1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết hồ biểu chánh qua cay đắng mùi đời

73 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 693,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và khi nói đến Hồ Biểu Chánh, người ta thường nhắc con người với phong thái của một nhà hiền triết đem những bài học luôn lý của quá khứ để nhắc nhở hiện tại và tưởng nhớ tương lai, khuy

Trang 1

- -

PHẠM THỊ HỒNG

Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh qua

Cay đắng mùi đời

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc Văn học giai đoạn này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng mấy trăm tác phẩm, cuốn hút hàng triệu độc giả và để lại những vết son không phai mờ trong ký ức của nhiều người, nhất là những người lớn tuổi ở Nam Bộ Trong số hàng trăm cây bút đó, Hồ Biểu Chánh là một trong những cây bút tiểu thuyết tiên phong “sáng giá” nhất ở Nam Bộ - mở đầu cho nền tiểu thuyết văn học Việt Nam hiện đại

Trong buổi bình minh của văn xuôi Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, khi mà cả người sáng tác và người tiếp nhận văn chương đều còn bỡ ngỡ thậm chí có thành kiến với các tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ, thì Hồ Biểu Chánh đã ra sức tạo dựng và bồi dưỡng cho nền tiểu thuyết mới, đưa nó lên gần với độc giả Và khi nói đến Hồ Biểu Chánh, người ta thường nhắc con người với phong thái của một nhà hiền triết đem những bài học luôn lý của quá khứ để nhắc nhở hiện tại và tưởng nhớ tương lai, khuyên con người phải biết “Vì nghĩa vì tình”, nhớ đến “Cha con nghĩa nặng”, bởi mang “Nặng gánh cang trường”, khen người “Trọn nghĩa vẹn tình” vì “Đại nghĩa diệt thân”, thương kẻ “Một đời tài sắc” mà “Chút phận linh đinh”, căm ghét “Nhơn tình ấm lạnh”, chạy theo “Tiền bạc bạc tiền”, để đến nổi

“Kẻ làm người chịu”, thấy thân phận con người trong xã hội kim tiền chẳng khác chi “Ngọn cỏ gió đùa” ông càng “Cay đắng mùi đời” trước bao điều “Thiệt giả giả thiệt” nên ông “Tỉnh mộng”, ngoài tuy “Cười gượng” nhưng bên trong “Khóc thầm” Ông cũng thuộc số ít nhà văn sử dụng từ ngữ bình dân một cách tự nhiên, phản ánh chính xác hiện thực xã hội, tình cảm và tâm lý con người miền Nam thời thuộc địa; những cảnh, những tình, những người cùng với bao sự việc trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh rất gần gũi với quần chúng nhân dân

Trong Cay đắng mùi đời – tiểu thuyết nổi danh nhất và có nhiều độc giả nhất

của Hồ Biểu Chánh không chỉ mô tả, phản ánh thái độ sống, mà qua đó hình ảnh Nam Bộ; tính cách, ngôn ngữ của người dân Nam Bộ cũng được hiện lên rõ nét

Trang 3

Chúng tôi nghiên cứu Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh qua Cay đắng

mùi đời, từ việc đi sâu vào một tác phẩm cụ thể để qua đó thấy được những đặc

điểm nổi bật và đồng thời thấy được những đóng góp của nhà văn trong nền văn học hiện đại Với khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi mong muốn sẽ đem lại cho bạn đọc một cái nhìn toàn cảnh về hiện thực xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ XX, thấy được những nét truyền thống và cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Việc tìm hiểu đề tài giúp chúng tôi có thêm tư liệu, kiến thức phục vụ hữu ích cho việc nghiên cứu, công tác và học tập sau này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ và của cả nước, là một trong những người đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ được phong phú Vì vậy mà từ rất sớm ông đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, giới thiệu và được đề cập đến, đã

có nhiều công trình tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp cũng như tác phẩm của ông được công bố Nhưng tùy theo từng thời điểm, giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử xã hội

mà vấn đề này được quan tâm ở tầm mức này hay tầm mức khác Nhìn từ góc độ lịch sử - thời gian chúng ta có thể chia quá trình nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thành các giai đoạn: từ năm 1945 trở về trước, từ 1945 đến 1975 và từ 1 975 cho đến nay

Từ năm 1945 trở về trước:

Đây là giai đoạn mà tiểu thuyết chữ Quốc ngữ Nam Bộ hình thành, phát triển

và chấm dứt vai trò mở đường của nó Do vậy, để có một công trình nghiên cứu chuyên về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trong giai đoạn này là rất hiếm vì chưa có một độ lùi thời gian nhất định Tuy nhiên rải rác đây đó vẫn có những bài phê bình hay nhận xét về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Thiếu Sơn trong một bài viết Lời phê bình nhơn vật: ông Hồ Biểu Chánh trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 106, ngày 2 - 9 - 1931 có nêu tên Hồ Biểu Chánh như là đại

diện cho lối viết văn theo kiểu phê bình nhân vật và ông không ngần ngại ca tụng

“Ông Hồ Biểu Chánh chẳng những đã biết do sự quan sát và sáng tạo ra được những nhân vật đúng với các khuôn mẫu người đời, biết những nhân vật đó sống

Trang 4

theo với cái tính cách riêng, cái thái độ riêng, trong mỗi hoàn cảnh riêng của họ, mà ông còn khéo cho những nhân vật đó hiệp thành một cái xã hội gần giống như cái xã hội của ta, cho kẻ giầu gặp kẻ nghèo, người hèn đụng người sang, kẻ gian hùm quỷ quyệt với bậc nữ sĩ anh hào, vị gia nhân tài nữ với kẻ vô học phàm phu, vì những sự xung đột về danh, về lợi, về tư tưởng, tánh tình, về tinh thần khí tiết, mà quay cuồng vật lộn, mà chiến đấu cạnh tranh, gây nên cái vẻ hoạt động trong đời, cho độc giả được thỏa lòng quan sát” Có thể nói rằng, Thiếu Sơn là người mở đầu cho việc nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh Với bài viết này, tuy tác giả không đi sâu vào một tác phẩm cụ thể nào của Hồ Biểu Chánh, nhưng với sự khởi đầu của Thiếu Sơn đã giúp cho chúng tôi hiểu hơn về tiểu thuyết ông, đặc biệt là về phương diện nhân vật

và bước đầu có được tư liệu phục vụ cho đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

qua Cay đắng mùi đời

Trong Nhà văn hiện đại (1942), Vũ Ngọc Phan cũng đã có đề cập đến Hồ

Biểu Chánh, nhà văn đưa ra những nét phác giới thiệu chung chứ chưa phải là những bài nghiên cứu đủ kích thước, đi sâu vào một khía cạnh đặc điểm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Tuy cuốn sách viết về Hồ Biểu Chánh còn rất sơ lược, nhưng

nó đã góp phần thúc đẩy cho các tác giả giai đoạn sau này có những công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh được hoàn thiện, đầy đủ và có chiều sâu hơn

Nhìn chung, trước 1945, cũng có một số bài viết về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu, đề cập đến đặc điểm

tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh qua tiểu thuyết Cay đắng mùi đời

Từ 1945 đến 1975:

Đây là giai đoạn có nhiều sự kiện lịch sử xảy ra và đánh dấu những bước ngoặc vĩ đại của dân tộc ta Vào năm 1945, nước ta giành được độc lâp từ tay thực dân Pháp Nhưng đến năm 1954, đất nước ta lại bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc Do đó, việc nghiên cứu các nhà văn Nam Bộ nói chung và Hồ Biểu Chánh nói riêng cũng được tiến hành ở cả hai miền

Ở miền Bắc, do điều kiện tư liệu ít ỏi, lượng thông tin hạn hẹp có lẽ là nguyên nhân chính khiến cho các nhà nghiên cứu ở miền Bắc ít chú ý đến mảng tiểu

Trang 5

thuyết chữ Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng như tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Nhưng ít không có nghĩa là không có

Năm 1962, trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập IV, Nguyễn Đình

Chú đã dành hẳn một chương để giới thiệu về Hồ Biểu Chánh Tuy vậy, nằm trong quy mô và theo chuẩn mực của một giáo trình Đại học nên cuốn sách chỉ dừng lại ở những nhận xét chung mang tính thận trọng và dè dặt, Nguyễn Đình Chú chưa đi sâu vào khai thác vấn đề đặc điểm tiểu thuyết cũng như một tác phẩm nào cụ thể nào của Hồ Biểu Chánh

Trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) của Phan Cự Đệ, tác

giả có nhắc đến một số tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh nhưng vẫn giữ ý

kiến cho rằng “Tố Tâm là tác phẩm mở đầu cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam”

Ở giai đoạn này, có lẽ do thiếu tư liệu hoặc do quá trình đánh giá khác nhau, nên các nhà nghiên cứu miền Bắc không có được cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Ở miền Nam, do có nhiều điều kiện thuận lợi về mặt tư liệu hơn so với miền Bắc, đây cũng là vùng đất sinh ra và nuôi dưỡng tài năng của nhà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nên các nhà nghiên cứu ở miền Nam có nhiều công trình, chuyên khảo

đi sâu vào nghiên cứu tác giả Hồ Biểu Chánh cũng như tác phẩm của ông Có thể kể

ra những công trình nghiên cứu có đề cập và liên quan đến đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Công trình Việt Nam văn học sử yếu của Nguyễn Toản (1949), Việt Nam văn

học sử giản ước tân biên của nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ (1965) Đặc biệt, Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974) của Nguyễn Khuê là một công trình khảo cứu khá dày

về cuộc đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh Trong phần tổng kết cuối sách Nguyễn Khuê đã khẳng định “là nhà văn lớn ở miền Nam và có khuynh hướng đạo

lí, Hồ Biểu Chánh đã đi tiên phong và lập công đầu trong việc đưa tiểu thuyết mới

từ tình trạng phai thai tiến đến giai đoạn thành lập và thịnh hành Tiểu thuyết Việt Nam từ Hồ Biểu Chánh mới bắt đầu bước những bước vững chắc và ông là nhà tiểu thuyết quan trọng bậc nhất ở giai đoạn 1913 – 1932”

Trang 6

Từ sau năm 1975 đến nay:

Năm 1975, đất nước thống nhất, nước ta không còn chia cắt hai miền, điều kiện nghiên cứu thuận lợi hơn trước rất nhiều, nguồn tư liệu cũng khai thác dễ dàng hơn Do vậy, nhiều công trình có giá trị liên tiếp ra đời Trong giai đoạn này, hầu như mọi nghiên cứu đều quy tụ vào một tác giả là Hồ Biểu Chánh Nhiều công trình được nghiên cứu riêng lẻ, có chiều sâu và đi sâu vào đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Trong Từ điển văn học (tập I) của Đỗ Đức Hữu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng

Văn Tửu do nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội (1983), Hồ Biểu Chánh là tác giả tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX duy nhất được đưa vào cuốn từ điển này Cuốn sách đã dành một mục riêng và đánh giá về Hồ Biểu Chánh “Chủ yếu, đóng góp của ông vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai này là ở mấy phương diện: nội dung đề tài, xây dựng nhân vật, kết cấu ngôn ngữ”

Cuốn Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Nguyễn Kim

Anh chủ biên, nghiên cứu sưu tầm và giới thiệu đã tập hợp một số tác phẩm tiêu

biểu của Hồ Biểu Chánh Trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX cũng đã tuyển chọn một số tác phẩm tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh, trong đó có tiểu thuyết Cay đắng

mùi đời, cuốn sách đã cung cấp văn bản tác phẩm giúp cho việc nghiên cứu và tìm

tư liệu được thuận lợi hơn

Gần đây, vị trí văn học sử của Hồ Biểu Chánh đã được xác định, tiểu thuyết của ông được xuất bản lại khá nhiều, một số nhà nghiên cứu đã có nhiều suy nghĩ,

nhận xét về đặc điểm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Như cuốn Hồ Biểu Chánh

người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại do nhóm Trang Quang Sen,

Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở của nhà xuất bản Văn nghệ (2006) đã sưu tầm được rất nhiều bài viết súc tích của các nhà văn, học giả Việt Nam viết về Hồ Biểu Chánh trong nhiều khuynh hướng khác nhau

Đặc biệt, trong Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học Việt Nam hiện

đại của Giáo sư Hoàng Nhân, nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1998), đã đề cập đến Đối chiếu chuyện “Vô gia đình” của Hector Malot và Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu

Trang 7

Chánh, Hoàng Nhân đã đem hai tiểu thuyết ra để đối chiếu và ông cho rằng “Hồ

Biểu Chánh chỉ lấy cốt truyện của Hector Malot: giữ một số nét chính và đôi khi cả chi tiết của những nét chính được giữ lại, bỏ một số nét chính khác, thêm bớt một số nhân vật, đặt câu chuyện vào khung cảnh hoàn toàn Việt Nam, với những chủ đề tư tưởng, với một mục đích và lối thoát khác hẳn” Bài viết của Giáo sư Hoàng Nhân

đã đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh cụ thể của tiểu thuyết Cay đắng mùi đời và

đã cung cấp tư liệu rất hữu ích cho việc hoàn thành khóa luận

Hội thảo khoa học về nhà văn Hồ Biểu Chánh được tổ chức lần đầu tiên tại Tiền Giang vào hai ngày 17 và 18 tháng 11 năm 1988 Ba mươi bản tham luận của các giáo sư, nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh

và các tỉnh phát biểu tại hội thảo đã đề cập nhiều khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh như về “Mối quan hệ giữa con người và tác phẩm Hồ Biểu Chánh”, “Về việc đánh giá sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh”, “Vấn đề công chúng văn học đối với tác phẩm của Hồ Biểu Chánh” Các luận điểm mà hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh đưa ra đã cho chúng ta thấy được tầm ảnh hưởng của Hồ Biểu Chánh cũng như các tác phẩm của ông là rất lớn

Có thể nói, những tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng là một phần quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, tuy nhiên đến nay nhiều vấn đề vẫn bị

bỏ ngỏ Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh mà cụ thể là tác phẩm Cay đắng mùi đời được

các nhà nghiên cứu chú ý từ lâu, nhưng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống

mà mới chỉ dừng lại ở những đánh giá, nhận xét mang tính khái quát Cho đến nay, vẫn còn thiếu những công trình mang tính vĩ mô tương xứng với sự nghiệp tiểu thuyết lớn lao mà Hồ Biểu Chánh đã để lại cho đời Từ thực tế đó, khi nghiên cứu

đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh qua Cay đắng mùi đời, với việc đi sâu

vào một tác phẩm, chúng tôi mong muốn sẽ đưa đến cho mọi người thấy rõ hơn đặc điểm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, đồng thời sẽ có thêm nhiều hiểu biết về tác giả, tác phẩm Hồ Biểu Chánh cũng như tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Phạm vi nghiên cứu trong đề tài này là tiểu thuyết Cay đắng mùi đời trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, do Mai Quốc Liên chủ biên, nhà xuất bản Văn

học, Hà Nội năm 2002

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận này, chúng tôi tiến hành sưu tầm, đọc và xử lý tài liệu sau đó áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Chương 1: Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Cay đắng mùi đời

Chương 2: Hình ảnh Nam Bộ đầu thế kỷ XX qua Cay đắng mùi đời

Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật trong Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh

Trang 9

CHƯƠNG I

HỒ BIỂU CHÁNH VÀ TIỂU THUYẾT CAY ĐẮNG MÙI ĐỜI

1.1 Hồ Biểu Chánh – cuộc đời và sự nghiệp văn học

1.1.1 Vài nét về tiểu sử Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh, tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên, về sau lấy họ và tên tự làm bút hiệu chính thức để viết văn Con ông Hồ Văn Tạo, là anh ruột của hai nhà văn, nhà báo Viên Hoàng Hồ Văn Hiến (1900-1957) và Thất Lang Hồ Văn Lang Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1885 (có tài liệu ghi là ông sinh năm 1884, nhưng trong hộ tịch ghi nhỏ hơn một tuổi 1-10-1885), tại làng Bình Thành, huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Long An, trong một gia đình làm ruộng

Năm lên tám tuổi Hồ Biểu Chánh mới học vỡ lòng chữ Nho tại trường làng với một ông thầy đồ trong làng Năm mười hai tuổi, ông bắt đầu đi học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp tại trường Vĩnh Lợi, rồi sau lại cho xuống học ở trường tỉnh Gò Công Trong quá trình học tại đây, vì học giỏi ông được cấp học bổng rồi vào trường trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn Suốt thời kỳ đi học Hồ Biểu Chánh

đã phải đổi nhiều trường từ tỉnh nhỏ sang tỉnh lớn

Cuối năm 1905, ông thi đậu bằng Thành trung, và sau đó một năm, (1906) lúc ông 21 tuổi, ông thi vào ngạch Ký lục của Soái phủ Nam Kỳ, và trải nhiều thuyên chuyển, cuối cùng thăng Đốc phủ sứ (1936) Cũng trong khoảng thời gian này, Hồ biểu Chánh đã đạt được rất nhiều huy chương như: huy chương Khuê bài danh dự bằng bạc (28-12-1920); huy chương Kim Tiền (6-4-1921); huy chương Monisaraphon (26-8-1924); huy chương Chevalier de la Légion d'Honneur (9-8-1924); huy chương Ordre Royal du Dragon de l'Annam (25-3-1927); huy chương Ordre Royal du Cambodege (22-9-1927)

Đến năm 1935, Hồ Biểu Chánh đệ đơn xin về hưu trí Ông được chính phủ Pháp cho hồi hưu kể từ đầu tháng giêng năm 1937, nhưng vì chưa có người thay thế, nên ông phải ở tại chức cho đến năm 1941 mới được thôi

Trang 10

Ngày 4 tháng 8 năm 1941, sau khi về hưu, ông được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội Đồng Liên Bang Đông Dương và ngày 26 tháng đó ông lại kiêm cả nghị viên Thành phố Sài Gòn với chức Phó Đốc Lý Thành phố Sài

Gòn Ông được chính quyền Pháp tưởng thưởng Bắc Đẩu bội tinh

Cuối năm 1941, Sài Gòn và Chợ Lớn được sát lập làm một, ông lại phải làm nghị viên trong Ban Quản trị Sài Gòn, Chợ Lớn cho đến năm 1945, đồng thời làm

giám đốc Nam Kỳ tuần báo (1942) và Đại Việt tạp chí (1942), là những công cụ

tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp Việt

Sau Cách mạng tháng tám, năm 1946, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, lập

“Nam Kỳ quốc”, dựng chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Thinh, thì một lần nữa Hồ Biểu Chánh lại được mời ra làm “cố vấn” cho Chính phủ này Song không lâu sau

đó, chỉ mấy tháng, Nam Kỳ quốc thất bại, Nguyễn Văn Thinh tự tử, thì Hồ Biểu Chánh cũng lui về ở ẩn tại quê nhà Từ năm 1946, Hồ Biểu Chánh về hưu tại gò công là chốn cố hương, an phận với tuổi vãn niên và chuyên sống với nghiệp văn chương

Năm 1955, ông lên Sài Gòn sống và tiếp tục nghiệp văn của mình Năm

1985, Hồ Biểu Chánh mắc bệnh tim nặng, mặc dù chữa trị nhưng không khỏi và ngày 4 tháng 11 cùng năm, Hồ biểu Chánh qua đời tại biệt thự Biểu – Chánh ở Phú Nhuận, Sài Gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh, thọ 73 tuổi Khi nhà văn từ trần, thật cảm động, người ta thấy bản thảo tiểu thuyết thứ 65 đang viết dở dang của ông đặt trên bàn giấy

Có thể thấy, cả cuộc đời của Hồ Biểu Chánh tích cực hoạt động văn học nghệ thuật không ngừng nghỉ cho đến lúc chết Tuy về cuối đời, trong lĩnh vực chính trị Hồ Biểu Chánh có những lầm lạc tai hại đáng trách Nhưng ta cũng không quên những sự thật khác: trong khi nhiều công chức thuộc địa khác lợi dùng quyền thế để làm giàu, Hồ Biểu Chánh nổi tiếng là một người thanh liêm, ông luôn giữ cho mình một nếp sống giản dị, thanh bạch Và thật đáng quý, bằng sức lao động cần mẫn ngay cả trong ba mươi lăm năm hoạt động trên chiến trường, ông không

Trang 11

ngừng sáng tạo nghệ thuật Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, Hồ Biểu Chánh đã chứng minh được vị trí của mình trên văn đàn văn học Việt Nam

1.1.2 Sự nghiệp văn học

Cũng như đa số các tiểu thuyết gia Việt Nam khác, Hồ Biểu Chánh vừa là

nhà văn vừa là nhà báo Cùng với bạn bè ông đã xuất bản Đại Việt tạp chí ở Long

Xuyên năm 1918 và cũng hợp tác với nhiều tờ báo khác nữa Bất bình với chế độ kiểm duyệt của Pháp, ông bỏ nghề làm báo, lấy viết văn làm nghề tay trái

Hồ Biểu Chánh bắt đầu viết văn từ sớm Lúc còn trẻ (1906), Hồ biểu Chánh

đã tập viết văn Theo như nhiều người thuật lại, thì vào khoảng 1906, có phong trào đọc sách dịch của Tàu, Hồ Biểu Chánh thấy mình cần phải học chữ Nho, cho nên đã nhờ một người bạn dạy Sau khi đọc được chữ Nho, ông liền chọn những truyện hay

trong bộ Tình Sử hay Kim cổ kỳ quan đem dịch ra quốc văn nhan đề là Tân soạn cổ

tích Chính việc này đã giúp Hồ Biểu Chánh trang bị cho mình một kỹ thuật viết

tiểu thuyết chững chạc về sau Bên cạnh việc dịch chuyện Tàu, ngay từ đầu Hồ Biểu Chánh đã mơ tưởng viết truyện Việt cho người Việt đọc

Hồ Biểu Chánh bắt đầu bắt tay vào viết truyện Việt năm 1909, ông viết

truyện dài đầu tay U tình lục, thể thơ lục bát, ông ngừng viết gần mười năm sau một

vài truyện thơ có tính chất thể nghiệm

Năm 1912, Hồ Biểu Chánh được bổ nhiệm tới Cà Mau Đây là nơi ông quyết định từ bỏ văn vần để chú tâm vào viết tiểu thuyết và sáng tác đều đặn cho đến lúc

mất Cuốn tiểu thuyết đầu tay là Ai làm được đã đánh dấu sự nghiệp viết tiểu thuyết

của ông

Ngòi bút của ông thử thách trên nhiều thể loại, đi qua nhiều thế hệ trên văn học cận, hiện đại Việt Nam, và để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, gần 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch, 5 tập thơ và truyện thơ,

8 tập ký, 28 tập khảo cứu, phê bình Ngoài ra còn các bài diễn thuyết và hai tác phẩm dịch Tổng cộng Hồ Biểu Chánh có hơn 130 tác phẩm, một con số ít có nhà văn nào đạt được

Trang 12

Tuy trong cuộc đời chính trị của Hồ Biểu Chánh có những bước thăng trầm, ông làm quan cho Pháp nhưng ông không lợi dụng chức quyền của mình để hưởng lợi cho bản thân hay cho gia đình mà là để ông dễ dàng truyền bá lối sống đạo lý, truyền bá chủ nghĩa nhân đạo theo lý tưởng của ông Đã nhiều người chỉ trích lập trường chính trị của “ông quan” Hồ Văn Trung, rồi phủ nhận công trình văn học của

