1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn ngữ văn vào thiết kế bài giảng phân môn văn học trung học phổ thông

97 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do và mục đích trên, với hy vọng có những định hướng hữu ích giúp GV và HS đạt các CKT, KN đã được xây dựng trong chương trình chuẩn Ngữ Văn THPT, chúng tôi mạnh dạn chọn đ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

phân môn Văn học trung học phổ thông

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn

trực tiếp của thầy giáo, GVC.Th.S Nguyễn Đăng Châu

Tôi xin cam đoan: Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi Những gì được triển khai trong khóa luận không trùng khớp với bất cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Đà Nẵng, ngày 08 tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Phạm Thị Hồng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian cố gắng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt

nghiệp với đề tài: Vận dụng sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn

kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn vào thiết kế bài giảng phân

môn Văn học trung học phổ thông Để hoàn thành đề tài này,

tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm, Khoa Ngữ Văn, Tổ Phương pháp giảng dạy cùng các quý thầy cô giáo

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cả về mặt vật chất và tinh thần để tôi có động lực hoàn thành khóa luận trong thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất

đến thầy giáo, GVC.Th.S Nguyễn Đăng Châu, người đã trực

tiếp hướng dẫn, định hướng và chỉ bảo tận tình cho chúng tôi từ khi nhận đề tài đến khi hoàn thành công việc

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 08 tháng 05 năm 2010

Trang 4

Sinh viên

Phạm Thị Hồng

Danh mục các chữ viết tắt:

STT Kí hiệu viết tắt Nội dung viết tắt

1 CKT, KN Chuẩn kiến thức, kĩ năng

2 CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông

10 SHD Sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn

kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn

12 TKBG Thiết kế bài giảng

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc GV xây dựng kế hoạch bài giảng là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của tiết dạy trên lớp Những bài giảng có khi là một thiết kế chu đáo, cẩn thận theo kinh nghiệm chuyên môn, cũng có khi là những ý tưởng độc đáo, sáng tạo xuất phát từ mục tiêu của từng bài học

Vì vậy, TKBG là kế hoạch của GV cho từng tiết, từng bài lên lớp, chú trọng đến các định hướng tích hợp và tích cực hóa hoạt động học tập của HS Ở đó thể hiện một cách khoa học nhưng vẫn có sự phong phú, hấp dẫn trong nhiều hình thức

tổ chức giảng dạy của GV Cũng như vậy, GV cần thiết kế nội dung bài học sao cho phù hợp với mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp và những điều kiện dạy học trong mỗi bài giảng Nhưng điều quan trọng nhất là việc đảm bảo những yêu cầu tối thiếu về kiến thức cũng như kĩ năng trong mỗi bài học

Đặc biệt, kết quả học tập môn Ngữ văn luôn có mặt trong hành trang vào đời của mỗi HS Ở đó, các em được trau dồi, hoàn thiện nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc cũng như cách hành xử đạo đức đối với mọi người xung quanh Nhưng một thực tế đáng báo động hiện nay là phần lớn HS đang dần quay lưng lại, đang không tích cực trong việc học tập các bộ môn xã hội, đặc biệt là phân môn Văn học Thực tiễn cho thấy, đội ngũ các nhà giáo đã và đang cố gắng nỗ lực trên con đường tìm kiếm sự hứng thú mới mẻ, sáng tạo trong TKBG cũng như trong phương pháp lên lớp phân môn Văn học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Trên thực tế, việc GV sử dụng SGK, SGV, SHD và các tài liệu tham khảo chuyên ngành

áp dụng với từng đối tượng học, từng lớp học theo CTGDPT là không dễ dàng

Trang 6

Để kĩ năng TKBG đạt được hiệu quả thì việc GV vận dụng SHD thực hiện CKT, KN vào TKBG trở thành điều kiện tiên quyết Đây được coi là điểm mới của CTGDPT trong những năm gần đây Qua TKBG, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo có công cụ thể hiện một cách hiểu đúng và làm đúng theo CKT, KN của nội dung dạy học như qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bên cạnh những thuận lợi trong việc đổi mới PPDH thì hiện nay việc vận dụng SHD còn nhiều bất cập trong việc TKBG của GV Không những vậy, ngay trong nội dung biên soạn SHD còn tồn tại những hạn chế về mặt trình bày hình thức, đánh giá kiến thức trọng tâm có nhiều sai lệch Điều này dẫn tới sự hoang mang trong việc tiếp nhận kiến thức từ phía HS, gây tình trạng không đồng bộ giữa kiến thức SGK, SGV, SHD và các tài liệu tham khảo khác

Một thực tế nữa là tại các trường THPT hiện nay đã bước đầu vận dụng được SHD trong giảng dạy, học tập, kiểm tra và đánh giá; song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông

Thiết nghĩ, để khắc phục những khó khăn trên thì cần phải quan tâm, chú trọng sửa đổi hơn nữa từ ban quản lý giáo dục, các nhà chuyên môn và không thể thiếu là sự góp ý tích cực từ đội ngũ các nhà giáo giảng dạy tại các cơ sở Điều này

có ý nghĩa góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục dạy học phân môn Văn học trong môn Ngữ văn trong chương trình THPT và hoàn thiện bộ máy Giáo dục nước nhà

Từ những lý do và mục đích trên, với hy vọng có những định hướng hữu ích giúp GV và HS đạt các CKT, KN đã được xây dựng trong chương trình chuẩn Ngữ

Văn THPT, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vận dụng sách Hướng dẫn thực

hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn vào thiết kế bài giảng phân môn

Văn học trung học phổ thông”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong thời gian hạn hẹp cũng như những điều kiện khó khăn khác, chúng tôi chưa tìm được công trình nghiên cứu cụ thể nào liên quan trực tiếp đến đề tài Đó chỉ là những cuộc hội thảo, những ý kiến về vấn đề phương pháp dạy học Văn và Văn học hoặc là vấn đề hướng dẫn dạy và học Ngữ văn theo CKT, KN trong CTGDPT Cụ thể là:

Trang 7

Việc chúng tôi chọn đề tài này xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương PPDH

đã được quy định tại Luật giáo dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ngày 14 tháng 6 năm 2005 ở Khoản 2 Điều 5: “Phương pháp giáo dục phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Cũng theo đó,

ngày 05/ 05/ 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kí Quyết định số 16/ 2006/ QĐ- BGD&ĐT về việc ban hành CTGDPT

Ngay trong Lời giới thiệu của SHD, nhóm biên soạn cũng đã nhấn mạnh:

“Trong chương trình giáo dục phổ thông, Chuẩn kiến thức, kĩ năng được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học, theo từng lớp học; đồng thời cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học” [8, tr.3]

Tác giả Phan Trọng Luận trong cuốn Dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng

môn Ngữ Văn lớp 12 đã khẳng định: “Điểm mới của CTGDPT lần này là đưa CKT,

KN vào thành phần của CTGDPT, đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo CKT, KN tạo nên sự thống nhất trong cả nước CKT, KN thể hiện, cụ thể hó a ở các chủ đề của chương trình môn học, theo từng lớp học; đồng thời cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình cấp học” [26, tr.5] Song, cùng trang sách, tác giả

cũng đã nêu: “Ở các trường phổ thông hiện nay, bước đầu đã vận dụng được CKT,

KN trong giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá; song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông, cần phải được tiếp tục quan tâm, chú trọng hơn nữa” [Lo.cit ]

Nối tiếp quan điểm đó, khi hướng về việc học tập của HS theo Chuẩn thì Lê

Anh Xuân trong cuốn Hướng dẫn học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng Ngữ Văn lớp

11 đã có lời nói đầu: “Trong thực tế, khi không nắm vững CKT, KN, HS sẽ hoặc là

không đáp ứng được yêu cầu của các kì kiểm tra, đánh giá; hoặc luôn xác định là KT,

KN mà mình có chưa đủ để đáp ứng các yêu cầu KT, ĐG, dẫn đến việc tăng áp lực học hành” [33, tr.3] Việc sử dụng SHD sẽ “góp phần khắc phục tình trạng quá tải của chương trình ở tất cả các bậc học, lớp học”

Với đề tài này, chúng tôi xin có hướng đi mới cho việc hình thành kĩ năng TKBG phân môn Văn học trong môn Ngữ Văn THPT Những mong sẽ tìm hiểu được thực trạng vận dụng SHD vào TKBG của GV hiện nay Từ đó, xin đưa ra

Trang 8

những kiến nghị cụ thể giúp cho công việc TKBG của GV được đảm bảo theo CKT,

KN cũng như góp phần rèn luyện kỹ năng hình thành tư duy, thái độ tích cực của

HS trong việc học tập

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến

thức, kĩ năng môn Ngữ Văn vào thiết kế bài giảng phân môn Văn học trong

CTGDPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Văn học trong sách Ngữ Văn chương

trình lớp 10, lớp 11, lớp 12 (chương trình mỗi lớp gồm tập I và tập II)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp so sánh: Với phương pháp nghiên cứu này, chúng tôi tiến

hành so sánh CKT, KN giữa nguồn ngữ liệu SGK với việc TKBG qua các tài liệu tham khảo của GV như: SGV, sách TKBG, SHD ( lớp 10, lớp 11 và lớp 12)

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trong quá trình so sánh nội dung

KT, KN, hình thức trình bày khoa học giữa các tài liệu nêu trên, chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp theo những tiêu chí đạt chuẩn, vượt chuẩn, nâng cao chuẩn và

có sự đồng bộ hay có sai lệch giữa các chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng đào tạo theo CTGDPT

