1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển sản xuất cây dược liệu cà gia leo theo chuỗi giá trị trên địa bàn huyện yên thủy, tỉnh hòa bình

118 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ (14)
    • 1.1. Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị (14)
      • 1.1.1. Chuỗi giá trị theo khung Michael Porter (14)
      • 1.1.2. Chuỗi giá trị theo Kaplinsky và Morris (16)
      • 1.1.3. Chuỗi cung ứng (18)
      • 1.1.4. Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng (22)
      • 1.1.5. Khung phân tích chuỗi giá trị (23)
    • 1.2. Phát triển nông sản theo chuỗi giá trị (25)
    • 1.3. Nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông sản theo chuỗi giá trị (26)
      • 1.3.1. Nội dung phát triển nông sản theo chuỗi giá trị (26)
      • 1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị (32)
    • 1.4. Cơ sở thực tiễn về phát triển phát triển nông sản theo chuỗi giá trị (35)
      • 1.4.1. Kinh nghiệm phát triển nông sản theo chuỗi giá trị ở một số nước (35)
      • 1.4.2. Kinh nghiệm phát triển hàng hóa nông sản theo chuỗi giá trị ở một số địa phương (43)
      • 1.4.3. Một số nghiên cứu có liên quan (46)
      • 1.4.4. Bài học rút ra cho huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (47)
  • Chương 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (49)
    • 2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (49)
      • 2.1.1. Các đặc điểm tự nhiên (49)
      • 2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội (51)
    • 2.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến phát triển cây dược liệu của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (58)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (61)
      • 2.3.1. Chọn điểm nghiên cứu (61)
      • 2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu (61)
      • 2.3.3. Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu (63)
      • 2.3.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu (63)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (64)
    • 3.1. Thực trạng trồng và phát triển cây dược liệu Cà gai leo của huyện Yên Thủy 55 1. Diện tích và quy mô (64)
      • 3.1.2. Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của UBND huyện Yên Thủy và (67)
      • 3.1.3. Tình hình đầu tư vào trồng cây dược liệu Cà gai leo của huyện Yên Thủy . 62 3.1.4. Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ (71)
    • 3.2. Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cây dược liệu Cà gai leo (75)
      • 3.2.1. Nông dân (75)
      • 3.2.2. Hợp tác xã (77)
      • 3.2.3. Thương lái (77)
      • 3.2.4. Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ (78)
      • 3.2.5. Người tiêu dùng (79)
    • 3.3. Các hoạt động trong chuỗi giá trị cây dược liệu Cà gai leo (79)
      • 3.3.1. Hoạt động thúc đẩy chuỗi phát triển (79)
      • 3.3.2. Phân tích chuỗi giá trị phát triển cây dược liệu theo chuỗi giá trị tại huyện Yên Thủy (84)
      • 3.3.3. Xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia chuỗi (92)
      • 3.3.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) của phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu Cà gai leo huyện Yên Thủy (98)
    • 3.4. Định hướng và giải pháp phát triển cây dược liệu theo chuỗi giá trị tại huyện Yên Thủy (101)
      • 3.4.1. Định hướng phát triển cây dược liệu theo chuỗi giá trị tại huyện Yên Thủy (101)
      • 3.4.2. Giải pháp phát triển cây dược liệu theo chuỗi giá trị tại huyện Yên Thủy (102)
  • KẾT LUẬN (106)

Nội dung

Xét ở một góc độ khác, chuỗi giá trị còn được nhìn thông qua các quá trình kinh doanh chủ đạo, bao gồm: a Quá trình phát triển công nghệ sản phẩm; b Quá trình quản trị kho và nguyên vật

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ

Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị

1.1.1 Chuỗi giá trị theo khung Michael Porter

Chuỗi giá trị cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn sách best-seller của ông có tựa đề:

“Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance” (Lợi thế cạnh tranh: Tạo và duy trì thành tích vượt trội trong kinh doanh)

