1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái dừa nước tại xã bình phước, huyện bình sơn, tỉnh quảng ngãi đề xuất các giải pháp quản lý

116 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân dẫn đến suy giảm diện tích và chất lượng của ĐNN như: gia tăng dân số, phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi mục đích sử dụng đất,… thì việc thiếu thông tin về giá trị kinh t

Trang 1

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

SINH THÁI H C

ĐàăN ng – N mă2018

Trang 2

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

Chuyên ngành : Sinh thái h c

Ng iăh ng d n khoa h c: PGS TS VÕăV NăMINH

ĐàăN ng – N mă2018

Trang 6

M ỤC LỤC

L I C M N

L I CAM ĐOAN

M C L C

DANH M C CÁC T VI T T T

DANH M C B NG BI U

DANH M C B NG HÌNH NH

M Đ U 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý NGHĨA KHOA H C VÀ TH C TI N C A Đ TÀI 3

4 C U TRÚC LU N VĔN 3

CH NG 1 T NG QUAN TÀI LI U 4

1.1 HST đất ngập nước và các giá trị chủ yếu 4

1.1.1 Khái niệm HST đất ngập nước 4

1.1.2 Hệ sinh thái dừa nước 5

1.2 Tình hình nghiên cứu giá trị DVHST đất ngập nước trên Thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Các dịch vụ HST đất ngập nước 7

1.2.2 Tình hình nghiên cứu giá trị dịch vụ HST đất ngập nước trên TG 10

1.2.3 Tình hình nghiên cứu giá trị dịch vụ HST đất ngập nước ở VN 10

1.2.4 Giá trị kinh tế dừa nước 13

1.3 Tình hình quản lý HST đất ngập nước trên Thế giới và Việt Nam 14

1.3.1 Trên thế giới 14

1.3.2 Tại Việt Nam 16

1.4 Điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu 18

1.4.1 Vị trí địa lý vùng nghiên cứu 18

1.4.2 Điều kiện tự nhiên 19

Trang 7

1.4.2.1 Điều kiện địa hình, khí tượng khu vực nghiên cứu 19

1.4.2.2 Thủy văn, hải văn 19

1.4.3 Điều kiện xã hội 20

1.4.4 Tài nguyên đất 22

1.5 HST dừa nước tại huyện Bình Sơn 23

CH NG 2 Đ I T NG & PH NG PHÁP NGHIểN C U 30

2.1 Phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Đối tượng 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu 30

2.3.2 Phuơng pháp khảo sát thực địa 30

2.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước 30

2.3.4 Phương pháp xử lý thống kê 32

2.3.5 Phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên và môi trường 32

2.3.5.1 Các phương pháp dựa vào thị trường thực 32

2.3.5.2 Phương pháp đánh giá phụ thuộc tình huống giả định 32

CH NG 3 K T QU NGHIÊN C U 33

3.1 Các dịch vụ hệ sinh thái dừa nước 33

3.1.1 Nhận thức của người dân đối với những giá trị DVHST 33

3.1.1.1 Tuần suất lựa chọn giá trị DVHST 33

3.1.1.2 Độ tuổi lao động ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST 35

3.1.1.3 Giới tính ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST 36

3.1.1.4 Nghề nghiệp ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST 38

3.1.1.5 Trình độ học vấn ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST 41

3.1.1.6 Thu nhập của đối tượng điều tra ảnh hưởng đến nhận thức các giá trị DVHST 43

3.1.2 Nhận thức của người dân đối với những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST 46 3.1.2.1 Tần suất lựa chọn những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST 46

3.1.2.2 Đánh giá nhận thức của người dân đối với những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị DVHST 47

Trang 8

3.2 Nguyện vọng sử dụng hệ sinh thái dừa nước 49

3.3 Lượng hóa các giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái 50

3.3.1 Lượng hóa các giá trị kinh tế trực tiếp 50

3.3.1.1 Giá trị đánh bắt thủy, hải sản 50

3.3.1.2 Giá trị nuôi trồng thủy sản 51

3.3.1.3 Giá trị khai thác lâm sản 51

3.3.2 Lượng hóa các giá trị kinh tế gián tiếp 52

3.3.2.1 Giá trị cung cấp nước tưới 52

3.3.2.2 Giá trị tùy chọn 53

3.3.2.3 Giá trị để lại 54

3.4 Giá trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp HST dừa nước 55

3.5 Đề xuất giải pháp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước 56

3.5.1 Quy hoạch quản lý sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững HST dừa nước 56

3.5.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý HST dừa nước 58

3.5.3 Tổ chức quản lý 58

3.5.4 Truyên thông nâng cao nhận thức 59

K T LU N VÀ KI N NGH 61

I Kết luận 61

II Kiến nghị 61

TÀI LI U THAM KH O

PH L C 1: S LI U ĐI U TRA

PH L C 2: HÌNH NH ĐI U TRA

PH L C 3: CÁC QUY T Đ NH, BIÊN B N LIÊN QUAN

Trang 9

IUCN : International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới)

RNM : Rừng ngập mặn

UBND : y ban nhân dân

TEV : Total Economic Value (Tổng giá trị kinh tê)

VQG : Vườn quốc gia

WTP : Willing to pay

Trang 10

DANH M ỤC BẢNG BI U

1.1 Tổng giá trị kinh tế tại một số vùng đất ngập nước 11 1.2 Độ mặn trung bình trong mùa cạn trên sông Trà Bồng 20 1.3 Độ mặn lớn nhất trong mùa cạn trên sông Trà Bồng 20

3.2 Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của độ tuổi lao động

3.3 Kết quả kiểm định Explore của yếu tố độ tuổi lao động đối với

Trang 11

3.10 Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của thu nhập ảnh

3.11 Kết quả kiểm định Explore của yếu tố thu nhập đối với những

giá trị dịch vụ có sự nhận định khác nhau 44

3.12 Tần suất lựa chọn yếu tố tác động đến giá trị DVHST 47

3.13 Tổng hợp kết quả kiểm định Chi-Square của đối tượng khảo

3.14 Tần suất lựa chọn vai trò của HST dừa nước 49

3.16 Mục đích giữ lại để sử dụng HST dừa nước (tỉ lệ %) 49

3.18 Lợi nhuận ròng do nuôi cá tại khu vực nghiên cứu 51

3.20 Mức sẵn lòng chia trả của người dân cho quỹ bảo tồn tài

nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích hiện tại 53

3.21 Mức sẵn lòng chia trả của người dân cho quỹ bảo tồn tài

nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích tương lai 54

Trang 12

DANH M ỤC BẢNG HÌNH ẢNH

1.1 Mối quan hệ giữa các dịch vụ hệ sinh thái và các thành tố/yếu

1.2 Giá trị tổng quát của dịch vụ hệ sinh thái 9

Trang 13

bệnh; Dịch vụ du lịch và văn hóa như: giá trị du lịch, giải trí, nghiên cứu, tôn giáo và

các lợi ích phi vật chất khác [15], [35], [57] Các dịch vụ này mang lại các lợi ích về

kinh tế, sức khỏe và xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển tại địa phương

Việt Nam có hơn 10 triệu hecta đất ngập nước, phân bố ở hầu khắp các vùng sinh

thái trên cả nước, gồm nhiều loại hình đa dạng như đầm phá, đầm lầy, bãi bồi cửa sông,

rừng ngập mặn ven biển, ao hồ tự nhiên và nhân tạo [8] Tuy nhiên, trong 15 năm qua ĐNN đã và đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng Các khu rừng ngập mặn tự

nhiên ven biển đã suy giảm nhiều so với trước đây thay vào đó là các đầm nuôi thủy

sản, các công trình du lịch và một số diện tích rừng trồng Diện tích rừng ngập mặn đã

giảm đi 183.724 ha trong 20 năm từ 1985-2005, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản

đã tăng lên 1.1 triệu ha vào năm 2003 [8] Nguyên nhân dẫn đến suy giảm diện tích và

chất lượng của ĐNN như: gia tăng dân số, phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi mục đích sử dụng đất,… thì việc thiếu thông tin về giá trị kinh tế hệ sinh thái đất ngập nước đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên này Đây là thông

số đầu vào quan trọng giúp cho các nhà quản lý môi trường, các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan quản lý có những luận cứ chắc chắn đưa ra những giải pháp,

biện pháp phù hợp đối với từng khu vực đất ngập nước cụ thể sao cho sử dụng đi đôi

với bảo tồn Hiện nay, tại Việt Nam các thông tin về giá trị kinh tế của đất ngập nước

còn rất thiếu và chưa đồng bộ [32] Do đó, hầu hết các quyết định về sử dụng đất ngập nước thường đứng trên quan điểm cá nhân và chỉ tính đến giá trị trực tiếp mà đất ngập nước mang lại trong khi thường bỏ qua hoặc đánh giá thấp lợi ích tổng thể mà đất ngập nước mang lại cho xã hội Vì vậy, khi áp dụng vào thực tế thì tính hiệu quả không cao

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị DVHST như

Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Hữu Ninh và cộng sự (2004), Đỗ Nam Thắng (2010), Đinh Đức Trường (2010), Kim Thị Thúy Ngọc (2015) Tuy nhiên, những nghiên cứu này tập

trung vào việc đề xuất những phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và lượng giá

kinh tế các giá trị DVHST, chưa có nhiều nghiên cứu về nhận thức của người dân địa phương về tầm quan trọng của nhóm DVHST

Xã Bình Phước hiện có khoảng 100,71 ha đất ngập nước trong đó tập trung chủ

yếu ở hồ Thái Cân với HST dừa nước Với diện tích lớn, có nhiều vai trò quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu, đánh giá, lượng hoá các giá trị dịch vụ do HST dừa nước

Trang 14

mang lại, mặc dù đã bao đời nay, người dân đã và đang khai thác những giá trị này để

phục vụ đời sống và sinh kế

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, đề tài “Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái

dừa nước tại xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi & đề xuất các giải

dân cư, từ đó đề xuất biện pháp quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững HST dừa nước

tại địa phương

2 M ục tiêu đ tài

Góp phần cung cấp thông tin về nhận thức, giá trị lượng hóa các dịch vụ hệ sinh

thái để quy hoạch phát triển, khai thác, bảo vệ, quản lý hiệu quả tài nguyên đất ngập nước, hướng đến phát triển bền vững

Điều tra được mức độ nhận thức tầm quan trọng, yếu tố rủi ro và nguyện vọng sử

dụng các giá trị dịch vụ HST dừa nước gồm:

- Điều tra mức độ nhận thức tầm quan trọng của các dịch vụ hệ sinh thái dừa nước;

- Điều tra các yếu tố tác động đến hệ sinh thái dừa nước;

- Điều tra nguyện vọng sử dụng hệ sinh thái dừa nước

Đánh giá được các giá trị kinh tế của hệ sinh thái đến sự phát triển kinh tế của xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

- Lượng hóa được các giá trị kinh tế trực tiếp:

+ Khai thác thủy hải sản;

+ Nuôi trồng thủy sản;

+ Khai thác lâm sản

- Lượng hóa được các giá trị gián tiếp:

+ Giá trị cung cấp nguồn nước tưới;

+ Giá trị tùy chọn;

+ Giá trị để lại

Đề xuất được các giải pháp khả thi đối với việc quản lý, bảo vệ, bảo tồn và khai

thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên HST dừa nước

Trang 15

3 ụ NGHƾA KHOA H C VÀ TH C TI N C A ĐỀ TÀI

Ý nghĩa khoa học: Cung cấp thông tin về khoa học, góp thêm dẫn liệu về đánh

giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển

bền vững khu vực đất ngập nước huyện Bình Sơn Góp phần bổ sung tư liệu vào việc

nghiên cứu đất ngập nước tỉnh Quảng Ngãi

Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp dữ liệu cho quy hoạch, quản lý, bảo vệ và phát triển

bền vững hệ sinh thái dừa nước tại khu vực nghiên cứu

Luận văn gồm có các phần sau:

- Mở đầu

- Tổng quan tài liệu

- Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu

- Kết luận và Kiến nghị

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 16

CH ƠNG 1 T NG QUAN TÀI LIỆU

Đất ngập nước (ĐNN) rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan

trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới ớc tính diện tích trên toàn cầu là

1280 triệu ha (tương đương với khoảng 9% diện tích bề mặt), là nơi con người và các

nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng ĐNN ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng1

Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về ĐNN2 Tuy nhiên, định nghĩa về ĐNN của Công ước RAMSAR có tầm khái quát và bao hàm nhất Theo định nghĩa này, ĐNN là: "Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước

mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6m khi thuỷ triều thấp đều là các vùng đất ngập nước"3

Đất ngập nước cung cấp một loạt các dịch vụ thiết yếu và quan trọng (ví dụ như

cung cấp nước ngọt, nguồn lợi thủy sản và chất xơ, lọc nước, bảo vệ bờ biển, cơ hội giải

trí và du lịch) có ý nghĩa sống còn đối với sự thịnh vượng của con người Duy trì chức năng tự nhiên của các vùng đất ngập nước sẽ cho phép chúng tiếp tục cung cấp các dịch

vụ này ớc tính các dịch vụ cung cấp bởi đất ngập nước có trị giá 14 nghìn tỷ USD

mỗi năm [52]

Các giá trị kinh tế ĐNN cung cấp cho hệ thống kinh tế được thể hiện qua chức năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước (DVHST ĐNN) Chức năng HST ĐNN là cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho hệ thống kinh tế Về cơ bản, chức năng

sinh thái của HST ĐNN là kết quả của sự tương tác liên tục giữa các cấu trúc và quá trình sinh thái Barbier (1994) đưa ra hệ thống phân loại các chức năng của ĐNN gồm

4 nhóm chính là chức năng điều tiết (regulation function), chức năng cư trú (habitat

function), chức năng sản xuất (production function) và chức năng thông tin (information

function):

Chức năng điều tiết: có liên quan đến năng lực của HST trong việc điều tiết các quá trình căn bản của HST và hệ thống hỗ trợ đời sống (life support systems) thông qua chu trình sinh địa hóa và các quá trình sinh học Bên cạnh việc duy trì HST, chức năng

1 Mitsch (1986), Gosselink (1993); Dugan (1990); Keddy (2000)

2 Mitsch (1986), Gosselink (1993); Dugan (1990)

3 Điều 1.1 Công ước Ramsar, 1971

Trang 17

điều tiết cũng cung ứng nhiều dịch vụ mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho con người (ví dụ: không khí, nước, dịch vụ kiểm soát sinh thái)