4.3 Phương pháp tiếp cận thực tiễn: Từ thực tiễn học tập, kiến tập, thực

tập trong môi trường giáo dục phổ thông, thời gian qua, chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến chuyên gia để thấy được thực trạng vận dụng SHD vào phân môn Văn học trong CTGDPT Từ đây, có cơ sở xây dựng một vài kiến nghị đối với yêu cầu thực hiện TKBG theo chuẩn, đồng thời có những đề xuất, những ý kiến trong việc điều chỉnh, chỉnh lý SHD ngày một hiệu quả, đạt chuẩn giáo dục

5 Bố cục của khóa luận

Luận văn của chúng tôi với đề tài: “Vận dụng sách Hướng dẫn thực hiện

chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn vào thiết kế bài giảng phân môn Văn học trung học phổ thông”, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và phần Tài liệu tham khảo

thì bố cục bài luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề luận chung

Trang 9

Chương II: Vận dụng SHD để TKBG phân môn Văn học theo yêu cầu CKT,

KN

Chương III: Một vài kiến nghị trên thực tế vận dụng SHD nhằm TKBG

phân môn Văn học

NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1.Giới thiệu chung về Chuẩn kiến thức kĩ năng

1.1.1.Quan niệm về Chuẩn

Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu của chủ thể quản lý hoạt động, công việc, sản phẩm đó

Chuẩn phải có tính khách quan, không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn Chuẩn phải có hiệu lực ổn định về cả phạm vi và thời gian áp dụng Chuẩn phải đảm bảo tính khả thi, điều này có nghĩa Chuẩn có thể đạt được, có sự dung hoà, hợp lý giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn so với những thực tiễn đang diễn ra Chuẩn phải đảm bảo tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng, không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực và các lĩnh vực khác liên quan

Chuẩn có tác động ở nhiều mức độ, từ cấp trường tới các cấp cao hơn, với nhiều thành phần như HS, GV, các cấp quản lý, phụ huynh HS Điều này có thể được diễn đạt như sau:

Đối với người học: Chuẩn đặt các mong đợi cụ thể cho người học, giúp người học hiểu những gì cần làm để đạt được chuẩn

Đối với người giảng dạy: Chuẩn giúp cho giáo viên TKBG, tổ chức việc học tập, kiểm tra và đánh giá tập trung vào các chuẩn cần đạt Khi giáo viên làm được điều này, việc học tập và giảng dạy sẽ có định hướng hơn so với trước

Trang 10

Đối với các cấp quản lý: Chuẩn cung cấp cho các cấp quản lý công cụ để giám sát, quản lý, chỉ đạo việc dạy và học có hiệu quả hơn, tập trung được nguồn lực vào những yêu cầu trọng tâm Đảm bảo được việc dạy và học thống nhất trên toàn quốc

Theo PGS.TS Vũ Nho, Viện khoa học giáo dục Viêt Nam đã thống kê CKT,

KN có ba loại, hay có thể coi là ba mức độ có liên quan từ thấp đến cao Cụ thể như sau:

“Chuẩn tối thiểu: Thể hiện điều cần thiết và cơ bản mà mọi HS tại một trình

độ nhất định phải biết và nắm vững được

Chuẩn thông dụng: Thể hiện mức chuẩn mà một độ tuổi và trường học nhất định có thể nắm được Chuẩn này thể hiện mức trung bình mà HS có thể thực hiện nhiều hơn hoặc ít hơn

Chuẩn tối đa: Thể hiện trong những khả năng có thể đạt được về lý thuyết Chuẩn này ít được định hướng trong kết quả của HS và được định hướng nhiều hơn

ở ý nghĩa học thuật Chuẩn này thích hợp cho việc phân loại kết quả của HS nhưng không thích hợp cho việc giảng dạy cụ thể” [37]

1.1.2.Những yêu cầu cơ bản của chuẩn

Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết, tường minh Chuẩn, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện Yêu cầu được xem như những “chốt kiểm soát” để đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra cũng như quá trình thực hiện

Chuẩn bao gồm những yêu cầu cơ bản như:

- Chuẩn phải có tính khách quan, nhìn chung không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn

- Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng

- Đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là Chuẩn đó có thể đạt được

- Đảm bảo tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng

- Đảm bảo không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan

1.1.3.Những vấn đề về Chuẩn kiến thức, kĩ năng

Trang 11

CKT, KN là quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về yêu cầu KT, KN tối

thiểu cho từng môn học của CTGDPT CKT, KN là những yêu cầu cơ bản, tối thiểu

về KT, KN của môn học hay hoạt động giáo dục mà HS cần phải có và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập Chuẩn được xác định với các chủ đề và mức độ cần đạt làm căn cứ để xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học phối hợp với đặc trưng môn học

Các mức độ về KT, KN được thể hiện cụ thể trong CKT, KN của CTGDPT:

Về kiến thức: Yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản

trong chương trình, SGK, đó là nền tảng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn

Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài

tập, làm thực hành, thực hiện các hoạt động giao tiếp

CKT, KN chỉ là yêu cầu tối thiểu đối với mỗi HS Còn muốn đạt kết quả tối

đa, HS phải ôn tập để đạt được những yêu cầu cao hơn

1.1.3.1 Đặc điểm của Chuẩn kiến thức, kĩ năng

- CKT, KN được chi tiết hoá, tường minh hoá bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về KT, KN, có thể được minh chứng bằng các ví dụ thể hiện được cả nội dung

KT, KN và mức độ cần đạt về KT, KN tương ứng

- CKT, KN có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi HS cần phải và có thể đạt được những yêu cầu cụ thể này

- CKT, KN là thành phần của CTGDPT

Trong CTGDPT, CKT, KN và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hoá ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập Đồng thời, CKT, KN và yêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học

CKT, KN là thành phần của CTGDPT nên việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo CKT, KN sẽ tạo nên sự thống nhất; hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với CKT, KN; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá và thi theo CKT, KN

1.1.3.2 Các mức độ nhận thức trong Chuẩn kiến thức, kĩ năng

Trang 12

a Nhận biết: HS nhận ra, nhớ lại các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, định lý,

tính chất, hệ quả đã học Đây là cấp độ nhận thức thấp nhất, chỉ yêu cầu HS nhận ra, nhớ lại kiến thức đã biết Cấp độ này thường được thể hiện thông qua những hành

động, thao tác HS phải thực hiện trong những tình huống cụ thể: nhận dạng, liệt

kê, kí hiệu, nhớ lại,

b Thông hiểu: HS mô tả, giải thích được khái niệm, tính chất đã học; nhận ra

khái niệm, tính chất đó ở các dạng thể hiện khác với dạng đã học; sử dụng khái niệm, tính chất đã học trong tình huống quen thuộc Đây là cấp độ cao hơn và bao

hàm cấp độ Nhận biết Cấp độ này thường được thể hiện thông qua những hành động, thao tác HS phải thực hiện trong những tình huống cụ thể: chuyển đổi; minh

hoạ, phân biệt, so sánh, sắp xếp, giải thích; tóm tắt, thực hiện…

c Vận dụng: HS sử dụng các khái niệm, tính chất đã học để giải quyết được

vấn đề trong tình huống mới, đòi hỏi sáng tạo Đây là cấp độ cao hơn và bao hàm

cấp độ Thông hiểu Cấp độ này thường được thể hiện thông qua những hành động, thao tác HS phải thực hiện trong những tình huống cụ thể: Vận dụng các quy tắc;

biện luận; chứng minh; giải thích…

d Phân tích: Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông

tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ

phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng: Luận điểm, luận cứ, dẫn chứng

e Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định,

xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp

f Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác,

bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới

Tuy nhiên, trong CTGDPT, chủ yếu đề cập đến 3 mức độ đầu Các mức độ còn lại chú trọng phát huy năng khiếu, sở trường, năng lực sáng tạo của HS

Trang 13

- Thực hiện sáng tạo Tuy nhiên, trong CTGDPT, chủ yếu đề cập đến 2 mức độ đầu; mức độ còn lại chú trọng phát huy năng khiếu, sở trường, năng lực sáng tạo của HS

1.1.3.4 Vai trò của Chuẩn kiến thức, kĩ năng

c Xác định mục tiêu mỗi giờ học, mục tiêu của quá trình dạy học

d Xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá đối với từng bài kiểm tra, bài thi; đánh giá kết quả giáo dục từng môn học, cấp học

1.1.4.Đánh giá chất lượng giáo dục dựa trên Chuẩn kiến thức, kĩ năng

Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật Giáo dục Mục tiêu giáo dục thể hiện ở những đòi hỏi của xã hội với con người mà môi trường có nhiệm vụ phải đào tạo Chất lượng giáo dục không chỉ gắn bó chặt chẽ với mục tiêu mà còn có một hệ thống yếu tố trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên nó

“Cần xem xét chất lượng giáo dục trong mối quan hệ của 3 thành tố :

- Đặc điểm của người học (động cơ, thái độ, trình độ, mức độ nhận thức, các khó khăn )

- Các đầu vào cần thiết và quá trình vận hành (thời gian, nguồn lực, điều hành quản lý )

- Các kết quả đạt được (KT, KN, thái độ)

Điều này có ý nghĩa về mặt phương pháp luận đối với hoạt động đánh giá, đặc biệt liên quan tới nội sung và cách thức đánh giá’’ [13, tr.162]

Đánh giá là một thành tố quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đánh giá thường ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục

Trang 14

Đánh giá chất lượng là hoạt động đánh giá các đối tượng của giáo dục (gọi tắt là đối tượng) về mức độ đáp ứng các Quy định về chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đối với từng đối tượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Đánh giá chất lượng giáo dục nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục

trong từng giai đoạn của đối tượng được đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục; để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận đối tượng đạt chuẩn chất lượng giáo dục

Đánh giá phải luôn đặt trong mối quan hệ các thành phần cấu trúc của QTDH Có thể minh họa mối quan hệ giữa các yếu tố ấy qua mô hình sau:

Mô hình đánh giá chất lượng giáo dục Căn cứ vào CKT, KN, các cơ quan quản lý giáo dục và các trường xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá đối với từng bài kiểm tra, bài thi, đánh giá kết quả giáo dục từng môn học, lớp học, cấp học, chỉ đạo, quản lý, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dạy học Đặc biệt GV trên lớp là người trực tiếp đánh giá chất lượng giáo dục và coi như đó là một phần của QTDH

Có thể dùng hình thức đánh giá đồng đẳng để nâng cao chất lượng học tập của HS trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo và tự giác của HS Hình thức này được hiểu như là việc bạn bè trong một lớp, một nhóm, một độ tuổi sẽ đánh giá kết quả công việc của nhau Đây được coi là phương pháp dùng để hỗ trợ HS trong QTDH HS sẽ tự đánh giá bằng những tiêu chí được GV hướng dẫn định sẵn

- Tổ chức QTDH và tạo động

Lựa chọn và

sử dụng phương pháp

Đánh giá việc dạy

Kết thúc QTDH

Chất lượng giáo dục

Trang 15

Điều này được tóm tắt như sau:

Loại hình đánh giá Mục đích Hình thức đánh giá

Kiến thức Đánh giá kết quả Kiểm tra

Kĩ năng Đánh giá quá trình Phản hồi cho HS, uốn nắn sai sót,

Tuy nhiên, thực tế những năm qua cho thấy: mặc dù CTGDPT đã có những đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, hướng đến việc phát triển và hoàn thiện năng lực của mỗi cá nhân nhưng vấn đề đánh giá chất lượng còn nhiều điểm bất cập (từ mục đích, phương pháp, quy trình, một số kĩ thuật cụ thể) Cách đánh giá vẫn chưa đảm bảo được tính cảm xúc, khách quan Cán bộ quản lý và

GV chưa được trang bị một cách đầy đủ các phương pháp và kĩ thuật đánh giá

1.2.Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình trung học phổ thông

Trang 16

Ngày 05/05/2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông

Điểm mới của CTGDPT lần này là đưa CKT, KN vào thành phần của CTGDPT, đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo CKT, KN tạo nên

sự thống nhất trong cả nước; góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập; hạn chế dạy thêm, học thêm

Trang 17

1.2.1.Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình môn Văn học

CKT, KN trong chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về

KT, KN của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm)

Trong quá trình học tập, HS cần linh hoạt vận dụng giữa kiến thức và kĩ năng của bài học Tùy vào nội dung bài học, HS có những tri thức mới, phục vụ đắc lực trong việc kiểm tra, đánh giá của ban quản lý chất lượng giáo dục Ngay trong bản thân người HS đã hình thành thị hiểu thẩm mỹ, khả năng cảm thụ văn chương qua từng loại hình văn học

Ở bài văn học sử cung cấp tri thức khoa học về lịch sử văn học cho HS để

HS có kĩ năng khái quát, tổng hợp kiến thức cơ bản của cả một nền văn học, về từng

bộ phận văn học, từng thời kỳ và từng giai đoạn văn học HS có kĩ năng nắm vững bối cảnh lịch sử đã tạo dựng nên các đặc trưng riêng cho từng thể loại (ca dao, dân

ca, thơ, kí, kịch, truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết… ) Có cái nhìn bao quát của

cả một nền văn học, từng bộ phận, từng thời kỳ văn học và từng tác gia văn học với những tác phẩm văn chương điển hình

Ở mỗi thể loại văn học cụ thể, dưới sự hướng dẫn giảng dạy của GV, cùng các PPDH cụ thể, HS dần hình thành kĩ năng tiếp nhận những nội dung, những mục tiêu cần đạt cho từng tiết học GV có thể xây dựng các dạng câu hỏi, các dạng bài tập dưới nhiều hình thức như gợi mở, vấn đáp, đàm thoại, thảo luận để cùng giải quyết vấn đề Việc dạy học tích hợp với những hoạt động dạy học hiệu quả sẽ tạo dựng niềm say mê, hứng thú học tập văn chương từ phía HS

Khi đã nắm rõ mức CKT, KN cần đạt cho nội dung bài học thì HS có khả năng viết bài cảm thụ, phân tích, bình giá trên tinh thần sáng tạo tích cực Xây dựng

cơ sở thực tiễn trong việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả, hạn chế việc HS phụ thuộc vào những bài văn mẫu đang tràn làn trên thị trường hiện này

Cũng cần nói thêm, TKBG môn Văn học theo CKT, KN, GV phải dựa trên

cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ, thái độ của HS ở các mức độ từ đơn giản đến phức tạp; bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức để HS có những sáng tạo, những thị hiểu thẩm mỹ lành mạnh cho bạn đọc- HS Việc tiếp xúc với các tác phẩm văn chương dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV sẽ giúp các em HS không những có

Trang 18

rung cảm với cái đẹp, cái hay trong tác phẩm mà của có khả năng đánh giá đúng đắn giá trị văn chương của nó Hệ thống hình tượng nhân vật được tích lũy qua quá trình học tập cùng với sự hiểu biết về nghệ thuật ngày càng nhiều sẽ nâng cao KT,

KN và thái độ trân trọng cái Thiện, cái Mỹ, cái Chân trong nghệ thuật văn chương và trong cuộc sống

1.2.2.Vai trò của sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn trong chương trình THPT

Dạy và học theo CKT, KN tạo ra sự thống nhất về mục tiêu và kết quả giữa quá trình dạy của GV, quá trình học của HS và quá trình quản lý, thi cử và đánh giá kết quả học tập của HS GV biết được cái đích tối thiểu về KT, KN mà mình cần trang bị cho HS, HS biết được cái đích cuối cùng mình cần học tập và rèn luyện để đạt tới, cơ quan quản lý có căn cứ để ra đề thi, kiểm tra, đánh giá sao cho phù hợp với việc dạy và học

Vì vậy, SHD do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành được coi là kim chỉ nam, định hướng cho các cán bộ quản lý cũng như các nhà giáo dục và GV hướng đến đạt chuẩn chất lượng giáo dục Dù GV có nhiều nguồn tham khảo để TKBG như SGK, SGV, sách TKBG và các sách tài liệu tham khảo chuyên ngành nhưng người giáo dục luôn cần căn cứ vào những định hướng về CKT, KN, thái độ để thiết kế dạy học nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu của giờ học, tránh lệ thuộc hoàn toàn vào SGK hay cố dạy hết toàn bộ nội dung mà SGV nêu ra dẫn đến thiếu thời gian, quá tải, nặng về thuyết trình Do đó, ngoài việc nghiên cứu kĩ chương trình, SGK, SGV và các điều kiện dạy học khác (đặc điểm đối tượng HS, trang thiết bị dạy

học…), trước giờ dạy GV còn phải nghiên cứu tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn

kiến thức- kĩ năng môn Ngữ văn để xác định những phạm vi KT, KN mà HS cần

phải đạt được sau tiết học

Cũng từ mức đạt chuẩn, có thể căn cứ vào khả năng tiếp thu của HS, vào mục tiêu bồi dưỡng HS năng khiếu mà GV có thể điều chỉnh, bổ sung để dạy, kiểm tra vượt chuẩn, nâng cao chuẩn, đáp ứng chương trình đào tạo trong và ngoài nước

Trang 19

1.2.3 Quan hệ giữa sách giáo khoa, sách hướng dẫn và sách giáo viên

CKT, KN và yêu cầu về thái độ của CTGDPT bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi, tính phù hợp của Chương trình đồng thời bảo đảm chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục

Trước hết SHD, SGK và SGV đều là nguồn tài liệu pháp định của BGD&ĐT ban hành, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc Sách được biên soạn đảm bảo chất lượng về nội dung cũng như khoa học trong hình thức trình bày trang sách Là nguồn tài liệu không thay đổi trong từng giai đoạn Tùy vào từng điều kiện thực tế, mà nhóm tác giả biên soạn sách có những điều chỉnh thay đổi cả hình thức lẫn nội dung của sách sao cho phù hợp với thực trạng chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển tư duy, trí tuệ trong nhịp độ đất nước hòa nhập toàn cầu

CTGDPT có tính chất pháp lệnh, là khung chương trình quy định sau khi học chủ đề, nội dung trong chương trình, HS phải đạt mức độ cần đạt được về KT,KN tối thiểu mang tính chất định hướng cả nền giáo dục THPT

* SGK được viết trên cơ sở CTGDPT hiện nay Đây là tài liệu cơ bản, cốt lõi đặc biệt dành cho cả GV và HS Vì vậy, SGK gồm 2 yêu cầu cơ bản sau:

- CKT,KN tối thiểu, là những nội dung cơ bản theo CTGDPT

- Viết thêm những nội dung minh họa, bổ sung nguồn kiến thức làm phong phú thêm những nội dung cơ bản

SGK cụ thể hóa yêu cầu về nội dung KT, KN của CTGDPT, nhưng do SGK là tài liệu cơ bản dùng cho HS học tập cho nên mặc dù đã bám sát chương trình còn cung cấp thêm những nguồn kiến thức khác để cho SGK sinh động, hấp dẫn phù hợp với loại tài liệu học tập và nhận thức của HS

Từ lớp 1 đến lớp 12, hầu hết mỗi lớp chỉ có một bộ sách với một tên sách là SGK Riêng cấp THPT với 8 môn học phân hóa là: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh, thì có 2 loại SGK là: loại biên soạn theo chương trình Chuẩn và loại biên soạn theo chương trình nâng cao

Trên SGK theo chương trình cơ bản được trình bày theo tên là: Bộ Giáo dục và Đào tạo, tác giả (Tổng chủ biên, chủ biên, tác giả) SGK theo chương trình nâng cao có ghi là loại nâng cao, kèm theo tên sách như trên, có tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao được BGD&ĐT ban hành để dùng cho GV giảng dạy và HS học tập

