Tìm hiểu về đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao Quảng Ngãi” là tìm hiểu nét văn hoá riêng của ca dao Quảng Ngãi với ca dao của các vùng miền khác trên cả nước.. chu
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
- -
HUỲNH THỊ NHƯ QUỲNH
Tình yêu quê hương, đất nước trong ca
dao Quảng Ngãi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian vừa qua nhờ sự quan tâm, giúp
đỡ tận tình của quí thầy cô, những người thân trong gia đình và bạn bè mà tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Bằng tấm lòng tri ân sâu sắc tôi xin gửi lời cám
ơn đến các Thầy Cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, đặc biệt là thầy giáo, TS Lê Đức Luận -người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ngãi đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp cho chúng tôi những tư liệu cần thiết và quý giá
để chúng tôi có cơ sở nghiên cứu đề tài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trang 4Huỳnh Thị Như Quỳnh
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Bố cục khoá luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG MỘT: QUẢNG NGÃI- ĐẶC ĐIỂM VÙNG ĐẤT VÀ VĂN HOÁ DÂN GIAN 7
1.1 Quảng Ngãi- đặc điểm vùng đất và con người 7
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất 7
1.1.2 Đặc điểm về địa lí, dân cư 10
1.1.3 Nét đẹp của con người Quảng Ngãi 13
1.1.4 Danh nhân văn hoá, lịch sử 15
1.2 Quảng Ngãi- đặc điểm văn hoá dân gian 17
1.2.1 Những di chỉ, di tích kiến trúc cổ 17
1.2.2 Đặc sản quê hương 19
1.2.3 Phong tục, lễ hội, tín ngưỡng 22
1.2.4 Đặc điểm văn học dân gian Quảng Ngãi 25
Tiểu Kết: 28
CHƯƠNG HAI: KHÚC CA ĐẦY TỰ HÀO VỀ LÀNG QUÊ 29
2.1 Lòng tự hào về cảnh sắc quê hương 29
2.1.1 Tự hào về các danh thắng 29
Trang 72.2.1 Niềm yêu quý đặc sản quê hương 37
2.2.2 Yêu quý những món ăn mang đậm hương vị quê nhà 41
Tiểu kết: 44
CHƯƠNG BA: QUẢNG NGÃI- VÙNG ĐẤT GIÀU TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, VĂN HOÁ VÀ NGHĨA TÌNH 45
3.1 Quảng Ngãi- vùng đất giàu truyền thống lịch sử ,văn hoá 45
3.1.1 Quảng Ngãi- vùng đất giàu truyền thống lịch sử 45
3.1.2 Quảng Ngãi- những nét đẹp văn hoá 48
3.1.3 Quảng Ngãi- những làng nghề truyền thống 52
3.2 Quảng Ngãi- vùng đất giàu nghĩa tình 56
3.2.1 Khúc ca về tình yêu quê hương, làng xóm 56
3.2.2 Tình cảm gia đình thắm thiết 57
3.2.3 Những lời tâm tình ngọt ngào của tình yêu đôi lứa 61
Tiểu kết: 66
KẾT LUẬN 67
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian là cái nôi văn học của mỗi quốc gia Nó là tài sản có giá trị tinh thần vô giá trong lòng mỗi người con quê hương Những tinh hoa của một nền văn học ấy luôn được nhân dân ta lưu giữ và trân trọng
Ca dao là một bộ phận quan trọng trong nền thơ ca dân gian của dân tộc Trải qua suốt chiều dài của lịch sử với biết bao sự thăng trầm, những câu ca dao vẫn cất cao khúc hát ngân vang cùng năm tháng Và không biết tự bao giờ những khúc hát ngọt ngào đó đã và mãi đi vào trong cuộc sống, trong trái tim của những con người Việt Nam chúng ta Đó là những lời chia sẻ tâm tình của những con người lao động sau một ngày vất vả Đó là lòng tự hào của một vùng quê anh dũng trong chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược Đó là nỗi nhớ thương
da diết của những người con xa quê Đó là những tình cảm mộc mạc chân thành của tình yêu thương cộng đồng, tình yêu lứa đôi… Và mỗi ca từ đưa chúng ta cứ lớn dần, lớn dần cùng năm tháng, làm cho chúng ta cảm thấy yêu đời, yêu người hơn và vững lòng hơn khi vấp ngã trong cuộc sống
Tìm về với văn học dân gian nói chung với ca dao nói riêng là chúng ta được tìm về với cội nguồn, với lịch sử các làng quê Ca dao là biểu hiện độc đáo văn hoá dân tộc, văn hoá địa phương Nó vừa có nét chung, tính thống nhất của
ca dao toàn quốc, vừa có đặc điểm riêng của từng vùng miền cụ thể, nhất là các vùng miền lớn Những đặc điểm chung và riêng đó phản ánh tính thống nhất và
đa dạng của ca dao nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung
Quảng Ngãi là một vùng đất được khai sinh trong hành trình lịch sử của dân tộc Là một tỉnh nhỏ thuộc miền Nam Trung Bộ, nơi đây đã hội tụ biết bao danh nhân trung kiên ái quốc đã góp phần không nhỏ vào sự hưng vong của quốc gia Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này đã để lại dấu ấn văn hoá riêng
Trang 9Những dấu ấn văn hoá này thể hiện rất rõ trong văn học dân gian nói chung và ca dao Quảng Ngãi nói riêng
Tìm hiểu về đề tài “Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao Quảng Ngãi” là tìm hiểu nét văn hoá riêng của ca dao Quảng Ngãi với ca dao của các vùng miền khác trên cả nước Quảng Ngãi là một tỉnh có nhiều đặc điểm riêng biệt về lịch sử, dân cư, ngôn ngữ và văn hoá Tìm hiểu về thơ ca dân gian nơi đây cũng chính là tìm hiểu những đặc trưng về ngôn ngữ văn hoá nói chung của con người Quảng Ngãi qua các câu ca dao, điệu hát điệu hò
Chúng tôi chọn đề tài “Tình yêu quê hương, đất nước trong ca dao Quảng Ngãi” trước hết là bởi lòng say mê ca dao Quảng Ngãi, một mảnh đất nghệ thuật đầy hấp dẫn nhưng cũng đầy bí ẩn Hơn thế, đề tài này có tác dụng thiết thực trong việc học tập và giảng dạy văn học dân gian nói chung và văn học địa phương Quảng Ngãi nói riêng
Là người con của Quảng Ngãi núi Ấn - Sông Trà, lại là một giáo viên dạy
bộ môn ngữ văn trong tương lai, mỗi hình ảnh, ngọn núi, dòng sông, con người… nơi đây là niềm nhớ thương đầy tự hào trong tôi Việc tìm hiểu tình yêu quê hương, đất nước của con người Quảng Ngãi trong ca dao là cơ hội giúp tôi hiểu thêm để thêm yêu quê hương, cái nơi chôn nhau cắt rốn của mình
Vì tất cả lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Tình yêu quê hương, đất
nước trong ca dao Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên cứu cho mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc sưu tầm và tìm hiểu về ca dao từ trước đến nay được sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi tham khảo một số công trình của các tác giả sau:
Đầu tiên là cuốn “ Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội H, 1978, của tác giả Vũ Ngọc Phan Đây là một công trình khảo cứu khá đồ
sộ về tục ngữ, ca dao, dân ca của các vùng miền khác nhau trên đất nước Việt Nam
Trang 10Tiếp theo là cuốn “ Bình giảng ca dao” của Hoàng Tiến Tựu, Nxb Giáo dục, 1991 Cuốn sách gồm hai phần chính: phần một nói về công việc bình giảng
ca dao, một bộ phận quan trọng trong công tác giảng dạy của giáo viên ngữ văn nói chung và giảng dạy văn học dân gian nói riêng Phần hai là phần tuyển chọn
và bình giảng những bài ca dao hay
Một công trình khảo cứu về ca dao người Việt được xem là đầy đủ nhất là công trình của nhóm tác giả : Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật ( chủ biên)
“ Kho tàng ca dao người Việt”, Nxb Văn hóa Thông tin, 1995 Trong công trình này cho chúng ta một số lượng khá trọn vẹn những câu ca dao của dân tộc Việt Nam từ xa xưa đến nay Hệ thống các bài ca dao được sắp xếp theo hệ thống bảng chữ cái Việt Nam
