Trợ giúp xã hội là “lưới đỡ” cuối cùng nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu, tạo cơ hội để đối tượng khắc phục rủi ro, đẩy lùi nghèo túng, trợ giúp xã hội là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN VĂN TUẤN
Hà Nội, 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội , ngày tháng năm 2020
Tác giả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: PGS,TS Nguyễn Văn Tuấn
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp chất đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 4
1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Vai trò của trợ giúp xã hội 8
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội 10
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội 15 1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội 17
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 17
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam 19
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 24
1.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Thành phố Cẩm Phả 26
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THÀNH PHỐ CẨM PHẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Cẩm Phả 27
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội 30
2.1.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng của đặc điểm cơ bản đến công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội của thành phố Cẩm Phả 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
Trang 52.2.1 Phương pháp chọn mẫu khảo sát 34
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 35
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 35
2.2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong luận văn 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về Trợ giúp xã hội tại thành phố Cẩm Phả 37
3.1.1 Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về TGXH của thành phố 37
3.1.2 Kết quả thực hiện TGXH trên địa bàn TP Cẩm phả 39
3.1.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về Trợ giúp xã hội tại thành phố Cẩm Phả 40
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác QLNN về TGXH tại TP Cẩm Phả 56 3.2.1 Hệ thống văn bản chính sách, pháp luật về trợ giúp xã hội 56
3.2.2 Khả năng của ngân sách Nhà nước 57
3.2.3 Trình độ của đội ngũ cán bộ QLNN về công tác TGXH 57
3.2.4 Nhận thức của cộng đồng về công tác trợ giúp xã hội 59
3.2.5 Công tác xã hội hóa các hoạt động về trợ giúp xã hội 59
3.2.6 Công tác kiểm tra, giám sát về trợ giúp xã hội 60
3.3 Đánh giá chung về công tác QLNN về TGXH tại TP Cẩm Phả 62
3.3.1 Những thành công trong công tác QLNN về TGXH 62
3.3.2 Những tồn tại và hạn chế 63
3.4 Các giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về TGXH tại TP Cẩm Phả 67 3.4.1 Nâng cao năng lực công tác cho độ ngũ CBCC thực hiện chính sách TGXH trên địa bàn thành phố 67
3.4.2 Tăng cường huy động các nguồn kinh phí cho TGXH trên địa bàn68 3.4.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và phổ biến chính sách về TGXH 68
3.4.4 Đổi mới thủ tục hành chính trong lĩnh vực TGXH 69
Trang 63.4.5 Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, ngành trong việc xác định
đối tượng hưởng TGXH 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASXH An sinh xã hội
2 BTXH Bảo trợ xã hội
3 BHYT Bảo hiểm y tế
4 BHXH Bảo hiểm xã hội
5 CSXH Chăm sóc xã hội
6 NKT Người khuyết tật
7 TGXH Trợ giúp xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất của thành phố Cẩm Phả năm 2019 29
Bảng 2.2 Dân số và lao động TP Cẩm Phả (2019) 30
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế thành phố Cẩm Phả 33
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện TGXH trên địa bàn thành phố Cẩm phả 39
Bảng 3.2 Tình hình thực hiện TGXG thường xuyên tại TP Cẩm Phả 43
Bảng 3.3 Số người cao tuổi được hưởng trợ giúp thường xuyên 44
Bảng 3.4 Kinh phí cho trợ giúp xã hội cho người cao tuổi 45
Bảng 3.5 Tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến người cao tuổi 46
Bảng 3.6 Số NKT được hưởng TGXH TX tại Cẩm Phả 47
Bảng 3.7 Số người đơn thân trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 49
Bảng 3.8 Tổng hợp ý kiến đánh giá của NĐT về tác động của TGXH 49
Bảng 3.9 Số đối tượng khác được hưởng TGXH tại Cẩm Phả 50
Bảng 3.10 Tình hình cấp thẻ BHYT cho đối tượng TGXH 51
Bảng 3.11 Tình hình thực hiện TGXH đột xuất tại Cẩm Phả 52
Bảng 3.12 Nhóm đối tượng hưởng chăm sóc xã hội 54
Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra và xử lý các vi phạm thực hiện trợ giúp xã hội 55 Bảng 3.14 Tổng hợp ý kiến của đối tượng TGXH về trình độ của đội ngũ cán bộ QLNN về công tác TGXH 58
Bảng 3.15 Tổng hợp ý kiến của đối tượng BTXH về sự cần thiết của công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chế độ BTXH 60
Bảng 3.16 Tổng hợp ý kiến của đối tượng TGXH về thời gian giải quyết hồ sơ, đơn thư, khiếu nại trên lĩnh vực TGXH 61
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hụt hẫng về tiền lương trong các trường hợp thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tai nạn, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với những người không có nguồn thu nhập
nào khác ngoài tiền lương
Trợ giúp xã hội được hiểu là những sự giúp đỡ, trợ giúp của cộng đồng, của Nhà nước đến với các đối tượng yếu thế trong xã hội thông qua hình thức hỗ trợ về điều kiện sinh sống, về vật chất để các đối tượng trong diện được trợ giúp có thể phát huy khả năng tự bản thân lo liệu được cuộc sống, vượt qua được những khó khăn, và có thể dần tái hòa nhập vào cộng đồng
Trợ giúp xã hội là một trong những chính sách của an sinh xã hội là chủ trương lớn, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa chính trị, xã hội, kinh tế quan trọng, đồng thời nó cũng là nền tảng thực hiện công bằng xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn vì vậy các chính sách về trợ giúp xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng Trợ giúp xã hội là “lưới đỡ” cuối cùng nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu, tạo cơ hội để đối tượng khắc phục rủi ro, đẩy lùi nghèo túng, trợ giúp
xã hội là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với thành viên trong xã hội khi gặp rủi ro, bất hạnh, nhằm ổn định xã hội, về mặt pháp lý trợ giúp xã hội
là sự cụ thể hóa chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm quyền con người
Các chính sách trợ giúp xã hội luôn Nhà nước quan tâm tổ chức thực
Trang 10hiện và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện, đối tượng được hưởng các chính sách trợ giúp xã hội ngày được mở rộng
Cẩm Phả là thành phố nhìn chung các điều kiện địa lý và giao thông có nhiều thuận lợi, song hàng năm trên địa bàn thành phố vẫn thường xảy ra hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của người dân.Trong thời gian qua, các chính sách trợ giúp xã hội của Nhà nước đã được thành phố Cẩm Phả nhanh chóng triển khai đến người dân và đạt được nhiều kết quả, mức chuẩn trợ giúp xã hội cao so với nhiều tỉnh thành phố trên cả nước
