1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm giúp trẻ 5 – 6 tuổi khám phá thế giới thiên nhiên vô sinh

128 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi.. Do vậy, nếu sự phát triển niềm đam mê khám phá thiên nhiên vô sinh của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI: SỬ DỤNG TRÕ CHƠI THÍ NGHIỆM NHẰM GIÖP TRẺ 5 – 6 TUỔI KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN VÔ SINH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên xin gửi cho em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy cô trong khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã hỗ trợ, tạo điều kiện tốt cho em thực hiện khóa luận này

Đặc biệt em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô Th.S Nguyễn Thị Triều Tiên – Giảng viên khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại Học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này Bên cạnh đó là những ý kiến đóng góp của bạn bè, đã cho em nguồn động viên lớn để hoàn thành nhiệm vụ của khóa luận Qua đó, em đã đạt được nhiều tiến bộ về kiến thức cũng như những kĩ năng làm việc bổ ích

Mặc dù em đã cố gắng hoàn thành khóa luận trong phạm vi và khả

năng cho phép, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự cảm thông và tận tình chỉ bảo của các thầy cô và các bạn

Em chân thành gửi lời cám ơn sâu sắc đến toàn thể thầy cô và các bạn!

Đà Nẵng, ngày 28 tháng 4 năm 2016 Tác giả đề tài khóa luận

Nguyễn Thị Ngọc Nhung

Trang 3

MỤC LỤC

1.2.2 Khái niệm thí nghiệm 9

1.2.3 Khái niệm trò chơi thí nghiệm 10

1.3 Một số vấn đề lí luận về khám phá TNVS của trẻ 5-6 tuổi 12

1.3.1 Khái quát hoạt động khám phá TNVS cho trẻ 5 -6 tuổi ở trường mầm non: 12 1.3.2 Sơ lược đặc điểm nhận thức trẻ MG lớn 5 – 6 tuổi khám phá TNVS 12

1.3.3 Nội dung khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5-6 tuổi 17

1.4 Một số vấn đề lí luận về sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi 18

1.4.1 Đặc điểm trò chơi thí nghiệm cho trẻ 5 – 6 tuổi 18

1.4.2 Cấu trúc tiến hành tổ chức trò chơi thí nghiệm cho trẻ mầm non 18

1.5 Vai trò của trò chơi thí nghiệm trong việc khám phá thiên nhiên vô sinh của trẻ 5 – 6 tuổi 20

Tiểu kết chương I 22

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI THÍ NGHIỆM NHẰM GIÚP TRẺ 5 – 6 TUỔI KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN VÔ SINH 23

2.1 Mục đích nghiên cứu điều tra 23

2.2 Nội dung điều tra 23

2.3 Thời gian điều tra thực trạng 23

2.4 Phương pháp điều tra 23

2.4.1 Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến 24

2.4.2 Sử dụng phương pháp quan sát 24

2.4.3 Phương pháp đàm thoại 24

2.4.4 Phương pháp thống kê 24

2.5.Tiêu chí và thang đánh giá 25

2.5.1 Đánh giá mức độ sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên 25

2.5.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên 26

2.6 Phân tích kết quả 27

Trang 4

2.6.1 Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám

phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi 28

2.6.2 Thực trạng mức độ sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi 31

2.6.3 Mức độ nhận thức của trẻ qua trò chơi thí nghiệm cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 36

2.6.1 Kết quả quan sát trên 20 trẻ được tổng hợp trong bảng sau: 37

Tiểu kết chương 2 39

Chương 3: SỬ DỤNG TRÒ CHƠI THÍ NGHIỆM NHẰM KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN VÔ SINH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 42

3.1 Nguyên tắc và yêu cầu của việc sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh 42

3.2 Cách thức sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh 43

3.2.1 Lập kế hoạch cho việc sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh 43

3.2.2 Tạo môi trường tổ chức trò chơi thí nghiệm nhằm giup trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh 46

3.2.3 Phối hợp sử dụng các phương pháp, biện pháp trực quan dùng lời, thực hành đẻ hướng dẫn trẻ chơi thí nghiệm 47

3.2.4 Cách tiên hành sử dụng TCTN nhằm giúp trẻ 5 – 6 tuổi khám phá TNVS.48 3.3 Hệ thống một số trò chơi thí nghiệm nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh 57

3.4 Điều kiện để thực hiện việc sử dụng TCTN nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi 65

3.4.1 Về phía nhà trường 65

3.4.2 Về phía trẻ 67

3.4.3 Về phía gia đình 67

Tiểu kết chương 3 67

CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG TRÒ CHƠI THÍ NGHIỆM NHẰM KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN VÔ SINH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 69

4.1 Mục đích thực nghiệm 69

4.2 Nội dung thực nghiệm 69

- Cách thức sử dụng hệ thống TCTN nhằm gi p cho trẻ 5 - 6 tuổi khám phá TNVS 69

Trang 5

4.3 Thời gian thực nghiệm 69

4.4 Đối tượng thực nghiệm 69

4.5 Cách tiến hành thực nghiệm 70

4.6 Tiêu chí đánh giá và cách đánh giá thực nghiệm 71

4.7 Kết quả trước khi thực nghiệm 71

4.7.1 Kết quả điều tra các biện pháp sử dụng TCTN của GV 71

4.7.2 Mức độ hứng thú nhận thức của trẻ giữa nhóm ĐC và TN trước TN: 75

4.7.2.1 Mức độ hứng thú nhạn thức của nhóm trẻ ĐC trước TN 75

4.7.2.2 Mức độ hứng thú nhận thức của nhóm trẻ TN trước TN 75

4.7.2.3 Mức độ hứng thú nhận thức của 2 nhóm trẻ ĐC và TN trước TN 76

4.7.3: Mức độ nắm kỹ năng của trẻ giữa nhom ĐC và TN trước TN 76

4.7.3.1 Mức độ nắm kỹ năng của nhóm trẻ ĐC trước TN 77

4.7.3.2 Mức độ nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ nhóm TN trước TN 78

4.7.3.3 Mức độ nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ nhóm Đc và TN trước TN 78

4.8 Kết quả sau thực nghiệm 79

4.8.1 Mức độ hứng thú nhận thức thông qua trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi trên nhóm đối chứng và TN sau khi thực nghiệm 79

4.8.1.1 Mức độ hứng thú nhận thức của trẻ qua TCTN nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi khám phá TNVS của nhóm ĐC sau TN 79

4.8.1.2 Kết quả mức độ hứng thú nhận thức khám phá TNVS của trẻ 5-6 tuổi của nhóm TN sau TN 80

4.8.2 Kết quả mức độ nắm kiến thức kỹ năng của trẻ ở nhóm ĐC và TN sau TN 83

4.8.2.1 Mức độ nắm kiến thức kỹ năng của trẻ ở nhóm ĐC sau TN 83

4.8.2.2 Kết quả mức độ nắm kiến thức kỹ năng của trẻ ở nhóm TN sau TN 84

4.8.2.3 Kết quả mức độ nắm kiến thức kỹ năng của trẻ ở hai nhóm ĐC và TN sau TN 85

Tiểu kết chướng IV 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Một số kiến nghị sư phạm 92

2.1 Đối với công tác quản lý tổ chức 92

Trang 6

2.2 Đối với giáo viên mầm non 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 95

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 8

vì đến với thiên nhiên vô sinh là sở thích vốn có của trẻ

Đứng trước yêu cầu đổi mới Giáo dục Mầm non (GDMN), để hội nhập với GDMN của các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành GDMN đã và đang từng bước đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức giáo dục trẻ Dựa trên đặc điểm tâm lí nhận thức của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng, các nhà tâm lí học, giáo dục học đã chứng minh rằng quá trình tìm hiểu thiên nhiên được tổ chức mang tính chất khám phá, trải nghiệm theo phương thức “trẻ chơi mà học, học mà chơi” là phù hợp hơn cả đối với trẻ Đặc biệt, việc sử dụng nhóm phương pháp thực hành luôn tạo cho trẻ sự hứng thú, kích thích trẻ tích cực hoạt động, phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc quan sát, phán đoán và các năng lực hoạt động trí tuệ… Từ đó, việc sử dụng nhóm phương pháp này gi p nâng cao hiệu quả của việc cho trẻ KPKH, tìm hiểu thiên nhiên Một trong những biện pháp thuộc nhóm phương pháp thực

Trang 9

hành mang lại hiệu quả cao trong việc dạy trẻ KPKH là sử dụng TCTN trong hoạt động dạy học cho trẻ

Việc đưa vào học tập trò chơi thí nghiệm ban đầu cho trẻ mầm non nói chung

và hình thành nhận thức về thiên nhiên vô sinh thông qua những trò chơi TKTN nói riêng đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển trí tuệ của trẻ và chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phổ thông Làm thế nào để giảm bớt những căng thẳng này, để cho trẻ làm quen với TNVS trở nên sinh động và hấp dẫn, lôi cuốn các em?

Trò chơi Thí nghiệm với tính hấp dẫn tự thân của nó có tiềm năng lớn để trở thành phương tiện dạy học mang lại hiệu quả, kích thích hứng th nhận thức, tạo sự tích cực, sang tạo và trí tò mò, qua đó mà bộc lộ lên được niềm say mê của trẻ Việc sử dung các trò chơi thí nghiệm trong dạy học là phương pháp

có hiệu quả nhất Nó gi p trẻ phát triển tiếng nói, tư duy, sự ch ý, trí nhớ, nắm vững những tri thức và kỹ năng TCTN là TC mang nhiều tính chất của việc thử nghiệm khoa học cơ bản trong học tập của trẻ mẫu giáo, bởi qua đó

nó liên hệ mật thiết với các phương tiện khác và được áp dụng trong toàn bộ

hệ thống tác động đến trẻ nó gi p trẻ hiểu thấu đáo hơn trong bài học và được diễn ra lặp đi lặp lại nhiều lần và hình thức này hỗ trợ cho hình thức kia, có tác dụng rất lớn trong việc nhận thức ở trẻ em

Tuy nhiên, không phải cứ đến với thiên nhiên vô sinh hay thực hành những trò chơi thí nghiệm là trẻ biết phát hiện và cảm thụ được tính chất riêng biệt của nó Nhiều cháu là để chơi, để nghịch cho thoả thích, nhiều khi còn có hành động phá phách do chưa được thu h t và khơi dậy sự hứng th Mặc khác trong quá trình tổ chức hoạt động cho trẻ, các cô giáo không cần quá coi trọng lượng kiến thức phải thu được 1 buổi học mà hãy ch ý tới cảm nhận của trẻ, tới cách mà trẻ khám phá như thế nào? Chính sự thích th và đam mê

là những kiến thức khoa học mà trẻ thu lượm được để phát triển phát triển

Trang 10

niềm đam mê khoa học của trẻ, từ đó tiếp cận một cách tự nhiên theo nhu cầu

để tiếp thu kiến thức về môi trường xung quanh

Do vậy, nếu sự phát triển niềm đam mê khám phá thiên nhiên vô sinh của trẻ được trau dồi qua việc tìm cách áp dụng TCTN như là một phương pháp dạy học đưa ch ng vào trong học tập – hoạt động KPKH, thì việc dạy học sẽ

có hiệu quả, phù hợp với trẻ, an toàn với thực tế nhằm đưa trẻ tiếp x c nhận thức gián tiếp về thế giới thiên nhiên vô sinh, kích thích trẻ quan sát, tự đặt câu hỏi và tìm câu trả lời là rất cần thiết Cùng với kết quả nghiên cứu khoa học vừa rồi của mình, mà em đã tìm hiểu thêm một số TCTN mới được thiết

kế phù hợp, hấp dẫn với trẻ, để áp dụng và đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non, tiến tới thực hiện thành công chương trình giáo dục mầm non mới, em xây dựng đề tài : “Sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá thế giới thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong việc sử dụng những trò chơi thí nghiệm về thế giới vô sinh nhằm cho trẻ 5 – 6 tuổi nhận thức khám phá được một cách hứng th và tích cực nhất

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu :

Qui trình sử dụng trò chơi thí nghiệm thế giới thiên nhiên vô sinh của trẻ 5-6 tuổi

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Cách thức thiết kế và sử dụng TCTN nhằm đưa trẻ 5 – 6 tuổi khám phá thế giới thiên nhiên vô sinh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên sử dụng TCTN như một biện pháp hay hình thức dạy học trong hoạt động KPKH làm quen mới thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5-6 tuổi, kết

Trang 11

hợp với việc cho trẻ tự trải nghiệm và quan sát thực tế thì hiệu quả giáo dục sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.Nghiên cứu cơ lí lý luận của việc sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ từ 5 – 6 tuổi

5.2.Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng TCTN nhằm thể khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi

5.3.Tổ chức thực nghiệm sử dụng hệ thống TCTN đã thiết kế vào trong quá trình dạy học khám phá khoa học nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – tuổi để kiếm chứng giả thuyết khoa học

6 Phạm vi nghiên cứu

- Trong phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung nghiên cứu sử dụng những trò chơi thí nghiệm sáng tạo

6.1.Phạm vi về không gian: Trường mầm non tư thục TUỔI THƠ

6.2.Phạm vi về thời gian : Từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2018

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài, nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1.Điều tra bằng phiếu

- Sử dụng phiếu điều tra với giáo viên nhằm tìm hiểu nhân thức của giáo

viên về vấn đề này và tìm hiểu cách thức giáo viên mầm non sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi

7.2.2.Phương pháp đàm thoại

-Trao đổi, trò chuyện với giáo viên nhằm tìm hiểu nhận thức thực trang sử

dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên mầm non nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi, nguyên nhân và những giải pháp cho thực trạng ấy

Trang 12

Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu thái độ của trẻ đối với các TCTN cho trẻ 5 – 6 tuổi

7.2.3.Phương pháp quan sát:

Quan sát và ghi chép để nhận xét đánh giá về cách sử dụng TCTN của giáo viên trong quá trình gi p trẻ 5 – 6 tuổi khám phá TNVS

7.2.4.Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Chúng em tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm mục đích kiểm chứng tính

đ ng đắn của giải thuyết khoa học của đề tài

7.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này được dung để xử lí số liệu nghiên cứu Ch ng em đã sử

dụng các công thức toán thống kê để tính: Giá trị trung bình độ lệch chuẩn

8 Cấu tr c của đề tài :

Chương 1 : Cơ sở lí luận của đề tài sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm gi p trẻ

5 – 6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh

Chương 2 : Thực trạng của việc sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 3 : Sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 4 : Thực nghiệm sư phạm cách thức sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi

B NỘI DUNG

Trang 13

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI SỬ DỤNG TRÒ CHƠI THÍ

NGHIỆM KHÁM GIÚP TRẺ 5 – 6 TUỔI PHÁ THIÊN NHIÊN

VÔ SINH

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề rèn luyện và phát huy nhận thức qua các kỹ năng phỏng đoán,

ch ý, ngôn ngữ nói riêng và các KN nhận thức nói chung thông qua hoạt động thí nghiệm đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm

Tác giả James Belly đã chỉ ra rằng, để việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ

MN đạt hiệu quả cao thì GVMN cũng tiến hành cho trẻ khám phá giống như các nhà khoa học thường làm Các nhà khoa học thường nghiên cứu vấn đề bắt đầu bằng những câu hỏi, sau đó học sẽ theo một trình tự hoặc các phương pháp nhất định để tìm ra câu trả lời Đối với trẻ cũng vậy, GVMN cũng cần tuân thủ theo trình tự các bước và thông thường cần bắt đầu bằng một câu hỏi Các bước nghiên cứu thường bắt đầu theo trình tự như sau: Xác định câu hỏi hoặc vấn đề, dự đoán câu trả lời, thực hiện thí nghiệm, quan sát kết quả, rút ra kết luận, ghi chép kết quả cuối cùng (Sprung, Frosschi & Campbell,1995) Kế thừa quan điểm này, tác giả Jamice Bealy cho rằng, trong hoạt động khám phá khoa học của trẻ MN, GVMN cũng cần tiến hành theo trình tự tương tự như trình tự nghiên cứu của các nhà khoa học qua các bước như sau: xác định câu hỏi mà cô muốn trẻ trả lời, đoán xem câu trả lời sẽ ra sao, xác định cách thức làm sao để trả lời được và cố gắng tìm ra nó, quan sát cái gì sẽ xảy ra, nói về cái đã xảy ra và tranh luận về các câu trả lời đúng - sai, ghi nhận lại những việc đã làm và những gì đã diễn ra

Từ nhừng năm 50 của thế kỉ XX, vấn đề này đã được các nhà giáo dục học ở Việt Nam quan tâm, song phải đến những năm 60 các ý kiến trên mới bắt đầu trở thành lí luận tương đối rõ nét

Trang 14

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc

sử dụng thí nghiệm trong dạy học, cụ thể như:

Nhiều tác giả quan tâm đến việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ MN Tác giả Huỳnh Thị Bích Liên (2007) nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm trong hoạt động làm quen môi trường xung quanh ở trường MN Trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đi sâu vào vấn đề GVMN cần quan tâm để tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời tác giả cũng chỉ

ra những ưu điểm của thí nghiệm có thể mang lại cho sự phát triển toàn diện của trẻ

- TS Nguyễn Thanh Hải (Khoa Cơ bản - ĐH Phạm Văn Đồng) “Nghiên

cứu sử dụng thí nghiệm và các phương tiện hiện đại trong dạy học vật lí”

Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã đề cập đến việc sử dụng thí nghiệm và các phương tiện dạy học trong dạy học vật lí, đồng thời đề xuất việc kết hợp sử dụng thí nghiệm và các phương tiện hiện đại nhằm nâng cao chất lượng dạy và học vật lí ở trường phổ thông

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu

giáo Như ch ng ta đã biết, TTCNT của trẻ là một điều vô cùng quan trọng đối với trẻ trong việc tìm hiểu khám phá thế giới mới Việc giúp trẻ phá huy được TTCNT sẽ giúp cho quá trình khám phá trở nên dễ dàng hơn, trẻ lĩnh hội được nhiều tri thức mới hơn Vì vậy, bên cạnh các công trinh nghiên cứu về TTCNT cho người học nói chung còn có nhiều nhà tâm lí, giáo dục học quan tâm nghiên cứu về TTCNT của trẻ mẫu giáo như sau:

Một số nhà khoa học Xô – viết đã nghiên cứu về TTCNT của trẻ mẫu giáo, họ cho rằng TTCNT của trẻ mẫu giáo được xác định như là thái độ tích

Trang 15

cực của trẻ đối với thế giới hiện thực xung quanh, lòng ham muốn chiếm lĩnh tri thức và mong muốn vận dụng chúng vào thực tiễn

Bên cạnh đó, TTCNT của trẻ mẫu giáo được các tác giả của các nhà tâm

lí sư phạm Trường Đại học quốc gia Maxcova xem xét như là khả năng giải quyết nhiệm vụ nhận thức với hiệu quả cao bằng việc cố gắng, nỗ lực, huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhận thức đặc biệt là chức năng của

tư duy ( một số thao tác tư duy như so sánh, phân tích, khái quát hóa… )

Cũng cùng quan điểm với các nhà tâm lí sư phạm Trường Đại học Sư Phạm Maxcova, A.A.Luibinxkaia khi nghiên cứu về TTCNT của trẻ mẫu giáo, ông cũng nhận định ở lứa tuổi mẫu giáo đã xuất hiện tính tích cực ở bình

diện cao nhất đó là tính tích cực của hoạt động trí tuệ Ông cho rằng : “Trẻ em

hoàn toàn có khả năng hoạt động trí tuệ, nó biết suy nghĩ về những điều mắt thấy, tai nghe, biết giải đáp các câu đố, biết sáng tác truyện và kể theo tranh Chúng thường hay hỏi mọi người xung quanh về những điều chưa biết, tranh luận cùng với họ… Sự nghe, sự kể bằng ngôn ngữ sáng tạo ấy trở thành hình thức đặc thù trong hoạt động trí tuệ của trẻ mẫu giáo”

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về hoạt động khám pha môi trường

xung quanh

Ngoài việc nghiên cứu về tính tích cực, TTCNT của trẻ mấu giáo, cũng

đã có một số tác giả nghiên cứu về quá trình cho trẻ khám phá MTXQ Đầu tiên , trên diễn đàn của nhà thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh có bài viết của

Ts Hoàng Thị Oanh – Ths Nguyễn Thị Xuân – Trường CĐSPMGTW1, viết

về “ Quy trình cho trẻ làm quen với MTXQ” Trong bài viết này chủ yếu nêu lên các bước cho trẻ khám phá MTXQ

Ngoài ra, còn có công trình của Nguyễn Thị Thanh Thủy “Các hoạt động, trò chơi với chủ đề môi trường tự nhiên” giáo trình này chủ yếu nói

Trang 16

đến các hoạt động và trò chơi về môi trường tự nhiên Hoàng Thị Phương “ Giáo trình lý luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh” Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm 2008, giáo trình này đã đưa ra một số vấn đề lý luận về moi trường xung quanh

Bên cạnh đó còn có công trình của Lê Thị Ninh “ Giáo trình phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh “ dành cho học viên nghành giáo dục mầm non hệ đào tạo tại chức từ xa Nhà xuất bản Đại học

Sư Phạm, 2006 Trong giáo trình này cũng chỉ ra được các phương pháp để giúp trẻ là quen với môi trường xung quanh một cách hiệu quả nhất

Hoàng Thị Oanh – Nguyên Thị Xuân “ Giáo trình Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh” giáo trình chủ yếu nói đến các phương pháp, các hình thức, điều kiện và phương tiện cho trẻ làm quen với MTXQ

Như vậy, qua nghiên cứu của các công trinh của các nhà khoa học, chúng ta thấy vấn đề phát huy tính tích cực cũng như khơi dậy niềm đam mê thích thú, sự tìm tòi học hỏi cho trẻ mẫu giáo luôn là vấn đề quan trọng và cần thiết

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm thiên nhiên vô sinh

Thiên nhiên vô sinh là những sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên, bao gồm sỏi, cát, đá, đất, nước, không khí, ánh sáng Thiên nhiên

vô sinh không có quá trình đồng hóa và dị hóa, chung không sinh ra mà chỉ

bị biến đổi do ảnh hưởng của những hiện tượng tự nhiên, của con người 1.2.2 Khái niệm thí nghiệm

Trang 17

Từ „thí nghiệm‟ trong tiếng Anh là „experiment‟ Nó có nguồn gốc từ nguyên „experimentum‟ trong tiếng La-tinh, có nghĩa là „thử, thử thách, kiểm tra, xét nghiệm, bằng chứng‟

mò hành động tìm kiếm, thí nghiệm trong thực tiễn để đi đến kết luận về điều

dự đoán trước hoặc trả lời những thắc mắc trong suy nghĩ” [8, tr 73]

là việc tổ chức cho trẻ hành động tác động vào đối tượng, làm thay đổi đối tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại một hiện tượng nào đó trong tự nhiên” [5, tr 69]