“nhà văn” Hồ Biểu Chánh, cách đánh giá và nhìn nhận này thiết nghĩ hoàn toàn sai lầm Bởi, dù là một “ông quan” hay một “nhà văn” thì Hồ Văn Trung hay Hồ Biểu Chánh cũng đã khẳng định được vị trí xứng đáng bằng tấm lòng và tài năng của ông Đời công chức không những không cản trở đời viết văn của Hồ biểu Chánh, trái lại còn giúp cho Hồ Biểu Chánh rất nhiều Vì công vụ nên ông phải luân chuyển khắp nơi, đặc biệt là khắp các tỉnh miền tây Nam Bộ, đó là dịp tốt để Hồ Biểu Chánh tha hồ quan sát thực tế và thu thập tài liệu để viết nên những tác phẩm giống như thật của những vùng đất miền Nam Việt Nam Mỗi nơi ông đi qua đều có dấu

ấn trong từng tác phẩm của mình Học giả Nguyễn Văn Y đã khẳng định được điều

đó “Người ta tha hồ chỉ trích lập trường chính trị của “ông quan” Hồ Văn Trung, nhưng không ai có thể xóa mờ tên tuổi “nhà văn” Hồ Biểu Chánh trong lòng người đọc cũng như trong lịch sử Việt Nam thời cận đại Hồ Biểu Chánh phải đâu là trường hợp duy nhứt trong quá khứ văn học nước nhà! Một Nguyễn Du với lập trường chính trị không mấy tốt đẹp, ăn lộc nhà Lê rồi khuất thân phò nhà Nguyễn, vậy mà kiệt tác Truyện Kiều của ông xưa nay vẫn được nhơn dân đề cao hết mức Một Xuân Diệu từng làm nhơn viên sở Quan thuế thời Pháp thuộc, vậy mà đương thời những bài thơ đầy tính chất lãng mạn trữ tình của ông không hề bị ai xóa bỏ bởi vì lý do ông làm việc cho chính quyền thực dân Xưa nay có biết bao trường hợp na ná như thế” [19, tr.14]

1.2.Tiểu thuyết Cay đắng mùi đời

1.2.1 Tóm tắt tác phẩm

Sau năm năm kết hôn, Lê Thị Thời (Ba Thời) và Trần Văn Hữu sinh được một đứa con gái Chẳng may, đứa nhỏ được bốn tháng tuổi thì mất Vợ chồng Ba

Trang 13

Thời buồn rầu, thất chí nên Trần Văn Hữu trả ruộng lại cho chủ, đổi nghề chèo ghe mướn, mặc Ba Thời hết lời khuyên can chồng

Trần Văn Hữu bỏ nhà đi hơn nữa năm, Ba Thời về sống chung với vợ chồng

Lê Văn Tiết – anh trai của Ba Thời Sau một thời gian sống ở quê, Ba Thời theo vợ chồng chú Tích lên Bình Tây may bao cho nhà máy xay lúa Một buổi chiều trên đường đi chợ về, Ba Thời “xí” được một đứa bé bị bỏ rơi trong bụi lứt Hôm sau Ba Thời ra bót trình bày sự việc với ông cò và xin được nhận đứa bé làm con nuôi Ba Thời đặt tên cho nó là Được Từ ngày có thằng Được thì nỗi nhớ con và chồng của

Ba Thời như được xoa dịu rồi chìm khuất

Hai năm sau chú Tích lâm bệnh nặng rồi qua đời Vợ chú Tích không cam cảnh nghèo khó nên tái giá để nương nhờ tấm thân Ba Thời bồng con trở về Gò Công Những ngày đầu về quê, bà con trong Xóm Tre xầm xì, bàn tán nghi ngờ thằng Được là con riêng của Ba Thời theo trai sinh ra Nhưng hiệu lực thời gian đã khiến cho những dư luận, đàm tiếu ấy dần dà mất tính thời sự

Tám năm trôi qua, hai mẹ con Ba Thời sống nương nhờ vào nhau, thương yêu nhau, tuy nghèo nhưng cuộc sống thanh đạm, an lành Được là điểm tựa tinh thần, là nguồn động viên lớn trong cuộc sống Ba Thời Rồi Trần Văn Hữu trở về Hữu bức bối, nghi ngờ trinh tiết của Ba Thời trước sự có mặt của Được Hữu tìm cách la đánh Được, trách mắng Ba Thời, rồi không làm việc, suốt ngày vùi mình vào những cơn say, Ba Thời buồn rầu nhưng không biết làm gì Khi những thứ trong gia đình bấy lâu nay Ba Thời chắt chiu, dành dụm nuôi nấng bị Hữu tiêu tan, Hữu bắt đầu nợ nần Mẹ con Ba Thời chưa khỏi xót xa khi Hữu táo bạo bán con heo, thì ít hôm sau Hữu quyết định bán thằng Được cho thầy Trần Cao Đàng với giá hai mươi đồng bạc Ba Thời bất lực, chỉ biết khóc và nhịn nhục trước những định đoạt của Hữu

Thầy Đàng quê ở Cần Đước Thầy Đàng trước kia dạy học, sau làm thông ngôn cho quan tham biện ở Sài Gòn, gặp quan trên khắc khe nên xin thôi việc Sau khi từ quan vợ chồng thầy Đàng trở về quê Vợ thầy Đàng vốn quen sống trong cảnh phồn hoa, nhung gấm nên bà khó hài lòng trước cuộc sống thanh bần hiện tại

Trang 14

Khi thấy thầy từ quan thì vợ thầy tỏ ra khinh thị, không thể dung hòa về cách sống, thầy Đàng đề đơn li dị Thầy chọn cách ra đi, thầy ngao du khắp chốn, lang thang khắp miền lục tỉnh dùng nghề đàn ca mưu sinh, giải sầu Được là đứa học trò thứ hai mà thầy Đàng nhận nuôi sau Liên Hằng ngày, thầy dạy chúng đàn ca trình diễn cho thiên hạ nghe mà kiếm tiền, thầy còn dạy Được và Liên học chữ quốc ngữ và dạy cả những bài học đạo đức làm người

Thầy Đàng dắt học trò về Cần Đước thăm vợ chồng cô em gái ruột là Phan Hảo Tâm Khi hay tin thầy Đàng trở về, người vợ cũ có ý nối lại tình nghĩa xưa với thầy Nhưng thầy lặng lẽ chối từ Ít lâu sau cả ba thầy trò xuống nhà ông phán Cầm

ở Bến Tre Hai vợ chồng ông Phán tiếp đón thầy Đàng rất nồng hậu và giữ lại trót

ba năm Một hôm bà Phán có ý lẳng lơ với thầy Đàng Cảm thấy tư cách cá nhân, danh dự nghề nghiệp bị xúc phạm, thầy Đàng dắt Được và Liên rời khỏi nhà ông Phán xuống Trà Vinh

Vừa đến Trà Vinh, thầy Đàng trông thấy một chú bếp xét giấy đánh một người dân quê Bất bình, thầy Đàng ra tay can thiệp, nào ngờ quan lính nơi đây lộng quyền vu oan thầy đánh người thi hành công vụ, bắt giam thầy mười lăm ngày tù Trước lúc thi hành án, thầy Đàng có dặn anh em Được đến Càng Long để nương nhờ nhà ông hội đồng Sáu là bạn cũ của thầy Nhưng khi đến đó, thấy hai vợ chồng ông Sáu tỏ ra lạnh nhạt, Được và Liên bỏ đi Không chốn nương nhờ, Được và Liên dùng tài nghệ đàn ca do thầy truyền dạy để mưu sinh, kiếm sống

Tại kinh Mang Thít, Được và Liên được bà hội đồng Nhàn ở Cần Thơ cảm thương mời xuống ghe chơi ít hôm, cho ăn uống và ngủ nhờ, rồi cho người đi đón thầy Đàng ở Trà Vinh Bà có ý nhận Được và Liên làm con nuôi Nhưng thầy chỉ đồng ý cho Liên theo bà hội đồng Thầy Đàng và Được lên Sài Gòn Trên đường đi gặp trời mưa to, thầy cảm nặng rồi qua đời Còn Được thì bất tỉnh và được thầy xếp

ga Phú Lâm đưa và cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy

Từ khi thầy Đàng qua đời, ban ngày Được lê bước đàn hát ở bến xe, đêm về

tá túc ở những chiếc ghế công viên Tại đây, Được và Bĩ gặp nhau rồi kết bạn Bĩ có

Trang 15

tài thổi kèn lá, được lại giỏi đờn ca Cả hai cùng phiêu bạt đây đó để mưu sinh Tết đến, Được dắt Bĩ về thăm lại nhà cũ và mua tặng mẹ nuôi Ba Thời một con heo

Khi Ba Thời cho Được hay tin cha mẹ ruột đang truy tìm tung tích của mình, Được cùng Bĩ trở lên Sài Gòn Thầy Thông Lợi dắt được đến một gia đình nghèo túng, đông con để nhận cha mẹ ruột Bĩ hoài nghi và khuyên Được nên đi khỏi nơi này, nhưng Được không tin Đêm khuya cả gia đình ấy bị lính bắt vì tội trộm cướp, Được và Bĩ trốn thoát Sáng hôm sau, cả hai lên đường xuống Cần Thơ tìm Liên tại nhà bà Hội đồng Nhàn

Đến Cần Thơ, Được và Bĩ được bà hội đồng sắp xếp chỗ ăn ở sang trọng và

bí mật ở nhà hàng Bởi vì bà Hội đồng đang chuẩn bị kế hoạch vạch tội ác của Phan Đức Lợi và Tô Thị Sảnh

Phan Đức Lợi là em chồng của bà Hội đồng, còn Tô thị Sảnh là vợ bé của ông Hội đồng Phan Thanh Nhàn Ông bà hội đồng sống với nhau một thời gian dài

mà không có con, nên bà hội đồng hỏi cưới Thị Sảnh cho chồng Thị Sảnh sinh cho ông hội đồng một đứa con trai tên là Phan Thanh Hà, ít lâu sau bà hội đồng sinh Phan Thanh Nhã, tức thằng Được bây giờ Thị Sảnh và Đức Lợi có ý chiếm đoạt gia tài nên đánh cắp Thanh Nhã rồi vứt vào bụi lứt trên Bình Tây

Sau nhiều năm tìm con, tình cờ một hôm nghe Hữu kể về gia cảnh, bà hội đồng linh cảm đứa con trai mà vợ Hữu (Ba Thời) nhặt được trên Bình Tây là con

bà Nên bà cho mời Ba Thời đem toàn bộ trang phục và sợi dây chuyền vàng mang trên người thằng bé lúc Ba Thời “xí được” xuống Cần thơ

Đức Lợi và Thị Sảnh cuối đầu nhận tội Bà hội đồng tìm lại đứa con trai thất lạc hơn mười lăm năm Được trở về sống trong tình thương ruột thịt và giàu sang Song những năm tháng cơ hàn, gian khổ đã giúp Được hình thành một tính cách chính nhân, khoan hậu và độ lượng

Qua Cay đắng mùi đời, Hồ Biểu Chánh đã đưa được chủ đề nhân đạo vào

trong tác phẩm của mình Ông đã cho người đọc khắp vùng Nam Kỳ lục tỉnh những năm đầu thế kỷ XX chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều trang viết về tình người Trong đó, có những cảnh đời hết sức “cay đắng mùi đời” như: sự ghẻ lạnh quay