Chức năng cư trú: của HST liên quan đến việc cung cấp địa bàn cư trú và sinh

sản cho các sinh vật, từ đó giúp bảo tồn và duy trì nguồn gen, ĐDSH và quá trình tiến

hóa

Chức năng sản xuất: quá trình quang hợp của HST chuyển hóa năng lượng, khí

CO2, nước và các chất dinh dưỡng thành nhiều dạng cấu trúc cacbon Các cấu trúc này sau đó được sử dụng bởi các sinh vật để tổng hợp thành sinh khối của hệ Sự đa dạng

trong cấu trúc cacbon cung cấp hàng hóa sinh thái cho con người như thực phẩm, nguyên

liệu thô hay các nguồn năng lượng

Chức năng thông tin: HST cung cấp thông tin cơ bản cho đời sống tinh thần của con người như giải trí, thẩm mỹ, văn hóa, tôn giáo, khoa học, giáo dục

Như vậy, các chức năng của HST tự nó không mang lại giá trị kinh tế; thay vì đó,

các chức năng cung cấp các hàng hóa và dịch vụ và việc sử dụng các hàng hóa và dịch

vụ đó mới mang lại các giá trị kinh tế cho con người [32], [36]

Quần thể dừa nước chiếm ưu thế đóng vai trò chủ đạo hình thành nên HST dừa nước và các loài sinh vật thủy sinh sống trong vùng có dừa nước, giữa chúng có mối

quan hệ hữu cơ lẫn nhau và chịu sự tác động qua lại của các yếu tố môi trường HST

dừa nước là nơi có độ đa dạng sinh học cao, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp

thực phẩm, các dịch vụ hỗ trợ như: nơi cư trú, nơi sinh sản cho nhiều loài sinh vật biển

và sông có giá trị như: tôm, cua, ghẹ và các động vật thân mềm Ngoài ra, hệ sinh thái

dừa nước còn có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, chống xói lở, tạo

trầm tích và hoạt động như một máy lọc sinh học, duy trì cân bằng sinh thái cho môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch sinh thái [14]

Dừa nước có tên khoa học Nipa fruticans, thuộc họ Cau (Arecaeae), bộ Cau (Arecales) được phân bố tại những vùng đất ngập mặn cửa sông ven biển Thân cây dừa nước mọc ngang dưới lòng đất, chỉ có lá và cuống hoa mọc lên trên, do đó không được xem như một loại cây gỗ, mặc dù tán lá có thể cao đến 9m [29]

Dừa nước có buồng quả to, gần hình cầu Mỗi buồng có từ 40-60 quả, quả có

nhân cứng, cơm của quả màu trắng, mềm, ngon, có thể ăn được, 1kg có từ 10-12 quả;

từ cuống của buồng hoa, quả có thể được trích nhựa dừa nước, là một loại chất dịch có

vị ngọt để làm đường, rượu, nước giải khát rất đặc biệt ở một số nước như Philippines,

Thái Lan, Bangladesh; Hạt non cho nội nhũ ăn được, nhân hạt già trắng dùng làm cúc

áo [7] Hạt dừa nước khô già sẽ rơi rụng và phân tán theo thủy triều, có khi mọc mầm

ngay khi trôi nổi [44]

Trang 18

Dừa nước có khả năng sinh sản rất nhanh bằng cách sinh sản dinh dưỡng do phần

thân ngầm mọc ra cây mới Cách sinh sản sinh dưỡng do sự phát tán của quả và mọc

cây con trong rừng dừa nước là rất khó Việc trồng cây con lúc nước ngọt (tháng 10, 11,

12) cho khả năng sống cao hơn và tốt nhất [13]

Chiều cao của lá là chỉ tiêu cho biết tình trạng sức khoẻ của HST dừa nước Chiều

cao trung bình từ 4-6m Lá sau khi khai thác xong, khoảng 15 ngày sau thì lên lá non, 6 tháng sau thì lá già đi [7]

* Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh trưởng, phát triển của

cây dừa nước:

- Yếu tố khí hậu: Khí hậu có nhiều thành phần, mỗi thành phần có ảnh hưởng

nhất định đến sự sinh trưởng, phân bố của các loài và giữa các thành phần có tác động

qua lại lẫn nhau Trong các yếu tố khí hậu thì nhiệt độ, lượng mưa và gió có tác động

lớn nhất đến cây dừa nước

- Các yếu tố thổ nhưỡng: môi trường vùng đất ngập mặn cửa sông ven biển có sự

phân bố các kiểu trầm tích đáy rất phức tạp Và cây dừa nước thích hợp với nền đáy chủ

yếu là bùn sét và cát màu đen chứa nhiều mùn bã hữu cơ, dần ra ở các lòng sông thì nền đáy có sự thay đổi, hàm lượng cát tăng lên, chuyển từ bùn sét cát sang bùn cát và cát

bùn

- Chế độ thủy triều: là yếu tố quan trọng cho sự phân bố của cây ngập mặn trên

vùng triều Dừa nước phân bố ở vùng nước ngược dòng tại cửa sông, nơi có hoạt động

của thủy triều Dừa nước hình thành những vành đai rộng lớn dọc theo các vùng nước

lợ đến các vùng nước ngọt của các con lạch và các nhánh sông dưới tác động của thủy

triều Dừa nước phát triển mạnh, đặc biệt là ở vùng nước sạch [43]

- Độ mặn: Dừa nước phân bố ở những khu vực có độ mặn thấp (< 10‰), ở độ

mặn lớn hơn 15‰ chúng không xuất hiện [42]

Dừa nước thích nghi môi trường nước sạch, vùng ven cửa biển có thủy triều lên

xuống, nước chảy chậm bồi đắp phù sa Vì thế, nồng độ muối cao và tác động mạnh của

sóng (kể cả do tác động của tàu thuyền qua lại) cũng ảnh hưởng xấu đến dừa nước

Trong tự nhiên, dừa nước phát tán, sinh sôi nảy nở theo sự đưa đẩy của thủy lưu [43]

Trang 19

1.2 Tình hình nghiên c ứu giá trị DVHST đất ngập n ớc trên Th giới và Việt Nam

Theo định nghĩa của Hiệp hội Sinh thái Mỹ (ESA)4: Dịch vụ hệ sinh thái là các quá trình mà môi trường tạo ra các nguồn lực mà chúng ta thường xuyên khai thác như: nước sạch, gỗ, nơi sinh sống của cá, và nơi sinh sống của ong và cây trồng nông nghiệp

Theo định nghĩa của Chương trình Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (MA)5,

“Dịch vụ hệ sinh thái Thiên niên kỷ” là dịch vụ cung cấp, điều tiết và dịch vụ văn hóa

mà chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người và các dịch vụ hỗ trợ cần thiết để duy

trì các dịch vụ này Việc đưa khái niệm dịch vụ HST thiên niên kỷ vào chương trình

toàn cầu của MA cung cấp cầu nối quan trọng giữa đòi hỏi phải duy trì đa dạng sinh học

và khả năng đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ [48]

Như vậy, dịch vụ hệ sinh thái là quá trình cung cấp các hàng hóa và dịch vụ

của tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người một cách trực tiếp hoặc gián

tiếp

Cũng theo Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ, DVHST bao gồm 4 loại hình:

- Dịch vụ cung cấp (DVCC): thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồn gen,…

- Dịch vụ điều tiết (DVĐT): phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hoà khí

hậu, điềt tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh,…

- Dịch vụ văn hoá (DVVH): giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch

sinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục,…

- Dịch vụ hỗ trợ (DVHT): cấu tạo đất, điều hoà dinh dưỡng, cung cấp nơi cư trú,

sinh sản cho các loài động thực vật,…

4 Econogical Socialty of America

5 Millennium Ecosystem Assessment (2005)

Trang 20

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các dịch vụ hệ sinh thái và các thành tố/yếu tố quyết định

sự thịnh vượng của con người

Trang 21

Để thấy được giá trị kinh tế của DVHST, thông thường người ta chia thành các

dạng giá trị như sau:

Như vậy, giá trị kinh tế của DVHST có thể được chia làm 02 nhóm chính Nhóm

thứ nhất là giá trị sử dụng và nhóm thứ hai là giá trị phi sử dụng Giá trị sử dụng bao

gồm giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị tùy trọn; giá trị phi sử

dụng bao gồm 02 thành tố là giá trị để lại và giá trị bảo tồn

- Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct use value/consumptive value): là giá trị của tài

sản/tài nguyên có thể dùng hoặc tiêu thụ trực tiếp Ví dụ: Giá trị của gỗ trong rừng, các

sản phẩm ngoài gỗ của rừng như cây thuốc, giá trị du lịch sinh thái …

- Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect use value – non consumptive value): là những

giá trị sử dụng gián tiếp Ví dụ: phòng chống xói mòn, tích trữ các bon …

- Giá trị tùy chọn (Option value): các giá trị sử dụng trực tiếp và các giá trị sử

dụng gián tiếp nhưng tùy thuộc vào từng hệ sinh thái và cách nhìn nhận của người đánh

giá Ví dụ: Rừng ở miền núi có giá trị hạn chế xói mòn, còn rừng ngập mặn ven biến có

giá trị chắn sóng, rừng ven đường giao thông có tác dụng bảo vệ đường hạn chế tai

nạn,

- Giá trị để lại (Bequest value): Phụ thuộc vào cách thức sử dụng của con người

Nếu không khai thác khoáng sản ngày hôm nay và để lại cho thế hệ mai sau khai thác

thì giá trị để lại của nó là như thế nào

- Giá trị bảo tồn (Existence value): Giá trị của sự tồn tại hay là giá trị của việc

bảo tồn và gìn giữ tài nguyên thiên nhiên Ví dụ: Có rừng ngập mặn mới có cá, có mật ong, có chim nước Vậy để duy trì phải chi phí bảo tồn

Trang 22

Nh vậy, giá trị kinh t các DVHST là quá trình l ng hóa, tính toán và chuy ển đổi thành ti n các giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái

Hệ sinh thái đất ngập nước có giá trị vô cùng to lớn gắn liền với sự phát triển của

từng quốc gia, khu vực có ĐNN Lượng hóa giá trị DVHST là một chủ đề được nhiều

nhà nghiên cứu và các tổ chức Quốc tế trên thế giới quan tâm Cho đến nay, các nghiên

cứu trong việc đo lường các giá trị kinh tế của các DVHST đã được triển khai khá nhiều Sau đây là một số ví dụ điển hình về các quốc gia trên thế giới thực hiện các nghiên cứu

về giá trị dịch vụ HST đất ngập nước:

Theo nghiên cứu của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN)6 được thực

hiện tại khu vực Ban Naca và Ban Bangman thuộc tỉnh Rangnong của Thái Lan, nhằm đánh giá mối quan hệ giữa sinh thái – kinh tế - sinh kế của người dân thông qua việc lượng hóa giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái của rừng ngập mặn: Các sản phẩm từ rừng

ngập mặn (ngoài cá), Dịch vụ cung cấp các khu vực nuôi trồng thủy sản và khu sinh

sống, Bảo vệ đới bờ, đã xác định được tổng giá trị kinh tế là 89.127.478 Baths/năm [37]

Nghiên cứu của UNEP (2011) tại rừng ngập mặn ở Vịnh Gazi, Kenya cho thấy

giá trị tổng giá trị kinh tế mà DVHST rừng ngập mặn cung cấp ước tính tổng giá trị kinh

tế 1.092,3 USD/ha/năm, bao gồm các nhóm giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng

Giá trị sử dụng được tính toán cho các nhóm như: (i) giá trị sử dụng trực tiếp (thủy sản,

gỗ, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục và nuôi ong); (ii) giá trị sử dụng

gián tiếp (bảo vệ đới bờ, tích trữ các bon và đa dạng sinh học) [38]

Hệ sinh thái đất ngập nước trong toàn bang Delaware Hòa Kỳ đang bị đe dọa bởi

việc mở rộng phát triển liên quan đến dân số ngày càng gia tăng Nghiên cứu này đánh

giá những thay đổi trong các DVHST có thể là kết quả của các xu hướng biến đổi đầm

lầy ở Delaware Cụ thể, phân tích đánh giá sự thay đổi trong việc cung cấp các DVHST liên quan đến việc giảm 1,2 % diện tích đất ngập nước trên toàn tiểu bang (3.232 mẫu đất ngập nước) trong khoảng thời gian 15 năm (2007-2022) đã ước tính tổn thất hàng năm khoảng 2,4 triệu USD trong giá trị của các DVHST được phân tích [39]

Các dịch vụ hệ sinh thái ĐNN tại Việt Nam đã và đang đóng vai trò quan trọng

cho sự phát triển kinh tế xã hội ĐNN tại Xuân Thủy - Hải Phòng là một vùng cực kỳ

quan trọng cho các loài chim nước và chim ven biển di cư, và là nơi cư trú thường xuyên

của một số loài bị đe dọa toàn cầu và cung cấp nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương đang sinh sống bao gồm: Khai thác nguồn lợi tự nhiên 49,782 tỷ VND/ năm, Nguồn lợi

từ canh tác 259,917 tỷ VND/năm, Giảm thiểu nguy cơ thiên tai 23,526 tỷ VND/năm,

6 International Union for Conservation of Nature and Natural Resources

Trang 23

Điều hòa khí hậu 1.343.801 tỷ VND/năm Rừng ngập mặn của khu vực có ý nghĩa trong

việc duy trì nguồn lợi thủy sản, là nguồn cung cấp gỗ và củi, và bảo vệ các khu dân cư

ven biển khỏi tác động của bão lụt [15], [16], [33]

Nghiên cứu giá trị kinh tế của RNM Cần Giờ cho thấy giá trị sử dụng trực tiếp

chính của RNM như cây gỗ, củi đun, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, than hoa, muối cho

thấy tổng giá trị kinh tế của RNM là 8.387.138 đồng/năm [41]

Theo nghiên cứu của Mai Trọng Nhuận và cộng sự năm 2004 đã tính toán tổng

giá trị kinh tế (TEV7) của một số khu ĐNN của Việt Nam [22] Dựa trên các kết quả thu được từ những nguồn khác nhau, nghiên cứu đã thử nghiệm đánh giá các giá trị kinh tế

của các khu vực ĐNN trên toàn quốc Tổng giá trị kinh tế được tính theo đơn vị đồng/ha

cho từng khu vực trình bày trong bảng 1.1:

B ảng 1.1 Tổng giá trị kinh tế tại một số vùng đất ngập nước

- Tỉnh Cà Mau (bãi lầy phía Đông Cà

Mau, khu vực cửa sông Cửa Lớn và bãi

lầy phía Tây Cà Mau tại Vịnh Thái Lan)

Trang 24

2 - Cửa sông Văn Úc 10.249.750 11.336.650

5 - Phá Tam Giang – Cầu Hai 31.125.200 35.208.500

8 - Bãi triều Tây nam Cà Mau 60.134.000 70.286.800

Theo Mai Trọng Thông (2005), ĐNN tại Đồng bằng sông Cửu Long có giá trị ĐDSH và là vùng đất mầu mỡ cho canh tác Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa gạo

của cả nước, đóng góp 80% sản lượng gạo xuất khẩu của quốc gia [26]

Nghiên cứu đánh giá các giá trị sử dụng trực tiếp của các dịch vụ hệ sinh thái

rừng ngập mặn ở Cà Mau tập trung vào đánh giá các dịch vụ cung cấp của RNM, bao

gồm: đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, củi đun, gỗ, dừa nước, cây dược liệu cho thấy giá

trị sử dụng trực tiếp của RNM là 7,549 triệu đồng/ha/năm [56]