Đồng ý kiến với các tác giả trên, theo em, đối với trẻ MN, có thể hiểu

“Thí nghiệm là quá trình GV tổ chức cho trẻ tác động lên một sự vật,

hiện tượng nào đó, làm thay đổi nó trong một điều kiện nhất định để quan sát sự thay đổi của sự vật, hiện tượng nhằm rút ra kết luận về đặc điểm, tính chất và mối liên hệ giữa các sự vật hiện, hiện tượng đó.”

1.2.3 Khái niệm trò chơi thí nghiệm

Em dựa vào chức năng, nguồn gốc, cấu trúc… của TCHT trong hoạt động KPKH để đưa ra tên gọi tương ứng đó là TCTN

Theo E.I.Chikhieva, TC được gọi là TCHT vì gắn liền với mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi phải có tài liệu dạy học phối hợp kèm theo,

P.G.Xamarucova cho rằng loại TC có nhiệm vụ chủ yếu là Giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ em Như vậy, TCHT chủ yếu hướng vào việc giáo dục và phát triển hoạt động nhận thức Nhiệm vụ nhận thức được đặt gián tiếp thông qua nhiệm vụ chơi TCHT được xem như là phương pháp thực hành, trải nghiệm… một mặt củng cố kiến thức mặt khác nhằm tiếp thu tri thức mới

Trang 18

Theo nhà giáo dục nổi tiếng Macarenco (người Nga): “Trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của đứa trẻ chẳng khác gì sự làm việc, sự phục vụ của người lớn…” Không chơi đứa trẻ không phát triển được, không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải đang sống

Hiện nay trên thị trường Việt Nam, TCTN được biên soạn thành các cuốn sách tham khảo dành cho GVMN và phụ huynh rất nhiều Cụ thể như:

Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Nga, trong cuốn “Các hoạt động

khám phá khoa học của trẻ mầm non” của NXB Giáo Dục Việt Nam Tác giả

Ts Hồ Lam Hồng trong cuốn “ Trẻ mầm non khám phá khoa học” của NXB

Hà Nội Xét về đặc điểm, chức năng, cấu trúc, nguồn gốc của TCHT…ch ng

em nhận thấy TCTN là một dạng của TCHT TCHT hướng đến việc hình thành tất cả các biểu tượng về sự vật hiện tượng xung quanh như: TCHT nhằm giáo dục Dinh dưỡng, TCHT nhằm hình thành kỹ năng sống, TCHT nhằm hình thành các biểu tượng về môi trường xung quanh…Ở đây TCTN là trò chơi hướng vào việc hình thành, cũng cố các biểu tượng về MTXQ, nhằm kích thích sự hứng thú và phát huy tối đa khả năng quan sát, tu duy logic và

óc phán đoán của trẻ TCTN có tác dụng phát triển năng lực trí tuệ của con người, buộc người chơi phải vận dụng sự hiểu biết cùng với các thao tác trí tuệ để hoàn thành nhiệm vụ học tập TCTN được sử dụng trong việc giáo dục cho trẻ MN là hình thức chơi của việc dạy học TCTN có nội dung và những thí nghiệm đã nghiên cứu trước, do người lớn sáng tác và đưa vào cuộc sống của trẻ TCTN được người lớn hướng dẫn và kiểm soát quá trình chơi tuy nhiên vẫn đảm bảo tính tự do, độc lập của trẻ

Như vậy, TCTN là loại trò chơi có từng bước tiến hành, nội dung chơi

do người lớn hệ thống ra, hướng dẫn và tổ chức cho trẻ nhằm hình thành

và củng cố hệ thống về nhận thức MTXQ

Trang 19

* Trò chơi thí nghiệm đối với trẻ 5 - 6 tuổi:

Thí nghiệm của trẻ mầm non trong hoạt động KPKH ở trường mầm non chỉ mang tính tiền khoa học Điều này có nghĩa là trẻ tìm hiểu khoa học dưới hình thức học mà chơi, chơi mà học Thông qua trò chơi với thí nghiệm nhằm giúp trẻ hứng thú với hoạt động KPKH sau này.Chính vì thế mà em sử dụng

thuật ngữ “Trò chơi thí nghiệm” trong đề tài của mình TCTN, về bản chất là

trò chơi học tập mà ở đó trẻ thực hiện nhiệm vụ nhận thức qua hoạt động thí nghiệm dưới hình thức trò chơi