Trang 16

lưng bỏ mặc thầy Đàng lúc khó khăn của những người từng nương tựa khi thầy còn

là thông ngôn; người vợ cũ muốn bỏ thầy Đàng để tìm cuộc sống nhung lụa khi xưa; hay cảnh đời cơ cực của những người nông dân nghèo như Ba Thời, thằng Được, Bĩ; Cảnh gian ác, hám tiền của Thông Lợi toa rập với vợ bé của anh trai bắt trộm con của bà lớn để dễ bề đoạt gia tài Trong tác phẩm, cũng gợi lên cho người đọc nhiều suy nghĩ, đó là tình người như: tấm chân tình tiêu biểu là tình yêu thương

vô bờ bến của Ba Thời đối với đứa trẻ mình nhặt được; hay chuyện người đàn bà bán hàng bông tốt bụng đã cho Liên và Được “ăn nhờ ở đậu” trong lúc thầy Đàng ở tù; hay tấm lòng của bà Hội đồng Nhàn đã yêu thương Liên như con ruột Đặc biệt, với thầy Đàng – một con người đạo nghĩa, yêu thương, quan tâm người dân lúc đang làm quan, bênh vực và cưu mang người nghèo khổ (con Liên và thằng Được) nên đã “rướt họa vào thân” ngay cả khi là một người dân bình thường không vướn bận mũ nón của quan chức Chính những câu chuyện về cách đối xử giữa người với

người, tính cách và số phận của từng nhân vật khiến cho Cay đắng mùi đời trở

thành một tác phẩm đề cao lòng nhân đạo sâu sắc

Hầu hết tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đều thể hiện theo khuynh hướng đạo

lý, khuynh hướng này được sử dụng trong văn học Nam Bộ từ thời Nguyễn Đình Chiểu cho đến các nhà văn lớp sau như Phú Đức, Hồ Biểu Chánh Khuynh hướng này đã giúp cho tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh giữ nhiều truyền thống tốt đẹp của tiểu thuyết Việt Nam cổ điển: giàu tính lý tưởng, giàu tinh thần dân chủ chống phong kiến Quan niệm đạo đức của Hồ Biểu Chánh cũng giống như nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đó là nếp sống thanh bạch, có lẽ đó là sự hun đúc của tinh thần đạo nghĩa phương Đông

Với việc đưa thuyết nhân – quả vào trong tác phẩm của mình, Hồ Biểu Chánh đã thành công với triết lý “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”, thể hiện rõ nhất

ở các nhân vật như Ba Thời, Thầy Đàng, thằng Được, bà Hội đồng Nhàn, Phan Đức

Lợi và Tô Thị Sảnh Có thể thấy trong Cay đắng mùi đời, chủ nghĩa nhân đạo là nội

dung xuyên suốt toàn bộ tác phẩm: Ba Thời tượng trưng cho lòng thương người, tình vợ chồng chung thủy; thằng Được thuyết minh cho tình bạn bè, tình yêu thương

Trang 17

cha mẹ, biết ơn thầy học; thầy Đàng đại diện cho những con người vì nghĩa lớn xả thân cứu giúp người hoạn nạn

1.2.2 Cay đắng mùi đời tiểu thuyết phóng tác

Trong tập Ký ức đánh máy có nhan đề Đời tôi về văn nghệ sĩ, Hồ Biểu Chánh

từng giải trình về những tác phẩm tựa vào cốt truyện Pháp “Đọc tiểu thuyết hay tuồng hát Pháp văn mà tôi cảm thì tôi lấy chỗ cảm đó mà làm đề, rồi phỏng theo ít nhiều hoặc lấy đó mà sáng tác một tác phẩm hoàn toàn Việt Nam Tuy tôi nói phỏng theo kỳ thiệt chỉ lấy đại ý mà thôi, mà có khi tôi còn lật ngược tới đại ý, làm cho cốt truyện trái hẳn tâm lý, khác xa với truyện Pháp” [24] Hồ Biểu Chánh có liệt kê 12

tác phẩm được “viết bởi cảm tác nào của Pháp” như Chúa Tàu Kim Quy là cảm bởi

Bá tước đảo Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) của A Dumas, Ngọn cỏ gió đùa cảm đề từ bộ truyện Những người khốn khổ (Les Misérabkes) của Victor Hugo, Cay đắng mùi đời từ Sans famille (Không gia đình) của Hecto Malot

Toàn bộ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh gồm có 64 cuốn, trong đó có 12 cuốn cảm tác theo tiểu thuyết phương Tây, gồm 11 tác giả của Pháp và 1 của Nga,

chiếm khoảng một phần năm tác phẩm là truyện phóng tác Cay đắng mùi đời cũng

là một trong số những tiểu thuyết mà Hồ Biểu Chánh phóng tác theo tiểu thuyết nước ngoài

Phóng tác được hiểu là tác giả chỉ giữ lấy cốt truyện hay một phần cốt truyện của tác phẩm được phóng tác; còn câu chuyện, hoàn cảnh, tâm lý, tư tưởng, hành động của các nhân vật, lời văn, đều do tác giả sáng tác ra nhân đọc, nghe câu chuyện của người khác, nghĩ đến câu chuyện của mình Hai câu chuyện khác nhau, với những tâm lý, tư tưởng nhân vật khác nhau, chỉ giống nhau ở một điều là cái ý truyện hoặc các cốt truyện Như vậy hai tác phẩm có thể giao lưu qua lại, mà mỗi bên đều giữ được bản sắc riêng của mình Phóng tác đạt đến chỗ tài tình khéo léo nếu người đọc không thể nhận ra việc cảm tác vì tất cả câu chuyện, tâm lý tư tưởng nhân vật có vẻ thuần túy dân tộc Ngay cả sau khi đọc tác phẩm nước ngoài được cảm tác, khi trở lại đọc tác phẩm cảm tác cũng chỉ bị ám ảnh, thu hút, xúc động vì chính tác phẩm cảm tác mà thôi Đó là thành công của nhà văn Cách mà Hồ Biểu

Trang 18

Chánh phóng tác trong tác phẩm của mình và cách cảm nhận của người đọc khi đọc tác phẩm của Hồ Biểu Chánh cũng như trên Thật vậy, Hồ Biểu Chánh là một trong

những tác giả đã làm được những điều đó, đọc Cay đắng mùi đời không ai có thể

phủ nhận sự dày công Việt hóa truyện của ông

Cay đắng mùi đời là tiểu thuyết được Hồ Biểu Chánh phóng tác từ Không gia đình của Hector Malot Nhìn chung, các nhân vật chính và trình tiết trọng yếu

của Không gia đình (Sans famille) đều có trong Cay đắng mùi đời

Khi phóng tác theo tiểu thuyết của Hector Malot, Hồ Biểu Chánh chỉ lấy cốt truyện của Hector Malot: ông giữ một số nét chính và đôi khi cả chi tiết của những nét chính được giữ lại, bỏ một số nét chính khác, thêm bớt một số nhân vật, đặt câu chuyện vào khung cảnh, hoàn cảnh Việt Nam, với những chủ đề tư tưởng, với một mục đích và lối thoát khác hẳn

Trong Không gia đình, Hecto Malot kể chuyện về một em bé Rêmi không

cha, không mẹ, không họ hàng thân thích, đi theo một đoàn xiếc chó, khỉ, rồi dẫn đầu đoàn ấy đi lưu lạc khắp nước Pháp, sau đó bị tù ở Anh, cuối cùng tìm thấy mẹ

và em Bé Rêmi đã lớn lên trong gian khổ Em đã chung đụng với mọi hạng người, sống khắp mọi nơi Em đã tự lao động lấy mà sống, lúc đầu dưới quyền điều khiển của cụ Vitali - một ông già từng trải và đạo đức, về sau là tự lập và không những lo cho mình, còn bảo đảm việc biểu diễn và sinh sống cho cả một gánh hát rong Đã có khi em và cả đoàn lang thang suốt mấy ngày không có chút gì trong bụng Đã có lúc

em bị lụt ngầm chôn trong giếng mỏ mười mấy ngày đêm Đã có khi em mắc oan bị giải ra trước tòa án và bị ở tù Và cũng có khi em được nuôi nấng đàng hoang, no

ấm Nhưng dù ở đâu, trong cảnh ngộ nào, em vẫn noi theo nếp rèn dạy của cụ Vitali giữ phẩm chất làm người, nghĩa là ngay thẳng, gan dạ, tự trọng, thương người, ham lao động, không ngửa tay xin xỏ, không dối trá, gian xảo, nhớ ơn nghĩa, luôn luôn muốn làm người có ích Bên cạnh Rêmi còn có cậu bé Matchia khôn ngoan, linh lợi, tháo vát, tận tình với bạn

Được phóng tác từ Không gia đình của Hecto Malot, Cay đắng mùi đời cũng

là câu chuyện kể về một đứa trẻ sơ sinh bị chính người chú ruột toa rập với vợ bé

Trang 19

của cha mình đánh cắp, bỏ rơi vì muốn chiếm đoạt tài sản của cha mẹ đứa bé sau này Đứa bé may mắn được Ba Thời - một người phụ nữ hiền lành cưu mang và nhận làm con, nhưng Trần Văn Hữu – chồng của Ba Thời trở về, đã bán Được cho thầy Đàng hát dạo Có nhiều trắc trở xảy ra trên bước đường phiêu lưu của Được Tình cờ trên đường phiêu lưu đi hát rong, đứa bé gặp được mẹ ruột và em trai mà không biết đó là họ hành ruột thịt của mình Sau một thời gian tìm nhau thì gia đình đứa bé mới được đoàn tụ

Về cốt truyện và nhân vật: Hồ Biểu Chánh giữ lại cốt truyện và nhân vật chỉ

thay tên đổi họ cho phù hợp với tên người Việt Nam Nhân vật ở trong Cay đắng

mùi đời được Hồ Biểu Chánh thay đổi khác hoàn toàn về tên họ cho phù hợp với

cách gọi của người Việt Nam nhưng vẫn là kiểu nhân vật trong Không gia đình của

Hector Malot Như nhân vật Rêmi là Được, má Bácbơranh là Ba Thời, ông Bácbơranh là tên Hữu, Vitali là thầy Đàng, bà Milligơn là bà hội đồng Nhàn, Mátchia là Bĩ

Những nhân vật được Hồ Biểu Chánh giữ lại trong tác phẩm của mình:

- Má Bácbơranh: Ba Thời

- Chồng má Bácbơranh (ông Giêrôm): Trần Văn Hữu

- Bé Rêmi: thằng Được

- Cụ Vitali: thầy Trần Cao Đàng

- Bà Miligơn: Bà Hội đồng Phan Thanh Nhàn

- Áctơ: Phan Thanh Phong

- Ông chú Giem Miligơn: Phan Đức Lợi

- Mátchia: thằng Bĩ

- Gia đình Đơrixcơn: gia đình ở Khánh Hội

Hồ Biểu Chánh bỏ một số nhân vật như: ông Gátxpa, thằng Carôry, gia đình ông Acanh: Êchiênnét, Lidơ, Bănggiamanh, Alixơ, ông thầy âm nhạc nổi tiếng làm nghề cạo râu, cha của Mattie, bầy thú vật

Về chi tiết và tình huống truyện: Nhiều nét chính được Hồ Biểu Chánh giữ lại cả chi tiết như đoạn, hai đứa trẻ về thăm mẹ nuôi, có ý kiến dùng tiền có được do

Trang 20

đàn hát dạo mua con bò cho mẹ nuôi (trong truyện Không gia đình của Hector Malot), mua con heo (trong Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh) Bên cạnh đó,

một số chi tiết của truyện được tác giả thay thế để phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam như con bò cái của má Bácbơranh được đổi thành con heo quắn của Ba Thời, nhân vật Mátchia có tài kéo violon đổi thành nhân vật Bĩ có tài thổi kèn lá Đoạn hai đứa bé mua con vật dắt về nó xổng chạy mất, bị tình nghi ăn cắp, sau được tha và được cấp cho giấy biên nhận Lại có nhiều đoạn Hồ Biểu Chánh bỏ qua như

đoạn đang trên đường về quê thăm mẹ nuôi, trong tác phẩm Không gia đình của

Hector Malot thì Rêmi tạm trú ở khu mỏ than, quen biết gia đình Acanh và các bạn: Êchiênnét, Bănggiamanh, Alixơ, Malot đã để nhiều trang mô tả cảnh mỏ than bị lụt nước, Rêmi và những người thợ mỏ khác bị kẹt ngay trong hầm, sống chiến đấu

và hi vọng như thế nào và bản thân Rêmi, Mátchia và gia đình Gátxpa ở trên mặt

đất lo lắng trông đợi làm sao, còn trong Cay đắng mùi đời thì bị lược bỏ

Như vậy, tuy phóng tác nhưng Hồ Biểu Chánh đã lược bỏ một số đoạn

không phù hợp với khung cảnh ở Việt Nam Có thể nói, khi viết Không gia đình

Hector Malot đã đưa câu chuyện của mình cho thích nghi với khung cảnh xã hội hiện đại thời kỳ đầu kỹ nghệ công nghiệp (có đường xe lửa, tàu chạy bằng hơi nước,

phu thợ hầm mỏ) Còn khi viết Cay đắng mùi đời, Hồ Biểu Chánh đã đặt câu

chuyện vào khung cảnh Việt Nam năm 1923, lịch sử Việt Nam từ năm 1923-1930 là giai đoạn định hình hướng phát triển cực kỳ quan trọng của cách mạng nước ta, là những năm mà Nam Bộ vẫn còn sử dụng ghe thuyền, xe ngựa

