1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành ngữ trong hai tiểu thuyết thiên thần sám hối và giã biệt bóng tối của tạ duy anh

54 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 582,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[17] Một quan niệm về thành ngữ cũng đáng được quan tâm trong cuốn “Thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn Như Ý chủ biên có nêu: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

THÀNH NGỮ TRONG HAI TIỂU THUYẾT THIÊN THẦN SÁM HỐI VÀ

GIÃ BIỆT BÓNG TỐI CỦA TẠ DUY ANH

(Đề cương chi tiết)

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Trí Tân Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Hiếu

ĐÀ NẴNG - 10/2011

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năm 1986 luôn được coi là điểm mốc quan trọng trong văn học Việt Nam

Từ sau 1986, một làn sóng nhà văn mới xuất hiện với tư tưởng và kỹ thuật viết được đổi mới một cách đáng kể Chúng ta có thể kể đến một số tên tuổi của giai đoạn này như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài … và chúng ta không thể không nhắc đến một tên tuổi khác, đó là nhà văn Tạ Duy Anh Như nhà phê bình Phùng Gia Thế đã nói trong bài viết “Dấu ấn hậu hiện đại trong văn

chương Việt Nam sau 1986” về Tạ Duy Anh như sau “Văn chương Tạ Duy Anh

là nỗi khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự nhân bản trên cái đời sống đổ nát, điêu tàn, là sự loay hoay lý giải, hóa giải những nỗi đọa đày con người từ tiền kiếp” Đọc các tiểu thuyết của Tạ Duy Anh chúng ta nhận thấy

được lời nhận xét của nhà phê bình Phùng Gia Thế quả thật vô cùng chính xác Trân trọng niềm hoài cảm với cuộc đời và những đóng góp của Tạ Duy Anh

cho sự đổi mới nền văn học nước nhà, chúng tôi chọn đề tài “Thành ngữ trong hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh” để góp

phần làm rõ một phương diện nào đó trong ngôn ngữ văn chương Tạ Duy Anh Đồng thời việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng tôi có thêm những kiến thức, hiểu biết vô cùng hữu ích cho việc học hiện tại và trong công tác sau này

Trang 3

công trình nghiên cứu chung về thành ngữ tiếng Việt, có thể thấy các nhà ngôn ngữ dành sự quan tâm không nhỏ đối với thành ngữ tiếng Việt

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn khảo sát và tiếp cận một số

công trình, bài viết, buổi tọa đàm về hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh, cụ thể như sau :

Vương Thị Phương Linh : “Tính trò chơi trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối – Tạ Duy Anh” Bài viết đã chứng minh được tiểu thuyết Thiên thần sám hối

là một tiểu thuyết độc đáo, ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt là cách “chơi với ngôn từ” xuất sắc của tác giả

Đỗ Ngọc Thống : “Âm hưởng nhân bản từ tiểu thuyết Giã biệt bóng tối của

Tạ Duy Anh” Tác giả đã đọc và phân tích kỹ lưỡng những ngôn từ, tình huống truyện để có thể làm nổi bật tính nhân bản trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối

Nghiên cứu về Tạ Duy Anh thì từng có một buổi tọa đàm do Viện văn học tổ

chức vào ngày 15/5/2008 với chủ đề “Giã biệt bóng tối trong bối cảnh tiểu thuyết đương đại Việt Nam” Và phần tài liệu của cuộc tọa đàm này cũng giúp

ích rất nhiều cho tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, theo chúng tôi khảo sát thì đến thời điểm này chưa có tác giả

nào nghiên cứu riêng về thành ngữ trong hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối và giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh Tuy nhiên, những công trình, bài viết trên

cũng là cơ sở vững chắc để chúng tôi đến với đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thành ngữ trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh

- Phạm vi nghiên cứu : Khóa luận khảo sát hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối , NXB Hội nhà văn – 2006 và Giã biệt bóng tối, NXB Hội nhà văn – 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng yêu cầu của đề tài chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 4

- Phương pháp khảo sát , thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Những cơ sở lý luận chung của đề tài

1.1 Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ là đối tượng thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và các nhà nghiên cứu văn chương đã có rất nhiều cuộc tranh luận nhiều ý kiến xoay xung quanh vấn đề xác định khái niệm thành ngữ, nhưng rút cục vẫn chưa đưa ra một lý giải thỏa đáng nào Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận là mỗi một lĩnh vực nghiên cứu, mỗi một nhà nghiên cứu sẽ có cách nhìn nhận đánh giá khác nhau về cùng một vấn đề Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số quan niệm khác nhau về thành ngữ để có thể đưa ra một khái niệm mà chúng tôi cho rằng đầy đủ và đúng đắn nhất

Trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” tác giả Dương Quảng Hàm đã viết

“Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” [6; tr.9] Mặc dù những kiến giải, khái niệm về thành ngữ của Dương Quảng Hàm còn chưa thật đầy đủ nhưng là một công trình có tác dụng định hướng rất tốt cho nghiên cứu về thành ngữ sau này

Trong cuốn “Thành ngữ tiếng Việt”, hai tác giả Nguyễn Lực – Lê Văn Đang

đã đưa ra quan niệm cho rằng: “Thành ngữ là sự miêu tả những hiện tượng tự nhiên và xã hội, là những khái niệm, những đơn vị nghĩa sẵn có, được cô đúc chặt chẽ Thành ngữ có nghĩa bóng bẩy” [10, tr.21]

Sau khi đưa ra khái niệm về thành ngữ: “Là một loại đơn vị ngôn ngữ có sẵn Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được thực hiện trong giao tế” Trong bài viết

“Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ Tiếng Việt” trên tạp chí

ngôn ngữ số 3/1986, tác giả Nguyễn Văn Mệnh cũng đưa ra ba tiêu chí để xác định ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ: tiêu chí ý nghĩa, ngữ pháp, chức năng

Trang 6

Về mặt ý nghĩa thành ngữ thường nghiêng về cái có tính chất hiện tượng, ngẫu nhiên, riêng lẻ Còn nội dung của tục ngữ thường nghiêng về cái bản chất, khái quát và tất yếu; về mặt ngữ pháp đa số thành ngữ có cấu trúc những ngữ còn tất

cả tục ngữ có cấu trúc ngữ pháp của đơn vị câu; về mặt chức năng thành ngữ làm nhiệm vụ định danh, còn tục ngữ giữ chức năng thông báo [17]