1.3 Một số vấn đề lí luận về khám phá TNVS của trẻ 5-6 tuổi

1.3.1 Khái quát hoạt động khám phá TNVS cho trẻ 5 -6 tuổi ở trường

mầm non:

những biểu tượng đ ng đắn về các sự vật và hiện tượng gần gũi xung quanh, cung cấp cho trẻ những tri thức đơn giản có hệ thống về thế giới xung quanh, giúp trẻ hiểu biết sơ đẳng về đặc điểm tính chất, giá trị sử dụng, mối liên hệ

và sự phát triển của các sự vật và hiện tượng xung quanh Không chỉ vậy, hoạt động KPKH còn góp phần phát triển và hoàn thiện các giác quan, các quá trình tâm lí, cảm giác, tri giác, tư duy, ngôn ngữ, ghi nhớ, chú ý của trẻ Ngoài ra, khám phá MTXQ còn góp phần phát triển ở trẻ tình cảm thẩm mĩ, đạo đức Trẻ biết yêu quý cái đẹp, cái thiện, những chuẩn mực đạo đức của xã hội Từ đó, nhân cách của trẻ dần được hoàn thiện hơn Bên cạnh nguồn tri thức mà trẻ tích luỹ được qua hoạt động khám phá MTXQ, trẻ còn tích luỹ cho mình vốn sống làm cơ sở để trẻ dễ dàng lĩnh hội những nội dung giáo dục của các hoạt động vui chơi, lao động và các môn học khác

TNVS

Trang 20

- Trẻ ghi nhớ có chủ định và có khả năng tập trung tốt, bền vừng hơn

Có nhiều thông tin về một số sự vật, hiện tượng nào đó nhưng chưa có hiểu biết đầy đủ về sự vật, hiện tượng đó

thể tự tạo ra các thí nghiệm để xem có điều gì sẽ xảy ra và nghĩ ra những lời giải thích cho những gì mà trẻ qua sát được, mặc dù trẻ chưa đủ khả năng sử dụng suy luận logic và trừu tượng

+ Trẻ đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng và có nhu cầu tìm hiểu bản chất của ch ng

+ Trẻ bước đầu đã lĩnh hội được tri thức ở trình độ khái quát và một số khái niệm sơ đẳng

+ Ở trẻ phát triển chức năng ký hiệu của ý thức

- Có thể là, một số thí nghiệm do cô hướng dẫn, và có thể giải thích theo các cách khác nhau

chơi theo nhóm 5 – 6 trẻ và thích trao đổi trong nhóm

việc có thực để giải thích các khái niệm đó

a Tri giác

- Là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của

sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

- Đặc điểm:

* Tri giác là quá trình tâm lý

Trang 21

* Nội dung phản ánh : phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sinh vật, hiện tượng theo cấu tr c nhất định

* Phương thức phản ánh : trực tiếp khi sự vật tác động vào giác quan

* Sản phẩm phản ánh : Hình ảnh tương đối trọn vẹn về sinh vật

* Tri giác là một hành động tích cực của con người có sự chi phối của kỹ năng sống Tri giác có mục đích là hoạt động quan sát của con người

=> Gi p trẻ định hướng chính xác và nhanh chóng hơn các hành vi hoạt động trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh Gi p điều chỉnh hành động hợp nhất giữa sự hướng dẫn của cô giáo và hành động tiến hành trong thí nghiệm

b Trí nhớ

hình thức biểu tượng,bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo, sau đó ở trong óc những cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây Nó có vai trò rất to lớn đối với mọi hoạt động sống của trẻ, không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không lưu giữ thông tin, không sinh ra bất kì hoạt động nào cũng như không hình thành nên nhân cách Là công cụ để lưu giữ kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác

c Tư duy

mối liên hệ quan hệ bên trong có tính qui luật của sự vật hiện tượng trong qui luật khách quan mà trước đó ta chưa biết

Đến tuổi mẫu giáo tư duy của trẻ có một bước ngoặc rất cơ bản, đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong, mà thực chất

là chuyển từ hoạt động bên ngoài vào hoạt động bên trong treo cơ chế nhập tâm

Trang 22

Đang chuyển từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình ảnh nhưng còn mờ nhạt Do hoạt động với đồ vật lâu dần thành hình ảnh biểu tượng trong đầu, là cơ sở của hoạt động tư duy ở bình diện bên trong, nhưng biểu tượng vẫn còn nghèo nàn

Trẻ biết sử dụng các biểu tượng trong đầu nhưg phải sử dụng nhiều lần hoạt động để giải quyết vấn đề

d Tưởng tượng

giác, khái niệm trong tâm trí khi không nhận thức đối tượng đó thông qua thị giác, thính giác hoặc các giác quan khác Là công việc của tâm trí, nó gi p cung cấp ý nghĩa cho kinh nghiệm và tri thức, là cơ sở cho việc nhận thức thế giới, nó đóng một vai trò quan trọng trong quá trình học tập

