Với mong muốn góp thêm tiếng nói vào sự khẳng định nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Định ngữ nghệ thuật trong câu văn M
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
- -
NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học, là vũ
khí cơ bản của nhà văn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học, là vũ khí cơ bản của nhà văn” Ngôn
ngữ đóng vai trò quan trọng tạo nên dấu ấn, phong cách riêng của mỗi nhà văn Cách
sử dụng ngôn ngữ của mỗi người đều phản ánh sự hiểu biết của chính người đó về thế giới khách quan, được biểu hiện thông qua ngôn ngữ
Sự thành công của mỗi tác phẩm văn học chính là ở chỗ đem đến cho người đọc
sự chia sẻ cảm thông, làm cho người đọc có thể vui với cái vui của nhân vật, có thể buồn với cái buồn của nhân vật, xót xa với những số phận oan trái, căm hờn với những cảnh đời nghiệt ngã, đau đớn với nỗi đau của nhân vật Không những thế người đọc còn cảm nhận được tâm tư tình cảm của tác giả thông qua hệ thống hình tượng và nội dung của tác phẩm Muốn đạt được sự thành công như vậy đòi hỏi mỗi nhà văn phải am hiểu cuộc sống, có vốn từ ngữ phong phú, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ tinh xảo có khả năng tác động đến cảm xúc, suy nghĩ của người đọc Một tác phẩm văn học nghệ thuật được công nhận là hay, là thành công không chỉ được đánh giá bởi nội dung phản ánh của tác phẩm đó, mà nó còn phụ thuộc vào cách lựa chọn và sắp xếp từ ngữ của tác giả Như vậy, sự sắp xếp, phân bố và vận dụng ngôn ngữ một cách hợp lý, chuẩn xác, có giá trị thẩm mỹ là khá quan trọng tạo nên sự thành công cho một tác phẩm
Trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là nhà văn có rất nhiều
đóng góp lớn lao Từ truyện ngắn đầu tay - Phố cụt đăng trên báo Văn nghệ năm
1961, cho đến nay Ma Văn Kháng đã có đến 20 tập truyện ngắn, 12 cuốn tiểu thuyết
và 4 truyện viết cho thiếu nhi Với phong cách làm việc nghiêm túc, không ngừng tìm
Trang 3tòi, đổi mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật cũng như trau dồi nghệ thuật ngôn từ, ông đã khẳng định được vị trí vững chắc của mình trên văn đàn văn học
Bên cạnh sự thành công rựa rỡ của thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn cũng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng Có thể nói truyện ngắn đã đem đến vinh quang cho nhà văn ngay từ buổi đầu khởi nghiệp:
Truyện ngắn Xa Phủ được giải nhì (cuộc thi không có giải nhất) cuộc thi viết truyện ngắn 1967 - 1968 của tuần báo Văn nghệ; tập truyện Trăng soi sân nhỏ được giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 và giải thưởng Đông Nam Á năm 1998;
truyện San Cha Chải được giải cây bút vàng của Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt
Nam 1996 - 1998 Không chỉ thành công ở đề tài miền núi, Ma Văn Kháng còn thành
công ở đề tài thành thị Các tập truyện Ngày đẹp trời (1986), Trái chín mùa thu (1988), Heo may gió lộng (1990), Trăng soi sân nhỏ (1995) … đã thể hiện những giá
trị nhân sinh sâu sắc và những trăn trở đầy trách nhiệm của nhà văn về cuộc đời và con người
Bằng quan niệm viết văn là việc “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”, Ma Văn Kháng đã tạo cho mình một tiếng nói, một phong cách nghệ thuật riêng Ma Văn Kháng là nhà văn không ngừng đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật Chính vì thế, lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn của ông Tuy nhiên đi sâu về một khía cạnh ngôn ngữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào
Với mong muốn góp thêm tiếng nói vào sự khẳng định nghệ thuật sử dụng ngôn
từ trong sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Định ngữ
nghệ thuật trong câu văn Ma Văn Kháng qua một số truyện ngắn” Nghiên cứu thành
công vấn đề này, luận văn mong muốn góp phần khẳng định về một phương diện của tài năng cũng như sự độc đáo trong ngôn ngữ Ma Văn Kháng trên hành trình sáng tạo nghệ thuật
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ma Văn Kháng là một nhà văn lớn có những đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới của nền văn xuôi đương đại Việt Nam Lâu nay đã có khá nhiều công trình
Trang 4nghiên cứu về tiểu thuyết và truyện ngắn Ma Văn Kháng Tuy nhiên, vì đề tài chúng tôi nghiên cứu truyện ngắn nên chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về truyện ngắn của ông
Những vấn đề liên quan đến nội dung của truyện ngắn Ma Văn Kháng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình, cũng như các bài viết được đăng trên báo và tạp chí văn học Có thể kể đến tên của một số nhà nghiên cứu về mảng này như
Nguyễn Đại (Đọc sách Xa Phủ đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 5/10/1970), Nguyễn Nguyên Thanh (Ngày đẹp trời - tính dự báo về những tình thế xã hội, đăng trên Báo Văn nghệ số 21 ngày 23/5/1987), Trần Bảo Hưng (Đọc Heo may gió lộng, đăng trên Báo Văn nghệ số 47/1993), Lã Nguyên (Khi nhà văn đào bới bản thể ở
chiều sâu tâm hồn đăng trên tạp chí văn học số 9/1999), Nguyễn Ngọc Thiện (Một cây bút văn xuôi sung sức, một đời văn cần mẫn), Nguyễn Văn Chỉ (Đọc Cỏ dại – Truyện ngắn hay của Ma Văn Kháng, đăng trên báo Văn nghệ số 13 ngày 30/3/2002),
Phạm Duy Nghĩa (Phong cách văn xuôi miền núi của Ma Văn Kháng, đăng trên Tạp
chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 175 tháng 8 năm 2009) …
Nhưng những vấn đề liên quan đến nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng thì số lượng công trình nghiên cứu còn rất hạn chế Chúng tôi có thể kể tên một số công trình sau:
Trong bài viết Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn của Lã Nguyên,
bên cạnh việc nghiên cứu về khía cạnh nội dung, tác giả cũng đã đề cập đến một số đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng như: tính công khai bộc lộ chủ đề, sự
cố ý tô đậm tính cách nhân vật, việc lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật
Trong luận văn Giá trị tư tưởng và nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng, tác
giả Đỗ Phương Thảo đã khảo sát và đưa ra một số kết luận về nghệ thuật xây dựng cốt truyện như: sử dụng phép liệt kê, sử dụng các yếu tố dân gian, các yếu tố hoang đường kỳ ảo …
Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi
mới, tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã tập trung khai thác các khía cạnh nghệ thuật của
Trang 5truyện ngắn Ma Văn Kháng như: điểm nhìn trần thuật, không gian thời gian trần thuật
và giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật
Tác giả Phạm Mai Anh với đề tài Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn
Kháng từ sau năm 1980 đã tập trung khai thác một số yếu tố nghệ thuật trong truyện