Theo nghiên cứu của Đinh Đức Trường (2010) giá trị kinh tế tổng thể và từng

phần của tài nguyên ĐNN tại vùng cửa sông Ba Lạt thuộc VQG Xuân Thủy, tỉnh Nam Định xấp xỉ 89 tỷ đồng/ 1 năm bao gồm: Giá trị sử dụng trực tiếp, chủ yếu là giá trị khai

thác và nuôi trồng thủy sản, chiếm tỷ trọng và qui mô lớn nhất (81 tỷ đồng/năm) tương ứng với 92,3% giá trị kinh tế toàn phần của ĐNN Các giá trị sử dụng gián tiếp (7,3 tỷ đồng/năm) chiếm 3,3% giá trị kinh tế toàn phần và bao gồm giá trị hỗ trợ sinh thái cho

nuôi trồng thủy sản, giá trị phòng hộ đê biển và giá trị hấp thụ cacbon của rừng ngập

mặn Giá trị phi sử dụng, cụ thể là giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm 0,45% giá trị

kinh tế toàn phần của ĐNN tại khu vực (khoảng 400 triệu đồng/năm)

Tương tự như các nghiên cứu khác, nghiên cứu lượng hóa các giá trị của dịch vụ

hệ sinh thái ở vùng lõi và vùng đệm của VQG Cát Tiên đã chứng minh giá trị to lớn của

các dịch vụ HST, bao gồm dịch vụ cung cấp (gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ), dịch vụ điều tiết (điều tiết chất lượng và dòng chảy của nước, hấp thụ các-bon, thụ phấn), dịch

vụ văn hóa (du lịch dựa vào thiên nhiên, giải trí và giáo dục) với tổng giá trị hàng hóa

và dịch vụ là 1,091 tỷ đồng (giá trị năm 2012) [46]

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thúy Hằng (2012) và Trần Thị Tú, Trần

Hiếu Quang (2015) cho thấy giá trị kinh tế vùng ĐNN của rừng ngập mặn Rú Chá, xã Hương Phong, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế mang lại nhiều giá trị sử dụng

Trang 25

và kinh tế cho người dân sống trong khu vực, với tổng giá trị kinh tế ước lượng khoảng

1,25 triệu đồng/năm Trong đó bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp như củi đốt, dược liệu,

cây cảnh, nuôi trồng thủy sản mang lại giá trị 1,171 triệu đồng/năm, chiếm tỷ lệ 93,71%

tổng giá trị kinh tế Giá trị sử dụng gián tiếp gồm điều hòa khí hậu, tích lũy nước ngầm,

hấp thụ bụi, du lịch sinh thái, sản xuất O2 … ước tính giá trị là 46,786 triệu đồng/năm,

chiếm tỷ lệ 3,74% tổng giá trị kinh tế Giá trị phi sử dụng do rừng ngập mặn Rú Chá

mang lại bao gồm giá trị chọn lựa, giá trị thông tin, giá trị để lại và giá trị tồn tại, ước

tính giá trị mang lại là 31,831 triệu đồng/năm chiếm tỷ lệ 2,55% [17], [28]

Theo nghiên cứu của Kim Thị Thúy Ngọc (2015) giá trị các dịch vụ hệ sinh thái

của rừng ngập mặn tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau bao gồm: Giá trị dịch vụ cung

cấp khoảng 15,962 triệu đồng/ha/năm; Giá trị kinh tế chức năng phòng hộ của rừng ngập

mặn khoảng 16,130 triệu đồng/ha/năm; Giá trị dịch vụ hấp thụ các-bon khoảng 1,921 –

9,842 triệu đồng/ha/năm [20]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cự (2016) đã xác định những giá trị

dịch vụ sinh thái cơ bản của các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh là khả năng

cung cấp nước, lương thực thực phẩm, giá trị hỗ trợ, các dịch vụ du lịch sinh thái và sinh

kế cho đại bộ phận các cộng đồng dân cư nông thôn ở Quảng Ninh [11]

Giá trị kinh tế từ dừa nước rất phong phú và có ý nghĩa quan trọng đối với người dân địa phương, đã và đang đem lại sinh kế cho người dân vùng duyên hải miền Trung, đặc biệt là những người dân nghèo của nhiều nước châu Á như: Thái Lan, Philippines,

Indonesia, Malaysia, Sri Lanka, Bangladesh và n Độ [7] Các sản phẩm từ cây dừa nước: lá lợp nhà, làm vách, làm các dụng cụ trong gia đình như chổi, gàu, túi xách; sản

xuất đường, giấm, đồ uống có cồn, đem lại thu nhập đáng kể cho người dân Ngoài ra,

các tài nguyên thủy sản trong vùng dừa nước như tôm, cua, cá, sò, ốc, được khai thác

trực tiếp trong các hệ thống kênh rạch và các vùng đất lầy nước lợ và nguồn cảnh quan nơi đây được sử dụng để phục vụ vui chơi, giải trí, du lịch sinh thái [44]

Narit (1996) cho rằng sản phẩm đường từ dừa nước là nguồn thu nhập chính cho người dân Pak Phannang (Thái Lan) Một hộ gia đình có thể kiếm được 70.930 baht/năm, cao hơn mức thu nhập trung bình đối với người dân làm nông nghiệp trong

vùng này Với 0,16 ha dừa nước cho được 3.773 – 4.955 lít nước dịch trong một mùa

[45]

Joshi (2006) cho biết ở Tây Aceh, Indonesia, lá dừa nước non được thu hoạch để

làm giấy quấn thuốc lá điếu và 01 héc-ta rừng dừa nước có thể mang lại thu nhập 220

USD

Trang 26

Theo nghiên cứu của Bamroongrugsa và cộng sự (2004) tại huyện Pak Phanang,

tỉnh Nakhon Si Thammarat ở miền nam Thái Lan, rừng dừa nước tự nhiên có diện tích

3.200 ha Khoảng 90% số hộ gia đình trong huyện tạo sinh kế từ khai thác mật nhựa dừa nước để sản xuất đồ uống và đường (Thu Hà, 2004) ớc tính 01 ha rừng dừa nước cho

ra 2.400 - 3.000 lít nhựa hoặc 1.000 kg đường mỗi tháng Khai thác mật dừa nước được

thực hiện 08 tháng trong 01 năm Mỗi hộ gia đình có thể kiếm được đến 1.350 USD mỗi năm nhờ bán thức uống và đường làm ra từ mật dừa nước [7]

Philippines, giấm dừa nước được sản xuất thương mại tại Paombong, huyện

Bulacan (Sanchez, 2008)

Theo Päivöke (1996), Sanchez (2008) cho biết người dân ở các vùng ven biển Đông Nam Á sử dụng mật nhựa dừa nước như là một thức uống phổ biến Nhựa này có

màu trắng sữa, cần phải được tiêu thụ trong ngày khai thác vì tự thân nó sẽ lên men Sau

một hoặc hai ngày, nó sẽ trở thành một thức uống có cồn với nồng độ cồn là 6-12% Mật

nhựa tươi có hàm lượng đường sucrose 15-16% và pH là 7,5

Theo kết quả nghiên cứu của Basit (1995), Kabir và Hossain (2007) cho biết dừa nước là một trong những cây rừng ngập mặn có giá trị cao nhất của vùng Sundarbans ở