Một quan niệm về thành ngữ cũng đáng được quan tâm trong cuốn “Thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn Như Ý (chủ biên) có nêu: “Thành ngữ là cụm từ

hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh, có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố tạo thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu”[14,tr.271]

Nhóm tác giả trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” cũng đưa ra một số

khái niệm về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là những đoạn câu, những cụm từ

có sẵn tương đối cố định, bền vững, không nhằm diễn đặt một ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hấp dẫn, được sử dụng tương đương như từ, nhưng mà là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệ thuật” [7,tr.249]

Cho đến nay, các tác giả đưa ra không ít các định ngĩa về thành ngữ Các định nghĩa ấy, ở phương diện này hay phương diện khác đều đúng nhưng chưa thật sự đầy đủ Chúng tôi xin tổng hợp lại các ý kiến đã nêu để có thể phân tích

và đưa ra một kiến giải đầy đủ hơn về thành ngữ: Thành ngữ là một cụm từ có sẵn, có kết cấu bền vững, cố định, mang chức năng định danh hình tượng, có tính chất hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, là những đơn vị tương đương với một từ.

1.2 Cơ sở để phân loại thành ngữ

Để có thể phân loại chính xác các thành ngữ trong hai tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” và “Giã biệt bóng tối” của Tạ Duy Anh một cách chính xác, chúng tôi

tiến hành tìm hiểu các cơ sở để phân loại thành ngữ trong Tiếng Việt Có rất nhiều cách phân loại nhưng chúng tôi chọn cách phân loại theo các tác giả Mai

Trang 7

Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, NXB Giáo dục, 1997

Theo các tác giả này thì phân loại thành ngữ dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung và hình thức) thì có thể chia thành ngữ tiếng Việt ra làm hai loại : thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ

Thành ngữ so sánh được cấu tạo theo cấu trúc so sánh Ví dụ : Im như thóc, lạnh như tiền, rắn như đinh … Sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng Chúng có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

- A so sánh B Đây là dạng đầy đủ nhất của thành ngữ so sánh Ví dụ : Lừ đừ như ông từ vào đền, nhẹ tựa lông hồng, đắt như tôm tươi …

- (A) so sánh B Ở dạng này thành tố A có thể có mặt hay không có mặt cũng được, không làm ảnh hưởng đến nghĩa mà thành ngữ muốn đề cập tới Ví dụ:

(Như) đinh đóng cột, (khinh) như rác, chậm (như rùa) …

- (…) so sánh B Ở dạng này thành phần A sẽ không có trong thành ngữ, nhưng khi đưa vào ngữ cảnh người sử dụng thành ngữ sẽ tùy nghi ghép thêm

một thành tố nữa cho phù hợp với ngữ cảnh Ví dụ: Thành ngữ “như mẹ chồng với nàng dâu” thì ta có thể thêm các cụm như “ăn ở với nhau”, “cư xử với nhau”,

“ghét nhau” … tùy ngữ cảnh sao cho thật phù hợp

Thành ngữ miêu tả ẩn dụ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng một cụm từ nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ Cấu trúc

bề mặt của thành ngữ này không phản ánh ý nghĩa thật của nó Cấu trúc đó chỉ gợi nhớ đến cái nghĩa sơ khởi, và từ đó người ta sẽ nhận một cái nghĩa ở một tầng cao hơn, thâm thúy hơn

Ví dụ: Khi ta xét thành ngữ “Ngã vào võng đào” thì cấu trúc của thành ngữ

sẽ cho ta sẽ thấy có người bị nạn (ngã) Nhưng xét một cách sâu xa thì lại là điều may mắn, ngã nhưng lại rơi vào cái võng đào, vẫn nhận được sự êm ái, sang trọng Từ cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt, ta nhận thấy nghĩa sâu xa, ý nghãi

Trang 8

thực của thành ngữ: Gặp tình huống cứ ngỡ như là không may nhưng thực chất lại là may mắn

1.3 Kết cấu của thành ngữ

1.3.1 Kết cấu theo nhịp

Nhịp là yếu tố không thể thiếu trong thành ngữ, nhịp là yếu tố “ngoại hình” làm thành đặc trưng ngữ điệu của thành ngữ, khiến cho thành ngữ vừa có nhạc điệu lại vừa ổn định trong cấu tạo Cũng như vần, nhịp trong thành ngữ, khá đa dạng và linh hoạt

- Nhịp 2 – 2 “Cha nào / con nấy”

- Nhịp 2 – 3 “Xấu đều / hơn tốt lỏi”

“Có tiếng / không có miếng” …

- Nhịp 3 – 3 “Buộc cổ mèo / treo cổ chó”

“Kẻ tám lạng / người nửa cân” …

- Nhịp 4 – 4 “Đo lọ nước mắm / đếm củ dưa hành”

“Đời cua cua máy / đời cáy cáy đào” …

- Nhịp 5 – 5 “Đi với bụt mặc áo cà sa / đi với ma mặc áo giấy” …

1.3.2 Kết cấu sóng đôi

Kết cấu sóng đôi được xem là một trong những đặc điểm của thành ngữ Kết câu sóng đôi cũng là một kết cấu rất dễ bắt gặp trong thành ngữ Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì kết cấu sóng đôi là “sự láy về mặt ngữ pháp có thể hai cụm từ có hai chức năng khác nhau, hai phát ngôn có chung một chủ thể thông báo” Nói một cách cụ thể hơn thì kết cấu sóng đôi trong thành

Trang 9

ngữ được gọi là “sóng đôi bộ phận” : sự lặp lại cú pháp đồng thời nhấn mạnh nghĩa làm cho thành ngữ có nhịp điệu riêng Đặc điểm này hầu như chỉ tồn tại ở thành ngữ

Ví dụ : “Tham ván / bán thuyền” Ở đây, ván tượng trưng cho cái mới,

thuyền tượng trưng cho cái cũ Hai cụm từ “tham ván” và “bán thuyền” đứng song song với nhau đồng thời là sự lặp lại cú pháp