Công trình mang tên “ Ca dao Việt Nam và những lời bình” của tác giả Vũ Thị Hương, Nxb Văn hoá Thông tin 2007 Là công trình có nội dung trình bày về những đặc điểm nổi bật của ca dao Việt Nam Đó là lối đối đáp trong ca dao trữ tình, một số biểu tượng ca dao và ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Trong quá quá trình học tập tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, chúng tôi đã có cơ hội được tếp cận bài giảng của Ts Lê Đức Luận “ Văn học dân gian Việt Nam”, “Thi pháp văn học dân gian” và rất nhiều các bài viết được đăng ở các tạp chí như: “ Địa danh, sản vật và nghề nghiệp trong ca dao, tục ngữ Đà Nẵng”… Gần đây nhất là sự ra đời của công trình “ Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt” Nxb Đại học Huế, 2009 Công trình đã cho người đọc một cái nhìn rõ ràng và chính xác hơn về ngôn ngữ ca dao Đó là ngôn ngữ thuần Việt, mang đậm phong cách ngôn ngữ địa phương, với phong cách tập quán khu vực dân cư, còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ
Sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của của sở Văn hoá Thông tin và sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi Cho đến nay đã có các công trình viết về văn học dân gian Quảng Ngãi Có thể kể đến những công trình sau:
Trang 11Cuốn “Văn học dân gian Nghĩa Bình”, do sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản Cuốn sách này các tác giả đã sưu tầm và tuyển tập cho người đọc những hiểu biết về nét đẹp, về cảnh vật và con người Quảng Ngãi qua các bài ca dao Qua đó thể hiện tình yêu quê hương, đất nước của người dân xứ Quảng Cùng với công trình đó là cuốn “Một trăm câu ca dao Quảng Ngãi” do Cao Chư sưu tầm và biên soạn, sở Văn hoá Thông tin Quảng Ngãi xuất bản năm 1992 Công trình sưu tầm “Văn học bình dân Quảng Ngãi” của lớp 10C Trung học tổng hợp Trần Quốc Tuấn 1970-1971 Các công trình đó đã bỗ sung cho nhau trở thành kho tài liệu có giá trị về mặt tinh thần to lớn của nhân dân Quảng Ngãi Đó là những công trình có giá trị rất thiết thực trong việc bảo tồn và phát huy nền văn học dân gian của tỉnh nhà
Tìm hiểu và nghiên cứu về những đặc điểm hình thành vùng đất, địa lí, dân cư, danh nhân lịch sử, văn hoá cũng như nét đẹp của con người Quảng Ngãi có công trình nghiên cứu mang tên “Quảng Ngãi- Đất nước- con người- văn hoá” do tác giả Bùi Hồng Ân (chủ biên), Nxb sở Văn hoá Thông tin Quảng Ngãi,
2001 Công trình này đã cho ta thấy được đặc điểm vùng đất và con người Quảng Ngãi Đặc biệt cho chúng ta một cái nhìn xuyên suốt về lịch sử, văn hoá Quảng Ngãi qua các thời kì đến nay Đó là những trang sử đầy khó khăn thử thách nhưng cũng lắm vinh quang của vùng đất và con người Quảng Ngãi
Tác giả Nguyễn Trung Việt với công trình “Non nước Xứ Quảng (Quảng Ngãi)”, do nhà xuất bản Thanh niên năm 2005 Công trình này đã cho người đọc có những hiểu bết cụ thể về vùng đất Quảng Ngãi trên tất cả những mặt kinh tế, văn hoá, xã hội Đặc biệt là nền văn học tỉnh nhà trong đó có nền văn học dân gian Có thể nói hai công trình trên đã cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn
về con người và văn hoá Quảng Ngãi
Trên đây là một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về ca dao nói chung
và ca dao Quảng Ngãi nói riêng Đây là những tài liệu rất quan trọng đem đến sự thành công của chúng tôi trong đề tài này Các công trình nghiên cứu trên đã cho
Trang 12chúng tôi tìm đến một mảnh đất màu mở của nền văn học nước nhà nói chung và Quảng Ngãi nói riêng đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tuy vậy đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về đề tài “Tình yêu quê hương, đất nước trong ca dao Quảng Ngãi” một cách cụ thể, chi tiết Trên cở sở tham khảo, góp nhặt các công trình của các tác giả đi trước xung quanh vấn đề này Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tình yêu quê hương, đất nước trong ca dao Quảng Ngãi” để có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về giá trị văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng trong tâm hồn mỗi người con đất Việt
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
-Phương pháp liên ngành: Đối trượng nghiên cứu của luận văn là “Tình
yêu, quê hương đất nước trong ca dao Quảng Ngãi” Bản thân ca dao là một hiện tượng văn hoá dân gian, gắn với điều kiện địa lí, lịch sử, xã hội, bản sắc văn hoá của từng vùng miền cụ thể Ca dao luôn gắn với môi trường văn hoá dân gian Vì vậy sử dụng phương pháp liên ngành giữa văn học văn hoá học, ngôn ngữ, dân tộc học… là phương pháp thích hợp nhất Khai thác thành tựu nghiên cứu giữa những ngành khoa học khác nhau sẽ giúp tìm hiểu về ca dao Quảng Ngãi đầy đủ
và khoa học hơn
-Phương pháp so sánh: Ca dao tồn tại không chỉ ở riêng từng địa phương
mà khắp cả nước Ở mỗi vùng miền khác nhau ca dao cũng có sự khác nhau Vì vậy, qua so sánh sẽ làm nổi bật được đặc điểm riêng của ca dao Quảng Ngãi với
ca dao của các vùng khác trên cả nước
-Phương pháp hệ thống: Phương pháp này giúp nghiên cứu ca dao trong
hệ thống vấn đề liên quan, hệ thống của văn học dân gian, của văn hoá dân gian
và của văn học nói chung
Trang 13-Phương pháp phân tích- tổng hợp: Trong quá trình thực hiện đề tài
chúng tôi phân tích các bài ca dao để làm rõ những luận điểm đưa ra Tiến hành
tổng hợp lại để có một cái nhìn khái quát hơn về ca dao Quảng Ngãi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là “Tình yêu quê hương, đất nước trong ca dao Quảng Ngãi”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Để làm rõ đề tài nghiên cứu, chúng tôi khảo sát chủ yếu ở cuốn “Một trăm
câu ca dao Quảng Ngãi” do Cao Chư tuyển chọn và biên soạn, sở Văn hóa
Thông tin Quảng Ngãi xuất bản, 1992 Và một số tài liệu về ca dao Quảng Ngãi
do sở Văn hoá Thông tin cung cấp
5 Bố cục khoá luận
Luận văn của chúng tôi ngoài phần mở đầu và kết luận phần nội dung gồm có ba chương:
Chương một: Quảng Ngãi-đặc điểm vùng đất và văn hoá dân gian
Chương hai: Khúc ca đầy tự hào về làng quê
Chương ba: Quảng Ngãi-vùng đất giàu truyền thống, lịch sử văn hoá và nghĩa tình
Trang 14
NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT QUẢNG NGÃI- ĐẶC ĐIỂM VÙNG ĐẤT VÀ VĂN HOÁ DÂN GIAN
1.1 Quảng Ngãi- đặc điểm vùng đất và con người
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất
Theo các nhà sử học Quảng Ngãi là địa bàn cư trú lâu đời của cư dân ven biển miền Trung Vị trí miền núi Ấn – sông Trà ngày nay có lịch sử xưa kia đời vua Thuỷ Hoàng nhà Tần, thuộc đất Tượng quận, đời Hán vua Võ Đế năm thứ
111 thuộc quận Nhật Nam Cuối đời Đông Hán năm 192, viên Công Tào huyện Tượng Lâm là Khu Liên, nhân trong xứ có loạn, giết quan huyện lệnh, tự lập làm vua, dựng nước Lâm Ấp Đời Tuỳ, vua Tùy Dương đế Đại nghiệp năm đầu, bình định quân Lâm Ấp, chia làm 3 châu Quảng Châu, Xung Châu, Nông Châu sau đổi quận Hải Âm; đời Đường đổi thành Sơn Châu; đời Tống (960 - 1278) thành Cổ Lũy động của Chiêm Thành Năm 1400, Hồ Quý Ly sai Hành Khiển Đỗ Mãn làm thuỷ quân Đô tướng đánh Chiêm Thành Tháng 3 năm 1402, Hồ Hán Thương lên ngôi, Nguyễn Vị làm Chiêu dụ sứ đem đại binh đánh Chiêm Thành Vua Chiêm - Ba Đích Lại sai tướng Chế Sất Nan cầm quân chống cự bị thua, sai cậu là Bố Điền dâng một con voi trắng, một voi đen và phẩm vật xin dâng Chiêm động (phần phía Nam Quảng Nam ngày nay) Vua nhà Hồ ép sứ giả phải đổi tờ biểu, buộc Chiêm Thành nạp cả động Cổ Luỹ nữa (phần phía Bắc Quảng Ngãi ngày nay)
Họ Hồ chia đất Chiêm động và Cỗ Lũy động làm 4 châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, trực thuộc lộ Thăng Hoa của nước Đại Ngu, ở đầu nguồn đặt trấn Tận Ninh cử Nguyễn Cảnh Châu làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa, bổ Chế Ma nô đa nan Cỗ Lũy huyện Thượng hầu để trấn giữa 2 châu Tư, Nghĩa
Trang 15Năm 1406 quân Minh sang xâm lược và thống trị nước ta: Hồ Hán Thương thua chạy Nhân cơ hội này, Chiêm Thành đem quân chiếm lại Chiêm động và Cổ Lũy động