Bangladesh Với diện tích được ước tính khoảng 6.000 km2, hàng năm có khoảng 19.200 người thu hoạch lá tàu ở Sundarbans và mang đi bán ở các làng lân cận với giá 12 USD

mỗi tấn [7]

Ngày 2/2/1971 tại thành phố Ramsar, Iran, Liên Hợp Quốc thông qua Công ước

về vùng đất ngập nước (Công ớc Ramsar) và chọn ngày 2 tháng 2 hàng năm được

chọn là Ngày đất ngập nước thế giới

Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp

lý và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng

của các vùng đất ngập nước và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của

chúng

Tuy nhiên, chính sách đất ngập nước hiếm khi được quy định một cách rõ ràng ở

cấp quốc gia trong các chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên hiện có như: nước,

rừng, đất, nông nghiệp hoặc các lĩnh vực khác Do vậy, việc xây dựng một tuyên bố

chung hoặc chiến lược chính sách riêng biệt có thể là một bước quan trọng để công nhận

các vấn đề đất ngập nước và có hành động cụ thể để giải quyết những mục tiêu của

chúng Một chính sách ĐNN duy nhất cung cấp một cơ hội rõ ràng để công nhận vùng

Trang 27

ĐNN vì các hệ sinh thái đòi hỏi các phương pháp tiếp cận khác nhau để quản lý và bảo

tồn, và không bị che khuất dưới các mục tiêu quản lý ngành khác

Công tác quản lý ĐNN của những quốc gia trên thế giới dựa trên Triết lý cốt lõi

của công ước Ramsar là khái niệm “sử dụng không khéo” Sử dụng khôn khéo đất ngập nước là duy trì đặc tính sinh thái của đất ngập nước, đạt được thông qua việc thực hiện

cách tiếp cận hệ sinh thái, trong bối cảnh phát triển bền vững Vì vậy, tâm điểm của “Sử

dụng khôn khéo” là bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN vì lợi ích của con người Trên cơ sở triết lý cốt lõi của Công ước Ramsar và tùy thuộc vào điều kiện tại

mỗi quốc gia mà có những chính sách quản lý, khai thác phù hợp các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước

Những chính sách quản lý vùng ĐNN được áp dụng ở một số quốc gia Hoa Kỳ,

Uganda, Thái Lan

Tại Hoa Kỳ

Trong hơn 200 năm qua đã mất hơn 50% diện tích đất ngập nước Hiện nay chính

phủ Hoa Kỳ đã quan tâm đến bảo tồn đất ngập nước, tuy nhiên theo thống kê (tính đến năm 2004) thì mỗi năm cả nước đang mất khoảng 240km2 đất ngập nước Vì vậy, để

bảo vệ các vùng đất ngập nước, Hoa Kỳ đã ban hành một số đạo luật về quản lý, bảo vệ

và phát triển vùng đất ngập nước như: Đạo luật về Chim di cư, Đạo luật bảo tồn chim

di cư, Đạo luật về sông và bến cảng, Đạo luật bảo tồn đất ngập nước Bắc Mỹ,… và tham gia Công ước Ramsar [54], [55]

Tại Uganda

Nhằm hạn chế suy giảm diện tích đất ngập nước và đảm bảo lợi ích từ các vùng đất ngập nước bền vững, chính phủ ban hành chính sách vùng đất ngập nước [50]:

- Không chuyển đổi mục đích sử dụng vùng đất ngập nước trừ khi các yêu cầu

quản lý môi trường quan trọng hơn thay thế;

- Sử dụng bền vững để đảm bảo rằng lợi ích của vùng đất ngập nước được duy trì trong tương lai gần;

- Quản lý các vùng ĐNN, vùng gần bờ đảm bảo rằng các khía cạnh khác của môi trường không bị ảnh hưởng bất lợi;

- Phân phối công bằng lợi ích đất ngập nước;

- Áp dụng các quy trình đánh giá tác động môi trường đối với tất cả các hoạt động được thực hiện trong vùng đất ngập nước để đảm bảo rằng việc phát triển đất ngập nước được quy hoạch và quản lý tốt

Trang 28

Tại Thái Lan

Công tác quản lý, bảo tồn và phục hồi các vùng đất ngập nước dựa trên sự phối

hợp của tất cả các bên liên quan nhằm đạt mục đích cho phép sử dụng bền vững hệ sinh thái đất ngập nước được quy định trong những mục tiêu của chính sách quản lý vùng đất ngập nước [46]:

- Xây dựng kế hoạch quản lý tổng hợp các vùng đất ngập nước quan trọng;

- Thiết lập các cơ quan có trách nhiệm và các mạng lưới cộng đồng để bảo tồn ĐNN;

- Nghiên cứu và ưu tiên các vùng ĐNN phù hợp với tiềm năng và điều kiện của

chúng;

- Phát triển các chương trình để tăng cường kiến thức và hiểu biết đến cán bộ, người địa phương cũng như các cộng đồng về bảo tồn và sử dụng khôn ngoan các vùng ĐNN;

- Thúc đẩy sự tham gia của công chúng vào việc lập kế hoạch quản lý, bảo tồn

các cán bộ có liên quan để tiếp nhận trong lĩnh vực này;

- Rà soát, đánh giá và ưu tiên lại các loại ĐNN khác nhau, để có được thông tin

cơ bản về quản lý vùng ĐNN

- Phát triển hệ thống theo dõi và đánh giá có sự tham gia của quản lý ĐNN, với

cơ chế phổ biến thông tin

Việt Nam có một hệ thống tài nguyên đất ngập nước rất phong phú với diện tích hơn 10 triệu hecta phân bố rộng khắp cả nước, gồm nhiều loại hình đa dạng như đầm phá, đầm lầy, bãi bồi cửa sông, rừng ngập mặn ven biển, ao hồ tự nhiên và nhân tạo ĐNN là một tài nguyên quan trọng cung cấp rất nhiều giá trị trực tiếp và gián tiếp cho

cộng đồng xã hội như thủy sản, dược liệu, phòng chống thiên tai, bảo vệ bờ biển, hấp

thụ CO2, bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học cũng như các giá trị văn hoá, lịch sử và

xã hội khác

Mặc dù có vai trò quan trọng với hệ thống kinh tế, xã hội và môi trường nhưng

các hệ sinh thái ĐNN tại Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng Về số lượng, trong

Trang 29

thập kỷ qua, ước tính có khoảng 180 ngàn ha rừng ngập mặn ven biển đã bị mất, thay vào đó là các đầm nuôi trồng thủy sản, các công trình phục vụ du lịch, giao thông, thương

mại [8] Ngoài ra, ĐNN cũng chịu sự thay đổi mạnh mẽ về chất lượng do một số nguyên nhân Trước hết là ô nhiễm công nghiệp: các chất thải từ sản xuất công nghiệp, tàu

thuyền gây ảnh hưởng mạnh và nghiêm trọng tới chất lượng các sông hồ, kênh rạch chứa nước Ô nhiễm do sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp cũng là

một mối đe dọa lớn đối với chất lượng môi trường ĐNN

Năm 1989 Việt Nam tham gia Công ước Ramsar là tiền đề quan trọng trong công

tác quy hoạch, bảo tồn các khu vực ĐNN Tuy nhiên, trước năm 2003, Việt Nam vẫn chưa có một cơ quan nào chịu trách nhiệm duy nhất về quản lý ĐNN ở cấp trung ương

Mỗi bộ, ngành tùy theo chức năng được Chính phủ phân công thực hiện việc quản lý

theo từng ngành bao gồm các đối tượng đất ngập nước Đến năm 2003, sự ra đời của

nghị định số 109/2003/NĐ-CP đã phân công nhiệm vụ cho các Bộ, ngành và địa phương

trong bảo tồn và phát triển đất ngập nước

Trên cơ sở nội dung Công ước Ramsar, nghị định số 109/2003/NĐ-CP quy định

về quản lý và bảo tồn ĐNN được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về ĐNN hoặc văn bản liên quan và được xây dựng dựa trên các định hướng, chiến lược, kế hoạch

chung về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước Các chủ trương, chính sách và định hướng chung bao gồm:

- Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự

21 của Việt Nam), ban hành theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004;

- Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2008;

- Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,

ban hành theo Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/09/2012;

- Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030, ban hành theo Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/07/2013;

- Quy hoạch tổng thể Bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, ban hành theo Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014;

- Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 23/06/2014

Bên cạnh các văn bản định hướng, bảo tồn và quản lý bền vững ĐNN còn được quy định trong các quy định cụ thể về quản lý ĐNN, bao gồm:

- Thông tư số 18/2004/TT-BTNMT ngày 23/8/2004 của Bộ TN&MT hướng dẫn

thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về Bảo tồn và

phát triển bền vững các vùng ĐNN;

Trang 30

- Quyết định 04/2004/QĐ-BTNMT ngày 5/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên

và Môi trường phê duyệt Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2004-2010

- Quyết định 1551/2011/QĐ-TCMT ngày 12/12/2011 của Tổng cục Môi trường

quyết định về việc ban hành hướng dẫn phân tích chi phí - lợi ích của công tác bảo tồn

đa dạng sinh học tại một số vườn quốc gia đại diện tiêu biểu cho hệ sinh thái đất ngập nước

Có thể nói, các văn bản định hướng trên đã nêu rõ sự cần thiết phải bảo tồn và

phát huy các giá trị của HST tự nhiên nói chung và HST ĐNN nói riêng Đây là những

cơ sở quan trọng nhằm phát huy những giá trị to lớn mang lại từ dịch vụ HST của ĐNN

1.4 Đi u kiện tự nhiên, xã h i khu vực nghiên cứu

Xã Bình Phước nằm về phía Đông của huyện Bình Sơn, cách trung tâm huyện

khoảng 4km về phía Đông Tọa độ địa lý từ 15016’15” đến 15020’25” vĩ độ Bắc,

108045’50” đến 108049’35” kinh độ Đông Diện tích tự nhiên toàn xã là 2.345,71 ha,

chiếm 5,02% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó diện tích đồi núi khoảng 800

ha, vùng đồng bằng khoảng 1.445 ha và vùng đất ngập nước khoảng 100,71 ha

Khu v ực nghiên c ứu

Trang 31

1.4.2 Điều kiện tự nhiên

1.4.2.1 Điều kiện địa hình, khí tượng khu vực nghiên cứu [31]

Xã Bình Phước có địa hình, địa mạo dạng đồi núi bát úp nằm xen kẽ với vùng đồng bằng, sông suối và vùng đầm lầy, đất ngập nước có diện tích khoảng 100 ha Dãy

núi ở phía Bắc, phía Đông xã có độ cao từ 20-50m, các ngọn núi ở phía Tây và phía Nam có độ cao trung bình từ 20-60m Nhìn chung địa hình, địa mạo tương đối phức tạp,

gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế

Khu vực nghiên cứu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao, lượng mưa tương đối nhiều, bức xạ mặt trời lớn, đặc điểm khí hậu thể hiện rõ theo 02

mùa: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau

Các tháng có nhiệt độ cao từ tháng 2 đến tháng 8 (cao nhất các tháng 6, 7, 8)

Nhiệt độ cao nhất 400– 410C Các tháng có nhiệt độ thấp từ tháng 11 đến tháng 01 năm

sau, nhiệt độ trung bình 25,70C

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 – 2.300 mm/năm nhưng phân bố không đồng đều các tháng trong năm: Tập trung chủ yếu ở các tháng 10, 11 với lượng mưa bình quân khoảng 400 - 500 mm/tháng Các tháng 02, 03, 04 có lượng mưa thấp,

trung bình khoảng 60 - 70 mm/tháng

Độ ẩm trong năm có sự chênh lệch khá lớn, mùa khô có độ ẩm rất thấp nhưng tăng nhanh vào mùa mưa Độ ẩm tăng nhanh từ tháng 09 và duy trì mức ẩm đến tháng

02 năm sau Độ ẩm cao nhất vào tháng 11 là 92%

Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 700 – 900 mm/năm Những tháng mùa hè lượng bốc hơi trung bình 119 – 163 mm/tháng và thường có gió Tây Nam khô nóng Vào các tháng mùa mưa, khả năng bốc hơi thấp, chỉ chiếm 10 – 15% lượng mưa cả

tháng, các tháng cuối năm lượng bốc hơi chiếm 20 – 40% lượng mưa trong tháng

Hướng gió thịnh hành ở khu vực xã Bình Phước chủ yếu là 02 hướng Tây Nam

và Đông Bắc Hướng gió Tây Nam hoạt động từ tháng 02 đến tháng 07, từ tháng 08 đến tháng 01 năm sau chủ yếu là gió hướng Đông Bắc, tốc độ trung bình năm 2,8m/s, tốc độ

cao nhất 20 – 40m/s

1.4.2.2 Thủy văn, hải văn [31]

Sông Trà Bồng bắt nguồn từ đỉnh núi Chùa, thuộc dãy Trường Sơn, đổ ra vịnh

Dung Quất tại cửa Sa Cần Sông Trà Bồng có tổng chiều dài khoảng 62 km, lưu vực

sông từ thượng nguồn đến Bình Mỹ nằm ở vùng đồi núi, diện tích lưu vực là 626 km2,

độ rộng bình quân lưu vực là 9,6 km, độ dài lưu vực là 41 km, bề rộng lòng sông trung

bình 200m, nhánh Thái Cân và Cáp Đa là 100m Trước khi đổ ra vịnh Dung Quất, sông

chia thành 3 nhánh: nhánh giữa là dòng sông chính – sông Trà Bồng, nhánh bên phải là

Trang 32

sông Thái Cân chảy qua địa phận xã Bình Phước hình thành hệ sinh thái dừa nước, nhánh bên trái là sông Cáp Đa chảy qua địa phận xã Bình Nguyên Theo dòng chính

khoảng 3 km thì 3 nhánh hợp vào nhau tại vị trí cách cửa Sơn Trà khoảng 5 km

Khu vực nghiên cứu thuộc sông Thái Cân có diện tích khoảng 73,75 ha là khu

vực đầm lầy, trũng, có độ cao thấp nhất vùng Vùng đất ngập nước đổ ra biển tại cửa Sa

Cần, nên chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều và nhật triều cân bằng nhau Trung bình

mỗi tháng có ½ số ngày thể hiện chế độ bán nhật triều Chu kỳ một con triều tại các cửa

sông khoảng 24 – 25 giờ Những ngày nhật triều, thời gian triều lên trung bình từ 14 –

15 giờ, dài nhất lên đến 18 giờ, ngắn nhất là 12 giờ Thời gian triều xuống 9 – 10 giờ,

dài nhất 15 giờ, ngắn nhất 9 giờ Những ngày bán nhật triều, thời gian triều lên mỗi lần thường 6 – 7 giờ Thời gian triều xuống lần thứ nhất 3 – 4 giờ, lần thứ hai 6 – 7 giờ

Thời gian triều xuống ngắn nhất là 2 giờ, dài nhất là 9 giờ

Hướng triều chủ đạo vào mùa Đông là hướng Tây Bắc, sau đến hướng Bắc với

tốc độ trung bình 30 cm/s, tốc độ lớn nhất là 70 cm/s Mùa Hè hướng chủ đạo là Đông