Tuy nhiên, công tác trợ giúp xã hội trên địa bàn còn nhiều bất cập như: Tiêu chí xác định đối tượng quá chặt, nhiều đối tượng khó khăn chưa được thụ hưởng chính sách; Tổ chức bộ máy ở cơ sở chưa đủ mạnh đáp ứng với yêu cầu thực tiễn; Nguồn tài chính thiếu, cơ chế quản lý liên ngành dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm nguồn lực cho chính sách; Chưa xác định được công cụ, phương tiện giáo dục phù hợp và làm chưa thường xuyên đã dẫn đến hiệu quả chưa cao
Do đó, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên
địa thành phố Cẩm Phả,tỉnh Quảng Ninh” làm định hướng nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về trợ giúp
xã hội và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác này trên địa bàn, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về TGXH trên địa bàn TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
Trang 11- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên địa bàn TP Cẩm Phả
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội địa bàn TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và kết quả thực hiện công tác QLNN về TGXH, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác này tại TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi về nội dung:
Đề tài giới hạn nội dung công tác quản lý nhà nước đối với trợ giúp XH trên các khía cạnh nội dung:
- Công tác trợ giúp XH thường xuyên;
- Công tác trợ giúp XH đột xuất;
- Công tác chăm sóc XH tại cộng đồng
* Phạm vi về không gian:
Nội dung nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
* Phạm vi về thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2017 - 2019
- Thu thập số liệu sơ cấp từ 11/2019 - 04/2020
- Giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2021 - 2025
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác QLNN về trợ giúp xã hội
- Thực trạng công tác QLNN về TGXH tại TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
- Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác QLNN về TGXH tại TP Cẩm Phả
- Giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về TGXH tại TP Cẩm Phả
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
An sinh xã hội
Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì An sinh xã hội (ASXH) là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế
và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [4]
Về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những “rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn đến ngừng hoặc giảm thu nhập Phương thức hoạt động của ASXH là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích của ASXH là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội
ASXH có ba chức năng chủ yếu, đó là: (i) chức năng phòng ngừa tổn thất; (ii) chức năng giảm thiểu rủi ro và (iii) chức năng khắc phục rủi ro
Về mặt cấu trúc hệ thống, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm những bộ phận cơ bản (có thể gọi là các tiểu hệ thống) là:
- Bảo hiểm xã hội
- Trợ giúp xã hội
- Trợ cấp gia đình
- Các quỹ tiết kiệm xã hội
Trang 13Theo tác giả Nguyễn Hải Hữu (2007) thì An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh
tế - xã hội làm cho họ suy giảm, hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động, hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, TGXH và trợ giúp đặc biệt [10]
Bảo trợ xã hội
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) thì Bảo trợ xã hội (BTXH) bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảm hậu quả trong cuộc sống nghèo đói và khó khăn của người dân, hay những thiếu thốn không những về vật chất mà còn là tinh thần Các chương trình BTXH thường được tổ chức như: chuyển tiền mặt hỗ trợ cho trẻ em khó khăn, giúp phát triển kỹ năng sống và hơn thế nữa giúp kết nối các gia đình với chăm sóc sức khỏe, thực phẩm bổ dưỡng và giáo dục chất lượng để cung cấp cho tất
cả trẻ em, bất kể chúng sinh ra trong hoàn cảnh nào, một cơ hội công bằng trong cuộc sống [15]
Ở tại Việt Nam bảo trợ xã hội có thể hiểu là sự giúp đỡ của Nhà nước,
xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạn, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống
và hòa nhập cộng đồng
Vũ Văn Phúc (2012) cho rằng tại Việt Nam, Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của
Trang 14cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội [14]
Cứu trợ xã hội
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị khuyết tật, già yếu dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường
Nguyễn Văn Định (2012) cho rằng Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc hiện vật, có tính tức thời, khẩn cấp và ở mức độ tối cần thiết cho người được trợ cấp khi họ bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng, không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày cho bản thân họ
và gia đình” Cũng với cách tiếp cận này tác giả cũng cho rằng: TGXH là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập lại với cộng đồng [4]
Trợ giúp xã hội
Trợ giúp xã hội (TGXH) theo nghĩa tổng quát được hiểu là những sự giúp đỡ, trợ giúp của cộng đồng, của Nhà nước đến với các đối tượng yếu thế trong xã hội thông qua hình thức hỗ trợ về điều kiện sinh sống, về vật chất để các đối tượng trong diện được trợ giúp có thể phát huy khả năng tự bản thân
lo liệu được cuộc sống, vượt qua được những khó khăn, và có thể dần tái hòa nhập vào cộng đồng
Chủ thể của trợ giúp xã hội ở đây đó là cộng đồng và Nhà nước Tuy nhiên thì ở đây pháp luật về an sinh xã hội chỉ điều chỉnh những quan hệ trợ giúp xã hội đối với chủ thể nhà nước, nguồn kinh phí đến từ nguồn trợ giúp từ
Trang 15ngân sách nhà nước cho đối tượng được xác định là được trợ giúp xã hội
Đối tượng được trợ giúp xã hội là những người được gọi là “yếu thế”, có khó khăn trong đời sống kinh tế, về sức khỏe, hay những người không nơi nương tựa, người cô đơn, trẻ mồ côi, có những thiệt thòi trong cuộc sống Được xác định là những đối tượng mà thực sự cần đến sự giúp đỡ để ổn định cuộc sống
Đối với chế độ trợ giúp xã hội thì các yếu tố về điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, tình trạng tài sản cũng như những nhu cầu thực tế của đối tượng tại các thời điểm phát sinh nhu cầu trợ cấp được xem là yếu tố cơ bản để quy định về những chế độ hưởng trợ cấp về hình thức cứu trợ xã hội mà không cần thiết phải gắn với bất kì khoản đóng góp về yếu tố vật chất, hay yếu tố tinh thần nào