Đến đời Minh thuộc (1407-1427) dưới quyền cai trị của Trương Phụ và Mộc Thanh, phủ Thăng Hoa tuy có đặt quan nhưng Chiêm Thành vẫn còn Trưởng lộ, nhà Minh chỉ ghi tên không mà thôi
Năm 1467, vua Chiêm Trà Toàn đem quân quấy nhiễu Hoá Châu Vua Lê Thánh Tông quyết định thân chinh Năm 1471 vua đóng quân ở Thuận Hóa Chiếm được Chiêm đô Trà Bàn, vua Lê Thánh Tông tổ chức lại việc cai trị các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa từng lọt vào tay Chiêm Thành từ thời Minh thuộc Vua cho người Chiêm đầu hàng là Ba Thái làm Đồng tri phủ Đại Chiêm, Đa Thuỷ làm Thiêm Tri phủ, lại sai Đỗ Tử Qui làm Đồng tri châu coi việc quân, dân ở Đại Chiêm, Lê Ỷ Đà làm tri châu Cổ Luỹ
Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) vua Thánh Tông cải chia nước làm 13
xứ, đổi thừa Tuyên làm xứ, mỗi xứ đặt sở Thủ ngữ Kinh lược sứ Xứ Quảng Nam lãnh 3 phủ, 9 huyện trong đó có phủ Tư Nghĩa gồm có 3 huyện: Nghĩa Giang 12 tổng, 93 xã; Bình Sơn 6 tổng, 70 xã; Mộ Hoa 6 tổng, 5 xã
Tháng 10 năm Mậu Ngọ 1558 đời vua Anh Tông, Đoạn quận công Nguyễn Hoàng vào trấn phủ Thuận Hoá, năm 1570 kiêm lãnh trấn Quảng Nam Năm Hoằng Định thứ 5 (1604) cải đặt và đổi tên các khu vực hành chánh Thuận Quảng, đổi phủ Tư Nghĩa thành Quảng Nghĩa phủ đặt chức Tuần phủ, khám lý nhưng cũng thuộc Quảng Nam dinh
Đời Nguyễn Tây Sơn (1788-1802) cải đặt và đổi tên các khu vực hành chánh Thuận Quảng, đổi phủ Tư Nghĩa thành Hoà Nghĩa phủ
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) chia đặt tỉnh hạt, đổi trấn làm tỉnh Trấn Quảng Nghĩa đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa và đặt 2 ty Bố án (Bố chánh và Án sát) thống thuộc Quảng Nam Năm 1834 lại gọi là Nam trực tỉnh
Trang 16Từ 1909 đến cuối của triều Nguyễn (1945) miền Trung châu Quảng Ngãi được chia thành 4 phủ : Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức : 2 huyện Nghĩa Hành, Đức Phổ gồm 21 tổng, 403 làng Miền thượng được chia thành 4 nha : Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ với 27 tổng, 199 "nóc"; miền Trung duyên hải có nha Lý Sơn 2 làng
Thời kỳ đầu của cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân năm 1945, tỉnh Quảng Ngãi được đổi tên là tỉnh Lê Trung Đình, phủ Tư Nghĩa đổi thành phủ Nguyễn Thụy(Sụy), xã Chánh Lộ lấy tên xã Nguyễn Viện v.v Về tổ chức, lập liên xã, bỏ các làng cũ Nhưng, sau một thời gian thay danh hiệu tỉnh, huyện, tổng,
xã đều lấy lại tên cũ Các phủ, huyện, nha trong tỉnh đều gọi tên thống nhất là huyện, gồm tất cả 10 huyện, tổng, 124 liên xã Đảo Lý Sơn nhập vào huyện Bình Sơn nhưng năm 1952 bị quân Pháp chiếm đóng sát nhập hải đảo vào thị xã Đà Nẵng
Năm 1947, uỷ ban hành chánh các cấp đổi tên là uỷ ban kháng chiến hành chánh Từ 1 tháng 11 năm 1954 đến 1971 Tỉnh Quảng Ngãi được chia thành 10 quận: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ (quận trung châu); Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ (quận thượng) Số xã trong toàn tỉnh có thay đổi, năm 1968 có 158 xã; năm 1970 theo sự sát nhập của Bộ Nội Vụ 122 xã, 319 ấp Hai xã ở hải đảo Lý Sơn sát nhập quận Bình Sơn lấy tên Bình Vĩnh, Bình Yến Xã Cẩm Thành nằm giữa tỉnh lỵ, trước kia thuộc quận Tư Nghĩa hiện đã tách rời, trực thuộc Toà Hành Chánh tỉnh
Ranh giới Quảng Ngãi lúc còn là phủ Tư Nghĩa dưới đời vua Lê Thánh Tông, từ năm Hồng Đức thứ 2 (1471) giáp phủ Hà Đông (Tam Kỳ) phía Nam sông Bến Ván tới đèo Bình Đê Hiện nay ranh giới Quảng Ngãi chạy từ phía Nam dốc Sỏi, xã Bình Thắng (Bình Sơn) đến giữa đèo Bình Đê thuộc xã Phổ Châu (Đức Phổ)
Trải qua nhiều thế kỷ, dân tộc Chiêm từng lấy miền đất này làm thành lũy ngăn chặn cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Hiện nay tại địa phương còn vài di
Trang 17tích lịch sử, thỉnh thoảng đồng bào vẫn còn đào được nhiều tượng đá với nét khắc tuyệt mỹ, tiêu biểu cho nền văn minh Chiêm Thành
1.1.2 Đặc điểm về địa lí, dân cư
Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải miền Trung, nằm ở 14 độ 32'- 15 độ 25' vĩ Bắc, 108 độ 06'- 109 độ 04' kinh Đông, lưng tựa dãy Trường Sơn, mặt hướng ra biển Đông; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển của đất liền dài 130Km gồm 5 cửa biển chính, nhiều bãi tắm sạch và phong cảnh đẹp
Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 5.135,2km2 gồm một thành phố và 6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi, có tuyến đường sắt Bắc-Nam và quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh
Là một tỉnh có địa hình khá phức tạp, phía Đông với dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển tiếp cận với biển Đông và vùng đồi núi thấp, phía Tây và phía Tây Nam là một phần Đông Nam dãy trường Sơn giáp với cao nguyên Trung Bộ, với nhiều nhánh núi ngang đâm ra đồng bằng, tạo những tung lũng chạy theo hướng Tây-Đông Nhìn chung các huyện miền núi của tỉnh có độ cao tương đối lớn với các dãy núi phía Đông tỉnh konTum và Gia Lai Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông với phần lớn diện tích đất đai phía Tây của tỉnh là rừng núi Vùng đồi núi thấp 200-300m chiếm diện tích không đáng kể nằm xen kẻ với đồng bằng tập trung chủ yếu ở phía Đông tỉnh
Một số núi ở Quảng Ngãi được xếp vào danh thắng, được các danh nhân xưa đặt cho những cái tên giàu hình tượng như: "Thiên Ấn niêm hà", "Thiên Bút phê vân", "La Hà thạch trận", "Thạch Bích tà dương","Vân Phong túc vũ" Vùng rừng núi Quảng Ngãi là một trong những chiến lược quan trọng về quân sự, là căn cứ địa cách mạng gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân Quảng Ngãi
Miền đồng bằng đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên thành phần cát khá cao của đất với sự xói mòn, huỷ phá do thời tiết mưa, nắng Đặc biệt ở
Trang 18Quảng Ngãi, người ta thấy rằng chất đất ở đây tương đối nghèo, sự thoát thuỷ lại khá nhanh, thêm vào đó sự khô hạn kéo dài chứng tỏ một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm, một màu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết sự thiếu chất bùn Tuy nhiên, Quảng Ngãi còn có nhiều vùng ruộng rộng, thích hợp cho việc cày cấy, nhờ nước của các sông lớn phát nguồn từ dãy Trường Sơn chảy xuyên qua đồng bằng rồi ra biển
Lưu lượng của các dòng sông biến đổi theo mùa Về mùa nắng, lòng sông khô cạn, trái lại mùa mưa, những cơn mưa dầm nặng hạt trên dãy Trường Sơn làm cho nước đổ xuống các dòng sông khiến mực nước dâng cao, đột ngột lan tràn vào các vùng đất xung quanh Sông ngòi Quảng Ngãi đều xuất phát từ Đông Trường Sơn và chảy ra biển Đông Dòng sông ngắn, độ dốc cao (từ 10,5 độ đến
33 độ), lòng sông cạn và hẹp nên vào mùa mưa (có lượng mưa rất nhiều) dòng chảy cường độ mạnh, thường gây ra lũ lụt lớn, gây tác hại cho sản xuất và đời sống, mặt khác cũng mang về cho đồng bằng một lượng phù sa đáng kể Với mạng lưới sông suối dày đặc, các phụ lưu của hệ thống sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ và Trà Câu đều bắt nguồn từ những vùng núi cao có độ dốc lớn với lượng nước nhiều là những nguồn thuỷ năng có giá trị
Hải đảo Lý Sơn nằm về phía Đông Bắc Quảng Ngãi, cách đất liền 24 km, vĩ độ bắc 15'40 và kinh độ 19' có hải đảo Lý Sơn tục gọi là Cù Lao Ré vì trước kia có nhiều cây Ré dùng làm dây rất dai và bền
Quảng Ngãi không có nhiều khoáng sản Theo số liệu điều tra, hiện nay ở Quảng Ngãi có những khoáng sản như vàng, quặng sắt, quặng nhôm, si-lic tự do, cao lanh, graphic, mi-ca, thạch anh, đá vôi, than bùn Quặng nhôm (bô-xít) ở Sơn Tịnh và Bình Sơn trữ lượng không lớn Quặng sắt (dưới dạng đá ong) có hầu khắp ở các vùng duyên hải và vùng đồi núi thấp trong tỉnh, tập trung nhất ở Bình Sơn và Mộ Đức Cao Lanh về trữ lượng xếp hàng thứ hai sau các quặng bô-xít