Nam, sau đến hướng Nam và Tây Bắc, tốc độ trung bình 30 cm/s, tốc độ lớn nhất là 65

cm/s Ranh giới ảnh hưởng triều của sông Trà Bồng khoảng 10 km tính từ cửa sông

Mức độ xâm nhập mặn thực đo được thu thập từ 1981 – 2000 thống kê tại bảng dưới Độ mặn giảm nhanh khi vào sâu trong sông, trung bình độ mặn 4‰ (nước với độ

mặn này có thể dùng cho sản xuất nông nghiệp) ở sâu trong sông khoảng 5km tính từ

cửa sông, nhưng cũng có thể vào sâu tới 6-7km

B ảng 1.2 Độ mặn trung bình trong mùa cạn trên sông Trà Bồng [5]

Qua bảng trên cho thấy dừa nước sinh trưởng, phát triển, phân bố, thích nghi ở

nhiều độ mặn khác nhau

Dân số toàn xã (2015) là có 2097 hộ/6746 người Số người trong độ tuổi lao động

3489 người Tham gia hầu hết vào các ngành nghề tại địa phương Trong đó:

+ Tiểu thủ công nghiệp: 280 lao động

Trang 33

+ Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: 2465 người

+ Thương mại – dịch vụ: 223 người

- Nông nghiệp: xã Bình Phước là xã thuần nông nên sản xuất nông nghiệp là

ngành sản xuất chính, trọng tâm trong cơ cấu phát triển kinh tế của vùng nghiên cứu,

gồm có trồng trọt và chăn nuôi

Ngành nông nghiệp của xã Bình Phước luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh

tế, là nguồn sống cơ bản của đại bộ phận dân cư Trong những năm gần đây, ngành nông

nghiệp phát triển tương đối toàn diện và khá ổn định Cơ sở vật chất phục vụ nông

nghiệp ngày càng được tăng cường, đặc biệt những ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật luôn được sàng lọc và đưa vào phục vụ sản xuất cùng với sự chuyển đổi cơ cấu cây

trồng, vật nuôi theo hướng tích cực nhằm đạt hiệu quả kinh tế tăng cao Tổng diện tích

gieo sạ 349,2 ha trong đó lúa trà sớm (chân cao ăn nước trời) diện tích 57,1 ha, năng

suất bình quân 50 tạ/ha, lúa trà chính vụ diện tích 242 ha, năng suất bình quân 60 tạ/ha, lúa chân trũng diện tích 10.1 ha, năng suất bình quân 56 tạ/ha Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 8 triệu đồng/năm

Diện tích trồng hoa màu: 343ha gồm các loại cây như cây ngô, cây mì, ớt 15 ha,

cỏ 20 ha, đậu phụng 36 ha, rau các loại và đậu các loại

- Chăn nuôi: chủ yếu nuôi quy mô hộ gia đình Tổng số đàn gia súc khoảng: 5500 con, đàn gia cầm khoảng: 38000 con

- Lâm nghiệp: đất lâm nghiệp có diện tích 769,86ha chiếm 32,82% tổng diện tích

tự nhiên toàn xã, có vai trò quan trọng đối với đời sống và sản xuất của một bộ phận

không nhỏ nhân dân trong xã Tổng sản lượng khai thác gỗ nguyên liệu đạt 2200 tấn

- Nuôi trồng và khai thác thủy sản: Diện tích nuôi trồng bán tự nhiên khoảng 0,7

ha (nuôi tôm 1 vụ), năng suất bình quân đạt 19 tạ/ha Có 2 chiếc thuyền đánh bắt xa bờ

với 25 lao động, sản lượng khai thác từ đầu năm đến nay khoảng 42 tấn/06 tháng, có 70

thuyền viên hành nghề câu mực thu nhập đạt được hơn 3 tỷ đồng

- Tiểu thủ công nghiệp, Thương mại – Dịch vụ: Giá trị tiểu thủ công nghiệp tăng

dần theo từng năm

- Giao thông: Với xu thế hội nhập vào nền kinh tế thị trường, vốn được xem là xương sống của sự phát triển, nên trong những năm gần đây hệ thống giao thông đầu tư

và xây dựng mới nhiều Hiện nay mạng lưới giao thông đường bộ vùng nghiên cứu phần

lớn đã được bê tông hóa và nhựa đường hóa làm mạch nối giữa các xã, xã với huyện

thuận lợi cho việc luu thông hàng hóa Mạng lưới giao thông có tổng chiều dài 122Km

Trang 34

1.4.4 Tài nguyên đất

Theo Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế

hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) xã Bình Phước, huyện Bình Sơn trên địa bàn xã có 5 nhóm đất chính: Nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất xám, nhóm đất

đỏ, nhóm đất nứt nẻ và được chia làm 12 loại đất Hiện trạng sử dụng đất tại xã Bình

Phước được trình bày ở bảng 1.4

Trang 35

2.2 Đất chuyên dùng 278,05

2.2.2 Đất quốc phòng

2.2.3 Đất an ninh

2.2.5 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 131,28

Khu vực nghiên cứu thuộc đất có mặt nước chuyên dùng có diện tích

73,75ha/100,77ha tương ứng 73,2% diện tích đất ngập nước tại xã

Hiện tại, đất có mặt nước chuyên dùng tại xã Bình Phước có diện tích khoảng

100,77ha chủ yếu tập trung tại khu vực nghiên cứu khoảng 73,75ha Nơi đây được xem

là mẫu chuẩn điển hình của kiểu đất ngập nước ở khu vực miền Trung, với nhiều điều

kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của hệ động thực vật Theo kết quả điều

tra và phỏng vấn nhanh của Nhóm nghiên cứu – Giảng dạy “Môi trường và Tài nguyên

sinh vật” thuộc Đại học Đà Nẵng (DN-EBR) (2017) đã xác định:

Trang 36

- Về chim có: 9 Bộ, 15 họ với 26 loài, trong đó có nhiều loài chim nước, chim di

cư đặc trưng cho vùng đất ngập nước ớc tính mức độ đa dạng loài có thể trên 50 loài

chim khác nhau

B ảng 1.5 Danh sách các loài chim

1 Ardeola bacchus (Bonaparte, 1855) Cò bợ

2 Bubulcus ibis (Linnaeus, 1758) Cò ruồi

3 Egretta garzetta (Linnaeus, 1766) Cò trắng

8 Gallinago stenura (Bonaparte, 1830) Rẽ giun á châu

Trang 37

Columbinae Phân h ọ Bồ câu

10 Streptopelia tranquebarica (Hermann, 1804) Cu ngói

11 Streptopelia chinensis (Scopoli, 1768) Cu gáy

Trang 38

(11) Sturnidae H ọ Sáo

21 Acridotheres grandis (F.Moore, 1858) Sáo mỏ vàng

22 Acridotheres tristis (Linnaeus, 1766) Sáo nâu

23 Sturnus sericeus (Gmelin, 1789) Sáo đá đầu trắng

24 Passer montanus (Linnaeus, 1758) Sẻ

25 Phalacrocorax carbo (Linnaeus, 1758) Cồng cộc

30 Anas poecilorhyncha haringtoni Vịt trời

- Về cá có: 9 Bộ, 16 họ với 27 loài, trong đó có nhiều loài là cá bột, cá hương vào

sinh sống trong rừng dừa

Trang 39

B ảng 1.6 Danh sách các loài cá

Trang 40

VI B CÁ ĐỐI MUGILIFORMES

22 cá Thoi loi Periophthalmodon schlosseri (Pallas)

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w