Theo Michael Porter thì chuỗi giá trị của một ngành, một doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi được cấu hình một cách thích hợp…Theo đó, chuỗi giá trị là một chuỗi các hoạt động mà các sản phẩm trải qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo một thứ tự và tại mỗi hoạt động thì sản phẩm đó gia tăng thêm một số giá trị Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại

Chuỗi giá trị (value chain) – là khung mẫu cơ sở để suy nghĩ một cách chiến lược về hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời đánh giá chi phí và vai trò tương đối của chúng trong việc khác biệt hóa Khác biệt giữa giá trị với chi phí thực hiện các hoạt động cần thiết để tạo ra sản phẩm/ dịch vụ ấy sẽ quyết định mức lợi nhuận Chuỗi giá trị giúp ta hiểu rõ các nguồn gốc của giá trị cho người mua (buyer value) đảm bảo một mức giá cao hơn cho sản phẩm, cũng như lý do tại sao sản phẩm này có thể thay thế sản phẩm khác Chiến lược là một cách sắp xếp và kết hợp nội tại các hoạt động một cách nhất quán, cách thức này phân biệt rõ ràng doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác

Về tổng thể có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi được chia thành hai nhóm:

Nhóm hoạt động chính thì bao gồm dãy năm loại hoạt động: Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; Vận hành, sản xuất - kinh doanh; Vận chuyển ra bên ngoài; Marketing và bán hàng; Cung cấp các dịch vụ liên quan

Nhóm bổ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm: Hạ tầng, quản trị nhân lực, công nghệ và mua sắm Các hoạt động bổ trợ xảy ra bên trong từng loại hoạt động chính

* Nhóm các hoạt động chính Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh (hay còn gọi là hậu cần đến - inbound logistics): Những hoạt động này liên quan đến việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp

Sản xuất: Các hoạt động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành sản phẩm hoàn thành

Vận chuyển ra bên ngoài hay hậu cần ra ngoài (outbound logistics): Đây là những hoạt động kết hợp với việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua, chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trị nguyên vật liệu, quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình – kế hoạch

Marketing và bán hàng: Những hoạt động này liên quan đến việc quảng cáo, khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữa các thành viên trong kênh và định giá

Dịch vụ liên quan: Các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng hoặc duy trì giá trị sản phẩm

* Các hoạt động bổ trợ

Cơ sở hạ tầng: Chúng không chỉ hỗ trợ cho một hoặc nhiều các hoạt động chính mà còn hỗ trợ cho cả tổ chức Các doanh nghiệp lớn thường bao gồm nhiều đơn vị hoạt động; Chúng ta có thể nhận thấy rằng các hoạt động này được phân chia giữa các trụ sở chính và các công ty con

Quản trị nguồn nhân lực: Đây chính là những hoạt động liên quan đến việc chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thể nhân viên trong tổ chức, có hiệu lực cho cả hoạt động chính và hoạt động bổ trợ

Công nghệ: Có ý nghĩa rất rộng trong bối cảnh ngày nay, theo quan điểm của M.Porter thì mọi hoạt động đều gắn liền với công nghệ, có thể là bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệ được sử dụng trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm

Mua sắm: Thu mua liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào được sử dụng trong chuỗi giá trị của công ty Việc này bao gồm nguyên vật liệu, nhà cung cấp và các thiết bị khác cũng như tài sản

Xét ở một góc độ khác, chuỗi giá trị còn được nhìn thông qua các quá trình kinh doanh chủ đạo, bao gồm: (a) Quá trình phát triển công nghệ sản phẩm; (b) Quá trình quản trị kho và nguyên vật liệu, đầu vào; ( c) Quá trình từ đặt hàng tới thanh toán; và (d) Quá trình cung cấp dịch vụ