và sắt, có nhiều ở Sơn Hà, Sơn Tịnh, là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp sành
sứ, làm chất độn, thuốc trừ sâu, công nghiệp giấy và xà phòng Silimanit ở Hưng
Trang 19Nhượng (Tịnh Đông – Sơn Tịnh) là nguồn nguyên liệu chịu lửa Graphit ở Hưng Nhượng là nguồn nguyên liệu cho kỹ nghệ điện, kỹ nghệ đá, làm bút chì, đang được khai thác, có hàm lượng các-bon cao Quặng vàng dưới dạng phù sa lẫn vàng ở Nghĩa Điền, Long Giang, ở vùng thượng lưu ven sông Trà Khúc Đá vôi, san hô dùng cho xây dựng và phân bón có nhiều ở Lý Sơn, Ba Làng An (Bình Sơn), Sa Huỳnh Cát trắng (cát thạch anh) nguyên liệu dùng để chế tạo thuỷ tinh có nhiều ở Bình Thạnh (Bình Sơn) và Tru Chổi (Đức Phổ)
Quảng Ngãi còn có nhiều suối nước nóng có tác dụng chữa bệnh, nhiệt độ
từ 400C đến 600C, nằm rải rác từ đồng bằng đến miền núi như ở Hà Thanh, Vin Cao, Vi-Mang-song, Đăc Joan (Sơn Hà), ở Lộc Thịnh, Bình Hòa (Bình Sơn), ở
An Bình Trai (Sơn Tịnh), ở Hoà Thuận (Nghĩa Hành), ở Đàn Lương, Thạch T rụ (Mộ Đức)
Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa Nhiệt độ trung bình 27 độ C đến 28 độ C, tháng bảy và tháng tám nóng không quá 36 độ C, tháng giêng lạnh nhất không dưới 16 độ C Thời tiết Quảng Ngãi được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt Mùa mưa từ tháng chín âm lịch đến tháng giêng âm lịch Mùa nắng từ tháng giêng âm lịch đến tháng tám âm lịch
Quá trình hình thành, phát triển và phân bố dân cư, dân tộc trên địa bàn Quảng Ngãi từng có các lớp dân cư cổ sinh sống: cư dân Sa Huỳnh, cư dân Chămpa, kế đó là dân cư Việt (Kinh) chiếm vị trí chủ đạo
Ở miền núi, về dân tộc có sự ổn định hơn Miền núi Quảng Ngãi có các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống Họ là cư dân bản địa lâu đời, sống theo từng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau và với người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn Nhìn chung, khối cộng đồng dân cư Quảng Ngãi phát triển theo tiến trình của lịch sử, cùng đoàn kết, chung sức chung lòng trong công cuộc chống phong kiến - đế quốc, dựng xây quê hương giàu đẹp
Trang 201.1.3 Nét đẹp của con người Quảng Ngãi
Dân cư sinh sống trên vùng đất Quảng Ngãi phần lớn là người Việt ở vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh vào định cư khai khẩn xây dựng quê hương từ thế kỉ XV, XVI Kế thừa truyền thống của nơi phát tích người việt đã đoàn kết với các cộng đồng dân cư bản địa trong quá trình sản xuất chiến đấu khá gian nan Trải qua bao thế kỉ chinh phục thiên nhiên, chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm, con người Quảng Ngãi đã hình thành những nét riêng trong tích cách chung của người Việt Nam
Nhận xét về người Quảng Ngãi sách Đại Nam Thống Chí do Quốc sử
quán triều Nguyễn biên soạn, chép: “ Đất bạc, dân chăm tính tằn tiện, không xa
hoa, người quân tử thích việc nghĩa, giữ khí tiết; người tiểu nhân thì hám lợi, hay sinh kiện tụng Địa thế tuy hẹp mà khí mạch tốt, nên đời nào cũng có người làm đến quan to chức trọng, bước đường thanh thản, trọn được danh vọng Ở thôn quê thì nhiều người sống lâu; học trò thì tư chất thông minh, nhiều kiến thức; duy người giàu thì thường bị của cải dời lòng, người nghèo thì khổ vì si nh nhai không đủ, học nghiệp thì phần nhiều không chuyên nhưng nếu biết có chí thì cũng nhiều người thành tựu”[12,46]
Về các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi, sách Đại Nam nhất thống chí cũng
có nhận xét “ từ xưa đã có phong tục gác chòi để chứa thóc gạo Để của ở ven
khe, không lấy trộm của nhau Dẫu nghèo cực vẫn không ăn xin Ngoài vi ệc săn bắn, không cờ bạc chơi bời, tính thuần phác, trai gái không hoà gian.”[12;47]
Ngày nay, tìm hiểu cả quá trình phát triển lịch sử người ta thấy nổi trội sau đây những truyền thống khá đậm nét ở người dân Quảng Ngãi
Truyền thống cần cù lao động: Truyền thống này là đặc tính chung của người Việt Nam, song lại biểu hiện rõ nhất, đậm nhất ở vùng đất cằn cỗi “Đất bạc” nên “dân chăm” và sinh hoạt “ tằn tiện” mặt khác từ đó mà sản sinh những sáng tạo trong lao động Bờ xe nước và những công trình thuỷ lợi xưa cũng như
Trang 21nghề trồng lúa nước, trồng mía ép mía nấu đường thủ công và nhiều nghề khác ở Quảng Ngãi cho thấy điều này
Truyền thống hiếu học: Đây cũng là một đặc tính chung của người Việt Nam nhưng biểu hiện rõ nhất thường ở những vùng đất nghèo như Quảng Ngãi Tuy nhiên có lẽ những ngày đầu khó khăn khai sơn phá thạch để xây dựng quê hương trong suốt vài thế kỉ, chúng ta chưa thấy gương mặt trí thức có tầm cỡ nào xuất hiện Mãi cho đến đầu thế kỉ XIX có Trương Đăng Quế “ khai khoa” và từ đó mới xuất hiện nhiều văn vật Truyền thống hiếu học nổi bật từ khi nước Việt Nam dân chủ ra đời, giải phóng người nghèo ra khỏi tình trạng thất học, tạo điều kiện tốt cho việc học hành Nhiều người đã trở thành trí thức lớn của đất nước, nhiều học sinh Quảng Ngãi thở thành học sinh giỏi nổi tiếng
Truyền thống yêu nước, bất khuất, đoàn kết chống giặc ngoại xâm: đã xuất hiện khá sớm gắn liền với những tên tuổi lịch sử như Trần Quang Diệu, Trương Đăng Hồ… Đặc biệt dâng cao trong suốt thời kì thực dân Pháp xâm lược
và đô hộ nước ta với hàng loạt chí sĩ yêu nước như Trương Công Định, Lê Trung Đình, Trần Kì Phong, Trương Quang Trọng… Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam
ra đời, truyền thống này của người dân Quảng Ngãi còn trở nên nổi bật Khởi Nghĩa Ba Tơ trước Cách mạng tháng Tám, trong 9 năm kháng chiến Quảng Ngãi
là căn cứ địa của cả miền Nam Trung Bộ Trong kháng chiến chống Mĩ lập được nhiều chiến tích vang dội và rất nhiều nhân vật, tướng lĩnh được lưu danh trong sử sách
Ba truyền thống ấy cũng là những điểm nổi bật góp phần hun đúc lên tích cách người dân Việt Nam ở Quảng Ngãi
Nói đến những truyền thống tốt đẹp đã góp phần un đúc nên tích cách con người Quảng Ngãi như trên làm cho ta gợi nhớ đến những điều đã được chính người dân địa phương đúc kết qua câu ngạn ngữ: “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co”; “Quảng Ngãi đãi ra sạn” Có ý nói người Quảng Ngãi thường co cượng, cứng đầu, không khuất phục trước cường quyền áp bức, trong đầu đã có
Trang 22sạn không dễ mê hoặc, dụ dỗ những điều phi nghĩa Đồng chí Phạm văn Đồng
người con ưu tú của Quảng Ngãi đã từng nói…“ Nhân dân Quảng Ngãi là một
bộ phận khắng khít với nhân dân Việt Nam- có những đức tính tốt đẹp, di sản của cuộc đấu tranh từ xưa và những thập kỉ gần đây để dựng nước và gi ữ nước
Đó là lòng yêu nước thương nòi luôn sẵn sàng chiến đấu vì tổ quốc và chủ nghĩa
xã hội Đó là tính cần cù lao động, là trí thông minh và tài năng sáng tạo, nhạy cảm với cái mới với bàn tay khéo léo chăm học chăm làm Đó là tình làng nghĩa xóm yêu thương đùm bọc lẫn nhau nhằm bảo vệ cuộc sống lành mạnh yên vui cho mọi gia đình, cho mọi người… Biết phát huy những đức tính nói trên nhân dân Quảng Ngãi sẽ làm nên sự giàu có từng bước khắc phục những hẹp hòi khắt khe cố chấp trong nhìn nhận của bạn bè về con người Quảng Ngãi”.[12;49]
1.1.4 Danh nhân văn hoá, lịch sử
Viết về Quảng Ngãi trong tạp chí Văn Đàn số 42 ngày 22 tháng 8 năm 1642
đã giới thiệu non nước xứ Quảng…“ Xứ Quảng đây chỉ là tỉnh Quảng Ngãi, cái
tỉnh mà lắm người, lắm việc đã để những dấu ấn sâu đậm trong văn chương nước nhà.”[19;6]