“Dăm bữa / nửa tháng” Câu thành ngữ này có hai cụm từ có

nghĩa tương đương là cũng chỉ thời gian “Nửa tháng” là sự lặp lại cú pháp của

“dăm bữa”, hai cụm từ này có hai chức năng khác nhau và có chung một chủ thể thông báo Thành ngữ này dùng để chỉ một khoảng thời gian không dài lắm 1.4 Đặc điểm của thành ngữ

1.4.1 Tính đại chúng

Tính đại chúng của thành ngữ thể hiện ở chỗ nó có thể sử dụng ở bất kỳ tầng lớp nào, không phân biệt trí thức hay lao động, người giàu hay người nghèo , thậm chí cả những người không biết đọc, biết viết thì thành ngữ cũng được sử dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ Thành ngữ được sử dụng như một vốn ngôn ngữ mặc định, có sẵn, khi nói ra thì bất kỳ ai cũng hiểu Chúng tôi sẽ dẫn ra một số ví dụ mang màu sắc khẩu ngữ như: Nhiều như rươi, đen như mun,

im như thóc, tỉnh như sáo, dở khóc dở mếu …

Đồng thời, thành ngữ không chỉ để dùng miêu tả đơn thuần một đối tượng nào đó Thành ngữ có thể dung để miêu tả những người có nhiều của nả “giàu nứt đố đổ vách”, “ông hoàng bà chúa” nhưng cũng có thể nói về những người dân lai động “đầu tắt mặt tối” Do đó, thành ngữ không xa lạ với bất cứ người nào, tầng lớp nào trong xã hội, và cũng chính vì thế nó có tính đại chúng rất cao

1.4.2 Tính dân tộc

Tính dân tộc của thành ngữ thể hiện qua tính biểu trưng hình ảnh vô cùng gần gũi, gắn chặt với cuộc sống lao động sản xuất của dân tộc Việt Nam Ngoài

Trang 10

ra cấu trúc sóng đôi cân đối và âm điệu hài hòa cũng là những nét mang tính dân tộc đặc trưng

Tan đàn / sẻ nghé Tình làng / nghĩa xóm Tránh vỏ dưa / gặp vỏ dừa Con rồng / cháu tiên

Nghé, làng, xóm, dưa, dừa, rồng, tiên … là những hình ảnh hết sức gần gũi với cuộc sống của cộng đồng người Việt Nhắc đến chúng, người ta có thể tưởng tượng, hình dung ra ngay lập tức thành ngữ đó định nhắc đến cái gì , hay thay thế cho từ nào đó Đặc biệt, khi sử dụng thành ngữ trong các tác phẩm văn chương sẽ làm cho tác phẩm đó đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, dẫn đến việc tíếp cận của độc giả đối với tác phẩm văn chương một cách dễ dàng hơn Không những thế, kiến trúc sóng đôi và vần nhịp hoài hòa, cân đối của thành ngữ, tục ngữ còn làm cho độc giả khắc sâu nhớ lâu hơn vấn đề được đề cập trong tác phẩm

Điều này cũng giải thích vì sao “ Truyện Kiều” của “Nguyễn Du” từ lâu

đã trở nên quen thuộc, gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân, từ người trí thức tới người bình dân, kể cả những người không biết đọc, không biết viết cũng có thể ngâm được vài câu Kiều Cách giải thích đơn giản là Nguyễn Du đã biết sử dụng vốn ngôn ngữ dân tộc vào trong sáng tác của mình, đó chính là thành ngữ

“ Làm cho cái sóng khuynh thành

Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi”

“ Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”

“ Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”

1.4.3 Tính hình tượng

Tính hình tượng của thành ngữ, tục ngữ được thể hiện ở hình ảnh sinh động và mang nghĩa biểu trưng thâm thúy đặc điểm này khiến cho việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ tuy ngắn gọn, cô đọng nhưng không trừu tượng, khô khan và

Trang 11

khó hiểu

Hình tượng trong thành ngữ nói chung là hình tượng ngôn ngữ chứ không phải hình tượng nghệ thuật, có hình ảnh rất phong phú và đa dạng được tạo nên

từ nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau (so sánh, ẩn dụ, cường điệu …)

Ví dụ : Gầy như xác ve (so sánh và cường điệu)

Mình đồng da sắt (cường điệu)

Với đặc điểm trên, việc dùng thành ngữ trong giao tiếp hằng ngày cũng như trong tác phẩm văn chương và trên các ấn phẩm báo chí làm cho lời nói hoặc ngữ cảnh đuợc vận dụng thành ngữ có sức gợi hình cao, gợi lên ở đối tượng tiếp nhận sự hình dung, tưởng tượng ở hình thái, tính chất của vấn đề đang được nói tới một cách dễ dàng

Ví dụ: Thành ngữ “Gầy như xác ve” dùng để chỉ ngoại hình của một ai đó:

“Nó gầy như xác ve” khi dùng thành ngữ này trong lời nói sẽ làm lời nói trở nên

có hình ảnh Người tiếp nhận có thể hình dung ra ngay đó là một người có thân hình ốm yếu, gầy guộc, thiếu sức sống qua hình ảnh cái xác con ve

Thành ngữ không chỉ đem lại hình ảnh sinh động mà đằng sau hững hình ảnh đó chứa đựng nghĩa biểu trưng vô cùng thâm thúy Chính nhờ đặc điểm này, nhiều lúc vì một lí do tế nhị nào đó không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường thì người ta đã mượn cách nói hình ảnh ví von của thành ngữ, để chuyển tải nội dung thông báo của mình đến đối tượng tiếp nhận

Trong giao tiếp hàng ngày, để tránh lối nói lan man, dài dòng văn tự thì người ta thường sử dụng thành ngữ, tục ngữ để làm cho lời nói trở nên ngắn

Trang 12

gọn, súc tích hơn nhưng đồng thời vẫn chuyển tải được đầy đủ nội dung cần thông báo đến cho người nghe

Ví dụ: Khi muốn cảnh báo ai về hậu quả khôn lường của trò “ cờ bạc”,

thay vì phải nói “ cờ bạc sẽ đưa con người ta vào chỗ nghèo khổ” thì người ta chỉ cần nói “Cờ bạc là bác thằng bần”, câu chữ ngắn gọn nhưng đã chuyển tải