Ma Văn Kháng như: kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ Tác giả chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng như: lối kết cấu mở, nghệ thuật đặc tả nhân vật,
sự phối hợp lời kể, lời tả, lời thuyết minh luận bàn
Đặc biệt là công trình nghiên cứu của TS Đào Thủy Nguyên Đặc điểm truyện
ngắn của Ma Văn Kháng về đề tài dân tộc và miền núi, tác giả đã đi sâu nghiên cứu
và khẳng định một cách đầy thuyết phục những vấn đề nhân sinh, thế sự, những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn viết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma Văn Kháng
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về truyện ngắn Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy vấn đề ngôn ngữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng ít nhiều
đã được đề cập đến tuy nhiên còn rất hạn chế Và chưa có một công trình nào chọn định ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng làm đối tượng nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Định ngữ nghệ thuật trong các câu văn của Ma Văn Kháng Phạm vi nghiên cứu: Hai mươi truyện ngắn được giới phê bình văn học đánh giá cao,
cụ thể như sau:
1 Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường 11 Trái chín mùa thu
2 Ông lão gác vườn và con chó Phúm 12 Người giúp việc
3 Tóc Huyền màu bạc trắng 13 San Cha Chải
4 Những người đàn bà 14 Ngày đẹp trời
Trang 68 Trăng soi sân nhỏ 18 Nợ đời
10 Vệ sĩ của quan Châu 20 Tình biển
Bảng 1: Các tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định như trên, nhiệm vụ chủ yếu chúng tôi xác định trong luận văn này trước hết là khảo sát, thống kê và phân loại định ngữ nghệ thuật được nhà văn sử dụng trong hai mươi truyện ngắn đã được lựa chọn Sau đó, chỉ ra vai trò và tác dụng của các định ngữ nghệ thuật trong việc khẳng định tài năng và sự độc đáo của ngôn ngữ truyện ngắn Ma Văn Kháng
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chính:
* Phương pháp khảo sát
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát cách sử dụng định ngữ nghệ thuật của tác giả Những cấp độ mà tác giả đề tài thực hiện khảo sát là: khảo sát từng câu văn trong tác phẩm và khảo sát toàn bộ 20 truyện ngắn của nhà văn Ma Văn Kháng đã được lựa chọn ở trên
* Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp thống kê dựa trên những khảo sát cụ thể giúp cho người nghiên cứu tổng hợp được những số liệu minh chứng cho các nhận định, đánh giá Với số lượng 20 truyện ngắn, phương pháp thống kê giúp người nghiên cứu thu thập số liệu
có hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu
* Phương pháp phân tích
Đây là phương pháp cơ bản nhất làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá bất kì lĩnh vực nào của văn học trong khi nghiên cứu Do mục đích của đề tài nên mức độ phân tích toàn diện các tác phẩm có sự sâu cạn khác nhau Tuy vậy, người nghiên cứu luôn trung thành với nguyên tắc: nhà văn là chủ thể của hệ thống các tác phẩm Toàn
Trang 7bộ các sáng tác của họ là một chỉnh thể thống nhất về thói quen tổ chức ngôn từ, nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt những chặng đường sáng tác
Ngoài ra các thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp như đã nêu trên, thao tác giải thích được vận dụng trong toàn văn bản
Trang 8NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1.1 Quan niệm về định ngữ nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm định ngữ
Định ngữ là một bộ phận nằm trong đơn vị cấu trúc câu thuộc hệ thống ngôn ngữ Trải qua quá trình hình thành và phát triển, các bình diện của hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu Định ngữ với chức năng của mình cũng không nằm ngoài các công trình nghiên cứu đó Vì vậy, nhìn chung những quan niệm về định ngữ của các nhà ngôn ngữ học cũng đã thống nhất
1.1.1.1 Định ngữ dưới góc nhìn của các nhà từ điển
Nói về định ngữ, trong giới ngôn ngữ học hiện vẫn còn tồn tại hai quan niệm Quan niệm thứ nhất cho rằng định ngữ là thành phần phụ của câu Quan niệm thứ hai cho rằng định ngữ là thành phần phụ của danh ngữ
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) xác định: “Định ngữ là thành phần
phụ trong câu phụ thuộc về ngữ pháp vào danh từ và có chức năng nêu thuộc tính, đặc trưng của sự vật hiện tượng” [21]
Ví dụ: “to” trong “gió to”
“lùn” trong “người lùn”
“của tôi” trong “sách của tôi”
Ngược lại, trong cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo), Diệp Quang
Ban quan niệm: “Định ngữ (determiner) trong ngữ pháp chỉ một từ, một ngữ, có khi
cả một mệnh đề, gọi chung là một yếu tố, hoạt động (hành chức) bên trong một cụm danh từ và làm nhiệm vụ định tính (qualify) hoặc hạn định (determine) nghĩa nói
Trang 9chung (chưa xét các phương diện khác như cấu tạo từ, từ loại) của danh từ đầu tố trong danh ngữ đó [3,tr.203]
Ví dụ: hiện tượng này
cây trong công viên bài thơ của Tỵ
lá những cây này việc tôi không bao giờ quên được
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý chủ biên đã nhắc
lại ý kiến của Nguyễn Văn Tu như sau: “Định ngữ là thành phần phụ của cụm danh từ trong câu, có chức năng bổ sung thêm cho thành phần chính bằng quan hệ phụ thuộc, chỉ ra các thuộc tính, tính chất của người, vật, sự vật hiện tượng do danh từ làm thành phần chính gọi tên” [31, tr.89-90]
Qua việc khảo sát ban đầu ở một số sách từ điển, chúng tôi nhận thấy rằng đa số các nhà ngôn ngữ học hiện nay đều thống nhất quan niệm định ngữ là thành phần phụ
bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm của cụm danh từ bằng mối quan hệ phụ thuộc Tuy nhiên, muốn nhìn nhận một cách chính xác về chức năng , cấu tạo và vai trò chúng ta còn phải căn cứ vào quan niệm định ngữ của các nhà ngữ pháp
1.1.1.2 Định ngữ dưới góc nhìn của các nhà ngữ pháp
a Về khái niệm định ngữ:
Về mặt ngữ pháp cũng tồn tại hai cách hiểu phổ biến về định ngữ như trên Đại diện cho cách hiểu thứ nhất là Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp Trong luận án Chủ ngữ trong tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết đã xếp định ngữ câu vào hệ thống các thành phần phụ của câu tiếng Việt Tác giả xác định: “Định ngữ câu là thành tố có quan hệ với cả câu nói chung, như các thành phần phụ khác nhưng không có những đặc trưng hình thức của chúng” (trích theo [29])
Ví dụ: Đột nhiên một hôm thứ sáu nghe nói San đi Hà Nội
Tác giả cũng cho rằng: “Cần phân biệt định ngữ câu với định ngữ của vị ngữ được đưa lên phía trước Định ngữ của vị ngữ khi đưa về cạnh vị ngữ, bao giờ cũng
Trang 10nằm trong nhóm vị ngữ, trong khi đối với định ngữ câu thì điều đó là không thể có hoặc không nhất thiết” (trích theo [29])