Không ngừng lại ở sự hoán đổi chi tiết truyện, thay đổi tên nhân vật mà tác giả tiến xa hơn bằng cách xây dựng nhân vật mang tính cách, tâm lý người Việt Hành động và cư xử của tên Hữu đối với Ba Thời phản ánh tính cách gia trưởng, độc đoán của một lớp đàn ông trong xã hội nông thôn miền Nam, chế độ đa thê phản ánh phong tục gia đình của Người Việt Cách hành xử và tình cảm của Được biểu hiện tính chân chất, thật thà của những đứa trẻ miền quê Hơn nữa, tuy phóng tác theo tác phẩm của Hecto Malot nhưng ta vẫn cảm thấy một không khí Nam Bộ, những tính cách rất Nam Bộ của các nhân vật Hồ Biểu Chánh chỉ vay mượn cốt

Trang 21

truyện và học tập kỹ xảo ở vài nhà tiểu thuyết Pháp thế kỷ XIX trong giai đoạn mới bắt đầu cầm bút rồi sau đó dường như ông không hề theo dõi sự tiến triển của văn chương Pháp thế kỷ XX, cũng như sự ra đời của nền văn học hiện đại Việt Nam

Tiểu thuyết của ông cơ bản dựa vào kỹ thuật của tiểu thuyết phương Tây, nhưng vẫn còn mang ít nhiều tính chất cổ điển và vẫn tiếp nối truyền thống chuyên chở đạo lý, quảng bá đạo đức của văn chương truyền thống Và điều quan trọng là

nó gần gũi với truyền thống, tâm lý của nhân dân Nam Bộ nên đã nhanh chóng đi vào và sống lâu dài trong lòng người đọc Nam Bộ

1.3 Vị trí của Cay đắng mùi đời trong sự nghiệp văn học Hồ Biểu Chánh

“Phần lớn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chưa bị người đọc chán bỏ chính vì tác phẩm của ông còn đủ sức gây xúc động trong lòng người và đưa tâm hồn người

ta hướng thượng Bất kỳ một tác phẩm văn học nào mà khi người ta đọc nó, người

ta còn bị xúc động, còn rung cảm theo từng sự việc do nhà văn miêu tả, và khi đọc xong rồi, tâm hồn người ta có phần bị cảm hóa hướng về chân thiện mỹ, lánh xa những tội ác thấp hèn, thì tác phẩm ấy đáng gọi là “lành mạnh”, có giá trị góp phần xây dựng con người không nhiều thì ít Đa số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh hầu như đã hội tụ đủ hai điều chính yếu ấy, cho nên dù văn phong “cũ mèm”, kết cấu quá cổ điển, tác phẩm của ông vẫn thừa sức gây thích thú cho người đọc, không tác hại chút nào đến tâm hồn người xem”[19, tr.16], Nguyễn Văn Y trong một bài viết

về Hồ Biểu Chánh đã đưa ra nhận xét như vậy

Đúng vậy, những năm đầu thế kỷ, tiểu thuyết của Hồ biểu Chánh đã đi sâu vào lòng người đọc đủ mọi trình độ, đông đảo nhất là tầng lớp quần chúng “tay lấm chân bùn” ở nông thôn và giới thợ thuyền bình dân ở thành thị Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh không những phổ biến cùng khắp miền Nam, mà ngay cả giới văn học nghệ thuật miền Bắc hồi đó vẫn kiêng nể ngòi bút ông như là nhà viết tiểu thuyết đầu tiên và sung túc nhất với đầy đủ phong cách hào phóng, ngôn ngữ đặc thù, mang trọn vẹn tính chất người Nam Bộ trung thực, hiền lành và chất phác Trong khi miền Bắc, tiểu thuyết “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách mang đầy tính chất lãng mạn thì tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ở miền Nam lại sớm đi vào dòng văn

Trang 22

học phản ánh hiện thực, mô tả và lột trần hiện trạng xã hội lầm than, cơ cực thời đó Nghèo đói, rách rưới, bất công và áp bức luôn đeo bám từng tác phẩm ông Chính vì nói lên được thực trạng của xã hội thời đó nên các tác phẩm của ông thời đó, người

ta đọc ông, say mê ông tạo nên vị trí của ông trên văn đàn văn học Việt Nam

Trong các tác phẩm viết trước năm 1930, có các tác phẩm được xem là xuất

sắc và gây được nhiều tình cảm độc giả nhất Cay đắng mùi đời được viết năm

1923 Tác phẩm phóng tác dựa theo cuốn tiểu thuyết Pháp mang tên Sans famille (Không gia đình) của văn hào Hecto Malot (1830 - 1907) là tiểu thuyết nổi danh

nhất và có nhiều độc giả nhất, chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn học của

Hồ Biểu Chánh

Sự thành công của tác giả, cái hay của tác phẩm Cay đắng mùi đời chủ yếu

nhờ vào năng lực sáng tạo, ngòi bút linh hoạt, uyển chuyển của nhà văn Tác phẩm góp phần khẳng định phong cách phóng tác có định hướng của nhà văn Hồ Biểu Chánh Bằng giọng văn mộc mạc, không điệu đàng, truyện tái dựng bức tranh đời sống văn hóa xã hội, cảnh vật, con người mang sắc thái Nam Bộ đặc thù Kết thúc truyện có hậu, phù hợp với đạo lý truyền thống của người Việt Nam Có lẽ, đây chính là tố chất tạo cho tác phẩm có sức hấp dẫn riêng đối với độc giả miền Nam

thời ấy Và tác phẩm Cay đắng mùi đời đã góp phần đánh dấu sự nghiệp văn học vẻ

vang, nói lên được tư tưởng đạo lý của Hồ Biểu Chánh

Cuốn tiểu thuyết Cay đắng mùi đời là một bức tranh sống động về phong tục

và cuộc sống người dân miền Nam bằng chữ trong thời kỳ đầu của thế kỷ XX Nguyễn Thanh Liêm và Phạm Thế ngũ đều cho rằng: “Người nghiên cứu về xã hội

về văn hóa hay lịch sử của miền Nam Việt Nam đầu thế kỷ XX có thể lấy được rất nhiều dữ kiện trong kho tiểu thuyết của Hồ biểu Chánh” [8, tr.16] Tiến sĩ Mai Quốc Liên, giám đốc trung tâm nghiên cứu Quốc học cũng nhận xét: “xét về đủ mọi phương diện, Hồ biểu Chánh là một nhà tiểu thuyết lớn của Nam Bộ và cả nước Chúng ta phải xác định lại cho đúng vị trí của ông trong lịch sử văn học"[8, tr.16]

Trang 23

CHƯƠNG II

HÌNH ẢNH NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX QUA CAY ĐẮNG MÙI ĐỜI

2.1 Bức tranh hiện thực ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

2.1.1 Nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu

Như Nguyễn Văn Y đã nhận xét, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh: “là những bức tranh “truyền thần” khá chính xác về xã hội miền Nam trong một giai đoạn lịch

sử đã qua” [1, tr.15] Xã hội Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX trải qua nhiều biến chuyển: về kinh tế của nước ta giai đoạn này thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột kinh tế như tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh tế mới ) nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu Thấy được thực trạng đó, Hồ Biểu Chánh đã không ngần ngại “tả chân” nền kinh tế nghèo nàn ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào trong tác phẩm của mình

Tiểu thuyết của Hồ Biểu đã ghi lại một số nét khá điển hình của hiện thực Nam Bộ vào những năm sau đại chiến thế giới thứ nhất Tác phẩm của ông bao quát nhiều thành thị và nông thôn rộng lớn của Nam Bộ, ông đi sâu vào khai thác những

mặt trái của nền kinh tế, đó là nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn Trong tác phẩm Cay

đắng mùi đời, hình ảnh nền kinh tế Nam Bộ được Hồ Biểu Chánh xây dựng một

cách rõ nét

Những ngôi nhà lá tồi tàn đã được Hồ Biểu Chánh đưa vào trong tác phẩm một cách rất thực Hình ảnh ngôi nhà của Ba Thời: “có một cái nhà lá đã nhỏ mà lại thấp, muốn vô nhà qua cửa phải cúi đầu Dựa bên nhà có một cái chuồng vịt, tuy xấu nhưng mà sạch, nên không hôi cho lắm Trước sân thì ướt át có một đám rau đắng không trồng mà mọc…” ngôi nhà này được dựng lên từ “chị ta mượn của anh thêm vài chục đồng bạc nữa, rồi mua cây lá cất sơ sài một cái nhà nhỏ mà ở gần với

Trang 24

anh”, nhìn vào cảnh nhà như vậy ta cũng hình dung được cuộc sống của Ba Thời khổ cực như thế nào Hay ngôi nhà của người đàn bà bán khóm “Thằng Được dòm coi trong nhà thì thấy ván giường xịch xạc lem luốc chẳng có vật chi quý” Đọc đoạn văn có cảm tưởng như ta đã gặp những ngôi nhà kiểu này ở những vùng đất Nam Bộ vậy

Ở trong một xã hội thực dân nghèo nàn, cuộc sống của người dân nơi đây cơ cực, làm lụng vất vả mới kiếm ra được đồng tiền mưu sinh: “Ba Thời ở xóm tre trọn bảy năm trời, đến mùa cấy thì đi cấy, đến mùa gặt thì đi gặt, hết mùa làm ruộng thì xúc tôm bắt cá đem về bán kiếm tiền”, người đàn bà bán khóm thì bán đồ hàng bông ngoài chợ để nuôi sống bản thân

Rõ ràng Nam Bộ có nhiều tiềm năng để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc

ấm no: một vùng đất mới khai phá, đất đai màu mỡ, thiên nhiên ưu đãi… Thế nhưng qua tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chúng ta được chứng kiến một thực tế nghèo nàn, lạc hậu đã diễn ra hồi đầu thế kỷ XX Cái sắc sảo trong bức tranh hiện thực được Hồ Biểu Chánh phác họa nên, đó là: có những đứa trẻ không gia đình sống lang thang, vất vưởng ngoài đường phố Cảnh thằng Được và thằng Bĩ không gia đình, không nơi nương tựa đến nỗi phải:

- Ăn cơm thì mình vô quán ăn quấy quá cũng xong, còn chỗ ngủ không biết tính làm sao…

-Vậy chớ cái vườn nầy để làm chi đó Nếu thiên hạ có áp vô dành giựt chỗ hết thì còn vườn sở thú nữa chi Nói cùng mà nghe vườn thú có chật nữa thì mình lên trường đua, hoặc vô trong lăng ông Thượng cũng được cần gì mầy phải lo chi mệt

Hồ Biểu Chánh không chú ý đến những phố phường thành thị giàu sang, cảnh nhà đồ sộ mà ông quay về đồng ruộng, quay về với những lớp người còn đang sống ngoài rìa của xã hội, ngoài rìa của nền văn minh mới, chưa biết đến những phát minh mới lạ của khoa học, chưa bị cám dỗ, lôi hút bởi cảnh đời xa hoa nơi thành thị Họ gắn bó với đồng quê, với nền nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn Dựa vào những công việc làm thuê tạm bợ để sống qua ngày, họ không có ruộng đất để