được một nội dung cảnh báo sâu sắc giữa người nói và người nghe: ai mê cờ bạc

ắt có ngày trở nên nghèo hèn Hay khi muốn can ngăn cuộc cãi vã của hai vợ

chồng nào đó, người ta chỉ cần nói “Xấu chàng hổ ai”, dùng thành ngữ này vừa tránh cách nói sỗ sàng, huỵch toẹt “chồng xấu vợ mang tiếng lây” chứ có hay ho

gì; đồng thời làm cho lời can ngăn đó có phần tế nhị, lịch sự hơn là đem đến hiệu quả giao tiếp cao hơn

Đặc biệt trong quá trình sáng tác văn chương, tính hàm xúc cô đọng của thành ngữ, tục ngữ là một đặc điểm rất cần thiết đối với ngôn ngữ văn chương

Nó trở thành vũ khí sắc bén để tác giả làm nên thành công cho tác phẩm của mình

* Thành ngữ, tục ngữ có nguồn gốc vay mượn từ nước ngoài

Như chúng ta đã biết, nước ta trải qua một thời kì lịch sử dài và chịu sự đô

hộ một ngàn năm của Trung Quốc cho nên ở một thời kì nào đó văn hóa phương Bắc đã chi phối và ảnh hưởng đến văn hóa nước ta trên các tất cả các lĩnh vực từ đời sống, tư duy vật chất, ngôn ngữ mà trong đó thành ngữ, tục ngữ là một bộ phận chịu ảnh hưởng không nhỏ Thành ngữ, tục ngữ của chúng ta phần lớn là

Trang 13

vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ Hán Những thành ngữ, tục ngữ này khi mượn vào Tiếng Việt có thể được giữ nguyên hình thái ngữ nghĩa, dịch từng chữ, dịch nghĩa chung của thành ngữ, tục ngữ

- Thành ngữ, tục ngữ giữ nguyên hình thái cấu trúc ngữ nghĩa: Theo thống

kê trong tổng số 354 thành ngữ, tục ngữ mượn từ tiếng Hán trong Tiếng Việt, có

71 thành ngữ, tục ngữ nguyên vẹn chiếm khoảng 20%

- Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán dịch một bộ phận ra Tiếng Việt:

Có thể kể đến một số thành ngữ, tục ngữ sau:

“An phận thủ kỉ” dịch là “an phận thủ thường”

“An như bàn thạch” dịch là “vững như bàn thạch”

- Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán được dùng trong hình thức dịch toàn

bộ các yếu tố ra Tiếng Việt và giữ nguyên cấu trúc

Đó là những thành ngữ, tục ngữ như sau: “Ngồi ăn núi lở” dịch từ “Tọa thực sơn băng”, “Đứng ngồi không yên” dịch từ “Tọa lập bất an”

Tục ngữ “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” được dịch từ câu tục ngữ “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”

* Thành ngữ, tục ngữ hình thành từ văn chương

Có thể nói văn chương vừa là mảnh đất để dung dưỡng thành ngữ, tục ngữ

Trang 14

đồng thời cũng là nơi để thành ngữ, tục ngữ “đâm chồi nảy lộc” và phát triển

thêm nhiều thành ngữ, tục ngữ mới làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của dân tộc Qua sự kiểm nghiệm của thời gian, có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ được

hình thành từ văn chương cổ như: “ Rắn già rắn lột, nguời già người tụt vào săng” (xuất phát từ truyện thần thoại cùng tên); “ Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân” (xuất phát từ truyện “Nàng Bân”); “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho” (từ truyện “ Sự tích con mối”); “Áo vải cờ đào” ( bắt

nguồn từ bài thơ khóc chồng của Ngọc Hân công chúa, bài “Ai tư vãn”) :

“ Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước kiến bao công trình”

Đồng thời thành ngữ, tục ngữ cũng được hình thành qua con đường sáng tạo ngôn ngữ của một số nhà thơ, nhà văn, được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần mà trở thành, thành ngữ, tục ngữ Ví dụ như một số trường hợp tiêu biểu sau:

Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã sáng tác những câu thơ mà sau này

được sử dụng rất nhiều trong nhân dân:

“Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

“Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”

“Ghen tuông cũng chuyện người ta thường tình”

Hay như trong bài thơ “Khóc chàng Tổng Cóc”, Hồ Xuân Hương đã

sáng tạo ra một câu thơ sau này được nhân dân ta sử dụng rất nhiều:

“Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé”

Đặc biệt là những sáng tác trong thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

“Không có việc gì khó

Trang 15

Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên”

*Thành ngữ, tục ngữ hình thành qua lời ăn tiếng nói hàng ngày

Hầu hết thành ngữ, tục ngữ đều hình thành qua lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân xuất phát từ những nhu cầu của cuộc sống sinh hoạt, làm ăn, tình cảm và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, đồng thời khi sáng tạo ra thành ngữ, tục ngữ cũng là quá trình sáng tác ngẫu nhiên, những sự vật hiện tượng xảy ra trong đời sống từ đó đúc kết thành những câu nói lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành thói quen và truyền lại từ đời này sang đời khác Theo thống kê thì có trên 75% thành ngữ, tục ngữ hình thành qua lời ăn tiếng nói của nhân dân

Câu tục ngữ: “Muốn nói ngoa làm quan mà nói” xuất phát từ thực tế cuộc sống hàng ngày dưới chế độ phong kiến người dân luôn bị ức hiếp, người có quyền thế, địa vị nhất là quan lại nắm quyền lực trong tay muốn làm gì thì làm, muốn đổi trắng thay đen đều được Chính từ thực tế đó đã hình thành trong nếp nghĩ không tốt của người dân về tầng lớp quan lại Bên cạnh đó, còn có một số

câu tục ngữ nói về suy nghĩ của người dân về tầng lớp quan lại như: “Của vào quan như than vào lò”; “Quan cả vạ to”

Từ trong cuộc sống giao tiếp hằng ngày mà có câu tục ngữ: “Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời” Câu tục ngữ đề cập đến vấn đề giữa con người

với nhau Trong hoạt động giao tiếp thì có một số người nói rất nhiều nhưng lời nói của họ chỉ toàn là những lời hàm hồ, không có giá trị Tuy nhiên, đối với một số người khôn ngoan thì họ biết lựa lời, cân nhắc thận trọng trước khi nói ra một vấn đề gì đó