Cuối cùng, trong chuyên luận: Thành phần câu Tiếng Việt, hai tác giả này cho
rằng: “Theo quá trình phân xuất và nhận diện câu của mình, chúng tôi xác định sự tồn tại của một thành phần mà chúng tôi gọi là định ngữ câu, xem nó là thành phần phụ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu.” [29, tr.305]
Ví dụ: Bỗng đùng một cái, tôi nghe tin anh chết
(Nam Cao)
Đằng thằng ra, người khác chỉ học có ba năm
(Nguyễn Công Hoan)
Vậy thì hắn đích thực là một con người hay lật lọng
(Nam Cao) Thành phần được gọi là định ngữ câu theo quan niệm của Nguyễn Minh Thuyết
và Nguyễn Văn Hiệp không giống với cách hiểu định ngữ ở một vài tác giả trong giới nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt
Nguyễn Chí Hòa lại đưa ra một quan điểm khác
Từ các ví dụ: - Bỗng nhiên, Tấm thấy sáng ngời trước mắt…
- Đáng nhẽ ông có thể nói được ông ước mong sống trong một
chiếc nhà tranh nhỏ xinh
- Một hôm, có hai người đàn bà nghèo khó đến lâu đài ăn xin
tác giả kết luận: những từ in đậm trên là định ngữ Định ngữ là thành phần phụ của câu Định ngữ được nhận diện thông qua từ mà nó hạn định Những từ này có thể làm thành phần chính (Chủ ngữ, Vị ngữ), cũng có thể làm thành phần thứ (Bổ ngữ)
Có loại định ngữ cho cả câu Quan hệ giữa định ngữ và cái được định ngữ là quan hệ hạn định
Nhưng bên cạnh đó, tác giả cũng công nhận, định ngữ là thành phần phụ của cụm danh từ trong những trường hợp cụ thể
Trang 11Ví dụ: Hai người đàn bà nghèo khó
Trong ví dụ trên, định ngữ là thành phần phụ của danh từ Tác giả quan niệm, định ngữ cho danh từ thường được xét như một yếu tố thuộc nội bộ của của cụm danh
từ và thường được gọi là định tố Khi định tố thuộc nhóm danh từ hoặc vị từ làm thành phần chính của câu thì định tố được coi là định ngữ [14, tr 248]
Những quan niệm xem định ngữ là thành phần phụ của câu thực chất là ứng dụng rập khuôn ngữ pháp nhà trường của các ngôn ngữ châu Âu vào phân tích câu tiếng Việt Về sau, do chịu ảnh hưởng của lí thuyết từ tổ và thành phần của câu, các nhà nghiên cứu đã từ bỏ quan niệm này Hiện nay trong phần lớn các sách ngữ pháp tiếng Việt, định ngữ không được xem là thành phần câu mà chỉ là thành phần của từ tổ danh từ
Diệp Quang Ban khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt đã chủ trương: “Định ngữ là thành phần phụ đi kèm với danh từ và nêu lên những đặc trưng của vật do danh
từ biểu thị” [2, tr.179]
Ví dụ : Tất cả học sinh
Quần áo trẻ em
Tóc rễ tre
Nguyễn Kim Thản trong công trình Nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt cũng
đưa ra ý kiến: “Định ngữ nghệ thuật là thành phần phụ thuộc của thể từ chứ không phải là thành phần thứ yếu của câu Định ngữ có tác dụng hạn định phạm vi khái quát của thể từ và là thành phần của từ tổ.” [24, tr.123]
Ví dụ: con mèo
Tiếng gầm của chúa sơn lâm
Tiếp theo đó, tác giả còn khẳng định: “Trong lời nói, ta thường chỉ ra những đặc trưng hoặc chỉ ra vị trí, số lượng… của sự vật bằng cách thêm thành phần phụ vào Ta gọi thành phần phụ vào thể từ là định ngữ” [25, tr.43]
Đinh Văn Đức trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại cũng cho rằng:
“Định ngữ theo cách định nghĩa truyền thống là một loại thành phần phụ bổ nghĩa cho danh từ Danh ngữ là cái cấu trúc thể hiện khả năng này.” [8, tr.90] Bên cạnh đó tác giả xác định vị trí của định ngữ đứng ngay sau danh từ trung tâm trong cụm danh từ, tương ứng với vị trí 1 trong thành phần phụ sau của cụm danh từ
Ví dụ : Con mèo đen
Trang 12Dân miền biển
b Về cấu tạo của định ngữ
Định ngữ là thành phần phụ của cụm danh từ, cụm danh từ được biểu hiện bằng
Vị trí -1
Từ cái chỉ xuất
Trung tâm
Danh từ
Vị trí 1
Yếu tố hạn định
Vị trí 2
Yếu tố chỉ định
Danh 1 Danh 2
mèo kitty này
Bảng 2: Mô hình cấu tạo cụm danh từ Với mô hình như trên, định ngữ được xác định ở vị trí 1
Về cấu tạo của định ngữ, các nhà ngôn ngữ học đầu ngành như Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Đinh Văn Đức, Nguyễn Kim Thản, Đỗ Thị Kim Liên… đều thống nhất về cấu tạo của định ngữ trong cụm danh từ như sau:
Định ngữ là từ: Trong cụm danh từ, các thành tố phụ đặt sau các yếu tố chính
có thể do những từ thuộc các từ loại khác nhau đảm nhiệm như danh từ, động từ, tính
từ, đại từ, số từ
Tấm thảm vàng (tính từ)
Tiếng ai tha thiết bên cồn (đại từ)
Đứa con thứ mười một này (số từ)
Định ngữ là các ngữ đoạn/ đoản ngữ: các thực từ (danh từ, động từ, tính từ,
số từ) đứng ngay sau danh từ trung tâm trong cụm danh từ có khả năng phát triển
Trang 13thêm các thành tố phụ về mặt tổ chức và trở thành đoản ngữ (cụm từ nhỏ) ở ngay vị trí này Đây là trường hợp khá phong phú về số lượng và đa dạng về kiểu loại
Ví dụ: Cái nhà: danh từ
-> Cái nhà gạch -> Cái nhà gạch hai tầng -> Cái nhà gạch hai tầng của ba tôi -> Cái nhà gạch hai tầng của ba tôi xây từ năm 1960
Việc hình thành các đoản ngữ cũng sẽ dẫn tới hình thành các cấu trúc hai trung tâm (mệnh đề) ở vị trí này
Ví dụ: - Căn nhà bạn vừa nhìn thấy (là nhà mới của tôi)
- Người đàn ông các bạn gặp hôm qua (là chồng trước của tôi)
Nguyễn Kim Thản cũng cho rằng: “Tất cả các loại thực từ đều có thể làm định ngữ cho danh từ… Định ngữ của danh từ không những có thể là một thực từ mà có thể là một giới ngữ hay một từ tổ thực từ Từ tổ này có thể là từ tổ tự do hay cố định.” [24, tr.123]
c Về vấn đề phân loại định ngữ
Hiện nay, trong giới ngôn ngữ có nhiều cách phân loại định ngữ
Nguyễn Chí Hòa phân loại định ngữ cho danh từ như sau:
Tác giả quan niệm định ngữ cho danh từ về thực chất là loại định ngữ cho nhóm danh từ làm chức năng chủ ngữ, bổ ngữ trong câu Loại định ngữ này đa dạng về ý nghĩa và phong phú về các phương tiện biểu hiện Dựa vào mối liên hệ với danh từ trung tâm có thể chia định ngữ thành ba trường hợp:
- Định ngữ có thể có giới từ hoặc không:
Ví dụ: Con gái (của) mụ đứng sẵn đó
Trang 14Ngoài ra, theo quan niệm của mình tác giả còn phân loại định ngữ cho vị từ (cụm động từ, tính từ) và định ngữ cho cả câu nhưng chúng tôi không xét những trường hợp
+ Từ chỉ tổng lượng như: tất cả, hết thảy, hết cả, cả (trong nghĩa “toàn bộ các vật rời được nói đến” và trong nghĩa “toàn bộ một đơn vị rời”…)
+ Từ chỉ số nhiều không xác định: những, các, mấy, mọi (những, các còn được gọi là quán từ)
+ Từ chỉ lượng xác định và phỏng định như: mỗi, từng, một, hai, ba… một vài, dăm ba, mươi, mươi lăm, vài ba trăm…
Cấu tạo của định ngữ chỉ lượng thường không quá phức tạp, thường là những từ rời hoặc những cụm từ bình đẳng, cụm từ chính phụ không có quá nhiều thành tố
vị Về từ loại, định ngữ miêu tả có thể là danh từ, là vị từ, là chỉ định từ