Trang 25

làm của riêng như Ba Thời, muốn làm ruộng thì phải thuê đất của địa chủ Cuộc sống nơi thôn quê nghèo nàn chẳng bao giờ thoát khỏi những người nông dân trong tác phẩm Cảnh đói ở thôn quê của Ba Thời không làm cho cuộc sống của Ba Thời khá lên được khiến Ba Thời phải bỏ làng đi nơi khác vá bao thuê cho nhà máy xay lúa, chồng bà cũng trả ruộng lại cho chủ mà đi chèo ghe thuê Dường như cảnh làm thuê làm mướn luôn gắn với những người nông dân nơi đây Một điều có thể thấy, Nam Bộ suốt thời kỳ trước và sau khi có Pháp, đất đai chủ yếu tập trung trong tay

kẻ giàu, nhiều quyền lực: bà Hội đồng Nhàn hay ông Hội đồng Sáu đất đai rộng lớn phải kiếm người làm thuê làm mướn cho mình, người dân nghèo rút cuộc chỉ là những kẻ làm thuê, họ không có quyền sở hữu trên mảnh đất mà mình đã có công khai phá những năm đầu thế kỷ XX Vợ chồng Ba Thời trước kia cũng từng thuê đất của địa chủ để làm ăn nhưng rồi tên Hữu lại trả đất mà đi chèo ghe mướn, sau này bà Hội đồng Nhàn trả ơn cho vợ chồng Ba Thời bằng cách cho mướn ruộng đất

để làm ăn sinh sống chứ vợ chồng Ba Thời không hề có ruộng đất riêng Chính điều này đã dẫn đến tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về nền kinh tế ở Nam Bộ lúc bấy giờ

Không chỉ trong Cay đắng mùi đời, cảnh nghèo còn được Hồ Biểu Chánh mô

tả qua hình ảnh ngôi nhà tranh nhỏ, cửa ván xịch xạc của vợ chồng Cu Tư ở xóm Chí Hòa thuộc vùng đất Nam Bộ, rồi cảnh làm thuê làm mướn kiếm sống từng ngày một, ăn ở chui rúc trong những xóm nhà lá nghèo nàn, chật chội, con cái dơ bẩn, rác rưới của những người ở xóm chợ trên Đất Hộ - Sài Gòn, những con người luôn phải

đối diện với bệnh tật và cái chết trong Vì nghĩa vì tình; cảnh túng thiếu nên những

đứa trẻ mới sinh ra đã chết vì suy dinh dưỡng như trường hợp vợ chồng Bạch Tuyết

và Chí Đại trong Ai làm được

Hồ Biểu Chánh đã phác họa bức tranh hiện thực về kiếp người nông dân dưới chế độ nửa thực dân phong kiến ở vùng Đồng Bằng sông Cửu Long với cuộc sống vất vả, nghèo nàn Cảm quan về cái nghèo đã chi phối cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về cảnh vật ở nông thôn Tác giả không giấu nổi sự tiêu điều, xơ xác của làng mạc, ruộng vườn những năm đầu thế kỷ XX vào trong tác phẩm Làng quê trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chẳng thể nào được thi vị hóa như làng quê trong

Trang 26

tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn Nơi đây chưa có tiếng trống thúc sưu dồn thuế, cũng không thấy sự hoành hành cay nghiệt của các thói tục hủ lậu ngàn đời như làng quê

ở Bắc Bộ, mà chúng ta thường bắt gặp trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nam Cao hay Nguyễn Công Hoan Thế nhưng cuộc sống ở đây vẫn nghèo nàn lắm Hồ Biểu Chánh còn miêu tả cảnh xã hội nghèo đói, lạc hậu đến mức con người bị tha hóa phải đi trộm cắp, gia đình mà thằng Được tưởng là gia đình của mình khi Phan Đức Lợi âm mưu dẫn Được đến là gia đình chuyên đi trộm cắp và chứa đồ trộm cắp

để đem đi tiêu thụ Hay gia đình chú của thằng Bĩ cũng vậy, cha mẹ dạy cho con cái cách móc túi tiền của người ta Cách sống của những nhân vật này trong tác phẩm

đã phản ánh được cái xã hội mà họ đang sống, một xã hội đầy rẫy những tệ nạn, đói khổ và lạc hậu

2.1.2 Nhân vật thuộc về giai cấp địa chủ, phong kiến

Trong Cay đắng mùi đời, hình ảnh giai cấp địa chủ phong kiến tuy không nhiều, không được khắc họa rõ nét giống trong một số tác phẩm như: Ngọn cỏ gió

đùa, Cha con nghĩa nặng, Con nhà nghèo, Chúa Tàu Kim Quy, Tiền bạc bạc tiền,

Ai làm được, Thầy thông ngôn nhưng Hồ Biểu Chánh cũng đã phần nào phác thảo

cho người đọc về hình ảnh giai cấp này Đó là hình ảnh của ông Hội đồng Sáu, ông

bà Hội đồng Nhàn, gia đình ông Phán Cầm, gia đình ông Cai tổng, ông Cò, ông quan Tham biện

Khi xây dựng hình ảnh giai cấp đại chủ phong kiến trong tác phẩm của mình,

Hồ Biểu Chánh không thiên về mặt nào mà ông xây dựng ở hai khía cạnh: một mặt ông phát hiện ra những việc làm xấu xa nhơ nhớp của bọn địa chủ phong kiến, ông phê phán bọn địa chủ phong kiến cậy chức cậy quyền, không có tình người Một mặt ông đề cao những phía cạnh tích cực của họ, quẩn quanh đâu đó vẫn có những ông bà địa chủ tốt bụng, sống có tình người Ông quan niệm, dù là giai cấp nào, ở

xã hội nào thì cũng đều có người tốt, kẻ xấu

Mô tả về giai cấp địa chủ, Hồ Biểu Chánh thể hiện qua cách ăn mặc, kể cả địa chủ hiền hay ác thì đều có một kiểu trang phục như nhau Đàn ông, đàn bà thì:

“áo lụa trắng, quần lãnh đen”, trẻ nhỏ thì “nó thấy con liên mặc áo hàng bông phấn

Trang 27

mới, quần lụa trắng cũng mới; chơn đi dày thêu cườm cổ đeo dây chuyền, tai đeo hai đôi bông vàng, đầu lại cài lược có thắt hàng màu bông hường, vai thì choàng một cái khăn thêu trắng tinh, còn thằng con bà Hội đồng thì mặc đồ Tây” Nhà cửa thì nguy nga, sáng bóng, đầy đủ tiện nghi

Những tên địa chủ giàu có trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thường tỏ ra khinh miệt người nghèo Ông Hội đồng Sáu đối xử với bạn bè khi họ gặp nạn như thầy Đàng hay với những đứa trẻ như thằng Được, con Liên chẳng ra gì Ông ta dùng đồng tiền giàu có của mình để ăn ngon, mặc đẹp, mua xe hơi chở con đi chơi,

mà khi nghe tin bạn bè gặp nạn thì ông dửng dưng Hồ Biểu Chánh còn mạnh dạn lên án những dục vọng thấp hèn của tầng lớp này, vì những ham muốn xấu xa mà chúng đã có hành vi vô đạo đức như Phan Đức Lợi, Tô Thị Sảnh vì muốn có được tất cả gia tài của ông bà Hội đồng Nhàn mà không từ bất cứ thủ đoạn nào, bắt cóc đứa trẻ mới sinh ra mà vứt trong bụi lứt Hay vợ của thầy Đàng vì ham giàu sang, chức tước mà bỏ thầy đi theo người khác, mất trinh triết để làm vợ lẽ cho Phó tổng

Trong các tiểu thuyết như Thầy thông ngôn, Chúa tàu Kim Qui, Tiền bạc bạc

tiền Hồ Biểu Chánh mô tả lớp người địa chủ giàu có này rất rõ nét Trần Văn Phong

là nhân vật tiêu biểu cho loại người nói trên, hắn toan tính vụ lợi trong cả tình yêu hôn nhân của chính mình, đối với quan trên thì bợ đỡ nịnh hót để cầu lợi, đối với kẻ

dưới thì hách dịch để ra oai (Thầy thông ngôn); Bà Phủ Long Khánh thì vì tiền mà hại ông Phủ và hai người con trai của ông để đoạt tài sản (Tiền bạc bạc tiền); ông

quan huyện nhận tiền đút lót của Trần Tấn Thân, tạo cớ đẩy Thủ Nghĩa, tên Cam,

Quýt vào tù, cướp tiền của Trần Mừng (Chúa tàu Kim Qui)

Tuy nhiên, không phải tất cả địa chủ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đều xấu Vẫn có những ông bà địa chủ tốt bụng, nhân hậu, những người luôn mở rộng vòng tay nhân ái để cứu giúp người nghèo khi gặp hoạn nạn Họ giàu có nhưng không kiêu căng, hách dịch, họ lấy cái giàu làm phương tiện giúp đỡ người nghèo

Họ luôn yêu thương thông cảm với người nghèo và họ cũng chiếm được sự kính trọng, yêu mến của người nghèo Bà Hội đồng Nhàn trong tác phẩm đã yêu thương, giúp đỡ Được, Liên và Bĩ khi những đứa trẻ này gặp khó khăn, đói rách Khi thầy

Trang 28

Đàng bị vào tù, Được và Liên không biết đâu nương tựa, đi phiêu bạt khắp nơi, đến kênh Mang Thít ngồi nghỉ và đờn chơi thì gặp bà hội đồng Nhàn, bà đã cho Được

và Liên ăn uống

Khi chưa biết Được là con trai của mình, bà Hội đồng Nhàn thấy Được và Liên còn nhỏ mà phải đi phiêu bạt khắp nơi, bà thấy thương nên đã xin thầy Đàng nuôi Được và Liên: “Tôi thấy hai đứa nhỏ tôi thương, mà thằng con tôi nó trừu mến không chịu rời, vậy nên hổm nay tôi tính đợi thầy đặng xin thầy cho đứt hai đứa nầy cho tôi nuôi, trước là hai đứa nó được sung sướng tấm thân, sau nữa con tôi có đứa bậu bạn cho nó vui lòng, hoặc may ra nó hết bịnh hoạn nữa Chẳng giấu chi nhà tôi giàu lớn, mà còn có một đứa con nầy mà thôi Nếu thầy cho tôi hai đứa cháu đây thì tôi sẽ sắm ăn sắm mặt cho chúng nó ấm no, rồi chừng lớn khôn tôi sẽ đựng đôi bạn, cho bạc tiền, đặng chúng nó lập thân, khỏi nghèo nàn cực khổ”

Viết về địa chủ, Hồ Biểu Chánh chỉ nêu lên những sự việc, những cá tính ở mức độ hiện tượng, ông chưa nhấn mạnh bản chất xấu xa của địa chủ, ông chỉ phê phán hay tố cáo phần không tốt ở địa chủ Hồ Biểu Chánh không có dụng ý mổ xẻ những mâu thuẫn giữa họ và nhân dân, nhưng với cách phản ánh trung thực, cụ thể những gì vốn có của xã hội, đã khiến cho bức tranh nông thôn Nam Bộ hiện lên trong tác phẩm của ông có tính khách quan đáng kể

Trong Cay đắng mùi đời, tuy Hồ Biểu Chánh không đi sâu vào giai cấp địa

chủ phong kiến, nhưng tác phẩm đã một phần nào phác thảo những nét tính cách

chung về giai cấp này Chân dung giai cấp địa chủ phong kiến trong Cay đắng mùi

đời đã làm tiền đề, góp phần thể hiện thành công hơn về giai cấp này trong các tiểu

thuyết tiếp sau Giai cấp địa chủ, phong kiến đã đóng góp một phần không nhỏ và việc phản ánh bức tranh hiện thực ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

2.1.3 Thế lực của đồng tiền trong xã hội

Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết lúc đồng tiền có thế lực mạnh trong xã hội, những chuyện “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” đang rất phổ biến rộng rãi Có thêm sự trợ lực của thực dân, cùng với tác động của lối sống tư sản, sức công phá của đồng tiền càng quyết liệt hơn Nhà văn thấy rõ sức công phá quyết liệt của đồng