Câu tục ngữ “Ăn ít no lâu” được dùng trong sinh hoạt ăn uống Câu tục

ngữ có hai lớp nghĩa: nếu hiểu trên bề mặt câu chữ thì câu tục ngữ ý nói ăn không nhiều nhưng no lâu; nhưng nếu hiểu theo nghĩa bóng thì ý của câu tục

Trang 16

ngữ khuyên con người đừng nên quá tham lam món lợi tuy nhỏ nhưng được bền hơn ham lợi lớn thì sẽ mau đỗ

Bên cạnh những câu tục ngữ hình thành trong giao tiếp, sinh hoạt ăn uống thì còn có một số câu tục ngữ hình thành trong quá trình lao động, sản xuất đó là

những đúc kết kinh nghiệm của người dân “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa” Câu

tục ngữ là một kinh nghiệm của người dân về thời tiết đối với cây trồng, đó là trời nắng rất thích hợp cho dưa, nắng càng nhiều thì dưa càng tốt, còn đối với cây lúa thì trời mưa là điều kiện để nó phát triển

Nhìn chung, thành ngữ và tục ngữ được hình thành trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân có một số lượng khá lớn Nó xuất phát từ thực tế cuộc sống của nhân dân Vì vậy, nó rất đa dạng và phong phú về số lượng, phản ánh đầy đủ tâm tư nguyện vọng của nhân dân

b) Tính biểu trưng

Thành ngữ và tục ngữ được hình thành từ thực tế đời sống lao động, sản xuất của nhân dân, được nhân dân sáng tạo lên từ kinh nghiệm đời sống, sự quan sát thực tế Do đó thành ngữ và tục ngữ, mang tính biểu trưng rất cao Tính biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ thể hiện rõ trên câu chữ, hình ảnh

Ví dụ: Câu tục ngữ “Cháy nhà ra mặt chuột”: chuột là biểu trưng cho

điều xấu, cái yếu kém được che kín hoặc cố tính giấu giếm; nhà biểu trưng cho nơi ẩn náu, nơi cư trú cũng là cái vỏ che đậy nói chung Vậy cháy nhà tức là làm cho mất cái vỏ che đậy đi, mất nơi ẩn nấp cuối cùng theo đó cái che đậy bị lộ rõ Nội dung ý nghĩa thành ngữ này là khi có sự biến hoặc điều kiện bắt buộc nào

đó thì tất yếu những điều xấu, những cái yếu kém phải bộc lộ

Thành ngữ “Chọc gậy bánh xe” được hiểu là khi công việc người khác

đang tiến triển tốt đẹp, một kẻ nào đó đâm ngang, ngăn cản thì hành vi đó được

nhân dân ta ví bằng thành ngữ “Chọc gậy bánh xe” Hành vi trong thành ngữ

“Chọc gậy bánh xe” là hành vi phá hoại nhưng không phải phá cho hư hỏng một

vật cụ thể mà là gây cản trở cho sự phát triển tốt đẹp của người khác Ý nghĩa đó

Trang 17

được hình thành trên cơ sở tính biểu trưng của bánh xe “Bánh xe” dùng để biểu

trưng cho sự chuyển động, tiến bộ lên phía trước Hành vi “Chọc gậy bánh xe”

trở thành nhân tố cản trở, phá hoại sự tiến triển đó

Thành ngữ, tục ngữ rất giàu hình ảnh Hình ảnh tạo nên vẻ đẹp tươi mát, sinh động tính hàm xúc và trong nhiều trường hợp tạo khả năng mở rộng nghĩa cho thành ngữ, tục ngữ vì hình ảnh cá khả năng biểu trưng Từ quan sát cụ thể đi tới hình ảnh, từ hình ảnh cụ thể đơn giản nâng lên thành hình ảnh khái quát và từ hình ảnh vận dụng vào các hiện tượng cuộc sống Ở thành ngữ, tục ngữ cái cụ thể thường kết hợp hài hòa với cái khái quát, cái cụ thể chứa đựng cái khái quát

và ngược lại Vì thế, cái cụ thể cũng như cái khái quát đó càng chính xác hơn

Sự biểu hiện cụ thể cái chung của thành ngữ, tục ngữ phù hợp với nhiều hiện tượng cùng loại Do đó, nhiều thành ngữ, tục ngữ vượt ra khỏi phạm vi khái niệm về một sự vật hiện tượng ban đầu mang ý nghĩa rộng hơn Chẳng hạn

“Mưa dầm hóa lụt”; “Không có lửa làm sao có khói” là những quan sát cụ thể

Nhưng những hình ảnh, khái niệm cụ thể ấy đã mang thuộc tính khái quát, có khả năng nói nhiều hiện tượng thuộc các quan hệ lượng – chất, nguyên nhân – kết quả

Qua việc phân tích trên có thể thấy tính biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ tồn tại rất phổ biến Hầu như thành ngữ, tục ngữ nào cũng có tính biểu trưng nhất định Từ những hình ảnh thiên nhiên, động vật, sự vật hiện tượng được dùng làm tín hiệu biểu trưng đến những hiện tượng có tính chất trừu tượng khái quát hơn cũng được nhân dân thể hiện Có thể nói tính biểu trưng đã trở thành một đặc điểm nổi bật của thành ngữ, tục ngữ giúp người đọc có thể dễ dàng nhận biết thành ngữ và tục ngữ

c) Hình thức thể hiện

* Vần

Có thể nói, vần là chất thơ của thành ngữ, tục ngữ Thành ngữ, tục ngữ có vần càng dễ đi vào lòng người đọc hơn Vần thực hiện chức năng giữ nhịp cho

Trang 18

câu tục ngữ , thành ngữ góp phần làm nổi rõ những từ có ý nghĩa quan trọng Tuy có vai trò thiết yếu trong thành ngữ, tục ngữ nhưng vần không xuất hiện trong hầu hết các thành ngữ, tục ngữ, không phải mọi thành ngữ, tục ngữ đều có

vần

“Ruộng cả,ao liền”

“Bòn nơi khố rách, đãi nơi quần hồng”