Nội dung mối quan hệ giữa danh từ - thành tố chính với định ngữ miêu tả rất đa dạng và nhiều trường hợp rất tinh tế
Trang 15Giữa định ngữ với danh từ - thành tố chính có kiểu quan hệ trực tiếp (không dùng kết từ) và cũng có kiểu quan hệ gián tiếp (với hai biến thể: có mặt kết từ và vắng mặt kết từ)
Dân (ở) miền biển
Mặt (như) quan công, tính (như, quá)
đàn bà
Tay búp măng, tóc rễ tre
Vườn xoài (SS: vườn trồng xoài)
Gà công nghiệp (SS: gà nuôi theo
phương pháp công nghiệp)
Cơm tám (SS: cơm nấu bằng gạo tám
thơm)
Rượu mật ong (SS: rượu pha mật ong)
Rượu thuốc (SS: rượu ngâm thuốc, pha
(Chơi bài) tay ba (Đi) hàng ba Người thứ hai (Đi tìm) phòng bốn Chiếc áo kia
Cái quạt này Hàng của chúng tôi làm ra Hàng do chúng tôi làm ra
Trang 16Xét về mối quan hệ giữa định ngữ với danh từ trung tâm, chúng ta phải căn cứ vào thành phần định ngữ thuộc từ loại, cụm từ loại như thế nào thì sự liên hệ với danh
từ trung tâm cũng khác nhau tương tự như vậy
Theo Nguyễn Tài Cẩn, trong tiếng Việt, có thể dùng những từ loại sau đây để làm định ngữ:
Danh từ: vườn cau, vườn (của) cha tôi
Tính từ: ghế dài, một cái ghế rất tốt,…
Động từ: bàn học, cái bàn kê trong góc,…
Từ chỉ trỏ: sáng nay, người ấy,…
Từ chỉ vị trí: nhà trong, cổng trước,…
Từ chỉ con số: giường một, ngày 27,…
(1) Danh từ làm định ngữ là để góp thêm một chi tiết bổ sung cho danh từ ở phần trung tâm Nếu đi vào cụ thể thì những chi tiết bổ sung đó có thể phân ra nhiều kiểu loại khác nhau
So sánh: vườn cau, gà mẹ, nước đường, kính mắt, tóc mây, đêm trăng, kỉ luật sắt, cá biển, giường tre, chính sách kinh tế, công nhân nhà máy… Nhưng nếu khái
quát lại, thì có thể nói rằng thêm một danh từ vào phần cuối của danh ngữ là để:
Hoặc nêu tên một sự vật làm đặc trưng cho sự vật nêu ở trung tâm;
Hoặc nêu lên một sự vật có quan hệ với sự vật nêu ở trung tâm Quan hệ này có thể là:
- Quan hệ về mặt sở hữu Ví dụ: nhà (của) cha tôi, sinh viên (của) trường này, …
- Quan hệ về mặt chất liệu Ví dụ: sân (bằng) gạch, một bài thơ (bằng) chữ hán, …
- Quan hệ về mặt hướng nội dung, đề mục.Ví dụ: đường lối (về) quân sự, quan điểm (về) triết học…
- Quan hệ về mặt địa điểm vị trí Ví dụ: nhân dân (ở) nội thành, tình hình (ở) mặt trận…
Trang 17- Quan hệ về so sánh Ví dụ: mặt (như) trái xoan, lông mày (như) lá liễu…
Khi danh từ làm định ngữ nêu lên nội dung đặc trưng của sự vật trình bày ở trung tâm thì nó ghép liền với phần trung tâm, không thể chen một quan hệ từ nào vào
giữa Ví dụ: đêm sương, ruộng lúa, nước đường Trái lại khi danh từ làm định ngữ
nêu lên một sự vật có quan hệ với sự vật ở trung tâm thì có thể có hai cách ghép :
- Ghép mà có chen một trong mấy quan hệ từ: của, bằng, về, ở, như, vào ở giữa
- Ghép mà lâm thời bỏ vắng các quan hệ từ đó
So sánh: nhà của cha tôi, giường bằng tre
Nhà… cha tôi, giường … tre
(2) Khi dùng một động từ làm định ngữ, mối quan hệ ý nghĩa giữa trung tâm và định ngữ cũng có nhiều kiểu loại rất phức tạp Nhưng khái quát lại, thì cũng có thể quy thành vài kiểu chính:
Kiểu định ngữ nêu hành động, trạng thái, tâm tình của chủ thể Ví dụ: quả
cam rụng, người học sinh đến sáng hôm qua
Kiểu định ngữ nêu một hành động mà không phải do sự vật ở trung tâm làm
ra Ví dụ: chiếc đồng hồ treo trên vách, ngày bước ra đi, cái địa điểm họp hôm chủ nhật
Kiểu định ngữ nêu hành động giải thích thêm cái nội dung của điều nêu ở
trung tâm Ví dụ : chính sách xâm lược, phương châm hành động, nguyên tắc phân loại…
(3) Ở phần cuối của danh ngữ cũng có trường hợp tính từ được dùng làm định ngữ
Về mặt khả năng kết hợp, hầu như tình từ nào cũng có khả năng làm định ngữ cho danh từ Làm định ngữ cho danh từ là một trong những chức năng chính của tính từ Tuy nhiên khả năng đó không hoàn toàn đồng đều nhau ở giữa các nhóm tính
từ
- Tính từ miêu tả có khả năng dùng ở cương vị định ngữ của danh ngữ ngang với khả năng làm vị ngữ, trạng ngữ
Trang 18- Tính từ số lượng trái lại thường chỉ dùng để làm vị ngữ ở trong mệnh đề hoặc làm thành tố phụ ở trong động ngữ Chúng chỉ có thể làm định ngữ ở sau một số danh
từ chỉ đơn vị nhất định, ví dụ : nửa nhiều, nửa ít, mớ nhiều, mớ ít
Về mặt ý nghĩa tính từ làm định ngữ ở phần cuối danh ngữ bao giờ cũng dùng để nêu đặc điểm
(4) Danh từ, động từ, tính từ khi ở cương vị làm định ngữ nói chung đều có khả năng kèm thêm thành tố phụ riêng của mình, để phát triển thành đoản ngữ
So sánh :
+ tên sách tên cuốn sách này
+ quả cam rụng quả cam mới rụng sáng nay
+ một cuốn sách hay một cuốn sách rất hay
(5) Những từ chỉ vị trí, phương hướng như: trước, sau, trong, ngoài, trên, dưới; đông, tây, nam, bắc cũng có khả năng làm định ngữ
Chúng thường hay làm định ngữ cho những danh từ như: phía, đằng, bên, phương, hướng… tạo thành những đoản ngữ có nhiều nét giống như từ ghép Ví dụ :
phía trong, đằng trước, bên ngoài, hướng nam, phương bắc…
Cũng có khi chúng làm định ngữ cho những danh từ khác như: nhà trong, cấp trên, sân trước, gió nam, thuốc bắc, thuốc tây… Nhưng nói chung khả năng thứ
hai này có tần số không cao lắm nhất là đối với trường hợp những từ như: đông, tây, nam, bắc
(6) Trong tiếng Việt, số từ có thể đứng ở đầu danh ngữ, mà cũng có thể đứng ở cuối danh ngữ Khi làm định ngữ ở phần cuối danh ngữ, số từ nêu cho chúng ta biết:
Hoặc cái số lượng (sự vật) có liên quan đến sự vật đã nêu ở danh từ trung
tâm, ví dụ: giường một, mâm sáu, bộ ba…
Hoặc cái thứ tự của sự vật nêu ở trung tâm, ví dụ: phòng 16, tầng 3, lớp 2, khu 4, năm 1960 Thứ tự nêu ở định ngữ có thể là một cái thứ tự do chúng ta lâm thời
xác định ra trong khi nói, mà cũng có thể là một cái thứ tự đã được quy định sẵn từ trước, có giá trị gần như cái tên riêng của sự vật
Trang 19Trường hợp đầu thường có thêm yếu tố thứ; trường hợp sau thì thường không dùng thứ (trừ trường hợp tên gọi sáu ngày trong tuần: ngày thứ hai, ngày thứ ba…)
So sánh: phòng thứ 16; tháng thứ 3
Phòng 16; tháng 3
Riêng trong trường hợp dùng định ngữ cuối để chỉ thứ tự mười ngày đầu tháng thì ở trong tiếng Việt còn có khả năng thêm một yếu tố đặc biệt – yếu tố mồng Ví dụ:
ngày mồng một, ngày mồng hai…
(7) Như đã nói, ngoài khả năng dùng từ, ở tiếng Việt còn có khả năng dùng cả một mệnh đề làm định ngữ Khi dùng mệnh đề làm định ngữ chúng ta thấy:
Về mặt cấu tạo, cũng có những nét giống như khi dùng danh từ làm định tố Nghĩa là:
- Cũng có trường hợp mệnh đề - định ngữ ghép liền với trung tâm, không thể chen quan hệ từ vào giữa chúng được
Ví dụ: Một người nông dân đầu đội nón, vai mang tơi lá
- Cũng có trường hợp mệnh đề - định ngữ có hai khả năng ghép với trung tâm: ghép có quan hệ từ và ghép không có quan hệ từ
Ví dụ: Người học sinh (mà) chúng ta gặp hôm qua