Trang 29

tiền Nó đã tấn công vào thành trì đạo đức của xã hội cũ Sự hấp dẫn của đồng tiền

đã làm biến chất con người một cách nhanh chóng

Thị Sảnh và Phan Đức Lợi trong Cay đắng mùi đời đã nói lên được điều đó,

Tô Thị Sảnh và Phan Đức Lợi vì tham tiền đã tìm mọi cách hại con trai ông bà hội đồng để chia tài sản Bằng cách toa rập, câu kết với nhau để bắt cóc đứa trẻ mới sinh ra vứt ở “bụi lứt” Vì đồng tiền mà Tô Thị Sảnh và Phan Đức Lợi quên hết tình máu mủ, ruột rà Tô Thị Sảnh vì không muốn con trai bà cả - vợ lớn của chồng mình hưởng hết gia tài nên đã tìm cách hại con trai của bà lớn, mặc dù bà Hội đồng Nhàn đối xử rất tốt với Tô Thị Sảnh Còn Phan Đứa Lợi là chú ruột mà cũng nhẫn tâm hãm hại, bắt cóc con trai của anh trai mình để được chia tài sản Đồng tiền đã biến những con người này mất hết lương tâm, mất hết nhân tính, họ sẵn sàng làm những việc tàn ác để có tiền

Đồng tiền, quyền lực đã có một sức hút kỳ diệu biến con người thành kẻ cắp,

có tiền ắt có quyền và ngược lại Đó là triết lý sống của những kẻ luôn đặt tiền tài và

quyền lực lên trên những đạo lý ở đời Không chỉ trong Cay đắng mùi đời mà trong

các tác phẩm khác của Hồ Biểu Chánh, sự tham vọng tiền tài và quyền lực luôn

song song tồn tại trong một số nhân vật phản diện Như Thị Lực (Cha con nghĩa

nặng), Trần Thị Lành – bà Phủ Khánh Long, vợ chồng Bá Vạn, Thanh Huê (Tiền bạc bạc tiền), Hay bà Phủ dì ghẻ của Bạch Tuyết (Ai làm được), khi Bạch Tuyết

trưởng thành và biết Bạch Khiếu Nhàn sẽ nhường lại gia tài cho cháu, lòng tham của bà Phủ đã nổi dậy Bà ép Bạch Tuyết phải lấy cháu mình nhưng mưu kế không thành, cuối cùng bà dùng đến chiêu trước đây đã gây ra cái chết đối vói mẹ Bạch Tuyết đó là bắt ép Bạch Tuyết uống thuốc độc Đồng tiền đã khiến cho những nhân vật phản diện không từ mọi thủ đoạn, vì tiền vì danh họ bất chấp mọi thủ đoạn thậm chí là giết người để có được

Có thể thấy, tiền bạc và quyền lực vào tay kẻ ác thì thật đáng sợ Nhiều

người phải chịu cay đắng, oan ức, khổ sở vì họ Trong Cay đắng mùi đời, vì ham

tiền mà Thị Sảnh và Phan Đức Lợi toa rập bắt cóc con trai (thằng Được) của ông bà hội đồng Nhàn, khiến cho cuộc sống của cậu bé được trải qua những cay đắng cực

Trang 30

khổ, gia đình cậu phải mất bao nhiêu công sức để tìm kiếm, ông bà Hội đồng vì vậy

mà phiền muộn Vợ của thầy Đàng vì ham chức tược, tiền bạc mà bỏ chồng, đánh mất trinh tiết của người vợ để đi lấy ông Phó tổng

Bên cạnh những kẻ tham tiền không từ mọi thủ đoạn để hại người cướp của

như Thị Sảnh, Đức Lợi thì trong Cay đắng mùi đời còn có một bộ phận những

người giàu có chức có quyền nhưng lợi dụng chức quyền mà đối xử với người nghèo khó chẳng ra gì như ông Hội đồng Sáu

Đồng tiền đúng là có sức công phá lớn đối với những kẻ có lòng dạ dơ bẩn, nhưng nó lại không là gì đối với những người trọng nhân nghĩa, biết luân lý ở đời Cuộc đối thoại của thầy Đàng và cô em gái của thầy ta thấy quan niệm giàu nghèo của hai anh em khác nhau:

- Qua có hổ thẹn chi đâu, qua đắc ý lắm chớ! Cái nghèo của qua đây gia tài của họ đó dầu bán cho hết đi nữa mua cũng không nổi đâu; em đừng có tưởng qua thấy họ giàu còn qua nghèo mà hổ thẹn

- Hứ! Anh khinh người ta quá! Đời này có cái chi quý hơn đồng tiền Phải hồ trước anh chịu nhận nhục mà làm việc quan, thì ngày nay

có lẽ anh đã làm tới Đốc phủ rồi Mà nếu anh không chịu làm quan, thì anh nương theo chỉ có lẽ trọn đời anh cũng khỏi khổ cực Em nghĩ thiệt em tiếc quá!

Ba Sự đã nhấn mạnh “đời này có cái chi quý hơn đồng tiền” cho ta thấy được thế mạnh của đồng tiền trong xã hội lúc bấy giờ, đồng tiền được coi trọng hơn cả tình nghĩa bạn bè, tình ruột thịt, tình vợ chồng hơn cả đạo lý ở đời Hồ Biểu Chánh

đã mạnh dạn lên án những dục vọng thấp hèn của những con người độc ác, ham tiền không từ mọi thủ đoạn hại những con người hiền lành để có tiền, có quyền và có chỗ đứng trong xã hội Vì những ham muốn bỉ ổi, chúng đã hành động xấu xa, độc

ác, tham tàn

Như một quy luật tất yếu, trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bao giờ hồi kết thúc cũng mở ra cho người đọc một cảnh tượng hân hoan vì những người tốt, người bị hại sẽ được đền bù xứng đáng Còn kẻ xấu, kẻ “tham tiền hám của” phải bị

Trang 31

trừng trị, phanh phui Có thể thấy, ngòi bút của ông không kém Vũ Trọng Phụng là mấy, đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, chúng ta có cảm tưởng các nhân vật hám tiền trong tác phẩm của ông là những kẻ “cùng hội cùng thuyền” với các nhân vật phản diện trong “Số đỏ” như vợ chồng Văn Minh, Phó Đoan, Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng

2.2 Chân dung người dân Nam Bộ đầu thế kỷ XX

2.2.1 Những đứa trẻ vật lộn mưu sinh

Từ thực tế Nam Bộ vào những năm đầu thế kỷ XX, viết Cay đắng mùi đời,

Hồ Biểu Chánh đã xây dựng những đứa trẻ nhà quê sống lam lũ, vất vưởng, bơ vơ không nhà không cửa Cho nhân vật của mình tự lập trong hoàn cảnh xã hội thời đó

đã là một thành công của Hồ Biểu Chánh Trong Cay đắng mùi đời, thằng Được,

thằng Bĩ và con Liên là những đứa trẻ thôn quê, đều là những đứa trẻ vất vả từ nhỏ hoặc mồ côi cha mẹ hoặc bị hại cho đến mức phải sống xa gia đình

Mỗi đứa trẻ trong tác phẩm đều có một hoàn cảnh riêng Vốn là đứa trẻ sinh

ra trong gia đình giàu có bị người chú ruột bắt trộm và vứt đi để toa rập đánh cướp gia tài Được được Ba Thời đem về nuôi nấng, thương yêu như con đẻ Từ lúc nhỏ

nó đã phải làm các công việc phụ như cho heo ăn, “xách giỏ đi ra mé sông kiếm cá bống kèo mà bắt Nó bắt được vài chục con cá nho nhỏ, đến mặt trời lặn mới xách giỏ trở về” để giúp má Nhưng không thể ở mãi được với Ba Thời vì chồng của Ba Thời trở về, hắn ghen tuông, nghi ngờ thằng Được là con đẻ của Ba thời nên đã bán Được cho ông thầy dạy đàn tên là Trần Cao Đàng với giá hai chục đồng bạc Kể từ

đó Được bắt đầu bước vào cuộc sống phiêu bạt của mình cùng thầy Đàng, con Liên

và thằng Bĩ Con Liên và thằng Bĩ không được như thằng Được, con Liên là đứa trẻ

mồ côi cha mẹ, ở với cô, nhưng cô nó nghèo nên nuôi nó không nổi, nên đã giao cho thầy Đàng nuôi Thằng Bĩ lúc nó mười tuổi thì cha mẹ nó chết, được chú đem

về nhà nuôi và bắt nó phải đi móc túi thiên hạ lấy tiền đem về Hoàn cảnh cực khổ

đã khiến cho những đứa trẻ này gặp nhau và cùng nhau kiếm kế sinh nhai

Đọc câu chuyện người đọc không thể không rơi nước mắt khi thấy cảnh Liên

và Được lang thang khắp các tỉnh miền Nam khi thầy Đàng ở trong tù để kiếm cái

Trang 32

ăn và nơi trú ngụ Hai đứa trẻ tội nghiệp này đi khắp chợ tìm nơi gửi đồ: “hai anh

em tôi ở bên Bến Tre đi với thầy tôi, vừa đến đây hồi xế rủi gặp một chú bếp muốn kiếm chuyện hại thầy tôi nên bắt đem về bóp rồi Ông Cò giam thầy tôi Từ hồi xế đến bây giờ hai anh em tôi bơ vơ không biết chỗ nào mà nương ngụ” Nay ở nhờ mai ở đợ, đi phiêu bạt từ Trà Vinh xuống Vĩnh Long, rồi lại từ Vĩnh Long lên Vũng Liêm, lên kinh Mang Thít Nhờ tài đánh đàn, ca giỏi hai anh em bàn tính với nhau

đi đánh đờn ca hát mà kiếm ăn qua ngày: “Trót bảy tám ngày hai đứa nó xách đờn

mà đi lưu linh, nay đờn nhà này, mai ca nhà nọ, chỗ cho ăn cơm, chỗ cho ngủ đậu, người cho bánh trái, kẻ cho đôi quan, hai đứa nó đắp đổi qua ngày, tuy là thân mệt nhọc cực khổ, nhưng mà khỏi bị khinh khi nhục nhã”

Chứng kiến cảnh của hai đứa trẻ đi lang thang khắp nơi đàn ca để người ta cho tiền mua cơm thật tội nghiệp Không giống những đứa trẻ thành thị được ăn ngon, mặc đẹp như con của các ông bà hội đồng, quan thẩm mà những đứa trẻ này lớn lên đã phải lao động, nó không được đến trường Bảy tám tuổi là lứa tuổi ăn chơi, nhưng Được, Liên và Bĩ thì phải tự kiếm sống bằng sức lao động của mình Người ta cho cái bánh mì, gói bánh hay xa xỉ hơn là bát cơm ăn chỗ ngủ đợ qua ngày: “Hai đứa nó dắt nhau đi rảo khắp Sài Gòn mà đờn ca Mấy thầy cô dành nhau

mà rước, người cho ăn cơm, kẻ cho ngủ đậu, mà ai ai cũng cho tiền, không có đêm nào mà hai đứa nó không kiếm được một đồng bạc, mấy đêm thứ bảy lại kiếm tới hai ba đồng”

Cảnh Được và Bĩ lang thang từ nơi này đến nơi khác đàn ca, thổi kèn lá để kiếm tiền mưu sinh thật thương tâm: “Đi dài theo mấy dãy phố có mấy thầy ở mình đờn cho họ nghe đặng kiếm tiền mà nuôi nhau Mầy thổi kèn lá hay, mà lại biết đờn

cò Tao biết đờn hai, ba thứ mà lại biết ca Nếu hai đứa mình hiệp với nhau mà đờn

ca hoặc thổi kèn kiếm tiền dễ lắm” Người ta thấy hai đứa ca hay đàn giỏi thì mời về nhà để nó đàn cho nghe rồi cho ăn, ngủ và cho tiền Nhờ tài năng của mình mà Được và Bĩ đã kiếm được rất nhiều tiền để lo cho bữa ăn Không những đủ ăn mà hai đứa còn đủ tiền mua quà cho Liên và má nuôi của Được, còn mua cho Ba Thời một con heo quắn với giá ba mươi đồng bạc nữa Hai đứa trẻ đi khắp các tỉnh nào là