Trang 20

* SHD được biên soạn theo hướng cụ thể hóa CTGDPT, được chi tiết các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về KT, KN của CKT, KN bằng các nội dung chọn lọc trong SGK

SHD là tài liệu bắt buộc, cần phải có để mỗi GV cần bám sát Chuẩn để thực hiện công việc thiết kế giảng dạy cho từng nội dung, cho từng bài, từng đối tượng với những mức độ cần đạt khác nhau

* SGV là do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định và ban hành, là tài liệu tham khảo tham khảo chính của GV trong giảng dạy

Trên SGV có ghi Bộ Giáo dục và Đào tạo, tác giả (Tổng chủ biên, chủ biên, tác giả) SGV theo chương trình nâng cao có ghi là loại nâng cao kèm theo tên sách

Trong những tình huống khác nhau về một chủ đề, một nội dung nào đó giữa SGK và SGV thì người GV phải căn cứ vào SGK để TKBG Điều này có nghĩa, người GV có trách nhiệm cập nhật các nội dung chính theo thông báo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (nếu có)

Như vậy, SGK là khung chương trình giáo dục pháp định, bắt buộc và thống

nhất kiến thức cơ bản trong cả nước SHD là sự cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu đã được nêu trong CTGDPT, là sự khái quát hóa nội dung của các bài học trong SGK, là chuẩn những yêu cầu tối thiểu về KT, KN mà mỗi GV cần truyền đạt cho HS Nhưng ở đó chỉ là chuẩn về mặt kiến thức và nội dung, riêng phương pháp giảng dạy lại không được chú trọng SGV là sự cụ thể hóa về nội dung, được mở rộng về mặt kiến thức, phong phú ở phương pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong mỗi giờ dạy học trên lớp

Trên cơ sở đó, người sử dụng SGV phải căn cứ vào tài liệu SHD để dạy và học các bài trong SGK một cách đúng đắn, đạt yêu cầu tối thiểu đã đề ra Đặc biệt, tùy vào điều kiện giảng dạy ở mỗi vùng, miền, tùy vào đối tượng HS mà GV có hướng TKBG đạt chuẩn, nâng cao chuẩn và vượt chuẩn

Vì bộ môn Ngữ văn là một trong những môn quan trọng thiết yếu để HS các trường THPT ôn thi tốt nghiệp và cao hơn nữa là các em HS có những định hướng trong việc dự thi ở các trường Đại học và Cao đẳng Cho nên, việc vận dụng, sáng tạo có hiệu quả giữa SHD, SGV và SGK là sự tổng hợp nguồn kiến thức đầy đủ trong việc dạy và học Văn học trong nhà trường Để đạt chất lượng trong giáo dục

Trang 21

đào tạo thì đòi hỏi người GV cần có sự kết hợp, song hành cả ba tập tài liệu trên sao cho khoa học và linh hoạt

1.3.Lý thuyết về thiết kế bài giảng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng

1.3.1.Những nguyên tắc định hướng TKBG theo CKT, KN chương trình THPT

CKT, KN là thành phần của CTGDPT Trong CTGDPT, CKT, KN và yêu cầu về thái độ của người học được thể hiện cụ thể hoá ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp; đồng thời, CKT, KN và yêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học

CKT, KN được sử dụng để đáp ứng việc thống nhất công tác chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá; hạn chế tình trạng dạy học quá tải, góp phần hạn chế dạy thêm, học thêm; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức giảng dạy, học tập, thống nhất theo CKT, KN Nên khi TKBG theo CKT, KN, GV cần chú ý một

số nguyên tắc chung như sau:

Một là, GV cần chú trọng đến đối tượng HS, tâm lý của mỗi HS ở từng vùng

miền, từng cơ sở Đây cũng là lý do để GV khi TKBG cần bám sát CKT, KN để có

sự phân hóa trình độ theo từng đối tượng HS Theo đó, QTDH sẽ đạt các yêu cầu về

KT, KN, GV có thể định hướng được thái độ, tâm lý của HS để TKBG hiệu quả

Khi TKBG, cần căn cứ vào SHD và so sánh, đối chiếu với SGK để xác định các kiến thức cơ bản, trọng tâm; các kĩ năng và thái độ cần hình thành ở HS Việc TKBG đòi hòi sự đầu tư tìm tòi, sáng tạo linh hoạt trong việc vận dụng hợp lý các PPDH, nhu cầu, trang thiết bị dạy học ở từng vùng miền để thiết kế các hoạt động dạy học cụ thể Bên cạnh đó cũng cần tránh các khuynh hướng sau:

- Khuynh hướng ôm đồm kiến thức, còn nhiều lệ thuộc vào SGK

- Khuynh hướng đưa thêm nội dung KT, KN vào bài soạn giảng hoặc chú trọng khai thác quá sâu nội dung bài học, gây ra hiện tượng “quá tải” đối với HS Và trường hợp ngược lại, sẽ gây tình trạng “nhẹ tải”, làm giảm nhẹ những yêu cầu

về KT, KN, thái độ trong quá trình giáo dục

Hai là, tích cực sưu tầm, chế tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các phương

tiện, đồ dùng, thiết bị dạy học Đồ dùng dạy học có thể do nhà trường cung cấp nhưng trên thực tế thiết bị dạy học từ phía nhà trường thì gặp nhiều khó khăn Điều này có nghĩa, GV dạy phân môn Văn học cần có sự linh hoạt khi tổ chức các hoạt

Trang 22

động dạy học sao cho giờ học Văn không rập khuôn, nhàm chán và tẻ nhạt, dẫn đến tình trạng HS không còn hứng thú với bộ môn quan trọng này Khó khăn về thiết bị dạy học có thể có trong việc tích cực vận dụng sáng tạo các ứng dụng công nghệ thông tin vào việc TKBG với nhiều hình ảnh, đường nét sinh động, cụ thể hơn theo từng mục tiêu bài học Hoặc theo việc hướng dẫn từ phía GV mà buổi học Văn học tiếp theo có sự sưu tầm, tự làm từ phía GV và sự chuẩn bị sáng tạo từ phía HS Đây là điều kiện thuận lợi để mỗi GV và HS có những hoạt động dạy và học tích cực, hấp dẫn, lôi cuốn, tạo đà nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo

1.3.2.Vận dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng vào thiết kế bài giảng theo phân môn Văn học

Việc vận dụng CKT, KN vào TKBG được đặt trên tinh thần đáp ứng theo Chuẩn Vậy việc vận dung CKT, KN như thế nào để không có tình trạng rập khuôn

mà có sáng tạo, ổn định và nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn?

Một là, khi thiết kế và thực hiện bài giảng, GV cần chú trọng việc hình thành

và rèn luyện các kĩ năng cho HS là điều có ý nghĩa bậc nhất Vì đặc trưng của phân môn Văn học là môn học nghiêng về giáo dục lòng yêu nước, tình yêu dân tộc và đồng bào, giáo dục nhân cách, giáo dục cái hay, cái đẹp thì GV cần yêu cầu nhiều hơn ở việc HS cần phải biết vận dụng những đạo lý, những chuẩn mực đã được học tập, đã được rút kinh nghiệm từ mỗi nội dung bài học trong sách vở vào cuộc sống thực tiễn hàng ngày

Theo đó, việc ra đề thi kiểm tra, đánh giá theo CKT, KN cần theo khuynh hướng “ra đề mở” Đề thi theo định hướng yêu cầu HS nắm vững bản chất KT, KN

tư duy độc lập, biết vận dụng kiến thức đã học một cách sáng tạo để giải quyết vấn

đề, hạn chế đến mức thấp nhất yêu cầu HS học thuộc máy móc theo SGK hoặc theo nội dung GV làm sẵn

Hai là, việc TKBG nên thực hiện theo các bước như:

- Sử dụng CKT, KN để xác định mục tiêu tiết dạy

- Nghiên cứu SGK và các tài liệu tham khảo khác để phục vụ cho việc thực hiện CKT, KN

- Vận dụng CKT, KN và phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để xây dựng các hoạt động lên lớp

Trang 23

- Như trên mục 1.1.3 thì các mục tiêu được biểu hiện bằng :

• Mục tiêu kiến thức gồm 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo

• Mục tiêu về kĩ năng gồm 3 mức độ: làm được, làm thông thạo và làm sáng tạo

• Mục tiêu thái độ: Hình thành thói quen, tính cách, nhân cách nhằm phát triển con người toàn diện theo mục tiêu

Ba là, vận dụng CKT, KN và kỹ thuật dạy học tích cực để xây dựng các kế

hoạch bài giảng lên lớp sao cho hiệu quả trên tinh thần đáp ứng Chuẩn

Việc TKBG tích cực, sáng tạo, đạt CKT, KN sẽ tạo cho HS tâm lý hăng say học tập Niềm say mê đối với việc học tập khoa học nói chung và tình yêu đối với văn chương nói riêng sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Qua đây, giáo dục cho HS một phong thái học tập vững vàng, đạt chuẩn

về kiến thức và kĩ năng, xây dựng môi trường sư phạm dạy và học hiệu quả, giáo dục hoàn thiện nhân cách HS

1.3.3.Một vài vấn đề có tính nguyên tắc khi vận dụng SHD

Khi sử dụng SGK để chuẩn bị kế hoạch bài giảng, GV cần căn cứ CKT, KN theo quy định chương trình môn học, xác định trọng tâm KT, KN để TKBG phù hợp với khả năng tiếp thu của HS Nếu gặp tình huống có các cách hiểu khác nhau

về một chủ đề, một nội dung nào đó giữa SGK và SHD thì cần căn cứ vào CTGDPT

để GV TKBG hợp lý, thống nhất Các GV bộ môn có trách nhiệm cập nhật, đính chính những sai sót theo thông báo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (nếu có) và hướng dẫn HS đính chính SGK theo đúng nội dung CTGDPT