Thật vậy, Quảng Ngãi vốn là miền tổ tích, nơi sinh trưởng của nhiều nhân vật đã và đang có mặt trong các giai đoạn lịch sử nước nhà Khởi đầu bằng một nhân vật huyền sử, vua Nam chiếu xuất thân từ một gia đình nghèo khó tại thôn Trà Giang, dưới chân núi Long Đầu nhờ long mạch phát vương, từng cử binh đánh đuổi quân nhà Đường khỏi đất Giao Chỉ
Dọc theo lịch sử phần đất Quảng miền núi Ấn - Sông Trà chính là quê hương của các bậc danh thần, hiếu tử, chân tu, cách mạng, văn học nổi tiếng, không những trong một vùng, một tỉnh mà còn khắp cả nước Các danh nhân trên có những người có tổ tích ở Quảng Ngãi như Lê Văn Duyệt, hoặc là những người được sinh trưởng tại địa phương như Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Lân, Nguyễn Suỵ (Thuỵ), Lê Ngung… để rồi phải ngã ngục dưới lưỡi gươm của quân xâm lăng, mãi mãi nằm lại dưới lòng đất giữa lòng quê hương bên đồng mía,
Trang 23ruộng lúa, nương khoai Lại có những người tuy sinh trưởng tại địa phương
nhưng sự nghiệp lại trưởng thành ở nơi khác, từng làm Phụ Chánh đại thần trải
qua mấy triều vua như Trương Đăng Quế, hoặc làm tướng giữ chức Đại Tướng
lãnh ấn Bình Tây như Trương Công Định Có những nhân vật sinh trưởng từ các
vùng khác nhưng đã xây dựng sự nghiệp tại đất Quảng, lúc sống họ đã nhận nơi
này làm quê hương và con cháu của họ đang tiếp tục sinh sống tại xứ đường mía
này đến nay đã trải qua hơn 14 đời như danh thần Bùi Tá Hán
Quảng Ngãi cũng là nơi tạm dừng chân của Nguyễn Công Trứ vào năm
Thiệu Trị thứ 3(1843) trong bộ áo lính thú Và cũng chính tại đây, nơi dinh Tuần
phủ Quảng Ngãi cách đây 128 năm, khi từ chối lời mời ngồi và thay áo của quan
đầu tỉnh, Uy Viễn tướng quân đã có dịp nói lên quan niệm sống của kẻ sĩ chân
chính: “ Lúc làm tướng tôi không lấy làm vinh, nay làm lính thú tôi cũng không
lấy là nhục, người ta ở địa vị nào phải sống địa vị ấy Vả lại làm lính mà không
mặt đồ lính thì làm sao ra người lính”.[19;7]
Quảng Ngãi cũng là nơi mà Đạm Am Nguyễn Cư Trinh, năm canh ngọ ( 1750) làm Tuần phủ tỉnh này, đã đem tài văn chương ra ứng dụng vào việc trị
an, soạn truyện Sãi Vãi, một tập văn Nôm có lời đối thoại tới 340 câu để vận
động tâm lí dân chúng trước khi dẹp loạn Đá Vách
Có những nhân vật khi ghé miền núi Ấn -Trà tưởng rằng đây chỉ là nơi
tạm dừng chân, nhưng định mệnh khắt khe đã buộc họ phải an nghỉ vĩnh viễn tại
Quảng Ngãi như trường hợp Tạ Thu Thâu, Huỳnh Thúc Kháng
Có thể nói, các danh nhân dù là người con của quê hương Quảng Ngãi hay
là từ những miền khác đến đây lập nghiệp nhưng ở họ hội tụ đủ cả đức tính của
một ý chí trung kiên Họ đã nêu cao gương trung quân ái quốc, sống một đời
thanh bạch như: Trương Đăng Quế, có tài soạn thảo, tổng kết sách lược, kinh
nghiệm lãnh đạo cai trị của mình để lưu hậu thế như Nguyễn Tấn Có tài thao
lược cầm quân tính tình cương trực, có triết lí và lí tưởng phục vụ, biết nhận xét
người như Lê Văn Duyệt…
Trang 24Là một chí sĩ cách mạng, họ đã nêu cao tấm gương bất khuất, coi cái chết nhẹ như lông hồng, biết áp dụng văn chương biến thành vũ khí sắc bén để tranh thủ quần chúng và tố cáo kẻ xâm lược làm cho đối phương phải run sợ kính phục như Trương Công Định, Lê Trung Đình, Nguyễn Sụy (Thuỵ), Nguyễn Duy Cung, Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Tự lân, Lê Đình Cẩn, Nguyễn Nghiêm, Trương Quang Trọng, Phạm Văn Đồng…
Những nhân vật kể trên dù sự nghiệp thành hay bại, nhưng qua sự gạn lọc của thời gian, với sự thử thách của lịch sử, sự phán xét của dân chúng họ xứng đáng là những nhân vật tiêu biểu cho một miền địa linh nhân kiệt như Quảng Ngãi
1.2 Quảng Ngãi- đặc điểm văn hoá dân gian
1.2.1 Những di chỉ, di tích kiến trúc cổ
Ngược dòng lịch sử trở lại cách đây hàng ngàn năm, vùng đất và con người Quảng Ngãi đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến đổi Từ thời tiền sử, Quảng Ngãi là cái nôi của nền văn minh- văn hoá Sa Huỳnh, văn hoá Chămpa với những kiến trúc thành quách, bề thế mang một phong cách riêng, cùng nhiều di tích, di chỉ khác giờ đây là niềm tự hào của người con Quảng Ngãi Trong sự phong phú đa dạng của các di chỉ, di tích, kiến trúc cổ có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:
Thành cổ Châu Sa : Lịch sử gọi là thành Hời, nằm ở xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, Đông giáp Đồng Dinh, Tây giáp núi Bàn Cờ, Nam giáp sông Trà Khúc, Bắc giáp núi Đầu Voi Thành được đắp bằng đất, gồm thành nội và thành ngoại Thành nội có bình đồ hình chữ nhật, chiều ngang 558m, chiều dài 586m, chân rộng 25m, cao 4,6m, bề mặt thành rộng 5,2m Thành ngoại có hai bờ chạy giáp sông Trà Khúc, dài trung bình 600m, có hình dạng càng cua, hào rộng 12m, trước có nước, chạy dọc bên ngoài thành, có thế phòng thủ kiên cố chống địch từ bên ngoài Thành được xây dựng vào khoảng thế kỷ IX, X nhằm bảo vệ mặt nam
Trang 25của kinh đô Trà Kiệu Thành nằm gần sông, gần biển nên dễ giao lưu với bên ngoài
Thiên Ấn Niêm Hà: Nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, về phía Bắc thành phố Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn chỉ cao hơn 100m, giống một cái triện (ấn), nhìn phía nào cũng thấy núi có hình thang cân Núi chỉ cách đầu cầu Trà Khúc chừng 2km
về hướng Đông, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh Đỉnh núi bằng phẳng, có một khoảng cây cổ thụ bao bọc ngôi chùa cổ, tương truyền được xây dựng từ thời vua Lê và qua nhiều lần trùng tu, còn lại di tích cửa Tam Quan rêu phong cổ kính Trong khuôn viên vườn chùa có 7 "viên mộ" của các vị sư tổ trụ trì chùa, có giếng nước sâu gọi là giếng Phật, có quả chuông cổ gọi là Chuông thần Ngoài khuôn viên nhà chùa, trên khoảng đất thoáng đãng phía tây có phần
mộ của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, người đã gắn bó máu thịt với đất Quảng Ngãi thuở bình sinh Từ trên đỉnh núi, tầm mắt có thể thu về một khoảng không gian bao la: xung quanh là những làng mạc, ruộng đồng ngát xanh, dòng Trà Khúc lượn lờ duyên dáng, Tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ, Đông là mặt biển bao la
Làng cổ Thiên Xuân : Dấu tích ngôi làng cổ hiện nằm ở chân núi Nứa thuộc thôn Thiên Xuân, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, cách thành phố Quảng Ngãi 45 km về hướng Tây Ngôi làng từng là nơi sinh sống của hơn 40 hộ dân với đầy đủ các thiết chế của ngôi làng cách nay mấy trăm năm về trước đó là cổng làng, cây đa, giếng nước… và dưới lòng những dòng suối được xếp đá khá độc đáo để dẫn nước về làng Chu vi của làng gần 2 cây số vuông, toàn bộ ngôi làng được vây bọc bởi một hệ thống thành bằng đá rất vững chắc, mặt thành rộng 1m cao 2,5m và được gắn kết, móc xích giữa các tảng đá với nhau tạo thành một khối vững chắc mà không cần 1 loại tạp chất nào Làng nằm sát tỉnh lộ 628 nối với quốc lộ 24 lên tỉnh KonTum, gần di tích Khánh Giang - Trường Lệ
Di tích chiến thắng Vạn Tường : Di tích chiến thắng Vạn Tường có 8 điểm nằm trên địa bàn 2 xã Bình Hòa và Bình Hải, huyện Bình Sơn, cách thành phố Quảng Ngãi 25 km về hướng Đông Bắc
Trang 26Khu Chứng tích Sơn Mỹ :Vụ thảm sát Sơn Mỹ xảy ra vào rạng sáng ngày 16/3/1968 do một đơn vị đặc nhiệm quân đội Mỹ tiến hành Chúng càn quét, đốt phá nhà cửa, ruộng vườn và tàn sát 504 người dân vô tội, trong đó hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ em Vụ thảm sát này là bằng chứng tố cáo tội ác giết người hàng loạt man rợ nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam Cụm di tích vụ thảm sát ở Sơn Mỹ có 8 điểm thuộc hai thôn Tư Cung và Cổ Lũy thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, cách thành phố Quảng Ngãi 12 km