Trang 33

Sài Gòn, Mỹ Lợi, Cần Giuộc, Cần Thơ, Gò Công nơi đâu của vùng lục tỉnh đều

có bóng dáng của những đứa trẻ này

Ở lứa tuổi này, đáng nhẽ Được, Liên và Bĩ phải được sống trong tình thương yêu của cha mẹ, được học hành vui chơi, thế mà cuộc sống nghèo khổ đã khiến cho Được, Liên và Bĩ phải lao động để mưu sinh, phải sống tự lập từ nhỏ Cảnh đói khát, cận kề cái chết luôn đe dọa bọn trẻ, có những lúc bọn trẻ ao ước mình có một gia đình, một người thân thích cưu mang, giúp đỡ nhưng dường như xã hội thời bấy giờ đầy rẫy những bất công, không nở nụ cười với nó, bọn trẻ phải tự đi kiếm sống bằng chính sức lao động, bằng chính những thân hình bé nhỏ của mình

Qua những nhân vật và cuộc sống phiêu bạt của họ, Hồ Biểu Chánh muốn chĩa mũi nhọn, công kích vào hạn người bạc ác trong xã hội thực dân phong kiến trong buổi giao thời Đặc biệt là Phan Đức Lợi, ông chú của thằng Bĩ, Trần Văn Hữu đã hại những đứa trẻ phải sống xa gia đình, sống cuộc sống bơ vơ, lang thang

ở “đầu đường xó chợ”

Không chỉ dừng lại với phạm vi một tác phẩm, Hồ Biểu Chánh còn mô tả những đứa trẻ vật lộn mưu sinh vào trong nhiều tiểu thuyết khác của ông Cũng được sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng vì hiểu lầm giữa vợ chồng mà Chánh Hội bị người cha là Chánh Tâm mang đi cho một người ăn trộm tên Cu Tư Thằng Hồi (Chánh Hội) và thằng Quì gặp nhau, cuộc sống của hai đứa bé mười tuổi này lang bạt khắp nơi ăn nhờ ngủ đợ, bán sách, làm thuê, nhặt banh để kiếm sống

rất vất vả (Vì nghĩa vì tình)

Trong Cay đắng mùi đời và nhiều tác phẩm khác, Hồ Biểu Chánh đã ca ngợi

lao động, ca ngợi tinh thần tự lập và tự tin của tuổi trẻ, phát huy ý thức chịu đựng gian khổ và tập quán xoay xở, tháo vát, đề cao nghệ thuật, khuyến khích tình bạn chân chính Nó phản ánh cuộc sống lao động của những đứa trẻ miền Nam Bộ lúc bấy giờ, đồng thời thể hiện cái thực tế là lòng biết ơn, tình bạn bè, tình thương yêu cha mẹ, biết ơn thầy học và những người đã giúp đỡ mình dù trên bước đường lưu lạc hay khi đã sum vầy cùng gia đình trong cảnh giàu sang cũng không quên được cảnh hàn vi lúc trước

Trang 34

2.2.2 Người trí thức phiêu bạt

Có thể nói rằng, trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, tầng lớp tiểu tư sản tri thức đã giữ một vai trò khá đặc biệt về lĩnh vực văn hóa Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây, cách thức đào tạo và thi cử mới đã hình thành nên một đội ngũ trí thức khác hẳn với tầng lớp nho sĩ trước kia Những người này cùng với những viên chức làm việc trong chính quyền thực dân Pháp và chính quyền Nam triều (tham, phán, thông ngôn, ký lục ) trở thành tầng lớp tiểu tư sản trí thức lúc bấy giờ Tầng lớp này dù xuất thân từ những hoàn cảnh gia đình khác nhau nhưng về cơ bản đều có nếp sống tương đối ổn định và đầy đủ trong một xã hội đang nhanh chóng thay đổi

Họ có điều kiện để tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội, và họ cũng có nhu cầu thể hiện tâm tư của mình về những vấn đề đó Đề cập đến tầng lớp trí thức trong tác phẩm văn học đang ngày càng phổ biến với các tác giả văn học đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh cũng không ngoại lệ, nhưng cái đặc biệt của Hồ Biểu Chánh là ông xây dựng tầng lớp trí thức này gắn liền với cuộc đời phiên bạc

của họ

Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thường xuất hiện những con người với những chức tước gắn liền với học vị của họ: Thầy thông ngôn, thầy ký, quan Tham

biện, Trong Cay đắng mùi đời, ta thấy có xuất hiện kiểu nhân vật người trí thức

đó là Trần Cao Đàng Trần Cao Đàng được Hồ Biểu Chánh xây dựng là một con người có học thức, trước kia ông làm thầy dạy học, sau làm thông ngôn “Thầy vốn

là con nhà nghèo, nhưng thầy làm việc quan đắc lộ, kẻ kính người yêu” Làm việc quan được mấy năm thì thầy Đàng lấy vợ, vợ của thầy là con gái của ông Cai tổng giàu có ở làng Thầy cưới vợ về vợ chồng ở với nhau hơn mười năm mà không có con cái gì Cuộc sống làm quan của thầy trôi đi an nhàn qua năm tháng: “Thầy Đàng làm việc quan được mười hai năm rủi gặp một quan Tham biện không yêu thầy như mấy ông trước, lại hễ thầy đi chầu trễ thì rầy thầy làm việc chậm thì quở Tổng làng dòm thấy quan không yêu thầy nữa thì coi bộ cũng bớt kính mến Thầy nghĩ thế tình lạc lẽo thì thầy buồn thầm, nên thầy gởi đơn xin quan trên đổi thầy qua tỉnh khác Quan trên không nhận lời thầy, mà quan sở tại lại càng khắc với thầy

Trang 35

nhiều hơn nữa, thầy tức trí xin thôi, rồi vợ chồng dắt nhau trở về Cần Đước cất nhà

mà ở” Bị quan trên chèn ép, chán ghét với cảnh mũ nón nên thầy đã chọn con đường từ quan để sống cuộc đời bình thường Thầy sống cùng vợ, nhưng vợ thầy

“thì thường hay cằn rằn, hay trách thầy nói rằng tại thầy ngang tàng chớ chi thầy nhịn nhục mà theo làm việc quan, thì chắc ngày sau cũng được rỡ ràng” như những bạn đồng liêu của thầy Người vợ càng ngày càng nói nhiều lời phi nghĩa, quá đáng với thầy, “thầy giận bèn viết tờ để mà giao cho vợ, rồi biểu như nói thầy không xứng đáng thì lấy chồng khác cho xứng đáng hơn thầy Người vợ cũng vui lòng lãnh tờ để, coi chẳng chút chi trìu mến hết”, rồi thầy giao hết cửa nhà cho vợ, chỉ lấy quần áo, đờn sách ra đi Cuộc sống của thầy nay đây mai đó, không công việc, không gia đình vợ con Từ một người tri thức, có học làm quan với chức cao vọng trọng giờ đây thầy Đàng chính thức không nhà cửa, không nơi nương tựa Thầy nhận thằng Được và con Liên về nuôi rồi dạy cho tụi nó học đờn, học ca cho có bạn

có bầu

Thầy cùng với hai đứa trẻ là Được và Liên phiêu bạt khắp nơi, dùng nghề đờn ca để sinh nhai, nuôi hai đứa nhỏ, dạy dỗ nó có đạo lý, thầy dạy thằng Được:

“Phàm đàn bà con gái phần nhiều đều ưa nghe đờn Mà tiếng đờn của Việt Nam thì

là giéo giắc rỉ rả, nghe ca bắt thương, bắt nhớ, bắt cảm, bắt động tình, bởi vậy cho nên ngón đờn tươi từng nào thì càng làm cho con gái dễ mê chừng nấy Nếu làm thầy đờn mà không chánh tâm, không trọng nghĩa, thì thiếu chi dịp làm cho bọn quần thoa mất tiết mất trinh Mà xưa nay bọn thầy đờn có bao giờ được chánh tâm, biết trọng nghĩa Vậy con nhớ lời thầy dặn, nếu ngày sau con có nghề nghiệp nào khác thì con đừng có dạy đờn; ví bằng con không có nghề, con phải ra làm thầy đờn thì con phải ráng mà chánh tâm trọng nghĩa cho lắm mới được” Sống có đạo nghĩa, thầy luôn dạy cho Được và Liên điều hay lẽ phải của một người có học vấn

Thầy Đàng trả lời em gái khi khuyên anh nên bỏ qua những lỗi lầm của vợ thầy vì đã ham giàu, địa vị mà bỏ thầy bây giờ muốn chắp nối lại nhưng thầy không chịu, thầy khuyên thằng Được, con Liên “Phải biết giữ gìn danh dự cho toàn vẹn, thà làm người nghèo mà phẩm giá được cao, chớ đừng làm người giàu sang mà bị

Trang 36

khinh bỉ” Thầy giải thích cho bà hội đồng Nhàn nghe tại sao thầy không thuận để cho thằng Được đi theo bà “Bà có thể cho nó ăn sung mặc sướng, sau này xây nhà, chia ruộng cho nó, nhưng bà không thể dạy cho nó đạo làm người và vì thế nó giàu

mà không biết cái cực của người nghèo thì cái giàu của nó chỉ làm hại người nghèo,

có ích chi cho thiên hạ”

Chán ghét cảnh quan trên hà hiếp, chen lấn lợi danh, chức tước, khinh bỉ phận đàn bà không làm trọng chữ nghĩa với chồng, thầy Đàng chọn con đường ra

đi, không ham chức danh, phong vị, bỏ lại sau lưng những thứ “vinh hoa phú quý” đáng lẽ ra thầy có quyền được hưởng Thầy sống cuộc đời phiêu bạt của một nghệ sĩ chơi đàn thời đó Cuộc sống nay đây mai đó: “Từ ấy về sau thầy mang mấy túi đờn lưu linh trong lục tỉnh, trót mười lăm năm trường, khi thì lên Châu Đốc, khi thì xuống Bạc Liêu, khi thì lại tây Ninh, khi thì qua Bà Rịa Tuy có lúc thầy cũng xây xài bẩn chật, nhưng mà dầu khi nghèo cực thầy cũng giữ gìn danh dự, chẳng hề làm cho thấp phẩm giá của thầy Lúc sau đây thầy thấy thiên hạ lại ưa nghe ca, thầy nghĩ dẫu thầy đờn hay không có ai ca thì chắc thiên hạ cũng ít chuộng, bởi vậy cho nên

ra Bà Rịa thầy thấy con Đoàn Kim Liên mặt mày sáng sủa mà tiếng nói lại thanh tao, thầy mới xin đặng thầy dạy ca, rồi dắt nhau đi đờn ca cho thiên hạ nghe chơi

mà lấy tiền”

Thầy Đàng là một kiểu nhân vật trí thức, được Hồ Biểu Chánh xây dựng là một con người sống có đạo đức, biết luân lý, phải trái ở đời, thầy chấp nhận cuộc sống phiêu bạt chứ không hạ thấp bản thân mình để đi nhờ vả, cậy quyền, nịnh nọt

kẻ quyền thế

Khi xây dựng nhân vật người trí thức trong Cay đắng mùi đời, Hồ Biểu Chánh tập trung vào những bước đường phiêu bạt của họ, người trí thức trong Cay

đắng mùi đời cũng là một kiểu nhân vật hành đạo, cũng như những nhân vật đấng

bậc, thánh nhân quân tử trong truyền thống, thầy Trần Cao Đàng được Hồ Biểu Chánh tô đậm ở những phẩm chất đẹp đẽ hơn người Đó là cái đẹp của tài năng: tài đánh đàn Vẻ đẹp được Hồ Biểu Chánh nhấn mạnh trong các nhân vật hành đạo của nhiều tiểu thuyết khác cũng như nhân vật thầy Đàng là vẻ đẹp của đạo đức, của

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w