“Trâu chậm uống nước đục”

Vần được xem là yếu tố đặc trưng “ngoại hình” của tục ngữ và thành ngữ

so với các phát ngôn làm sẵn khác Vị trí của vần hoàn toàn không ổn định và rất phong phú có thể là vần liền, vần cách

*Nhịp

Bên cạnh vần, nhịp là yếu tố không thể thiếu trong thành ngữ, tục ngữ Nhịp là yếu tố “ngoại hình” làm thành đặc trưng ngữ điệu của thành ngữ và tục ngữ, khiến cho thành ngữ và tục ngữ vừa có nhạc điệu lại vừa ổn định trong cấu tạo Cũng như vần, nhịp trong thành ngữ, tục ngữ khá đa dạng và linh hoạt

- Nhịp 2 – 3

Tục ngữ : “Cơm treo / mèo nhịn đói”

“Đồng tiền / liền khúc ruột”

Thành ngữ : “Xấu đều / hơn tốt lỏi”

Trang 19

“Có tiếng / không có miếng”

- Nhịp 3 – 3

Tục ngữ : “Ăn lúc đói / nói lúc say”

“Một sự nhịn / chín sự lành”

Thành ngữ : “Buộc cổ mèo / treo cổ chó”

“Kẻ tám lạng / người nửa cân”

1.5.2 Những nét khác biệt

a) Kết cấu ngữ pháp

Về kết cấu ngữ pháp thì: “Thành ngữ chỉ là một nhóm từ trơn tru, quen thuộc được dùng trong câu nói thông thường Có thể coi thành ngữ ngang hàng với từ Tuy nhiên, qua thời gian thì thành ngữ đã được tập họp gắn bó thành một cụm từ lúc này thành ngữ đã hơn từ” [17;tr.31]

Thành ngữ không có khả năng đứng độc lập vì nó không có khả năng tự tạo nghĩa Nếu đứng riêng lẻ thì thành ngữ không thể diễn đạt một ý trọn vẹn

Ví dụ : “ Đáng giá nghìn vàng”

“Dây mơ rễ má”

Còn tục ngữ tuy ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh, có chủ ngữ và

vị ngữ Tục ngữ có thể tạo nên một nghĩa trọn vẹn, không cần phải nằm trong một câu như thành ngữ

Ví dụ “Sống lâu hơn giàu của” là câu tục ngữ rất ngắn Trong đó,

“sống lâu” là chủ ngữ, “hơn giàu của” là vị ngữ Câu tục ngữ ý nói sức khỏe là quan trọng chứ tiền tài, vật chất chỉ là thứ phù du, không đáng quý

Đây được xem như là một trong những nét khác biệt cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ

b) Chức năng

Thành ngữ là đơn vị có sẵn, xuất hiện từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau và được sử dụng rộng rãi, tự nhiên trong xã hội Vì vậy, thành

Trang 20

ngữ có chức năng định danh có nghĩa là có thể dùng thành ngữ để gọi tên sự vật, tính chất, hành động

“Cứng như rễ tre” : chỉ một sự vật cứng như rễ của cây tre

“Dãi nắng dầm sương” : chỉ sự cực nhọc, khó khăn

Còn đối với tục ngữ thì chức năng của nó khán hẳn với thành ngữ Vì tục ngữ diễn tả các phán đoán, suy lý, kết luận nên tục ngữ có chức năng thông báo

Nó thông báo một nhận định, một kết luận tự nhiên, con người và xã hội

Ví dụ: “Một câu nhịn chín câu lành”: Thông báo một nhận định là mọi

chuyện không nên làm quá phải biết nhường nhịn thì mọi điều sẽ tốt đẹp sẽ đến

“Làm phúc quá tay ăn mày không kịp”: thông báo một nhận định là ở đời

làm điều thiện là một việc tốt nhưng cũng giới hạn phải biết nghĩ đến mình nếu làm quá mình sẽ trở nên khốn khổ

Nhìn chung, sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ về chức năng khá rõ rệt điều này làm cho việc nhận định thành ngữ, tục ngữ được thể hiện dễ dàng hơn trong quá trình đi vào nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ

c) Nội dung, ý nghĩa

Về hình thức bên ngoài thì tục ngữ có cấu tạo rất nhỏ Tuy hình thức bề ngoài nhỏ nhưng ý nghĩa và nội dung tư tưởng rất lớn, lời ít ý nhiều Nội dung của tục ngữ là những nhận định, khái niệm của con người về lao động, về sản xuất , về cuộc sống trong gia đình, cuộc sống trong xã hội Nội dung ấy vừa phong phú vừa vững chắc vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ con người

Ví dụ: “Cõng rắn cắn gà nhà”: đây là hành động được xem là không tốt

của một người chuyên làm những việc hại người nhiều khi là người thân của mình

Ngoài ra, còn có rất nhiều câu tục ngữ mang một nội dung ý nghĩa rất lớn

và hay như “Gieo nhân nào gặp quả ấy”; “đời cha ăn mặn đời con khát nước” hay “đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa”…

Trang 21

Còn thành ngữ trên bình diện nội dung ý nghĩa thì thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một tính chất, một hành động hay một tính cách, một trạng thái hay một thái độ nào đó

Ví dụ : “Im như thóc” chỉ sự im lặng

“Đứt đuôi con nòng nọc” dùng để biểu thị tính chất rõ ràng, dứt

khoát của một hành động hay là sự biến chuyển của sự vật hiện tượng

Trên đây là một số điểm khác biệt cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ Từ những nét dị biệt trên sẽ góp phần phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ một cách

rõ ràng và chính xác hơn

1.6 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Tạ Duy Anh

Tạ Duy Anh tên khai sinh là Tạ Viết Đãng, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1959 Quê ông ở thôn Cổ Hiền, xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, Hà Tây (nay là huyện Chương Mỹ, Hà Nội) trong một gia đình nông dân

Ông từng làm cán bộ giám sát chất lượng bê tông ở nhà máy thủy điện Hòa Bình, trung sĩ bộ binh ở Lào Cai Sau đó Tạ Duy Anh tham gia học ở Trường viết văn Nguyễn Du Trải qua bốn năm học, ông đỗ đầu và được giữ lại làm giảng viên Hiện ông là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn Tạ Duy Anh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1993