Phái đoàn (do) đồng chí X dẫn đâu
Bức thư (của) tôi viết
Nhưng đứng về mặt quan hệ ý nghĩa với danh từ trung tâm thì mệnh đề làm định ngữ lại có những nét tương đồng với trường hợp động từ làm định ngữ Ở đây cũng có thể chia làm ba kiểu:
- Kiểu mệnh đề nói lên một sự việc của chủ thể nêu ở trung tâm:
Ví dụ: cái bác thợ mộc đang vác cưa, cầm đục
- Kiểu mệnh đề nêu lên một sự việc không phải do sự vật nói ở trung tâm
làm Ví dụ: ngày ra đi
bức thư viết hôm nọ
- Kiểu mệnh đề nêu lên một sự việc dùng để giải thích thêm cái nội dung của
điều nói ở trung tâm
Trang 20Ví dụ: Việc xung phong đi bộ đội (Xem [6, tr.237-243)
(8) Nói chung, để xác định được quy tắc kết hợp hay mối quan hệ của thành phần định ngữ với danh từ trung tâm rất phức tạp bởi nhiều nguyên nhân Một vài nguyên nhân có thể kể đến như: số lượng từ sử dụng làm định ngữ phong phú, tính đa dạng của các loại định ngữ và mỗi loại định ngữ đều có thể có một cách kết hợp với danh từ trung tâm khác nhau Chính vì vậy, để xác định được thành phần định ngữ trong văn bản, trước hết chúng ta cần phải xác định được đâu là danh ngữ, sau đó, căn
cứ vào mô hình cấu tạo để xác định thành phần định ngữ Đây là cách đảm bảo được
độ chính xác cao nhất
1.1.2 Khái niệm định ngữ nghệ thuật
Khi nghiên cứu định ngữ, hầu hết các nhà Việt ngữ học đều thống nhất về vị trí
và cấu tạo của nó Tuy nhiên, khi khảo sát định ngữ trong hành chức, đặc biệt là trong tác phẩm nghệ thuật thì chức năng, vai trò, giá trị của định ngữ về nghệ thuật lại không giản đơn bị bó hẹp trong khung khái niệm vừa nêu Cũng như các phương tiện ngôn ngữ khác, khi được nhà văn, nhà thơ lựa chọn làm chất liệu để sáng tạo và gửi gắm vào đó dụng ý nghệ thuật của mình thì về mặt giá trị thông báo, định ngữ không còn là “một thành phần phụ” có chức năng “bổ sung ý nghĩa” cho danh từ trung tâm, như nhìn nhận của nhà ngữ pháp về định ngữ trong cấu trúc tĩnh của ngữ danh từ mà
là yếu tố tạo nên giá trị thẩm mĩ cho ngôn từ nghệ thuật, thể hiện quan niệm thẩm mĩ
và phong cách nghệ thuật của người cầm bút Và do đó, trong ngôn ngữ tác phẩm nghệ thuật, định ngữ mang đặc trưng riêng, như tên gọi của nó là “định ngữ nghệ thuật”
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thống nhất cho rằng: “Định ngữ nghệ thuật ( tiếng Pháp épithète, artistique) còn gọi là hình dung ngữ hay tính ngữ nghệ thuật Là phương thức chuyển nghĩa, trong đó, một từ (hoặc một cụm từ) đóng vai trò phụ nghĩa cho một từ (hay một cụm từ) khác làm nổi bật một đặc điểm nào đó của đối tượng để tạo ra ấn tượng thẩm mĩ” [11, tr.119 - 120]
Ví dụ : Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
(Vội vàng – Xuân Diệu)
Trang 21Phương Lựu cũng quan niệm “Định ngữ nghệ thuật còn gọi là hình dung ngữ, một biện pháp tu từ khá thông dụng, khác với định ngữ thông thường qua đó sự vật hiện tượng được hình dung với thuộc tính khách quan của nó Định ngữ nghệ thuật mang tính chất chuyển nghĩa thể hiện sự đánh giá thẩm mĩ của tác giả có giá trị gợi ảnh hoặc biểu cảm độc đáo (trích theo [29, tr.214])
Ví dụ : những con cua xanh biếc
biển thẳm xanh lấp lánh những ngôi sao sáng quắc tiếng ve loang loáng doi cát bỏng mặt trời…
Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Định ngữ nghệ thuật là Thuật ngữ Tu từ học, còn gọi là định ngữ tu từ hoặc hình dung ngữ Định ngữ nghệ thuật là phương thức tu từ
có chức năng định ngữ nhưng giàu màu sắc biểu cảm tu từ” [15, tr.80]
Ví dụ :
- Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng
(Nguyễn Du)
- Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh
Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy
(Tố Hữu) Ông cũng cho rằng phần lớn định ngữ nghệ thuật là những ẩn dụ (ẩn dụ bổ sung
và ẩn dụ tượng trưng) Do vậy định ngữ nghệ thuật thường được xếp vào ẩn dụ
Ví dụ:
- Này lắng nghe em khúc nhạc thơm…
- Hãy tự buông cho khúc nhạc hường…
(Xuân Diệu)
Sự khác biệt cơ bản của định ngữ nghệ thuật với định ngữ miêu tả là ở các điểm sau:
Khác với định ngữ thông thường chỉ có ý nghĩa xác định đặc điểm vốn có mang
tính khu biệt của sự vật, đối tượng, không đem lại hiệu quả thẩm mĩ (ví dụ: tóc dài,
Trang 22sông rộng…), định ngữ nghệ thuật “mang lại một ý nghĩa mới cho sự vật, hiện tượng,
không chỉ mang ý nghĩa vốn có mà còn ý nghĩa có thể có, tạo cảm xúc cho người đọc, người nghe” [11, tr.120]
Ví dụ: Trong và thật: sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa
(Huy Cận) Nếu tách rời định ngữ nghệ thuật ra khỏi danh từ trung tâm thì bản thân nó không có được ý nghĩa mới và tính biểu cảm Như vậy, chỉ trong sự kết hợp này định ngữ nghệ thuật mới tạo ra được sự chuyển nghĩa độc đáo đồng thời cho người đọc có được mối liên tưởng bất ngờ
Trong ngôn ngữ văn học, định ngữ nghệ thuật được sử dụng khá nhiều Định ngữ nghệ thuật được xem là kết quả cho sự phát hiện của nhà văn Chính vì vậy, trong các tác phẩm văn thơ, định ngữ nghệ thuật xuất hiện khá nhiều làm nên hình tượng nghệ thuật cũng như cảm xúc thơ
1.2 Ma Văn Kháng và truyện ngắn của ông
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936 tại một làng quê nghèo ô Đồng Lâm, ngoại thành Hà Nội
Năm 1954, hòa bình lặp lại, theo tiếng gọi của Đảng, Ma Văn Kháng lên Tây Bắc dạy học, làm thư ký cho bí thư tỉnh ủy Lào Cai, làm phóng viên, viết báo… Trước khi trở thành nhà văn, Ma Văn Kháng đã gắn bó, thâm nhập đến tận cùng vào
“cuộc sống tuy vẫn còn lạc hậu nhưng rất đỗi chân tình của đồng bào các dân tộc thiểu số, những mảnh đời gieo neo của người dân miền xuôi tha phương cầu thực và lập nghiệp ở đây, những trai gái hăm hở lên khai hoang, xây dựng quê hương mới, những điều mới mẻ từ quan hệ thầy trò ấm áp tình xuôi ngược” [26] Ma Văn Kháng
đã thực sự bị cuốn hút từ chính cuộc sống lam lũ và tình người nơi đây Ông viết báo, viết văn như một sự thôi thúc từ trái tim dạt dào cảm xúc
Truyện ngắn trước 1975 của Ma Văn Kháng thường tập trung vào đề tài về đồng bào dân tộc ở những giai đoạn lịch sử khác nhau: chế độ xã hội cũ, hiện thực cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Trang 23Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật, Ma Văn Kháng đặt ra bao vấn đề: vấn đề con người miền núi ra sao,vấn đề cuộc sống của họ như thế nào trước hiện thực lớn lao của dân tộc Điều quan trọng là lúc nào nhà văn cũng tin tưởng con người miền núi đầy phẩm chất tốt đẹp, và họ đang tự khẳng định những giá trị của mình
Có thể nói truyện ngắn trước 1975 của Ma Văn Kháng là những bức tranh sinh động đầy màu sắc về cuộc sống của đồng bào các dân tộc Ma Văn Kháng đã hòa nhập, thấu hiểu cuộc sống vùng Tây Bắc Vì vậy trong sáng tác của ông, hình ảnh người dân miền núi hiện lên thật đẹp Người đọc bắt gặp ở họ tình yêu quê hương xứ