Chuỗi giá trị có thể có phạm vi trong một địa phương, quốc gia, và toàn cầu

* Chuỗi giá trị nông nghiệp Được xem như một chuỗi hoạt động làm gia tăng giá trị trong sản xuất nông nghiệp được thực hiện bởi các cá nhân và tổ chức khác nhau Nói một cách đơn giản, các sản phẩm nông nghiệp ở dạng sản phẩm thô ban đầu sẽ được thu mua, xử lý, phân phối, tinh lọc, bao gói, tiếp thị và được bán thông qua các cơ sở kinh doanh nông nghiệp Chuỗi hoạt động này sẽ cho phép các đối tác tham gia chuỗi giá trị hoạch định chiến lược kinh doanh, liên kết và tổ chức hợp đồng với nhau và cùng thu lợi nhuận từ những giá trị gia tăng

1.1.2 Chuỗi giá trị theo Kaplinsky và Morris

“Chuỗi giá trị bao gồm toàn bộ các hoạt động cần thiết để đưa ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ một ý tưởng thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi sử dụng” (Nguồn: Kaplinsky, 1999, trang 121; Kaplinsky và Morris, 2001, trang 4) Chuỗi giá trị tồn tại khi mà tất cả các tác nhân tham gia vào hoạt động của chuỗi theo cách để tối ưu hoá việc tạo ra giá trị dọc theo chuỗi

Phát triển nông sản theo chuỗi giá trị

Theo cách hiểu chung nhất, hàng nông sản hay nông sản hàng hóa được hiểu là các sản phẩm nông nghiệp được dùng để trao đổi, mua bán

Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị là tổng thể hoạt động của các chủ thể nhằm làm tăng giá trị tại mỗi khâu trong quy trình từ cung cấp đầu vào, sản xuất, thu mua gom, sơ chế, phân phối, tiêu dùng hàng nông sản và đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế cho tất cả các tác nhân tham gia chuỗi

- Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị là động lực thúc đẩy ngành nông nghiệp và các ngành kinh tế có liên quan khác phát triển - Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị là giải pháp quan trọng tích lũy vốn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia

- Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị góp phần mở rộng thị trường, xây dựng các mô hình kinh tế mới

- Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị là phương án tối ưu để giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người nông dân

- Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị góp phần thúc đẩy mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế

- Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị cho phép khai thác tối đa những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.

Nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông sản theo chuỗi giá trị

1.3.1 Nội dung phát triển nông sản theo chuỗi giá trị

1.3.1.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị Để phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị cần có chiến lược và quy hoạch của địa phương từ khâu quy hoạch vùng sản xuất, đến canh tác, chế biến và vận chuyển, tiêu thụ Do đó đòi hỏi người lãnh đạo cần có chiến lược, xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện

Triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng chuỗi nông sản theo từng giai đoạn Từ đó góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng các chuỗi cung cấp nông, lâm, thủy sản an toàn kiểm soát được chất lượng từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ trên thị trường, đảm bảo an toàn thực phẩm, liên kết phân phối sản phẩm ở thị trường trong tỉnh Đồng thời xây dựng thương hiệu, tạo lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm chuỗi an toàn; hình thành thói quen, tập quán tiêu dùng thực phẩm an toàn có địa chỉ, nhãn mác hàng hóa, truy xuất được nguồn gốc thực phẩm

Hình thành một số vùng sản xuất tập trung, Thông qua các chuỗi cung ứng, giá trị sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng, thị trường cơ bản ổn định Đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) tham gia chuỗi Đặc biệt đã từng bước hình thành thói quen tiêu thụ sản phẩm sạch, an toàn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân

1.3.1.2 Các tác nhân tham gia chuối giá trị

Các bên tham gia (tác nhân) chính: nông dân, HTX, thương lái, DN + Chuỗi liên kết ngắn - ít trung gian: Ví dụ: nông dân - HTX - công ty chế biến

+ Chuỗi liên kết dài - nhiều trung gian: Ví dụ: Nông dân (HTX) - thương lái - công ty chế biến - DN - Người tiêu dùng

Nông dân sản xuất: Người nông dân sản xuất là những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm

Các trang trại sản xuất: Các trang trại sản xuất sản xuất ra sản phẩm hàng hóa nông sản nhưng số lượng nhiều hơn và nguồn cung ổn định hơn

Hợp tác xã: Hợp tác xã là đơn vị sản xuất ra sản phẩm hàng hóa nông sản, nguồn cung ổn định, đồng thời là đơn vị chế biến sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm luôn

Thương lái/ đơn vị thu mua: là những người thu mua nông sản, và bán cho người tiêu thụ hoặc thu mua rồi bán cho doanh nghiệp chế biến

Người chế biến: chế biến nguồn nguyên liệu nông sản thành những sản phẩm thành phẩm có thể bảo quản được lâu hơn, hoặc có thể sử dụng sản phẩm trực tiếp, chế biến sản phẩm thành thành phẩm

Người tiêu dùng: là người trực tiếp sử dụng và đánh giá sản phẩm Tham gia vào chuỗi giá trị người nông dân và thành viên HTX được sản xuất theo nhu cầu thị trường; Tăng quyền lực thương lượng với đối tác; Được HTX, DN cung cấp thông tin thị trường, ứng vốn sản xuất; Được hỗ trợ từ DN nhằm giảm chi phí sản xuất; Nâng cao lợi nhuận trong sản xuất

Tham gia vào chuỗi giá trị các HTX sẽ căn cứ vào khả năng của mình để tham gia vào để đóng vai trò thay thế một hay nhiều tác nhân trong chuỗi; HTX gia tăng uy tín của HTX với TV và nông dân thông qua việc HTX tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với các DN; Nâng cao năng lực quản lý và khả năng phân tích thị trường

Tham gia vào chuỗi giá trị doanh nghiệp gia tăng khả năng cạnh tranh và xây dựng thương hiệu do DN có vùng nguyên liệu ổn định tại HTX; Có điều kiện thu thập thông tin về nhu cầu khách hàng và thông tin thị trường để cung cấp cho HTX và TV biết điều chỉnh sản xuất; Có quy mô sản phẩm đủ lớn, chất lượng sản phẩm đồng nhất và cung cấp thường xuyên

1.3.1.3 Ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất và chế biến để nâng cao chất lượng hàng nông sản theo chuỗi giá trị Để phát triển sản xuất nông nghiệp liên kết theo chuỗi giá trị, việc ứng dụng khoa học công nghệ và doanh nghiệp đóng vai trò chính làm đầu mối chính đang được minh chứng là mô hình phù hợp hiện nay Do vậy, các địa phương quan tâm thực hiện việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong từng khâu sản xuất, xây dựng các liên kết theo chuỗi giá trị, không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế lớn mà còn góp phần tạo ra các sản phẩm nông nghiệp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong các chuỗi liên kết, doanh nghiệp sẽ kiểm soát được chất lượng sản phẩm tốt hơn Khi quy hoạch vùng nguyên liệu, doanh nghiệp và nông dân sẽ thuận lợi hơn trong ứng dụng khoa học công nghệ theo quy mô lớn, giúp tăng giá trị sản phẩm và nâng cao lợi nhuận Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong từng khâu đảm bảo thành công của các mô hình liên kết chuỗi Đối với khâu tuyển chọn và tạo ra giống cây chất lượng

Việc áp dụng khoa học công nghệ từng bước nghiên cứu, chuyển giao áp dụng các công nghệ, kỹ thuật trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản theo hướng thân thiện với môi trường và tạo ra sản phẩm sạch, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm với các chương trình quản lý chất lượng tiên tiến như: HACCP, GMP, SSOP, VietGAP, ISO…

Các địa phương cần tranh thủ các nguồn vốn từ các dự án đầu tư công nghệ để thúc đẩy hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và xác lập quyền sở hữu công nghiệp, phát triển tài sản trí tuệ cho hàng hóa chủ lực địa phương ở các chương trình hỗ trợ cấp quốc gia; trong đó ưu tiên lựa chọn đầu tư đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao, địa phương cần đưa chương trình hỗ trợ gắn tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp vào chuỗi liên kết và coi đây là một trong những giải pháp quan trọng cần được ưu tiên

1.3.1.4 Ứng dụng logistics trong sản xuất và chế biến hàng nông sản theo chuỗi giá trị

Ngành nông nghiệp Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ và chứng minh được rằng, các chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bao trùm Tuy nhiên, để nông nghiệp bước sang một trang mới, việc đầu tư cho chuỗi giá trị cung ứng (viết tắt logistics) đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi thực tế cho thấy, việc đầu tư này không chỉ giúp nâng cao giá trị cho nông sản, tăng thu nhập cho người nông dân, mà còn là nhiệm vụ chính trị…

Cơ sở thực tiễn về phát triển phát triển nông sản theo chuỗi giá trị

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển nông sản theo chuỗi giá trị ở một số nước 1.4.1.1 Xây dựng chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông sản: Những kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp

Xây dựng chuỗi cung ứng ngắn cho các sản phẩm địa phương đang trở thành một xu hướng chủ đạo đối với hầu hết các nước châu Âu nói chung và Pháp nói riêng Trong bối cảnh nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm địa phương ngày càng tăng cao bởi các đặc tính “bản sắc địa phương”,

“tự nhiên”, “lành mạnh” và “đáng tin cậy”, cùng với đó giúp nâng cao thu nhập cho những hộ nông dân sản xuất nhỏ, đặc biệt là những nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương… được xem là khởi nguồn thiết lập các chuỗi cung ứng ngắn

Với những lợi ích mang lại cho các bên tham gia chuỗi cung ứng ngắn được nhìn nhận trên các góc độ từ kinh tế, xã hội đến môi trường, mô hình này dần thay thế cho các chuỗi cung ứng truyền thống mà trong đó, quyền thương thảo của những người sản xuất nông nghiệp nhỏ, yếu thế với người tiêu dùng bị hạn chế Với những thành công từ việc thực hiện các chuỗi cung ứng ngắn hàng nông sản trong thời gian qua, Chính phủ Pháp đã chính thức thể chế hóa các quy định về luật pháp, xóa bỏ các rào cản nhằm khuyến khích sự phát triển của mô hình này tại nhiều địa phương trên cả nước

Lợi thế từ chuỗi cung ứng ngắn hàng nông sản

Chuỗi cung ứng ngắn hàng nông sản có thể hiểu một cách đơn giản chính là sự giảm thiểu tối đa các thành viên tham gia trong chuỗi cung ứng với các đặc trưng chủ yếu là: Khoảng cách về mặt địa lý, được đo bằng khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng; số lượng các đơn vị trung gian tham gia chuỗi cung ứng; sự kết nối, tương tác giữa người tiêu dùng và người sản xuất Chuỗi cung ứng ngắn hướng tới mục tiêu cung cấp đến tay người tiêu dùng những sản phẩm phản ánh các đặc điểm,như “bản sắc địa phương”, “tự nhiên”, “lành mạnh” và “đáng tin cậy”…

Chuỗi cung ứng ngắn đang dần trở thành một phương thức thương mại phổ biến trên toàn cầu, dần thay thế các phương thức thương mại truyền thống với chuỗi cung ứng đa tầng, nhiều công đoạn, nhiều trung gian tham gia, khiến người nông dân không có điều kiện để quảng bá sản phẩm nông nghiệp của mình và người tiêu dùng cũng bị hạn chế khi tìm hiểu về nguồn gốc sản phẩm, phương thức canh tác, phương thức sản xuất các sản phẩm nông nghiệp Ngoài ra, chuỗi cung ứng ngắn cũng hướng tới việc giảm tối đa các khâu trung gian, để đưa sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng Chuỗi cung ứng càng ngắn càng tạo điều kiện thuận lợi trong việc duy trì và truyền đạt tính xác thực và độc đáo của sản phẩm nông sản dưới dạng bản sắc văn hóa, phương pháp sản xuất và xuất xứ của các sản phẩm Bên cạnh đó, nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm địa phương tăng mạnh trong những năm trở lại đây, mua các sản phẩm địa phương với mục đích giảm thiểu sự ô nhiễm về môi trường, chất lượng sản phẩm được đáp ứng, tạo giá trị gia tăng cho cộng đồng địa phương… được xem là động lực thúc đẩy sự gia tăng xu hướng tiêu dùng các sản phẩm địa phương

Hình thức cung ứng sản phẩm nông sản mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia như đối với hộ nông dân, phương thức này chính là kênh để đa dạng hóa các sản phẩm, hướng tới sản xuất tốt hơn, sạch hơn, thu được giá trị gia tăng cao hơn và nhờ đó bảo đảm doanh thu ổn định hơn Đối với người tiêu dùng sẽ được sử dụng những sản phẩm nông sản sạch, an toàn do chính địa phương của mình làm ra với chi phí phù hợp hơn Đối với nhà nước, chuỗi cung ứng ngắn đóng vai trò là một công cụ hữu ích trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, tạo sinh kế bền vững cho các nông hộ, phát triển hợp tác xã, gắn kết các nông hộ, tạo lập hệ thống cung ứng thực phẩm an toàn, chiến lược thực phẩm tích hợp, phát triển kinh doanh và doanh nhân, hệ sinh thái khởi nghiệp, thay đổi thói quen sản xuất và tiêu dùng thân thiện về xã hội và môi trường

Kinh nghiệm triển khai chuỗi cung ứng ngắn tại Pháp

Với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng cũng như việc áp dụng các thành quả khoa học - kỹ thuật, công nghệ, Pháp đã trở thành quốc gia lớn nhất trong khu vực về sản xuất cung ứng và xuất khẩu các sản phẩm nông sản Nông dân Pháp được hưởng nhiều ưu đãi từ Chính phủ cũng như của khu vực trong việc tiêu thụ sản phẩm hàng nông sản qua các hình thức trợ giá sản phẩm Các hình thức hỗ trợ nông dân được thực hiện thông qua các khoản trợ cấp tài chính khổng lồ được chuyển đến cho các trang trại, hộ nông dân Pháp nhằm ổn định phát triển sản xuất, cũng như thực hiện các chương trình phát triển nông thôn, đã tạo đà cho Pháp trở thành nhà xuất khẩu hàng nông sản đứng đầu châu Âu và thứ hai thế giới, sau Mỹ Các sản phẩm xuất khẩu hàng nông sản chủ yếu gồm lúa mì, rượu nho, các sản phẩm thịt và sữa Bên cạnh đó, sản lượng nông nghiệp hằng năm của Pháp liên tục tăng cao, bởi các yếu tố đạt được về năng suất lao động nông nghiệp cao, cũng như một nền công nghiệp chế biến thực phẩm ngày càng được hoàn thiện trong chuỗi cung ứng toàn cầu, chiếm xấp xỉ 3,5% GDP [22]

Mặc dù là quốc gia xuất khẩu các sản phẩm nông sản lớn, song để bảo đảm nâng cao hơn nữa cuộc sống của người nông dân, đặc biệt là những hộ nông dân nhỏ, nhóm người yếu thế thì việc bảo đảm đầu ra cho các sản phẩm nông sản với mức giá hợp lý, hay việc duy trì bản sắc của các sản phẩm địa phương, xây dựng các chuỗi cung ứng mang lại hiệu quả luôn được xem là một trong những chủ trương hàng đầu được Chính phủ Pháp quan tâm

Chuỗi cung ứng ngắn hàng nông sản, thực phẩm tại Pháp được hình thành với đặc trưng cơ bản là chỉ duy trì tối đa một đơn vị trung gian trong chuỗi cung ứng, nhằm kết nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng Xu hướng bán các sản phẩm trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng với những ưu điểm như tạo ra giá trị gia tăng cao hơn so với chuỗi truyền thống, duy trì bản sắc địa phương đối với sản phẩm… đang ngày càng thu hút số đông các trang trại sản xuất nông nghiệp ở Pháp tham gia

Nhằm thể chế hóa các chính sách, định hướng ưu tiên thành pháp luật, cũng như có được sự công nhận chính thức trong việc quản lý chuỗi cung ứng, năm 2010, Bộ Nông nghiệp Pháp đã chính thức công nhận chuỗi cung ứng ngắn theo hình thức bán hàng trực tiếp tại Điều khoản 230-1 Đạo luật số

2010-874, ngày 27-7-2010, về “hiện đại hóa nông nghiệp và đánh bắt cá”(1) Cũng theo đạo luật này, Chính phủ Pháp cho phép thành lập các chuỗi cung ứng ngắn hàng nông sản, thực phẩm địa phương dựa trên các nguyên tắc về an toàn thực phẩm, giảm thiểu các nhân tố trung gian và khuyến khích sự gần gũi về địa lý giữa người sản xuất và người tiêu dùng trong chuỗi cung ứng Việc thông qua đạo luật này cũng cho phép Chính phủ thực thi các chương trình hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng ngắn, như hỗ trợ tài chính, hỗ trợ các hộ sản xuất muốn tham gia vào chuỗi, tổ chức các khóa đào tạo liên quan đến việc triển khai chuỗi cung ứng ngắn (2) Nhằm khuyến khích các hộ sản xuất nhỏ tham gia nhiều hơn vào chuỗi cung ứng này, Chính phủ Pháp tiếp tục ban hành Đạo luật số 1170-2014, ngày 13-10-2014, về “Chính sách khung về trang trại, trồng rừng và trồng trọt” (3), đồng thời tiếp tục có những điều chỉnh nhấn mạnh rõ hơn những quy định về chuỗi cung ứng ngắn như quy định về khu vực sản xuất, tương tác giữa người sản xuất với người tiêu dùng và chất lượng sản phẩm.[22]

Tại cấp độ khu vực, chuỗi cung ứng ngắn và sản phẩm địa phương cũng đã được thể chế hóa trong quy định của Hội đồng châu Âu tại Điều khoản 2 Đạo luật số 1305/2013, về “Hỗ trợ tài chính thực hiện chương trình phát triển nông thôn bởi quỹ phát triển nông thôn EAFRD”: “Một chuỗi cung ứng thực phẩm có thể được định nghĩa là “ngắn” khi nó được mô tả cụ thể khoảng cách ngắn giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng Các sản phẩm phải được ghi nhãn thông tin cho phép người tiêu dùng tự kết nối và liên lạc trực tiếp với địa điểm, khu vực sản xuất”

Kinh nghiệm từ Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, diện tích nhỏ, dân số lớn, song quốc gia này đã có sự phát triển vượt bậc, trở thành nước có nền kinh tế lớn mạnh, đứng thứ 3 trên thế giới với nền nông nghiệp hiện đại Đời sống nông dân được bảo đảm, các chính sách an sinh xã hội phát triển Hiện nay, chỉ có khoảng 3% dân số Nhật làm nông nghiệp nhưng đã cung cấp lương thực, thực phẩm chất lượng cao, đảm bảo cho hơn 127 triệu người dân, đồng thời xuất khẩu nhờ nền nông nghiệp công nghệ cao với chuỗi giá trị hiệu quả

Có thể thấy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nhật Bản đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Theo Cố vấn đặc biệt Liên minh Nghị sĩ Hữu nghị Nhật Bản-Việt Nam, quá trình đi lên trở thành nước có nền nông nghiệp hàng đầu thế giới của Nhật Bản bắt đầu từ những thay đổi ở tầm chính sách vĩ mô từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II Nhật Bản đã đi từ các bước đầu tiên là cải cách đất nông nghiệp để xây dựng nhà nông tự chủ (trong 16 năm), thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ lúa sang sản phẩm có nhu cầu ngày càng cao trên cơ sở luật pháp (trong 30 năm) Từ những năm 90 của thế kỷ

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 10/05/2021, 20:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w