về hướng Đông, di tích vụ thảm sát Sơn Mỹ đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là di tích đặc biệt quan trọng
Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng : Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, cách thành phố Quảng Ngãi 25 km về phía Nam Đây là nơi sinh ra và lớn lên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng Khu lưu niệm này còn lưu giữ nhiều kỷ vật của gia đình Thủ tướng Phạm Văn Đồng như án thờ, tràng kỷ, án thư, phản… và những vật dụng lưu niệm khác; đồng thời tại đây cũng trưng bày một số hình ảnh thể hiện tình cảm của Ông với quê hương Mộ Đức - Quảng Ngãi, cũng như tình cảm của nhân dân Quảng Ngãi đối với Ông
1.2.2 Đặc sản quê hương
Quảng Ngãi còn được biết đến trong con mắt bạn bè với cái tên vùng đất núi Ấn - sông Trà, và chính từ trong dòng chảy của con sông, địa hình của rừng núi đã sản sinh ra những sản vật, những món ăn dân dã thân quen, mang đậm dấu ấn của tình đất, tình người Những con sông lớn Quảng Ngãi, vào mùa lũ nước ầm ào giận dữ như con ngựa bất kham, mùa khô lại êm ái, lặng lờ xuôi chảy Sông nước quê hương không chỉ bồi đắp phù sa, tưới tắm cho vùng đồng bằng mà còn là mạch nguồn nuôi dưỡng những sản vật đặc trưng, lưu luyến người đến ở, nhắc nhở người đi xa
Trang 27Ở dòng sông Trà Khúc, trước khi hoà mình vào đại dương, tại nơi vị ngọt của sông gặp gỡ vị mặn của biển mà người dân địa phương gọi là nước chè hai đã hình thành vùng cư trú của một loài nhuyễn thể nước lợ, đó là con don
Vào những ngày nắng ráo của hai mùa xuân - hạ, từ sáng tinh sương, khi mực nước chè hai vừa tầm, ở một số vùng miền đông, người ta rủ nhau đi cào don Con don vốn cùng họ với con hến nhưng bề ngoài trông khác biệt, vỏ cong, mỏng, dài hơn và đặc biệt là vị của nó rất khác so với con hến
Món don tuy mộc mạc, lại không cầu kì, và được chế biến theo công thức giản dị mà không trùng lặp với bất kì món ăn nào trên đất nước ta Bánh tráng sống và thịt don được cho vào tô chan nước luộc don thêm ngọt, đã có thêm gia vị ăn kèm với bánh tráng đã nướng giòn và những trái ớt chỉ thiên Sức hấp dẫn của nó chính là ở hương vị nguyên sơ của sông nước Trà Giang và ở lời ví von ngọt ngào của những chị bán don trong quán ăn dân dã
Một món ăn quen thuộc nữa của người dân Quảng Ngãi là cá bống sông Trà Dù trong bữa cơm dân dã hay trong những bàn tiệc sang trọng thì vẫn vậy, bao giờ cá cũng phải được làm sạch, ướp kĩ với gia vị và phải dùng trách đất để kho Cá bống kho tiêu không chỉ là thương hiệu đặc sản ẩm thực của Quảng Ngãi mà còn là thông điệp từ văn hoá của những con người dân dã, mến khách của vùng núi Ấn - sông Trà
Trong tâm thức của người dân Quảng Ngãi, sông Trà không chỉ là hình ảnh biểu trưng cho quê hương mà còn là điểm tựa cho tâm hồn con người Ở đó mang sự lắng đọng ẩn chứa những niềm tự hào xứ sở Ví như bờ xe nước một thời vang bóng hay ví như con cá bống sông Trà nhỏ nhoi: Ngon, ngọt, đắng rất riêng của dòng nước trong xanh này
Cũng như tấm lòng rộng mở của con người Quảng Ngãi, con sông Trà bao dung với tất cả những ai sống vì nó Nếu nơi cửa biển, sông cho người con don; nơi dòng chảy quanh co đồng bằng; sông cho người cá bống thì ở đầu nguồn Ba
Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng sông cũng cho bà con một sản vật
Trang 28ngon không kém đó là cá niên Cá niên có môi trường sống rất riêng, chúng chỉ
cư trú ở những con sông, suối có vùng nước chảy, nước trong xanh và nhiều đá ở tận thượng nguồn Mùa sinh sôi phát triển của cá niên diễn ra rất nhanh, chỉ kéo dài từ tháng chạp cho đến tháng tư âm lịch năm sau tức vào tiết xuân, còn khoảng thời gian còn lại trong năm, cá xuất hiện thưa thớt hơn Người ta xem cá niên là con cá sạch, bởi chúng chỉ ăn những rong, rêu hoặc những con vật nhỏ xíu ở tảng đá, vách đá dưới lòng sông suối
Cách chế biến cá niên dân dã và thơm ngon nhất đó là nướng Người ta đem nướng cá để nguyên cả bộ ruột, vì ruột cá niên ngon và hấp dẫn hơn ruột cá tràu Trước kia cá niên chỉ có ở vùng núi Quảng Ngãi, giờ đây với sự lan toả nhờ hương vị của nó, cá niên đã khiến cho hình ảnh của núi rừng và con người miền núi trở nên gần gũi và thân quen hơn
Và ở những cánh đồng hằng năm, vào dịp cuối thu sang đông, bắt đầu từ tháng 10 âm lịch, cùng với gió lạnh cũng là lúc nhiều đàn chim về cư ngụ trong những đồng mía mênh mông của các vùng Xuân Phổ, Nghĩa Kỳ, Hành Minh, Nghĩa Hành… người dân địa phương quen gọi những con chim ấy với cái tên chung là chim mía Thật ra đó là rất nhiều loại chim khác nhau, sau khi tìm mồi dưới đất hay ăn lúa ở những cánh đồng xa về ngủ trong những lớp mía dày Từ rất lâu, người dân địa phương đã có sáng kiến rất độc đáo, đó là đánh chim mía bằng lưới, đây là thú vui đồng quê, vừa có tác dụng bảo vệ mùa màng Chim mía có thể chế biến thành nhiều món ăn thơm ngon bởi chúng có xương mềm, thịt không quá béo và rất bổ
Vùng đồng đất Quảng Ngãi không chỉ là nơi đất lành cho con chim mía cư ngụ mà những nông sản nơi đây cũng còn là nguyên liệu để tạo nên những thứ quà bánh mộc mạc mà thơm thảo, gần gũi thân quen với bao thế hệ người dân nơi đây Từ rất lâu, người ta đã biết đến đường, một sản phẩm của cây trồng truyền thống trên đất Quảng Ngãi, đó chính là cây mía Không chỉ với đường cát trắng, mà còn với những thứ đường được chế biến bởi bàn tay khéo léo của
Trang 29người dân quê tôi để tạo hương vị riêng đó là đường phổi, đường phèn Nơi xứ sở của mía đường này, chất ngọt ngào của thiên nhiên và đôi bàn tay lao động cần cù của con người đã tạo nên những thứ đường kết tinh thô ráp mà đầy ân tình, mang phong vị riêng của cả một vùng đất
Từ lúa, từ mía, hai loại nông sản quan trọng của vùng núi Ấn - sông Trà, đã có hai làng nghề được hình thành nổi tiếng gần xa, đó là mạch nha Mộ Đức
và kẹo gương Thu Xà Mộ Đức với những cánh đồng lúa bát ngát, trải rộng được biết đến với nghề nấu mạch nha có từ lâu đời
Du khách từ nơi xa đến hay chính là những người con của quê hương Quảng Ngãi, được thưởng thức những món ăn thân quen cũng là thưởng thức cả một bản sắc nghệ thuật dân dã rất riêng của vùng đất này để thêm hiểu niềm tự hào của người dân nơi đây Càng tự hào, người ta càng mong mỏi những món ăn dân dã, độc đáo của quê hương sẽ đến gần hơn với du khách ghé thăm và đến rộng hơn, xa hơn với những vùng đất khác
Khi rời quê, những người con Quảng Ngãi lại mang theo mình hủ cá bống, lon mạch nha, gói kẹo gương… làm quà Và dù đi đến những mảnh đất nào thì những món ăn dân dã của quê nhà vẫn đau đáu, luyến nhớ trong lòng họ bởi hương vị mộc mạc rất riêng của xứ sở Những người xa quê tìm thấy ở những món ăn dân dã của quê nhà một kỷ niệm về thuở xa xưa, một bến nước, con đò, ruộng lúa, nương dâu và nhắc với nhau rằng đừng vội quên quê hương bản quán
1.2.3 Phong tục, lễ hội, tín ngưỡng
Trải qua các thời kỳ lịch sử, cộng đồng các dân tộc Quảng Ngãi luôn lưu giữ, trao truyền di sản văn hóa truyền thống của các tộc người, trong đó có các hình thức phong tục, tập quán, tín ngưỡng, và được điều chỉnh theo từng thời kỳ, từng giai đoạn Mỗi tộc người có những hình thức phong tục tập quán riêng, trong đó chứa đựng những giá trị truyền thống của tộc người Trong các hình thức tôn giáo cũng vậy
Trang 30Cũng như cộng đồng người Việt ở các vùng miền khác nhau trong nước,
từ lâu người Việt ở Quảng Ngãi còn giữ khá đầy đủ các hình thức liên quan đến chu kỳ một vòng đời người, trong đó có ba mốc quan trọng là sinh đẻ, cưới xin
