1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết cõi người rung chuông tận thế của hồ anh thái

72 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 914,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với quan niệm “Tiểu thuyết như là một giấc mơ ẩn chứa những điều không có thực ở ngoài xã hội”, Hồ Anh Thái đã miệt mài trên từng trang giấy để viết lên những câu chuyện về cuộc sống

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Minh Hiền

Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 05 năm 2012

Sinh viên

Cao Thị Hạnh

Trang 3

3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

TS Ngô Minh Hiền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, các cán bộ thư viện Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Sinh viên

Cao Thị Hạnh

Trang 4

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn xuôi Việt Nam hiện đại thời kỳ đổi mới có dung lượng phản ánh hiện thực khá rộng lớn Các tác giả bằng sự chiêm nghiệm sâu sắc, sự nghiên cứu nghiêm túc đối tượng phản ánh, đã dựng lại những bức tranh hiện thực với tất cả sự

đa dạng, phong phú và phức tạp của nó

Hồ Anh Thái là một trong số những nhà văn có đóng góp to lớn trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại Trong các sáng tác của ông, muôn mặt của bức tranh xã hội được miêu tả, được phản ánh một cách sâu sắc, đa chiều, với một bút pháp thực sự mới mẻ Bút pháp ấy “thật tự nhiên, như do trong hồn trong máu, trong tư duy của anh nó đã vậy” [4, tr.17]

Với quan niệm “Tiểu thuyết như là một giấc mơ ẩn chứa những điều không

có thực ở ngoài xã hội”, Hồ Anh Thái đã miệt mài trên từng trang giấy để viết lên những câu chuyện về cuộc sống của riêng mình Và tiểu thuyết Cõi người rung

chuông tận thế là một minh chứng tiêu biểu cho những điều nói trên Tác phẩm đã

thể hiện được những tìm tòi của ông trong “phương pháp tiếp cận và phản ánh hiện thực”, trong “giáo lý đạo Phật” và “thi pháp tiểu thuyết của các tác giả hiện đại” Với tiểu thuyết này, Hồ Anh Thái một lần nữa khẳng định được phong cách riêng, rất độc đáo của mình

Trang 5

5

Chúng tôi quyết định chọn đề tài: Đặc điểm tiểu thuyết Cõi người rung

chuông tận thế của Hồ Anh Thái để nghiên cứu với hi vọng khám phá những đặc

điểm nghệ thuật tiểu thuyết của ông cũng như góp phần khẳng định tài năng và vị trí của ông trên văn đàn Việt Nam hiện đại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hồ Anh Thái là một hiện tượng văn học đặc biệt với các tác phẩm gây được nhiều sự chú ý của dư luận Tiểu thuyết Hồ Anh Thái được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm

Nhà văn Lê Minh Khuê đã cho rằng: “Hồ Anh Thái là nhà văn còn đi dài với văn chương” [29, tr 266]

Còn nhà báo Lê Hồng Sâm lại nhận xét: “Ngay từ khi mới xuất hiện, anh đã

“phả” vào văn học một giọng điệu tươi mới, trẻ trung, hiện đại khi văn chương Việt Nam vẫn chưa đi qua sự ám ảnh và nỗi buồn của chiến tranh” [29, tr 251]

Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Hồ Anh Thái – người mê chơi cấu trúc thì

có cái nhìn sâu sắc hơn Ông cho rằng: “Chiều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trước hết thể hiện ở chỗ anh biết vượt qua những lối mòn tư duy coi văn học như là tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản để nhìn cuộc đời như

nó vốn có Hiện thực trong thế giới nghệ thuật của Hồ Anh Thái vì thế, không phải

là thứ hiện thực “dẹt”, “phẳng” mà góc cạnh, nhiều chiều” [29, tr.356] Và ông còn nhấn mạnh: “Chính từ quan niệm coi cuộc đời như những mảnh vỡ, bản thân mỗi một con người lại mang những mảnh vỡ đã tạo nên tính đa cấu trúc trong tác phẩm

của anh” [29, tr 359]

Không chỉ các tác giả trong nước mà các tác giả nước ngoài cũng quan tâm đến tác phẩm của Hồ Anh Thái

Tiến sĩ văn học Ấn Độ K Pandey đã từng nhận xét: “Những dòng chữ của

Hồ Anh Thái là những mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm đúng huyệt tính cách Ấn Độ” [29, tr 322]

Nhà văn Wayne Karlin (Mỹ) viết: “Với lòng kính trọng và tình yêu, anh chấp

Trang 6

Riêng với tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế, các nhà nghiên cứu đã

tập trung đến những vấn đề thuộc về nội dung và hình thức nghệ thuật được phản ánh ở trong đó

Nhận xét về cuộc đấu tranh giữa cái Thiện - cái Ác trong tác phẩm, tác giả

Lê Hồng Sâm nhận định: “Trong tác phẩm nói về cái Thiện và cái ác này, nhà văn đứng trên cỗ xe của cái Ác, trong vai kẻ đồng lõa, đội lốt cái Ác để tìm ra nguyên nhân và nguồn gốc của nó” [29, tr 254]

Tác giả Ngô Thị Kim Cúc trong bài Cái ác ở phía ít ngờ nhất lại nhận xét:

“Tiếng chuông cảnh báo đang vang vọng, trên khắp không gian cuộc đời, truyền rao bức thông điệp khẩn: con người phải biết sợ cái Ác, nhất là cái – Ác – không – ngờ – đến ngay trong chính những – ý – định – tưởng – chừng – tốt – đẹp của mình…” [8, tr 283]

Nguyễn Thị Minh Thái trong Giọng tiểu thuyết đa thanh bước đầu đã có

những nhận xét khá sắc sảo về giọng điệu của tác phẩm Bà cho rằng: “Với tiểu

thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã gây hấn cõi người đọc bằng

một hồi chuông cảnh báo đa thanh, lúc khoan, lúc nhặt, lúc tức tưởi, lúc ngạt ngào, đanh thép, lúc du dương, dịu dàng…” [29, tr 276]

Nhận xét về ngôn ngữ trong tác phẩm, hai tác giả Bùi Thanh Truyền, Lê Biên Thùy nhận định: “Ngôn ngữ của tiểu thuyết này đã lược giản rất nhiều vẻ sang

cả, ngân nga, rào đón để gần gũi với đời thường, thẳng thắn trong cách định tính, định danh, suồng sã trong giọng điệu, linh hoạt, gân guốc hơn trong cú pháp…” [33]

Còn Phan Văn Tú trong Cõi người rung chuông tận thế – nhìn từ vài con số

thống kê thì nhấn mạnh: “Càng về sau, càng thấy văn chương Hồ Anh Thái thấm

Trang 7

7

đẫm chất phương Đông, hồn văn hóa dân tộc” [29, tr 317]

Trong khi đó, Võ Anh Minh trong Cõi người rung chuông tận thế từ góc

nhìn Phật giáo lại cho rằng: “Nếu bình tâm nhìn lại, ta thấy từ cốt truyện, tuyến

nhân vật cho đến kết cấu đều được tổ chức theo dụng ý nghệ thuật cao nhằm nhấn mạnh chủ đề của tác phẩm: Hận thù phải được hóa giải trong một nhãn quan yêu thương và bao dung” [29, tr.330]

Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong sáng tác của Hồ Anh Thái, Phạm Anh Tuấn cho rằng Hồ Anh Thái đã sử dụng rất nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau trong việc sáng tạo nên những nhân vật mang cá tính sáng tạo Tác giả cũng không quên đề cập đến hai thủ pháp cơ bản nhất mà Hồ Anh Thái đã sử dụng,

đó là thủ pháp xây dựng nhân vật qua tình huống và qua chi tiết gợi bản chất Riêng

với tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế, tác giả cho rằng tác phẩm này xây

dựng nhân vật bằng kiểu tình huống giả tưởng khiến người đọc “chấn động bởi nhiều chi tiết, biến cố bất ngờ xảy ra liên tiếp… Tác giả cố ý xen vào những biến

cố, sự việc ngược với tình huống dự đoán của người đọc Tác phẩm đưa ra nhiều tình huống vô lý, đó là dục vọng của những kẻ gây ác thích làm điều ác” [34]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã chú ý đến các khía cạnh nội dung và nghệ thuật trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái nhưng chưa có ai đi sâu nghiên

cứu riêng tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế Vì thế, “Đặc điểm tiểu thuyết

Cõi người rung chuông tận thế” được chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Với mong

muốn khám phá những nội dung cụ thể được thể hiện qua nghệ thuật tiểu thuyết độc đáo trong cuốn tiểu thuyết này, chúng tôi hy vọng sẽ khẳng định thêm được về tài năng cũng như những đóng góp của Hồ Anh Thái cho văn xuôi đương đại Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các phương diện nội dung và nghệ thuật làm nên đặc điểm tiểu thuyết Cõi

người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái

Trang 8

8

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái do Nhà xuất

bản Lao động, Hà Nội xuất bản năm 2009

Ngoài ra, để tiện cho việc so sánh, chúng tôi còn tìm hiểu thêm một số tác phẩm khác của Hồ Anh Thái và Tạ Duy Anh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau:

4.1 Phương pháp thi pháp học

4.2 Phương pháp thống kê, miêu tả

4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác trong quá trình nghiên cứu

5 Bố cục khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung khoá luận

gồm 3 chương:

Chương 1: Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Hồ Anh Thái

Chương 2: Cõi người rung chuông tận thế - một chiêm nghiệm về “cõi người” Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật trong Cõi người rung chuông tận thế

Trang 9

9

NỘI DUNG

Chương 1

HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA HỒ ANH THÁI

1.1 Hồ Anh Thái – Văn chương và những chuyến đi

Hồ Anh Thái là nhà văn đã bền bỉ tạo cho mình một dòng chảy riêng giữa nguồn chung văn xuôi đương đại Việt Nam Dòng chảy ấy đã không ngừng vận động, thay đổi, tạo dấu ấn, để bây giờ nhìn lại, đủ cho những ai quan tâm đến Hồ Anh Thái đều có thể nhận thấy được đặc trưng của nó trong từng thời điểm Mười tám tuổi, Hồ Anh Thái xuất hiện trong làng văn và được chú ý như một hiện tượng mới mẻ Đến nay, Hồ Anh Thái là một nhà văn có thành tựu