Theo Nguyễn Bích Ngọc (2013) thì TGXH là các biện pháp, giải pháp bảo đảm về tại chính của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng là những người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống, nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng TGXH không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là trách nhiệm của Nhà nước, không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời TGXH không phải là giải pháp toàn diện
về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợp phần của an sinh xã hội [9]
Trang 16+ Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định;
+ Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công
cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh Vậy Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật [4]
Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động
từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước
Quản lý nhà nước về Trợ giúp xã hội
Từ khái niệm về quản lý nhà nước và trợ giúp xã hội trên có thể kết luận:
Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội là sự tác động có tổ chức, có căn
cứ pháp lý của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động trợ giúp
xã hội cho các đối tượng cần trợ giúp xã hội nhằm giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, đảm bảo cuộc sống để hòa nhập với cộng đồng xã hội
1.1.2 Vai trò của trợ giúp xã hội
Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự
Trang 17tiến bộ xã hội, nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát triển xã hội
Thước đo của phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó, có chăm sóc dân cư khó khăn, giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội
Vai trò của TGXH được thể hiện trên những khía cạnh chính sau: Thứ nhất, TGXH thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) của Nhà nước Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình TGXH, Nhà nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hoá giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển Kinh tế thị trường càng phát triển thì
xu hướng phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tăng Để tạo ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi Nhà nước càng phải phát triển mạnh mẽ TGXH để điều hoà các mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình phát triển TGXH sẽ giúp cho việc điều tiết, hạn chế nguyên nhân nẩy sinh mâu thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội
Thứ hai, TGXH thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội: Với chức năng này TGXH sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên
sự phát triển hài hoà giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; giữa các nhóm dân cư
Thứ ba, TGXH có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu và khắc phục rủi ro và giải quyết một số vấn đề xã hội nẩy sinh: TGXH trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro, hạn chế tính dễ bị tổn thương
và khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn
Đồng thời, trong thế giới hiện đại, do khai thác tài nguyên quá mức để
Trang 18phát triển kinh tế, chiến tranh, bệnh dịch, tác động khách quan của các quy luật kinh tế, ảnh hưởng chủ quan trong quá trình quyết định của các chủ thể quản lý đã dẫn đến nẩy sinh các vấn đề xã hội cần giải quyết như: người nghèo, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người cao tuổi cô đơn Bộ phận dân
cư này thường chịu nguy cơ tổn thương cao, không tự chủ quyết định cuộc sống và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của xã hội, Nhà nước Các chính sách trợ cấp
xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ giáo dục đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em mô côi, người nghèo, dân tộc thiểu số sẽ giúp cho bộ phận dân cư giảm bớt khó khăn, ổn định an ninh trật tự xã hội
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh các cơ hội cũng có nhiều thách thức, rủi ro Khi nói đến cơ hội, đến sự thuận lợi mang lại từ hội nhập quốc tế thường là cơ hội cho phát triển kinh tế, ngược lại sự thách thức, rủi ro lại là vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hoá và ô nhiễm môi trường Do vậy, kinh tế thị trường càng phát triển mạnh thì vai trò của TGXH càng lớn, có như vậy mới đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội trong từng bước đi và giai đoạn phát triển của đất nước
TGXH tốt sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững;
vì ngay cả các nhà đầu tư không chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế mà còn chú ý đến các yếu tố của an toàn, ổn định xã hội Một xã hội ổn định giúp các nhà đầu tư yên tâm đầu tư phát triển lâu dài, tạo cho kinh tế tăng trưởng nhanh và
ổn định, ngược lại một xã hội không ổn định sẽ dẫn đến việc đầu tư ngắn hạn, làm ăn theo kiểu "chộp giật" làm cho kinh tế tăng trưởng không bền vững Mặt khác bản thân sự phát triển TGXH cũng là một lĩnh vực dịch vụ tạo nguồn tài chính cho phát triển kinh tế Đồng thời tăng trưởng tạo ra nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần ổn định xã hội và tạo ra sự phát triển bền vững về kinh tế [10]
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội
Với vai trò chủ thể của công tác TGXH, công tác quản lý Nhà nước về
Trang 19TGXH bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây :
1.1.3.1 Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản chính sách
về TGXH
Xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về TGXH là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước nhằm tạo ra các khuôn khổ pháp lý để định hình và điều chỉnh các hoạt động của xã hội có liên quan đến công tác TGXH
Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội ở nước ta đã từng bước được hoàn thiện, đồng bộ và đã được quy định tại nhiều văn bản pháp quy qua từng giai đoạn khác nhau
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp để bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có lĩnh vực trợ giúp xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định chủ trương cần tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 -
2020 cũng nhấn mạnh cần nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục
mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão”
Trang 20Thực hiện chủ trương của Đảng, các cơ quan quản lý Nhà nước đã triển khai xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội Đến nay, đã có trên 10
Bộ luật, luật; 7 Pháp lệnh và hơn 30 Nghị định, Quyết định của Chính phủ; hơn 40 Thông tư, thông tư liên tịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan quy định khuôn khổ pháp luật, chính sách trợ giúp xã hội Trong đó có những văn bản quan trọng như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Trên cơ sở các văn bản pháp quy của các cơ quant rung ương, cơ quan nhà nước có thẩm quyền các cấp ở địa phương (tỉnh, huyện xã) có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện và đề ra các giải pháp thực hiện phù hợp với điều kiện và đặc điểm của địa phương mình