và tang ma Ngoài ra ở Quảng Ngãi còn có những hình thức tín ngưỡng sau: Thờ cúng tổ tiên: là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của người Việt nói chung, người Việt ở Quảng Ngãi nói riêng Đến nay dường như hiếm có gia đình nào của người Việt ở Quảng Ngãi lại không có bàn thờ tổ tiên trong nhà, trừ những gia đình theo đạo Công giáo Vào ngày sóc vọng, đi xa, cưới hỏi, mừng thọ, đỗ đạt, nhất là vào ngày giỗ, tết, gia đình thường làm lễ tế tổ tiên Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa chứa đựng nhiều giá trị: giá trị nhân văn, giá trị giáo dục đạo đức Tín ngưỡng này cũng chứa đựng nhiều lớp văn hóa: tín ngưỡng "hồn linh" (với quan niệm người đã chết rồi nhưng linh hồn vẫn còn đâu đó); sự tỏ lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; tín ngưỡng cầu mưa, cầu mùa Nhưng hạt nhân hợp lý nhất của tín ngưỡng này chính là đạo lý "Uống
nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của người Việt
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa: là một lễ thức hết sức độc đáo, chỉ có ở huyện đảo Lý Sơn, và vẫn còn lưu truyền trong các tộc họ có người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa, tìm kiếm hải vật, sản vật, tuần phòng và bảo vệ biển Đông, ngay từ thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này Hàng năm, các tộc họ có người đi lính Hoàng Sa làm lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào ngày 19 –
20 tháng 2 Âm lịch Là thời điểm những người đi lính Hoàng Sa thuở trước chuẩn bị lên thuyền ra biển Ngoài các thành viên trong gia đình, tộc họ, trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa còn có thầy pháp Lễ vật hiến tế cũng gần giống như lễ hiến tế ông bà tổ tiên, có khác biệt chút ít ở các linh vị, thuyền lễ là chiếc thuyền làm bằng giấy màu, đế là bè chuối cây, có 4 hình nộm bằng rơm (hình người đi lính Hoàng Sa), củi, gạo, vàng mã (tựa như thuyền lễ trong lễ tống ôn) Sau khi làm lễ tại nhà thờ tộc họ, mọi người đưa thuyền lễ thả xuống biển, với sự cầu mong những người đi lính Hoàng Sa sẽ tránh được những rủi ro, bất
Trang 31trắc trên biển (là một hình thức cúng thế mạng, tế sống ngày trước), bởi những người đi lính Hoàng Sa thường là một đi không trở lại
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ thức văn hóa tín ngưỡng giàu tính nhân văn, có ý nghĩa chính trị, tỏ lòng biết ơn những người con giữ vững lãnh thổ đảo của Tổ quốc
Thờ cúng cá Ông: là một hình thức thờ cúng cá voi và các thủy thần trên biển, do ngư dân các làng, vạn ven biển hàng năm lo việc tế tự vào xuân thu nhị
kỳ Để tri ân cá Ông cứu mạng, các ngư dân tôn vinh Ông thành thần, các triều đại nhà Nguyễn thường ban các sắc phong thần với nhiều tước vị cho Ông và chuẩn cho nhân dân các làng ven biển phụng thờ Ngoài việc cúng tế, hàng năm tại lăng Ông còn tổ chức hát bả trạo, múa gươm, diễn các trò diễn dân gian như đua thuyền, lắc thúng, vv
Ngoài ra còn có tục thờ các vị thần nữ Ở Quảng Ngãi hiện nay còn hàng trăm điểm thờ cúng các nữ thần, như: Thiên Y A Na, Ngũ Hành, Thủy Long, T ứ
Vị Thánh Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ, U Linh Xạ Nữ vương, Bà Chúa Yàng,
Bà Chúa Ngọc, Linh Sơn Thánh Mẫu, Tây Vương Mẫu… Nhiều dinh thờ nữ thần còn lưu giữ gần như nguyên vẹn được các cấu kiện kiến trúc, các hoa văn họa tiết được chạm khắc công phu từ hàng vài trăm năm trước
Quảng Ngãi hiện còn hàng trăm nghĩa tự, hầu như mỗi làng xóm đều có một nghĩa tự Đây là nơi thờ những người chết bất đắc kỳ tử, chết sông, chết biển, chết đường, chết chợ không người hương khói Nghĩa tự thường có kiến trúc lộ thiên, gồm có ban chánh, hai ban tả ban và hữu ban, ban hội đồng, ban thờ Tiêu Diện (vị thần cai quản âm hồn) Hàng năm vào dịp tháng ba âm lịch, dịp Thanh minh các làng tổ chức lễ tế âm hồn Tùy theo điều kiện của làng mà có thể cúng hương hoa trà quả hay tế heo, bò Hiện nay, nhiều gia đình vẫn còn giữ tục thờ cúng âm hồn vào các ngày sóc, vọng, lễ tết Khi cúng người ta lập dàn thờ trước sân, trước hè Có nhà còn dựng sẵn trang thờ âm hồn trước sân
Trang 321.2.4 Đặc điểm văn học dân gian Quảng Ngãi
Văn học dân gian là yếu tố cấu thành nên nền văn học của mỗi dân tộc Nó không chỉ phản ánh bộ mặt tinh thần của người dân lao động mà còn là ngọn nguồn văn hoá, văn học của mỗi quốc gia Nền văn học dân gian Việt Nam là pho từ điển tổng hợp văn học dân gian từ các vùng miền khác nhau Là một thành viên của nền văn học nước nhà, người Quảng Ngãi cũng có những sáng tác dân gian, gắn liền với vùng đất mà họ đã từng gắn bó trong suốt nhiều thế
Các di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh có các chuyện về “Cao Biền yểm núi Long Đầu” và sự tích “Vua Nam Chiếu bên bờ sông Trà”, chuyện
về “Chuông Thần”, “Giếng Phật” trên chùa Thiên Ấn, chuyện về “Giếng Vua” ở làng Thanh Thủy (Bình Sơn), chuyện về “Giếng Ông Miềng” ở đảo Lý Sơn; chuyện về “Ông Rau” ở núi Long Phụng, chuyện về “4 ông tu tiên ở chùa Hang” Lý Sơn, chuyện về “Hòn Ông”, “Hòn Bà” ở vùng cửa biển Sa Cần, chuyện về “Kha Hổ” mà nay còn miếu thờ Thần Hổ ở Trà Bồng
Gắn liền với các nhân vật lịch sử, những tấm gương quyết liệt, những nhân cách cao đẹp của kẻ sĩ, anh hùng, có các chuyện, như chuyện về Bùi Tá Hán hiển Thánh mà nay vẫn còn truyền tụng hai câu thơ:
Trang 33"Nhân mã bất tri hà xứ khứ
Huyết y trường dữ thử bi lưu",
Chuyện về Nguyễn Tấn tiếp các già làng người dân tộc ở Đá Vách, chuyện về đánh giặc Tàu Ô của ông Nguyễn Văn Tuất, chuyện về Bà Roi tuẫn tiết (Lý Sơn) và nhiều giai thoại về các chí sĩ yêu nước Lê Trung Đình, Lê Đình Cẩn, Nguyễn Thụy, Nguyễn Bá Loan, về ông Giải nguyên Thuận Phước, về Cử nhân Phạm Hoành, về chàng nho sĩ họ Phạm ở làng Chánh Lộ
Hình ảnh người bình dân, có rất nhiều chuyện kể khác nhau, thường là những truyện cười, những giai thoại có chủ đề chính là phê phán các thói hư tật xấu, ca ngợi người tài trí, đức độ, dũng cảm, như: Chuyện “Thằng Bòi đi thi”,
“Chuyện hò hay lấy được vợ”, chuyện “Mặt rỗ đối giỏi cũng được vào cung”, chuyện “Chàng hợm bị một vố đau”…
Nội dung chính của kho tàng truyện kể người Quảng Ngãi thường thể hiện cái nhìn suy nguyên về các sự vật, hiện tượng, thể hiện niềm tự hào đối với quê hương xứ sở qua việc thiêng hóa vùng đất, thiêng hóa con người, qua đó cũng bộc lộ tâm hồn và tính nết con người Quảng Ngãi trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong các truyện kể nêu trên có một
số câu chuyện mang môtíp quen thuộc của truyện kể dân gian ở nhiều vùng trong nước Tuy nhiên, những câu chuyện có môtíp phổ biến ấy cũng đã có nhiều đổi khác, đã có những sắc thái riêng của vùng đất và con người Quảng Ngãi Đó là một sự tái tạo theo nhãn quan riêng của người dân ở vùng đất này trong quá trình sinh sống ở một môi trường mới, mà ở đó điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử - xã hội đã có ít nhiều khác biệt so với vùng quê gốc, có sự giao lưu với Văn hóa Chămpa cổ, với văn hóa của người Hoa và với văn hóa của các dân tộc thiểu số miền núi
Ngoài truyện kể dân gian, trong cộng đồng cư dân Quảng Ngãi còn có một khối lượng lớn ca dao, hát hò, hát hố, tục ngữ, vè, câu đố thể hiện dưới hình thức văn vần Bên cạnh những câu, những bài mang tính phổ thông của
Trang 34toàn quốc, của vùng, miền người Việt ở Quảng Ngãi còn có những câu, những bài mang nét riêng của vùng đất Có thể tạm chia văn vần dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi làm hai mảng đề tài chính: mảng đề tài phản ánh ứng xử với môi trường tự nhiên và mảng đề tài phản ánh ứng xử với môi trường xã hội