Ông sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội, quê gốc ở Nghệ An, tuổi nhỏ sống cùng gia đình tại Nam Định Tốt nghiệp phổ thông năm 1977 rồi học Đại học Ngoại giao và nhận được bằng cử nhân năm 1983 Trong khi làm việc ở Bộ Ngoại giao, Hồ Anh Thái được cử đi làm nghiên cứu sinh ở Ấn Độ Tại xứ sở được

ví là “Thiên đường của các thần linh” ấy, ông đã học hỏi và nhanh chóng thông thạo

tiếng Hinđi Nhờ vậy, ông đã có thể đi khắp Ấn Độ, vào các chùa chiền để nghiên cứu văn hóa và tôn giáo, đồng thời khám phá những bí ẩn sâu kín của đất nước rộng

Trang 10

10

lớn này Sau khi nhận bằng tiến sĩ Đông phương học, ông được giữ lại làm đại sứ của Việt Nam tại Ấn Độ Với cương vị mới, ông lại có thêm điều kiện thâm nhập đời sống văn hóa tinh thần phong phú của người Ấn Độ Hồ Anh Thái còn đi xa hơn nữa tới cả những miền đất nơi Phật giáo Ấn Độ lan tỏa tới Những trải nghiệm và tiếp thu đời sống tâm linh, văn hóa tinh thần phong phú ở Ấn Độ đã tạo ra cái chất

“thiền” đặc sắc trong các sáng tác của nhà văn

Không chỉ nhiều năm học tập và công tác ở Ấn Độ mà Tây Tạng cũng là nơi đem lại nhiều kinh nghiệm, kiến thức quý báu cho Hồ Anh Thái Hiện ông đang đảm trách chức vụ tham tán, phó Đại sứ nước Việt Nam tại Cộng hòa Hồi giáo Iran

Mặc dù công tác đối ngoại chiếm khá nhiều thời gian và trí lực, nhưng là

“người lúc nào cũng viết”, Hồ Anh Thái vẫn luôn dành tâm huyết cho văn chương

Từ tác phẩm đầu tay viết năm 18 tuổi, đến nay ông đã có trên 30 đầu sách (bình quân mỗi năm một cuốn, trong đó có nhiều cuốn đã được dịch ra tiếng Anh, Pháp, Thụy Điển…) Có thể nói, Hồ Anh Thái là tác giả sớm bộc lộ năng khiếu văn chương và sớm xác định chỗ đứng của mình trên văn đàn và để lại dấu ấn khá đặc biệt trong văn xuôi Việt Nam từ sau “đổi mới” (1986) đến nay

Là một trong số không nhiều các cây bút xuất hiện sớm và thành danh cũng

rất sớm, Hồ Anh Thái đã từng đạt giải thưởng văn xuôi 1983-1984 của báo Văn

nghệ với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe, giải văn xuôi 1986-1990 của Hội

Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Người và xe chạy dưới trăng, giải thưởng văn

học năm 1995 của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn

Người đứng một chân

Sáng tác cả tiểu thuyết và truyện ngắn, ở thể loại nào Hồ Anh Thái cũng đạt được những thành tựu đáng kể Tác phẩm của ông tạo được sự chú ý và gây ấn tượng với người đọc về tư tưởng chủ đề, nội dung và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo Bằng tài năng của mình, Hồ Anh Thái đã mang đến cho văn học nước nhà

sự mới mẻ độc đáo của một phong cách đang định hình và ngày càng có nhiều công chúng đón nhận

Trong truyện ngắn đầu tay Chàng trai ở bến đợi xe, Hồ Anh Thái viết về đời

Trang 11

11

sống tinh thần của những thanh niên, sinh viên cùng trang lứa với những khao khát về cái đẹp, vươn tới cái lương thiện Nhưng rồi càng đi càng phải giữ mình trong sạch, mà đời cứ luôn muốn nhấn người ta vào sắc dục, vào những chỗ không được lương thiện lắm Cuộc sống xã hội có những xô dập ghê gớm Các nhân vật trong tiểu thuyết đều còn trẻ Toàn, Hiệp, Trang, Minh mỗi người một số phận, bị cuộc sống xô dạt về những nẻo khác nhau và họ phải vật lộn với số phận trên con đường của đời mình Và từ tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo (1985) đến Vẫn chưa tới

mùa đông (1986), Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987) và Trong sương hồng hiện ra (1989), Hồ Anh Thái đã khẳng định được vị trí của mình trong văn chương

Việt Nam

Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiều nước

Âu – Mỹ, đặc biệt là 6 năm tại Ấn Độ, ông trở lại văn đàn với những chùm truyện

ngắn độc đáo, hài hước mà thâm trầm về Ấn Độ: Người đứng một chân, Người Ấn,

Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cuộc đổi chác…

Từ năm 2000, ông có những tác phẩm được đánh giá cao và gây tranh luận

như: Cõi người rung chuông tận thế, Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, Mười lẻ

một đêm… Cũng trong năm 2000, ông được bầu là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

Năm 2007, ông trở lại với đề tài Ấn Độ bằng tiểu thuyết Đức Phật, nàng

Savitri và tôi Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học Việt Nam tái hiện chân

dung Đức Phật thông qua một cốt truyện hấp dẫn, một văn phong giản dị, một đa cấu trúc có hiệu quả mở rộng chiều kích không gian và thời gian

Gần đây, Hồ Anh Thái xuất bản cuốn tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột Bằng

giọng văn giễu cợt, trào lộng, hài hước sâu cay đầy lôi cuốn, Hồ Anh Thái đã tái hiện một bức tranh hiện thực huyền ảo về cuộc chiến giữa Chuột và Người với tất

cả sự thô lậu, xấu xa hiện hữu trong cuộc sống

Với sức viết dồi dào, sự miệt mài không ngừng nghỉ và khả năng viết văn chuyên nghiệp của mình, Hồ Anh Thái đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam bằng những tác phẩm gây dấu ấn mạnh mẽ trong lòng công chúng nước nhà và trên thế giới

Trang 12

12

1.2 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái – “giấc mơ dài” của “người mê chơi cấu trúc”

1.2.1 “Tiểu thuyết như một giấc mơ dài”

Trong không khí đổi mới toàn diện của nền văn học sau 1975, sự đổi mới quan niệm về tiểu thuyết là một thay đổi đáng ghi nhận Các nhà văn, nhà lý luận, phê bình nhận ra rằng, “Không thể khuôn tiểu thuyết vào một số nguyên tắc nghệ thuật cứng nhắc, bất biến, mà chính là phải mở ra những khả năng tiềm tàng, vốn có của thể loại này” [15] Vì có như vậy, cái “máy cái” của văn học mới có thể phản ánh được chiều rộng lẫn chiều sâu của hiện thực đa dạng, phức tạp của cuộc sống Chính điều này đã buộc người viết phải đối diện với một đòi hỏi nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” [30, tr.31]

Là một hạt nhân trong dòng chảy của sự đổi mới quan niệm về tiểu thuyết,

Hồ Anh Thái quan niệm: “Tiểu thuyết như một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta vừa mừng rơn như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có” [29, tr.248] Đây cũng chính là phương thức phản ánh hiện thực mà Hồ Anh Thái sử dụng trong các sáng tác của mình Có thể nói, trong mấy thập kỉ qua, Hồ Anh Thái đã không đi “chệch” khỏi quan niệm coi tiểu thuyết chỉ như là một “giấc mơ” của mình Đó có thể là một giấc mơ đẹp, cũng có thể là một cơn ác mộng Nhưng dù là mộng đẹp hay ác mộng thì cũng đều thể hiện những trăn trở, dằn vặt của nhà văn về những vấn đề của cuộc sống đang

“cuồn cuộn trước mắt mình”

Quan niệm này rõ ràng không phù hợp với quan niệm truyền thống về tính xã hội, tính tư tưởng của văn chương Vì trong lịch sử văn học Việt Nam, quan niệm

“văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” đã trở thành quan niệm chính thống chi phối bao thế hệ người cầm bút Mặc dù càng về sau, quan niệm về cái “đạo” mà văn chương phải “tải” có khác trước - cái đạo ấy được mở rộng, gắn với nhiệm vụ: “đâm mấy thằng gian” (Nguyễn Đình Chiểu), “làm đòn xoay chế độ”, “phá cường quyền”

Trang 13

13

(Sóng Hồng); gắn với yêu cầu “trong thơ nên có thép, nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Hồ Chí Minh)… nhưng văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng vẫn mang chức năng xã hội nghiêm túc Tuy nhiên, như Julio Cortazar đã nói: “Văn học chịu đựng sự thể nghiệm, sự phối hợp, sự phát triển chiến lược” [31, tr.15] nên kiểu tiểu thuyết này đã tìm được sự hưởng ứng ở nhiều người sáng tác

Trong văn học đương đại Việt Nam, có rất nhiều nhà văn có cùng quan điểm với Hồ Anh Thái Ngô Tự Lập trong bài Những đường bay của mê lộ cho rằng:

“Ngay cả hiện thực cũng chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ hỗn loạn, vô tận, giấc mơ với những đường bay của mê lộ…” [18, tr.79] Nhà văn Ma Văn Kháng qua một

loạt những sáng tác gây tiếng vang như Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không

có giấy giá thú… cũng bày tỏ sự đồng tình với quan điểm trên khi cho rằng: “Tiểu

thuyết hiện diện trong giấc mơ của mỗi nhà văn” [15] Tạ Duy Anh là nhà văn có quan điểm và cách sáng tác gần nhất với quan điểm của Hồ Anh Thái Ông không chỉ quan niệm: “Tiểu thuyết thực ra cũng chỉ là những giấc mơ của người cầm bút Điều quan trọng là cách thể hiện những giấc mơ đó như thế nào thôi” [1, tr.6], mà còn sáng tạo nên những “giấc mơ” hết sức độc đáo và hấp dẫn của riêng mình

Như vậy, chính những “giấc mơ” tiểu thuyết của người cầm bút đã trở thành một “chiếc cầu nối” lạ lùng đưa ta vào cõi hoang vu nhất, sâu kín nhất của tâm hồn nhân vật Ở đó chúng ta thấy được những mơ ước thầm kín, những nỗi sợ hãi dày

vò, những bí mật đen tối, hay những niềm hy vọng và tuyệt vọng không thể giãi bày, những vùng ký ức không thể nguôi ngoai… Những “giấc mơ” đó đảm nhiệm chức năng nghệ thuật quan trọng là “lạ hoá” cuộc sống, tạo ra tính đa thanh đa nghĩa cho tác phẩm và ấn tượng thẩm mỹ mạnh mẽ ở người đọc