Khi vận dụng SHD, người soạn giảng cần chú ý đến Chuẩn SHD đảm bảo cả chất lượng và dung lượng chương trình giáo dục theo trình tự KT, KN ba khối lớp: lớp 10, lớp 11 và lớp 12 để:

- Không lệch chuẩn, không sai chuẩn, bao gồm:

+ Hiểu chính xác đầy đủ nội dung bài học

+ Xác định mức độ KT, KN, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở

HS

+ Xác định trật tự lôgic bài học

Trang 24

- Xác định được khả năng đáp ứng và các nhiệm vụ nhận thức của HS:

+ Xác định được khả năng kiến thức HS đã có và cần có

+ Dự kiến những khó khăn có thể xảy ra và các phương án giải quyết trong những tình huống nhất định

- Lựa chọn phương pháp, phương tiện, thiết bị dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá sao cho phù hợp giúp HS chủ động sáng tạo, phát triển năng lực tự học

- Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN và tư duy thái độ sau mỗi nội dung bài học

1.4.Phân môn Văn học trong quan hệ tích hợp với phân môn Tiếng Việt, Làm văn và các môn học khác

1.4.1.Phân môn Văn học trong môn học Ngữ văn

Môn Văn học có vị trí quan trọng trong CTGDPT Vị trí ấy được thể hiện trực tiếp qua tỉ lệ thời gian dành cho phân môn Đặc biệt với khả năng tạo dựng các hình tượng nghệ thuật được nghệ sĩ sáng tạo, văn học có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí tuệ của HS Để làm được điều đó thì phân môn Văn học cũng đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về tri thức, KT, KN trong CTGDPT

Tích hợp là quan điểm dạy học hiện đại, tiên tiến đang được vận dụng rộng rãi trên thế giới Giáo dục nước ta đã vận dụng quan điểm này vào việc xây dựng chương trình, biên soạn SGK và đào tạo, bồi dưỡng GV, đổi mới thiết bị dạy học Và đây được xem là nguyên tắc tổng quát để xây dựng cả hệ thống chương trình Trong giáo dục, tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ của các bộ môn khác để đáp ứng chất lượng giáo dục

Bắt đầu từ lần thay đổi chương trình và SGK thì các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn được gọi một tên chung là Ngữ Văn Dù ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn mang ba tên gọi khác nhau nhưng tựu trung lại là nhằm mục đích hình thành cho HS năng lực phân tích, bình giá, cảm thụ văn học nghệ thuật một cách chủ động Đồng thời nâng cao kĩ năng nghe, đọc, nói, viết Ngay bản thân tên gọi Ngữ văn đã thể hiện rõ một trong những điểm cải tiến căn bản của việc xây dựng chương trình mới theo quan điểm tích hợp, đã thể hiện rõ định hướng đi theo con đường dạy học tích hợp ba phân môn Vì vậy, GV dạy bộ môn Ngữ Văn

Trang 25

cần phải hiểu rõ quan điểm tích hợp, cần có cái nhìn tổng thể về mục tiêu, chương trình, SGK, PPDH bộ môn trên tinh thần tích hợp với tư duy tích hợp

Trên thực tế thì môn Ngữ văn với ba phân môn nhưng chỉ có một GV đứng lớp nên chúng ta cần biết khắc phục những khuyết điểm để chất lượng đào tạo được

nâng cao: “Không phủ định việc dạy các tri thức, kĩ năng riêng của từng phân môn

Vần đề là làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộc từn g phân môn thật nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của môn Ngữ văn” [29, tr.20 - 21] Cần

khắc phục tình trạng xử lý bài học theo trạng thái tách rời nhau giữa ba phân môn như chương trình giáo dục SGK cũ trước đây

Thực tiễn cũng cho thấy, GV cần nhận thức rõ Văn học là phân môn quan trọng nhất, chiếm nhiều dung lượng cũng như tâm huyết giáo dục trong cả chương trình Ngữ Văn Cũng cần nhận thấy ý đồ của nhóm biên soạn SGK để có thể TKBG môn Văn học hiệu quả, sao cho hướng dẫn được HS đọc- hiểu văn bản theo phương pháp tích hợp

Cũng cần chú ý, việc tích hợp KT, KN không chỉ vận dụng trong QTDH mà còn phải thực hiện ngày trong khâu kiểm tra, đánh giá Chẳng hạn, với một đề bài phân môn Văn học Chúng ta không những phải vận dụng tri thức về kĩ năng có tính chuyên ngành mà còn phải đánh giá chặt chẽ hơn thao tác làm các kiểu bài Làm văn, về cách vận dụng những lý thuyết và quy tắc của Tiếng Việt trong việc đặt câu, dùng từ Đặc biệt là trình độ tiếp nhận và vận dụng các vấn đề của Tiếng Việt và Làm Văn trong cùng thời điểm

Mặt khác GV vần lựa chọn những nội dung, những khía cạnh thích hợp để tích hợp, vì mỗi phân môn có những đặc trưng riêng Tránh tình trạng ôm đồm kiến thức, dẫn tới việc quá tải ở việc học tập cho HS Công việc này sẽ tạo cho GV thói quen TKBG môn Văn học phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức sao cho HS nhận thức được kiến thức, hình thành kĩ năng và thái độ học tập Tạo bước đà cho việc hoàn thiện nhân cách của HS, trau dồi tư tưởng nhân văn, lòng yêu nước văn chương cùng những giá trị Chân- Thiện- Mĩ sâu sắc Ngược lại, chúng ta gò ép để tích hợp, chăm chú quá vào tích hợp, lặp lại tích hợp thì sẽ dẫn đến tình trạng phá

vỡ đặc trưng phân môn và giờ học Ngữ Văn trên lớp chỉ là sự khái quát, nếu không nói là nhiễu KT, KN

Trang 26

1.4.2.Mối liên hệ giữa Văn học với các lĩnh vực xã hội khác

Nhìn lại cả chặng đường lịch sử, chúng ta nhận thấy văn học luôn song hành cùng cuộc sống sinh hoạt của con người Việt Giữa văn học và lịch sử học như có sợi chỉ đỏ nối kết, ghi lại những giá trị thiêng liêng của cả một chặng đường đất nước phát triển, đi lên

Lịch sử phát triển gắn liền với lịch sử xây dựng và giữ nước Tư tưởng xuyên suốt, gần như là bất biến nổi bật là tinh thần yêu nước và đoàn kết dân tộc Dù già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo, giàu nghèo tất cả đều đồng tâm một lòng đoàn kết lại, cùng chiến đấu, cùng bảo vệ vì độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc

“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” và đến tận

sau này lên câu, thành chữ, cất tiếng là tác phẩm văn nghị luận chính trị Tuyên

ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ý thức bảo vệ độc lập dân tộc ấy được

phát triển và được khẳng định từ rất sớm Ngay trong những bài thơ Nam quốc sơn

hà của Lý Thường Kiệt, đến Hịch tướng sĩ của Hưng đạo đại vương Trần Quốc

Tuấn, đặc biệt trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã hơn một lần khẳng định

được tinh thần nước Nam, khẳng định lại vị thế non sông đất nước Việt với giặc phương Bắc và các bè lũ ngoại xâm lúc bấy giờ

Một trong những nguyên nhân lý giải sự ham mê văn học của người Việt Nam là xuất phát từ chế độ coi trọng thi cử của chế độ đời Lý bắt đầu từ những năm

1970 Dù rằng về sau chữ Hán, chữ Nôm cùng từ tưởng Nho- Phật- Lão giáo có sự phân tranh nhưng nhờ có các vị vua anh minh, ham mê văn chương (đã trở thành

nhà thơ) như vua Minh Mạng, vua Tự Đức, đặc biệt vua Lê Thánh Tông với Hồng

Đức quốc âm thi tập đã mở ra con đường đi mới cho văn học phóng khoáng, tự do

với nhiều sự phát triển mới mẻ về hình thức, về thể loại văn chương cũng như những nội dung thể nghiệm phong phú, nhiều cung bậc, ngày một gần gũi với cuộc sống, với tâm hồn con người Việt

Khi văn chương đã đi vào đời sống của con người với mọi ngõ ngách sâu thẳm trong nội tâm thì văn học đã biết nói đến thân phận con người Thân phận ấy trước nhất phải là nói đến nữ giới phong kiến với nhiều thiệt thòi do ảnh hưởng của

tư tưởng nam quyền Xuất hiện tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm và đạt đến đỉnh cao khi nói đến số

Trang 27

phận người phụ nữ sau này là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du- tác phẩm

chữ Nôm lớn nhất của văn học Việt Nam thời kỳ văn học trung đại Điều này có nghĩa khi văn chương đã bên cạnh cuộc sống, phản ánh cuộc sống với những lúc thăng trầm theo thời đại lịch sử thì điểm nổi bật hơn cả vẫn là sự ham mê văn học trên tinh thần yêu dân tộc, yêu đất nước

Sau này khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ toàn dân, toàn diện, lâu dài với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thì văn học càng khẳng định được vị thế của mình Lúc này, văn chương là thứ vũ khí sắc bén nhất đã tham gia tích cực và đóng góp những thành quả to lớn cho dân tộc Những lá truyền đơn, những lời kêu gọi, những bài động viên, những dòng tâm sự, chia sẻ của lớp tác giả văn học

đã là nguồn khích lệ, động viên vô cùng to lớn mang lại những giá trị lịch sử và văn

học trong mọi tình huống, mọi chiến dịch Nhớ lại thời ấy với Tây Tiến của Quang Dũng, Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm Ở đó, nhẹ nhàng,

sâu lắng của tình cảm đồng chí, của tình yêu quê hương, đất nước mà vẫn căng tràn sức chiến đấu, lòng quả cảm hi sinh, dám đương đầu với hoàn cảnh khắc nghiệt lịch

sử chiến tranh vì tự do, độc lập của các đồng đội chí sĩ

Trong thời bình thì văn học như là công cụ để xây dựng những vấn đề mới của xã hội Có thể là trong mọi công việc từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thì văn học là công cụ để xây dựng các chương trình giáo dục và nội dung giáo dục vì

tương lai đất nước, vì tương lại nhân loại với mục tiêu: “Học để biết Học để làm

Học để chung sống Học để làm người, để tự khẳng định mình ” Và văn chương đã

làm tốt nhiệm vụ trong mối quan hệ với xã hội học ấy

Quá trình giáo dục và đào tạo mà con người tiếp thu và nhận thức được là tri thức Đó là kết quả của cả quá trình Nó có giá trị kích thích khát vọng sáng tạo nghệ thuật, kích thích khát vọng chiếm lĩnh tri thức đỉnh cao, kích thích khát vọng khẳng định bản thân và tạo lập mọi mối quan hệ xã hội Điều này có thể hiểu như một động lực, một nguồn năng lượng giúp cho con người thẩm thấu được những giá trị văn hóa, văn học để con người ấy sống có ích, có lý tưởng hơn; để con người hoàn thiện nhân cách, trau dồi nhận thức trong xã hội phát triển không ngừng này

Trang 28

Học văn cũng vậy Với tính chất hai mặt: vừa là môn học, vừa là môn nghệ thuật, vừa là cuộc sống nên phân môn Văn học có nhiều ưu thế trong việc giáo dục cái hay, cái đẹp với những cảm xúc đang tồn tại trong môi trường xã hội Văn chương có khả năng khơi gợi, tạo dựng những cảm xúc trong những chức năng cảm nhận, chức năng nhân văn, nhân bản cũng như chức năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm

mỹ của nó Cũng có nghĩa là giáo dục phải tuân theo quy luật của cái đẹp, cái cảm

xúc Đó là cốt lõi làm nên giá trị con người hoàn thiện Ở chỗ: “Cảm xúc về cái đẹp

là một điều kiện làm nên phẩm giá con người Phải có nó con người mới có được trí tuệ, phải có nó nhà bác học mới vươn tới những tư tưởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất và các hiện tượng trong tính thống nhất của chúng Phải có nó con người mới có thể không gục ngã dưới sức đè nặng trĩu của cuộc đời để làm nên những chiến công Thiếu nó thì không có thiên tài, không có trí thông minh; mà chỉ còn lại cái thứ đầu óc tỉnh táo một cách ti tiện mưu cầu cho những toan tính nhỏ nhen bệnh hoạn” (Bi-ê-lin-xki, nhà tư tưởng lớn của nước Nga thế kỷ XIX)

Xét văn học trong mối quan hệ tổng thể với lịch sử học, với xã hội học, với các lĩnh vực khoa học xã hội khác đã cho chúng ta thấy được vị trí và nhiệm vụ quan trọng của phân môn Văn học trong CTGDPT Quá trình dạy và học văn là quá trình phản ánh hiện thực một cách đặc thù, độc đáo của ý thức con người, nó bao hàm cả nhân cách, đạo đức, xúc cảm và thẩm mỹ con người trong sáng tạo của chủ thể tiếp nhận văn học

1.4.3.Tích hợp hệ thống và tích hợp mở rộng trong vận dụng SHD

Như mục 1.4.1 đã trình bày thì theo CTGDPT thì môn Ngữ Văn được xây dựng trên cơ sở tích hợp bởi ba phân môn Và qua thực tế học tập và giảng dạy, chúng tôi nhận thấy mối quan hệ tích hợp mang tính hệ thống nội bộ và quan hệ tích hợp mở rộng trong vận dụng SHD có thể mở rộng và được hiểu như sau:

- Tích hợp hệ thống nội bộ bao gồm:

+ Tích hợp dọc theo hướng tích hợp Văn- Văn: Tích hợp dọc theo hệ thống ở

thể loại, thể tài, ở từng giai đoạn, từng thời kỳ ứng với sự đi lên của đất nước, của dân tộc với những hệ thống chủ điểm

CTGDPT phân môn Văn học bao gồm: Mở đầu là bài Tổng quan văn học Việt Nam  Văn học dân gian  Văn học Viết Cụ thể là:

Trang 29

• Tổng quan văn học Việt Nam

• Khái quát văn học dân gian Việt Nam

• Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X- đến hết thế kỷ XIX

* Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ XX- đến Cách mạng tháng Tám năm

1945

* Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945- đến hết thế kỷ

XX

+ Tích hợp ngang theo hướng tích hợp Văn- Tiếng Việt: Tích hợp ngang theo

hướng sử dụng kiến thức Tiếng Việt như các biện pháp tu từ, đặc điểm từ ngữ, cấu

trúc câu để khai thác, phân tích, cảm thụ tác phẩm Ví như: Tam đại con gà,

Nhưng nó phải bằng hai mày

+ Tích hợp ngang theo hướng tích hợp Văn - Làm văn: Tích hợp ngang theo

hướng vận dụng kiến thức về các kiểu phương thức ngôn ngữ như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận… để khai thác văn bản đọc- hiểu Ví như tác phẩm văn học:

Chiếu cầu hiền (SGK 11, tập I, tr.68), Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của văn nghệ dân tộc (SGK 12, tập I, tr.47), Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (SGK 12 tập II,

tr.159)…

- Tích hợp hệ thống mở rộng trong phân môn Văn học bao gồm:

+ Tích hợp Văn- Lịch Sử: Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng những

kiến thức về hoàn cảnh lịch sử từng thời kỳ, về nhân vật lịch sử để lí giải và khai

thác giá trị, thành công cũng như hạn chế của tác phẩm Ví như: Tuyên ngôn độc lập (SGK 12, tập II, tr.23); Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (SGK 10, tập II,

tr.41) ,…

+ Tích hợp Văn- Địa lý: Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thức

hiểu biết về các đại danh để lí giải rõ một số chi tiết, hình ảnh nghệ thuật Ví như

tác phẩm văn học: Phú sông Bạch Đằng (SGK 10, tập II, tr.31), Người lái đò Sông

Đà (SGK 12, tập I, tr.185), Ai đã đặt tên cho dòng sông (SGK 12, tập I, tr.197)…

+ Tích hợp Văn- Âm nhạc: Hát, ngâm nga thơ với những tác phẩm được chọn

để đọc- hiểu: Đây thôn Vĩ Dạ, Tôi yêu em, Đàn ghi-ta của Lorca, Tây Tiến…

+ Tích hợp Văn- Mĩ thuật: Vẽ tranh minh họa một nhân vật, một chi tiết, một hình ảnh: Chiếc thuyền ngoài xa, Chữ người tử tù, Người trong bao…

Trang 30

+ Tích hợp Văn- Sân khấu, điện ảnh: Tình yêu và thù hận (trích ), Hồn

Trương Ba da hàng thịt (trích), Chí Phèo…

+ Tích hợp Văn- Chính trị, xã hội: Đọc- hiểu văn bản nhật dụng: Thông điệp nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 (SGK 12, tập I, tr.80)

Trang 31

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG SHD ĐỂ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG PHÂN MÔN

VĂN HỌC THEO YÊU CẦU CKT, KN 2.1.Thiết kế bài giảng văn học dân gian

2.1.1 Thực trạng một số phương án TKBG văn học dân gian theo CKT, KN

2.1.1.1 Nhóm A: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo viên Ngữ Văn lớp 10, Tập I,

NXB Giáo dục Việt Nam

Nội dung chương trình của SGV có bố cục như sau:

A MỤC TIÊU BÀI HỌC: Giúp HS:

- Hiểu và nhớ được đảm bảo kiến thức nội dung và nghệ thuật của bài học

- Nắm được và biết cách… đảm bảo kĩ năng hiểu đúng ý nghĩa văn bản và

rèn luyện kĩ năng phân tích

B NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý

I- NỘI DUNG: GV cần nắm được:

1 Đặc điểm bài học: SGV nhấn mạnh đặc trưng thể loại trong từng tác phẩm Sau

đó, lựa chọn những nội dung, chủ đề chính để phân tích, tránh sa đà, lan man vào những yếu tố xung quanh tác phẩm Chúng ta có thể khảo sát điều này ở bất cứ bài soạn nào Ví dụ:

- Đối với truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng

Thủy, SGV nhấn mạnh: “Điều cần tập trung phân tích là nửa sau của truyện, là

phần thứ hai của bài học giữ nước được rút ra từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương và nhất là từ sự ngây thơ, nhẹ dạ của Mị Châu trong tình yêu.”

- Đối với truyện cười Tam đại con gà, SGV nhấn mạnh trong đặc điểm bài

học rằng: “Truyện chỉ có một nhân vật chính là anh học trò dốt chữ làm thầy đồ

Các nhân vật khác không nổi rõ, chỉ làm nền cho nhân vật chính.”

2 Trọng tâm bài học

SGV trình bày rõ ràng ở hai mục nhỏ sau:

a Phần Tiểu dẫn: Cần chú ý đến mấy điểm như:

- Đặc trưng của thể loại

- Giá trị và ý nghĩa của tác phẩm trong tiến trình văn hóa- văn học dân tộc

b Phần Tìm hiểu chung văn bản- phần trọng tâm của bài học (mục này bài khái quát

văn học sử không có) SGV nhấn mạnh ở mặt nội dung và nghệ thuật Vì vậy, người

Trang 32

tham khảo sách cần chú ý phân tích những cảnh huống, quá trình phát triển tính cách nhân vật tùy vào từng bài học

II PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

1 Phương pháp dạy học

Ở mỗi thể loại bài học khác nhau thì SGV đã linh hoạt trong sự chuẩn bị của

GV và đã định hướng phương pháp GV giảng dạy chủ yếu là gì để có thể khai thác văn bản hiệu quả Tuy nhiên, SGV cũng chỉ nêu ở mức đại khái, cơ bản Nhưng SGV còn tồn tại hạn chế là chưa có sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp soạn giảng tích hợp, tích cực, phát huy tính độc lập tư duy của HS Chẳng hạn:

• Phương pháp dạy học trong bài: Chiến thắng Mtao Mxây (Trích Đăm săn-

sử thi Tây Nguyên) SGV 10, tập I, tr 43 có soạn:

a Phần Tiểu dẫn (giới thiệu tóm tắt nội dung Đăm săn)

Gọi một HS đọc phần này trong SGK

GV cho HS ghi chép tóm tắt nội dung đó theo bố cục gồm ba phần

- Hướng dẫn HS thảo luận về các câu hỏi tìm hiểu văn bản trong SGK

• Phương pháp dạy học trong truyện cười Tam đại con gà, SGV 10, tập I,

tr.99-100, có soạn:

a GV có thể cho HS trả lời một vài câu hỏi phụ để qua đó nhận thức được thực chất của mâu thuẫn trái tự nhiên trong nhân vật thầy đồ

Ví dụ:

- Hai dòng đầu có ý nghĩa gì trong toàn bộ câu chuyện?

- Toàn bộ phần sau có phải nói về việc thầy đồ tự lên mặt văn hay chữ tốt không? Vì sao?

Đây là những câu hỏi gợi mở cho quá trình phân tích GV không cần phải kết luận ngay

Trang 33

b GV lần lượt nêu câu hỏi để HS tự phân tích các “tình huống khó xử” của thầy đồ:

(……)

c Khi tổng kết, GV cần quay trở lại với mục (a) để làm rõ thực chất của mâu thuẫn trái tự nhiên trong nhân vật thầy đồ và làm rõ thêm đặc trưng của thể loại truyện cười qua bài này

-> Theo chúng tôi, nội dung trên đây không thể gọi với tên Phương pháp dạy học Ở đó là việc miêu tả các thao tác GV và HS thực hiện trong bài học để đạt mục tiêu bài học Có thể sắp xếp mục này vào mục Tiến trình tổ chức dạy học

2 Tiến trình tổ chức dạy học

Khảo sát chung phần VHDG, SGV còn chưa đảm bảo yêu cầu với tên “Sách giáo viên” của NXB Giáo dục Việt Nam Cụ thể là, SGV được hiểu đơn giản là

sách giành cho GV tham khảo, học tập, vận dụng mục tiêu kiến thức để xây dựng

KT, KN cho bài soạn riêng của mình Nhưng hình thức trình bày trong SGV này là chưa hợp lý, khoa học Nếu đã là SGV thì không thể tồn tại việc soạn sách theo

hướng trả lời từng câu, từng câu hỏi ở mục Hướng dẫn học bài trong SGK theo hình thức “lời giải” Điều này vô hình trung đã xếp SGV vào loại sách “Để học tốt Ngữ văn” đang tràn lan trên thị trường bán sách hiện nay

Việc học những tác phẩm VHDG đã khó khăn khi HS chưa nắm rõ được môi trường xã hội, chưa hiểu được giá trị của việc sáng tác tập thể theo lối văn hóa cộng đồng Cộng thêm đó là việc biên soạn sách cho GV vận dụng theo CKT, KN là hình thức trả lời câu hỏi trong SGK Điều này đã dẫn đến kết quả là SGV chưa được coi là sách soạn giảng theo CKT, KN để mỗi GV có thể tham khảo và vận dụng

III KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ- GỢI Ý BÀI TẬP

Ở mục này, SGV cũng không có gì sáng tạo, đổi mới trong việc TKBG theo

CKT, KN đạt Chuẩn Vẫn là lời giải cho những câu hỏi ở phần Luyện tập trong

SGK

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO

SGV nêu danh mục Tài liệu tham khảo mà chưa bám sát thực tế sử dụng Khi khảo sát danh mục tham khảo chúng tôi thiết nghĩ: Liệu phần Tài liệu tham khảo này là được nhóm biên soạn SGV tham khảo và soạn bài? Hay Tài liệu tham

Trang 34

khảo này là yêu cầu GV khi TKBG phải tìm đọc? Nếu là yêu cầu GV cấp trường

THPT tìm đọc tham khảo, e rằng thực tế rất khó khăn Bởi lẽ, tùy từng điều kiện môi trường học tập, giảng dạy khác nhau và tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau như: ở miền nông thôn khác với ở Thành phố mà việc tìm đọc những công trình nghiên cứu đó là rất khó khăn Tất nhiên, nếu trong giá sách giảng dạy của người dạy Ngữ văn có tập sách đó thì là điều đáng quý

*) Tiểu kết Nhận xét khái quát:

SGV có thể coi là cuốn định hướng mục tiêu bài học cho mỗi GV tham khảo Nhưng còn mắc nhiều hạn chế nên trên thực tế, rất ít GV sử dụng cuốn sách này trong việc TKBG

Trong bài soạn Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy, tr.48

đã mắc nhiều lỗi lớn Chẳng hạn, khảo sát toàn bài, chúng tôi nhận thấy có trình bày yêu cầu ở mục tiêu bài học, có những điều cần lưu ý, có phương pháp và tiến trình

tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá- gợi ý bài tập xong xuôi rồi thì lại đưa ra mục

IV THIẾT BỊ DẠY HỌC Không hiểu, SGV thêm mục này ở cuối bài để làm gì?

- Cũng xin nói thêm, ngay trong một bài soạn mà SGV không có sự thống nhất ở hình thức trình bày và nội dung kiến thức bài học, diễn đạt câu văn còn chưa

rõ ràng Cụ thể:

Mục tiêu bài học có nêu: Giúp HS rèn luyện thêm kĩ năng phân tích truyện

dân gian để có thể hiểu đúng ý nghĩa của những hư cấu nghệ thuật trong truyền thuyết

Đến mục Phương pháp dạy học thấy: Tại lớp, GV chỉ cần phát vấn, yêu cầu

HS nêu lên đặc trưng cơ bản nhất của truyền thuyết, giá trị, ý nghĩa của nó bằng cách dựa vào bài chuẩn bị ở nhà

Riêng về sự tồn tại của truyền thuyết trong môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian (tín ngưỡng và lễ hội diễn ra tại những địa danh liên quan đến lịch sử) tuy không phải ý trọng tâm nhưng bài giảng vẫn cần đề cập đến.(….)

Trước khi kết thúc bài giảng, chuyển sang phần nêu bài tập ở nhà, GV có thể giới thiệu những địa phương thờ cúng An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy.(…)

Trang 35

Chú ý: Yêu cầu này có thể không cần đặt ra đối với HS ở những nơi ngoài vùng Đông Anh (Hà Nội), vùng Kiến Xương (Thái Bình) Đây chỉ là một “phương

án dự phòng” cho các GV ở hai nơi này khi HS thắc mắc

- Ngay ở nội dung kiến thức, SGV còn chưa đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục của nó Ví dụ:

Trong bài Ca dao hài hước, ở mục II tr.122, SGV có trình bày như sau:

1 Phương pháp dạy học

a Hướng dẫn HS đọc chùm ca dao hài hước

- Bài (1) có thể cho hai HS đọc theo lối đối đáp nam nữ trong dân ca: em nam đọc đoạn đầu, em nữ đọc đoạn sau Giọng đọc vui tươi, dí dỏm mang âm

hưởng đùa cợt như cách đối vui của nam nữ ở chặng hát cưới trong dân ca

- Bài (2), (3), (4): đọc với giọng vui tươi có pha ý giễu cợt

b Hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản

yêu cầu GV tái hiện lại môi trường diễn xướng thì chắc chắn HS trong giờ học sẽ

không hiểu “đối đáp nam nữ trong dân ca” là gì? HS sẽ không hiểu “chặng hát

cưới trong dân ca” là gì? Điều này khiến cho kiến thức, kĩ năng mà HS nắm được qua bài VHDG không đáng bao nhiêu cũng là điều dễ hiểu Việc hình thành thái độ yêu thích, sưu tầm những bài dị bản, tìm đọc những văn bản VHDG là chưa đạt yêu cầu Là điều lý giải tại sao HS đang mất mòn hứng thú yêu văn chương và chất lượng môn Văn giảm là vậy

2.1.1.2 Nhóm B: Bộ Giáo dục và Đào tạo với nhóm tác giả của cuốn “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10” Tập I, NXB Giáo dục Việt

Nam

SHD có bố cục cho mỗi đơn vị bài học như sau:

Trang 36

I MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

II TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG

1 Kiến thức

2 Kĩ năng III HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN

- Về hình thức trình bày: SHD còn quá sơ sài, ngắn gọn Không có mục

Luyện tập, củng cố mà chỉ có mục Hướng dẫn tự học

- Về nội dung kiến thức:

+ Ngay ở mục đích viết tài liệu là: “Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn

kiến thức, kĩ năng được biên soạn theo hướng chi tiết hóa các yêu cầu cơ bản, tối

thiểu về kiến thức, kĩ năng của Chuẩn kiến thức, kĩ năng bằng các nội dung chọn lọc trong SGK” Nhưng thực tế, SHD chỉ nêu những gạch đầu dòng, đơn giản, tối

thiểu, chưa có sự định hướng về hoạt động dạy và học giữa GV và HS Dễ dàng dẫn đến hiện tượng nhàm chán, chủ quan ở HS

+ Đặc biệt, trong phần thứ nhất, SHD nêu rõ yêu cầu: “Bám sát chuẩn kiến

thức, kĩ năng để thiết kế bài giảng, với mục tiêu là đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, dạy không quá tải và không quá lệ thuộc vào SGK”

Nhưng thực tế, SGK là sự cụ thể hóa CTGDPT, là tài liệu bắt buộc đối với GV và

HS Nay SHD “liệt kê” các đơn vị kiến thức còn quá rời rạc, người vận dụng SHD nếu không lệ thuộc vào SGK, nếu không có kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy vững vàng để TKBG thì SHD coi như không giúp ích gì được cho GV và cả HS

+ SHD chưa khẳng định được giá trị, ý nghĩa của những văn bản VHDG trong việc hình thành tư duy, thái độ học tập cho HS

Trang 37

+ Kiến thức, kĩ năng được trình bày ở mục II.Hướng dẫn thực hiện không

làm nổi bật được những đặc điểm của thể loại, không đáp ứng được những yêu cầu

ở mục Trọng tâm kiến thức, kĩ năng đã đề ra

+ Nội dung bài học không giúp cho HS phân biệt được sự khác nhau giữa các thể loại của VHDG Không có sự nhấn mạnh, phân biệt sự khác nhau giữa VHDG và văn học viết

+ Nếu GV vận dụng SHD một cách rập khuôn thì vô hình trung dẫn đến tình trạng “nhẹ tải” về kiến thức, thiếu hụt về kĩ năng học tập VHDG, không hình thành được thái độ yêu thích, hứng thú với VHDG dân tộc, không hiểu được vai trò của VHDG là làm nền tảng cho sự phát triển văn học viết dân tộc sau này

*) Tiểu kết: Với tiêu đề sách những mong có thể giúp ích nhiều cho GV

trong việc TKBG nhưng qua khảo sát cả hai nhóm A và Nhóm B, chúng tôi nhận thấy còn quá nhiều sai sót và hạn chế, chưa đạt chuẩn trong nhiệm vụ làm tài liệu chủ đạo cho GV

2.1.2 Một số ý kiến đề xuất khi TKBG văn học dân gian

Theo phân phối chương trình giáo dục đào tạo thì VHDG trong chương trình THPT được sắp xếp theo thể loại với hai mảng là tự sự dân gian (Sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện thơ) và trữ tình dân gian (ca dao, dân ca)

Vì vậy, khi soạn giảng GV cần chú ý đến đặc trưng từng thể loại, dạy đọc- hiểu theo đặc trưng thể loại để HS có khả năng tổng hợp, so sánh, tránh nhầm lần trong quá trình cảm nhận hoặc phân tích tác phẩm VHDG Để làm được điều đó thì trong bài

văn học sử- bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam, GV cần chú ý trong việc

giúp HS hiểu và nắm được các khái niệm, các đặc trưng cơ bản về thể loại của VHDG, hiểu được vai trò, vị trí của bộ phận VHDG trong sự phát triển chung của nền văn học dân tộc

Soạn giảng một tác phẩm văn học, GV phải phân tích tác phẩm như một chỉnh thể thẩm mỹ để HS nắm được mạch nguồn, chủ động chiếm lĩnh tri thức nhưng việc trình bày ở SGV đơn giản là GV hướng dẫn HS trả lời câu hỏi của SGK Bởi lẽ, câu hỏi trong SGK không thể bao quát hết mọi giá trị của CKT, KN và hình thành tư duy thái độ cho HS Điều này có nghĩa đã xé tác phẩm thành nhiều mảnh,

Trang 38

đã làm mất cấu trúc hoàn chỉnh của nội dung văn bản, có nghĩa là làm mất khả năng sáng tạo của GV trong việc TKBG

Theo quan điểm dạy học “hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm,

phát huy vai trò tích cực của chủ thể người học thì mục tiêu dạy học phải hướng vào học sinh, do học sinh thực hiện” nhưng do đặc thù bài học mà SGV chưa có đầu tư

đúng mức vào bài soạn giảng, chưa có những tìm tòi, sáng tạo, khơi gợi những hứng thú, say mê học tập từ phía HS trong giờ dạy VHDG Khi bài soạn giảng chưa hay, chưa đầy đủ thì có nghĩa tiết học đó chưa đạt yêu cầu về KT, KN cũng như thái độ

tư duy để cung cấp cho HS

Đặc biệt, do đặc trưng riêng mà VHDG đích thực chỉ tồn tại bằng phương thức truyền miệng của dân gian Vì là những sáng tác tập thể, tồn tại dưới dạng “ ngôn bản”, phương tiện thể hiện của nó là lời (lời kể, lời nói, lời ca), là ngôn ngữ nói chứ không phải văn bản viết nên tác phẩm sẽ có những dị bản tương xứng với

những hình thức diễn xướng dân gian khác nhau : “Vì vậy có thể nói, mỗi văn bản

của tác phẩm văn học dân gian chỉ là một “lắt cắt” ngôn bản ở một thời điểm nhất định trên suốt hành trình số phận không ngừng biến đổi” [2, tr.62] Do vậy, người

GV cần biết lựa chọn kiến thức phù hợp giữa các tài liệu tham khảo, tùy vào đối tượng HS cũng như kĩ năng sư phạm để có thể TKBG đạt chuẩn về chất lượng giáo dục

2.1.3.Thiết kế một bài giảng mẫu

Bài giảng: Ngữ văn 10, tập I, tr.16

KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

Thể loại: Văn học sử Tiết : Ngày soạn:

I -Mục tiêu bài học:

Quan bài học HS cần đạt được yêu cầu tối thiểu sau đây:

1 Kiến thức: Hiểu và nhớ:

- Khái niệm văn học dân gian

- Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

- Hệ thống thể loại chính của văn học dân gian

- Những giá trị cơ bản của văn học dân gian

Trang 39

2 Kĩ năng: Biết cách:

- Phân biệt được văn học dân gian và văn học viết

- Phân biệt các thể loại trong cùng một hệ thống văn học dân gian

- Vận dụng những kinh nghiệm, bài học vào cuộc sống

- Rèn kĩ năng tìm và tóm tắt các ý chính của bài

3 Tư duy, thái độ:

- Chủ động phát hiện, chiếm lĩnh tri thức Có tinh thần tích cực trong học tập

- Hiểu được những giá trị của VHDG Từ đó, trân trọng và sưu tầm tác phẩm văn học dân gian

- Biết yêu mến, trân trọng, phát huy đối với di sản văn hóa tinh thần của dân tộc, từ đó có trách nhiệm học tập tốt hơn

II Chuẩn bị của GV và HS (Phương tiện dạy học)

1 Chuẩn bị của GV: SGK, SGV, SHD, tài liệu liên quan Ngoài bài soạn

giảng, phấn, bảng, phiếu học tập, bảng phụ còn có sự hỗ trợ của những phương tiện dạy học như tranh ảnh văn hóa dân gian, slide powerpoint, video về hình thức diễn xướng dân gian

2 Chuẩn bị của HS: Ngoài đồ dùng học tập như SGK, vở soạn, vở ghi

chép, còn có kiến thức cũ được GV hướng dẫn chuẩn bị trước đó

III Phương pháp dạy học

GV cần vận dụng linh hoạt các PPDH tích cực, tích hợp nhằm giúp HS chủ động, linh hoạt trong phát hiện và trình bày ý kiến như thuyết trình, nêu vấn đề, gợi

mở, vấn đáp, giảng giải Trong đó, phương pháp chính được sử dụng là phương pháp dạy học theo vấn đề và phương pháp gợi mở

IV - Tiến trình thực hiện:

1 Ổn định tổ chức

Kiểm tra sĩ số, kiểm tra sự chuẩn bị của HS cho bài học

2 Kiểm tra bài cũ

Câu hỏi: - Kể tên các thể loại văn học dân gian mà em đã từng học trong chương trình trung học cơ sở? Lấy ví dụ minh họa?

Trang 40

3 Đặt vấn đề bài mới:

Từ thuở sinh nôi, chúng ta được nghe những câu chuyện cổ tích, những lời

ca ê a hát du của bà, của mẹ Ấy là những tác phẩm VHDG sống với thời gian bằng

sự hấp dẫn nội tại của nó Là những tác phẩm truyền miệng của nhân dân lao động mà nội dung của nó gần gũi, thân thuộc trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam

Đặc biệt, tìm hiểu bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam cũng là khắc sâu thêm

KT, KN về VHDG cho các em hình thành tư duy thái độ vững vàng trước khi tiếp nhận những tác phẩm cụ thể

Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt

HĐ 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu

chung

- Thao tác 1: Khái niệm VHDG

+ GV yêu cầu HS đọc SGK trang 16

+ GV: Em hiểu như thế nào là VHDG?

Tác giả VHDG là ai?

- Thao tác 2: Đặc trưng cơ bản của

VHDG?

HĐ 2: Hướng dẫn học bài cụ thể

- Thao tác 1: HS tự đọc và trình bày

+ GV: Bài “Khái quát văn học dân

gian Việt Nam” có cấu trúc như thế

nào?

- Thao tác 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu

những đặc trưng cơ bản của VHDG

+ GV: Hãy nêu những đặc trưng cơ

bản của VHDG?

A Tìm hiểu chung

- Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng Là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho cách sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng

- Đặc trưng cơ bản của VHDG:

+ Tính truyền miệng + Tính tập thể

+ Tính dị bản + Tính diễn xướng

B Kiến thức cần đạt

- Bài “Khái quát văn học dân gian Việt

Nam” có cấu trúc như sau:

I Đặc trưng cơ bản của VHDG

II Hệ thống thể loại của VHDG III Những giá trị cơ bản của VHDG

- Yêu cầu cần đạt cụ thể:

I Đặc trưng cơ bản của VHDG

- VHDG Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau:

1 VHDG là những tác phẩm nghệ thuật

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w