sở, sự trung thực, thật thà, say mê, yêu đời và nhiệt tình cách mạng
Cảm hứng bao trùm trong truyện ngắn Ma Văn Kháng trước 1975 là sự khẳng định, ngợi ca những nhân tố mới, con người mới, cuộc sống mới trên quê hương đồng bào dân tộc ít người Dù nghệ thuật thể hiện có khác nhau song nhà văn vẫn bộc lộ cách nhìn của mình qua chủ đề tư tưởng tác phẩm
Nằm trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trước 1975, nhà văn thường
đề cao con người cộng đồng, coi nhẹ con người cá nhân Ma Văn Kháng đã đứng trên quan điểm chung của cộng đồng dân tộc mà miêu tả, kể chuyện Trong những tháng ngày cả dân tộc cùng hướng về một phía, tất cả vì tiền tuyến, mọi người đều dồn hết tâm lực để phục vụ lợi ích cao nhất của cộng đồng thì những sáng tác trước 1975 của
Ma Văn Kháng đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh lịch sử của mình
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng rời Lào Cai - mảnh đất được xem như là quê hương thứ hai của mình để trở về Hà Nội hoạt động với tư cách nhà văn chuyên nghiệp Một giai đoạn mới mở ra với nhà văn: sáng tác của ông nở rộ, bút lực ngày càng tỏ ra sung sức, đề tài được mở rộng, nhiều chủ đề được khai thác sâu và tinh tế Cảm hứng sử thi vốn bao trùm trong các sáng tác giai đoạn trước giờ đã dần nhường chỗ cho cảm hứng thế sự đời tư
Truyện ngắn Ma Văn Kháng thực sự đổi mới trên nhiều bình diện: bình diện nội dung và bình diện nghệ thuật Cách nhìn cuộc sống, con người giờ đây có sự sâu sắc chín muồi, đầy sự chiêm nghiệm đúc kết của một nhà văn từng trải, sống hết mình với
Trang 24cuộc đời Với Ma Văn Kháng, cuộc sống giờ đây thật sự đa dạng phong phú, bề bộn
và phức tạp
Sự đổi mới đầu tiên chính là đổi mới đề tài Truyện ngắn tập trung vào hai mảng
đề tài chính: đề tài miền núi và thành thị Trước đây, Ma Văn Kháng viết về đề tài miền núi để phản ánh cuộc sống lao động, chiến đấu của đồng bào dân tộc Giờ đây, ông khai thác đề tài miền núi trên một bình diện mới Nhà văn phản ánh, đề cập những vấn đề về cuộc đời và số phận của con người
Ở mảng đề tài thành thị, Ma Văn Kháng hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề nóng hổi: vấn đề đời tư, thế sự, nhân sinh… Nhà văn trăn trở nhiều cho số phận con người, cho sự tác động chi phối khủng khiếp của hoàn cảnh với con người Ông chú ý đến cuộc đụng độ quyết liệt giữa con người với con người, con người với môi trường - hoàn cảnh sống, con người trong quan hệ với chính mình để giữ vững nhân cách và hoàn thiện nhân cách
Tác giả không hề né tránh những khía cạnh phức tạp trong đời sống tâm hồn con người Ngòi bút miêu tả của nhà văn đã lách sâu vào thế giới tâm linh thầm kín, bí ẩn của con người Hiện thực cuộc sống của nhân dân được hiện lên với tất cả những mâu thuẫn xung đột phức tạp, có ánh sáng và bóng tối Tuy nhiên mỗi khi nói đến sự xấu
xa, bạc nhược, kém cỏi của con người, ta lại nhận thấy giọng văn của tác giả có gì như chạnh lòng tê tái Ẩn chứa đằng sau hiện thực tăm tối được phản ánh trong tác phẩm là nỗi đau nhân tình âm thầm, lặng lẽ mà sâu sắc của nhà văn
Có thể nói truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975 là bức tranh chân thực đậm nét
về đời tư thế sự, phức tạp mà đa đoan không thuần nhất của con người trong xã hội thời kỳ đổi mới Nhà văn đã không né tránh các vấn đề bức xúc của đời sống xã hội hôm nay nhìn dưới góc độ đạo đức, nhân sinh Với nhãn quan tinh tế, thái độ bao dung và tấm lòng nhân ái, ông chăm chú đến những cảnh sinh hoạt đời thường, những quan hệ, những cách ứng xử của con người Ông cho ta thấy xung đột quyết liệt giữa hai khuynh hướng, hai lối sống: khuynh hướng sống cho tốt hơn và khuynh hướng sống cho sướng hơn Ông ý thức về sự trải nghiệm của chính mình, muốn lên tiếng giãi bày, đối thoại với bạn đọc mọi vấn đề trong đời sống
Trang 25CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG CÂU VĂN MA VĂN KHÁNG QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn đều lựa chọn mình một cách sử dụng ngôn ngữ để xây dựng nên tác phẩm Vì vậy mỗi nhà văn thường có một phong cách ngôn ngữ riêng Chính ngôn ngữ là một trong những yếu tố đặc trưng thể hiện cá tính, phong cách, tài năng của nhà văn
Nhà văn Ma Văn Kháng từng tâm sự rằng ông sáng tác văn chương “như người Mèo trồng bắp trên núi cao” chậm chạp, khó khăn và gian khổ Có lúc ông cho rằng mình là một người sáng tác nghiệp dư “công việc sáng tác là một cơn ngẫu hứng văn học tự phát hoàn toàn” Nhưng chính từ những cơn ngẫu hứng tự phát ấy, cùng với phong cách viết văn cần mẫn trên từng con chữ, Ma Văn Kháng đã sáng tạo nên những tác phẩm với lớp ngôn ngữ mang giá trị nghệ thuật độc đáo
2.1 Tần số xuất hiện định ngữ nghệ thuật trong các câu văn Ma Văn Kháng
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát định ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Ma Văn Kháng quan 20 truyện ngắn được lựa chọn trong 4 tuyển tập truyện ngắn của ông
Qua đó chúng tôi thống kê được 1388 định ngữ nghệ thuật trong 20 tác phẩm
Từ số liệu cụ thể nói trên, chúng tôi ước tính trung bình trong một truyện ngắn có khoảng 69 lần tác giả sử dụng định ngữ nghệ thuật Đây là một con số rất lớn Nếu so
Trang 26sánh với các nhà văn khác chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt Điều đó chứng minh việc sử dụng định ngữ nghệ thuật một cách dày đặc trong tác phẩm đã tạo nên một phong cách riêng cho văn xuôi Ma Văn kháng
Định ngữ nghệ thuật trong 20 truyện ngắn đã được chúng tôi phân loại và phân tích trên hai phương diện: từ và cụm từ Trên mỗi phương diện, chúng tôi sẽ căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp để thống kê thành hệ thống một cách cụ thể và logic nhất có thể
Bảng 3: Phân loại định ngữ về mặt cấu tạo
2.2 Đặc điểm cấu tạo của định ngữ nghệ thuật trong câu văn Ma Văn Kháng 2.2.1 Định ngữ nghệ thuật là từ
Trong hai mươi truyện ngắn, có đến 1039 lần nhà văn sử dụng từ làm định ngữ nghệ thuật chiếm đến 75% trong tổng số lần nhà văn sử dụng định ngữ nghệ thuật Thông qua kết quả thu được, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích từ đóng vai trò làm định ngữ nghệ thuật trên hai phương diện: cấu tạo từ và từ loại
2.2.1.1 Phân loại về mặt cấu tạo từ
Ví dụ: Chó vàng chó bạc của tôi…tôi phải giữ
(Ông lão gác vườn và con chó Phúm)
Trang 27Ví dụ: Biết bao ê chề, đau đớn nàng đã phải trải qua trong thời ly loạn, lúc trời
thảm, đất sầu, khi mặt đất chỉ là máu và nước mắt
(Seo ly, kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Vứt! Ai uống cái thứ bia rởm này Bia lon Halida đâu?