Trước hết, tiểu thuyết như là giấc mơ thể hiện ở sự “chập chờn” của những

hư cấu nghệ thuật Chúng ta cũng biết, bản chất của nghệ thuật là sự hư cấu Theo cách hiểu thông thường, hư cấu là “đặt chuyện theo trí tưởng tượng”, là “khẳng định một cách giả tạo”, là “giả vờ”, “bắt chước” hiện thực, là “cấu trúc của cái gần như vậy”… Cái “gần như vậy” ấy sẽ “chuyển tải một chiều kích về sự lừa dối, và từ sự kiện đó, đặt ra mối liên hệ với hiện thực” [16, tr.237] Hồ Anh Thái đã sử dụng hư

Trang 14

14

cấu nghệ thuật để “tạo ra một sinh mệnh mới, một sự sống mới, không có trong đời thực, nhưng phản ánh được cuộc đời thực” [19, tr.134]

Trong tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã xây dựng nên

một câu chuyện mang màu sắc huyễn tưởng đậm nét Nhân vật chính của tiểu thuyết

là Tân, năm 1987 mới 17 tuổi, do sự cố nhà đổ, bị điện giật, anh bất tỉnh Trong cơn bất tỉnh, Tân (như quan niệm dân gian là hồn của Tân) đã trôi dạt về hai mươi năm trước, là năm 1967, khi chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc đến độ ác liệt Tân trở lại nơi cha mẹ anh sống ngày xưa, chứng kiến được cả buổi đầu cha mẹ anh tìm đến với nhau Anh được chứng kiến những cuộc không kích dữ dội của máy bay Mỹ Anh cũng thấy có những lúc thật bình yên giữa cuộc chiến, người ta vẫn làm

ăn, đàn hát và yêu nhau Tân, hay là hồn của một người có tri thức ở năm 1987, chính là phân thân của nhà văn, đã cảm phục những con người dũng cảm như Đô, như Trinh, và cũng hiểu rằng cùng sống bên họ có không ít những kẻ giả dối, hèn nhát và trục lợi, điển hình là ông Tựu nhỏ nhen và háo danh, là bà ngoại của Tân, một cán bộ cách mạng mà đầy toan tính, cơ hội và rất khinh người… Qua cặp mắt trong trẻo của chàng trai mười bảy tuổi, tấm màn quá khứ được vén lên Ở đây, từ bản thân các chi tiết đã được tác giả chủ ý cài cắm vào cốt truyện là một triết luận về thời gian: quá khứ – hiện tại – tương lai là những thì nối liền với nhau một cách biện chứng Như vậy, bằng “giấc mơ” tiểu thuyết của mình, với việc đưa nhân vật trở về hai mươi năm trước, Hồ Anh Thái đã làm được một cuộc mổ xẻ quá khứ và góp lời giải cho những băn khoăn trước thực tại của con người thời đổi mới

Với tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, Hồ Anh Thái cũng đã tạo

được lối đi riêng độc đáo, sáng tạo so với những nhà văn lúc bấy giờ Ở tiểu thuyết này, “giấc mơ” của Hồ Anh Thái thể hiện ở việc phản ánh khá sắc sảo cuộc sống và tâm trạng của một thế hệ trẻ trải qua tuổi thơ nhiều mất mát trong những năm kháng chiến chống Mỹ Đất nước thống nhất, mỗi người một công việc, một hoàn cảnh và chịu nhiều va đập của thời hậu chiến nhưng nhìn chung họ sống trong sáng, có nhân cách và có ý chí Tình bạn của họ trong veo và đầy vị tha Bên cạnh một thế hệ trẻ

đủ bản lĩnh để làm chủ đất nước, qua Người và xe chạy dưới ánh trăng, Hồ Anh

Trang 15

15

Thái cũng báo động sự xuất hiện của một lớp người với lối sống cá nhân, có khi mất hết cả nhân tính Điểm mới của Hồ Anh Thái là ông không đổ lỗi tất cả cho thời hậu chiến như không ít cây bút non tay thời bấy giờ Ông lý giải và chứng minh chất vị

kỷ ấy đã có không ít trong những năm kháng chiến, nó như bản chất và khí tạng của một loại người Có điều trong những năm kháng chiến, lối sống ấy bị đè nén, bị che

đậy và đến những năm đầu của cuộc sống thời bình nó bắt đầu bộc lộ “Có thể nói hiện thực trong Người và xe chạy dưới ánh trăng là một hiện thực đa chiều, và để

phản ánh được cái thực tại phức tạp ấy, Hồ Anh Thái đã sử dụng nhiều thủ pháp linh hoạt, cả phục hiện và đồng hiện; rồi một cốt truyện đầy co giãn với những mạch ngang, lối rẽ ( ) miễn là góp phần khắc họa thật đầy đặn những nhân vật anh định đưa ra dưới trường đời, miễn là lý giải được những băn khoăn, khúc mắc về cuộc đời trong hiện thực ngổn ngang, phức tạp mới chỉ bắt đầu được dọn dẹp lại ”

[21]

Đến tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế thì sự “chập chờn” của những

hư cấu nghệ thuật được thể hiện rõ ràng hơn hết Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái

đã kể lại hành trình đi trừng phạt cái ác của cô bé Mai Trừng theo lời “nguyện” cũng là lời “nguyền” của người mẹ trước khi mất Hành trình đó vừa lôgic, vừa phi

lý nhưng cũng thật hấp dẫn Cuối cùng, sự thức tỉnh của “nhân bản” trong con người đã hóa giải lời nguyền…

Những “giấc mơ” tiểu thuyết của Hồ Anh Thái còn thể hiện ở cách kết cấu tác phẩm hỗn loạn, rời rạc, tùy tiện, chắp vá… nhưng tất cả lại bừng sáng trong ý

thức của con người – nhân vật Điều này được thể hiện rõ trong tiểu thuyết Mười lẻ

một đêm Câu chuyện “bị nhốt” của cặp tình nhân trong Mười lẻ một đêm bị cắt rời,

đứt đoạn bởi những câu chuyện xen lẫn về họa sĩ chuối Hột, bà mẹ, Giáo sư 1, Giáo

sư 2, người Cá…, bởi những biến cố, những mô hình Tất cả được bố trí như những trò chơi mà người đọc phải tham gia vào mới có thể nắm bắt được ý tưởng của nó

Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, người đọc như bị dẫn vào một thế giới

“tù mù” của trò chơi với một kết cấu vừa rối rắm, vừa mơ hồ Chuyện của ba nhân vật: Đức Phật, Savitri, Tôi xuyên suốt tác phẩm, đan cài, chồng chéo lên nhau trong

Trang 16

16

triết lí luân hồi

Còn trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, tác giả Hồ Anh Thái

lại xây dựng một hiện thực – giấc mơ về một nhân vật xưng Tôi sống giữa cõi nhân gian bấn loạn Khởi điểm giấc mơ: Tôi chìm đắm trong đời sống bản năng, trong sự hận thù và cái ác Kết thúc giấc mơ: Tôi thành tâm sám hối và chứng nghiệm cảm giác an lạc của kẻ đã tìm lại được chân tính thiện của mình Có khởi điểm và có kết thúc thật đấy, nhưng vì là giấc mơ, nên quá trình từ khởi điểm đến kết thúc không hề vận hành theo những quy luật lôgic của đời sống hữu thực Con đường từ ác đến thiện của Tôi – con đường trong mơ - được đánh dấu bằng hàng loạt sự kiện và hình ảnh biểu tượng phi thực mà sự ngông cuồng của tưởng tượng trong mơ đẻ ra Và rồi tất cả chúng lại “hôn phối” với nhau theo cái cách bất chấp “lẽ phải”

Như vậy, có thể nói, trong mấy chục năm cầm bút của Hồ Anh Thái, quan niệm về tiểu thuyết đã được tạo lập, không chỉ “như một giấc mơ dài”, mà là một chuỗi giấc mơ tiểu thuyết, với mỗi tác phẩm ra đời là một - giấc - mộng - con độc

đáo

Với quan niệm tiểu thuyết – “giấc mơ”, Hồ Anh Thái đã đưa tác phẩm của mình tiến dần đến tính đa âm và có khả năng đối thoại Đây chính là đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại Tính chất này đã tạo nên những tầng ý nghĩa khác nhau cho tác phẩm, gợi nên những hồi âm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau ở người đọc, đồng thời đòi hỏi khả năng “đồng sáng tạo” của người đọc Người đọc đi vào những “giấc mơ” tiểu thuyết của Hồ Anh Thái để được sống, được nhìn nhận, trăn trở, suy tư, nghiền ngẫm về chính mình và về cuộc sống

Điều đó chứng tỏ, quan niệm viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã được kiến trúc trên sự tự ý thức triết học về cái viết, đồng thời với quá trình vận động nhằm

đổi mới tư duy, giọng điệu và cách ứng xử với tiếng Việt Với Hồ Anh Thái, “viết

văn” là một nghề hẳn hoi, chứ không phải thứ lao động tài tử, nghiệp dư, như khá

nhiều người lầm tưởng Hồ Anh Thái từng so sánh, khi được hỏi về kinh nghiệm

sống và viết, rằng, cái viết trong nghề văn cũng có “chút gì đó giống như tình yêu

Cần một chút mê đắm, một chút thành thực là có tình yêu Nhưng để nuôi dưỡng

Trang 17

17

tình yêu ấy lâu bền thì cần có hiểu biết, cần sự từng trải nữa Hiểu biết không nhất thiết chỉ từ sách vở, sự từng trải không nhất thiết là chỉ đắm chìm trong cái đời thường” [29, tr.252]

Hồ Anh Thái tự đặt lịch: “Mỗi ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai tiếng

Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn là phải đủ kĩ năng để huy động cảm hứng Chờ cảm hứng dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư và có chút thần bí hóa nghề văn” [29, tr.249] Chính cái ý thức đó, cái sự tự mình thách thức cái viết của chính mình đó mà năm nào người đọc cũng được tiếp nhận tác phẩm mới của Hồ Anh Thái Năm 2011, một tiểu thuyết mới của Hồ Anh Thái vừa chào đời, thêm một giấc mơ làm đầy đặn thêm chuỗi giấc mơ dài về tiểu thuyết của nhà văn không hề muốn ngưng làm mới mình này Và tất nhiên, một tiểu thuyết mới như thế, tự thân nó yêu cầu một cách đọc mới

1.2.2 Cõi người rung chuông tận thế – một tiểu thuyết luận đề sâu sắc

Sau loạt tác phẩm Chàng trai ở bến đợi xe, Trong sương hồng hiện ra, Người

và xe chạy dưới trăng, Mảnh vỡ của đàn ông…, tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế ra đời Nó được coi là một tiểu thuyết luận đề sâu sắc

Đã có người so sánh rằng cuốn tiểu thuyết này mới đến mức giống hệt sự ở lì

của thằng - bé - bào - thai trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh,

đến tháng đến ngày vẫn không muốn chào đời, vì nghe thấy cuộc đời thật lắm phiền

phức, sách nhiễu, phức tạp , thà nằm im bụng mẹ, sướng hơn Cõi người rung

chuông tận thế với một lối viết mới đã nằm trong “cõi mê riêng” của tác giả từ 1996

rồi lênh đênh qua năm sáu nhà xuất bản, đến tận năm 2002 mới được chào đời ở nhà xuất bản Đà Nẵng, có lẽ vì tính chất “gây hấn” được dồn nén, rồi bùng nổ trong giọng kể nhiều biến điệu của chủ thể tiểu thuyết và những vấn đề con người, xã hội được đặt ra ở trong nó

Câu chuyện được bắt đầu giống như phim hình sự, với một cái chết đầy bí

ẩn, cùng vô vàn hình ảnh trần trụi của cuộc sống thực không hề mỹ miều Cái chết

ấy lập tức kéo theo hai cái chết khác, như trò đánh đố, cuốn người đọc theo sau một bóng hồng hư hư ảo ảo, nghi phạm số một gây ra mọi thứ Bốn nhân vật nam cùng

Trang 18

18

một hội nhóm, bốn gã đàn ông cao to lừng lững, tốt tướng, tốt tiền, chỉ nội tâm là có điều bất ổn… Câu chuyện ngoặt sang hướng khác để lai lịch cô gái rõ dần lên Giọng văn thẳng thừng kiểu phóng sự dần chuyển sang một tông êm ái hơn Câu chuyện tình thơ mộng thời chiến giữa cô gái giữ kho với anh lính trẻ, và cái chết rùng rợn của người lính đã đưa lời nguyền oan nghiệt cột vào số kiếp đứa bé gái mồ côi một mình còn lại Mai Trừng bị trói chặt vào sứ mạng đi trừng phạt cái Ác, như

ý nguyện của người mẹ đã chết Những cái chết của Cốc, Bóp, Phũ đều là sự trừng phạt ngoài ý muốn của Mai Trừng Nhân vật chính là Tôi, người kể chuyện, là người lúc đầu cũng cùng hội với Cốc, Bóp, Phũ, nhưng dần dần anh đã giác ngộ Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết là hành trình hướng thiện của anh

Như vậy, có thể thấy, tác phẩm đã đề cập đến một vấn đề muôn thuở của con người: đó là cuộc đấu tranh giữa cái Thiện và cái Ác Nhưng cái hay của tác phẩm này là ở chỗ tác giả đã nhìn cái Ác từ bên trong, qua lời một nhân vật đồng loã với

nó “Nhà văn đứng trên cỗ xe của cái Ác, trong vai của kẻ đồng loã, đội lốt cái Ác để tìm ra nguyên nhân và nguồn gốc của cái Ác” [29, tr.254] Từ điểm nhìn trần thuật

đó, tác giả phanh phui cái Ác, sự vô cảm của con người một cách rõ nét hơn Qua việc xây dựng hành trình con người có can đảm từ bỏ cái Ác để hướng thiện, dù đó

là quá trình đầy gian nan, vất vả, Hồ Anh Thái nỗ lực tìm cách nêu lên một vấn đề không hoàn toàn mới mẻ: cái Ác phải bị trừng phạt Ở đây, Hồ Anh Thái đã lí giải

số phận con người bằng cái nhìn Phật giáo: kẻ gây ra cái Ác không bị đẩy đến đường cùng, họ vẫn còn cơ hội giác ngộ nếu trong họ vẫn còn lại chút “thiên lương trong trẻo” Trong tác phẩm này, Mai Trừng giống như một “thiên sứ”, nhưng đó không phải là thiên sứ toàn bích Cô bị ràng buộc bởi lời nguyền Mai Trừng trừng phạt kẻ ác, đó là lẽ thường Nhưng ngay cả người yêu cô cũng không thể tới gần Mai Trừng chỉ còn một cách xin trở lại làm người bình thường Và cuối cùng thì lời nguyền cũng được giải, Mai Trừng được sống đúng như một con người, với tất cả sức mạnh và sự yếu đuối bình thường của một con người thực sự

Tính luận đề của tác phẩm còn được thể hiện ở ngay nhan đề Cõi người rung

chuông tận thế Trong cõi người, cái Thiện và cái Ác vốn đã song hành, bất phân

Trang 19

19

thắng bại Lên tiếng cảnh báo về cái xấu, cái phản nhân văn đang hoành hành trong

xã hội, trong bản thân mỗi con người luôn là vấn đề lớn mà văn học quan tâm Với

Hồ Anh Thái, thêm một hồi chuông rung lên cảnh báo con người là không thừa và

không bao giờ muộn Và trong Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã làm

được điều đó, làm vang lên hồi chuông cảnh tỉnh sâu sắc trong thẳm sâu tâm hồn người đọc theo cách rất riêng của mình

Chương 2

CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN THẾ

– MỘT CHIÊM NGHIỆM VỀ “CÕI NGƯỜI”

2.1 Cái nhìn mới về cuộc đời

2.1.1 Hiện thực nứt vỡ và cái chết về đạo đức của con người

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học phát triển Trên bình diện ý thức, nghệ thuật đã có những biến đổi quan trọng theo hướng dân chủ hóa của các quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, nhà văn

và quan niệm về hiện thực, về con người Càng về giai đoạn sau này, xu hướng đó càng được khẳng định một cách rõ nét qua từng tác phẩm, từng dấu ấn phong cách của tác giả Ta thấy xuất hiện một loạt những tác giả mà tên tuổi của họ đã làm nên

bộ mặt của văn xuôi đương đại Việt Nam như Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Phan Thị Vàng Anh, Châu Diên… Có thể nói, xu hướng dân chủ hóa đã đưa đến sự nở rộ của các phong cách, bút pháp, bộc lộ tối đa

cá tính sáng tạo của nhà văn

Là một cây bút trẻ, rất nhạy cảm với môi trường công nghiệp hiện đại, Hồ Anh Thái đã xây dựng được cho mình một phong cách riêng Chính sự kết hợp hài

Trang 20

Ngay từ năm 1985, với tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo, Hồ Anh Thái đã đề cập

đến những chấn thương về thể chất và tinh thần của những người phụ nữ đi qua cuộc chiến tranh, trở thành quá lứa lỡ thì Sau chiến tranh, những nữ cựu chiến binh

đó đến làm việc trong một lâm trường trên đảo Cát Bạc Đây là câu chuyện về cuộc chiến đấu tiếp tục của họ, hoặc là đau đớn chống lại những ham muốn nhục dục thường tình, hoặc là nhẫn nhục thèm khát có một chút con làm nơi nương tựa lúc cuối đời Dù là nhà văn rất trẻ, nhưng vấn đề về tình dục, về bản năng con người và nhu cầu làm tròn thiên chức người phụ nữ, cùng với đề tài về cái giá phải trả của những nữ cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ được Hồ Anh Thái đặt

ra trong tác phẩm thật sự là một khám phá táo bạo, mới mẻ Rõ ràng, với lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm công dân và sự nhạy bén mới lạ trong lối viết, tác giả đã mang vào các tác phẩm của mình cái nhìn toàn diện, sự đánh giá sâu sắc về những vấn đề nổi cộm trong xã hội cũng như những vỉa sâu tâm hồn đang dậy sóng của

con người Điều này được thể hiện rõ trong Cõi người rung chuông tận thế Trong

tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã tập trung thể hiện cái nhìn đời sống và con người trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đi sâu khai thác những vấn đề gai góc của đời sống, khám phá những điều mới mẻ trong bản chất con người

Bằng cái nhìn hiện thực không đơn giản, xuôi chiều được soi chiếu bởi kinh nghiệm cá nhân, Hồ Anh Thái đã chạm đến, khơi ra những vấn đề gai góc và bức xúc của đời sống vốn vô cùng phong phú và phồn tạp

Với dung lượng không lớn (241 trang) nhưng Cõi người rung chuông tận thế

Trang 21

Vốn nhạy cảm với những chuyển biến của cuộc sống, đón trước yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật, Hồ Anh Thái nhanh chóng tiếp cận với đời sống thị dân trong đó nổi bật là đời sống công chức, trí thức

Ở cái thời buổi mà “người trí thức giỏi giang có chuyên môn sâu đến mấy cũng phải

có chút hồng, chút quyền mới mong mở mày mở mặt được” thì chuyện thăng quan tiến chức là một nhu cầu xem ra có vẻ chính đáng Tuy nhiên con đường và cách thức mà số đông công chức thời nay sử dụng để “mở mặt” với đời thì muôn hình

vạn trạng, trăm phương nghìn kế Trong Cõi người rung chuông tận thế, con đường

công danh của Thế bắt đầu từ những chuyến tháp tùng lãnh đạo công du nước ngoài nhưng thực chất là để quan tâm đến nhu cầu thăm thú, mua sắm của quý phu nhân thậm chí có khi còn “phiên dịch được cả tên những mặt hàng tế nhị” “Thỉnh thoảng, quý phu nhân lại dội xuống một thực đơn yến sào Hai triệu đồng một lạng yến sào Bữa tiệc tám người khiêm tốn một cân yến sào Bốn cây vàng chỉ riêng tiền yến sào…” [29, tr.44] Thế nhưng “Thế hầu như không nhận tiền thanh toán các bữa tiệc của quý phu nhân Cũng như vậy đối với những cái ô khác” [29, tr.44] Nhờ thế

mà “Thế được nhiều cảm tình, Thế được cô nói khéo qua ông vụ trưởng cán bộ Thế

cứ thế mà lên” [29, tr.53] Không những thế, Thế còn là người có “quan hệ rộng” nên khi có việc xảy ra thì Thế giải quyết rất nhanh chóng: “Anh từng làm phiên dịch hoặc tham gia vào những cuộc tiếp xúc bí mật giữa lãnh đạo các quốc gia, anh chơi đẹp với cả những nữ tướng, nam tướng của xã hội đen Các chính khách, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ (…) Khi anh cần thì họ đổ xô đến xúm vào mà giải quyết hộ” [29, tr.98] Công việc được giải quyết qua các mối quan hệ Càng nhiều mối

Trang 22

22

quan hệ thì công việc càng được giải quyết nhanh và ổn thoả Đó là một sự thật mà

Hồ Anh Thái đã phơi bày trong tác phẩm

Không chỉ cho thấy sự phất lên của một “Xuân tóc đỏ” trong thời hiện đại

mà xung quanh đó, tác giả còn vạch trần hàng loạt những câu chuyện khác: chuyện mua quan bán tước, chuyện hối lộ và sự hoành hành của quyền lực xã hội đen… Đồng tiền ở thời đại nào cũng đều phát huy tác dụng “tích cực” của nó Trong tác phẩm này, đồng tiền có thể làm cho con người hoặc sang trọng hoặc thấp hèn nhưng không chỉ trong lúc sống mà ngay cả khi họ đã chết Đó là trường hợp cô gái làm công cho một công ty nước ngọt nước ngoài đã chết ở Sài Gòn Gia đình mong đưa xác của cô về Hà Nội làm tang nhưng không được hãng hàng không chấp nhận Trong khi chính chuyến bay đó đã chở xác thằng Bóp vào Sài Gòn và đang chở xác thằng Phũ ra Hà Nội chỉ vì gia đình thằng Bóp, thằng Phũ có thế lực, có tiền Chứng kiến nghịch cảnh ấy, chính nhân vật Đông cũng phải bật lên suy nghĩ: “Vậy là những ông mãnh bà cô chết đi rồi vẫn còn chia ngôi thứ như khi còn sống Kẻ vẫn được đặc quyền Kẻ thì hoàn toàn không” [29, tr.97] Và dường như người ta đã quen với một thành ngữ mới, một “chân lí” mới trong đời sống hiện đại: “có những thứ tiền không thể mua được nhưng có thể mua được bằng rất nhiều tiền” Vì không

có tiền cô Giềng mới chết đầy đau đớn và oan uổng Bởi: “Người ta khám qua loa, chấn đoán là viêm túi mật, phải mổ Gia đình hẵng cáng bệnh nhân ra ngoài, tự đi mua máu và đóng đủ viện phí mới làm thủ tục nhập viện được” [29, tr.227] Thế nhưng, “Có phải viêm túi mật gì đâu Một cái bệnh đơn giản cần một ca mổ đơn giản và kịp thời: đau ruột thừa Người không có tiền trong thời buổi kinh tế thị trường tiền trao cháo múc dễ được chọn một cái quyền là quyền chết” [29, tr.227-

228] Có thể thấy, đồng tiền có sức mạnh ghê gớm, chi phối đời sống vật chất và

đời sống tinh thần của con người Đứng trước sự cám dỗ của đồng tiền, con người không biết kìm hãm lòng tham và dễ dàng trở thành nô lệ của đồng tiền, trở nên tha hoá nhân cách Ngay cả thằng bé 12 tuổi, con cô Giềng cũng nhận ra điều chua xót đó: “Mạ cháu chỉ bị ruột thừa Có tiền thì mạ cháu không chết” [29, tr.229]

Một hiện thực khác được tác giả đề cập trong tác phẩm là việc mở mang đất

Trang 23

23

đai thời kinh tế thị trường “( ) mới đây ông tỉnh lại quyết định cắt của Cửa Lớn mấy héc ta đất để thực hiện một công trình kinh tế – thương mại – du lịch” Thế nhưng xót xa thay: “Kinh tế gì đâu, thương mại gì đâu, du lịch gì đâu Mấy héc ta nguồn sống của người nông dân Cửa Lớn sẽ biến thành khu vực đệm cho bãi tắm ( ) Người nông dân bỗng nhiên bị mất đất gieo trồng” [29, tr.184] Cuộc sống của người dân đã khó khăn nay càng khó khăn hơn: “Nông dân Cửa Lớn bình quân mỗi người chỉ còn một sào đất canh tác, không đủ lúa gạo để sống, đã phải kéo nhau đi tìm nghề phụ Phải lên núi, phá núi lấy đá đem bán Phải phá hết cả núi Bút, non Nghiên, hòn Bảng, là biểu tượng một thời học hành khoa cử của quê hương, để đến nỗi con cháu bây giờ, cả huyện mỗi năm chỉ còn vài ba đứa được vào đại học” [29, tr.183] Vấn đề không dừng lại ở câu chuyện quy hoạch, cắt đất mà nó chạm đến những chuyện lớn lao của xã hội, liên quan đến cả sự tồn tại của chính thể, vận mệnh dân tộc Rõ ràng, Hồ Anh Thái không chỉ phản ánh mà ông còn lên tiếng cảnh báo Đây đó trong cuộc sống, những nứt vỡ của hiện thực đang xảy ra, như những hiểm họa khiến con người phải xót xa, đau đớn

Gia đình cũng đặc biệt được tác giả chú ý với tư cách như một xã hội thu nhỏ, nơi có thể sẽ hình thành nên những thói quen xấu, nơi có thể tiềm ẩn những nguy cơ làm băng hoại đạo đức, nhân cách con người, đẩy con người đến sự tha hoá “Một giờ sáng anh Thế biết tin thằng Phũ bị giữ cả người cả xe ở đồn công an thì tám giờ sáng anh đã đón cả xe cả người về Ngay trong đêm anh đã gọi điện cho một ông thứ trưởng nội vụ thân tình Gọi cho ông giám đốc bệnh viện để bó bột cẩn

thận cho cái chân gãy của con bé” [29, tr 87-88] Tác giả Cõi người rung chuông

tận thế đã giúp người đọc nhận thấy rõ sức mạnh của thế lực, địa vị xã hội, qua đó

gióng lên sự quan ngại về hệ quả khôn lường của sự đồng loã với cái ác trong môi trường gia đình

Môi trường gia đình, nền tảng đạo đức truyền thống bị phã vỡ là nguyên

nhân sâu xa làm băng hoại các giá trị đạo đức của con người Trong Cõi người rung

chuông tận thế, một thuỷ thủ trên con tàu vượt đại dương luôn tâm niệm một

chuyến đi an lành phụ thuộc vào sự thuỷ chung của người vợ ở nhà Nhưng khi

Trang 24

24

thoát chết sau vụ đắm tàu trở về, anh ta đã được “chứng nghiệm” sự “đúng đắn” của cái lý thuyết kia: “Gã về nhà, bắt tận mắt vợ và con gái đang nuôi béo hai thằng đĩ đực xấp xỉ tuổi nhau Mỗi cặp ở một phòng, ra đụng vào đụng mặt nhau tự nhiên như không Gã vác dao đuổi chém, hai thằng kia chạy tan tác Gã đuổi chém mụ vợ Căm hờn gấp bội vì gã tin rằng chính sự thập thành của mụ đã làm biển nổi giận, nhấn chìm con tàu và dìm chết đồng nghiệp của gã Gã đuổi chém con gái Nhà dột từ nóc dột xuống Gã uất vì giống mình nảy nòi ra một thứ ngợm vô luân như thế” [29, tr.156] Sự uất hận và hành động căm thù của người đàn ông trong câu chuyện qua cái nhìn của Hồ Anh Thái là một sự bất lực, một kết cục xót xa của một gia đình đầy nghiệp chướng

Rạn nứt từ môi trường gia đình đến xã hội là một bước rất ngắn của những

đổ vỡ và xuống cấp của các giá trị đạo đức xã hội Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã khai thác triệt để một trong những vấn đề bức xúc của xã hội mà bấy lâu nay văn học ít đề cập hoặc né tránh là những tệ nạn xã hội Hiện thực đời sống của ngư dân một bãi biển du lịch nào đó với những nhọc nhằn, vất vả của nghề chài lưới, làm mắm lại được tác giả phơi lật ở những góc nhìn vừa hài hước vừa đau đớn Người đọc trước có thể cười nhưng sau đó là đau xót cho sự đổi thay ghê gớm của cuộc sống làng chài trước sự tác động của đồng tiền, của lối sống sa đọa: “Biển

rũ rượi nằm lại, phập phồng thoi thóp như cô gái đồng trinh sau vụ cưỡng hiếp tập thể Bấy giờ mới bắt đầu giờ làm ăn của những người đàn bà làm nghề buôn hương bán phấn Thực ra thì hương chẳng có mà phấn cũng chẳng có Phần nhiều là mùi mắm muối dân chài thất thu một vụ cá, mùi mồ hôi gay gắt đồng quê hạn hán, thậm chí có cả mùi sữa vú em hoi hoi con ơi con ở lại nhà Tất cả đều được vụng về át đi

bằng một thứ nước hoa rẻ tiền đồng hạng” [29, tr.17] Xót xa thay cho thân phận

của những cô gái điếm mang nhãn hiệu ngư dân, cho những người thân trong gia đình của họ Còn đây là hình ảnh của một cuộc đốt vía tập thể của những cô gái điếm ế khách mà thằng Cốc gọi là “một vũ điệu thổ dân ngoạn mục”: “Những người đàn bà không nhìn rõ mặt, hình hài cũng chập chờn, đang đứng dạng chân trong tư thế com pa mở hai mươi lăm độ Họ cũng đốt những tờ giấy, lay lay ngọn lửa nhỏ

Trang 25

25

có nốt ngân luyến láy ở cái nơi là nguồn vốn tự có của một cái nghề bất chấp mọi quy luật của kinh tế thị trường là lấy lỗ làm lãi Ngọn lửa nhấn nhá như một khúc cải lương tự sự, rồi bất chợt lao vút lên thành cao trào như viện đến sự mưa móc ban phát của trời xanh trên đầu Lửa phất phơ cười với ông trời phong tình đến đủ

độ, rồi đổ xề một giọng thật đã để cầu xin sự đồng tình của đất Những tờ giấy vừa đốt lên chạy tiếp sức cho những tờ giấy đã cháy hết Vòng lửa lại cháy rừng rực, lại luyến láy phừng phừng từ nơi xuất phát ấy, vung lên tới trời, ngoặt lối ra sau lưng

để cầu xin những gì họ bỏ lại đằng sau…” [29, tr.18] Có lẽ hình ảnh những cô gái điếm trong tư thế “com pa hai mươi lăm độ” mà tác giả gọi là “những vũ nữ kiên gan” trên bãi biển nọ đã khiến tác giả bật cười, nhưng là cái cười ra nước mắt bởi nỗi ám ảnh khôn nguôi về một hiện thực phũ phàng nơi vùng quê nghèo khó ấy Những người phụ nữ ấy vừa là tội nhân vừa là nạn nhân của một môi trường xã hội

bị tha hoá Sự thật là như vậy nhưng có điều bấy lâu nay người ta không dám hoặc không muốn thừa nhận, thậm chí còn dung túng, tiếp tay cho cái hiện thực ấy phát triển Sự thật của những vấn đề nhạy cảm mà Hồ Anh Thái đặt ra không hẳn là mới nhưng cái cách ông đặt vấn đề, phân tích nó làm cho số đông sẽ im lặng bởi người

ta đã “ngấm” cái dư vị cay đắng của nó

Cùng với mại dâm là những tệ nạn xã hội khác được tác giả chỉ ra bằng cái nhìn không mấy lạc quan dù ông đã cố gắng diễn tả chúng bằng sự hài hước, trào tếu Một phần trong văn hóa và lối sống của giới trẻ những năm cuối thế kỉ XX được tác giả lột tả trong sự bức xúc, lo ngại: “Rồi sẽ tới lúc người ta không hình dung nổi chuyện những năm đầu thập niên thứ chín của thế kỉ XX có một lũ thanh niên choai choai phóng xe máy như mất trí trên những đường phố hẹp đủ cho mọi thành phần xe cộ Đường hẹp thì mặc đường hẹp, đây là thời đại của tốc độ Ăn uống thì có đủ mọi thứ ăn liền, học hành và công việc thì đều có lối đi tắt, vui chơi giải trí thì đều có thứ tàu nhanh, yêu thì cũng là thứ tình yêu tốc độ, đã được đảm bảo bằng tự do cá nhân và bao cao su OK nhà vô địch cùng thuốc tránh thai Choice ( ) Chúng lạng lách, chúng đánh võng, chúng cướp đường, chúng xô người đi đường ngã chết ngay tại chỗ Tốc độ thôi chưa đủ, thanh niên cần những ấn tượng

Trang 26

sự thật khó tin này nhưng nó vẫn xảy ra và thậm chí ngày càng phổ biến hơn bởi

“máu chỉ càng làm say máu, tai nạn chỉ càng thêm màu sắc mạo hiểm và iêng hùng… Cảnh sát rượt đuổi và lùng bắt càng khiến chúng kiêu hãnh vì tự coi là những phần tử ngoài vòng pháp luật…” [29, tr.86] Con người đang hủy hoại sự sống, hủy hoại những giá trị tốt đẹp của cuộc đời

Hồ Anh Thái còn đề cập đến một hiện thực khác tưởng như đã đi vào quên lãng Đó là những hi sinh, mất mát của con người trong chiến tranh Hẳn người đọc sẽ không thể nào quên được những trang văn viết về cái chết đầy đau đớn của Hùng: “Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã đến Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn” [29, tr.169] Quả thật, ám ảnh về cái ác, có lẽ sẽ là nỗi ám ảnh chẳng bao giờ có thể phai mờ trong lòng người Với Hồ Anh Thái, đó là một sự thật, mà dù không muốn ta cũng phải thừa nhận

Có thể nói, trong Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã phơi bày

một thực trạng đáng báo động về tệ nạn xã hội và những cạm bẫy, những nguy cơ làm băng hoại giá trị tốt đẹp của con người trong quan hệ gia đình, cộng đồng, đẩy con người tới sự tha hoá, biến dạng về nhân cách, đạo đức, đẩy họ vào trạng thái bị

ám ảnh, khiếp sợ và cả trơ lì trước cái ác Con người đang hoảng loạn trước sự nứt

vỡ của hiện thực cuộc sống và có nguy cơ chết dần đạo đức Đó là hiện thực cay đắng mà Hồ Anh Thái muốn rung chuông cảnh báo con người

Trang 27

27

2.1.2 Sự biến động của các giá trị văn hóa

Hồ Anh Thái không chỉ tập trung phơi bày sự băng hoại của xã hội được coi

là những nguy cơ làm biến dạng và tha hoá nhân cách của con người mà ông còn hướng tới lý giải căn nguyên của những nguy cơ ấy Có thể thấy, qua cái nhìn của

Hồ Anh Thái, những giá trị văn hoá, những chuẩn mực đạo đức dường như đang mất dần giá trị hoặc thật đáng ngờ

Cái đẹp là một phạm trù thẩm mỹ mà con người luôn phấn đấu để hướng tới nhưng không phải lúc nào nó cũng “bình yên”, nguyên phiến Bởi trong xã hội hiện đại, cái đẹp đang bị đầu cơ, lợi dụng Cái xấu, cái ác đang giằng xé, làm chao đảo

nó Trong Cõi người rung chuông tận thế, địa hạt của cái đẹp nhiều khi bị xâm lấn

bởi những điều xấu xa, những ẩn họa khôn lường mà không phải lúc nào con người cũng có thể nhận ra Đó thật sự là một tai họa Hồ Anh Thái đã không giấu được sự phẫn nộ khi miêu tả vẻ đẹp thánh thiện của một cô sinh viên trường Hàng Hải: “Một gương mặt Đức mẹ Đồng trinh không thể nào bắt bụi trần tục” [29, tr.108] nhưng đằng sau nó lại dung chứa một sự thật không thể tin nổi: “Một mình hoa khôi chiến đấu cùng lúc với ba gã con trai trần trụi mà vẫn thừa ra hai gã Tôi và một gã khác phải ngồi đợi, đúng hơn là được ngồi xem bốn cái thân hình kia cùng một lúc hùng hục lao vào nhau, quấn quyện lấy nhau…” [29, tr.109] Niềm ngưỡng mộ về cái đẹp, hiện thân của “niềm an ủi về môi trường đang sống” đã sụp đổ một cách hãi hùng, đau đớn “Tôi rùng mình, nước mắt ứa ra Khóc bột phát không sao kìm nổi Khóc cho nỗi đau đớn của một thân thể đồng trinh Khóc cho gương mặt đồng trinh bỗng trở nên dâm đãng và tinh quái không ngờ” [29, tr.109-110] Tác giả đã nhắc đi nhắc lại – đúng hơn là đay đi đay lại – cái “vẻ đẹp đồng trinh” của cô gái nhưng bất ngờ nhận thấy cái bản chất “dâm đãng, tinh quái” đằng sau vẻ đẹp ấy

Trong một truyện ngắn có tên là Chợ, Hồ Anh Thái đã lật tẩy cái ác đằng

sau vẻ đẹp thơ ngây của một cô gái qua lời kể của nạn nhân, người bị đánh thuốc

mê và bị nẫng hết của cải trên một chuyến xe: “(…) em không ngờ người ác mà có người đẹp thế Trông như sinh viên Da trắng má hồng mắt bồ câu hoang dã (…) em không ngờ người đẹp thế mà ác Trông như sinh viên Có cặp sách hẳn hoi Ngọt

Trang 28

28

ngào lắm…” [25, tr 145-146] Cái điệp khúc “em không ngờ” của nạn nhân luôn nhấn mạnh vẻ đẹp ngây thơ, trong sáng, học thức của cô gái – kẻ lừa đảo – đã làm không ít người giật mình về những biến thái tinh vi của cái ác, sự lừa lọc núp bóng cái đẹp vốn đầy rẫy trong đời sống dù tác giả không có ý “vơ đũa cả nắm” Và đến

Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái lại một lần nữa đề cập tới sự sa đọa

của những người trẻ tuổi Đời sống sinh viên cùng với môi trường trong sáng và lành mạnh không còn “đẹp” như người ta vẫn thường nghĩ Những “tình yêu ri đô” diễn ra đằng sau những “tấm màn gió mỏng manh che làm phép cho tất cả những người chẳng hề biết hổ thẹn” [29, tr.114] đã làm biến dạng khái niệm “trong sáng” vốn được nâng niu, gìn giữ trong tâm hồn bao người trẻ tuổi biết yêu

Sự trinh tiết, những biểu tượng về sự thủy chung, hiếu nghĩa đôi khi cũng là đối tượng mà Hồ Anh Thái đặt để nghi ngờ và cùng nhìn lại Biểu tượng cho sự trong trắng của những người chết trẻ là vòng hoa trắng trong đám tang được tác giả

lật tẩy bằng cái nhìn hài hước mà đầy dư vị triết lý Trong Cõi người rung chuông

tận thế, nhà văn đã đặt ra câu hỏi về những vòng hoa trắng liệu có xứng đáng với

Cốc, Bóp, Phũ hay không Giá trị văn hoá, giá trị của sự thật bị méo mó, trở thành

sự trang trí giả dối Hồ Anh Thái cảm thấy căm phẫn và cay đắng “101 chiếc quần lót” – tặng phẩm của phụ nữ sau mỗi cuộc giao hoan và đám tang “phủ đầy những vòng hoa trắng” [29, tr.79] của thằng Phũ và hai thằng bạn nó thực sự là sự phỉ nhổ vào những gì gọi là giá trị tốt đẹp của cuộc đời

Hồ Anh Thái còn đặt ra những hoài nghi về con đường đạt đến sự đốn ngộ của chúng sinh trong kiếp tu hành theo giáo lý nhà Phật Không ít lần tác giả đã làm cho người đọc phải ngỡ ngàng về những phát hiện của mình Khi triết lý về sự khôn ngoan của con người trong cõi nhân sinh, Hồ Anh Thái đã nhại lại chính sự lọc lõi của người đời trong cái triết lý “khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống” bằng việc nhấn mạnh “Chỉ có kẻ biết là sống Nhưng biết được rồi, giác ngộ được rồi, thì không chết nhưng sống khổ sống sở về tinh thần” [29, tr.52] Ngay đến đức Phật cũng cô đơn, cũng đáng thương chẳng kém chúng sinh ở giữa cõi khổ ải này Nhà văn đã viết: “Những năm tháng lênh đênh trên biển tôi đọc nhiều sách Phật Đọc

Trang 29

29

xong tôi chỉ thấy thương Ngài Ngài giác ngộ năm ba mươi lăm tuổi, bốn mươi lăm năm sau đó, Ngài phải sống giữa cõi người tôn sùng Ngài, kính phục Ngài, tin theo Ngài nhưng không chắc đã hiểu Ngài Ngài cô đơn và đáng thương là ở chỗ ấy” [29, tr.52] Sự nghiệt ngã của cuộc đời chính là lúc con người đã ngộ ra tất cả nhưng vẫn

không thể thoát khỏi vòng luân hồi, bể khổ Trong Cõi người rung chuông tận thế,

Đông đã ngấm triết lý đạo Phật về từ bi hỉ xả, sự khoan dung độ lượng, về lẽ được mất nhưng anh ta vẫn “hành động theo cái lý thực tế đang bừng bừng trong huyết quản”, tức là phải trả thù, “cái chết đòi trả bằng cái chết”, “hận thù kéo theo một chuỗi hận thù” Lời dạy của đức Phật đã không còn ứng nghiệm khi con người bị dục vọng che lấp dù có lúc nó đã từng sám hối: “Này chú, có tiền thì cũng khổ, có tình khổ hơn, có danh là khổ nhất Trong bằng ấy thứ, tôi đã từ bỏ hết chỉ để chỉ chọn lấy một thứ đỡ khổ hơn cả Ngờ đâu kết cục lại bi thảm như vậy” [29, tr.101] Tác giả đã giễu cợt sự sám hối hời hợt và sáo rỗng của người đàn ông mất con mà anh ta nghĩ mình đã giác ngộ cái chân lý ở đời ấy

2.2 Những ám ảnh, suy tư về kiếp người

2.2.1 Con người trong vòng xoáy của cái ác

Trong các sáng tác của Hồ Anh Thái, con người được thể hiện với tư cách là con người trần thế với tất cả chất người tự nhiên của nó Bản thân con người luôn bao gồm các yếu tố, những mặt vừa đối lập, vừa hoà đồng lẫn nhau như tốt đẹp và xấu xa, lương thiện và độc ác, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức; cái trong sáng

đi liền cái mờ đục, tối tăm; sự chuẩn mực xen lẫn nhếch nhác, phàm tục Nhưng vượt lên trên hết, con người vẫn luôn hướng đến cái thiện trên hành trình dài của sự sám hối và tri ngộ

Với những phát hiện, tìm tòi đổi mới không ngừng nghỉ, Hồ Anh Thái đã góp thêm một tiếng nói, một cái nhìn về con người vào mẫu số chung của văn xuôi sau 1975: nhấn mạnh sự không hoàn thiện, sự “đa đoan” của con người trong “cuộc đời đa sự”

Như hai mặt của một vấn đề, trong mỗi con người luôn tồn tại cái tâm thiện

Trang 30

Trong Cõi người rung chuông tận thế, cái ác có mặt ở khắp nơi Cùng với

việc không ngần ngại phơi bày những cái ác của con người, Hồ Anh Thái còn róng riết bày tỏ nỗi bất an của mình trước cái ác, sự băng hoại của nhân tính con người ở thời điểm hiện tại Những ham muốn bản năng, lối sống thực dụng đã làm hoen ố bản chất lương thiện của con người Con người bị tha hoá, bị đẩy xuống “vũng bùn” của cái ác và có nguy cơ biến thành “con thú lớn nhất”

Bằng giọng văn lạnh lùng như đã lọc hết mọi cảm xúc, Hồ Anh Thái đã lột tả được tất cả động cơ, thái độ, xúc cảm trong cái hành động độc ác của các nhân vật Cốc, Bóp, Phũ

Thật chua chát khi những cái ác, thói sống gấp, hưởng lạc, đàng điếm đã lấn

át hoàn toàn đạo đức truyền thống, lấn át luôn tính Thiện trong mỗi con người Nhìn cách sống của những con người này người ta không khỏi lo sợ cho một thế hệ thanh niên hiện đại ngày nay khi buông thả, bất cần, gấp gáp, sa đọa đang có nguy cơ trở thành chủ âm làm nên sắc điệu sống của họ

Có thể nói, gần như tất cả mọi nhân vật chính trong Cõi người rung chuông

tận thế đều liên quan đến cái ác, đều rơi vào vòng xoáy của cái ác Bắt đầu từ Cốc,

Bóp, Phũ với âm mưu, thủ đoạn chiếm đoạt Mai Trừng để thoả mãn dục tính rồi đến Thế – người cha, kẻ đã tiếp tay cho chúng Tiếp đến là Đông với cuộc săn đuổi, trả thù Mai Trừng, rồi là Yên Thanh với cuộc trả thù dã man, mất hết nhân tính đối với Đông Cái ác bao vây con người, điều khiển, huỷ hoại họ Nếu Cốc, Bóp, Phũ là hiện thân của cái ác, Thế là nhân vật bị cái ác điều khiển, sai khiến thì đứa con gái

Trang 31

31

hai tuổi của Đông lại là một nạn nhân của cái ác Ác vì dục tính, thú tính, vì tiền tài, quyền lực, tham vọng và hận thù Cái ác lên đến cực độ để rồi là sự huỷ diệt Cốc chết vì ham dục; Bóp và Phũ chết vì nóng giận đến mê muội muốn trả thù Mỗi người chết bằng chính cái cách mà mình đã sống

Vòng xoáy của cái ác vẫn chưa dừng lại dù Mai Trừng đã được hoá giải lời nguyền gắn với sứ mệnh trừng trị cái ác Cuối tác phẩm này, người đọc vẫn còn được thấy cảnh chiếc xe ô tô của Đông nổ tung và bùng cháy Sao cái ác cứ tồn tại, vẫn còn tồn tại? Câu trả lời nằm trên đôi mắt “mở to nhìn đi xa hút”, trên “cái cười nhếch mép Ở khoé mép là một nếp nhăn hằn sâu của người già Cái cười và nếp nhăn của người đã ngộ, đã thành chính quả, đã hiểu hết và đã thấu suốt tất cả” [29, tr.132-133] của đứa bé hai tuổi vô tội, nằm trong tiếng chuông chùa bất đồ “rung thảng thốt”, “rung hoảng loạn”, “giận dữ đổ ập vào không gian” Dường như “cõi nhân gian như đang kề bên bờ vực huỷ diệt”

Vấn đề Thiện - Ác là vấn đề của con người, của nhân loại ở mọi thời đại mà văn học luôn quan tâm thể hiện Con người luôn bị đặt ở cái thế chênh vênh của hai

bờ Thiện - Ác Những ai có dũng khí dám vượt lên chính mình, vượt lên hoàn cảnh, đối diện với những cám dỗ của cuộc sống thì sẽ giữ được mình ở bờ Thiện của cuộc đời Còn những ai buông xuôi, sa đoạ sẽ bị rơi vào vực thẳm của cái Ác Là người thân thích với Cốc, Bóp, Phũ, là kẻ trong cuộc, là người chứng kiến lần lượt ba cái chết diễn ra trước mắt mình, Đông không thể không bừng lên khát vọng trả thù Thế nhưng Đông hơn những đứa cháu của mình là ở chỗ biết bình tâm để nhìn nhận sự việc trước khi hành động Trên lằn ranh giữa Thiện và Ác, Đông thấy: “Tim tôi đột ngột nhói lên Tôi cũng muốn trả thù Tôi cũng muốn dẹp yên hận thù cùng một lúc” [29, tr.66] Và Đông “cùng lúc linh cảm được kết cục thảm khốc của thằng cháu nếu nó cứ như con thiêu thân lao vào cái ngọn lửa là cô gái kia” [29, tr.66] Rõ ràng, ở cuộc đời này, hạnh phúc luôn đi liền với đau khổ, cái thiện luôn luôn song hành với cái ác, điều cốt lõi là con người phải có “sức mạnh để bước qua những ranh giới đó” Nhưng, quả thật, đó không phải là điều dễ dàng Có thể thấy điều đó qua nhân vật Mai Trừng Mai Trừng cũng là một đại diện của cái thiện nhưng là cái

Trang 32

32

thiện bị cái ác điều khiển Vốn là một người thánh thiện, trong trắng từ trong bản chất nhưng cô mang trong mình một sức mạnh siêu nhiên nên đã trở thành phương tiện báo thù cho lời nguyền của cha mẹ mình Kẻ nào chạm đến Mai Trừng đều lần lượt bị luồng nhân điện giết chết tươi, rồi đến người yêu của Mai Trừng khi chạm vào người cô cũng không thoát khỏi trừng phạt Mai Trừng trở thành người đi diệt trừ cái ác trong cuộc sống đầy những bất trắc nhưng chính cô cũng bị lời nguyền của cái ác điều khiển nên chính Mai Trừng đã trở thành nô lệ cho sự thù hằn

Trong vòng xoáy của cái Ác, không phải không còn lại những cái Thiện nguyên phiến Đó là Miên và Giềng - những người phụ nữ đi ra từ cuộc chiến trở về với đời thường, với những lam lũ vất vả nhưng vẫn không ngừng vươn lên sống một cuộc sống hữu ích cho cộng đồng, xã hội Giống như bi kịch của những người đàn

bà trong Người đàn bà trên đảo, Miên và Giềng trong Cõi người rung chuông tận

thế cũng mang những bi kịch của người phụ nữ đi ra từ cuộc chiến Trong chiến

tranh, họ sẵn sàng hy sinh cả tuổi xuân và tính mạng của mình để mong muốn được sống hạnh phúc trong hoà bình Vậy nhưng, khi đất nước hoà bình trở lại, trở về sau cuộc chiến, họ hoàn toàn lạc lõng, phải đối đầu với cái ác, cái xấu có mức độ ghê gớm không kém kẻ thù năm xưa Trở về sau chiến tranh, người đàn bà cụt chân tên Miên mang theo đứa bé mười lăm tháng tuổi về Hà Nội rồi trở thành cô giáo dạy những điều lý tưởng Khao khát cuộc sống an phận nhưng Miên cũng không sống yên được với những kẻ xấu xung quanh mình Còn Giềng trở về quê sau chiến tranh, ở với người đàn ông đã có vợ nhưng rồi lại bị bỏ rơi, chị phải làm lụng vất vả

để nuôi năm đứa con trong hoàn cảnh không chồng ở mảnh đất nghèo khổ Bi kịch

cô đơn và nghèo khó đã đẩy chị đến với cái chết đau đớn của căn bệnh ruột thừa vì không có tiền cứu chữa Mặc dù vậy, trong họ bản chất hy sinh vì người khác vẫn còn thắm đượm Họ vẫn neo giữ được mình đứng bên bờ thiện của cuộc đời

Hồ Anh Thái đã dựng lên một thế giới nhân vật, một xã hội, một cuộc sống với nhiều xấu xa, tàn ác Trong đó, người tốt, người có bản tính thiện chỉ là tối thiểu Đây là dụng ý nghệ thuật của tác giả bởi chính từ số ít này, hiện thực nghiệt ngã về sự lấn át của cái xấu được lột tả và thông qua đó, Hồ Anh Thái muốn khẳng

Trang 33

33

định sự tồn tại của cái tốt, cái thiện và sức sống mãnh liệt của nó trong con người

Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng khái quát: “Cuộc sống trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy rẫy oan khiên, oan khuất Cái ác bao giờ cũng mạnh mẽ

và lẫm liệt, đầy mưu ma chước quỷ còn cái thiện thì ngu ngơ và ngây thơ, lại thường cả tin” [17, tr.29] Tạ Duy Anh cũng từng quan niệm: “Chúng ta không thể trốn chạy cuộc đời và ngay chính cái chết cũng không giúp người ta trốn chạy được

nó một cách tuyệt đối Vì vậy, cần phải đối mặt và giải phẫu nó” [17, tr.29] Còn Hồ Anh Thái lại dùng “tiếng chuông gõ vào cõi ác để lay thức cõi thiện” [17, tr.29] Bởi vì sau những khám phá, phát hiện về cái ác, ông vẫn đầy hy vọng vào tương lai

và niềm tin vào con người Với chủ ý tái hiện cái ác trong văn học để qua đó, kêu gọi con người chống lại cái ác trong cuộc sống, nên sự hiện diện của cái ác trong

Cõi người rung chuông tận thế vừa là sự phản ánh của hiện thực, vừa là phản ứng

của Hồ Anh Thái đối với hiện thực Đó là một cách nhìn mang ý nghĩa cảnh tỉnh Bằng thái độ tỉnh táo, lạnh lùng và quyết liệt, Hồ Anh Thái đã phơi bày cái ác đồng thời cảnh tỉnh con người về nguy cơ cạn kiệt niềm yêu thương và bị tha hoá Qua

Cõi người rung chuông tận thế, ông không chỉ giúp người đọc nhận thức được

những hạn chế, mặt trái trong bản thân con người mà còn thể hiện quá trình tự nhận

thức của chính mình với cuộc sống và con người

2.2.2 Con người – hành trình tri ngộ và sám hối

Một trong những nguyên nhân làm ra nỗi đau của con người đó là sự hiện diện và tồn tại của cái ác, bởi cái ác luôn là mầm mống gây nên những bi kịch trong cuộc sống Con người sống trong những bi kịch do chính mình tạo dựng nên với đầy đủ sự đau khổ, day dứt khôn nguôi nhưng may mắn thay, ngay trong những bi kịch ấy, từ sâu thẳm tâm hồn mình con người vẫn đang tin tưởng rằng, cái ác có thể giảm đi phần nào khi con người biết sám hối, đấu tranh để cái thiện giành phần

chiến thắng Trong Cõi người rung chuông tận thế, nhân vật của Hồ Anh Thái luôn

luôn bị đặt trong trạng thái lựa chọn - đấu tranh giữa cái xấu và cái tốt, đấu tranh với môi trường, với kẻ thù và với chính bản thân mình để hướng về cái thiện trong nhân cách của mình

Trang 34

34

Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã để cho Đông đứng trong cái ác, cùng phe với cái ác để từ đó nhận ra được bản chất, căn nguyên của cái ác, đó là lòng hận thù Sau cái chết của ba đứa cháu, Đông muốn trả thù, nhưng anh cũng đủ tỉnh táo

để nhận ra vấn đề, và từ đây Đông bắt đầu hành trình phục thiện, hành trình diệt trừ cái ác trong tâm hồn mình

Quá trình sám hối, phục thiện của Đông trải dài theo tác phẩm, nó cũng trải qua nhiều day dứt, trăn trở, dằn vặt Đầu tiên, Đông thấy rằng “con người quả thực hền yếu khi khoanh tay ngồi nhìn người thân lần lượt bị tiêu diệt” và anh đi đến quyết định: “Tôi phải hành động theo cái lý thực tế đang bừng bừng trong huyết quản của tôi… Bây giờ thì tôi bất cần Tôi không nghĩ đến hậu họa cho chính mình” [29, tr.100-101] Giết Mai Trừng bằng thuốc độc là lựa chọn lúc này của Đông Nhưng anh cũng nhận ra rằng, mình có thể sẽ chết vì viên thuốc độc đó: “Tôi đã lựa chọn cái chết cho mình mà không hề hay biết” [29, tr.149] Anh suy nghĩ: “Tôi không tin những người chưa từng chứng kiến một cái chết nào Phải chứng kiến tận mắt, phải ôm người chết trong tay, phải khâm liệm cho một tử thi (…) người ấy mới xem như thực hiểu đời, hiểu người, hiểu sự sống Khi đã hiểu cái chết, anh muốn bình thản và tự tin để quan sát tất cả những người không hiểu cái chết Khi ấy anh thấy mình cần phải sống Tôi cần phải sống” [29, tr.153] Nỗi khát khao được sống dâng lên mạnh mẽ trong người anh “Bây giờ thì tôi muốn sống Dù phải sống theo kiểu hàng ngày ủ rũ phủ phục như con Ki này trước vong hồn những người đã chết Dẫu đau khổ thì vẫn lấy làm may mắn vì đã được sinh ra làm người Tôi bỗng thèm sống hơn bao giờ hết” [29, tr.153], “Tôi thực lòng tha thiết sống Tôi còn quý cái mạng sống của mình lắm lắm” [29, tr.181] Mạng sống đã khiến cho Đông ý thức hơn về điều mình nghĩ và định làm, nhưng chỉ ham sống thôi thì chưa đủ, anh khẳng định: “Việc cùng lúc tôi phải làm là thanh lọc cái tâm hồn tội lỗi của mình Từ giờ trở đi tôi không được phép nghĩ ác về Mai Trừng (…) Tôi thắp hương sám hối Tôi cầu mong cho cô luôn gặp may mắn” [29, tr.158] Như vậy, sau những trăn trở trong nội tâm, Đông đã dẹp trừ được cái Ác trong tâm trí mình, cái tâm thiện đã chế ngự được cái tâm ác, anh đã thoát khỏi vòng tội lỗi mà ba đứa cháu của mình

Trang 35

35

mắc phải Nhưng Đông vẫn lo sợ phải hứng chịu hậu quả do mình tạo nên bởi đã trót có ý ác với Mai Trừng Đó là cái lo sợ của một tâm lý bình thường nhưng cũng mang nhiều ẩn ý của tác giả Để cho Đông đi tìm Mai Trừng và gặp cô một cách yên bình không có tai họa, Hồ Anh Thái muốn nói rằng: “Kẻ làm ác vẫn còn cơ hội được giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi đời, chứ không phải bao giờ cũng bị trừng phạt” [29, tr.333] Tư tưởng này, lối nghĩ này, tác giả ảnh hưởng khá đậm nét từ nhân sinh quan Phật giáo Có lần Phật tổ dạy đồ đệ rằng: “Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật” Có nghĩa là: Vứt bỏ con dao đồ tể xuống đất, (mọi người đều có thể) trở thành Phật Chúng ta nên hiểu câu nói này có ý rằng ai cũng có thể giác ngộ, chỉ còn một chút thiên lương vẫn có thể làm lại từ đầu, chỉ cần từ bỏ hành động xấu là được, như người đồ tể vứt bỏ con dao giết hại loài vật đi vậy, đó là hành động đầu tiên của quá trình giác ngộ

Hành trình tri ngộ, sám hối của con người còn được Hồ Anh Thái thể hiện cụ thể qua nhân vật Mai Trừng Theo lời nguyền của mẹ trước lúc chết: “Mai ngày cháu lớn, cháu sẽ đi trừng phạt những kẻ ác” [29, tr.174], Mai Trừng đã trở thành một “thiên sứ” được giáng trần để tận diệt cái Ác Nhưng hai mươi sáu năm lãnh sứ mệnh trừng phạt cái ác, Mai Trừng đã quá mệt mỏi Mọi điều ác, dù chỉ trong suy nghĩ mà người ta định làm với cô, đều sẽ bị trả giá, nhưng Mai Trừng vẫn cảm thấy mình đang phải sống trong bi kịch Cô không được sống thân phận bình thường như bao người con gái khác Cô muốn thoát khỏi lời nguyền để được làm người bình thường, bởi “Chỉ có tình thương mới diệt trừ được hờn oán Lấy oán trả oán thì oán còn” [24, tr.219] Và cô đã được toại nguyện Để cho Mai Trừng được giải lời nguyền, trở về với cuộc sống đời thường của một cô gái, cùng với sự sám hối thành công của Đông, Hồ Anh Thái trên cơ sở triết lý của Phật giáo đã thể hiện nhiều quan điểm giải quyết vấn đề Thiện – Ác trong cuộc sống của mình Trừng phạt chỉ

là giải pháp Ngộ ra lẽ phải, thực tâm niệm thiện thì cái ác sẽ không còn, cõi người sẽ bình an, đó mới là điều quan trọng Bằng cách ấy, Đông đã thoát ra khỏi hận thù, thiện hoá tâm hồn mình, Mai Trừng được sống, được yêu như một người bình thường Con người thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn oán hận – trả thù – oán hận

Trang 36

36

Không phải cứ làm điều ác để rồi nhận trừng phạt Để tận diệt cái Ác, điều cốt lõi là con người cần biết phục thiện, biết thanh lọc tâm hồn, bỏ qua hận thù Đây chính là điều Phật giáo mong mỏi ở mỗi người, con người hãy sống với nhau bằng tình

thương và lòng từ bi Trong Mười bốn điều răn, điều đầu tiên Phật dạy chúng ta

rằng: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình” Đông đã vượt qua được bản thân mình, chiến thắng kẻ thù lớn nhất của đời mình bằng tình thương và sự cảm thông như vậy đó

Trong cuộc sống, con người khó có thể tránh được sai lầm Điều quan trọng

là phải biết đối diện với những sai lầm ấy để bằng ý thức hướng thiện mà sửa chữa, vươn lên Chỉ có tình yêu thương và sự thức tỉnh của con người mới có thể hóa giải, diệt trừ tận gốc cái ác, xây dựng cái thiện Đó là bản chất nhân văn của cuộc sống Nói như Hồ Anh Thái “cõi người cũng bao dung lắm Bạn hãy để ý nhân vật chính, dọc theo cuốn sách là hành trình hướng thiện của anh ta cho đến khi trút bỏ được cái Ác Triết học Phật giáo không tin vào định mệnh: Kẻ làm ác vẫn còn cơ hội để giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi người, chứ không phải bao giờ cũng bị trừng phạt” [29, tr.247-248]

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w