Tạ Duy Anh viết nhiều và rất đều tay Tính đến nay (2012), ông đã xuất bản khoảng 20 tập truyện, trong đó có bốn tiểu thuyết và một tập tản văn trong khoảng 20 năm cầm bút

Cuối những năm 1980, trong trào lưu đổi mới của toàn xã hội, văn học cũng nhanh nhạy xuất hiện những tên tuổi cùng những tác phẩm để đọc, để phục

và để nhớ Người ít tuổi nhất trong số các tên tuổi ấy chính là Tạ Duy Anh Ông làm “cháy” báo Văn Nghệ trên tất cả các sạp báo cả nước bằng truyện ngắn Bước qua lời nguyền Vẫn là motip Romeo và Juliet với mối thù của hai dòng họ trên vai và tình yêu trong tim, nhưng truyện của Tạ Duy Anh là sự tái

Trang 22

hiện bức tranh toàn cảnh nông thôn Việt Nam những năm 1950-1970 đầy máu và nước mắt Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến mượn tên truyện của ông để khái quát: “Có một dòng văn học bước qua lời nguyền”

Tác phẩm gây được dư luận thứ hai của ông là tiểu thuyết Lão Khổ Vẫn là chuyện làng quê Bắc bộ, nhưng thời gian rộng hơn, từ những năm 1940 - 1990, dung lượng tiểu thuyết lớn hơn truyện ngắn và nhà văn cũng già dặn từng trải và

kỹ thuật hơn nên Lão Khổ được đồng nghiệp và bạn đọc nhìn nhận như một bước tiến dài của Tạ Duy Anh Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đánh giá: “Đây là một cuốn tiểu thuyết rất quan trọng thêm một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam”

Năm 2002, Đi tìm nhân vật, một cuốn tiểu thuyết phá cách về mặt cấu trúc của ông, hoàn thành sau bốn năm làm việc Một cuốn sách thành công về mặt doanh số của ông là tiểu thuyết Thiên thần sám hối, in năm 2004 này với bốn lần tái bản trong không đầy một năm, gần 20.000 bản in Cuốn tiểu thuyết chỉ không đầy 200 trang, kể chuyện ba ngày cuối cùng trong bụng mẹ của một bào thai sắp chào đời Kết cấu chặt chẽ và ngắn gọn, có thêm sự uyển chuyển và linh hoạt,

nhà nghiên cứu Việt Hoài bình luận trên tạp chí Tuổi trẻ Cuối tuần: "Thiên thần sám hối khiến ai đọc nó cũng có thể tìm thấy mình trong đó và hầu hết là giật mình, không tự vấn lương tâm thì cũng tự xấu hổ mà âm thầm đỏ mặt, nhưng nó cũng không quá nghiệt ngã, ráo riết mà vẫn mở đường cho nhân vật, người đọc một lối thoát lương tâm"

Năm 2008, Tạ Duy Anh lại cho ra đời tiểu thuyết Giã biệt bóng tối, NXB Hội

nhà văn ấn hành Ngay lập tức nó thu hút sự quan tâm của bạn đọc Bằng cớ là nhiều tờ báo lớn đã nhanh chóng có bài giới thiệu, bình luận So sánh với một số

tiểu thuyết khác của Tạ Duy Anh cụ thể là Đi tìm nhân vật , Thiên thần sám hối Giã biệt bóng tối gây ấn tượng với nghệ thuật trần thuật và gây ấn tượng ở

sự tổ chức điểm nhìn Điểm đáng chú ý thứ là ngôn ngữ và giọng điệu Đó là

Trang 23

một thứ ngôn ngữ ám ảnh, rất thông tục nhưng cũng có nhiều chất thơ, với những triết lý khá sâu sắc

Nhà văn Tạ Duy Anh luôn luôn tìm tòi và khám phá các cách thể hiện mới Ông không chịu bó mình trong các cách thể hiện cũ người đọc đã thấy quá nhàm chán và cũng không muốn lặp lại chính mình Qua các tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của Tạ Duy Anh, tác giả luôn luôn thể hiện bản thân là một người can đảm, mạnh mẽ; một nhà văn có nhân cách và bản lĩnh nghề nghiệp

1.7 Vài nét về hai tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” và “Giã biệt bóng tối” Tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” gọn nhẹ và giản dị về hình thức nhưng

chứa đựng sự bí ẩn của sự tồn tại thân phận của thế hệ tương lai trên bờ vực của cái ác, chứa đựng những ẩn số lớn về con người và nhân thế Cuốn tiểu thuyết viết về sự đấu tranh và cảm nhận của một hài nhi để quyết định xem có nên chào đời hay không Trong bụng mẹ, cậu bé cảm nhận được những khổ đau và hiện thực nghiệt ngã của cuộc đời mà cậu sắp góp mặt Tính luận đề của tiểu thuyết rất cao, nhiều đối thoại nặng tính tượng trưng, nhưng quyển sách vẫn hấp dẫn bởi hiện thực tàn nhẫn tràn đầy khắp các chi tiết Kết hợp được cả hai yếu tố ấy trong tác phẩm, xem như Tạ Duy Anh đã thành công Việc tạo ra con người một cách vô trách nhiệm sẽ dẫn tới việc đối xử với những con người được tạo ra, dù với tư cách thành viên của gia đình hay thành viên của xã hội, một cách còn vô trách nhiệm hơn Trẻ con là tương lai Hãy thử nghĩ, nếu những đứa bé không còn muốn góp mặt với đời, cuộc sống con người sẽ ra sao? Đứa bé trong Thiên

thần sám hối đã toan quyết định như thế: "Không ra ! Không ra ! Hành trình đến thế gian chỉ nên tới đây Dừng lại ở đây là sáng suốt” Nhưng chính người mẹ,

người đàn bà đẹp đẽ, bất chấp tính mạng bị đe dọa, đã đặt hết tình yêu và lòng

tin vào đứa con với suy nghĩ "Cuộc sống không thể dừng lại Nó phải được tiếp tục mạnh mẽ, tươi đẹp, đầy ý nghĩa ngay cả khi mình không còn trên thế gian này Ở cuối bất cứ con đường nào cũng đều có một con đường khác", đã khiến đứa bé – thiên thần phải nghĩ lại: "Tôi quyết định ra đời Cha tôi khóc nức nở

Trang 24

như một cậu bé còn lâu mới trưởng thành" Đó là một chọn lựa quá nhân hậu,

quá cao cả so với những tội lỗi xấu xa mà chúng ta, những người lớn, đã gây ra Cuốn tiểu thuyết hiện lên với những gương mặt thế sự, đau đáu chuyện thánh thiện, tàn ác và vô lương … nhưng không giống như những quy phạm đạo đức khô khan, thiếu thực tế mà đó là sự cảm thông đau đớn về số phận

Có ý kiến cho rằng Giã biệt bóng tối là phần hai của Thiên thần sám hối

nhưng nếu đọc kỹ và hiểu một cách sâu sắc thì không phải như thế Tiểu thuyết như một giấc mơ không liền mạch, gãy vỡ, gấp khúc đan xen nhiều điểm nhìn và ngôn ngữ, giọng điệu khác nhau Tạ Duy Anh đã thể hiện và phác họa chân dung những con người và sự việc này bằng một vốn ngôn ngữ rất phong phú, hiện đại – thứ ngôn ngữ của đời sống trần tục Mặc dù câu chuyện có nhiều tình tiết hoang đường với nhiều tình tiết ly kỳ, nhưng bất cứ ai đọc Giã biệt bóng tối cũng thấy đằng sau đó thấp thoang một hiện thực với biết bao sự kiện, biến cố cũng với những số phận con người bằng xương bằng thịt Qua một làng Thổ Ô mà thấy cả bức tranh xã hội Nhìn từ góc độ này bức tranh xã hội hiện lên thật kinh khủng, rùng rợn Thế giới nhân vật có thể chia làm hai loại: Loại thứ nhất là loại mang một lý lịch bất hảo, một lối sống bất nhân và các nhân vật này đều chết một cách bất đắc kỳ tử, sống thế nào, chết thế ấy Tiêu biểu nhất là nhân vật lão già trong bóng tối, hiện thân của bóng tối, hiện thân của bóng tối; và loại thứ hai, những nhân vật lương thiện nhưng bị cuộc đời chà đạp, xô đẩy vào cảnh đường cùng, khốn khổ và tủi nhục Mà tiêu biểu là thằng bé Thượng và cô ả cave Chuyện trong sách cũng chia làm hai : chuyện của quá khứ và chuyện mới xảy

ra, đang xảy ra Chúng đan cài vào nhau tạo nên một hiện thực ngổn ngang, phức tạp Với hiện thực được mô tả, cuốn sách dễ mang lại cho người đọc cảm giác ớn lạnh, hun hút như đi vào một đường hầm đen đặc Bòng tối như dồn các nhân vật vào đường cùng không lối thoát Nhưng rồi người ta cũng thở phào nhẹ nhõm khi đọc những trang cuối của cuốn sách Cuối cũng ánh sáng vẫn chiến thắng bóng tối; chiến thắng bằng lòng tha thứ và đức khoan dung Cái Ác bất lực,

Trang 25

chấm dứt Bóng tối lụi tàn Đây chính là âm hưởng nhân bản vang vọng trong tiểu thuyết Nó làm cho người ta cảm thấy cần sống và phải sống như thế nào cho xứng đáng

Chương 2 Khảo sát, phân loại và miêu tả thành ngữ trong hai tiểu thuyết

Giã biệt bóng tối và Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh

Dựa trên những cơ sở lý luận đã trình bày ở chương một, chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm thống kê, phân loại, miêu tả hệ thống thành ngữ được sử dụng trong hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được rất nhiều thành ngữ, điều đó thể

hiện sự hiểu biết về thành ngữ và cách vận dụng sáng tạo của Tạ Duy Anh

2.1 Khảo sát, phân loại thành ngữ trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh

2.1.1 Khảo sát, kết quả thống kê

Qua khảo sát hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh với 333 trang văn bản, chúng tôi thống kê được 76 thành ngữ với 90 lượt dùng Trong đó tiểu thuyết Thiên thần sám hối là 15 thành ngữ với 19 lượt dùng, Giã biệt bóng tối là 61 thành ngữ với 71 lượt dùng Cụ thể tên thành ngữ

và tần số xuất hiện như sau

Trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối :

Tên thành ngữ Tần

số xuất hiện

Tên thành ngữ Tần

số xuất hiện

2 Mèo mả gà đồng 1 10 Kẻ ăn chẳng hết, người lần

chẳng ra

1

Trang 26

6 Gan cóc tía 1 14 Ăn sung mặc sướng 1

Trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối

Tên thành ngữ Tần

số xuất hiện

Tên thành ngữ Tần

số xuất hiện

2 Giấy trắng mực đen 1 33 Chết nết không chừa 1

3 Thêm mắm thêm muối 2 34 Bách chiến bách thắng 1

4 Du thủ du thực 2 35 Nhàn cư vi bất thiện 1

5 Theo voi hít bã mía 1 36 Ăn bữa nay lo bữa mai 1

13 Đâm thuê chém mướn 1 44 Dùi đục chấm mắm cáy 1

14 Bán trôn nuôi miệng 4 45 Chân tơ kẽ tóc 1

15 Tiền tươi thóc thật 1 46 Lòng tham không đáy 1

Trang 27

19 Bất đắc kỳ tử 2 50 Trứng chọi đá 1

23 Cầm cân nảy mực 1 54 Sống khôn chết thiêng 1

24 Nửa tin nửa ngờ 1 55 Quân tử nhất ngôn 1

25 Nói như thánh phán 1 56 Trai thanh gái lịch 1

26 Bán vợ đợ con 1 57 Ngựa quen đường cũ 1

27 Con ông cháu cha 1 58 Lo bò trắng răng 1

28 Tứ cố vô thân 1 59 Đường quang không đi, lại

đâm quàng bụi rậm

1

29 Tâm phục khẩu phục 1 60 Gà mắc thóc 1

31 Tên bay đạn lạc 1

2.1.2 Phân loại thành ngữ trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh

Dựa vào các căn cứ để miêu tả thành ngữ ở chương 1, chúng tôi phân loại

thành ngữ trong hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối thành hai

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w