(Trăng soi sân nhỏ)
Ví dụ: Còn liều lĩnh là bởi mới chỉ nghe nói mà tin đó là vùng đất lành, đất
vàng, đất bạc (Cây bồ kếp lá vàng)
Ví dụ: Kiếm được, nhưng thời gạo châu củi quế thế này, lại những năm miệng
Ví dụ: Vào mà xem cả một vạn thước vuông đất đỏ hồng xuê tơi sau mưa bạc
Từ ghép chính phụ chiếm phần lớn số lần sử dụng từ ghép làm định ngữ nghệ thuật Có đến 411 lần tác giả sử dụng từ ghép chính phụ làm định ngữ nghệ thuật, chiếm 76,5% trên tổng số lượt dùng từ ghép làm định ngữ
Ví dụ: Seoly – chứng nhân lạc quan của lịch sử bi hùng
(Seoly, kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Gió lướt thướt như xiêm áo những linh hồn trinh nữ trong vũ điệu yêu
Ví dụ: Đến mức, nghe cái khúc luyến láy bà cụ ngọt ngào dỗ dành đứa bé bốn
tuổi và ru rín đứa trẻ mới sinh của vợ chồng Hoằng…
(Người giúp việc)
Ví dụ: Đã mất đi rồi cái linh hồn tươi tắn, ngày tiếp ngày lúc này là những nỗi
niềm nặng nhọc nối theo nhau (Cây bồ kếp lá vàng)
Trang 28Ví dụ: Không có chuyện tính toán thiệt hơn trong điệu ru và tiếng võng nhẫn nại
bà cụ đưa kẽo kẹt, như chạm khắc vào một không gian buổi trưa hè im phắc, nóng oi
nao dậy trong lòng ta một hoài niệm về một tình thương vô bờ
(Người giúp việc)
c Định ngữ nghệ thuật là từ láy:
Trong hai mươi truyện ngắn được chọn lọc, có đến 206 lần nhà văn Ma Văn Kháng sử dụng từ láy làm định ngữ nghệ thuật, chiếm 20% trong tổng số lượt dùng từ làm định ngữ nghệ thuật
Trong đó, tất cả các lừ láy được sử dụng đều ở dạng láy đôi, không có láy ba láy
tư
Trong láy đôi, chúng tôi căn cứ về mặt hình thức phân ra hai loại là láy hoàn toàn và láy bộ phận
* Láy hoàn toàn
Trong hai mươi tác phẩm, có 43 lần tác giả sử dụng từ láy hoàn toàn làm định ngữ nghệ thuật chiếm tỉ lệ 20% trong tổng số lượt dùng từ láy làm định ngữ nghệ thuật
Ví dụ: Đáp lại giọng nói rầu rầu của người chị gái chồng…
(Heo may, gió lộng)
Ví dụ: Cứ kể có việc đều đều và chí thú làm ăn thì cũng có thể có được một cơ
* Láy bộ phận: chúng tôi chia thành hai loại nhỏ nữa là láy phụ âm đầu và láy phần vần:
Láy phụ âm đầu: có đến 138 lần tác giả sử dụng từ láy phụ âm đầu làm định ngữ nghệ thuật chiếm tỉ lệ lên đến 68% trong tổng số lượt dùng từ láy làm định ngữ nghệ thuật
Ví dụ: Tiết xuân còn lưu luyến trong hơi sương phơn phớt tím dâng lên từ mặt
Ví dụ: Mặt ngời lên một nét hào hứng ma quái, những ngón tay xương xẩu lập
Trang 29Ví dụ: Cặp mắt lớn, mượt như nhung, ánh xạ một tâm hồn sâu sắc, với những ý nghĩ đẹp đẽ bất ngờ và một niềm trắc ẩn khôn nguôi (Nợ đời)
Láy phần vần: có 25 lần tác giả sử dụng từ láy phần vần làm định ngữ nghệ thuật chiếm tỉ lệ 12% trong tổng số lượt dùng từ láy làm định ngữ nghệ thuật
Ví dụ: Ông thấy mình là một xác chết nằm trong đống tử thi hỗn độn
(Ngày đẹp trời)
Ví dụ: Chị nhớ xiết bao cái thị xã êm đềm, những căn nhà thân thiết, những
2.2.1.2 Phân loại về mặt từ loại
Mỗi từ cấu tạo nên định ngữ nghệ thuật đòi hỏi phải có ý nghĩa, tức phải là một thực từ Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong 1039 lần Ma Văn Kháng sử dụng định ngữ nghệ thuật có cấu tạo là từ ở 20 truyện ngắn thì tất cả đều là các thực
từ Thực từ được tác giả sử dụng là định ngữ nghệ thuật thuộc các loại sau: danh từ, động từ, tính từ, đại từ và số từ
sử dụng danh từ làm định ngữ ngệ thuật chiếm 21% trong hệ thống từ loại nói trên
Ví dụ: Một suối ngôn từ và những hàng nước mắt giàn dụa
(Ngày đẹp trời)
Ví dụ: …và khoảng trời cuối thu tràn trề làn sáng phản quang niềm vui mùa
Trang 30Ví dụ: Cơn giông mùa hạ đã được báo hiệu từ lúc chiều
(Ngày đẹp trời)
Ví dụ: Cái tài của con Phúm là cái tài bắt sói, bắt beo, để ở nhà nó phí đi
(Ông lão gác vườn và con chó Phúm)
Ví dụ: Thành ra thu hút cái nhìn của con mắt cửa sổ trổ trong tường xăm đá nhà
Tống phải nói chính là cái tòa nhà đối diện nó
(Seoly, kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Suy ra thì đối với cái đẹp, đối với người đẹp, một ông kỹ sư xuất thân chân đất, một gã tiểu tư sản thành thị và gã trí thức Mèo gốc là Tống khác nhau quá
lắm cũng không hơn sự khác nhau giữa chó giữ nhà và chó đi săn
(Seoly – Kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Hắn cắn cấu, đánh đấm, có lúc gào gầm như hổ báo động cỡn ngay trong
Ví dụ: Nàng là sản phẩm chín nục của yêu đương mê mệt, của đàn ông háo sắc,
và các cơn đắm dục chứa chan
(Seoly, kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Thụy tỉnh giấc, nhìn ra cánh cửa hé mở thấy trời đã sáng trắng, linh cảm
có điều gì khác lạ, liền chồm dậy (Trái chín mùa thu)
Trang 31Ví dụ: Người đàn bà đẹp, đa cảm này còn kín đáo gửi niềm mến yêu của mình
với ông Thại khi có dịp nữa kia (Tóc huyền màu bạc trắng)
Ví dụ: Một nguồn lực thiên nhiên đang rót xuống tràn trề trên vùng ngực núng
nính, kí ức một thời đắm dục của bà Tài…
Ví dụ: Trẻ mà kho từ ngữ chửi rủa dùng suốt đêm, sáng hôm sau vẫn còn tiếp
c Định ngữ nghệ thuật là tính từ:
Tính từ là một từ loại được tác giả sử dụng làm định ngữ nghệ thuật với tần số lớn nhất Có đến 614 lần nhà văn sử dụng định ngữ nghệ thuật thuộc từ loại tính từ Chiếm đến 60% trong tổng số các loại từ loại Điều đó cho thấy lớp từ loại tính từ có giá trị như thế nào đối với lối viết mang dụng ý nghệ thuật Thông qua tính từ, nhà văn hay bất kì một người nghệ sĩ nào khác cũng thể hiện được nhiều hơn những điều mình muốn nói
Ví dụ: Bà góa Cài ngẩng cái cổ nõn nà lên nhệ nhại:…
(San Cha Chải)
Ví dụ: Đôi mắt đen thẳm của người phụ nữ sáng bừng dậy
(Nợ đời)
Ví dụ: Không còn cái vẻ lãng du trên khôn mặt điển trai vốn dĩ nọ
(Seoly, Kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Chính là chiếc áo tắm nữ đen tuyền ấy đã lên tiếng mách bảo
(Tình biển)
Ví dụ: Khéo thu xếp trong không gian chật, ông cũng có một cái sân nhỏ đặt
loáng thoáng hơn chục chậu hoa, thứ nồng, thứ đạm như cúc, nhài, hồng, hương thơm
tao nhã quấn quýt ngày đêm
Trang 32(Tóc huyền màu bạc trắng)
d Định ngữ nghệ thuật là số từ:
Số từ làm định ngữ nghệ thuật xuất hiện khá hạn chế trong 20 truyện ngắn được khảo sát Chúng tôi thống kê được chỉ có 22 lần Ma Văn Kháng sử dụng số từ làm định ngữ nghệ thuật, chỉ chiếm tỉ lệ 2% trong tổng hệ thống từ loại được sử dụng làm định ngữ nghệ thuật
Ví dụ: hai ngọn đèn năm trăm oát sáng trắng sân đình
(Ngày đẹp trời)
Ví dụ: Họ gặp nhau ở chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến lần thứ nhất
(Heo may gió lộng)
Ví dụ: Một hôm, đang giữa bữa, con Thúy mười hai tuổi của vợ chồng Đoan
bỗng đặt bát cơm xuống mâm, lơ lẻo hai con mắt…
(Heo may gió lộng)
Ví dụ: Vì cảnh trong thư như từ bàn tay vẽ ra, hư thực lẫn lộn, sinh thành nuôi
dưỡng nhau, như cái hiện thực thứ hai, sản phẩm của một đầu óc lãng mạn…
(Cây bồ kếp lá vàng)
e Định ngữ nghệ thuật là đại từ:
Trong suốt 20 truyện ngắn được khảo sát, chúng tôi chỉ tìm thấy 11 lần tác giả sử dụng đại từ làm định ngữ nghệ thuật, chỉ chiếm 1% trong hệ thống từ loại làm định ngữ nghệ thuật Nếu nói về đại từ, trong giao tiếp bình thường hay trong bất kì một tác phẩm văn học nào, việc sử dụng đại từ là lẽ dĩ nhiên Tuy nhiên, sử dụng đại từ làm định ngữ nghệ thuật chứng tỏ bản thân các đại từ được sử dụng ở đây đều có một giá trị nghệ thuật riêng Do đó, dù số lượng hạn chế nhưng đại từ làm định ngữ nghệ thuật trong văn chương quả mang lại một sự mói mẻ
Ví dụ: Ông nghĩ người phụ nữ nọ trông thấy gương mặt gớm ghiếc của ta sau
cơn binh lửa thì thương hại vậy thôi
(Ngày đẹp trời)
Ví dụ: Tua là vậy, kể từ buổi chiều giông gió nọ
(Một chiều giông gió)
Trang 33Ví dụ: Nó dựng xác người nọ lên và nhảy quanh, cầm gậy đập cho đến lúc đầu của con người xấu số nọ chỉ còn bằng nắm tay
(Vệ sĩ quan châu)
Ví dụ: …thì gương mặt ông Thại hàng xóm của tôi thuộc loại hình thứ ba, hết
2.2.2 Định ngữ nghệ thuật là cụm từ
Bên cạnh các định ngữ nghệ thuật là từ, thì cụm từ cũng không ít lần được sử dụng làm định ngữ nghệ thuật Trong 20 truyện ngắn được chọn lọc để khảo sát, chúng tôi thống kê được có đến 349 lần tác giả sử dụng định ngữ nghệ thuật là cụm
từ, chiếm tỉ lệ 27% trong tổng số lần Ma Văn Kháng sử dụng định ngữ nghệ thuật Chúng tôi đã phân chia các cụm từ làm định ngữ nghệ thuật thành hai loại: cụm
từ cố định và cụm từ tự do Trong mỗi nhóm, tùy theo mối quan hệ giữa các yếu tố trong cụm từ mà có cách phân chia cụ thể hơn
Cụm từ cố định được sử dụng làm định ngữ nghệ thuật trong 20 truyện ngắn rất
ít Chúng tôi thống kê được trong 20 truyện ngắn đó, tác giả chỉ sử dụng 19 lần định ngữ nghệ thuật làm cụm từ cố định, chiếm tỉ lệ 5,5% trong tổng số hệ thống cụm từ được sử dụng làm định ngữ nghệ thuật
Ví dụ: …bà cụ chẳng dấu nổi vẻ quê mùa thâm căn cố đế,…
(Người giúp việc)
Ví dụ: Đã đi qua thời con gái, những hào quang tỏa rạng đã phai mờ, những làn
da tuyết nhụy ướp hương đã săn se, còn lại bây giờ ở chị là những hình nét ổn định,
bền vững, thuần thục, đã qua chọn lọc, trau chuốt kĩ càng
(Nợ đời)
Trang 34Ví dụ: Tôi, một gã kế toán quèn, một anh chàng vô danh tiểu tốt
(Nợ đời)
Ví dụ: Nhìn thấy cặp mắt ướt của người phụ nữ ngước lên nhìn mình, khuôn mặt
bất thành nhân dạng của ông bỗng ngây đờ bất động
(Ngày đẹp trời)
Ví dụ: Đất hoang hóa chỉ cho phép tồn tại dưới ánh mặt trời những thế lực hùng mạnh, những thủ lĩnh gian ác, những từ trưởng thông thạo chiến chinh, và kéo theo đó
là bọn theo đóm ăn tàn, những bản năng bán khai kinh thiên động dịa
(Khun – Vệ sĩ quan châu)
Ví dụ: Kẻ nào dám đứng ra tổ chức rình bắt quả tang ông Tráng trong cảnh
huống trai trên gái dưới với Seoly (Seoly, kẻ khuấy động tình trường)
Ví dụ: Đời Giàng Tả vẫn là đời làm thuê làm mướn
(Giàng Tả, kẻ lang thang)
Ví dụ: Thời gian còn ít lắm, việc gì phải đi con đường trái nước ngược gió như
2.2.2.2 Định ngữ nghệ thuật là cụm từ tự do
Trong 349 lần tác giả sử dụng cụm từ làm định ngữ nghệ thuật, thì số lượng cụm
từ tự do được sử dụng chiếm đến 330 lần, tức là chiếm đến 94%
Căn cứ vào mối quan hệ giữa các yếu tố cấu tạo nên cụm từ tự do làm định ngữ nghệ thuật, chúng tôi phân loại nhóm cụm từ tự do thành các tiểu loại như sau: