dạng của những phát ngôn thành

phẩm cụ thể, trong những tình huống phát ngôn khác nhau ” [ 41, tr 277] Nói cách

khác, ngữ cảnh được hiểu là bối cảnh ngôn ngữ làm c sở cho việc sử dụng từ ngữ

và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để hiểu thấu đáo lời nói Tuy là nhân t ố có

mặt trong cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Chẳng hạn, khi phân tích một phát ngôn rấ t cần thông tin ngữ cảnh để giải thuyết các từ chỉ xuất như bây gi ờ, ai, tôi, anh, này, kia… Để giải thuyết các thành t ố này ít nhất cần phải biết ai là người nói, người nghe và không gian, thờ i gian tạo ra phát ngôn Hay, nếu không có tri

thức về văn hoá, phong tục của người Việt thì không thể hiểu được câu ca dao:

Cô kia tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Có nghĩa là chàng trai đang tỏ tình với cô gái nông thôn Yếu tố ngữ cảnh giúp người nghe giải mã chính xác hàm ý câu nói là , lời tỏ tình vang lên trong đêm trăng thanh, gió mát, trong khun g cảnh lao đ ộng nên th ở chốn thôn quê Như vậy, tu ỳ vào ngữ cảnh mà câu nói được hiểu theo nghĩa nào, hiệu quả tác động đến người nghe ra sao, đồng thời ngữ cảnh sẽ quy định giải mã câu nói

Trang 31

T eo Bùi Min Toán, tron cuốn “Ngôn ng v i văn ch ng”, tác iả c o rằn :“Ng c nh giao ti p đó lƠ bối c nh diễn ra ho t động giao ti p vƠ luôn luôn

chi phối ho t động giao ti p, chi phối nội dung, hình th c c a văn b n, chi phối

cách th c giao ti p”[51, tr 68]

1.2.1.2 Ngôn ngữ (language):

Thông thường, ngôn ngữ được hiểu lƠ tiếng nói của con người, dùng để biểu hiện nội dung ý nghĩ, tình cảm, tơm tư, vƠ trao đổi nội dung đó với người khác Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nƠo đó lƠm phư ng tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò lƠ nhơn tố giao tiếp cũng chính lƠ nói tới ngôn ngữ cụ thể mƠ các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của họ “Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nƠo đó lƠm phư ng tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò lƠ nhơn tố giao tiếp cũng chính lƠ nói tới ngôn ngữ cụ thể mƠ các đối ngôn) Những nhơn

tố biến thể vƠ nhơn tố loại thể nhất định để lại những dấu vết đối với diễn ngôn về hình thức, về nội dung, chi phối diễn ngôn cả về phía sản sinh vƠ phía tiếp nhận” [8, tr.122]

Các nhơn tố về ngữ cảnh vƠ ngôn ngữ kể trên cần thiết được các đối ngôn lĩnh hội, hiểu biết về chúng vƠ có ý thức đưa chúng vƠo hoạt động giao tiếp Như vậy, xét cho cùng, nhơn tố con người (mƠ ở đơy cụ thể lƠ các đối ngôn) vẫn giữ vai trò trung tơm, quyết định đối với các nhơn tố còn lại

1.2.1.3 Diễn ngôn (discourse):

“Diễn ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn và

cụ thể hóa thành phần của diễn ngôn” [8, tr 198]

Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học, tác giả định nghĩa khái niệm diễn ngôn như sau: “Diễn ngôn là bất cứ một ngôn phẩm nào nói hoặc viết nào

Mỗi diễn ngôn có thể được một người nói hoặc người viết riêng biệt tạo ra, cũng có thể được hai hoặc hơn hai người tham gia hội thoại hoặc trao đổi viết với nhau tạo ra” [tr

Trang 32

1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật trong tác phẩm văn c ươn

Ngữ dụng học lƠ một ngƠnh khoa học mới mẻ nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ

vƠ các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh Trong đó nhơn tố giao tiếp lƠ một trong những khái niệm nền tảng Nó không chỉ được những chuyên gia về ngữ dụng học quan tơm mƠ còn thu hút các nhƠ ngôn ngữ học tìm hiểu nghiên cứu

Đỗ Hữu Chơu có công trình nghiên cứu chuyên sơu về nhơn tố giao tiếp trong

“Đại cương ngôn ngữ học” Đơy lƠ một công trình nghiên cứu khá đầy đủ, sơu sắc vƠ

toƠn diện về nhơn tố giao tiếp Theo ông nhơn tố giao tiếp gồm ngữ cảnh, ngôn ngữ vƠ diễn ngôn Các nhơn tố nƠy luôn có mặt trong cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp

đó vƠ chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như nội dung

1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và bạn đọc)

Hoạt động văn chư ng lƠ hoạt động giao tiếp vì nó có tất cả các yêu cầu và nhân

tố của một hoạt động giao tiếp ngôn ngữ thông thường, như: tác giả (người phát), tác

phẩm (văn bản, diễn ngôn, thông điệp), độc giả (người nhận) và bao gồm hai quá trình: sáng tác (phát tin) và tiếp nhận (nhận tin)

Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường, tác giả (người phát) thường là một cá nhân Trong giao tiếp văn chư ng, quá trình tiếp nhận vƠ độc giả đóng vai trò quan

trọng Độc giả không phải đóng vai trò thụ động mƠ đóng vai trò tích cực, không chỉ tham gia trong việc lĩnh hội tác phẩm sau khi nhƠ văn hoƠn thƠnh nó mƠ chi phối ngay

từ khi tác phẩm được thai nghén và ở trong quá trình sáng tác Giống như trong giao

tiếp ngôn ngữ thông thường, các nhân vật giao tiếp luôn luôn chi phối vƠ tư ng tác, người nói không phải muốn nói gì thì nói, người nói muốn cho lời nó của mình đạt được mục đích vƠ hiệu quả giao tiếp thì luôn luôn cần quan tơm đến người nghe, luôn luôn cần có những hiểu biết về người nghe, luôn luôn tìm tòi và thấu hiểu người nghe Khi sáng tác văn chư ng, tác giả cũng không phải muốn viết gì thì viết, muốn viết như

thế nƠo cũng được, mà còn phải viết theo nhu cầu, mong muốn cũng như cách nhìn

của độc giả

Xét về mối quan hệ giữa tác giả vƠ độc giả, giữa quá trình sáng tác và quá trình

tiếp nhận vƠ độc giả góp phần sự sống của tác phẩm Khi nào có sự tiếp nhận của độc

giả thì khi đó có tác phẩm mới thực sự có cuộc sống của nó và chừng nƠo còn người đọc thì chừng đó tác phẩm còn tiếp tục sự sống

1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp

Như vậy có thể thấy, vấn đề trung tơm mƠ ngữ dụng học quan tơm lƠ hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người xét trong tư ng quan với ngữ cảnh Hoạt động

Trang 33

giao tiếp đó chịu sự chi phối, tác động của những nhơn tố nhất định mƠ Đỗ Hữu Chơu gọi lƠ nhơn tố giao tiếp Chính vì vậy mƠ khi xem xét một phát ngôn ta cần trả lời

những cơu hỏi như: ai nói, nói với ai, nói trong hoàn cảnh nào, nói về cái gì và nói

nhằm mục đích gì Giải quyết được những cơu hỏi đó lƠ ta đã hiểu được ý nghĩa của

phát ngôn Hay khi giao tiếp với một người nƠo đó thì những cơu hỏi tư ng tự như vậy cũng luôn chi phối chúng ta buộc chúng ta phải lựa chọn cách ứng xử vƠ có hƠnh vi ngôn ngữ cho phù hợp với ngữ cảnh Đơy cũng lƠ một trong những vấn đề chủ yếu mƠ các nhƠ ngữ dụng học quan tơm Có thể thấy điều nƠy trong các công trình nghiên cứu

về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Chơu vƠ Nguyễn Đức Dơn Các tác giả đều xem ngữ cảnh lƠ một trong những khái niệm nền tảng không thể thiếu trong một công trình nghiên cứu về ngữ dụng học

Giao tiếp lƠ một dạng hoạt động quan trọng của con người, lƠ nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người Nó diễn ra thường xuyên ở mọi n i, mọi lúc bởi vì không ai có thể sống cô độc, lẻ loi mƠ không cần giao tiếp, tiếp xúc với người khác

Có thể nói một hoạt động giao tiếp được diễn ra khi có ít nhất hai người gặp nhau

vƠ bƠy tỏ với nhau về một điều gì đấy như niềm vui, nỗi buồn, ý muốn hƠnh động hay một nhận xét nƠo đấy về sự vật xung quanh

Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hƠnh bằng nhiều phư ng tiện khác nhau như: ngôn ngữ, nét mặt, dáng điệu, cử chỉ…trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ lƠ phổ biến vƠ tiện lợi h n cả Không chỉ thế, ngôn ngữ còn lƠ phư ng tiện giao tiếp có hiệu quả nó giúp cho con người bộc lộ vƠ truyền đạt được mọi điều trong khi các phư ng tiện giao tiếp khác có sự hạn chế h n Vậy giao tiếp lƠ gì? Vấn đề nƠy đã được các nhƠ ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau đơy chúng tôi xin chọn định nghĩa sau: Giao tiếp lƠ 1 dạng hoạt động của con người, lƠ quá trình truyền-nhận thông điệp từ một người gửi đến một hay nhiều người nhận trong một môi trường nhất định

Do đó, giao tiếp nói chung, giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng không những lƠ một nhu cầu tất yếu của con người mƠ còn lƠ một điều kiện không thể thiếu cho sự hình thƠnh, tồn tại vƠ phát triển của con người vƠ của xã hội loƠi người, của cộng đồng ngôn ngữ

Trước hết, ngôn ngữ vƠ giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự trưởng thƠnh vƠ phát triển của con người Khi mới sinh ra một đứa bé chỉ cất tiếng khóc chƠo đời, không có sự di truyền ngôn ngữ, chỉ có qua sự tiếp xúc với những người xung quanh, với cộng đồng xã hội mƠ học hỏi, tích lũy dần dần vốn ngôn ngữ cho bản thơn cũng như qua giao tiếp mƠ mỗi cá nhơn tiếp thu vƠ tích lũy dần những

Trang 34

kinh nghiệm sống, những kiến thức về tự nhiên vƠ về xã hội loƠi người Có thể nói, ngôn ngữ vƠ qua giao tiếp bằng ngôn ngữ chúng ta đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội, lƠm cho xã hội cƠng mang tính người nhiều h n Bởi,

đó lƠ một dạng hoạt động của ý thức nhằm góp phần trao đổi, kế thừa, bảo tồn hoặc phát triển các giá trị văn hóa đã được sáng tạo vƠ tích lũy trong lịch sử để qua đó con người có thể thỏa mãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của mình Đó lƠ điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của con người vƠ xã hội trong bất cứ môi trường, hoƠn cảnh nƠo Giao tiếp bằng ngôn ngữ giúp con người trao đổi những nhận thức, tơm tư vƠ tình cảm được tiện lợi vƠ dễ dƠng h n Nhờ đó mƠ con người hiểu nhau h n, xích lại gần nhau

h n NgoƠi ra ngôn ngữ vƠ giao tiếp bằng ngôn ngữ còn đóng vai trò không thể thiếu trong sự hình thƠnh, tồn tại vƠ phát triển của cộng đồng ngôn ngữ vƠ toƠn thể xã hội loƠi người

Tình huống giao tiếp là trạng thái trực tiếp do tác động của các nhân tố giao tiếp trong một cuộc giao tiếp cụ thể mà có

Sự chiếu vật không phải là kết quả hoàn thành của hoạt động giao tiếp mà là sự

phối hợp của các quá trình đan xen đồng thời trong giao tiếp: quá trình tạo lập và quá trình tiếp nhận sự chiếu vật Sự phối kết hợp của hai quá trình này sẽ tạo nên diễn tiến

và quyết định thành công của cuộc giao tiếp giữa các nhân vật giao tiếp Như vậy, nếu xét về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ thì sự chiếu vật là một trong những c sở đầu tiên và quan trọng nhất để con người có thể tiến hành giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói cách khác, hoạt động giao tiếp được tiến hƠnh trước tiên là dựa trên việc thực hiện liên

tiếp, luơn phiên các hƠnh động quy chiếu và giải quy chiếu của các nhân vật giao tiếp

Nó cho thấy vai trò của sự chiếu vật trong sự tư ng tác xã hội giữ người với người Trong quá trình tư ng tác ấy, con người sẽ tự bộc lộ mình qua cách mà anh ta thực

hiện sự chiếu vật

Mối quan hệ giữa các nhân tố giao tiếp và sự chiếu vơt như trên chính lƠ một trong những c sở lý luận cho việc triển khai đề tài của luận văn nƠy.Tất cả các nhân tố nƠy đều được vận dụng trong việc nhận diện các BTCV và CV của chúng trong luận văn

1.2.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật

Văn chư ng lƠ loại hình nghệ thuật dùng ngôn ngữ làm chất liệu Là nghệ thuật ngôn từ hay ta có thể nói cách khác ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chư ng: không có ngôn ngữ không có nghệ thuật văn chư ng Từ xa xưa, ông cha ta

đã dùng ngôn ngữ làm chất liệu cho nghệ thuật văn chư ng, kể cả khi chưa có chữ

Trang 35

viết; tạo nên một nền văn chư ng dơn gian phong phú với nhiều thể loại: th ca, truyện

kể, thần thoại, sử thi, tục ngữ, ca dao…

Sử dụng ngôn ngữ để sáng tạo nghệ thuật văn chư ng, tác giả (và cả độc giả)

thực hiện hoạt động nhận thức, tư duy Có điều hoạt động nhận thức tư duy trong nghệ thuật có đặc tính riêng, mang tính nghệ thuật nên thường được gọi lƠ tư duy hình tượng để phân biệt với tư duy bằng ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày hay trong lĩnh

những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh chiến tranh, văn học chín năm kháng chiến chống Pháp đã khẳng định sự tồn tại và phát triển v ới tầm vóc xứng đáng

Th ca là thể loại phát triển thành cao trào mạnh h n cả với nhiều thành tựu nổi bật Truyền thống yêu th của dân tộc và đặc điể m lịch sử cụ th ể của chín năm kháng chiến đã quyết đ ịnh thực tế ấy Th ca tiếp tục gắn bó v ới đời sống buồ n vui, lúc hạnh phúc cũng như khi gian lao, v ất vả c ủa con người Việt Nam Nhà phê bình Hoài Thanh đã có nhận xét xác đáng: Hầu h ết những người mang ba lô lặng lẽ đi

trên các nẻo đường kháng chiến trong một quy ển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít

bài thơ Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc,

tiếng thơ cùng hòa đi ệ u [46, tr 55]

Có thể nhận thấ y sự khởi sắc của th giai đoạn này, trước hết, qua khảo sát phong trào và lực lượng sáng tác Từ sau Cách mạng tháng Tám, th không còn là

vư ng quốc riêng của các nhà th chuyên nghiệp Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp đồng thời cũng giải phóng cho nhà th , trong cu ộc đời cũng

như trong sáng tạo nghệ thuật Sự gặp gỡ giữa lý tưởng Cách mạng và lý tưởng

thẩm mỹ của dân tộc là điều kiện khách quan cho sự xuất hiện hình mẫu người nghệ sĩ

kiểu mới Có thể nói: không có thế hệ nhà th kiểu mới thì không có th ca Cách

mạng Giờ đơy, anh cán bộ chính trị, anh cán bộ quân sự, anh công an, anh bình dân

học vụ, anh thông tin, anh h ỏa thực, các chị phụ nữ, các em thi ếu nhi, hết thảy đều làm th [46, tr 64]

Trang 36

Không khí quần chúng sôi nổi một mặt tạo điều kiện thử thách vƠ khẳng định các tƠi n ăng trẻ, mặt khác, góp sức cùng cao trƠo cách mạng tác động mạnh mẽ vƠo tơm

tư tình cảm của các nhƠ th lãng mạn, giúp hồn th họ hồi sinh Với kinh nghi ệm vƠ tƠi năng đã được khẳng định, đóng góp của Xuơn Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư,

Tế Hanh, Huy Cận, tuy chưa thật sự lƠ h i thở mãnh liệt của thời đại nhưng vẫn có ý nghĩa sơu sắc : kh i gợi lòng yêu nước, hƠo khí đấu tranh vƠ lòng tự hƠo dơn tộc Việc hầu hết các nhƠ th tiêu biểu của phong trƠo th Mới tìm đến với Cách mạng, tiếp tục phát huy năng lực sáng tạo, luôn có mặt ở vị trí hƠng đầu trận tuyến văn nghệ Cách mạng lƠ một hiện tượng đặc sắc Ðiều đó chứng tỏ tính ưu việt, sức hấp dẫn mạnh mẽ của chế độ mới vƠ đường lối văn nghệ Cách mạng

năm đầu sau Cách mạng, th tập trung thể hiện niề m vui lớn của dân tộc, ca

ngợi Ðảng và Bác Hồ, ca ngợi con người mới, chế độ mới N ổi bật nhất phải kể đến

Tố Hữu với Huế tháng Tám, Vui bất tuy ệt, Hồ Chí Minh ; Xuân Diệu v ới hai

trường ca Ngọ n quốc kỳ và Hội nghị non sông

1.3.2 T ơ iai đo n chống Mỹ:

Văn th trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) được ví như một loại binh chủng đặc biệt có công lớn trong việc thức dậy lòng yêu nước của dân tộc, thúc giục mạnh mẽ lòng quyết tâm bảo vệ Tổ Quốc, dành lại độc lập tự do cho dân tộc, củng cố niềm tin tất thắng

Th ca kháng chiến chống Mỹ mang ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại lớn lao Có

thể nói th ca trong giai đoạn này phát triển mạnh mẽ, để lại nhiều thành tựu nổi bật,

xuất sắc trong tiến trình th ca hiện đại Việt Nam Th chống Mỹ, cứu nước có cốt cách và tầm vóc của một nền th lớn Trước hết, đó lƠ tính quần chúng sâu rộng - một đặc điểm được hình thành dần trong th kháng chiến chống thực dơn Pháp vƠ cho đến

chặng đường nƠy đã thực sự tạo nên một đời sống th ca mang tính cộng đồng rộng

lớn Ðây có lẽ là một hiện tượng đẹp trong đời sống th ca thế kỷ 20 Bên cạnh đội ngũ các nhƠ th thuộc các thế hệ nối tiếp vƠ sát cánh dưới ngọn cờ chống đế quốc Mỹ

là rất nhiều những cây bút trẻ, những người bám trụ trong thực tế chiến đấu và sản

xuất, lấy những xúc cảm thực tế hằng ngày của mình mà viết nên th Th được viết

dọc đường hƠnh quơn, dưới hầm, giữa rừng, trong bom đạn, th cùng những chiến sĩ

"Xẻ dọc Trường S n đi cứu nước" Th như ngọn lửa được thắp lên, như một thứ năng lượng tinh thần chia đều cho mọi người Nhà văn Nga Tkat-sốp đã từng ngạc nhiên về sinh hoạt th ca phong phú của nhân dân ta trong những ngƠy đánh Mỹ:

"Trong các buổi hội họp và những tối liên hoan, người ta nhất thiết phải đọc những bài

Trang 37

th họ lƠm, cho dù đó lƠ những cơu th đ n giản vƠ thô s , nhưng bao giờ cũng biểu lộ

một tính cách đặc biệt cũng như nhơn sinh quan của họ Tôi nhớ những tờ báo tường

mƠ tôi đã thấy ở nhà tập thể của thợ mỏ Cẩm Phả và trụ sở Ban chủ nhiệm Hợp tác xã đánh cá Nghi TƠm, trong hầm tránh đạn của các chiến sĩ ở vĩ tuyến 17 và ở phòng trực sân bay quân sự gần Hà Nội , đơu đơu cũng gồm toàn những th Không, đó đơu

phải là cái trò sính sáng tác rất phổ biến hiện nay mà là sự biểu hiện của một niềm say

mê chân thành và yêu mến th thực sự" Có thể nói, th chống Mỹ đã xơy dựng nên

một hình thái đặc biệt của sáng tạo và tiếp nhận th ca - một dấu ấn đặc thù chưa từng

có trong lịch sử th ca dơn tộc, một hiện tượng có lẽ khó còn có thể lặp lại

Th ca thời kỳ chống Mỹ cứu nước tự hƠo đứng ở tầm cao của lý tưởng nhơn bản

vƠ chủ nghĩa anh hùng, tinh thần dơn tộc vƠ khát vọng hòa bình, hướng tới dơn chủ vƠ công bằng trên trái đất; từ tầm cao đó, cảm hứng trong th dễ có điều kiện xuất thần,

dễ thăng hoa, tạo được sự lay động, chói sáng một khoảnh khắc nhưng lại có giá trị lơu dài NhƠ th vƠ nhơn dơn nhập thƠnh một thể thống nhất - "Tôi cùng xư ng thịt với nhơn dơn của tôi - Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu" (Xuơn Diệu) để trở thƠnh cái ta cộng đồng Ðó lƠ cái Ta - Dơn tộc nói cùng nhơn loại, cái Ta - Thời đại nói với Lịch sử

vƠ Tư ng lai, cái Ta thế hệ tuổi trẻ đánh Mỹ nói cùng đồng đội, suy nghĩ về nhơn dơn,

Tổ quốc Mỗi nhƠ th , mỗi bƠi th đều thể hiện ý thức trách nhiệm với nhơn dơn, chủ động dùng th như một vũ khí tinh thần trong cuộc chiến đấu:

Vóc nhƠ th đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ diệt xe tăng

NgoƠi đồng vƠ hạ trực thăng r i (Chế Lan Viên)

Th cũng trở thƠnh biên niên sử của thời đại vƠ thế hệ:

Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng tôi lƠm th ghi lấy cuộc đời mình (Hữu Thỉnh)

Những tên tuổi lớn từ thời tiền chiến như Xuơn Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Th , cũng như các nhƠ th được tôi luyện trong lò lửa cách mạng như Tố Hữu, Nguyễn Ðình Thi, hoặc xuất hiện trong thời kỳ chống thực dân Pháp như Quang Dũng, HoƠng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Chính

Hữu, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Vũ Cao , tất cả họ cùng tiếp tục sáng tác trên những

ngả đường chiến đấu chống đế quốc Mỹ và có những đóng góp xứng đáng vƠo thƠnh

tựu của cả nền th chống Mỹ Nhưng phải kể đến hiện tượng lý thú và hào hứng bậc

Trang 38

nhất trong th thời kỳ này, là cùng với lớp đƠn anh kể trên, một thế hệ hƠng trăm nhƠ

th trẻ ở độ tuổi chỉ mới 20-35 trong những năm 60 của thế kỷ 20, đã xuất hiện liên

tục vƠ đồng đều, tạo thành một lứa th mạnh mẽ vƠ đông đảo, dần khẳng định được vị trí và giá trị của mình giữa hai cột mốc 1964 - 1975, khi họ dám dấn thân sống và trải

hết mình vào cuộc chiến đấu vì Tổ quốc, có ý thức trách nhiệm cao nhất, trước hết với

tư cách công dơn, còn tư cách nhƠ th thì họ khiêm tốn gắn liền cùng tư cách người chiến sĩ Đội ngũ sáng tác th ở vùng giải phóng và các chiến trường miền Nam đã đông đảo và vững mạnh lên nhiều Giang Nam, Thanh Hải vẫn bám trụ ở những chiến trường quen thuộc của họ; Ca Lê Hiến từ miền Bắc trở về chiến trường Nam Bộ với bút danh Lê Anh Xuân; từ các đô thị xuất hiện những tiếng th đấu tranh, thức tỉnh

của thế hệ trẻ trong vùng kiểm soát của kẻ thù như Trần Quang Long, Hoàng Phủ

Ngọc Tường, Trần VƠng Sao…; trong đội ngũ đông đảo hàng vạn thanh niên cầm súng đi vƠo các chiến trường tham gia cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, đã nảy nở nhiều tƠi năng th như lƠ một nhu cầu tự ý thức và tự biểu hiện của thế hệ trẻ

Ti u k t

1.4

Để tiến hƠnh các bước triển khai đề tài: Khảo sát các BTCV về n ười lính trong

ngôn ngữ t ơ k án c iến, luận văn đã dựa trên hai lý thuyết ngôn ngữ học được coi

là quan trọng nhất đối với đề tài là : Lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Các khái niệm c bản của lý thuyết chiếu vật và khung lý thuyết để giải quyết tất cả nhiệm vụ của đề tài, chỉ ra cách tiếp cận của một số tác giả khác về các khái niệm: sự chiếu vật, CV, HQC, BTCV

Lý thuyết hoạt động giao tiếp cung cấp cho chúng tôi những khái niệm nền tảng để

có cái nhìn bao quát nhất về việc sử dụng ngôn ngữ và các nhân tố liên quan để giao tiếp

diễn ra hiệu quả nhất Chúng tôi đã lấy việc xác định các nhân tố của hoạt động giao tiếp

cụ thể giữa hai giai đoạn kháng chiến vƠ người tiếp nhận làm một trong các căn cứ quan

trọng để tiến hành nhận diện các BTCV về hình tượng người lính trong ngôn ngữ th ca kháng chiến

