1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn gốc phương đông của khoa học, nghệ thuật hy lạp cổ đại

68 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình giao lưu văn hóa đó, những thành tựu của các nền văn minh phương Đông đã được người Hy Lạp tiếp thu một cách hoàn hảo.. Với mong muốn góp phần tìm hiểu về ảnh hưởng của v

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA SỬ

- -

NGUYỄN QUỐC LUẬT

Nguồn gốc phương Đông của khoa học, nghệ

thuật Hy Lạp cổ đại

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Loài người có lịch sử hàng triệu năm, còn nền văn minh sớm nhất lại xuất hiện cách đây trên 5000 năm Trong dòng chảy lịch sử đó, nhiều nền văn minh đã lần lượt ra đời ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới: ở Châu Phi có văn minh

Ai Cập, ở Tây Á có văn minh Lưỡng Hà, ở Đông Á có văn minh Trung Hoa, ở Nam Á có văn minh Ấn Độ Muộn hơn, văn minh Hy Lạp và La Mã hình thành ven Địa Trung Hải, sau đó là văn minh Arab ở Tây Á và Trung Đông Mặc dù hoàn cảnh phát sinh, phát triển, niên đại và thời gian tồn tại khác nhau nhưng tựu chung, đó là thành tựu sáng tạo lớn lao của loài người trong lịch sử

Phương Đông và phương Tây là những khái niệm do người Hy Lạp đưa ra đầu tiên, chỉ hai khu vực văn hóa rộng lớn với những đặc trưng văn hóa riêng Các khái niệm trên có lẽ chưa hoàn toàn đúng về mặt địa lý nhưng về mặt văn hóa thì nó phản ánh tương đối chính xác Sự khác nhau về điều kiện hình thành

đã quy định đặc trưng của các nền văn minh trên thế giới Mỗi nền văn minh đều

có những nét riêng biệt về các mặt, không có một nền văn minh nào giống nền văn minh nào Tuy vậy, nhiều khi chúng ta bắt gặp nét đặc trưng của nền văn minh này lại thể hiện ở một nền văn minh khác; đó chính là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa

Ngay từ rất sớm, sự giao lưu giữa các nền văn hóa đã diễn ra Ở Ai Cập,

thời Cổ vương quốc (khoảng 3000 - 2400 năm tr.CN): “Trong một lần khai quật

ở Biblos (Syria), người ta đã phát hiện được những mảnh gốm có khắc tên Pharaon Khufu và Menkaure và một bình kim loại có khắc tên vua Unis Bức phù điêu trên tường thờ vua Sahura miêu tả một đoàn thuyền buôn Ai Cập sang Châu

Á mua bán nô lệ” hoặc “Ở Ai Cập đã tìm thấy những mảnh gốm vỡ được chế tạo

từ đảo Crete; và ngược lại những hạt chuỗi Ai Cập thuộc các vương triều XI - XII đã được phát hiện ở Crete” [25;tr.46] Như vậy, các nền văn minh cổ đại đã

có sự giao lưu với nhau từ rất sớm Hay nói cách khác, ở mức độ cao hơn, văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây đã đến với nhau như một điều tất yếu

Trong quá trình giao lưu văn hóa đó, những thành tựu của các nền văn minh phương Đông đã được người Hy Lạp tiếp thu một cách hoàn hảo Văn minh

Hy Lạp, nền văn minh được xem là cội nguồn của văn minh phương Tây, do ra đời muộn hơn các nền văn minh phương Đông nên đã có điều kiện tiếp thu

Trang 3

những thành tựu của các nền văn minh trên, đặc biệt là trên lĩnh vực khoa học - nghệ thuật Nói cách khác, văn minh phương Đông là một trong những nguồn gốc hình thành và phát triển của văn minh Hy Lạp

Trong thời đại ngày nay, quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây này vẫn đang diễn ra; tuy nhiên, khác với trước đây, giao lưu văn hóa Đông - Tây ngày nay diễn ra khắp nơi trên thế giới với quy mô mang tính toàn cầu Nó không bị

bó hẹp trong khuôn khổ một vài quốc gia hay vùng lãnh thổ với nhau nữa mà với

sự phát triển của công nghệ thông tin, giao thông, liên lạc, con người khắp nơi trên thế giới đều có thể đến với nhau; khoảng cách về địa lý và ngôn ngữ bây giờ chỉ còn mang tính tượng trưng Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh nghiên cứu giao lưu văn hóa càng có ý nghĩa

Với mong muốn góp phần tìm hiểu về ảnh hưởng của văn minh phương Đông đến khoa học - nghệ thuật Hy Lạp cổ đại, tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên

cứu sự giao lưu văn hóa trong thời đại ngày nay, tôi chọn nghiên cứu đề tài

“Nguồn gốc phương Đông của khoa học, nghệ thuật Hy Lạp cổ đại” làm khóa

luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua những tài liệu sưu tầm được, tôi thấy rằng: hiện nay ở nước ta chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện nguồn gốc phương Đông của nền văn minh Hy Lạp cổ đại trên lĩnh vực khoa học - nghệ thuật Các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa thế giới của nước ta mới chỉ dừng lại ở việc khôi phục lại bức tranh quá khứ về nền văn minh Hy Lạp cổ đại mà chưa đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốc phương Đông của nền văn minh này ở trên các lĩnh vực

Trong cuốn Lịch sử thế giới Cổ đại (2 tập) của Chiêm Tế, ông dành tập 1

để nói về lịch sử phát triển cũng như thành tựu của các nền văn minh phương Đông và tập 2 để nói về văn minh Hy Lạp, La Mã So với các công trình nghiên cứu về lịch sử thế giới cổ đại sau này, Chiêm Tế trình bày sâu hơn, nhất là ở phần các nền văn minh phương Đông, ngoài bốn nền văn minh lớn là Lưỡng Hà, Ấn

Độ, Ai Cập, Trung Hoa, Chiêm Tế còn đề cập đến các nền văn minh khác ở Tây

Á như: Hittietes, Phenici, Assyria… vốn được xem là chiếc cầu nối giữa văn hóa Đông - Tây Trong những nghiên cứu của mình, Chiêm Tế đã chỉ ra được ảnh

Trang 4

hưởng của các nền văn minh phương Đông đối với văn minh Hy Lạp trên một số lĩnh vực, đặc biệt là khoa học

Trong cuốn Lịch sử thế giới cổ đại do Lương Ninh chủ biên đã hệ thống

lại lịch sử Hy Lạp từ khi hình thành đến năm 30 tr.CN Cuốn sách cũng nêu được điều kiện địa lý, dân cư để hình thành văn minh, những thành tựu của văn minh

Hy Lạp trên các lĩnh vực… Tuy nhiên, nó chưa đề cập đến ảnh hưởng của các nền văn minh phương Đông đối với văn minh Hy Lạp

Cuốn Lịch sử văn minh thế giới của Vũ Dương Ninh không chú trọng vào

trình bày nhiều về lịch sử mà chú trọng vào thành tựu của nền văn minh Hy Lạp Tác giả cũng đã đề cập đến con đường giao lưu giữa các nền văn minh Đông - Tây cổ đại Tuy vậy, sự giao lưu đó thể hiện thế nào tác giả chưa đề cập đến

Một số cuốn sách viết về lịch sử của các khoa học như: Cuốn Lịch sử toán học của Nguyễn Cang, Danh nhân toán học thế giới của Lê Hải Châu cũng đã

nói tới ảnh hưởng của toán học Ai Cập, Lưỡng Hà đến các nhà toán học Hy Lạp

Trong các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài, vấn đề nguồn gốc

phương Đông của văn minh Hy Lạp cũng được chú ý tới Cuốn Lịch sử văn minh phương Tây nhóm tác giả: Motimer Chambers, Barbara Hanawalt, David Herlily cuốn Lịch sử phát triển của văn minh nhân loại của Rane Brinton Jonh.B

Christopher, Robert Lee Wolf, ảnh hưởng của văn minh phương Đông đặc biệt là của Ai Cập và Lưỡng Hà được nhắc đến nhiều lần Tuy nhiên, do đây không phải

là những công trình chuyên khảo nên vấn đề trên được nêu một cách sơ lược, chưa có hệ thống

Như vậy, vấn đề nguồn gốc phương Đông của văn minh Hy Lạp không phải là vấn đề quá xa lạ đối với các học giả nghiên cứu lịch sử, văn hóa thế giới Tuy vậy, các nhà nghiên cứu chỉ xem đây là một phần nhỏ trong diễn trình lịch

Trang 5

sử thế giới nói chung và lịch sử Hy Lạp nói riêng mà chưa thực sự xem đây là một mảng đề tài để tập trung nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ảnh hưởng của văn minh phương Đông đến văn minh Hy Lạp cổ đại thể hiện trên nhiều lĩnh vực, nhưng thực hiện đài này, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là thành tựu về khoa học tự nhiên, nghệ thuật của các nền văn minh Tây Á chủ yếu là Lưỡng Hà, Ai Cập và ảnh hưởng của nó đến văn minh Hy Lạp

cổ đại

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài khóa luận tốt nghiệp, tôi chỉ tập trung nghiên cứu về nguồn gốc phương Đông của khoa học tự nhiên và nghệ thuật Hy Lạp cổ đại trong giới hạn thời gian từ khởi thủy đến thế kỷ IV tr.CN

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Khi chọn đề tài này, tôi đặt mục đích cho việc nghiên cứu là:

- Làm sáng tỏ nguồn gốc phương Đông của khoa học - nghệ thuật Hy Lạp trong suốt thời kỳ từ khởi thủy đến thế kỷ IV tr.CN Qua đó nhìn nhận, đánh giá vai trò của các quốc gia Phương Đông trong việc hình thành văn minh Hy Lạp

- Cung cấp thêm những hiểu biết về văn minh Hy Lạp, văn minh của các quốc gia cổ đại phương Đông và quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây thời cổ đại, làm cơ sở thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, khu vực trong bối cảnh hiện nay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra tôi thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Sưu tầm, lựa chọn, xử lý, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến văn minh Hy Lạp, văn minh phương Đông, chú trọng văn minh Ai Cập và Lưỡng Hà

- Vạch ra những biểu hiện ảnh hưởng của khoa học, nghệ thuật phương Đông đối với Hy Lạp cổ đại

- Đưa ra những nhận xét, đánh giá về vai trò của các quốc gia phương Đông đối với Hy Lạp và sự kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa tiếp thu được lên một tầm cao mới

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Trang 6

5.1 Nguồn tư liệu

Để hoàn thành khóa luận này, tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tư liệu thành văn Nguồn tư liệu thành văn được chia làm 2 loại chủ yếu:

- Các công trình nghiên cứu của các học giả liên quan đến vấn đề đã được công bố bao gồm các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước trước và sau năm 1975

- Các bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí: Nghiên cứu Châu Âu hay

trên mạng internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch

sử và phép biện chứng của sử học mácxít để xem xét, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử

- Phương pháp cụ thể: kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp logic; đi sâu vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, đánh giá, hệ thống hóa các nguồn tư liệu thành văn

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài đạt được mục đích nghiên cứu đề ra sẽ có những đóng góp sau đây:

- Nêu bật được những thành tựu về khoa học - nghệ thuật của các nền văn minh phương Đông; chỉ ra quá trình, con đường giao lưu văn hóa giữa các nền văn minh phương Đông với văn minh Hy Lạp

- Làm rõ nguồn gốc hình thành, phát triển của các ngành khoa học, nghệ thuật Hy Lạp

- Làm sáng tỏ sự tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông của văn minh Hy Lạp không phải là một quá trình tiếp thu thụ động mà là sự tiếp biến và phát triển lên một tầm cao mới Văn minh Hy Lạp cũng chính là nơi lưu giữ những giá trị của văn hóa phương Đông, những giá trị mà chúng từng bị đánh mất ngay chính quê hương của mình

- Cung cấp nguồn tư liệu có hệ thống cho những ai quan tâm đến vấn đề, nhất là các nhà nghiên cứu về văn hóa Hy Lạp hay giao lưu văn hóa Đông - Tây

7 Bố cục của đề tài

Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 2 chương:

Chương 1: Tổng quan về sự giao lưu văn hóa giữa Hy Lạp và các quốc

gia phương Đông thời cổ đại

Chương 2: Ảnh hưởng của khoa học, nghệ thuật phương Đông đối với Hy

Lạp cổ đại

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA HY LẠP

VÀ CÁC QUỐC GIA PHƯƠNG ĐÔNG THỜI CỔ ĐẠI

1.1 Khái quát về văn hóa phương Đông và văn hóa Hy Lạp thời kỳ cổ đại

1.1.1 Văn hóa Phương Đông thời cổ đại

1.1.1.1 Sơ lược về sự hình thành, phát triển của các nền văn hóa Phương Đông cổ đại

Phương Đông và Phương Tây là những thuật ngữ đã có từ sớm Thời cổ đại, người Hy Lạp dùng thuật ngữ phương Đông để chỉ những vùng đất ở phía Đông của Địa Trung Hải Trong tâm thức của họ, đó là vùng đất đầy bí ẩn và mang những đặc trưng khác hẳn với văn minh Hy Lạp, văn minh phương Tây Cuộc viễn chinh của Alexander Đại đế (334 - 323 tr.CN) được gọi là cuộc “Đông chinh” bởi, những nơi mà Alexander đi qua như Ba Tư, Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ… đều là những vùng đất thuộc phương Đông

Về mặt địa lý, phương Đông thời cổ đại bao gồm Châu Á và một phần Bắc Phi Ngay từ rất sớm, các nền văn minh đầu tiên của thế giới đã xuất hiện tại phương Đông Từ thiên niên kỷ thứ IV tr.CN đến thiên niên kỷ III tr.CN, bốn trung tâm văn minh lớn của phương Đông đã lần lượt ra đời: Ai Cập, Lưỡng Hà,

Ấn Độ, Trung Hoa Phương Đông bước vào xã hội có giai cấp sớm trong lịch sử phát triển của nhân loại Sự ra đời nhà nước phương Đông tuân theo quy luật điển hình: nhà nước ra đời khi xã hội phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp trên cơ sở sự phát triển của công cụ lao động bằng kim loại Mặc dù vậy, sự ra đời của nhà nước cổ đại phương Đông cũng đi theo quy luật đặc thù, nhu cầu trị thủy và tự vệ cũng góp phần quan trọng thúc đẩy nhanh sự hình thành nhà nước

Về mặt dân cư, các tài liệu nhân chủng và khảo cổ đã khẳng định, trên địa bàn hình thành các nền văn minh cổ đại phương Đông đã sớm có sự định cư của con người Các nhóm dân cư này thường sống tập trung tại lưu vực của các con sông lớn và hình thành nên các công xã nông thôn Tính nông nghiệp điển hình

đã quy định tính cách của những con người phương Đông Họ ưu thích sự ổn định về nơi ở, sống hòa mình vào thiên nhiên và có tính cộng đồng cao Đây là các cư dân bản địa, là những công dân đầu tiên khi các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời

Trang 8

Các nền văn hóa phương Đông thường xuất hiện trên lưu vực những dòng sông lớn từ bờ biển phía đông Địa Trung Hải đến bờ biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương: Lưu vực sông Nile ở Ai Cập; lưu vực Lưỡng Hà tạo bởi sông Tigris

và Euphrat cùng chảy ra vịnh Pecxich; lưu vực đồng bằng bắc Ấn Độ tạo bởi sông Ấn (Hindus) và sông Hằng (Gangga); và lưu vực hai con sông lớn Hoàng

Hà và Dương Tử (Trường Giang) tạo ra vùng đồng bằng Hoa Bắc và Hoa Nam màu mỡ Các lưu vực sông ở phương Đông nói trên đều tạo thành những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu, thuỷ lượng cao, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, dễ canh tác rất phù hợp với sự phát triển của nông nghiệp Chính vì vậy cư dân các khu vực nói trên đã sớm gắn bó với việc sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước

Phân lập các lưu vực rộng lớn nói trên là những hệ thống núi non trùng điệp và những sa mạc mênh mông: sa mạc Shahara ở Tây Ai Cập, dãy núi Zagrot

ở phía đông Lưỡng Hà, dãy Himalaya và cao nguyên Pamir ở bắc và đông bắc

Ấn Độ, rồi vùng sa mạc Nội Mông, Ngoại Mông ở bắc và tây bắc Trung Hoa Vì

vậy, các nền văn hoá - văn minh cổ đại phương Đông xuất hiện và phát triển một

cách tương đối độc lập, chính vì thế, mỗi nền văn hoá - văn minh có tính chất độc đáo riêng và mang đậm dấu ấn dân tộc

Văn minh Ai Cập được biết đến là một nền văn minh huyền bí Sự tách biệt về mặt địa lý khiến cho Ai Cập ít chịu ảnh hưởng từ bên ngoài Ai Cập luôn được che phủ bởi một sự bí ẩn Ngược lại với Ai Cập, văn minh Lưỡng Hà luôn phải chịu nhiều biến động Lưỡng Hà là một đồng bằng rộng lớn và dường như không có trở ngại nào về mặt địa lý để xâm nhập vào khu vực này Nhiều dân tộc

đã đến, định cư ở Lưỡng Hà, điều đó đã làm tăng tính đa dạng của văn hóa nhưng cũng làm lịch sử vùng đất này thường xuyên xáo trộn vì các cuộc chiến tranh

Một nền văn hóa khác cũng chịu những biến động phức tạp không kém là

Ấn Độ Là một tiểu lục địa nên cũng giống như Ai Cập, Ấn Độ ít phải chịu những ảnh hưởng từ bên ngoài Mặc dù vậy, sự chia cắt về địa hình bên trong Ấn

Độ lại quy định tính không thống nhất về chính trị cũng như văn hóa Nó trái với mong muốn thống nhất về lãnh thổ, chính trị, văn hóa của người Trung Hoa Bởi theo quan niệm nước lớn của Trung Hoa, họ phải là trung tâm của thiên hạ và các dân tộc Man, Di, Nhung, Địch phải chịu sự khuất phục của họ

Trang 9

Mặc dù mang nhiều đặc trưng khác nhau và chịu sự chi phối của nhiều điều kiện, sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia cổ đại vẫn diễn ra và nó đã trở thành quy luật chung Sự giao lưu đã đưa các nền văn hóa xích lại gần nhau hơn

và làm giàu thêm kho tàng văn hóa của mỗi nước

1.1.1.2 Các thành tựu văn hóa cơ bản

Với lịch sử tồn tại lâu đời, các nền văn minh phương Đông đã phát triển rực rỡ và đóng góp cho nền văn minh của thế giới nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực

Chữ viết

Những chữ viết cổ nhất trên thế giới hiện nay đều xuất hiện tại các nước phương Đông Từ TNK IV tr.CN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo nên một hệ thống chữ viết của riêng mình Đây là một hệ thống chữ tượng hình, muốn biểu thị một vật gì, người Ai Cập vẽ hình vật đó ra Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc các hình vẽ phức tạp, người Ai Cập dùng phương pháp mượn ý để biểu đạt Sau một thời gian phát triển, những tượng hình đơn giản ban đầu đã được hệ thống hóa thành một bảng chữ cái gồm 24 chữ

Loại chữ tượng hình này được dùng trong một khoảng thời gian dài khoảng hơn 3000 năm, tuy nhiên, sau đó nó bị quên lãng Phải đến năm 1822, một nhà ngôn ngữ học người Pháp tên là Champollion mới khôi phục lại ngôn ngữ này Chữ tượng hình Ai Cập là nguồn gốc của của các ký tự Latinh được dùng phổ biến trên thế giới

Cũng giống như người Ai Cập, người Lưỡng Hà cũng sáng tạo ra chữ viết cho riêng mình Vào TNK IV tr.CN, người Lưỡng Hà đã dụng chữ hình đinh trong giao tiếp hằng ngày Chữ Sumer là chữ tượng hình Hệ thống chữ Sumer cổ

có khoảng 600 kí hiệu Sau này người ta còn thêm một số kí hiệu ghi âm nữa Trong quá trình phát triển, hệ thống chữ viết Sumer được đơn giản hoá đi nhiều

Từ hình vẽ gần giống sự vật, các kí tự tượng hình dần chuyển thành hình tròn, hình cong, hình bán nguyệt, rồi sang vạch thẳng Cuối cùng để dễ ấn vào đất sét, các vạch thẳng được cải tiến thành hình nêm, hình đinh hay hình góc (hai vạch thẳng gặp nhau tạo thành một góc), vì vậy chữ Sumer nói riêng, các chữ ở khu vực Tây Á tiếp thu chữ Sumer nói chung, thường được gọi là chữ hình đinh, chữ hình nêm hay chữ hình góc “Giấy” được người Sumer dùng để viết là đất sét mềm được cán thành những mảng mỏng, cuộn lại thành hình quả cầu, hình lăng

Trang 10

trụ, v.v Nhờ chữ viết, các giá trị về lịch sử và văn hoá Ai Cập, Lưỡng Hà đã được bảo tồn cho đến tận ngày nay

Văn học

Các cư dân cổ đại phương Đông đã để lại cho nhân loại nhiều di sản quý giá về văn học Người Ai Cập và Lưỡng Hà có một kho tàng văn học khá phong phú, đó là tục ngữ, thơ ca trữ tình, các câu chuyện mang tính chất giáo huấn, trào phúng, thần thoại… Hầu hết các tác phẩm văn học của người phương Đông được sáng tác dưới dạng truyền khẩu, các tác phẩm của dòng văn học viết xuất hiện rất

ít

Các tác phẩm mang nội dung chất răn dạy về cuộc sống, người Ai Cập có chuyện Nói thật và Nói Láo, Lời răn dạy của Duaup, Truyện người thất vọng với linh hồn của mình… Hoặc về đề tài là các cuộc phiêu lưu, mạo hiểm, họ có chuyện Thuyền gặp nạn, Xinuhet… Văn học Ai Cập còn có một phận văn học viết của tầng lớp quý tộc, đó là các tác phẩm mang nội dung giáo huấn như Lời khuyên bảo của vua Heracleopolit, Lời khuyên răn của Ipuxe, Lời tiên đoán của Neffecti…