Hệ thống chính sách về TGXH được xây dựng và ban hành đồng bộ, thường xuyên đổi mới đã tạo những cơ sở pháp lý hết sức cơ bản để triển khai các hoạt động TGXH một cách đồng bộ, đúng đối tượng, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh, góp phần đảm bảo an sinh xã hội của đất nước theo đúng chủ trương của Đảng
1.1.3.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về TGXH
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật là một trong những nội dung hết sức quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương
Công tác này nhằm đưa nội dung của chính sách pháp luật đến với các đối tượng cụ thể trong xã hội, giúp cho các đối tượng có lien quan hiểu rõ để thực hiện và thực thi quyền kiểm tra, giám sát trong thực tiễn
Mục tiêu của công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp
Trang 21luật về TGXH là đảm bảo cho các cơ quan, đơn vị chức năng, các đối tượng chính sách và toàn thể người dân nắm vững được mục đích, yêu cầu cũng như mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách TGXH, về tính đúng đắn và khả thi của chính sách TGXH trong giai đoạn hiện nay để từ đó vận động các đối tượng
tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước, cùng tham gia thực hiện tốt các nội dung chính sách đề ra
Hình thức phổ biến chính sách có thể thực hiện khá đa dạng như: trên các phương tiện truyền thông, mở hội nghị tuyên truyền, mở các lớp tập huấn hoặc cấp tờ rơi tuyên truyền về chính sách trợ giúp xã hội
Thông thường ở cấp cơ sở, các đối tượng được phổ biến, hướng dẫn gồm lãnh đạo xã, thị trấn, cán bộ phụ trách lĩnh vực bảo trợ xã hội, giảm nghèo cấp
xã, bí thư, trưởng thôn, tổ trưởng khu dân cư và các đối tượng thụ hưởng TGXH
để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để bảo đảm duy trì cuộc sống cho đối tượng (bao gồm cả chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho người chăm sóc trong những trường hợp không tự chăm sóc được bản thân
Các nhóm đối tượng khác nhau được hưởng các mức trợ cấp khác nhau dựa vào theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn chung và khó khăn nhiều hỗ trợ nhiều, khó khăn ít hỗ trợ ít Chế độ trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và khả năng ngân sách Nhà nước
Trang 22+ Hoạt động trợ giúp BHYT
Trợ giúp y tế nhằm giúp cho đối tượng hưởng trợ cấp như NCT, trẻ em
bị bỏ rơi, mồ côi, NKT, người bị nhiễm HIV, người đơn thân nghèo nuôi con nhỏ… bảo đảm các điều kiện chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng Chính sách trợ giúp y tế được thực hiện bằng việc cung cấp nguồn tài chính trực tiếp để thanh toán các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng hoạt động, sử dụng các dịch vụ y tế cần thiết khác Đồng thời cũng
có thể hỗ trợ chi phí để các cá nhân có thể tham gia bảo hiểm y tế để sử dụng các dịch vụ do BHYT thanh toán khi sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tổ chức công tác trợ giúp xã hội đột xuất
Điều 18, Nghị định Số: 136/2013/NĐ-CP ngày ngày 21 tháng 10 năm
2013 quy định đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng:
- Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật
- Trẻ em có cả cha, mẹ bị chết, mất tích theo quy định của pháp luật mà không có người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc người thân thích không
có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng;
- Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động cần được bảo vệ khẩn cấp
Trang 23trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú hoặc đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà
xã hội;
- Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú hoặc đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
1.1.3.4 Công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động trợ giúp xã hội
Là công tác không thể thiếu trong quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội thường xuyên, do UBND huyện ủy quyền cho cơ quan chuyên môn hoặc thành lập tổ liên ngành thực hiện theo quy định
Hàng năm việc thực hiện thanh kiểm tra cấp tỉnh đối với cấp huyện cũng được thực hiện duy trì
Thời gian thực hiện có thể đột xuất hoặc thường xuyên tùy thuộc vào tính chất, mức độ quản lý đối tượng của từng xã, thị trấn
Tính chất và hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát: thực hiện toàn diện đối với cán bộ thực thi công tác quản lý đối tượng trợ giúp xã hội và toàn diện đối với tất cả các đối tượng đang thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn các xã, thị trấn
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội
1.1.4.1 Hệ thống văn bản chính sách, pháp luật về trợ giúp xã hội
Các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện các quy định về BTXH là căn cứ để kiểm tra, xử lý những trường hợp vi phạm
Nếu hệ thống chính sách, pháp luật không chặt chẽ, đầy đủ, thì việc giải quyết sự việc, tình huống sẽ không triệt để và nhanh chóng, kịp thời
Năng lực hoạch định chính sách và tổ chức thực thi của các cơ quan thể hiện bằng việc ban hành các văn bản có phù hợp không, có khả thi thực hiện không, có đúng với quy định không và có bảo đảm tính khách quan và thực tiễn không Năng lực được đánh giá cả bằng hệ thống tổ chức bộ máy, chuyên môn của cán bộ thực thi chính sách từ Trung ương đến cấp cơ sở
Trang 241.1.4.2 Khả năng của ngân sách Nhà nước
Khả năng của ngân sách nhà nước cao hay thấp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân bổ mức kinh phí dành cho công tác TGXH từ nguồn ngân sách nhà nước Kinh phí lớn đồng nghĩa với việc chế độ trợ giúp cao, đối tượng được mở rộng
Khả năng của Ngân sách lại phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế và mức độ quan tâm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc phân
bổ và sử dụng nguồn ngân sách của mình
Nhìn chung, khi kinh tế phát triển tốt thì ngân sách nhà nước cũng dồi dào và có thể dành những khoản chi lớn hơn cho công tác TGXH
1.1.4.3 Trình độ của đội ngũ cán bộ QLNN về công tác TGXH
Công tác thực hiện chính sách BTXH tốt hay không chịu ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng đội ngũ CBCC làm công tác này Vì nhân tố con người
là nhân tố quyết định thành công của mọi chính sách
Đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất, trình độ chuyên môn yếu thì không thể đảm bảo chất lượng công việc
1.1.4.4 Nhận thức của cộng đồng về công tác trợ giúp xã hội
Nhận thức của cộng đồng về công tác TGXH đóng vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước về TGXH
Nhận thức chung của cộng đồng về TGXH là kết quả trực tiếp của công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến chính sách, pháp luật về TGXH của các cơ quan quản lý nhà nước và của cả hệ thống chính trị
Khi nhận thức được nâng cao, công tác TGXH sẽ thu hút được sự quan tâm, sự chung tay góp sức của cả xã hội, của hệ thống chính trị và của từng hộ gia đình cá nhân, và do vậy sẽ hết sức thuận lợi trong triển khai thực hiện
1.1.4.5 Công tác xã hội hóa các hoạt động về trợ giúp xã hội
Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa công tác TGXH, nhằm huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội của Nhà
Trang 25nước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các dịch vụ công cơ bản cho người dân
Khi công tác xã hội hóa được thực hiện tốt, địa phương sẽ có nhiều nguồn lực được huy động từ các thành phần trong xã hội, trên cơ sở đó sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để triển khai các hoạt động TGXH trên địa phương mình
1.1.4.5 Công tác kiểm tra, giám sát về trợ giúp xã hội
Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách là quá trình lãnh đạo cấp trên tổ chức kiểm tra định kỳ hàng năm xem việc thực hiện chính sách do cấp trên ban hành có đúng không, có vấn đề bất cập nào cần giải quyết hay không…từ đó có biện pháp khắc phục, điều chỉnh sao cho chính sách được thực hiện đúng và mang lại hiệu quả cao Đồng thời phát hiện và
xử lý kịp thời các vi phạm nếu có
Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát sẽ có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý nhà nước về TGXH ở các cấp
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trong công tác bảo hiểm y tế cho người nghèo, các chương trình bảo hiểm y tế của Trung Quốc là các mô hình đã cho thấy tầm quan trọng của khu vực tư nhân trong việc triển khai/thực hiện các chương trình của chính phủ Tính hợp lý của việc cung cấp gói lợi ích ban đầu vừa phải để bao phủ được tới các đối tượng người nghèo với chất lượng dịch vụ đảm bảo vừa đầy đủ vừa chất lượng Sau đó, mới từng bước mở rộng gói lợi ích cho người dân, cách thức này đã làm cho người dân phấn khởi và tin tưởng vào chính sách của chính phủ được ban hành
Đối với lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cách thức tổ chức lưu trữ hồ sơ trong
hệ thống hưu trí vừa có thể cung cấp những ưu đãi cho người lao động khu
Trang 26vực phi chính thức có thể tham gia hệ thống lương hưu mới, hay làm thế nào
để phục vụ thật tốt, thật đáng tin cậy và không vì lợi nhuận cho người dân ở khu vực này, như vậy sẽ khuyến khích họ tin tưởng và tham gia vào hệ thống nhằm có cuộc sống đảm bảo khi về già
Chương trình Việc làm công được Chính phủ Trung Quốc ban hành thông qua Luật về Bảo đảm Việc làm nông thôn nhằm đảm bảo việc làm có thu nhập cho người lao động ở nông thôn Mục tiêu chủ yếu của chương trình là giảm nghèo và tiêu chí về giới đã được đưa vào với đối tượng thụ hưởng chương trình (dành ít nhất 1/3 số việc làm này cho phụ nữ) Tất cả những việc làm này đều thực hiện ở nông thôn và nhằm phục vụ đời sống ở những vùng nông thôn nghèo
Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan có dân số gần 70 triệu người với một lực lượng lao động là gần 40 triệu và 41% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Có thể kể đến 2 chương trình TGXH tiêu biểu ở Thái Lan là Chương trình TGXH cho người cao tuổi và Chương trình y tế 30 Baht
Chương trình trợ giúp xã hội cho người cao tuổi: Chương trình lương hưu cho người cao tuổi được phê duyệt vào năm 1993 với sự bảo trợ của Bộ Phúc lợi công Nguồn tài chính cho chương trình này được lấy từ ngân sách nhà nước và được phân bổ đến các tỉnh, thành phố theo số lượng đối tượng được ưu tiên trợ giúp
Chương trình y tế 30 Baht: Đây là chương trình bảo hiểm y tế (BHYT) cho những người nghèo, không có việc làm ổn định và không được đóng BHYT bởi cơ quan, tổ chức nào Chương trình được thực hiện vào tháng 10/2001, là sự tổng hợp tất cả các chương trình BHYT hiện có thuộc Bộ Y tế công cộng và Đề án thẻ BHYT (500 Baht/thẻ cho gia đình) Mục tiêu của chương trình này là cung cấp BHYT đầy đủ cho tất cả công dân Thái Lan không được đóng BHYT
Trang 27Nguồn hình thành quỹ Chương trình y tế 30 Baht là từ ngân sách nhà nước, được tài trợ từ nguồn thu của Chính phủ Người đủ điều kiện phải đăng
ký để có được một thẻ bảo hiểm miễn phí và phải trả một mức giá thanh toán
30 Baht cho mỗi lần khám bệnh kể cả bệnh viện tư hoặc bệnh viện công, phần chi phí còn lại trong việc khám chữa bệnh sẽ do Chính phủ chi trả
Nguồn quỹ trên được sử dụng chi trả cho các bệnh viện nơi những người lao động có thẻ BHYT tham gia chữa bệnh
Đối với bệnh nhân nội trú, Chính phủ trả phí cho các bệnh viện theo phác đồ chữa bệnh của bệnh nhân Đối với bệnh nhân ngoại trú, Chính phủ trả tiền một lần số tiền cho các bệnh viện cho số lượng cá thể đã đăng ký để nhận được dịch vụ từ các bệnh viện [8]
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam
Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Thuận
Năm 2019 trên địa bàn toàn tỉnh Ninh Thuận công tác triển khai thực hiện các hoạt động trợ giúp xã hội đã đạt được nhiều kết quả, công tác trợ giúp thường xuyên, trợ giúp đột xuất và các chính sách trợ giúp khác được triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời, đã giúp đối tượng từng bước ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần làm giàu quê hương, đất nước
Về công tác tổ chức triển khai thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội đã chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về chính sách trợ giúp xã hội thông qua các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho lãnh đạo và cán bộ phụ trách lĩnh vực bảo trợ xã hội của các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn; cộng tác viên công tác xã hội; lãnh đạo, viên chức và nhân viên các cơ sở bảo trợ xã hội công lập và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh Trong năm, đã tổ chức 06 lớp tập huấn, với 1.255 đại biểu tham gia
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tại địa phương, hướng dẫn các đơn vị liên quan tổ chức thu thập và
Trang 28cập nhật, khai thác sử dụng có hiệu quả dữ liệu phần mềm thông tin về hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình có đối tượng bảo trợ xã hội
Tỉnh đã thực hiện chi trả trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng với tổng kinh phí thực hiện gần 117 tỷ đồng (trong đó, chi trợ cấp hàng tháng cho 21.103 đối tượng, với kinh phí thực hiện 102 tỷ đồng; chi mai táng phí cho 1.271 đối tượng, với kinh phí 6,8 tỷ đồng; chi bảo hiểm y tế cho 15.233 đối tượng, với kinh phí 10,7 tỷ đồng; chi cứu trợ đột xuất cho 09 đối tượng, với kinh phí 48,6 triệu đồng); Chi trả trợ cấp bảo trợ xã hội tại cộng đồng được thực hiện thông qua hệ thống Bưu điện
Tỉnh có 06 cơ sở bảo trợ xã hội công lập và ngoài công lập, đã nuôi dưỡng chăm sóc 355 đối tượng (trong đó trẻ em: 78 đối tượng, người già: 65 đối tượng, người khuyết tật: 212 đối tượng) và cấp thẻ bảo hiểm y tế; tổng kinh phí thực hiện trên 04 tỷ đồng
Công tác chăm lo, động viên tinh thần cho người cao tuổi luôn được tỉnh quan tâm triển khai thực hiện kịp thời, đúng quy định
Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện xuyên suốt những chủ trương, chính sách, chương trình như: giảm nghèo, chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em; dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động nói chung và người yếu thế nói riêng đã thật sự phát huy hiệu quả, từ đó giúp người nghèo tự lực vươn lên thoát nghèo, từng bước ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội [16]
Kinh nghiệm của huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Huyện Lộc Bình đã có nhiều kinh nghiệm tốt trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế tại địa phương, cụ thể:
- Hỗ trợ về giáo dục, đào tạo:
Tổ chức thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn với chủ trương ưu tiên lao động thuộc diện hưởng chính sách người có công với cách mạng, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người thuộc hộ
Trang 29gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân có nguyện vọng, nhu cầu học nghề để được tham gia học nghề
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tổ chức dạy nghề cho lao động thuộc hộ nghèo gắn với tạo việc làm
Ưu đãi và khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng hoạt động ở các xã khó khăn hoặc thu hút nhiều lao động là người nghèo bằng các chính sách thuế, tiền thuê đất
Hỗ trợ lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo về chi phí học nghề, vay vốn đi xuất khẩu lao động; Đa dạng hóa các hình thức, biện pháp hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo tự tạo việc làm như hỗ trợ vốn vay qua các chương trình,
dự án giải quyết việc làm
- Hỗ trợ về y tế:
Thực hiện cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người thuộc hộ nghèo và hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế cho người thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế
Thực hiện lồng ghép đầu tư nâng cấp trạm y tế với thực hiện chuẩn quốc gia về y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế
- Hỗ trợ về nhà ở:
Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo Quyết định số 33/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ cho 3.919 hộ nghèo của tỉnh Lạng Sơn (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) thuộc diện được hỗ trợ (trong đó, năm 2016 hỗ trợ 391 hộ, năm 2017 hỗ trợ 784 hộ, năm
2018 hỗ trợ 980 hộ, năm 2019 hỗ trợ 980 hộ và năm 2020 hỗ trợ 784 hộ), trên
cơ sở nguồn lực hỗ trợ của Trung ương, ngân sách tỉnh, huyện, vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội, Quỹ vì người nghèo, sự ủng hộ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, dòng họ và sự tự lực của chính hộ nghèo
Trang 30Hỗ trợ từ ngân sách địa phương mức 5 triệu đồng/hộ cho hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo đủ điều kiện hỗ trợ về nhà ở theo đề án đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2063/QĐ-UBND ngày 29/7/2016
Các cấp, các ngành chủ động phối hợp với Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và chính quyền địa phương, các doanh nghiệp để thực hiện chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết, xóa nhà dột nát cho hộ nghèo là đoàn viên, hội viên của tổ chức mình
Thực hiện chính sách xã hội hóa thu hút vốn đầu tư nhà ở xã hội từ các thành phần kinh tế để thực hiện chính sách về nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho người nghèo, người có thu nhập thấp, người có công trên địa bàn tỉnh; quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Hỗ trợ về nước sạch và vệ sinh môi trường:
Thực hiện chính sách đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn đạt mục tiêu 100% số xã có nước sạch Xây dựng cơ chế hỗ trợ cho hộ nghèo đấu nối đồng hồ nước để 100% hộ nghèo được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh
- Hỗ trợ về thông tin:
Hỗ trợ phương tiện nghe, nhìn cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ đầu thu truyền hình số mặt đất tới các hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn toàn tỉnh; Xây dựng chính sách hỗ trợ cung cấp dịch vụ điện thoại cố định mặt đất trả sau và dịch vụ thông tin di động mặt đất trả sau cho các hộ nghèo,
hộ cận nghèo Xây dựng các điểm tuyên truyền, cổ động cố định; trang bị phương tiện tác nghiệp, xây dựng nội dung chương trình thông tin, tuyên truyền cổ động cho các đội thông tin cơ sở Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo, người cận nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo [17]
Trang 31 Kinh nghiệm của huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc
Huyện Bình Xuyên đang thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 3.952 đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136 của Chính phủ, trong đó có 2.238 người từ 80 tuổi trở lên, 1.323 người khuyết tất; 150 khuyết tật đặc biệt nặng
Huyện Bình Xuyên đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội, nhất là trợ giúp thường xuyên và trợ giúp đột xuất cho các đối tượng khó khăn, hộ thiếu lương thực trong dịp Tết Nguyên đán và dịp giáp hạt, thực hiện kịp thời các chế độ, chính sách đối với đối tượng bảo trợ xã hội nhằm giúp các đối tượng ổn định cuộc sống
Phòng Lao động - Thương bình và xã hội huyện chủ động tham mưu UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo hoặc lồng ghép các chính sách bảo trợ xã hội vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Cùng với đó, tập trung làm tốt công tác thẩm định hồ sơ; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến nội dung các chính sách lĩnh vực bảo trợ xã hội của Trung ương, của tỉnh, giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng như toàn thể người dân nắm bắt được các chủ trương, chính sách của Nhà nước Vì vậy, trên địa bàn không có tình trạng bỏ sót đối tượng, không có đối tượng bảo trợ xã hội nào không được thụ hưởng đầy đủ các chế độ chính sách do Nhà nước quy định
Tính riêng năm 2019, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện
đã thẩm định hồ sơ, trình UBND huyện ký quyết định cho 300 đối tượng hưởng chế độ trợ cấp xã hội tại cộng đồng; thẩm định và đề nghị cho hơn 100 đối tượng là người khuyết tật tại 13 xã, thị trấn được hưởng trợ cấp theo Nghị định 136 của Chính phủ Thẩm định và trình Chủ tịch UBND huyện hỗ trợ chi phí mai táng cho 108 đối tượng; điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng cho 14 đối tượng khuyết tật sang hưởng chế độ người cao tuổi khuyết tật và 17 người khuyết tật trẻ sang hưởng chế độ trợ cấp đối với người khuyết tật từ 16 tuổi
Trang 32trở lên Nhìn chung, công tác chi trả trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định; 100% đối tượng bảo trợ xã hội đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế
Không chỉ làm tốt công tác bảo trợ xã hội, những năm qua, bằng những giải pháp đồng bộ, hiệu quả, huyện Bình Xuyên còn đạt nhiều kết quả tích cực trong công tác xóa đói, giảm nghèo, góp phần ổn định đời sống nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển
Huyện đã chú trọng tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo; phân công cán bộ phụ trách từng xã, thị trấn để chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng Cùng với đó, yêu cầu các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch giảm nghèo phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; chỉ đạo các thôn, tổ dân phố phân công các chi hội, đoàn thể, cán bộ đảng viên phụ trách từng hộ nghèo và giúp các hộ nghèo tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ sản xuất
và dịch vụ xã hội cơ bản; tích cực hướng dẫn các hộ nghèo lập phương án và
tổ chức sản xuất, kinh doanh theo khả năng, trình độ, quy mô sản xuất từng vùng, từng hộ [18]
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu,
Trang 33thiên tai, hỏa hoạn và các nguyên nhân bất khả kháng, (4) Đã từng bước quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội và dịch vụ trợ giúp xã hội Tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp cơ bản cho thời gian tới bao gồm: (1) Phải đổi mới quan điểm, coi trợ giúp xã hội từ hoạt động nhân đạo sang quan điểm bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng trợ giúp xã hội, (2) Từng bước nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm sự tương quan với các chính sách xã hội khác, (3) Quá trình phát triển của chính sách trợ giúp xã hội phải gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, (4) Hoàn thiện quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội và (5) Từng bước hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết chính sách chế độ về an sinh xã hội và trợ giúp xã hội [8]
Stephen Kidd và cộng sự (2016) trong nghiên cứu “Tổng quan và đề xuất đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội Việt Nam” đã phân tích chi tiết cấu trúc
hệ thống trợ giúp xã hội tại Việt Nam và đưa ra các nhận định chính: (i) Các chính sách trợ giúp xã hội còn nhiều hạn chế và dường như bỏ sót phần lớn dân số trong độ tuổi lao động có thu nhập thấp và bảo trợ xã hội đã không bảo phủ được toàn bộ các giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc đời của đối tượng
dễ bị tổn thương, (ii) Những hạn chế về thủ tục hành chính, cơ chế vận hành
và tổ chức bộ máy cần được khắc phục ở cả ba trụ cột của hệ thống trợ giúp
xã hội - trợ giúp xã hội thường xuyên, trợ giúp xã hội đột xuất và chăm sóc xã hội Nghiên cứu cũng đề xuất những đổi mới cơ bản cho Việt Nam là: (i) Cần
mở rộng trợ giúp xã hội thường xuyên bằng tiền mặt theo ba giai đoạn của vòng đời con người - trẻ em, khuyết tật và tuổi già, và thực hiện “sàn an sinh
xã hội” phổ cập cho người dân, (ii) Cần tập trung đầu tư thêm cho trợ giúp đột xuất nhằm tăng cường khả năng ứng phó và phục hồi nhanh sau các thảm họa
và cú sốc kinh tế xã hội lớn, (iii) cải thiện chất lượng dịch vụ và quan trọng hơn là cần tăng thêm cơ hội cho khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội [15]
Trang 341.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Thành phố Cẩm Phả
Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, các chính sách và giải pháp
bảo đảm ASXH Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật về ASXH, nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả các quy định, chính sách, chế độ ASXH
Hai là, hoàn thiện tổ chức, bộ máy, cơ chế quản lý, thực hiện công tác
ASXH theo hướng đa dạng hóa tổ chức dịch vụ ASXH Rà soát, củng cố và hoàn thiện hệ thống các cơ quan thực hiện công tác ASXH các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở Tăng cường lực lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH
Ba là, tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH; thực hiện tốt sự phối kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và mạng lưới các tổ chức thực hiện chính sách ASXH; xây dựng bộ chỉ số ASXH làm cơ sở để theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện ASXH của đất nước trong từng thời kỳ và tham chiếu với quốc tế
Bốn là, tăng cường công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền, phổ
biến đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các thông tin về ASXH nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể và người dân về lĩnh vực này
Năm là, tăng cường sự đầu tư của Nhà nước, làm tốt công tác xã hội hóa, huy động sự tham gia của toàn xã hội và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế trong việc đảm bảo ASXH Nhà nước tăng cường đầu tư bảo đảm nguồn lực
và cơ chế tài chính thực hiện ASXH theo phương châm từng bước mở rộng diện bao phủ tiến tới bao phủ toàn dân Quản lý chặt chẽ quỹ ASXH, hình thành các quỹ dự phòng và cơ chế hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng khi có rủi
ro đột xuất
Trang 35Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THÀNH PHỐ CẨM PHẢ VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Cẩm Phả
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Thành phố Cẩm Phả là một khu công nghiệp khai thác than lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc nước ta Thành phố Cẩm Phả có
16 đơn vị hành chính gồm 13 phường và 3 xã.Thành phố có tổng diện tích tự nhiên: 34.322,71 ha với 35,4 km bờ biển
Thành phố Cẩm Phả có địa giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, huyện Tiên Yên; Phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ; Phía Đông giáp huyện Vân Đồn; Phía Tây giáp thành phố Hạ Long, huyện Hoành Bồ
Địa hình: Cẩm Phả là một thành phố vùng đồi núi, biển đảo có địa hình phức tạp Địa hình nghiêng dần từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
- Khí hậu
Thành phố Cẩm Phả là vùng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời chịu ảnh hưởng của biển nên nóng ẩm và mưa nhiều Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hanh rét kéo dài vào các tháng 11, 12, 1, 2
Nhiệt độ trung bình trong năm là 230C Nhiệt độ chênh lệch tháng nóng nhất (tháng 7 là 390C) và tháng lạnh nhất (tháng 2 là 80C) là 310C Biên độ ngày đêm từ 60C đến 80C Lượng mưa trung bình trong năm là 2.307 mm
Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 là 629,2 mm và thấp nhất vào tháng 1
là 0,83mm Tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ 1700 - 1800 giờ/năm
Độ ẩm trung bình là 84,6% Lượng nước bốc hơi trung bình là 97mm Cẩm Phả do gần biển nên biên độ nhiệt độ ngày đêm giao động thấp (từ 60C -
Trang 3680C) Có gió biển thổi nên không khí mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông
và có độ ẩm cao, thuận lợi cho du lịch, nghỉ dưỡng và phát triển ngành nông lâm nghiệp
- Thuỷ văn
Do địa hình dốc nghiêng theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, địa hình nội thành phố dốc theo thướng Bắc Nam (hướng nước chảy ra biển), lượng mưa hàng năm lớn đã hình thành lên một hệ thống kênh, suối dầy, lòng suối hẹp và có độ dốc lớn Nguồn nước chính phục vụ sản suất và sinh hoạt là nguồn nước của đập Cao Vân, nhà máy nước Diễn Vọng và nguồn nước ngầm
2.1.2.3 Tài nguyên
- Tài nguyên than đá
Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá Tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn, trữ lượng có thể khai thác 2,5 tỷ tấn (trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than Quảng Ninh) Ở đây, mật độ chứa than trong khối kiến trúc mỏ có
hệ số cao nhất, nhiều vỉa dày, chất lượng than tốt, tiện đường chuyên chở ra cảng nước sâu Ngoài than, antimon ở Khe Sim - Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng ở Quang Hanh đều là những tài nguyên quý
- Tài nguyên đất, nước
Cẩm Phả có ít đất nông nghiệp: 1.196 ha, trong đó đất trồng rau mầu và cấy lúa 434 ha, đất có mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản 315 ha Đất lâm nghiệp khá rộng, 13.504 ha, trong đó rừng tự nhiên 12.094 ha, rừng trồng có 1.410 ha Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 35 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt ven bờ, sản lượng thấp, đang đóng thêm tầu có công suất lớn để đánh cá tuyến khơi
- Tài nguyên Du lịch
Đền Cửa Ông mở hội vào tháng Giêng, hàng năm thu hút hàng vạn khách tham quan, chiêm bái Cẩm Phả còn có nhiều cảnh đẹp Động Hang Hanh có cửa vào từ vịnh đi thuyền suốt lòng núi chưa được khai thác Gần
Trang 37đây ở khu đảo Vũng Đục phát hiện những hang động kỳ thú Ngoài Hòn Hai - Đảo Nêm trong vịnh Bái Tử Long đã hình thành một khu nghỉ ngơi của công nhân mỏ Cẩm Phả còn có đảo Rều, một cơ sở nuôi thả hàng nghìn con khỉ vừa là nguồn nguyên liệu cho y dược vừa là một địa chỉ tham quan rất hấp dẫn
2.1.1.4 Tình hình sử dụng đất
Thành phố cẩm phả có tổng diện tích tự nhiên khá lớn là 34.322,71 ha Diện tích đất của Cẩm Phả có cả một tỷ trọng khá lớn đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản
Tình hình và cơ cấu sử dụng đất của thành phố Cẩm Phả được nêu trên Bảng 2.1
Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất của thành phố Cẩm Phả năm 2019
3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 2,31 0,01
5 Đất phi nông nghiệp khác 0,74 0,00
2 Đất đồi núi chưa sử dụng 578,85 1,69
3 Núi đá không có rừng cây 2.425,85 7,07
(Nguồn: Chi cục thống kê thành phố Cẩm Phả )
Trang 38Từ bảng 2.1 cho thấy: Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (65,84%), đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ thấp nhất (9,37%) Đất phi nông nghiệp chiếm 24,79%, trong đó đất chuyên dùng chiếm tỷ lệ cao nhất
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm dân số và lao động
Tình hình dân số và lao động của Thành phố Cẩm Phả phân theo đơn
vị hành chính được nêu trên bảng 2.2
Qua biểu 2.2 có thể thấy, toàn TP hiện có số dân là 176.577 người, trong đó có 110.860 lao động
Dân số và lao động tập trung chủ yếu tại 13 phường của thành phố, còn lại dân số của 3 xã tương đối thấp
Mật độ dân số bình quân toàn Thành phố là 410 người/km2, tuy nhiên
có sự khác biệt lớn giũa các phường và xã: Mật độ dân số nội thị là: 1.264 người/km2, trong khi đó mật độ dân số ngoại thị là: 92 người/km2
Bảng 2.2 Dân số và lao động TP Cẩm Phả (2019)
(người)
Lao động (người)
Trang 3912 Phường Cửa Ông 12.001 6.125
Cộng 176.577 110.860
(Nguồn: Chi cục Thống kê TP Cẩm Phả)
Trong tổng dân số thành phố Cẩm Phả là 176.577 người thì:
- Số dân nội thị là 158.882 người chiếm 90,54%;
- Số dân ngoại thị là: 17.698 người, chiếm 9,46%;
- Số người trong độ tuổi lao động là: 101.160 người, chiếm 57,28%;
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 1,04%;
- Tỷ lệ tăng dân số cơ học là: 1,41%
Dân số tăng nhanh làm cho nhu cầu về nhà ở, việc làm, sinh hoạt tăng theo nguy cơ dẫn tới các vấn đề về môi trường đã và đang ngày càng gia tăng cùng với đó sẽ kéo theo sự gia tăng các đối tượng cần được trợ giúp xã hội
2.1.2.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng
* Về giao thông
- Quốc lộ 18A chạy qua với tổng chiều dài 62 km và chạy trong nội thị
30 km Đường 326 (đường 18B cũ) từ xã Dương Huy đến phường Mông Dương chạy ở phía tây dài 25 km chủ yếu dùng cho lâm nghiệp và vận tải mỏ 100% các con đường trong khu dân cư nội thành phố được bê tông hoá hoặc rải nhựa
- Đường sắt dài 78 km chuyên dùng để vận chuyển than từ các mỏ về nhà máy Tuyển than Cửa Ông để sàng tuyển và xuất khẩu
- Đường thuỷ: Với chiều dài bờ biển 35,4 km nên giao thông đường thuỷ rất phát triển Trên địa bàn thành phố có 01 bến tầu chuyên phục vụ khách du lịch và vận chuyển khách chạy tuyến Móng Cái - Cẩm Phả - Hạ
Trang 40Long - Hải Phòng và các tuyến khác, có 9 cụm cảng biển có mực nước biển sâu dùng để vận chuyển than tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
* Về xây dựng cơ bản
- Cẩm Phả là một thành phố công nghiệp có tốc độ xây dựng phát triển nhanh nên có một hệ thống có sở hạ tầng khá hoàn thiện, Từ năm 2010 đến nay các công trình xây dựng cơ bản của thành phố Cẩm Phả:
- Các khu đô thị ven mới được hình thành: Khu đô thị N6, N7 phường Cẩm Bình, khu dân cư phía Đông bãi tắm Bến Do phường Cẩm Bình, khu dân
cư N4, N5 phường Cẩm Thành, khu Đô thị phường Cẩm Trung với tổng diện tích đất ở đô thị là 96,4 ha
- Các dự án quy hoạch khu vui chơi giải trí, du lịch: Khu vui chơi thanh thiếu nhi phường Cẩm Thuỷ, Quảng trường 12 tháng 11, vườn hoa phường Cẩm Tây, đã đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí, chỗ ở cho nhân dân trên địa bàn thành phố
- Nhà ở của nhân dân được xây dựng kiên cố, trong nội thành phố chủ yếu là nhà cao tầng còn các xã miền núi 100% nhà dân đều lợp ngói
- Năm 2005, tuyến tránh Quốc lộ 18A được làm mới và đến năm 2007 đưa và sử dụng Năm 2006, đường 326 (đường 18B cũ) từ xã Dương Huy đến phường Mông Dương chạy ở phía tây dài 25 km chủ yếu dùng cho lâm nghiệp và vận tải mỏ đã được nâng cấp, cải tạo, mở rộng Quốc lộ 18A, đoạn
từ phường Cửa Ông đến hết xã Cộng Hoà đang được nâng cấp mở rộng Các con đường nối giữa Quốc lộ 18A mới với Quốc lộ 18A cũ trong nội thị được
mở rộng và nâng cấp cải tạo lại
- Một số chợ được đầu tư xây mới: Chợ Cẩm Phú, Chợ Cẩm Đông, chợ Cẩm Bình, chợ Cẩm Thuỷ được đầu tư xây mới lại Hệ thống trường học được xây mới và nâng cấp sửa chữa và nhiều công trình khác được đầu tư xây mới và nâng cấp sửa chữa trên địa bàn thành phố Cẩm Phả
2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của thành phố Cẩm Phả