Trang 39

CH NG 2

CÁC BTCV V NG I LÍNH TRONG NGÔN NG TH KHÁNG CHI N

NHÌN T BÌNH DI N CÁI BI U Đ T

Như đã trình bƠy cách hiểu về BTCV với tư cách lƠ các tín hiệu ngôn ngữ có hai

mặt cái biểu đạt vƠ cái được biểu đạt, chư ng 2 của luận văn sẽ miêu tả các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th kháng chiến trên bình diện thứ nhất - bình diện cái biểu đạt Trên c sở đó, chúng tôi sẽ trình bày kết quả khảo sát và miêu tả các BTCV về người lính trong ngôn ngữ th ca kháng chiến trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp cũng như trong th ca giai đoạn chống Mỹ cứu nước ở hai phư ng diện c bản: cấu

tạo và quan hệ kết hợp trên trục ngữ đoạn của chúng Trong chư ng nƠy, chúng tôi còn trình này số liệu thống kê, phân loại cùng những miêu tả cụ thể trong từng ngôn ngữ

th của hai tác giả vƠ so sánh tìm điểm tư ng đồng, điểm khác biệt của các BTCV về người lính trong th ca kháng chiến chống Pháp và th ca kháng chiến chống Mỹ Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng một số vấn đề về lý thuyết ngữ pháp học (như vấn đề

cấu tạo từ, cấu tạo cụm từ, cấu tạo câu, quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa giữa các đ n vị ngôn ngữ ) để phân tích và làm sáng tỏ h n nội dung cần giải quyết trong chư ng 2

C u t o các BTCV v ng i lính trong ngôn ng th kháng chi n theo

2.1

h ệ chi u v t

2.1.1 Các BTCV về n ười lính t uộc ệ c iếu vật t ế iới tự n i n

Khảo sát dữ liệu các bƠi th trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ cứu nước, chúng tôi không tìm thấy các BTCV về người lính được quy chiếu từ

thế giới tự nhiên Từ bình diện cái biểu đạt lƠ động vật, thực vật hay hiện tượng thiên nhiên có thể nói các tác giả hầu như không dùng để so sánh, miêu tả, quy chiếu về người lính Thế giới tự nhiên xuất hiện trong th kháng chiến rất nhiều, gắn bó với đời

sống thường nhật, trong lao động, trong chiến đấu, khi hƠnh quơn hay đời sống tình

cảm của người lính n i chiến trường và hậu phư ng ở quê nhà:

Thư anh tin ngƠy về Cho vầng trăng hẹn mọc Trong ngần hoa cau th m Mây chớm màu tha thiết

BƠi th của Lê Thị Mây – “Những mùa trăng mong chờ” đã dùng phép ẩn dụ

vầng trăng để nói lên những cung bậc cảm xúc, tâm trạng của người vợ chờ chồng

Trang 40

Hình ảnh vầng trăng chạm đúng vào hiện thực hoàn cảnh và tâm trạng Bởi nó đã trở

thành vấn đề phổ quát và mang tính quy luật, khi đất nước vƠ con người phải đối mặt

với thử thách dữ dội của chiến tranh

Với những người phụ nữ có chồng ra mặt trận, thì thử thách lớn nhất, lặng thầm

nhất mà dữ dội và khắc khoải nhất vẫn là không gian của nỗi cô đ n, vẫn là thời gian

của niềm mong chờ ngóng đợi Sức sống của dân tộc trong chiến tranh giữ nước đã cho những người vợ xa chồng sức khỏe về tinh thần Một chút xót đau trước mất mát,

chấn động của chiến cuộc nhưng không hề bi lụy Bởi họ đã có cách nhìn chủ động vào những năm tháng thử thách:

Trăng non nghiêng qua rồi Bom rung vầng trăng khuyết

Xô thuyền trong xa xôi

Giữa gập ghềnh núi biếc Nhưng khi:

Anh khoác ba lô về Đất trời dồn chật lại

Em tái nhợt niềm vui Như trăng mọc ban ngày

……

Gặp nhau tròn mùa trăng

Em trẻ như bầu trời Vòng tay anh đằm thắm

Giấu lời ru trên môi

Th ca Việt Nam những năm tháng của cuộc chiến tranh Vệ Quốc chống thực dơn Pháp, vƠ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khắc họa thƠnh công hình ảnh những

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w