Khác với văn học Ai Cập, văn học Lưỡng Hà lại nổi tiếng về thể loại thần thoại và sử thi Các thể loại này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các loại tín ngưỡng, tôn giáo Chủ đề của nó thường là ca ngợi các thần và giải thích sự hình thành thế giới… Về thần thoại, người Lưỡng Hà có Truyện khai thiên lập địa, Truyện nạn hồng thủy… Đây là các câu chuyện kể về sự hình thành của thế giới,

sự trừng phạt của các vị thần, sự tái sinh thế giới… Về sử thi, người Lưỡng Hà

có bộ sử thi Gilgamet

Tóm lại, người Ai Cập và Lưỡng Hà đã đạt được nhiều thành tựu về văn học Nó đã phản ánh phần nào đời sống vật chất và tinh thần của họ thời cổ đại Văn học Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại có ảnh hưởng lớn đến văn học, tôn giáo của các dân tộc khác sau này, đặc biệt là các nội dung liên quan đến sự hình thành thế giới, sử thi…

Tín ngưỡng, tôn giáo

Giống như cư dân của các quốc gia cổ đại khác, ban đầu, người Ai Cập và Lưỡng Hà tôn thờ rất nhiều thứ: thần tự nhiên, thần động vật, linh hồn người chết… Người Ai Cập thờ Thiên thần, Địa thần, Thủy thần… Tương tự như vậy, Người Lưỡng Hà cũng tôn thờ Thần trời (Anu), Thần đất (Elin), Thần nước

Trang 11

(Ea) Nói tóm lại, trên mỗi phương diện của cuộc sống đều có những vị thần riêng cai quản Về sau, cùng với sự hình thành nhà nước trung ương tập quyền người Ai Cập và Lưỡng Hà đều chọn cho mình một vị thần chủ làm vị thần quan trọng nhất Người Ai Cập thờ thần Mặt Trời - Ra, người Lưỡng Hà coi thần Mardouk, cháu của thần Anu, con trưởng của thần Ea là chúa tể các thần

Việc thờ cúng người chết cũng rất được người Ai Cập, Lưỡng Hà coi trọng, họ quan niệm trong mỗi con người đều cố một linh hồn Người Ai Cập xây hẳn cả một kim tự tháp to lớn để bảo tồn thi thể người chết với ước muốn một lúc nào đó hồn sẽ nhập lại với xác để hồi sinh Người Lưỡng Hà chú ý đến lễ mai táng, họ quan niệm cuộc sống sau khi chết cũng giống như cuộc sống trước khi chết cho nên, những người giàu có thường được mai táng theo rất nhiều thứ: nô

lệ, vàng bạc, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt… Thi thể người chết được đặt trong những ngôi mộ lớn, thậm chí, những người bình thường khi chết cũng được chôn trong những chiếc quan tài bằng đất sét

Các loài dã thú cũng được người Ai Cập và Lưỡng Hà sùng bái Người Ai Cập coi bò mộng, cá sấu là những vị thần thiêng liêng Ngoài ra, họ còn thờ những con vật tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư (Sphynx) Người Lưỡng

Hà cũng tôn thờ các loài vật Tàn dư của việc sùng bái dã thú được thể hiện

thông qua hình tượng các thần “Thần Mardouk được thể hiện bằng một con vật nửa rắn, nửa chim dữ, thần Nerkgan, vua của Âm phủ được thể hiện thành một con quái vật mặt người nhưng lại có sừng bò, trên lưng có lông, có cánh, có mình của sư tử và có bốn chân” [24;tr.46]

Nghệ thuật

Ngay từ rất sớm, người Ai Cập và Lưỡng Hà đã sáng tạo ra những nền nghệ thuật độc đáo Thông qua những thư tịch cổ và những dấu tích còn lại ngày nay, có thể thấy, người Tây Á, mà tiêu biểu là Ai Cập và Lưỡng Hà đã có một nền kiến kiến trúc và điêu khắc hết sức phát triển

Về kiến trúc, người Ai Cập nổi tiếng với các kim tự tháp vĩ đại Kim tự tháp là những ngôi mộ của các vua Ai Cập thời kỳ Cổ vương quốc Những kim

tự tháp đầu tiên được xây dựng cách đây trên 4000 năm, những ngôi mộ này là nơi lý tưởng để chôn cất thi thể của các Pharaon hay những người quyền quý để cho cuộc sống ở thế giới bên kia sung sướng hơn Chính vì mục đích đó, những kim tự tháp được xây dựng rất đồ sọ và kiên cố Trong số các kim tự tháp đã

Trang 12

được xây dựng, lớn nhất là kim tự tháp Kheops Theo sử gia Herodotus, kim tự tháp này được xây dựng vào khoảng năm 2680 tr.CN Trong thời gian 20 năm, với công sức của 10 vạn dân công (tù nhân, nô lệ, dân thường), khối kiến trúc hình chóp cao 230m, nặng 5 750 000 tấn này đã được xây dựng Điều kỳ lạ là không hiểu bằng cách nào, người Ai Cập cổ có thể đưa các khối đá nặng hàng chục tấn lên cao hàng trăm mét rồi lại đặt chúng nằm khít với nhau mà khoảng cách giữa các khối đá không quá 5mm Kim tự tháp là công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc của Ai Cập cổ đại Nó tiêu biểu cho đặc điểm của nghệ thuật

kiến trúc Ai Cập, đó là niềm đam mê sự to lớn cho các công trình nhằm “thể hiện niềm kiêu hãnh dân tộc, vinh quang của đế chế, sức mạnh và tính trường tồn của quốc gia” [2;tr.78]

Không giống như người Ai Cập, người Lưỡng Hà không dùng đá làm vật liệu chính trong xây dựng vì nguồn đá xây dựng ở đây không nhiều Thay vì vậy, người Lưỡng Hà dùng gạch làm vật liệu chính vì nguồn đất sét ở đây rất nhiều Trong số các công trình kiến trúc của người Lưỡng Hà mà chúng ta được biết, vườn treo Babilone là công trình tiêu biểu nhất

Vườn treo Babilone được vua Nabuchodonosor cho xây dựng vào thế kỷ

VI tr.CN Theo các kết quả khai quật khảo cổ, vườn treo Babilone thực chất là một tháp cao - loại tháp giật cấp rất phổ biến trong kiến trúc Lưỡng Hà Tháp này bao gồm 4 tầng với những màu sắc khác nhau Điều đặc sắc trong công trình này

là việc các loại cây, hoa được trồng và chăm sóc trong các tầng tháp Nhiều loài

kì hoa dị thảo, thậm chí có cả các cây cổ thụ được trồng trong vườn treo này, việc cung cấp nước cho các loài cây hết sứu khó khăn do lượng nước cần nhiều nhưng tháp lại quá cao Tuy nhiên việc tưới nước và chăm sóc cho khu vườn đã được giải quyết khá tốt, bằng những dấu vết tìm thấy là bộ máy thủy lực guồng nước

cho vườn treo, các nhà khảo cổ học đã mường tượng ra rằng:“nước được lên bằng hệ thống gầu xếp thành chuỗi, quay liên tục, lấy từ ba cái giếng, do một đội quân đông đảo đảm nhiệm.” [15;tr.16]

Ngoài thành Babilone, Ziggurat (đài chiêm tinh) là công trình quan trọng trong cuộc sống của người Lưỡng Hà Ziggurat là một loại hình kiến trúc kiểu tầng bậc, bệ cao nọ đặt trên bệ cao kia, càng lên cao càng thu dần lại, có đường dốc trượt hoặc bậc thang thẳng góc hoặc men theo khối xây để đi lên đỉnh, trên

Trang 13

đỉnh có đền thờ nhỏ… Các Ziggurat thường có 3 đến 7 bậc, mỗi tầng được trang

trí một mầu khác nhau tượng trưng cho ngôi sao thờ

Về điêu khắc, người Ai Cập cổ đại đã để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị Các tác phẩm điêu khắc của người Ai Cập tập trung vào hai loại hình chính là điêu khắc và phù điêu Chủ đề chính của các tác phẩm là về con người, động vật, thần thánh… Trong các tác phẩm tượng tròn mà chúng ta được biết có tượng bán thân của nữ hoàng Neffectiti, bức tượng viên thư lại, mặt

nạ vàng của Totankhamon, các bức tượng trong lăng mộ của Ramses II… Đặc biệt hơn cả là bức tượng Sphynx nằm trong quần thể kim tự tháp Giza Tượng có chiều dài 55m, cao 22m, có hình mặt người, thân sư tử; đây được xem là hiện thân của vua Kephren với ý nghĩa muốn ca ngợi vua không những có trí tuệ của loài người mà còn có sức mạnh chúa tể của sư tử Các bức chạm nổi được người

Ai Cập sử dụng chủ yếu trong các lăng mộ, các tác phẩm này rất đa dạng về chủ

đề, phản ánh cuộc sống vật chất và tinh thần của người Ai Cập trong thời kỳ đó

Còn với người Lưỡng Hà, họ cũng đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực điêu khắc Trong thời kỳ đầu, các nghệ nhân người Sumer giỏi

trong việc chế ra các tác phẩm bằng kim loại, khắc trên đá quý và điêu khắc: “họ tạo được các mẫu vật rất đặc sắc theo nghệ thuật tự nhiên thành các loại vũ khí, bình, chén, đồ trang sức, tượng người và vật, cũng cho thấy sự khéo léo về kỹ thuật và kỹ năng mường tượng” [2;tr.100] Ở các thời kỳ sau, các tác phẩm điêu

khắc vẫn xuất hiện nhưng về số lượng, quy mô không bằng ở Ai Cập Người Assyria rất giỏi về điêu khắc đặc biệt là về đề tài các con thú hoặc các cảnh bạo lực, đề tài về bạo lực hoặc thể thao được ưa chuộng, ít thấy người Assyria cập về sinh hoạt hằng ngày trong các tác phẩm điêu khắc của mình

Khoa học

Về mặt khoa học, đó là những phát kiến về toán học, thiên văn, địa lí, y học, v.v Ai Cập là nơi toán học ra đời từ rất sớm Người Ai Cập đã sáng tạo ra hệthống chữ số thập phân, hệ đếm thập tiến vị mà biểu hiện của nó là những kí hiệu trong văn tự cổ để ghi các số 1, 10, 100, 1000 Người Ai Cập cũng đã giải được những bài toán về tính diện tích hình tròn, hình tam giác, tính thể tích hình tháp đáy vuông, giải được các phương trình có hai ẩn số Văn hoá Lưỡng Hà cũng để lại dấu ấn về toán học Lúc đầu, người Sumer dùng hệ đếm lấy số 60 làm

cơ sở như 1, 60, 600, 3600,… Ngày nay, hệ đếm này vẫn dùng để đo thời gian: 1

Trang 14

giờ = 60 phút, 1 phút = 60 giây hay một vòng tròn bằng 360 độ Sau đó người Lưỡng Hà sử dụng hệ đếm lấy số 10 làm cơ sở Người Lưỡng Hà sớm biết đến bốn phép tính cộng trừ nhân chia, biết khai căn bậc 2, bậc 3; biết giảiphương

trình bậc 2, biết định lí Pythagore…

Trong lĩnh vực thiên văn học, lịch pháp học, văn hoá phương Đông đã để lại nhiều thành tựu Người Ai Cập phác họa được sơ đồ các tinh tú, phát hiện được 5 hành tinh của hệ Mặt Trời là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Và từ việc quan sát thiên văn, đặc biệt là việc quan sát sao Lang để theo dõi mực nước sông Nile, người Ai Cập đã sáng tạo ra dương lịch (một năm có 365 ngày chia thành 12 tháng) Việc quan sát thiên văn của người Lưỡng Hà phát hiện ra sao chổi và các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, sao băng Người Lưỡng Hà sáng tạo ra âm lịch (một năm có 354 ngày, chia thành 12 tháng, trong đó 6 tháng 29 ngày và 6 tháng 30 ngày)…

Nền y học phương Đông có những phát kiến đặc biệt Từ tục lệ ướp xác, người Ai Cập Cập hiểu rất tường tận về cơ thể người và rất giỏi về phẫu thuật Tất cả các chuyên khoa như nội, ngoại, răng, mắt,… đều được quan tâm Người

ta cũng coi tim là bộ phận quan trọng nhất nên khi ướp xác họ giữ tim riêng, không ướp cùng xác Từ khoảng năm 1500 - 1450 TCN, một bộ sách thuốc đã được người Ai Cập biên soạn, trong đó có nói đến các cách chữa bệnh và thuật ướp xác Đối với người Lưỡng Hà, các bệnh thông thường về xương, gan, dạ dày, mắt, da liễu đều có cách chữa trị hiệu quả

Nói tóm lại, trong lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của mình, các nền văn minh phương Đông cổ đại đã để lại cho chúng ta nhiều thành tựu trên tất

cả các lĩnh vực Đó là những tài sản vô giá không chỉ đối với người dân phương Đông mà còn đối với nhân loại nói chung Rất nhiều những giá trị mà người phương Đông (cụ thể ở đây là các dân tộc ở Tây Á) sáng tạo ra vẫn còn được chúng ta sử dụng một cách phổ biến Có thể nói, nền văn hóa của các dân tộc phương Đông có sức lan tỏa rất lớn, các nền văn hóa chung quanh dù ít hay nhiều cũng chịu ảnh hưởng Trong buổi đầu của sự giao lưu văn hóa Đông - Tây, Hy Lạp là quốc gia chịu ảnh hưởng từ các nền văn minh sớm nhất

1.1.2 Văn hóa Hy Lạp cổ đại

1.1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Hy Lạp cổ đại

Trang 15

Hy Lạp cổ đại là một quốc gia nằm ven bờ Địa Trung Hải có lãnh thổ rộng bao gồm nhiều khu vực rải rác Có thể chia Hy Lạp cổ đại làm 3 khu vực khác nhau: miền Hy Lạp lục địa, Hy Lạp ở Tiểu Á và các đảo trên biền Aegea

- Hy Lạp lục địa chính là phần diện tích ngày này của Hy Lạp, Hy Lạp lục địa là phần phía Nam của bán đảo Balkan Vùng Hy Lạp lục địa có thể chia làm 3 phần: phần phía Bắc là địa hình nửa đồi núi, nửa đồng bằng, phần trung Hy Lạp lục địa bị các dãy núi, các cánh rừng chia cắt thành các vùng biệt lập khác nhau Vùng phía Nam hướng ra Địa Trung Hải với nhiều bán đảo nhỏ, khác với miền Bắc và miền Trung, vùng này có các đồng bằng khá rộng và tương đối màu mỡ Vùng Hy Lạp lục địa là một bán đảo, 3 mặt hướng ra biển với nhiều vũng, vịnh

tự nhiên đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền hàng hải cổ xưa

- Hy Lạp ở Tiểu Á: là vùng đất của Hy Lạp nhưng không nằm ở lục địa châu Âu, nó thuộc Syria (Châu Á) ngày nay, người Hy Lạp gọi đây là vùng

“ngoại Hy Lạp” Người Hy Lạp đã sớm định cư ở đây và thành lập nên các thành bang của mình, trong đó tiêu biểu là thành bang Miles Vùng đất này của Hy Lạp nằm trên con đường giao lưu Đông - Tây trên bộ, chính vì vậy vùng đất này được

xem là: “cầu nối, nối thế giới Hy Lạp với các nền văn minh cổ đại phương Đông” [12;tr.6]

- Các đảo trên biển Aegea: biển Aegea là một biển trong Địa Trung Hải, vùng biển này ôm trọn Hy Lạp lục địa và Hy Lạp ở Tiểu Á, nói cách khác nếu bờ biển Aegea ở Phía đông là của Hy Lạp ở Tiểu Á thì bờ biển Aegea phía tây là của Hy Lạp lục địa Là một vùng biển không rộng nhưng biển Aegea có rất nhiều đảo nhỏ, đảo lớn nhất là đảo Crete nằm ở vùng biển phía Nam, đảo Crete và các đảo, bán đảo khác tạo thành một vành đai tự nhiên che chắn biển Aegea với vùng biển còn lại của Địa Trung Hải

+ Đảo Crete: có những dòng sông, những cánh đồng cỏ và đồng bằng màu mỡ Messara Đây là điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người, chính

vì vậy, Crete là một trong những cái nôi của văn minh Hy Lạp cổ đại (văn minh Crete - Mycenae)

+ Các đảo Cyclades: tên gọi này bao gồm tất cả các hòn đảo trong biển Aegea, là những gạch nối giữa đảo Crete, đất nước Hy Lạp và Châu Á Những hòn đảo này ít về tài nguyên, phân tán về vị trí cho nên ít mang tính thống nhất

Trang 16

Những người dân của các đao Cyclades đã xây dựng nên những quan hệ giao lưu đầu tiên trong vùng biển Aegea

Tóm lại, điều kiện tự nhiên của Hy Lạp cổ đại không cho phép hình thành một nền văn minh nông nghiệp điển hình như ở các quốc gia cổ đại phương Đông Tuy vậy, với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn khoáng sản, đặc biệt là kim loại phong phú đã giúp Hy Lạp cổ đại phát triển một nền công - thương nghiệp và mậu dịch hàng hải từ rất sớm Điều này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của quốc gia Hy Lạp sau này

Về mặt dân cư, trên các vùng đất của Hy Lạp cổ đại đã có người sinh sống

từ sớm Người ta đã khai quật di chỉ Knossos trên đảo Crete và phát hiện nhiều công cụ đá mới có niên đại khoảng cách đây khoảng 8500 năm Từ cuối thiên niên kỷ III tr.CN đến đầu thiên niên kỷ II tr.CN, những cư dân bản địa đã tạo nên nền văn minh đầu tiên ở Địa Trung Hải, đó là nền văn minh Crete - Mycenae

Đến cuối thiên niên kỷ thứ II, nền văn minh Crete - Mycenae tàn lụi, cũng bắt đầu từ đây, người Hy Lạp từ các vùng đất phía Bắc thiên di xuống dần trở thành những chủ nhân mới của những vùng đất này Các tộc người Hy Lạp đã bắt

đầu sự di cư của mình từ cuối thiên niên kỷ III tr.CN “Về nguồn gốc của các dân tộc này, đã có nhiều giả thiết: từ các dân tộc châu Á, từ các dân tộc Semites,

Ấn - Âu (đôi khi người ta cho trường hợp sau là có liên quan đến dân tộc Louvites định cư ở vùng Anatolie trong thời kỳ đó)” [12;tr.11] Cuộc di cư kéo

dài trêm dưới 1000 năm nằy đã đưa đế hệ quả là các tộc người Hy Lạp đã chiếm lĩnh được Hy Lạp lục địa, Hy Lạp ở Tiểu Á và các đảo trên biển Aegea

Có nhiều tộc người Hy Lạp cổ đại nhưng trong đó có 4 tộc người chính cư trú ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Hy Lạp cổ đại Người Doria định cư phía nam bán đảo Pelopone, đảo Crete và một số đảo nhỏ trên vùng biển Aegea Người Eonia định cư ở vùng đồng bằng Attich, đảo Eubee và những vùng đất ven bờ Tiểu Á Người Achaea chủ yếu định cư ở miền trung Hy Lạp, người Eolia định cư ở bắc Hy Lạp, một số đảo trên cùng biến Aegea và ven bờ biển Tiểu Á Các dân tộc này đã cùng nhau xây dựng nên lịch sử Hy Lạp, họ đều tự nhận mình

là con cháu của thần Hellene và gọi quốc gia của mình là Hellas

Tóm lại, thành phần dân cư Hy Lạp có nhiều biến động qua các thời kỳ Ban đầu, người Hy Lạp bản địa đã tạo được nền văn hóa riêng của mình Khi nền văn hóa của người Hy Lạp bản địa tàn lụi, các dân tộc di cư đến lại tạo nên nền

Trang 17

văn hóa khác Nhưng nhìn chung, các dân tộc tạo nên văn hóa Hy Lạp đều có xuất phát chung từ gốc du mục Họ mang những đặc trưng khác hẳn với đặc trưng của cư dân nông nghiệp phương Đông

1.1.2.2 Một số thành tựu văn hóa cơ bản

Hy Lạp là nền văn minh xuất hiện sớm Ra đời trên cơ sở phát triển một nền kinh tế công thương nghiệp cổ đại, thể chế dân chủ chủ nô của nhà nước chiếm nô điển hình; văn minh Hy Lạp đã mang trong nó tính chất sáng tạo Mặt khác, việc thừa hưởng những thành tựu của các nền văn minh phương Đông cổ đại càng làm cho văn minh Hy Lạp thêm phong phú và có sức lan tỏa mạnh mẽ Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, văn minh Hy Lạp cổ đại đã để lại nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và được coi là mẫu mực của thế giới cổ đại

Chữ viết

Người Hy Lạp đã sáng tạo ra được chữ viết riêng của dân tộc mình Người

Hy Lạp đã tiếp xúc với ngôn ngữ của người Phenici, một dân tộc nổi tiếng về thương mại trên biển thời cổ đại Trên cơ sở bảng chữ cái của người Phenici, người Hy Lạp đã cải tiến nó thành bảng chữ cái Hy Lạp cổ Với nhiều sự bổ sung, bảng chữ cái Hy Lạp cổ đã đáp ứng được nhu cầu giao tiếp bằng văn bản của người Hy Lạp vì nó rất linh hoạt trong việc ghép vần và ghi lại được các âm tiết Hy Lạp Sau này, người La Mã đã tiếp thu bảng chữ cái của người Hy Lạp

và sáng tạo nên bảng chữ cái Latinh Bảng chữ cái Latinh là của người La Mã nhưng phần lớn các ký tự trong đó vẫn giữ nguyên giống bảng chữ cái Hy Lạp Bảng chữ cái Latinh ngày nay được sử dụng rất phổ biến trên thế giới Còn bảng chữ cái Hy Lạp vẫn được duy trì và sử dụng cho cộng đồng các dân tộc nói tiếng Slave

Văn học

Thần thoại chiếm vai trò quan trọng trong kho tàng văn học Hy Lạp cổ đại Thần thoại Hy Lạp khá phong phú, thể hiện cách giải thích của người Hy Lạp về tự nhiên, nguồn gốc loài người, những kinh nghiệm, khát vọng trong cuộc sống… Đây đều là các tác phẩm văn học truyền miệng, thần thoại có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người Hy Lạp Trong các loại hình văn học, nghệ thuật, thần thoại luôn là đề tài được sử dụng nhiều nhất Karl Marx đã nhận

Trang 18

xét “vật liệu của nghệ thuật Hy Lạp là thần thoại Hy Lạp”, điều đó chứng tỏ vị thế của thần thoại trong văn học Hy Lạp lớn như thế nào

Ngoài thần thoại, văn học Hy Lạp cổ đại còn được biết đến qua các bộ sử thi Có hai bộ sử thi lớn là Ilyade và Odyssee, đây cũng là các tác phẩm văn học truyền miệng rất có giá trị Nội dung các bộ sử thi này phần lớn mang tính chất hoang đường, tuy vậy, nó cũng phần nào phản ánh được đời sống vật chất và tinh thần của người Hy Lạp thời Homer

Sau thời kỳ Homer, khi chữ viết đã được sử dụng phổ biến thì dòng văn học viết của Hy Lạp cũng ra đời Thơ, văn xuôi và kịch là các thể loại được yêu thích nhất Thơ ca Hy Lạp chủ yếu là thơ trữ tình, được nảy sinh và phát triển vào thế kỷ VI tr.CN Văn xuôi Hy Lạp lại chủ yếu là các truyện ngụ ngôn mang tính chất trào phúng, nhiều truyện ngụ ngôn Hy Lạp có ảnh hưởng đến văn học thế giới sau này Ngược lại với truyện ngụ ngôn, kịch Hy Lạp tập trung vào mảng

bi kịch Kịch có vai trò quan trọng trong cuộc sống tinh thần của người Hy Lạp

Tín ngưỡng, tôn giáo

Đối với người Hy Lạp, tôn giáo có nghĩa là hệ thống diễn giải thế giới vật chất sao cho con người bớt sợ những quyền lực huyền bí và tạo một mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên Người Hy Lạp không coi trọng các điều răn, tín điều, các nghi lễ phiền phức hay các bí tích Mọi người được tự do tin, sống theo cuộc đời của mình mà không sợ thần linh giận dữ

Cũng giống nhiều dân tộc khác, tín ngưỡng của người Hy Lạp là sự sùng bái nhiều vị thần Tuy nhiên, các thần trong tín ngưỡng Hy Lạp khác hẳn với các

thần phương Đông.“Ở những nơi xa xôi khác, các thần toàn năng của các tôn giáo phương Đông gây ra sự sợ hãi hơn là cảm giác an toàn Thần thánh của Hy Lạp không có các quyền năng lớn lao mà chỉ là những thần thánh mà con người

có thể thỏa hiệp bình đẳng” [2;tr.266]

Người Hy Lạp cho rằng các thần có những đặc tính giống như con người,

có thể xác, có dục vọng với đủ các trạng thái hỷ, nộ, ái, ố Thần thánh của người

Hy Lạp có thể bị thương, bị chết, cũng ghen tuông, ngoại tình, ích kỷ thậm chí là

có con với người trần tục

Người Hy Lạp tôn thờ nhiều vị thần khác nhau, đó là tập hợp các vị thần

có cùng chung một nguồn gốc, nó gần giống như một dòng họ vậy Họ đưa ra

“phả hệ các vị thần” để làm rõ nguồn gốc, ngôi thứ các vị thần này Trong các vị

Trang 19

thần, thần Zeus cai quản đỉnh núi Olympus là vị thần quyền lực nhất, các anh em, con cháu của Zeus cai quản một người một lĩnh vực riêng của cuộc sống con người

Về hình dạng, các thần trong thần thoại Hy Lạp hầu hết đều được thể hiện dưới dạng hình người, thậm chí, vị thần thợ rèn Hephaistos được miêu tả là bị thọt một chân và phải đi bằng nạng Tất cả điều đó nói lên rằng, tôn giáo, tín ngưỡng là một cái gì đó rất gần gũi với người Hy Lạp Nó không mang nhiều tính chất huyền bí mà thiên về tính hiện thực

Triết học

Trong điều kiện ít bị các thành kiến tôn giáo và uy quyền chuyên chế gò

ép, triết học cổ Hy Lạp đã có điều kiện để phát triển Triết học Hy Lạp phát triển mạnh từ thế kỷ VII tr.CN trở đi cùng với sự hình thành của nhà nước dân chủ chủ

nô Nhiều nhà triết học Hy Lạp nổi tiếng đã xuất hiện với những trường phái khác nhau Hai trường phái lớn nhất là triết học duy tâm và triết học duy vật, hai trường phái lớn này cũng phân thành các trường phái nhỏ khác nữa

Trong triết học duy vật, phái đầu tiên phải kể đến là phái “chất nguyên thủy duy nhất” Những triết gia theo trường phái này cho rằng, thế giới được tạo thành từ một loại vật chất duy nhất Tiêu biểu cho phái này có Thales, Anaximandros, Anaximen Phái thứ hai là phái “nhị nguyên”, phái này cho rằng thế giới được tạo thành từ hai loại vật chất đối lập nhau Đại diện của phái này là triết gia Empedocles

Song song với triết học duy vật, triết học duy tâm cũng hết sức phát triển

ở Hy Lạp Triết học duy tâm Hy Lạp cũng phân thành các phái nhỏ khác nhau tùy theo nội dung của các học thuyết Socrates theo trường phái duy tâm chủ quan, Plato theo trường phái duy tâm khách quan, những triết gia khác lại rơi vào vòng luẩn quẩn giữa duy tâm, duy vật như Ertosthenes hoặc cực lực chống lại thuyết nguyên tử như Aristote…

Tóm lại, Hy Lạp là một trung tâm triết học của thế giới cổ đại Triết học

Hy Lạp có nhiều nét chung so với triết học cổ Ấn Độ hay Trung Hoa Mặc dù vậy, triết học Hy Lạp luôn giữ được sự độc lập trong phát triển, ít bị tôn giáo hay chính quyền chi phối

Nghệ thuật

Trang 20

Các nhà khoa học chia sự phát triển của nghệ thuật Hy Lạp qua 4 giai đoạn: giai đoạn hình thành từ giữa thiên niên kỷ II tr.CN đến thế kỷ VII tr.CN, giai đoạn thứ hai là giai đoạn cổ sơ nằm trong thế kỷ VII đến V tr.CN, đây là giai đoạn nghệ thuật Hy Lạp chịu nhiều ảnh hưởng của nghệ thuật phương Đông

Giai đoạn thứ 3, giai đoạn cổ điển vào khoảng thế kỷ V, IV tr.CN, đây là “giai đoạn hoàn thiện kiến trúc và điêu khắc mang tính chất lý tưởng đầy đủ”

[2;tr.303] Giai đoạn cuối cùng từ thế kỷ IV đến thế kỷ I tr.CN

Người Hy Lạp là những nghệ sĩ tài ba trên lĩnh vực nghệ thuật Qua các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, hội họa mà chúng ta được biết đã chứng minh một điều: nền nghệ thuật Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là kiến trúc, điêu khắc rất phát triển

Về điêu khắc, trên cơ sở tiếp thu những phong cách đã có trước đó, các nghệ nhân Hy Lạp đã tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo cho riêng mình Nhiều nhà điêu khắc nổi tiếng Hy Lạp đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị,

là chuẩn mực cho nghệ thuật chúng ta hiện nay Các nghệ nhân Hy Lạp nổi tiếng

về các tác phẩm điêu khắc lấy đề tài con người Các tác phẩm nổi tiếng như: tượng người ném đĩa, tượng thần Vệ nữ, tượng Heracles, tượng thần Hermes… Các vị thần trong thần thoại Hy Lạp đều được thể hiện dưới hình dạng của con người Các bức tượng theo phong cách Hy Lạp đều có thân hình cân đối, tỉ lệ các

bộ phận trên cơ thể đều rất chính xác, các nét biểu cảm của khuôn mặt, sự chuyển động của các cơ bắp đều được miêu tả một cách chân thực Nói về điêu khắc Hy

Lạp, Karl Mark đã nhận xét: “trên một phương diện nào đó được coi là tiêu chuẩn và không thể bắt chước được” [22;tr.626]

Về kiến trúc, những công trình kiến trúc của Hy Lạp cổ đại không hùng vĩ như của Ai Cập cổ đại nhưng nó lại nổi bật ở sự thanh thoát, hài hoà Các công trình kiến trúc ở Hy Lạp cổ đại thường được xây dựng trên những nền móng hình chữ nhật với những dãy cột đá tròn ở bốn mặt Qua nhiều thế kỉ, người Hy Lạp

cổ đại đã hình thành ra ba kiểu cột mà ngày nay người ta vẫn thể hiện trong trường phái “cổ điển” Kiểu Doique (thế kỉVII tr.CN), trên cùng là những phiến

đá vuông giản dị không có trang trí; kiểu Ionique (thế kỷ V tr.CN) cột đá tròn thon hơn, thanh hơn nhờ chia cột thành những dải sống phẳng, đầu cột trang trí hình cuộn hoặc xoắn ốc, chân cột có 3 nấc; kiểu Corinthien (thế kỉ IV tr.CN)

Trang 21

giống phong cách Ionique nhưng trang trí phức tạp hơn: có những cành lá dưới những đường cong, thường cao hơn và bệ đỡ cầu kì hơn

Ở Hy Lạp cổ đại có hai loại hình kiến trúc phổ biến, đó là loại hình kiến trúccông cộng Agora - những công trình mang tính dân dụng và Acropole - quần thể kiến trúc phục vụ mục đích lễ nghi hay tôn giáo với nhiều đền đài, tường thành được xây cất trên những khu đồi đá cao, trội lên so với vùng đất bằng phẳng xung quanh

Về lĩnh vực hội họa, dường như, trong lịch sử, đã có thời kỳ hội họa Hy Lạp cổ đại đạt đến thời kỳ hoàng kim với nhiều danh họa và các trường phái khác nhau Tuy nhiên, tất cả những tác phẩm hội họa, điêu khắc đó không còn tồn tại cho đến ngày nay Các tác phẩm hội họa Hy Lạp cổ đại mà chúng ta tìm được chủ yếu là một vài bức bích họa trong cung điện của Knossos trên đảo Crete và các họa tiết trên các sản phẩm gốm Về nội dung, vào đầu thế kỷ VIII tr.CN, những bức chân dung bắt đầu xuất hiện, ban đầu ở dạng tối giản theo quy luật hình học Qua thời gian, chân dung con người và động vật trở thành những chi tiết quan trọng nhất trong việc trang trí các loại bình cùng với môtíp thực vật của phương Đông

Tới thế kỷ VII tr.CN, những bức họa màu đen vẽ trên bình được phát triển Những chiếc bình này kể về những huyền thoại, những vị nam thần, nữ thần, các anh hùng Hầu hết chúng là những tác phẩm hội họa chân dung màu đen có khắc bóng trên nền đất sét màu vàng đỏ Ở các giai đoạn sau, bắt đầu xuất hiện các họa tiết vẽ chân dung màu đỏ Ở các tác phẩm này, chúng không những đạt được kỹ thuật cao trong vẽ phối cảnh mà còn thể hiện được chiều sâu của không gian

Khoa học tự nhiên

Về mặt khoa học tự nhiên, người Hy Lạp cổ đại đã có những cống hiến lớn Họ đã đặt cơ sở vững chắc cho nền khoa học cận hiện đại sau này Trên các lĩnh vực của khoa học tự nhiên đều xuất hiện những nhà khoa học Hy Lạp nổi tiếng

Về thiên văn học, Thales đã phát minh ra cách tính toán và dự báo nhật thực, nguyệt thực Pythagore và các học trò của ông lại có cái nhìn mới về vũ trụ, ông cho rằng mọi hiện tượng trong vũ trụ đều có quy luật của nó, ông cũng nhận thức được Trái Đất có hình cầu và chuyển động theo một quỹ đạo nhất định Nhà

Trang 22

thiên văn học sống ở thế kỷ III tr.CN Aristarque lại phát hiện ra lý thuyết về hệ thống Mặt Trời Ông cũng tính toán được khá chính xác thể tích của Mặt Trời, Trái Đất, Mặt Trăng và khoảng cách giữa các thiên thể đó Một nhà thiên văn học khác là Eratosthene lại tính được độ dài vòng kinh tuyến của Trái Đất và góc tạo nên bởi hoàng đạo và xích đạo

Về toán học, Hy Lạp đã xuất hiện nhiều nhà toán học lỗi lạc, có đóng góp lớn trong lịch sử toán học nhân loại như: Thales, Euclide, Achimede, Pythagore

… người Hy Lạp đã “vượt qua cánh tính nhân, chia, cộng, trừ, vươn tới sự khái quát thành những định lý, định đề, nguyên lý vẫn được sử dụng trong toán học hiện đại” [25;tr.192] Thales đã phát hiện ra tỉ lệ thức trong hình học Pythagore

lại phát hiện ra định lý mang tên ông về quan hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông, phân biệt các loại số chẵn, số lẻ và số không chia hết Euclide soạn sách

“Toán học sơ đẳng” trong đó chứa đựng định đề Euclide, nền tảng của môn hình học Achimede cũng là một nhà toán học Hy Lạp nổi tiếng khác, Achimede đã tính được số pi khá chính xác và sớm nhất trong lịch sử phương Tây

Về vật lý học, Achimede là người phát hiện ra sức đẩy của chất lỏng, nguyên lý đòn bẩy, ròng rọc… Ngoài ra, Achimede còn sáng chế ra nhiều máy móc vận dụng các nguyên tắc vật lý như: máy bơm nước, gương hội tụ ánh sáng, máy bắn đá, máy phóng gỗ…

Về hóa học, người Hy Lạp cổ đại đã biết đến kỹ thuật làm “vàng nhân tạo”, thực ra, đây là kỹ thuật nhuộm kim loại là cho nó có màu vàng để phục vụ những mục đích không tốt Ngoài ra, những người thợ thủ công có thể thực hiện

mạ bạc, mạ thiếc lên bề mặt kim loại Họ cũng đã biết đến nhiều hợp chất vô cơ như: thần sa (HgS), xút, phèn, ôxít sắt, sunfua Asen…

Về y học, học giả Hy Lạp tên là Hypocrate đã giải phóng y khoa - dược học khỏi con đường mê tín dị đoan Ông cho rằng, mọi bệnh tật đều do những nguyên nhân trong giới tự nhiên gây nên, do đó phải dùng các phương pháp khoa học để chữa trị Một nhà giải phẫu học khác tên là Herophile lại chứng minh một cách khoa học về chức năng tư duy của bộ não, lý luận tuần hoàn máu trong cơ thể…

1.2 Các nhân tố thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa gi ữa Hy Lạp và phương Đông thời cổ đại

1.2.1 Điều kiện địa lý

Trang 23

Vào thời cổ đại, khi mà các điều kiện về giao thông và thông tin liên lạc chưa phát triển thì điều kiện địa lý là nhân tố gần như giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy sự giao lưu văn hóa Điều kiện địa lý càng thuận lợi thì quá trình giao lưu văn hóa càng mạnh mẽ, ngược lại nếu điều kiện địa lý không cho phép thì quá trình giao lưu văn hóa càng hạn chế hoặc không thể

Điều kiện địa lý của Hy Lạp cổ đại và các quốc gia cổ đại phương Đông rất thuận lợi để giao lưu văn hóa diễn ra sớm và mạnh mẽ Các nền văn hóa Ai Cập, Lưỡng Hà cổ đại hình thành trên lưu vực các con sông lớn ở Tây Á và Bắc Phi Xét về vị trí địa lý, vùng Tây Á, Bắc Phi và Địa Trung Hải nằm kề nhau Nếu lấy đảo Crete của Hy Lạp làm tâm thì đi lên phía Bắc là Hy Lạp lục địa, đi

về phía Nam là bờ biển Bắc Phi, về phía Đông là vùng Tiểu Á và bán đảo Arabia Khu vực địa lý tiếp giáp giữa Ai Cập, Lưỡng Hà và Hy Lạp cổ là ngã ba đường

Á - Âu - Phi Đây là địa bàn diễn ra sự giao lưu kinh tế, văn hóa quan trọng thời

cổ đại

Nối liền Hy Lạp lục địa với Tiểu Á là rất nhiều hòn đảo trên biển Địa

Trung Hải.“Một dãy đảo tạo thành như một cái cầu bắc ngang giữa biển, nối liền bán đảo Bancang với miền Tiểu Á, gọi là dãy đảo Cyclades, trong đó quan trọng nhất có đảo Delos, trung tâm của mậu dịch hàng hải trên biển Aegea Ở phía Nam, có đảo Crete là hòn đảo lớn nhất của biển Aegea, nơi trung tâm của nền văn minh tối cổ Crete - Mycenae” [29;tr.8] Nó chính là cầu nối văn hóa giữa

Hy Lạp và phương Đông

Thêm vào đó, Địa Trung Hải là một biển gần kín, hẹp theo chiều Bắc - Nam, khí hậu ở vùng biển này cũng ôn hòa vì ít bão hơn các biển và đại dương khác Ở đây có các dòng biển chảy ổn định và các luồng gió bắc thổi vào mùa hè Các đảo nằm rải rác trên biển chính là những trạm dừng chân lý tưởng cho các chuyến hải trình dài ngày Điều này giúp các đoàn thuyền đi trên vùng biển này gặp nhiều thuận lợi Còn Hy Lạp là một bán đảo tự nhiên nằm trong Địa Trung Hải, bị chia cắt thành các bán đảo, vũng, vịnh nhỏ khác

Như vậy, về đường biển, để đi từ Hy Lạp đến các vùng đất ở phương Đông không quá khó khăn vì xa xôi, cách trở Những thuận lợi trên đã giúp người Hy Lạp cổ sớm giong buồm đến các miền thuộc Địa Trung Hải như: Tiểu

Á, Ai Cập, Italia, Tây Ban Nha, Bắc Phi… Ngược lại, các cư dân phương Đông cũng có điều kiện đến Hy Lạp để buôn bán, trao đổi

Trang 24

Về đường bộ, con đường để đi sang phương Đông và ngược lại cũng không quá khó khăn Người Hy Lạp ở lục địa có thể đi ngược lên phía Bắc, qua vùng Thrace đến Tiểu Á qua eo biển Hellespont Từ Tiểu Á, đi theo hướng đông

và hướng nam, người Hy Lạp có thể đến được các nước phương Đông Ở đây không có chướng ngại tự nhiên nào đáng kể cho nên việc đi lại càng thuận lợi hơn

Tóm lại, sự gần gũi và thuận lợi về mặt địa lý giữa Hy Lạp và các nước phương Đông cổ đại là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự giao lưu văn hóa; và

nó cũng quyết định tính chất, mức độ giao lưu văn hóa giữa hai bên Đó cũng là

lý do giải thích tại sao, Hy Lạp cổ đại lại chịu ảnh hưởng của Ai Cập, Lưỡng Hà

từ sớm và chủ yếu chứ không phải là Trung Hoa, Ấn Độ hay những nền văn minh cùng thời nào khác

1.2.2 Hoạt động thương mại

Từ những thuận lợi về mặt địa lý trên, ngay từ rất sớm, người Hy Lạp cổ đại đã buôn bán với các vùng đất ở phương Đông Ở Ai Cập, thời Cổ vương quốc

(khoảng 3000 - 2400 năm tr.CN): “Trong một lần khai quật ở Biblos (Syria), người ta đã phát hiện được những mảnh gốm có khắc tên Pharaon Khufu và Menkaure và một bình kim loại có khắc tên vua Unis Bức phù điêu trên tường thờ vua Sahura miêu tả một đoàn thuyền buôn Ai Cập sang Châu Á mua bán nô lệ” hoặc “Ở Ai Cập đã tìm thấy những mảnh gốm vỡ được chế tạo từ đảo Crete;

và ngược lại những hạt chuỗi Ai Cập thuộc các vương triều XI - XII đã được phát hiện ở Crete” [25;tr.46]

Đảo Crete là nơi hình thành nền văn minh sớm nhất ở Hy Lạp Văn minh Crete có nền kinh tế khá phát triển, nông nghiệp tạo ra được lượng nông sản lớn, đặc biệt là dầu ôliu, thủ công nghiệp tương đối phát triển với các nghề sản xuất

đồ gốm, rèn, làm đồ trang sức… Từ sự phân công lao động như trên, cộng với điều kiện địa lý thuận lợi, hoạt động thương mại của Crete đã diễn ra khá sầm uất Thuyền buôn của Crete đi khắp Địa Trung Hải và trao đổi nhiều loại hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng thủ công

Ở giai đoạn sau, giai đoạn Homer trong lịch sử Hy Lạp (thế kỷ XI đến thế

kỷ IX tr.CN), nền kinh tế nói chung và thương mại nói riêng có bước thụt Tuy nhiên, từ thế kỷ VIII tr.CN trở đi, kinh tế Hy Lạp cổ đại lại có sự biến chuyển, kim loại, đặc biệt là đồ sắt được sử dụng phổ biến trong sản xuất đã làm năng

Trang 25

suất lao động tăng lên, thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp và đạt được nhiều thành tựu; số lượng ngành nghề thủ công tăng lên, kỹ thuật sản xuất ngày càng được cải tiến Trong một số ngành nghề thủ công, tính chuyên môn hóa ngày càng cao, xuất hiện các vùng chuyên sản xuất một mặt hàng nhất định: Corinth chuyên đóng các loại thuyền, Mile chuyên gia công kim loại và dệt, Mega chuyên sản xuất các mặt hàng len dạ…

Sự phát triển của sản xuất thủ công nghiệp đã khiến thương mại của Hy Lạp khôi phục trở lại Nhiều thành thị với tư cách là những trung tâm công nghiệp và thương mại đã xuất hiện, tiền tệ bằng kim loại ra đời thay cho lối buôn bán vật đổi vật trước kia Đặc biệt, sau chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư, ngoại thương của Hy Lạp càng có điều kiện phát triển khi Athene nắm quyền khống chế Địa Trung Hải Cảng Pire trở thành trung tâm xuất nhập khẩu của Hy Lạp, Athene trở thành một trung tâm mậu dịch, đầu mối buôn bán, còn Delos trở thành chợ nô lệ nổi tiếng nhất thời cổ đại…

Ở chiều ngược lại, các dân tộc ở phương Đông cũng đã sớm biết và buôn bán với các vùng đất của Hy Lạp cổ đại Hầu như các quốc gia cổ đại phương Đông ven Địa Trung Hải đều có quan hệ thương mại với Hy Lạp như Ai Cập, Lưỡng Hà, Hittietes, Phenici, Ba Tư…

Trong các quốc gia phương Đông thì Phenici là quốc gia nổi tiếng nhất về buôn bán trên biển thời cổ đại Từ nửa đầu thiên niên kỷ II tr.CN, ở các quốc gia thành thị Phenici, đã hình thành một tầng lớp đông đảo những người thương nhân giàu có ngoài việc buôn bán các nông lâm, hải sản trong nước, còn đem ra bán ở nước ngoài, các ông vua Phenici cũng đều là những nhà buôn lớn