Trong quan hệ ứng xử đối với môi trường tự nhiên, người Quảng Ngãi có những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác bằng những câu ca, những câu nói có vần (trong đó chủ yếu là tục ngữ, vè), mà trong đó chứa đựng những kinh nghiệm về lịch thời tiết, lịch con nước, lịch đánh bắt cá, cách chế biến thức ăn từ ruộng đồng, sông biển, ao hồ; về nhật trình đi biển, lịch làm ruộng; những cảm quan về đất đai sông núi miền đất Ấn - Trà Ví dụ như, khi nói về lịch thời tiết, văn vần dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi có những câu như:
Đời ông cho chí đời cha Mây phủ Sơn Trà không gió thì mưa
Khi để nhớ về các loài chim, người Việt ở Quảng Ngãi có bài vè về chim; khi để nhớ tên các loại cá, người ta có bài vè về cá; khi để nhớ đặc điểm của mỗi chặng đường quanh ven biển từ Bắc vào Nam, ngư dân ven biển ở mảnh
đất này phải thuộc lòng bài vè Các lái, bài Đi vô lẫn bài Đi ra, …
Những câu văn vần về đề tài này hết sức phong phú, đa dạng, về nhiều khía cạnh khác nhau trong quá trình người Việt ứng xử với môi trường tự nhiên ở vùng đất Quảng Ngãi Nếu như tục ngữ, vè được dùng như một thế mạnh để phản ánh quan hệ của con người với môi trường tự nhiên thì ca dao là một thế mạnh được con người dùng để phản ánh quan hệ ứng xử của con người với môi trường xã hội Ca dao thường phản ánh những vấn đề về tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia đình, làng xóm, quan hệ với lịch sử - xã hội
Cùng với các truyện kể dân gian, những câu, những bài văn vần dân gian của người Quảng Ngãi có những sắc thái riêng, mang dấu ấn của vùng đất, của con người sống trên vùng đất này Sự tái tạo và sáng tạo theo nhãn quan riêng đã
Trang 35làm cho ca dao của người Việt ở Quảng Ngãi rất phong phú, đa dạng, trong nội dung, trong hình thức biểu đạt, một sự biểu đạt chân chất, hồn nhiên, thẳng thắn, hơi cục mịch mà thật sâu nặng tình cảm như chính con người Quảng Ngãi
Tiểu Kết:
Khái lược về vùng đất con người và văn hoá dân gian Quảng Ngãi cho thấy vùng đất này có lịch sử hình thành và đặc điểm địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội riêng nhưng khá thống nhất với cả nước Trong đó văn học dân gian phản ánh khá đậm nét và sâu sắc các mặt tự nhiên và xã hội của mảnh đất Đó là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, quê hương, đất nước mình của người dân Quảng Ngãi, là kết quả giao lưu và hội tụ của nhiều dân tộc anh em trong cộng đồng Việt Nam Truyền thống văn hoá Quảng Ngãi không ngừng phát huy và kết tinh sâu đậm trong tâm hồn khí phách của mỗi người dân Tự hào về những truyền thống đó con người Quảng Ngãi đã và đang quyết tâm xây dựng một cuộc sống ngày càng ấm no, tự
do, hạnh phúc
Trang 36CHƯƠNG HAI KHÚC CA ĐẦY TỰ HÀO VỀ LÀNG QUÊ
2.1 Lòng tự hào về cảnh sắc quê hương
2.1.1 Tự hào về các danh thắng
Men theo quốc lộ 1A về với Quảng Ngãi, ghé dòng sông Trà Khúc, ngắm biển chiều Mỹ Khê, dõi mắt trông ra hòn Cù Lao Ré Trong cảnh hoàng hôn mây phủ chắc hẳn du khách sẽ không quên được cảnh huyền dịu của non nước Quảng Ngãi Những cảnh đẹp nơi đây khiến cho lòng người ra đi cứ mong được trở về:
Ta lại về đây Quảng Ngãi ơi Hoàng hôn mây phủ tím chân trời
( Sưu tầm) Trong khung cảnh thiên nhiên trời đất đẹp đẽ đó đã nuôi sống tâm hồn biết bao thế hệ người con Quảng Ngãi Cùng với các vùng khác trên đất nước Việt chúng ta, mảnh đất Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử ngàn năm văn
hiến “Ở đây có sự hùng vĩ của thiên nhiên, cảnh non xanh cao vời vợi Đẹp kì
dịu những dòng sông, rộng bát ngát những cánh đồng, xanh xanh những màu xanh của sự sống, có những điệu dân ca mền dịu cánh cò bay, những xóm làng cần mẫn…[21;45]
Sự ban tặng của thiên nhiên, đã làm nên sự đa dạng phong thú trong cảnh sông núi Quảng Ngãi, ở đó có khá nhiều phong cảnh đẹp được cả nước biết đến
Bộ phận ca dao này có nhiều câu đã đi vào trong kho tàng văn học dân gian nước nhà
Nói đến Quảng Ngãi hẳn điều đầu tiên mà du khách nghĩ đến là núi Thiên Ấn còn gọi là núi Hó Hòn núi này nằm về tả ngạn của sông Trà Khúc Đến đây du khách sẽ bắt gặp hình ảnh giống như một cái ấn, nhìn phía nào ta cũng thấy hình thang cân Và đứng trên tả ngạn nhìn qua, ta có cảm giác như núi nằm ngay trên mặt sông Trà nên được người xưa ban cho cái tên là “Thiên Ấn
Trang 37Niêm Hà”, đó là hình ảnh ấn trời đóng trên sông Đường lên Thiên Ấn hình xoắn
ốc, bao quanh sườn núi có cây cối mọc đầy, đặc biệt là cỏ tranh Và hình ảnh đó được các cặp trai gái khi yêu nhau lấy làm niềm tin về nhau:
-Bao giờ núi Ấn hết tranh, Sông Trà hết nước anh đành xa em
-Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh Liều mình dấu mẹ theo anh phen này
Với một niềm tin thiêng liêng vào vùng đất địa linh nhân kiệt, Thiên Ấn được xem là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi
Vẻ đẹp của núi còn được tôn vinh bởi nằm trên ngọn núi có ngôi chùa Thiên Ấn cũng được xem là một trong những ngôi chùa nổi tiếng miền Trung Tương truyền trong dân gian Quảng Ngãi chùa thiên Ấn xưa kia có nhà sư đến xin tá túc và giúp chùa khơi nguồn nước và đào giếng mang đến nguồn nước ngọt trong lành cho nhân dân, nhưng khi giếng đã hoàn thành thì nhà sư cũng đi khỏi Dân gian có câu:
Ông thầy đào giếng trên non Đến khi có nước không còn thầy ơi!
Gắn liền với chùa còn có sự tích của quả đại hồng chung linh thiêng của chùa Ngoài ra, phía trước chùa về phía Tây Nam còn có ngôi mộ của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng
Là một danh lam thắng cảnh của tỉnh nhà và của cả nước Việt nam, chùa Thiên Ấn đã trở thành đề tài ngâm vịnh của rất nhiều nho sĩ Trong đó có thể kể đến bài vịnh Thiên Ấn Niêm Hà của Nguyễn Cư Trinh:
“Phong cảnh nơi đây thật rất xinh Niêm Hà có ấn của trời xanh Xem kìa dấu tích còn vuôn vứt Nhận lại non sông rõ dạng hình Cách thức như in đồ cổ tự
Trang 38Cỏ cây nào phụ tiếng chuông linh Châu Sa đỗ nước chân chờ mãi Trấn chỉ sau lưng núi Cẩm Thành”
Cách núi Thiên Ấn không xa, ngay cạnh phía Bắc cầu Trà Khúc ta lại có núi Long Đầu:
Sông Trà c có núi Long Đầu Nước sông chảy mãi rồng chầu ngày xưa
Từ phía Đông Bắc có một dãy đồi thấp mấp mô chạy dài, đến đây thì nhô lên
và đâm thẳng vào ngực sông Trà, vào mùa lũ nước cuồn cuộn nơi lưu vực sông Người xưa hình dung như là đầu rồng đang giỡn nước gọi là Long Đầu Hý Thuỷ Hình ảnh dòng sông Trà Khúc đã làm nền và tôn thêm vẻ độc đáo của Thiên Ấn Niêm Hà và Long Đầu Hý Thuỷ Cảnh đẹp đó đã được Cao Bá Quát một lần ghé thăm và ban tặng những vần thơ hay:
“… Bãi uốn sông như cầu quặn khúc Tối chìm, gió tựa- rượu hơi say…”
Ca dao Quảng Ngãi cũng tự hào mà hát lên rằng:
Núi Long Đầu lưu danh hậu thế Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng
Ai về Thiên Ấn cho nàng về theo
Không chỉ có cảnh đẹp ở núi Ấn - sông Trà và Long Đầu Hý Thuỷ mà về Quảng Ngãi du khách còn có dịp tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ huyền bí của những ngọn núi khác Vào địa phận xã nghĩa Chánh, huyện Tư Nghĩa đi vào Nghĩa Phú chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh núi Thiên Bút Đứng xa xa trông lên chóp núi tựa như một cây bút lông đang chỉ lên trời, phía Đông núi có hòn nghiên tựa như nghiên mực Vào buổi chiều tà có dải mây thấp thoáng in bóng đàn nhạn bay qua đỉnh núi và được dân gian ban tặng cho cái tên Thiên Bút Phê Vân:
Ai về núi Bút quán Trà Núi bao nhiêu dạ thương chàng bấy nhiêu