1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết giữa lòng tăm tối (heart of darkness) của joseph conrad

87 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một tác phẩm độc đáo nhưng nó gần như bị lãng quên đối với giới nghiên cứu, đọc tác phẩm người đọc dễ dàng bị choáng ngợp bởi bút lực của Joseph Conrad, từ điểm nhìn, ngôi kể cho đến

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN 

Đàm Dương Phương Loan

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

GIỮA LÒNG TĂM TỐI CỦA JOSEPH CONRAD

Khóa luận tốt nghiệp

Lí luận văn học

Đà Nẵng, tháng 4 /2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN 

Đàm Dương Phương Loan

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

GIỮA LÒNG TĂM TỐI CỦA JOSEPH CONRAD

Khóa luận tốt nghiệp

Người hướng dẫn:

TS Nguyễn Thanh Trường

Đà Nẵng, tháng 4 /2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Trường Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình nghiên cứu này

Đà Nẵng, ngày 25 tháng 4 năm 2018

Tác giả khóa luận

Đàm Dương Phương Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình từ thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

 Quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn và trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này

 Thầy Nguyễn Thanh Trường, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài Qua đây, tôi xin gửi thầy lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất

 Gia đình, bạn bè, người thân luôn hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Với việc thực hiện đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian và khả năng còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được

sự góp ý từ thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 25 tháng 4 năm 2018

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống lí thuyết văn học, nghệ thuật trần thuật được xem là tổ chức cấu trúc hình thức giữ vai trò quan trọng trong tạo dựng các mối quan hệ trong và ngoài văn bản, qua đó góp phần hình thành nên khung thẩm mĩ cho tác phẩm Theo đấy, tìm hiểu bản mệnh tiểu thuyết từ góc nhìn nghệ thuật trần thuật là hướng tới khám phá kĩ thuật xử lí các yếu tố hình thức này tồn tại trong nhiều không gian thẩm mĩ khác nhau Nói một cách khác, tiếp nhận tác phẩm qua trục dẫn giải của lí thuyết trần thuật là lối dẫn vào các lớp ý nghĩa trong chiều sâu kiến trúc của văn bản

tự sự

Joseph Conrad được đánh giá là một trong những tác gia vĩ đại nhất của nền văn học Anh quốc, ông có khả năng bậc thầy trong việc tạo tổng thể văn xuôi, phong cách tự sự, xây dựng nhân vật và mô tả tâm lý nhân vật, những sáng tác của Joseph Conrad có ảnh hưởng đến nhiều cây bút khác sau này như

TS Eliot, F Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway hay William Faulker Tuy được đánh giá khá cao ở thi đàn thế giới song đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học trong nước thì Joseph Conrad còn là một cái tên khá mới mẻ và có khá ít những nghiên cứu về tác giả này cũng như những tác phẩm của ông

Vì ít được chú ý đến nên tuy có một sự nghiệp sáng tác cũng khá đồ sộ song tình hình dịch thuật những tác phẩm của Joseph Conrad ở Việt Nam vẫn còn khá hạn chế Cuốn sách được dịch và được đọc nhiều nhất hiện nay là cuốn

Giữa lòng tăm tối (Heart of Darkness), đây cũng là cuốn tiểu thuyết được cho là

một trong những tác phẩm hay nhất của Joseph Conrad Là một tác phẩm độc đáo nhưng nó gần như bị lãng quên đối với giới nghiên cứu, đọc tác phẩm người đọc dễ dàng bị choáng ngợp bởi bút lực của Joseph Conrad, từ điểm nhìn, ngôi

kể cho đến nhân vật nghệ thuật trong tác phẩm đều thể hiện rõ tài năng trong việc thể hiện phong cách tự sự của tác giả

Trang 6

Từ những lí do trên chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Giữa lòng tăm tối (Heart of Darkness) của Joseph Conrad để thông qua việc phân tích tác phẩm này ta càng hiểu rõ hơn về lý

thuyết cũng như sự linh hoạt trong cách thể hiện của nghệ thuật trần thuật đối với một tác phẩm văn học Trên tinh thần thừa kế những lý thuyết, quan điểm về nghệ thuật trần thuật của những bài nghiên cứu đi trước, chúng tôi xin mạnh dạn

đưa ra những quan điểm của mình thông qua luận văn này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Một số bài viết liên quan đến vấn đề nghệ thuật trần thuật

Nghệ thuật trần thuật là một vấn đề đã được đề cập từ rất lâu trước đây, không chỉ với giới nghiên cứu – phê bình văn học mà còn với cả những người làm công việc sáng tác Trần thuật đóng vai trò quan trọng để hình thành một tác phẩm văn học Nếu nhà văn nắm bắt nghệ thuật trần thuật vững thì họ dễ dàng tạo ra những áng văn kiệt xuất, còn nếu các nhà nghiên cứu – phê bình có một nền tảng vững chắc về nghệ thuật trần thuật cũng như hiểu rõ những vấn đề liên quan đến nó thì hướng nghiên cứu, hiểu thấu đáo một tác phẩm nghệ thuật sẽ sâu sắc hơn, họ sẽ nhạy bén hơn trong việc bắt được ý đồ nghệ thuật mà nhà văn muốn truyền tải Từ những lí do đó mà đã từ lâu việc thúc đẩy nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật đã trở thành vấn đề được quan tâm không chỉ ở nước ta mà trên cả thế giới

Người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật trần thuật chính là Aristote khi

ông cho ra đời thuật ngữ épos về sau được tạm dịch là tự sự Từ đó đến hay đã

có không ít những bài nghiên cứu, bình luận về thuật ngữ “trần thuật”, “trần thuật học” hay “tự sự học” cũng như những vấn đề liên quan đến chúng Từ những nghiên cứu của các nhà bác học trên thế giới đến cả những bài viết trong nước đều rất nhiều Do có nhiều hạn chế về mặt ngôn ngữ cũng như tài liệu nước ngoài nên ở đây chúng tôi xin chỉ đưa ra một số bài nghiên cứu tiêu biểu

Trong công trình nghiên cứu của tác giả V.I.Chiupa về Trần thuật học như

là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật đã được Lã Nguyên dịch lại là sự tóm

tắt những ý nghĩa cũng như khái niệm sơ lược của trần thuật học: “Trần thuật học hiện đại là lãnh địa khoa học cực kì rộng lớn, nó nghiên cứu khu vực phát

Trang 7

ngôn (diễn ngôn) có tính truyện kể – trần thuật gắn với việc tổ chức một câu

chuyện nào đó (câu chuyện, mẹo luật)” [26] Công trình còn là sự tổng hợp ý kiến của nhiều nhà trần thuật học về những vấn đề xoay quanh bản mệnh lí thuyết trần thuật học hiện đại hay những vấn đề trung tâm của trần thuật học để chứng minh mối quan hệ giữa trần thuật học với thi pháp học và tu từ học để từ

đó dẫn giải cho bản chất giao tiếp của việc chiếm lĩnh sự kiện theo kiểu kiến tạo

trong văn bản Để chốt lại vấn đề Trần thuật học tác giả đã dẫn ý kiến của A.C

Danto: “Mọi truyện kể đều là cấu trúc nối kết các sự kiện, nhóm chúng lại với nhau và gạt bỏ những sự kiện không cần thiết” [Dẫn theo 26]

Trên cơ sở những ý kiến từ các học giả nước ngoài, các nhà lí luận – phê bình ở Việt Nam cũng đưa ra những ý kiến riêng về nghệ thuật trần thuật Ở bài

viết Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết tác giả Trần Minh Đức đã tập

trung giới thiệu khái niệm về tiểu thuyết cùng với những đặc điểm của nó:

“Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách Với đặc điểm đó, trần thuật trong tiểu thuyết là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại” [28], hơn thế nữa nhà nghiên cứu còn đi vào phân tích thuật ngữ “trần thuật” Trên cơ sở nhận diện về tính năng của nội hàm thuật ngữ khái niệm, tác giả chỉ ra được rằng: “trần thuật tồn tại với nội dung trần thuật và hình thức trần thuật” [28] Không dừng lại ở đó, tác giả Trần Minh Đức còn chỉ ra được những yếu tố quan trọng, đặc trưng của tiểu thuyết là: người trần thuật (narrator), giọng điệu trần thuật (narrative tone) và ngôn ngữ trần thuật (narrative language) Tóm lại bài viết, tác giả một lần nữa khẳng định: trần thuật

là một vấn đề thuộc thi pháp thể loại tiểu thuyết đồng thời nhấn mạnh đổi mới trần thuật chính là hướng đi của văn xuôi đương đại

Nhắc đến những bài nghiên cứu hay những nhà nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật trong nước ta không thể bỏ qua tác giả Trần Đình Sử - người chủ biên

của hai cuốn sách Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử tập 1 và tập 2 Hai

cuốn sách là tập hợp rất nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau về những vấn đề của Tự sự học hay những ứng dụng của Tự sự học và Trần thuật

Trang 8

học trong việc nghiên cứu về các tác phẩm văn học, thông qua những kênh thông tin tiêu biểu: nhân vật, ngôn ngữ, điểm nhìn, giọng điệu, Ta có thể trích dẫn một số bài viết tiêu biểu trong đó:

Ở cuốn Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử (tập 1) có bài viết của Giáo sư Lại Nguyên Ân với tiêu đề Về việc mở ra môn Trần thuật học trong

ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam Ở bài viết, tác giả đã tán thành với việc

mở ra bộ môn Trần thuật học trong nghiên cứu văn học ở nước ta: “Về nguyên

tắc, tôi tán thành và xin được nhiệt liệt cổ vũ cho việc mở ra bộ môn Trần thuật

học trong nghiên cứu văn học ở nước ta, phát triển nó cả trong việc tìm tòi, học

hỏi xây dựng lí thuyết lẫn nghiên cứu thực tiễn văn học sử” [Dẫn theo 22, tr.132] Ở bài viết này tác giả đã tập trung đi vào phân tích sự khác biệt của hai thuật ngữ “trần thuật” và “tự sự” cùng với đó, tác giả tập trung phân tích lịch sử hình thành và phát triển của bộ môn Trần thuật học từ những khuynh hướng đầu tiên ở châu Âu thông qua việc chỉ ra những tên tuổi chủ chốt của Trần thuật học như: R Barthes, L Dolezvel, G.Gentte, M Bal, W Sehmidt, G Prince, S Chatman, J Lintvelt, Chốt lại bài viết, tác giả chỉ ra những hướng để bộ môn Trần thuật học có thể phát triển một cách hiệu quả nhất đối với nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam

Cũng ở cuốn Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử (tập 1), bài viết

Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện của tác

giả Nguyễn Thái Hòa cũng khá hữu ích cho vấn đề nghiên cứu của bài viết chúng tôi Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những khái niệm về tên gọi cũng như những quan niệm về điểm nhìn theo Nguyễn Thái Hòa: “Cụm từ “le point de vue” (tiếng Pháp), “the point of view”, “the out look” (tiếng Anh) và “quan điểm” được dùng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, có ý nghĩa

là điểm hay chỗ đứng để xem xét, bình giá một sự vật, một sự kiện, một hiện tượng tự nhiên hay xã hội” [Dẫn theo 22, tr 76] Điểm nổi bật của bài viết này chính là việc tác giả liệt kê ra những loại điểm nhìn khác nhau trong truyện:

“Góc nhìn”, “cái nhìn” trong nghệ thuật học; Điểm nhìn và “dạng” (thể, diện);

“Điểm nhìn”, “tiêu điểm tự sự” và “tiêu điểm”; Sự phân loại này đã cơ bản

Trang 9

giúp phân biệt được “điểm nhìn” trong lời giao tiếp và “điểm nhìn nghệ thuật” trong văn bản tự sự

Cũng thuộc hai tập sách do Trần Đình Sử chủ biên, bài viết của Giáo sư

Phương Lựu về Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật là sự tổng hợp ý kiến về

vấn đề điểm nhìn của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia và trong nhiều thời

kì khác nhau Ở cuốn bài viết, là sự tổng kết của tác giả Phương Lựu về vấn đề

“góc nhìn trần thuật”: “Tuy có nhiều ý kiến, nhưng cũng có nhiều khía cạnh giao thoa với các điều nói ở trên cùng Đặc biệt với tư cách là nhà tự sự học nổi tiếng,

G Genette tuy dùng thuật ngữ khác (tiêu điểm) hợp lí hơn, nhưng về nội dung khái niệm thì vẫn tương ứng với cách phân ba loại vốn có (Góc nhìn biết hết, bên trong, bên ngoài), chứng tỏ ba loại này là cơ bản nhất, song nên bổ sung ý kiến hợp lí của các vị khác” [Dẫn theo 21, tr 195]

Trong nghiên cứu văn học ở cấp độ sinh viên hay những bài luận chuyên ngành việc nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật cũng khá phổ biến Nhiều bài nghiên cứu đã áp dụng nghệ thuật trần thuật để đi sâu phân tích tác phẩm

Ở luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

(2008) của Võ Thị Mỹ Hạnh, lấy đề tài là Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết

Lê Lựu [29] tác giả đã áp dụng triệt đễ những vấn đề lí luận của trần thuật để đi

sâu làm sáng tỏ được nhiều vấn đề trong tiểu thuyết của nhà văn Lê Lựu

Cũng sử dụng nghệ thuật trần thuật, nhưng ở khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (2013) của sinh viên Trần Thị Hằng được nghiên cứu

ở một mức độ thấp hơn, phù hợp với trình độ sinh viên Tác giả bài viết tập trung

đi vào nghiên cứu vấn đề Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Huy Thiệp qua

truyện ngắn Con gái thủy thần và Những ngọn gió hua tát Cũng đi vào tìm hiểu

những vấn đề cơ bản của nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, như: cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ

Hiện nay, những nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật có thể đã lên đến hàng trăm ngàn, từ những bài nghiên cứu có tính đóng góp lớn về khoa học của những nhà nghiên cứu hàng đầu cho đến những bài luận ở cấp độ nghiên cứu sinh dù thuộc bất cứ loại nào thì ở mỗi bài viết đều ít nhiều có tính đóng góp cho khoa học nghiên cứu về vấn đề nghệ thuật trần thuật Thông qua một số bài viết tiêu

Trang 10

biểu đã được đề cập ở trên chúng tôi thấy rằng Trần thuật học cũng như những vấn đề liên quan đến trần thuật thực sự là một lĩnh vực có quy mô khá rộng và phong phú, bên cạnh đó ta còn thấy rằng không chỉ ở nước ngoài mà ở Việt Nam nghệ thuật trần thuật đã có một vị trí khá quan trọng đối với giới nghiên cứu – phê bình văn học Những bài nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý giá và bôt ích, góp phần bổ sung, củng cố vốn kiến thức lí luận về nghệ thuật trần làm cơ sở để chúng tôi thực hiện công việc nghiên cứu cho đề tài của mình được dễ dàng hơn

2.2 Một số bài viết liên quan đến vấn đề tác giả - tác phẩm

Có lịch sử lâu đời, kho tàng văn học Anh khá đồ sộ với nhiều thể loại trong nhiều thời kì khác nhau Ở thời trung đại văn học Anh được biết đến chủ yếu thông qua những tác phẩm kịch hay những anh hùng ca Đến thời kì văn học hiện đại, chịu nhiều ảnh hưởng từ các nguồn tư tưởng khác nhau văn học Anh đã

có nhiều bước chuyển biến mới mẻ Trong những luồng tư tưởng đó phải kể đến là: ý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn, của chính trị gia Karl Marx, thuyết phân tâm học - Sigmund Freud, các xu hướng nghệ thuật như trường phái ấn tượng, và sau

đó là trường phái lập thể, Đây được xem là một trong những thời kì nở rộ nhất của văn học Anh Trong quá trình phát triển, nhiều nhà văn Anh đã trở thành lực lượng tiên phong phong trào đổi mới tiểu thuyết hiện đại Chính trong thời kì này văn học Anh với sự xuất hiện của nhiều trào lưu văn học đã làm đòn bẩy cho

sự xuất hiện của nhiều thể loại văn học và hàng loạt tác phẩm đã lưu danh của nhiều nhà văn

Nhắc đến văn học Anh, bên cạnh việc kể ra những thành quả của những nhà văn có quốc tịch Anh ta cũng không thể bỏ qua những đóng góp không hề nhỏ của bộ phận những nhà văn không phải là người Anh nhưng lại sáng tác bằng ngôn ngữ Anh, chẳng hạn: Joseph Conrad là người Ba Lan, Robert Burns

là người Scotland, James Joyce là người Ireland, Dylan Thomas thuộc xứ Wales, Edgar Allan Poe là người Mỹ, Salman Rushdie là người Ấn Độ, Vladimir Nabokov là người Nga Nói một cách chính xác nhất thì văn học Anh bao gồm là sáng tác của tất cả những người nói tiếng Anh trên toàn thế giới

Trong số đó không thể không kể đến nhà văn gốc Ba Lan – Joseph Conrad, tuy chỉ bắt đầu sáng tác sau khi ông gần như dứt hẳn với sự nghiệp sông nước

Trang 11

của mình nhưng những gì Joseph Conrad để lại cho đời rất đáng được ghi nhận Những đứa con tinh thần của Conrad khi mới ra đời chỉ là những mẫu chuyện nhỏ được đăng trên tạp chí nên chưa nhận được sự quan tâm nhiều từ phía bạn đọc cũng như giới nghiên cứu – phê bình nhưng sau khi được tác giả tái bản với những tập tiểu thuyết hoàn chỉnh những sáng tác của Conrad đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ độc giả và trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất thế kỉ XX, với những giá trị vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn đến tận ngày nay Tuy nhiên, các sáng tác của Joseph Conrad được dịch sang tiếng Việt hiện nay là rất ít, hầu như đến bây giờ tác phẩm của ông được nhiều độc giả Việt

Nam biết đến nhất chỉ có Giữa lòng tăm tối Điều này ảnh hưởng không ít đến

việc nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá trong bài viết này của chúng tôi

Cho đến hiện nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào

về nhà văn Joseph Conrad và tác phẩm Giữa lòng tăm tối của ông Hầu hết các

bài viết chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu qua về cuộc đời nhà văn và đánh giá

chung về nội dung chính của tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối (Heart of Darkness) -

tác phẩm được xem là thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Conrad

Trong bài viết “Giữa lòng tăm tối” – một ảo tưởng của thời đại, tác giả Vũ

Việt Nga đã đánh giá Joseph Conrad là “bậc thầy của nghệ thuật tạo tổng thể văn xuôi, phong cách tự sự, xây dựng nhân vật và mô tả tâm lý” [34] Cùng với việc

nên tóm tắt lại nội dung tác phẩm Giữa lòng tăm tối, bài viết còn đưa ra những ý

kiến trái chiều đối với tác phẩm kiệt xuất này của Conrad: có người thì tung hô nhưng cũng có người lên ác tác phẩm bởi sự Phân biệt chủng tộc nặng nề được nhà văn đề cập đến trong toàn bộ tác phẩm

Ở một bài viết khác, cũng chỉ ra những vấn đề tương tự nhưng Giữa lòng

tăm tối (Joseph Conrad) – Chuyến viễn du vào cõi hỗn mang [32] còn nhắc đến

một vấn đề nữa đó là giai đoạn lịch sử mà tác phẩm ra đời, đó là giai đoạn cuối thế kỉ XIX khi mà chủ nghĩa Thực dân đang leo thang, với những kẻ cai trị tham lam cố gắng vơ vét, khai phá những vùng đất mới trong đó có châu Phi

Trang 12

Ngoài ra ta còn phải kể đến bộ phim Apocalypse now redux của Francis

Ford Coppola, bộ phim chính là bản chuyển thể điện ảnh của cuốn tiểu thuyết

Giữa lòng tăm tối Trung thành với nguyên tác song, bộ phim thay vì lấy bối

cảnh ở trung tâm tăm tối châu Phi tác giả bộ phim đã quyết định sử dụng bối cảnh chiến tranh Việt Nam nhưng những tăm tối, mơ hồ của nguyên tác vẫn được bộ phim giữ lại khá trọn vẹn

Nhìn chung, các bài viết về tác giả Joseph Conrad và tác phẩm Giữa lòng

tăm tối được kể ở trên chỉ dừng lại ở việc đi vào giới thiệu sơ lượt về cuộc đời

nhà văn và nội dung chính của cuốn tiểu thuyết mà chưa hề có một cái nhìn chuyên sâu về mặt hình thức sáng tác, cấu trúc thể hiện của tác phẩm Gần như chưa có bài nghiên cứu nào viết về Joseph Conrad hay những sáng tác của ông nhưng những nổ lực cách tân, sáng tạo trong tiểu thuyết của Conrad rất đáng được ghi nhận Những ảnh hưởng trong lối viết của Joseph Conrad đến các nhà tiểu thuyết về sau là rất lớn Vì vậy, tuy có phần thách thức nhưng chúng tôi vẫn

quyết định lựa chọn việc tìm hiểu về tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối của Joseph

Conrad trên nền tảng của nghệ thuật trần thuật, để góp phần khẳng định tài năng, tên tuổi của Conrad trong nền văn học viết bằng ngôn ngữ Anh cũng như gợi ý thêm nhiều hướng nghiên cứu mới cho những bài nghiên cứu sau này

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Joseph Conrad, từ đó thấy được những cách tân, sáng tạo trong phương thức sáng tác và tư duy nghệ thuật của Conrad trong việc viết tiểu thuyết và những đóng góp của Conrad đối với nền văn học Anh nói riêng và văn học thế giới nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Tìm hiểu những lí luận cơ bản về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Đây là nhiệm vụ cần thiết, tạo nền tảng và cơ sở để người viết thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo

Trang 13

Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối của

Joseph Conrad, qua đó thấy được những nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, điểm nhìn cũng như giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Conrad

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Giữa lòng tăm tối (heart of darkness) của Joseph Conrad Cụ

thể, chúng tôi đi vào khảo sát một số phương diện cơ bản như cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn trần thuật và giọng điệu trần thuật nhằm làm sáng tỏ những nét đặc sắc về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Joseph Conrad

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ở đề tài này chúng tôi đã chọn tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối của Joseph

Conrad vì vậy ở phạm vi khóa luận chúng tôi chỉ đi vào làm sáng tỏ những vấn

đề trần thuật ở tác phẩm nói trên, đồng thời chỉ ra những nét độc đáo của nghệ thuật trần thuật chỉ có trong tiểu thuyết mà không có ở các thể loại khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu bất cứ một đề tài khoa học nào thì vấn đề phương pháp luôn được đặt ra như một yêu cầu quan trọng nhất Với đề tài khoa học này, chúng tôi

sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp phân tích

 Phương pháp hệ thống

 Phương pháp thống kê

6 Đóng góp của khóa luận

Thông qua việc thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn đề xuất những một hướng tiếp cận mới về tiểu thuyêt của Joseph Conrad từ phương diện trần thuật

Từ đó, chỉ ra sự độc đáo của phong cách tác phẩm và tác giả Trên cơ sở những kết quả thu được, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần giúp độc giả hiểu sâu sắc hơn

các giá trị trong tác phẩm Giữa lòng tăm tối của Joseph Conrad, đồng thời nhận

Trang 14

ra tài năng cũng như những đóng góp to lớn của Joseph Conrad trong tiến trình vận động không ngừng của văn học thế giới

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc gồm ba chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận chung

 Chương 2: Xây dựng cốt truyện và điểm nhìn trần thuật trong tiểu

thuyết Giữa lòng tăm tối của Joseph Conrad

 Chương 3: Tổ chức nhân vật và giọng điệu trần thuật trong tiểu

thuyết Giữa lòng tăm tối của Joseph Conrad

Trang 15

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Nghệ thuật trần thuật

1.1.1 Khái niệm trần thuật

Trần thuật vốn không còn là một khái niệm quá xa lạ đối với những người biết về nghiên cứu và lí luận văn học, ngay từ đầu thế khỉ XX, trần thuật đã là một vấn đề lý thuyết tự sự thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia trên thế giới Từ đó đến hay lý luận trần thuật đã đạt được nhiều thành quả quan trọng Đầu tiên phải kể đến là các nhà nghiên cứu Nga (V Propp, V Shklovski, Eikhenbaum, M Bakhtin, ), các nghiên cứu về loại hình trần thuật của các học giả Đức (E Leibfried, W Fuger, K Friedman, O Ludwig, ) hay những lý luận của các học giả Iu Lotman và B Uspenski

Cũng giống như các nước khác trên thế giới, ở Việt Nam, trần thuật là một phạm trù lí thuyết nhận được rất nhiều sự quan tâm từ giới nghiên cứu Do được

sử dụng rộng rãi nên thuật ngữ “trần thuật” ở mỗi cá nhân lại có một cách hiểu cũng như cách giải thích riêng Trong phạm vi của khóa luận này chúng tôi xin được viện dẫn ra một số định nghĩa, khái niệm tiêu biểu và nhận được nhiều sự tán thành hơn cả

Trong Giáo trình lí luận văn học (tập 2), giáo sư Trần Đình Sử cho rằng:

“Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện, nhân vật theo một thứ

tự nhất định” [20, tr 59], “trần thuật có thể được thể hiện bằng các phương tiện phi ngôn ngữ như diễn viên biển diễn trên sân khấu, phim ảnh dùng hình ảnh, âm nhạc dùng âm thanh, hội họa dùng đường nét ” [20, tr 59]

Ở bài viết Về việc mở ra môn “Trần thuật học” trong ngành nghiên cứu

văn học ở Việt Nam, tác giả Lại Nguyên Ân nhận xét: “Trần thuật (narration) chỉ

là phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc loại văn học tự sự (tương tự, trầm tư/ méditation/ đặc trưng cho văn học trữ tình, đối thoại đặc trưng cho văn học kịch) [Dẫn theo 22, tr 132] Cũng vẫn là quan điểm về trần

thuật, ở cuốn 150 Thuật ngữ văn học tác giả Lại Nguyên Ân còn bổ sung thêm:

Trang 16

“Trần thuật bao gồm việc kể và miêu tả các hành động và các biến cố trong thời gian; mô tả chân dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất, v.v ; bàn luận; lời nói bán trực tiếp của các nhân vật Do vậy trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo tác phẩm tự sự” [2, tr 337]

Trên tinh thần gặp gỡ với những đinh nghĩa, khái niệm đã nêu trên, trong

cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc

Phi đồng chủ biên đã xem trần thuật là “phương diện cơ bản của phương thức tự

sự, là việc giới thiệu, khái quát thuyết minh miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định Vai trò của trần thuật rất lớn” [17, Tr 307]

Từ những nhận định trên ta có thể thấy rằng, trần thuật thực chất là hoạt động kể, thuật lại những vấn đề được đề cập đến trong một tác phẩm theo một cách nhìn nào đó, ở đó trần thuật luôn luôn gắn liền với bố cục và kết cấu tác phẩm Ngoài ra, có thể thấy rằng khái niệm trần thuật và khái niệm kể chuyện có thể thay thế cho nhau và chúng được diễn đạt bằng các từ ngữ mang tính cụ thể như: người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể,

Mỗi người nghệ sĩ luôn muốn tạo ra cho mình một màu sắc riêng trong sự nghiệp sáng tác và trần thuật chính là bằng chứng cho trình độ vượt thoát của người nghệ sĩ, ở đó người nghệ sĩ có thể khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo của mình Do đó, trần thuật trong một tác phẩm truyện ngắn sẽ khác với trần thuật trong một tác phẩm tự truyện, một tiểu thuyết hay một tác phẩm ký Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách Với đặc điểm đó, trần thuật trong tiểu thuyết là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại

Như vậy, nhìn chung trần thuật là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Qua việc tìm hiểu về thuộc tính, bản chất cũng như đặc trưng của thuật ngữ khái niệm này chúng tôi đi đến cách hiểu: trần thuật là một phương thức nghệ thuật, nó là hạt nhân cơ bản của tự sự học, là yếu

tố quan trọng tạo nên diện mạo của tác phẩm tự sự ở cả hai phương diện nội

Trang 17

dung và hình thức, trần thuật có những hoạt động chủ yếu là kể lại, thuật lại những sự kiện, con người, hoàn cảnh theo một thứ tự nhất định, dưới một góc nhìn cụ thể Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của một tác phẩm giúp ta có cơ sở

để khẳng định giá trị tác phẩm đồng thời khẳng định được tài năng của người nghệ sĩ và những gì họ đã đóng góp cho tiến trình phát triển của văn học

1.1.2 Trần thuật trong mối quan hệ với các yếu tố khác

Đi sâu nghiên cứu về phạm trù trần thuật ta sẽ nhận ra rằng giữa trần thuật học và tự sự học luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, lý thuyết của tự sự hiện đại cho ta thấy người trần thuật đã can dự vào tiến trình tự sự như thế nào từ hình thức đến bình luận

Giáo sư Trần Đăng Suyền đã từng khẳng định: “Trần thuật là một phương thức cơ bản của tự sự, một yếu tố quan trọng tạo nên hình thức một tác phẩm văn học Cái hay, sức hấp dẫn của một truyện ngắn hay tiểu thuyết phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật kể chuyện của nhà văn” [Dẫn theo 27, tr 17] Do đó, giữa trần thuật và các yếu tố khác cấu thành nên một tác phẩm nghệ thuật thường có mối quan hệ mật thiết với nhau

Trần thuật đòi hỏi phải có sự xuất hiện của người kể, người thổ lộ Chủ thể của lời kể trong thơ trữ tình là nhân vật trữ tình, người kể trong truyện được gọi

là người kể chuyện Ngoài ra, trần thuật còn phải xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và nhân vật Như vậy, có hai yếu tố quy định trần thuật: người kể chuyện và chuỗi ngôn từ Từ người kể chuyện ta có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật Từ chuỗi ngôn từ ta có thể kể đến các yếu tố: lượt thuật, dự báo, phân tích bình luận, giọng điệu, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số yếu tố tiêu biểu thuộc phương thức sáng tác của Joseph Conrad và đặc biệt là những yếu tố tiêu biểu trong tác phẩm

Giữa lòng tăm tối Vì thế chúng tôi tiến hành xác lập những khái niệm cơ bản có

liên quan đến những vấn đề nằm trong phạm vi nghiên cứu

1.1.2.1 Cốt truyện

Yếu tố đầu tiên để tạo nên một tác phẩm tự sự chính là việc xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh Trong một tác phẩm, cốt truyện thường thực hiện những chức năng hết sức quan trọng: một là gắn kết các sự kiện thành một chuỗi và tạo

Trang 18

thành lịch sử của nhân vật; hai là bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con người;

ba là tạo ý nghĩa về nhân sinh Cốt truyện chính là cái khung để bảo đảm cho sự vững chắc của một tác phẩm nghệ thuật

Từ những năm đầu của thế kỉ XIX, nhà văn khi bắt tay vào sáng tác một tác phẩm nghệ thuật, là lúc anh ta đã có được một cốt truyện độc đáo, mang màu sắc riêng của cá nhân anh ta Về cơ bản, từ những văn bản tự sự đầu tiên, cốt truyện

tự sự đã tuân theo những quy tắc nhất định: có truyện để kể và phải có kịch tính Trong suốt một thời gian dài đã có nhiều sự hiểu lầm giữa truyện (story) và cốt truyện (plot), thực chất nếu đi sâu phân tích ta sẽ thấy giữa hai yếu tố này có nhiều điểm khác nhau, cốt truyện là sự sắp xếp, sâu chuỗi các sự kiện trong khi

truyện chỉ là chuỗi các sự kiện Theo giáo sư Lê Huy Bắc trong bài viết Cốt

truyện trong tự sự đã định nghĩa: “cốt truyện là sự sắp xếp thẩm mĩ, không tuân

theo trật tự biên niên của sự kiện và quan hệ nhân quả nghiêm ngặt, thống nhất theo ý đồ chủ quan của người kể về những sự kiện của một câu chuyện nào đó, nhằm mục đích nêu bật được tư tưởng chủ đề và tạo sức hấp dẫn tối đa tới người đọc” [4, tr 35] Từ đó để thấy rằng để có một tác phẩm hay thì đầu tiên người nghệ sĩ cần phải có một cốt truyện hấp dẫn, cốt truyện chính là đường dẫn đưa người đọc đi vào tác phẩm theo đúng với ý đồ của tác giả nhất, nếu cốt truyện không vững thì câu chuyện khó mà những ý đồ tác giả gửi gắm trong tác phẩm

có thể đến được với người đọc

Khi nhắc đến lịch sử nghiên cứu về cốt truyện có lẽ người đầu tiên chính là Aristote, từ những thuật ngữ đầu tiên mà ông đưa ra không hoàn toàn giống với cốt truyện hiện đại, song về cơ bản có thể nói Aristote chính là người đầu tiên đặt nền móng cho khái niệm cốt truyện Ông chia cốt truyện làm ba phần: đầu, giữa và kết Phần đầu giới thiệu hành động chính theo cách nào đó để người đọc háo hức chờ đợi diễn biến tiếp theo Phần giữa kết thúc sự kiện trước đó và gợi dẫn cho sự kiện tiếp theo Phần kết là sự tiếp nối của những gì đã xảy ra trước

đó, không gợi dẫn cho sự kiện tiếp mà tạo ra kết thúc nhằm thỏa mãn nhu cầu nghệ thuật của người đọc

Trãi qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, cốt truyện cũng có nhiều sự phát triển, tiếp biến và thay đổi đáng kể, theo quan điểm cá nhân mà mỗi nhà

Trang 19

nghiên cứu có cách định nghĩa khác nhau Theo cuốn 150 Thuật ngữ văn học, tác

giả Lại Nguyên Ân bên cạnh những phân tích đi sâu về bản thân thuật ngữ “cốt truyện” hay các phân loại cốt truyện thì tác giả đã có một quan niệm khái quát cho cốt truyện: “sự phát triển hành động; tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” [2, tr 112] Còn với

Từ điển thuật ngữ văn học lại có nhận định: “Hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ

chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại

tự sự và kịch” [17, tr 88]

Cũng nói về cốt truyện, B.V Tomasepski đã có ý kiến rằng: “Cốt truyện là toàn bộ các sự kiện nối tiếp với nhau được thông báo trong tác phẩm < > Cốt truyện đối lập với truyện kể: tức là chính các sự kiện ấy, nhưng trong sự trần thuật chung, theo trật tự mà trong tác phẩm chúng đã được thông báo, trong mối liên hệ mà ở tác phẩm, sự thông báo về chúng đã tạo ra” [Dẫn theo 16, tr 197] Hơn thế nữa, do việc đi sâu nghiên cứu đối với cốt truyện là vấn đề nhận được khá nhiều sự quan tâm nên cốt truyện ngày một phong phú về kiểu loại tùy thuộc từng thể loại văn học Bằng những hiểu biết của mình, giáo sư Lê Huy Bắc đã đưa ra một bản phân loại các kiểu cốt truyện chung nhất cho loại hình tự sự:

Cốt truyện phiêu lưu, được lắp ghép từ nhiều mẫu chuyện nhỏ, quan hệ giữa chúng rất lỏng lẻo, kịch tính sự kiện được chú trọng, ra đời từ thời cổ đại

Herakles (thần thoại), Don Quixote

(M Cervantes),

Tam quốc (La Quán

Trung), Huck Finn (Mark Twain), Số

đỏ (Vũ Trọng

Phụng),

Trang 20

Cốt truyện liền mạch

(Chronological plot)

Các sự kiện quan hệ theo mạch nhân quả, được triển khai liên tục, đầy kịch tính cho đến hết truyện, ra đời

Ra đời từ thời cổ đại

và phát triển đến thời hậu hiện đại thế kỉ XXI, đan xen lẫn lộn các yếu tố hoang đường với yếu tố thật

Con tim mách bảo

(E.A Poe), Biến

dạng (F Kafka), Trăm năm cô đơn

(R Carver),

Cốt truyện mảnh ghét (Fragment plot)

Được ghép từ nhiều mảnh nhỏ lại với nhau thông qua (hoặc được gọi lên từ) một

đề tài, tư tưởng chủ

đề, cốt truyện này bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỉ XX

(Hypertext plot)

Dựa vào công nghệ tạo file của vi tính, nhà văn kết cấu văn bản thành những file nhỏ, thường được đánh số, người đọc

có thể tự do ghép các file này với nhau để tạo thành các văn bản

Người trông trẻ

(Robert Coover),

Trang 21

khác nhau, cốt truyện này bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỉ XX Cốt truyện

tuyến tính (Linear plot)

Tự sự theo mạch thời gian, chuyện gì trước

kể trước, quan hệ nhân quả được duy trì, kịch tính được chú trọng, ra đời từ thời cổ đại

Tấm Cám, Lão Hạc

(Nam Cao), Cố

hương (Lỗ Tấn), Gimpel thằng ngốc

(I Singer),

Cốt truyện khung (Frame plot)

Được kể theo lối truyện lồng trong truyện, người kể đóng vai trò là người

kể lại câu chuyện của người khác, như thế

sẽ có hai người kể, tính khách quan được chú trọng, bắt đầu xuất hiện từ thời trung đại

Nghìn lẻ một đêm, Mười ngày

(Boccaaaio), Người

trong bao (Anton

Chekhov),

Cốt truyện gấp khúc

(Zigzag plot)

Thời gian bị đảo ngược và nhảy cóc trong mạch tự sự, nhiều đoạn hồi cố được đan xen, tạo nên tính đồng hiện ngẫu nhiên và lỏng lẻo của cốt truyện, xuất hiện đầu thế kỉ

Đi tìm thời gian đã mất (M Proust),

Âm thanh và cuồng

nộ (W Faulkner), Công viên của những lối đi rẽ hai ngã (J Borges),

Trang 22

XX

3 Nhân vật

(Charecter)

Cốt truyện đơn tuyến (Simple plot)

Cốt truyện chỉ có một nhân vật chính, đặt trong mối quan hệ với tất cả các nhân vật khác, thường hướng về một chủ đề,

dễ đọc và dễ theo dõi mạch nội dung, tư tưởng (thế kỉ XIX trở

về trước), khó nắm bắt hết các tầng bậc ý nghĩa của văn bản (từ thế kỉ XX)

Sọ dừa, Cây tre trăm đốt, Nhóm lửa

(Complex plot)

Cốt truyện có từ hai nhân vật chính (hoặc nhân vật trung tâm) trở lên Những nhân vật này đảm đương một tuyến cốt truyện nhằm thể hiện một hay nhiều chủ đề nào

đó, ra đời từ thời Phục hưng

Dostoievski),

Cốt truyện hành động (Active plot)

Không miêu tả tâm lý nhân vật, loạt cốt truyện ra đời từ rất sớm trong lịch sử tự

sự, đây là đặc trưng của cốt truyện thần

Thánh Gióng, An Dương Vương, Iliad, Odyseus

(Homer),

Trang 23

thoại, sử thi và cổ tích

Cốt truyện tâm

lý (Psychological plot)

Truyện được triển khai dựa trên tâm lí nhân vật với những bức xúc, dằn vặt nội tâm, sự vận động nội tâm, đó là cơ sở thúc đẩy truyện phát triển, xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX

Cốt truyện đặc trưng cho tự sự hiện đại thế

kỉ XX Điểm tựa để

kể là thế giới nội tâm bao la với vô vàn những ẩn ức và suy nghĩ quá khứ, thực tại chồng chéo

tố nổi bật nhất của cốt truyện chính là tạo kịch tính

Thông qua bảng phân loại của giáo sư Lê Huy Bắc, chúng tôi đánh giá rằng: từ hình thức cốt truyện đơn giản ban đầu, bằng sự sáng tạo không ngừng của người nghệ sĩ cốt truyện ngày một xuất hiện nhiều kiểu loại khác nhau, tạo

Trang 24

cho văn bản nghệ thuật nhiều sự biến đổi và không ngừng phát triển Mặc dù theo giáo sư Lê Huy Bắc đánh giá bảng phân loại đó chỉ mang tính tương đối, bởi giữa các kiểu cốt truyện luôn có sự giao thoa với nhau nhưng chính sự phân chia như vậy làm ta dễ dàng hơn trong việc nhận diện một tác phẩm văn học, đặc biệt đối với một người nghiên cứu việc nhận diện một tác phẩm văn học là điều cần thiết nếu muốn đi sâu hơn vào thế giới nghệ thuật bên trong nó

đề cập đến điểm nhìn trong tiểu thuyết Từ những năm bốn mươi trở đi, vấn đề được nghiên cứu sâu hơn với M Scholer, Tz Todorop, G.Genette Các tác giả từ những năm hai mươi như B.Tomasepxki, M Bakhtin, V Vinoogradop cũng bàn

về điểm nhìn văn bản

Thuật ngữ điểm nhìn được định danh bằng nhiều từ khác nhau trong nhiều tài liệu, chẳng hạn viewpoint, view, point of view, vision, Thực tế cho thấy, các nhà lý luận phê bình cũng sử dụng rất nhiều những thuật ngữ khác nhau để cùng nói về vấn đề này Chẳng hạn, với Henry James là trung tâm của nhận thức (centre of consciousness), Percy Lubbock: điểm nhìn (Point of view), Jean Pouillon: tầm nhìn (vision), Allen Tate: vị trí quan sát (post of obesevation), Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng khái niệm điểm nhìn dễ hiểu hơn

và nội dung phong phú hơn, nó không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học như khái niệm tiêu cự, tụ tiêu mà còn mang nội dung quan điểm, lập trường tư tưởng,

tâm lý con người Cũng nói về khái niệm điểm nhìn, nhưng ở cuốn Giáo trình lý

luận văn học (tập 2) giáo sư Trần Đình Sử nêu một cách khái quát, rõ ràng hơn:

“Người kể chỉ có thể kể được những điều họ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy trong không gian, thời gian Vì thế điểm nhìn thể hiện vị trí người kể dựa vào để quan sát trần thuật các nhân vật và sự kiện” [18, tr 61]

Trang 25

Có thể dẫn ra vô khối những định nghĩa và cách hiểu xoay quanh khái niệm điểm nhìn nghệ thuật trong một tác phẩm trần thuật Chẳng hạn, hai tác giả người Nga I.P Ilin và Tzurganova xem điểm nhìn nghệ thuật “là sự lựa chọn cự

ly trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn”

[Dẫn theo 12, tr 139] Đối với tác giả Nguyễn Thái Hòa trong bài viết Điểm

nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện đã có nhiều sự

khảo sát so sánh về điểm nhìn và các khái niệm liên quan từ đó ông đã rút được

ý nghĩa của điểm nhìn nghệ thuật đối với một tác phẩm tự sự là rất “phức tạp và

có nhiều tầng bậc” [Dẫn theo 22, tr 84], bên cạnh đó tác giả Nguyễn Thái Hòa còn đưa ra một nhận định về điểm nhìn nghệ thuật của riêng ông: “Điểm nhìn nghệ thuật là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn thế nữa là cấu trúc tiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể và văn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể

và người đọc hàm ẩm” [Dẫn theo 22, tr 85]

Ở bài viết Quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật của R Scholes và R Kellogg

và một số vấn đề khi áp dụng các mô hình lí thuyết phương Tây vào nghiên cứu tác phẩm tự sự, tác giả Cao Kim Lan hiểu điểm nhìn một cách tối giản hơn:

“chính là một “mánh khóe” thuộc về kĩ thuật, một phương tiện để chúng ta có thể tiến đến cái đích tham vọng nhất: sức quyến rũ của truyện kể Và dù có cách thức nào, phương thức hay kĩ thuật nào thì mục đích cuối cùng của người sáng tạo cũng chỉ là mê hoặc độc giả, buộc anh ta phải đọc” [Dẫn theo 21, tr 135] Một đại diện xuất sắc của tự sự học G Genette đã nghiên cứu khá kỹ về điểm nhìn Với ông điểm nhìn nghệ thuật là tiêu điểm (focalization) Tiêu điểm theo quan niệm của G Genette chính là vị trí của chủ thể trần thuật trong mối quan hệ với câu chuyện mà anh ta kể lại Thi pháp văn xuôi hiện đại đã phân chia điểm nhìn thành ba loại chính dựa trên lý thuyết của G Genette về điểm nhìn:

Điểm nhìn zero (phi tiêu điểm): Là điểm nhìn từ phía trên hoặc phía sau Trong đó người kể chuyện gần giống như một thượng đế đối với nhân vật của mình Nghĩa là trong tương quan với các nhân vật khác trong tác phẩm, người kể

Trang 26

chuyện là người biết tất cả mọi sự Nhân vật không thể che giấu được gì đối với người kể chuyện Vì người kể chuyện hiểu thấu được những điều mà chính nhân vật cũng không ý thức được hết Người kể chuyện ở đây biết nhiều hơn nhân vật biết về chính nó

Điểm nhìn nội quan (nội tiêu điểm): Ở đây người kể chuyện đồng thời là một nhân vật trong tác phẩm Anh ta chỉ nói lên những điều anh ta biết và thấy Cái nhìn của người kể chuyện thiên nhiều hơn về chủ quan theo tư tưởng, thái độ nhân vật mà anh ta nhập thân

Điểm nhìn ngoại quan (ngoại tiêu điểm): Là điểm nhìn từ bên ngoài Người kể chuyện chỉ đề cập đến những gì bên ngoài, không đề cập đến thế giới bên trong của nhân vật Người kể chuyện không hướng đến việc khai thác thế giới nội tâm nhân vật, tỏ ra hiểu biết ít hơn nhân vật hiểu về chính nó, nhưng chính từ những gợi mở bề ngoài ấy, người đọc có thể liên tưởng đến những gì nhân vật đang suy nghĩ và cảm nhận Cách phân chia này của G Genette đã được khá nhiều người công nhận

Quan nhiều thời kì, ở nhiều giai đoạn điểm nhìn nghệ thuật sẽ có được những nhận định mới hơn trong hình thức sử dụng, cũng như cách thức phân loại

nó Từ tất cả những nhận định trên, điểm nhìn trần thuật ngày càng thể hiện được

vị trí quan trọng của nó đối với một tác phẩm tự sự Rộng hơn thế, điểm nhìn nghệ thuật còn là nhân tố quan trọng bộc lộ kĩ thuật tiểu thuyết của nhà văn, tạo nên mắc xích khách quan, mà ở đó ta có thể đánh giá được khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ

Giáo sư Trần Đình Sử từng so sánh điểm nhìn với hình ảnh chiếc ống kính camera, dẫn dắt người cằm bút khám phá hiện thực và đưa người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Tìm hiểu điểm nhìn thực chất là tìm hiểu một kiểu quan hệ, một phương thức tiếp cận của nhà văn với thực tại

Từ tất cả những quan niệm đã được nhắc đến ở trên, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đều coi điểm nhìn nghệ thuật là một yếu tố quan trọng giữ vai trò then chốt trong việc sáng tác một văn bản nghệ thuật Điều này rất có cơ

sở bởi không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, nó thể hiện sự quan sát, đặc điểm của chủ thể trong việc tạo các trường nhìn Trên thực tế, giá trị của

Trang 27

sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ đổi mới điểm nhìn Mặc khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và phong cách nhà văn

1.1.2.3 Nhân vật trần thuật

Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của chính tác phẩm đó Thành bại của một sáng tác văn chương, một người nghệ sĩ phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng nhân vật

Thông thường khi nhắc đến nhân vật trong tác phẩm văn học người ta thường hiểu đó là con người được xây dựng bằng các phương tiện của văn học Thực ra phạm vi nhân vật rộng hơn như lão Hạc, Chí Phèo, Jean vant Jean, Emily hay có khi chỉ hiện lên qua một đại từ nhân xưng như “tôi”, “chàng”,

“thiếp”, “mình”, “ta” Nhưng trong nhiều trường hợp nhân vật lại không phải là con người mà có khi chỉ là một bông hoa biết nói, một con cóc biết kiện trời hay một con mèo trở về báo thù thậm chí có cả ma, quỷ, thần, tiên nữa Những sự vật, đồ vật này trở thành nhân vật khi được “người hóa”, nghĩa là cũng mang tâm hồn, tính cách, những suy nghĩ như con người

Nhân vật là con người từ đời thực nhưng được nhà văn bằng tài năng của mình vẽ lại một cách toàn vẹn hơn trong sự phản chiếu của nghệ thuật, để con người đi vào trang văn với đầy đủ những ý nghĩa, cảm xúc, ngôn ngữ, hành động mang màu sắc nghệ thuật Với tất cả những người sáng tác xây dựng nhân vật là một công việc vô cùng khó khăn: lấy nguyên mẫu từ đời thực nhưng phải sáng tạo làm sao để nó không hề rập khuôn, truyền tải được ý đồ của người sáng tác

Trang 28

nhưng vẫn rất sinh động, “nhân vật văn học không chỉ là “bản dập” của con người ngoài đời Nó là một hiện tượng, một đơn vị nghệ thuật, được sáng tạo theo những ước lệ của văn học” [18, tr 75] Giống như câu chuyện kể về bậc thầy văn chương M Gorki có lần đã khuyên một nhà văn trẻ: “Anh hãy bỏ nghề viết đi Đấy không phải là việc của anh, có thể thấy rõ như thế Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà đấy lại là điều chủ yếu” [Dẫn theo 9, tr 126] Như vậy, con người khi đi vào văn học có thể là lấy từ chất liệu cuộc sống nhưng nó phải là sản phẩm của nghệ thuật, đồng thời nó cũng phải vẫn thật tự nhiên, thật chân thực

Nhân vật văn học hay đối với một tác phẩm tự sự người ta thường gọi là nhân vật trần thuật cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau đối với khái niệm này, bởi lẽ nhân vật là một trong những yếu tố tạo nên tác phẩm văn học, sẽ

không có tác phẩm nếu không có nhân vật Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn

học, các tác giả đã nêu rất rõ và đầy đủ những đặc điểm của nhân vật văn học:

“Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [17, tr 202] hay “Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vật luôn luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm” [17, tr 203]

Lại Nguyên Ân cũng đưa ra quan điểm của mình về nhân vật văn học nhưng ở mức độ khái quát hơn: “Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [2, tr.249], đồng thới tác giả còn nói thêm: “Các thành tố tạo nên nhân vật gồm: hạt nhân tinh thần của cá nhân, tư tưởng, các lợi ích đời sống, thế giới xúc cảm, ý chí, các hình thức ý thức và hành động” [2, tr 249-250]

Tiếp xúc với mỗi tác phẩm văn học bạn đọc sẽ bắt gặp nhiều kiểu loại nhân vật khác nhau, có nhân vật hiện ra khá đầy đặn từ ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho đến tiểu sử Có nhân vật chỉ hiện lên qua ngôn ngữ, chỉ được nhà văn gợi chứ không tả Nhưng yếu tố tạo nên sự khác biệt cho nhân vật này với nhân vật khác chính là tính cách mà người nghệ sĩ cấp cho nhân vật Tính cách

Trang 29

cá biệt của các trạng thái tâm lý là quan trọng nhất vì nó quyết định bản sắc cá nhân của nhân vật Cũng chính yếu tố này là các nhà nghiên cứu đã phải thốt lên rằng mỗi nhân vật của L Tônxtôi đều có một “chứng minh thư tâm lý” riêng, bởi bậc thầy tiểu thuyết hiện đại L.Tônxtôi luôn có quan điểm rõ ràng trong việc xây dựng nhân vật cho tác phẩm của mình, với ông: “Cần phải quan sát nhiều người cùng loại với nhau để xây dựng một kiểu người nhất định” Do đó nếu miêu tả một con người mà chỉ lấy một người thật làm mẫu thì kết quả sẽ là một cái gì đó đơn nhất, ngoại lệ và không thú vị

Nói một cách khái quát cho những ý kiến đã được trích dẫn ở trên, nhân vật trong một tác phẩm văn chương chính những con người hay những sự vật, sự việc mang cốt cách con người được xât dựng bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ

1.1.2.4 Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu là một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của văn học Đại thi hào Lep Tônxtôi đã từng nói: “Cái khó nhất khi bắt tay viết một tác phẩm mới không phải là chuyện đề tài, tài liệu mà phải lựa chọn một giọng điệu thích hợp” [Dẫn theo 33, tr 65] Giọng điệu là nơi để nhà văn thể hiện bản sắc của mình

Giọng điệu nghệ thuật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng được các nhà nghiên cứu nhận ra từ lâu, nó là phạm trù liên quan đến hai lĩnh vực: thi pháp học và ngôn ngữ học Giọng điệu nghệ thuật được xem là yếu tố hàng đầu trong việc thể hiện phong cách nhà văn, là phương tiện biểu hiện quan trọng trong tác phẩm Giọng điệu còn được xem là yếu tố có vai trò thống nhất các yếu

tố khác trong tác phẩm văn học Tuy vậy, chúng ta cần lưu ý để tránh những

nhầm lẫn, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả đã đặc biệt lưu ý ta

giữa hai yếu tố giọng điệu và ngữ điệu, các tác giả của cuốn sách đã nhận định:

“Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dung từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [17, tr 112] Từ những cơ sở trong cuốn từ

Trang 30

điển trên, ở cuốn Lí luận văn học – Tác phẩm và thể loại văn học (tập 2) giáo sư

Trần Đình Sử đã đưa ra một khái niệm cụ thể hơn đối với giọng điệu trần thuật:

“Giọng điệu trong văn bản thể hiện cái giọng điệu riêng mang thái độ tình cảm

và đánh giá của tác giả Giọng điệu ở đây là một hiện tượng nghệ thuật, không nên đồng nhất với giọng điệu tác giả vốn có ngoài đời” [18, tr 64], đồng thời

“Giọng điệu còn phối hợp với chi tiết, tình tiết, mootip, nhịp điệu làm thành cái không khí riêng của từng tác phẩm” [18, tr 64]

Giọng điệu cũng được xem là thước đo không thể thiếu để xác định tài năng, phong cách nhà văn, là yếu tố bộc lộ chủ thể trần thuật một cách trung thực, cho phép người đọc nhận ra nét riêng, sự độc đáo ở mỗi nhà văn Do vậy,

từ thời cổ đại các nhà nghiên cứu văn học Phương Đông đã chú ý đến giọng điệu

và đánh giá cao ý nghĩa của nó trong quá trình biểu hiện tư tưởng của nhà văn

mà các nhà nghiên cứu xưa gọi là “điệu hồn”, “khí thoát”, “thần điệu”, “hơi văn”, toát ra ở tác phẩm văn chương Đó chính là sự giao cảm giữa con người

và vũ trụ được nhà văn thể hiện một cách có ý thức bằng giọng điệu Các vấn đề

tư tưởng được cảm nhận trong một phạm vi giọng điệu nhất định Các tác phẩm

có giá trị đều là những tác phẩm có giọng điệu riêng, đặc biệt tiêu biểu cho thái

độ của nhà văn đối với vấn đề được phản ánh, đối với cuộc đời Trong sáng tác, câu văn muốn đạt đến đỉnh cao của sự truyền đạt thì nhất thiết nó phải có hồn Câu văn có hồn chính là câu văn có giọng, có ngữ điệu Sự phong phú, tính đa nghĩa của tác phẩm trước hết là ở giọng Khi sáng tác người viết phải tạo được giọng riêng và khi tiếp nhận người đọc phải bắt được giọng ấy Giọng điệu là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là cái “thần” toát lên từ trong tác phẩm Người đọc nếu bắt được “giọng” của nhà văn xem như bắt được cái “thần” của tác phẩm Vì vậy, muốn hiểu sâu tác phẩm không thể bỏ qua yếu tố giọng điệu Giọng điệu tác phẩm phụ thuộc vào cảm hứng chủ đạo của nhà văn, ở điểm nhìn của người trần thuật trong tác phẩm Trước đây, giọng điệu đã được chú ý nhưng chưa có sự quan tâm thỏa đáng Đến thời kì hiện đại yếu tố giọng điệu được các nhà nghiên cứu đặc biệt lưu tâm Đầu thế kỉ XX, vấn đề giọng điệu văn chương mới được đặt ra một cách thật sự trong các công trình khoa học nổi tiếng của Bakhtin và sau đó được lan rộng ra trong các công trình nghiên cứu văn chương

Trang 31

Giọng (voice) và giọng điệu (tone) đều là hai thuật ngữ dùng để chỉ mặt âm thanh của tác phẩm văn học Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm Nếu như trong đời sống, ta thường chỉ nghe giọng nói nhận ra con người thì trong văn học, giọng điệu giúp chúng ta nhận ra tác giả Người đọc có thể nhận thấy tất cả các chiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ

sĩ thông qua giọng điệu Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn Trong khi trần thuật, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ

sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu Bởi vậy, khi đi vào nghiên cứu bất cứ tác giả nào ta cũng không thể bỏ qua yếu tố giọng điệu trần thuật trong tác phẩm của họ, vì đó là một trong những điều tạo nên phong cách nhà văn

1.1.2.5 Ngôi trần thuật

Trong truyện kể, vấn đề ai kể chuyện và câu chuyện được kể như thế nào bao giờ cũng quan trong hơn ai là người viết nên truyện đó Do đó, “ngôi kể” trở thành một trong những yếu tố quan trọng, cùng với vai kể và điểm nhìn trần thuật ngôi kể giúp tạo nên màu sắc riêng cho văn bản Bằng những phương tiện ngôn ngữ nhất định mà cách thức kể chuyện của người này sẽ khác người kia tùy vào cách anh ta xây dựng ngôi kể, vai kể hay điểm nhìn

Ngôi kể là một khái niệm mượn từ lí thuyết hội thoại trong ngôn ngữ học Theo lý thuyết hội thoại trong một hoạt động giao tiếp bao giờ cũng có hai ngôi tham dự: “ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Trong đó ngôi thứ nhất là người nói (người phát thông tin), ngôi thứ hai là người nghe (tiếp nhận thông tin), còn ngôi thứ ba là hiện thực được nói tới, là vật quy chiếu, không tham dự vào hoạt động giao tiếp” [Dẫn theo 22, tr 122] Ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai đều có chức năng tạo tiếp để duy trì cuộc hội thoại Người kể chuyện có thể kể về mình (kể về ngôi thứ nhất), kể về người khác (ngôi thứ ba) Cũng có thể kể về người nhận thông tin đối diện (ngôi thứ hai), nhưng trường hợp này được chứng minh là rất ít có khả năng

Trang 32

Ta có sơ đồ cụ thể hóa cho lí thuyết trên:

Nhân vật được nói đến

(Ngôi 3)

Lí thuyết về ngôi thứ hai thường ít được sử dụng, chủ yếu trong các bài nghiên cứu thường nhắc đến ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Trong Giáo trình lí luận văn học – Tác phẩm và thể loại văn học (tập 2) đã có những ý kiến: “Người

kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi “là một nhân vật trong truyện, chứng kiến các

sự kiện đứng ra kể” ( ) Ngôi thứ ba cho phép người kể có thể tất cả những gì

họ biết, còn ngôi thứ nhất chỉ được kể những gì mà khả năng của một người cụ thể có thể biết được, như vậy mới tạo được cảm giác chân thực” [18, tr 60-61] Cũng có nhận định về ngôi trần thuật trong truyện, các nhà nghiên cứu châu

Âu cũng chủ yếu hướng đên đánh giá ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Norman

Friedman đã mô tả về Chân dung người nghệ sĩ của Joyce: “câu chuyện do nhân

vật kể lại, nhưng ở ngôi thứ ba” [Dẫn theo 22, tr 124], hay W Booth cho rằng:

“Người phản ánh ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba đều là những người kể được giới thiệu, hay “những người kể ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba kể về các câu chuyện của họ” [Dẫn theo 22, tr 124]

Trong quá trình phát triển của loại hình tự sự theo lối ngày càng hiện đại,

nó đòi hỏi người sáng tác phải xây dựng truyện kể ở nhiều chiều, góc cạnh của đời sống, điều đó buộc chủ thể phải được xây dựng trước hết như một hình tượng trong truyện có thể ẩn tàng, có thể có dáng nét, tâm tư, suy nghĩ như một nhân vật trong truyện mà người đọc có thể nhận thấy rõ vai trò xuất hiện của chủ thể trần thuật

Trong cấu trúc tự sự ngôi kể là một yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật Vấn

đề ngôi kể thường gắn liền với sự biểu hiện của hình tượng chủ thể trần thuật Sự

ra đời của chủ thể trần thuật ở ngôi thứ ba là sớm hơn cả so với hai hình thức trần thuật còn lại song, mỗi ngôi sẽ đảm nhận một vị trí khác nhau, và đôi khi trong một tác phẩm chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau từ ngôi kể thứ nhất sang

Trang 33

ngôi kể thứ ba và ngược lại Vấn đề ngôi kể gắn bó chặt chẽ với vấn đề điểm nhìn Đó chính là hai yếu tố cấu thành phương thức trần thuật của một tác phẩm văn học

1.1.3 Những đóng góp của nghệ thuật trần thuật trong xây dựng

tiểu thuyết

Tiểu thuyết là thể loại lớn tiêu biểu cho loại hình tự sự, “cỗ máy cái” của nền văn học hiện đại Bằng đặc trưng thi pháp của mình, cùng với phương thức trần thuật, tiểu thuyết chiếm lĩnh và khái quát hiện thực cuộc sống một cách đa chiều, sinh động và vô cùng phong phú Nói một cách khái quát, trong văn xuôi

tự sự nói chung, tiểu thuyết nói riêng, cách thức tổ chức phản ánh được thể hiện thông qua nghệ thuật trần thuật Trần thuật gắn liền với toàn bộ bố cục, kết cấu bên trong của một tác phẩm tự sự, là phương diện cấu trúc của tác phẩm thể hiện mối quan hệ chủ thể - khách thể trong loại hình tự sự

Khi bàn về vai trò của trần thuật trong tác phẩm tự sự, Pospelov đã khẳng định rằng đóng vai trò quyết định trong loại tác phẩm tự sự là trần thuật Tiểu thuyết luôn mang trong mình bản chất của sự tổng hợp: cái rung động của thơ, xung đột gay gắt của kịch, những mảng hiện thực nóng hổi chất sống trực tiếp của kí, bức tranh giàu màu sắc của hội họa, điệp khúc âm thanh của âm nhạc và liên kết nhiều khuôn hình của điện ảnh và để thể hiện hết những yếu tố đó việc

xử dụng nghệ thuật trần thuật là điều thất yếu, bởi lẽ trần thuật có thể thể hiện được bằng tất cả các phương tiện phi ngôn ngữ như diễn viên biểu diễn trên sân khấu, phim ảnh dùng hình ảnh, âm nhạc dùng âm thanh, hội họa dùng đường nét Tuy nhiên, đã có thời, sự thành công của một tác phẩm văn xuôi lại được đánh giá thông qua những phương diện: chủ thể tư tưởng, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ Người ta thừa nhận có cái gọi là “phong cách cá nhân” hay “phong cách ngôn ngữ” nhưng vẫn chưa đi đến chỗ thừa nhận vai trò của nghệ thuật trần thuật Trong khi đó, chính nhờ lối kể chuyện mà người đọc phân biệt được tác giả này với tác giả khác Trong văn xuôi nghệ thuật, đôi khi ta thấy rằng truyện

kể chỉ là một mảng quen thuộc, một bộ phận của đời thường, một lát cắt của cuộc sống, bản thân chúng không có khả năng phản ánh các giá trị hay các quy luật của đời sống Song thông qua cách kể, chỉ nhờ lối kể truyện sinh động, mới

Trang 34

mẻ của nghệ thuật trần thuật mà câu chuyện đã mang một ý nghĩa mới mẻ hơn, trở nên hấp dẫn hơn Vì vậy, có thể thấy, nghệ thuật trần thuật hay cách thức kể chuyện chính là đặc trưng của tác phẩm tự sự, nó giữ vai trò quan trọng góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật cho tác phẩm văn học

Đối với tiểu thuyết, trần thuật là đặc trưng bản thể bao gồm phương thức biểu đạt thông tin và phương phức vận dụng ngôn ngữ Nghệ thuật trần thuật được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong phương thức biểu hiện của tiểu thuyết, bởi có nó nhà văn mới có thể sắp đặt một cách cuốn hút các câu chuyện, các nhân vật, tình huống truyện một cách logic và chuyển tải một cách hiệu quả nhất những thứ nhà văn muốn gửi gắm đến độc giả Từ góc độ lịch sử

mà nói thì tiểu thuyết chính là lịch sử của phương thức trần thuật – khi tiểu thuyết thay đổi qua các thời kì văn học thì nghệ thuật trần thuật theo đó mà cũng

có những biến đổi nhất định Văn bản trần thuật là câu chuyện được kể hay chính bản thân hành vi kể thể hiện quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp của phương thức trần thuật

1.2 Nhà văn Joseph Conrad và tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối

1.2.1 Cuộc đời và bút lực của Joseph Conrad

Tác giả Joseph Conrad được sinh ra vào ngày 3 tháng 12 năm 1857 tại Berdichev – Ba Lan với tên khai sinh là Józef Teodor Konrad Korzeniowski Vốn được sinh ra trong một gia đình ở tầng lớp quý tộc, bố mẹ Conrad là những người yêu nước và âm mưu chống lại chế độ áp bức của Nga; hậu quả là họ bị bắt và đưa đi sống ở tỉnh Vologda của Nga với đứa con trai 4 tuổi của họ Khi cha mẹ của Conrad qua đời vài năm sau đó, ông được một người chú ở Ba Lan mang về nuôi dưỡng

Con đường học tập, tiếp thu nguồn tri thức của Conrad khác khác biệt so với một người bình thường, có lẽ chính điều này đã làm nên sự khác biệt trong sáng tác của ông so với những nhà văn cùng thời Người đầu tiên dạy học cho Joseph Conrad chính là người cha đầy học thức của ông; sau đó khi bắt đầu đến trường đi học ở Krakow, ông cũng được cho học riêng Đến năm 16 tuổi, Joseph Conrad quyết định rời Ba Lan để đến thành phố càng Marseilles – Pháp để du học, chính nơi đây ông bắt đầu những năm tháng trở thành thủy thủ của mình

Trang 35

Thông qua những giới thiệu với bạn của người chú, Conrad bắt đầu những chuyến đi biển đầu tiên của mình trên những con tàu thương mại của Pháp, đầu tiên ông làm ở vị trí của một người học việc và sau đó ông được làm ở vị trí quản

lý của tàu Tuổi trẻ của Joseph Conrad là những chuyến đi lênh đênh khắp các vùng nước từ Tây Ấn đến Nam Mỹ

Sau đó một thời gian, Conrad rơi vào thời kì khủng hoảng, ông nợ nần và nhiều lần tự tử nhưng thất bại, Conrad bắt đầu gia nhập đội hải quân thương gia Anh – nơi ông đã gắng bó trong suốt 16 năm Dần dần, Conrad được công nhận

là một công dân Anh chân chính Chính tại thương đoàn Anh, Conrad đã có những chuyến đi trên khắp thế giới – từ Ấn Độ, Singapore đến Úc và cả Châu Phi, từ chính những chuyến ngao du sông nước đó đã cho ông những trãi nghiệm mà về sau Conrad đã đưa những kinh nghiệm chân thật đó vào chính những sáng tác của ông Đó có lẽ là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công cho các sáng tác của Joseph Conrad

Sau nhiều năm lênh đênh trên biển, Conrad quay về với đất liền Năm 1896, Joseph Conrad kết hôn với vợ mình là bà Jessie Emmeline George, họ có với nhau hai người con trai Conrad còn có một tình bạn đẹp với ba nhà văn nổi tiếng

là John Galsworthy, Ford Madox Ford và H.G Wells Joseph Conrad bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình vào năm ông 38 tuổi, đánh dấu bằng việc ông cho ra

đời tác phẩm đầu tay - Almayer's Folly, một câu chuyện phiêu lưu ở rừng nhiệt

đới Borneo Sau đó một thời gian Conrad tiếp tục cho ra đời thêm hai tác phẩm nữa và có thể nói đó là hai tác phẩm xuất sắc nhất trong sự nghiệp văn chương

của Joseph Conrad: Giữa lòng tăm tối (Heart of Darkness) (1899), cuốn tiểu

thuyết là cuộc hành trình của nhân vật chính đến với Châu Phi và đi vào những vùng đất tối tăm sâu trong Congo, ở đây nhân vật chính có cuộc gặp gỡ định

mệnh với Kurtz – một con người bí ẩn nhưng đầy tài năng; Lord Jim (1900), câu

chuyện về một thủy thủ trẻ bị bỏ rơi vì những hành vi hèn nhát của chính anh ta trong quá khứ và sau cùng lại trở thành lãnh đạo của nhỏ ở khu vực phía Nam xa

xôi Lord Jim và Giữa lòng tăm tối là những câu chuyện dựa trên những điều có

thật mà Conrad đã trãi qua Ở những câu chuyện ta thấy được nét độc đáo, riêng biệt mà ta ít có thể bắt gặp ở các nhà văn khác đó là việc tạo ra xung đột giữa

Trang 36

con người và các thế lực tàn bạo có trong tự nhiên; cùng với đó là những chủ đề

về con người cá nhân, những khía cạnh bạo lực trong bản chất con người và vấn

đề phân biệt chủng tộc

Joseph Conrad luôn quan tâm đến việc thể hiện các tình huống tâm lý – chính trị để tạo ra sự tương đồng giữa cuộc sống bên trong các tác phẩm và thế giới bên ngoài Conrad tiếp tục thành công với những cuốn tiểu thuyết tiếp theo

của mình như Nostromo (1904) và The Secret Agent (1907) Nhiều tác phẩm lớn

của ông lần đầu xuất hiện chỉ dưới dạng các mẫu truyện trong tạp chí về sau này mới được xuất bản dưới dạng một tác phẩm hoàn chỉnh

Trong những năm cuối đời, Conrad vẫn miệt mài với công việc sáng tác và ông vẫn tiếp tục cho ra đời những cuốn tiểu thuyết viết theo kiểu tự truyện và chính những cuộc du hành trên sông nước của ông thời trai trẻ Cuốn tiểu thuyết

cuối cùng của Joseph Conrad là The Rover, xuất bản năm 1923 Vào ngày 3

tháng 8 năm 1924, sau một cơn đau tim Conrad đã qua đời tại nhà riêng ở Canterbury – Anh Những sáng tác của Joseph Conrad có ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà văn thế kỷ XX sau này Nhiều tiểu thuyết của ông được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới và nhiều tác phẩm còn được đưa vào giảng dạy trong các trường trung học và đại học

1.2.2 Giữa lòng tăm tối – câu chuyện về cuộc phiêu lưu hải hồ

Đã tồn tại hơn 100 năm kể từ ngày ra đời, Giữa lòng tăm tối vẫn là một

cuốn tiểu thuyết gây là nhiều dư luận trái chiều, có những lời tung hô, tán thưởng

là một trog những cuốn tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại nhưng cũng có không ít những sự phản đối khi nhiều người cho rằng cuốn tiểu thuyết là một sự sỉ nhục

vì có sự phân biệt chủng tộc quá nặng nề đối với người da đen ở Châu Phi Cuốn sách chính là những trãi nghiệm thật của Joseph Conrad khi ông theo chân một công ty của Bỉ trôi theo dòng sông Congo để khám phá những vùng đất hoang

sơ, ít chịu sự tác động của con người, Giữa lòng tăm tối là chuyến phiêu lưu của

nhân vật Charles Marlow và của cả độc giả vào trái tim của lục địa đen – châu lục thời bấy giờ vẫn còn là một bức màn đen bí ẩn

Câu chuyện bắt đầu từ những mơ tưởng về một thế giới xa xôi trong quá khứ của Marlow về một vùng đất “vô phương thấu hiểu”… Là người của biển

Trang 37

cả, khi còn trai trẻ Marlow nghe theo tiếng sóng vẫy gọi, khao khát đi tới những miền đất chưa định danh trên địa đồ - “những khoảng trống của niềm hân hoan”,

“một vạt trắng cho giấc mơ huy hoàng”, dấn thân vào “vùng tăm tối vô phương thấu hiểu”, cùng với tính hiếu kỳ thản nhiên của một trí óc tế nhị và trạng thái điềm tĩnh của một con tim sắt đá Marlow đã chạy theo những điều mà anh hằng mong ước tuy có phần điên rồ

Trên một con tàu hơi nước vá víu xập xệ thiếu thốn đủ đường, cùng thủy thủ đoàn là mấy tay da đen của bộ tộc ăn thịt người lúc nào cũng bốc mùi thịt hà

mã thiu, Marlow ngược dòng con sông Congo hùng vĩ, bí hiểm mà mê hoặc để hoàn thành một nhiệm vụ tưởng chừng như bất khả thi của mình

Ông phải đi cứu Kurtz - người được ca tụng khắp nơi là “thiên tài toàn năng”, kiếm được nhiều ngà voi nhất Công ty, được cả dân da đen yêu kính hết mực và đang ốm thập tử nhất sinh ở vùng thượng nguồn, hắn đã trở thành vị vua của vùng đất man rợ này, những bộ lạc nơi đây tôn thờ hắn, những người da trắng ghen tị với hắn thế nhưng đến khi hắn xuất hiện bằng xương bằng thịt thì hắn dường như chỉ là một ảo ảnh và chỉ còn là cái bóng trong những câu chuyện của chính hắn cho đến trước khi hắn lìa đời Sau bao nhiêu gian khổ, hiểm nguy của chốn rừng thiêng nước độc, Marlow tới được nơi, gặp được người, nhưng

chỉ trở về với một tập tài liệu và lời tuyệt mệnh: “Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh

hoàng!”

Bỏ qua tất cả những tranh cãi xoay quanh cuốn tiểu thuyết, Giữa lòng tăm

tối đã khẳng định được tài năng của Joseph Conrad khi đã viết nên một câu

chuyện huyễn hoặc, đầy ám ảnh, u tối nhưng lại rất đậm chất thơ Cuốn sách đã làm mê hoặc bao thế hệ người đọc suốt 100 năm qua, tờ báo Guardian của Anh

cũng đã chọn Giữa lòng tăm tối vào top 100 cuốn sách viết bằng tiếng Anh hay

nhất và ca ngợi cuốn tiểu thuyết như một dấu son mở đầu cho thời kỳ hoàng kim của Chủ nghĩa hiện đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.3 Tiểu kết

Từ những thuật ngữ khái niệm cho đến các yếu tố liên quan đến nghệ thuật trần thuật đã cho ta thấy được một bức tranh khá toàn cảnh về nghệ thuật trần

Trang 38

thuật Từ người đầu tiên đưa ra khái niệm về trần thuật là Aristote cho đến bây giờ đã có rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhiều công trình nghiên cứu nói về

bộ môn Trần thuật học cũng như thuật ngữ “trần thuật”, nhưng tùy vào mức độ tiếp cận ở mỗi nhà nghiên cứu lại có một quan niệm khác nhau đối với thuật ngữ quen thuộc này Thông qua một số định nghĩa tiêu biểu được đề cập đến ở trên ta thấy rằng trần thuật thực sự là một lĩnh vực rất rộng, nó nhận được sự quan tâm của cả những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đồng thời, nhờ vào việc chỉ

ra mối quan hệ giữa nghệ thuật trần thuật và các yếu tố khác, như: cốt truyện, nhận vật, giọng điệu, và những đóng góp của nghệ thuật trần thuật trong việc xây dựng tiểu thuyết đã giúp ta thấy được tầm quan trọng của trần thuật đối với việc hình thành một tác phẩm văn học đặc biệt là tiểu thuyết

Không chỉ có lí luận, những tư liệu về cuộc đời và bút lực của Joseph

Conrad cùng với những khái quát về cuốn tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối ở trên đã

cho ta thấy được Joseph Conrad thực sự là một tài năng trong giới tiểu thuyết Tuy là “bông hoa nở muộn” song, những sáng tác của ông trong hề thua kém hay lặp lại những nhà văn đi trước mà vẫn có nhiều điểm cách tân mới mẻ của riêng

ông và Giữa lòng tăm tối là một trong số đó

Trang 39

CHƯƠNG 2

XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT

TRONG TIỂU THUYẾT GIỮA LÒNG TĂM TỐI

CỦA JOSEPH CONRAD

2.1 Xây dựng cốt truyện trần thuật

Một trong những yếu tố đầu tiên để xây dựng cũng như đánh giá sự hấp dẫn của một tác phẩm văn chương chính là tổ chức sự kiện – cốt truyện trong tác phẩm đó, hay còn gọi là cốt truyện Trong quan niệm truyền thống, cốt truyện vẫn được xem là một yếu tố bất di bất dịch, khó thay đổi nhất nhưng qua thời gian cùng với sự bùng nổ của các nhà văn hiện đại và hậu hiện đại, sự ra đời liên tục của những lối viết văn mới mẻ đã kéo theo sự thay đổi trong cấu trúc cốt truyện của nhiều thể loại đặc biệt là tiểu thuyết, thậm chí bỏ qua cả lý thuyết của cốt truyện truyền thống Văn học hiện đại ngày càng xuất hiện nhiều tác phẩm văn học viết theo lối phá vỡ kết cấu truyền thống trong tổ chức sự kiện – cốt truyện

Giữa lòng tăm tối của Joseph Conrad được đánh giá là một trong những tác

phẩm khó đọc, khó hiểu, khó nắm bắt nhất bởi lối xây dựng cốt truyện mới mẻ, đan lồng nhiều tầng bậc cấu trúc cũng như ý nghĩa biến câu chuyện thực sự như đang dẫn người đọc vào một vùng “tăm tối” khó nhận định Suốt gần 200 trang của tác phẩm, câu chuyện được chia thành hai phần chính, cùng với những sự cách tân, lạ hóa trong cách xử lí cốt truyện đã làm câu chuyện bày ra trước mắt người đọc là những điều bí hiểm, thú vị, hấp dẫn lôi kéo độc giả phải dấng thân vào mà khám phá nó, lí giải nó cho bằng được Đó chính là điều đặc biệt trong cách xây dựng sự kiện – cốt truyện của nhà văn Joseph Conrad Bằng tài năng

biến đổi liên tục như một ảo thuật gia cốt truyện trong Giữa lòng tăm tối là một

“màn ảo thuật” về cốt truyện mà người đọc bị thu hút nhưng khó lòng thấu hiểu

2.1.1 Cốt truyện khung – sự đan xen của những vòng xoáy vô định

Đã có người cho rằng cốt truyện đối với văn học – nghệ thuật hiện đại không cần thiết Thực ra cốt truyện có ở mọi nơi mọi chỗ Cốt truyện cần thiết đối với cả nhà sử học, với điện ảnh, khoa học, triết học Chừng nào chúng ta

Trang 40

muốn truyền đạt thông tin về quá trình phát sinh, phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó, thì chừng ấy chúng ta vẫn cần đến cốt truyện

Theo như nhận xét của Giáo sư Lê Huy Bắc: “Cốt truyện (plot) là toàn bộ những sự kiện được nhà văn kể trong văn bản tự sự (và văn bản kịch) mà người đọc có thể kể lại Cốt truyện là yếu tố quan trong bật nhất, không thể thiếu không bất kì hình thức tự sự nào” [4, Tr 34] Từ đó ta thấy được, đối với một tác phẩm văn chương cốt truyện là yếu tố vô cùng quan trọng, một tác phẩm hay chưa chắc là đã có một cốt truyện hay nhưng với một cốt truyện hoàn hảo thì luôn tạo

ra một tác phẩm văn học xuất sắc Để biết được tài năng của một nhà văn bên cạnh việc nhìn vào cách anh ta xây dựng nhân vật hay điểm nhìn trong tác phẩm

ta còn phải để ý đến khả năng xây dựng cốt truyện nữa

Tiếp cận với Giữa lòng tăm tối, điều đầu tiên mà ta dễ nhận thấy nhất đó

chính là sự xuất hiện một lúc đến hai câu chuyện: một câu chuyện được kể trên dòng sông Thames bởi nhân vật xưng “tôi” và câu chuyện còn lại – câu chuyện chiếm dung lượng chính của tác phẩm là của Marlow về một quá khứ mơ hồ giữa một vùng “vô phương thấu hiểu” Bằng tài năng hơn người, Conrad dễ dàng

di chuyển câu chuyện từ mạch truyện (1) (truyện của nhân vật “tôi”) sang mạch truyện (2) (truyện của nhân vật Marlow), cấu trúc cốt truyện khung được nhà văn

sử dụng vô cùng khéo léo, từ một câu chuyện nhẹ nhàng trên dòng sông Thames

đã gợi cho Marlow về những mơ hồ của một thời sông nước trong quá khứ để từ

đó người đọc được dẫn dắt đến với một thế giới đầy mơ hồ, thực hư đan vào nhau Joseph Conrad đã đưa bạn đọc đi từ mê lộ ngôn từ này đến những thế giới ngữ nghĩa khác

Truyện khung hay còn được gọi là truyện lồng truyện đã không còn là khái niệm mới trong giới sáng tác và phê bình văn chương, hình thức cốt truyện này

đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn học thế giới Chẳng hạn như từ xa xưa

sử thi Odyssey của Hy Lạp (thế kỷ VIII trước công nguyên) đã có sự xuất hiện

của hình thức cốt truyện khung thông qua việc người anh hùng Ulysses tự kể lại những chuyện phiêu lưu của mình trong bữa tiệc Vậy cốt truyện khung là gì? Hiểu một cách đơn giản chúng ta có thể nói truyện khung hay truyện lồng truyện

là thủ pháp để lồng ghép một câu chuyện độc lập vào trong tác phẩm chính trong

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w