Người Phenici có kỹ thuật đóng tàu rất nổi tiếng, họ có thể đóng những con tàu gỗ có tải trọng lớn, đi được dài ngày trên biển Mặt khác, địa hình bờ biển của Phenici cũng rất thuận lợi cho việc thành lập các cảng biển Chính những điều kiện đó đã giúp người Phenici sớm làm chủ mặt biển, ngay từ đầu thiên niên kỷ III trước công nguyên, thuyền buôn và thuyền đánh cá của họ đã lui tới bờ biển của Ai Cập, đảo Crete và vùng biển Aegea Đến thiên niên kỷ II trước công nguyên, họ đã đi khắp nơi trên mặt biển Địa Trung Hải, đổ bộ lên tận Bắc Phi và Tây Ban Nha Sau đó họ đã ra khỏi Địa Trung Hải, đi ven bờ biển Tây Phi của Đại Tây Dương

Trang 26

Như vậy, quan hệ giao lưu, buôn bán giữa các quốc gia ven Địa Trung Hải

đã được hình thành từ rất sớm Đó là mối quan hệ xuất phát từ nhu cầu trao đổi

từ cả hai bên Sự trao đổi, mua bán trước hết là phục vụ mụcđích kinh tế của cả hai phía nhằm đáp ứng những nhu cầu còn thiếu trong cuộc sống của cư dân Nhưng qua hoạt động thương mại, sự giao lưu văn hóa giữa các nền văn minh đã diễn ra và được thúc đẩy mạnh mẽ

1.2.3 Công cuộc di thực của người Hy Lạp

Trong quá trình giao lưu văn hóa, việc một nhóm người di cư từ nơi này sang nơi khác là một nhân tố thúc đẩy quá trình đó diễn ra nhanh hơn Trong lịch

sử Hy Lạp, các cuộc di dân hay còn gọi là di thực đã diễn ra sớm Từ thế kỷ XIII tr.CN, người Hy Lạp bắt đầu vượt biển đi tìm các vùng đất mới ven bờ Địa Trung Hải và Biển Đen Nguyên nhân khiến những cư dân này tìm một vùng đất

mới xuất phát từ chính quê hương của họ:“Sự tan rã của quan hệ thị tộc và sự phân hóa giai cấp kịch liệt giữa giàu và nghèo làm cho quần chúng lao động bị bần cùng hóa, không có tấc đất cắm dùi Muốn tránh khỏi thân phận nô lệ, họ đã rời bỏ quê hương, lũ lượt kéo nhau ra nước ngoài tìm kế sinh nhai và an cư lạc nghiệp” [29;tr.15] Hy Lạp cũng không phải là mảnh đất thuận lợi cho phát triển

nông nghiệp, lương thực sản xuất ra chỉ đáp ứng được một phần, phần còn lại chủ yếu phải nhập từ phương Đông Những người nông dân không có đất, không

có tiền không thể sống được ngay trên chính quê hương của mình Cũng cần phải nói thêm, sự phát triển của ngành hàng hải và thương mại càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ

Công cuộc di thực của người Hy Lạp diễn ra mạnh mẽ từ thế kỷ VIII tr.CN và chủ yếu đi theo 3 hướng chính Người Hy Lạp đã lần lượt chinh phục bán đảo Balkan, các đảo trên biển Aegea và vùng đất ven biển phía Tây của Tiểu

Á Cư dân ở đây đã xây dựng lên ở đây các quốc gia - thành thị của riêng mình

và các vùng đất này được xem là của Hy Lạp (Hy Lạp hải ngoại) Sau khi chiếm

cứ các hòn đảo trên biển Aegea và vùng ven biển Tiểu Á, người Hy Lạp tiến sang phía Tây và chiếm miền Nam bán đảo Italia, đảo Sicile (vùng Đại Hy Lạp)

Đi về hướng Nam, người Hy Lạp đã xây dựng được các thương điếm ven bờ biển

Ai Cập và Lybia Không dừng lại ở đó, người Hy Lạp còn di thực đến các miền đất ven bờ Biển Đen ở phía Bắc

Trang 27

Như vậy, từ vùng Hy Lạp lục địa, người Hy Lạp đã di thực theo nhiều hướng, đến định cư và buôn bán tại nhiều vùng đất khác nhau ven Địa Trung Hải Các vùng đất “thực dân” của người Hy Lạp nằm xen kẽ với các vùng đất của các quốc gia phương Đông Nói cách khác, cư dân Hy Lạp đã sống xen kẽ với người dân bản địa Các vùng đất này mặc dù không nằm liền kề với Hy Lạp lục địa và để lại nhiều hệ quả tiêu cực, nhưng nó vẫn là lãnh thổ của người Hy Lạp

và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Hy Lạp và phương Đông

Về tính chất, lúc đầu, công cuộc di thực của người Hy Lạp chỉ có tính chất chiếm cứ đất đai để khai khẩn, làm ăn Về sau do sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp, công cuộc di thực của họ còn mang thêm tính chất chiếm đoạt thị trường mới và nơi cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất thủ công trong nước Đến thời kỳ nô lệ thịnh hành, công cuộc di thực của người

Hy Lạp còn mang thêm tính chất cưỡng bách cư dân ở thuộc địa làm nô lệ, đem

về sử dụng trong mọi ngành sản xuất kinh tế của Hy Lạp

Với những tính chất như trên, công cuộc di thực đã mang văn hóa phương Đông đến gần hơn với người Hy Lạp Nếu như bộ phận dân cư Hy Lạp sinh sống

ở hải ngoại được sống và tiếp xúc trực tiếp với người bản địa thì người Hy Lạp ở lục địa cũng vậy Nô lệ - một “sản phẩm” của công cuộc di thực đã được đưa đến

Hy Lạp Họ vốn là những người dân phương Đông bị bắt về Hy Lạp, là lực lượng lao động chủ yếu trong các ngành sản xuất của Hy Lạp, đặc biệt là ngành thủ công Họ đã đưa những tinh hoa của dân tộc mình thể hiện lên các sản phẩm lao động mà họ làm ra Điều này giải thích tại sao các sản phẩm thủ công nghiệp như: đồ gốm, đồ trang sức, đồ kim khí… được chế tác tại Hy Lạp lại mang nhiều đặc trưng của phương Đông đến như vậy

Nói tóm lại, công cuộc di thực đã thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa giữa

Hy Lạp với các quốc gia cổ đại phương Đông Giao lưu văn hóa không phải là mục đích chính của công cuộc di thực mà nó là hệ quả ngoài ý muốn Mặc dù vậy, nó lại đóng vai trò quan trọng trong việc đưa văn hóa phương Đông đến gần hơn với văn minh Hy Lạp

1.2.4 Chiến tranh

Từ khi xã hội có giai cấp, chiến tranh luôn xảy ra nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội Hy Lạp hay các quốc gia cổ đại phương Đông cũng

Trang 28

không nằm ngoài quy luật đó Trong lịch sử Hy Lạp, có nhiều cuộc chiến giữa các thành bang của Hy Lạp với nhau và cả chiến tranh giữa Hy Lạp với quốc gia khác

Các bộ sử thi và các cuốn sử đã ghi lại nhiều cuộc chiến tranh trong lịch

sử Hy Lạp Sử thi của Homer chủ yếu nói về cuộc chiến thành Troy Cuốn “Lịch

sử cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư” của Herodotus nói về cuộc chiến tranh chính nghĩa của Hy Lạp chống lại sự bành trướng của đế chế Ba Tư (492 - 448 tr.CN) Trong nội bộ các thành bang của Hy Lạp cũng diễn ra chiến tranh mà điển hình nhất là cuộc chiến tranh Pelopone (431 - 404 tr.CN) giữa Đồng minh Athene và Đồng minh Xparta Đến cuối thế kỷ IV tr.CN, cuộc chiến tranh của Philip II nước Macedonia và con là Alexander Đại đế đã diễn ra nhằm mục đích thống nhất các thành bang của Hy Lạp và mở rộng lãnh thổ sang phương Đông…

Ở các nước phương Đông, chiến tranh cũng thường xuyên xảy ra, đó là các cuộc nội chiến giữa những dân tộc trong cùng quốc gia với nhau Nhưng có những thời kỳ, các vương triều ngoại tộc thống trị ở Ai Cập, Lưỡng Hà hàng trăm năm Người Hittietes thống trị Ai Cập trong vòng 150 năm (1710 - 1560 tr.CN) Người Elam và Amorites đã lật đổ Vương triều III Ur ở Lưỡng Hà vào cuối thiên niên kỷ III tr.CN Người Elam đã cướp bóc và mang về nước rất nhiều thứ còn người Amorites lại định cư luôn ở Lưỡng Hà

Mặt khác, các nhà nước chuyên chế ở Ai Cập và Lưỡng Hà cũng thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược những nước khác Các vị vua của

Ai Cập đã từng mang quân sang xâm lược các vùng Nubi, Syria, Palestine ở vùng Tiểu Á Vua Hammourabi cũng dùng vũ lực để thống nhất Lưỡng Hà Các

dân tộc khác ở vùng Tiểu Á như: Assyria, Hittietes… cũng nổi tiếng là những

dân tộc hiếu chiến, chuyên gây chiến tranh xâm lược

Trong thời kỳ cổ đại, cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư là một cuộc chiến

có ảnh hưởng lớn nhất Đây là một cuộc chiến huy động hàng triệu binh lính của hai bên tham gia, đặc biệt hơn, đó là cuộc chiến giữa một bên là một đế chế quân chủ chuyên chế phương Đông và một bên là liên minh giữa các thành bang dân chủ phương Tây Cuộc chiến tranh kết thúc với thất bại thuộc về Ba Tư, và theo

đó, hàng vạn tù binh người Ba Tư đã bị mang về Hy Lạp Điều này đã tạo nên một chuyển biến hết sức lớn lao trong quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây

Trang 29

Như vậy, hầu hết các cuộc chiến tranh thời cổ đại đều nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp về đất đai, tài nguyên, nô lệ hoặc là bành trướng lãnh thổ

Đó là các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa phục vụ cho tham vọng của giới cầm quyền Các cuộc chiến tranh chỉ mang tính chính nghĩa khi một dân tộc thực hiện chiến tranh để chống lại sự xâm lược của nước khác, bảo vệ nền độc lập dân tộc mình Chiến tranh thời cổ đại ở Hy Lạp hay ở phương Đông là nhằm mục đích chính trị và kinh tế Mặc dù vậy, một hệ quả khác mà chiến tranh mang lại

là sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc tham gia chiến tranh

Giữa bên đi xâm lược và bên bị xâm lược là những quốc gia, dân tộc có nền văn hóa khác nhau Kẻ chiến thắng trong các cuộc chiến tranh thường tàn phá, cướp đi tất cả của cải, con người ở nơi mà chúng đi qua và mang về chính quốc hoặc đem bán đi nơi khác Mặt khác, kẻ đi xâm lược luôn muốn áp đặt văn hóa, phong tục, tập quán của mình để dễ bề cai trị cư dân nơi đó Kết quả cuộc Đông chinh của Alexander Đại đế đã mang về Hy Lạp hàng vạn nô lệ ở các quốc gia phương Đông, những tác phẩm nghệ thuật, đồ trang sức, sách vở… đều bị đưa về Hy Lạp

Như vậy, dù vô tình hay hữu ý thì các cuộc chiến tranh thời cổ đại đều khiến quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ hơn Chiến tranh là một tác nhân quan trọng đưa văn hóa phương Đông đến gần Hy Lạp hơn và ngược lại

1.2.5 Các nhà du hành, du học

Các nhà du hành thời cổ đại là những người đi từ vùng đất này, quốc gia này sang vùng đất khác, quốc gia khác với nhiều mục đích khác nhau Khác với những người di thực, họ chỉ chiếm một số lượng ít trong xã hội, chuyến đi của họ không bao gồm nhiều người và với mục đích vì khoa học là chủ yếu chứ không phải vì mục đích kinh tế hay chính trị

Lịch sử đã ghi nhận sự xuất hiện của nhiều nhà du hành người Hy Lạp và những đóng góp của họ cho khoa học thế giới Có thể kể đến các cái tên như: Herodotus, Pythagore, Thales, Platon, Euclide, Archimede, Eratosthène, Apollonius…

Herodotus sinh ra tại Halicanasse, nơi giao lưu của nhiều luồng văn minh

Đông - Tây Herodotus từng bị đày lên đảo Samos vì chống lại Ba Tư Trở lại quê hương năm 454 tr.CN, ông nuôi mộng viết sử và để thực hiện giấc mộng đó,

ở các năm tiếp theo, Herodotus đi chu du khắp các vùng đất ở châu Âu và châu

Trang 30

Á, châu Phi Ông đã từng đến các vùng đất thuộc đế chế Ai Cập, Hy Lạp, Ba Tư… Vào khoảng năm 446 tr.CN, ông trở về Athene để sinh sống và viết sách Các tác phẩm sử học nổi tiếng của ông là cuốn: Lịch sử cuộc chiến tranh Hy Lạp

- Ba Tư, các tác phẩm viết về lịch sử Assyria, Ba Tư, Ai Cập, Babilone…

Pythagore, là một nhà toán học, triết học nổi tiếng, ông sinh ra tại đảo

Samos Ông đã du lịch rất nhiều nơi, ông đã sống ở Ai Cập 22 năm để học tập nền khoa học Ai Cập Ông đã dành 12 năm để đến sinh sống và nghiên cứu những kiến thức toán học của Babilone Ông cũng từng sang Ấn Độ và tiếp xúc với nền văn hóa cổ ở đó Ông trở về tổ quốc vào khoảng năm 530 tr.CNvà thành lập trường triết học mang tên mình Trường phái này nghiên cứu nhiều vấn đề khoa học tự nhiên bên cạnh triết học Trường phái Pythagore đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học thời cổ, đặc biệt là về số học và hình học

Một nhà toán học khác cũng từng sinh sống và học tập tại Ai Cập là

Thales (625 - 547 tr.CN) Thời niên thiếu, Thales đã sống ở Ai Cập và học được

nhiều kiến thức khoa học khác nhau Lớn lên, ông trở về Hy Lạp và tham gia thành lập trường phái triết học ở đây Thales còn nổi tiếng là một nhà toán học thông thái đặc biệt là trong lĩnh vực hình học

Platon là một nhà khoa học người Hy Lạp, ông sinh ra tại Athene vào năm

427 tr.CN Sau khi thầy học của ông là Socrate bị sát hại (năm 399 tr.CN), ông chu du sang Ai Cập, Italia và đến năm 377 tr.CN mới trở về quê hương Tại Athene, ông mở trường triết học và dạy học ở đó suốt 40 năm Platon đã để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm về triết học và toán học

Nối gót Platon, nhiều nhà khoa học thế hệ sau đã đi sang phương Đông để

du học Lần lượt Euclide, Archimede, Eratosthene, Apollonius… đã sang Ai Cập

để học tập Các ông đã tiếp xúc với những thành tựu khoa học, đặc biệt là toán học của người Ai Cập, Lưỡng Hà và của cả những nhà toán học Hy Lạp đi trước

Họ đã trở về Hy Lạp và mang những kiến thức mà mình học được, phát hiện được truyền thụ cho các thế hệ học trò của mình

Như vậy, vào thời cổ đại, nhiều nhà khoa học Hy Lạp đã du hành sang phương Đông để sinh sống và học tập trong thời gian dài Mục đích của các chuyến đi này rõ ràng là phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu vì các nhà khoa học này đã ý thức được sự phát triển của khoa học phương Đông, đặc biệt là Ai Cập và Lưỡng Hà Số lượng các nhà du hành này là không nhiều nhưng những gì

Trang 31

mà họ mang về Hy Lạp là kết tinh của công sức, trí tuệ của các dân tộc ở phương Đông trong hàng ngàn năm Họ là giới trí thức, cho nên, mức độ tiếp thu và phổ biến văn hóa của họ cao hơn rất nhiều Chính vì vậy, có thể nói, các nhà du hành đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đưa các thành tựu văn hóa nói chung

và khoa học phương Đông nói riêng sang Hy Lạp

Trang 32

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA KHOA HỌC TỰ NHIÊN, NGHỆ THUẬT PHƯƠNG ĐÔNG ĐỐI VỚI HY LẠP CỔ ĐẠI

2.1 Trên lĩnh vực khoa học tự nhiên

Khoa học là tập hợp những hiểu biết của con người nhằm giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội Khoa học được phân ra khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội lại được phân ra nhiều ngành khác nhau Trong khoa học tự nhiên, các ngành mà con người nghiên cứu đầu tiên là toán học, thiên văn học, lịch pháp học, y học, vật lý học, hóa học… Các ngành khoa học tự nhiên đầu tiên này được phát triển với mục đích phục vụ những nhu cầu cơ bản của con người như: đo đạc, tính toán, đo thời gian, xây dựng, chữa bệnh…

Vào thời cổ đại, ở các quốc gia phương Đông, khoa học tự nhiên hết sức phát triển Người phương Đông đã đi tiên phong trong toán học, thiên văn học, lịch pháp học… và đã đạt được nhiều thành tựu Có thể nói, nền tảng của khoa học tự nhiên ngày nay được xây dựng từ phương Đông Từ nền móng đó, người

Hy Lạp đã phát huy, đưa khoa học tự nhiên của nhân loại lên một tầng cao mới

này, “người đời sau biết được Thales de Milet là nhà sáng lập ra nền toán học

Hy Lạp qua những lần ông đi thăm Ai Cập và sau đó truyền vào Hy Lạp vào thế

kỷ thứ 6 Proclus cũng nhắc đến Pythagore sống vào thế kỷ thứ 6 và xem Pythagore như là người đã có công cải tổ môn hình học, tách nó ra khỏi triết học

và làm cho hình học gần gũi với mọi người.” [3;tr.36]

Như đã giới thiệu, vào thời cổ đại, có nhiều nhà toán học Hy Lạp đã sang sinh sống học tập, nghiên cứu tại Ai Cập Các tri thức về hình học, đại số, lượng giác… của người phương Đông nói chung và Ai Cập nói riêng đã được các nhà toán học này mang về Hy Lạp

Trang 33

Về số học, trên cơ sở hệ đếm thập tiến vị của người Ai Cập, người Hy Lạp

đã phát minh ra hệ đếm của riêng mình Ban đầu người Hy Lạp sử dụng hệ đếm Acrophonic (thiên niên kỷ I tr.CN) Về cơ bản, hệ đếm này không khác hệ đếm của người Ai Cập là mấy Đây cũng là hệ đếm thập tiến vị tức là phép đếm lấy 10 làm cơ sở, hệ đếm này không có chữ số không (0) Các số là bội số của 10 được quy ước bằng các ký tự trong bảng chữ cái

Trăm Hình một vòng dây thừng Hekaton H

Bảng so sánh: Hệ đếm Ai Cập và Hệ đếm Acrophonic (Hy Lạp)

Như vậy, về cách ghép số ở Hệ đếm Acrophonic gần giống với cách ghép

số ở Hệ đếm của người Ai Cập Có một điểm tiến bộ hơn ở hệ đếm này là số 5 được biểu thị bằng một ký hiệu () Bước cải tiến này của người Hy Lạp đã giúp giảm bớt số ký tự để biểu diễn một số Chẳng hạn, để biểu thị số 9999, nếu dùng

hệ đếm của người Ai Cập phải dùng đến 36 ký tự còn nếu dùng Hệ đếm Acrophonic thì số ký tự giảm đi rất nhiều Người La Mã sau này đã học cách này

để biểu thị các số đơn vị Mặc dù vậy, do không biết đến khái niệm số không (0), nên, cũng giống như người Ai Cập, người Hy Lạp gặp khó khăn trong việc biểu thị các số có giá trị lớn

Nhận thấy được hạn chế đó, trong các giai đoạn sau, người Hy Lạp đã sử dụng một hệ đếm khác đơn giản hơn Hệ đếm này cũng dựa trên bảng chữ cái Hy Lạp cổ để biểu thị các con số nhưng quy ước khác với Hệ đếm Acrophonic Bảng chữ cái Hy Lạp cổ có 24 ký tự, người Hy Lạp đã thêm 3 ký tự cổ là “vau”,

“koppa” và “sampi” thành 27 ký tự để biểu diễn các con số Lần lượt, các số từ 1 đến 9 sẽ được gán cho các ký tự trong bảng chữ cái theo vị trí tương ứng Ví dụ 1

= “alpha”, 2 = “beta”, 3 = “gama”, 4 = “delta”… Khi kết thúc vị trí thứ 9 là

“theta” thì các ký tự tiếp theo lần lượt biểu thị cho 10, 20, 30, 40… Ví dụ: 10 =

“iota”, 20 = “kappa”, 30 = “lambda”, 40 = “mu”… Cứ theo quy tắc như vậy thì

Trang 34

khi kết thúc hệ bảng ký tự, ký tự cuối cùng - ký tự thứ 27 “san” sẽ biểu thị số

900

Để ký hiệu các số tự nhiên khác, người Hy Lạp sẽ ghép các ký tự cơ bản trên giống như ta ghép số ngày nay Ví dụ số 269 sẽ được người Hy Lạp biểu thị bằng cách đặt các ký hiệu chỉ “hai”, “sáu”, “chín” nằm gần nhau

Hệ thống số đếm của người Hy Lạp

(Nguồn: http://www.math.wichita.edu/history/topics/num-sys.html)

Chúng ta cần lưu ý rằng, do bảng này có sử dụng thêm 3 ký tự cổ nên vị trí các ký tự trước có thay đổi Nếu theo nguyên tắc trên và áp dụng cho bảng 24 chữ cái thì số 6 sẽ được ký hiệu là “zeta”; nhưng ký tự “vau” đã nằm chèn vào

“zeta” nên 6 sẽ được hý hiệu là “vau” còn 7 sẽ là “zeta” Tương tự như vậy,

“koppa” biểu thị số 90, “sampi” biểu thị số 900

So với Hệ đếm Acrophonic, hệ đếm sau này tỏ ra có ưu điểm hơn trong việc biểu thị các số bé hơn 900 Để biểu thị các số lớn hơn 900, người Hy Lạp phải đưa ra các quy tắc phức tạp hơn Nhưng nhìn chung, hệ đếm này không khắc phục được nhược điểm mà Hệ đếm Acrophonic và hệ đếm Ai Cập trước đã mắc phải, đó là không có số không (0)

Tóm lại, người Hy Lạp đã học tập từ người Ai Cập khá nhiều tri thức liên quan đến hệ số đếm Đó là hệ thập tiến vị, cách ghép số, các ký hiệu… và cả những hạn chế trong việc sử dụng hệ đếm Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự sáng tạo của người Hy Lạp trong việc cải tiến hệ số đếm của người Ai Cập Đó là biểu hiện của sự tiếp thu có phát triển trong khoa học tự nhiên Hy Lạp

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w