Ở tuổi mẫu giáo, bé đã có thể phân biệt giữa thế giới tưởng tượng và thực tế Nhưng bé không xem cái nào quan trọng hơn cái nào, bé yêu quý cả hai thế giới đó Bé thích đóng kịch tưởng tượng vì bé có thể điều khiển câu chuyện theo mong muốn, ý thích của mình, không phải tuân theo bất kỳ nguyên tắc nào Làm như vậy bé không chỉ thỏa mãn sở thích mà còn được tự rèn luyện những giao tiếp xã hội, tình cảm và các kỹ năng tri thức vốn có trong đời thường

huynh, người lớn sẽ rất kinh ngạc, trong trò chơi thí nghiệm sự tưởng tượng góp phần quan trọng Bằng việc trẻ đưa ra những giả thuyết cho một sự vật

mà trẻ muốn tìm hiểu, thông qua đó trẻ lên kế hoạch cho sự vật mà mình mốn tìm hiểu đó để tiến hành khám phá và xác nhận, những trò chơi thí nghiệm

gi p nâng tầm trí tưởng tượng của trẻ Ví dụ trẻ trồng hạt giá đỗ, trẻ đưa ra giả thuyết rằng càng trồng sẽ càng to lớn và dài ra như trong câu chuyện “ cậu

bé và hạt đậu thần kì “ bằng cách tiếp tục thí nghiệm và quan sát, sự tưởng

Trang 23

tượng được nâng cao khi trẻ biết đặt ra giả thuyết là càng trồng sẽ càng dài và

to, và khi đưa vào thì nghiệm quan sát trẻ sẽ r t ra được điều thực tiễn trong thí nghiệm, càng trồng sẽ càng dài ra và chuyển sang màu xanh non chứ không to lớn

f Ngôn ngữ

một công cụ dùng để biểu đạt ý nghĩ và tình cảm của mình với đối phương để

có thể hiểu ý nhau Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, là phương tiện để giao tiếp, là công cụ để tư duy Phát triển ngôn ngữ cho trẻ gi p cho tư duy của trẻ phát triển và còn là một phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhân cách - đạo đức

trong quá trình nhận thức những sự vật hiện tượng, muốn cho các cháu phân biệt các vật này với vật khác, biết được tên giọi, hình dạng, công dụng, và những thuộc tính cơ bản của vật, nếu chỉ cho các cháu xem xét mà không dùng từ ngữ để giải thích, hướng dẫn và khẳng định những kết quả đã quan sát được thì những tri thức mà các cháu thu được đó nhất định sẽ hời hợt, nông cạn, có khi còn sai lệch hẳn Trong hoạt động trò chơi thí nghiệm khám phá thiên nhiên vô sinh, trẻ được làm việc nhóm, tạo tiền đề cho sự phát triển

về tổng quan ngôn ngữ, tư duy trong ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩ của cá nhân bản thân trước một sự vật hiện tượng có vấn đề, khi nhận thức các sự vật đó, trẻ phải dùng từ để gọi tên sự vật, tên các chi tiết, đặc điểm, tính chất, công dụng của sự vật, từ đó trẻ biết phân biệt sự vật này với sự vật khác, hiện tượng này với hiện tượng khác

g Chú ý

Trang 24

Ch ý là sự tập trung vào một hay một nhóm đối tượng, sự vật nào đó

để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có kết quả

Nó là điều kiện để tiến hành hoạt động Do tính chọn lọc của chủ ý, nên nó

gi p cho hoạt động tâm lý của trẻ tập trung vào một đối tượng mà bỏ qua hoặc xao lãng đối tượng khác Nhờ vậy hoạt động tâm lí có ý thức hơn, kết quả hoạt động sẽ cao hơn

1.3.3 Nội dung khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5-6 tuổi

hành kèm theo thông tư số 28 được sử từ chương trình thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng bộ giáo dục

và Đào tạo do Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam xuất bản đã đưa ra nội dung giáo dục theo từng độ tuổi và lĩnh vực giáo dục

Khám phá thiên nhiên vô sinh là một trong các nội dung của khám phá khoa học về một số hiện tượng tự nhiên thuộc lĩnh vực giáo dục phát triển nhận thức Nội dung khám phá thiên nhiên vô sinh dành cho trẻ 5 - 6 tuổi bao gồm khám phá:

- Các nguồn nước trong môi trường sống

- Ích lợi của nước với đời sống con người, con vật và cây

- Một số đặc điểm, tính chất của nước

- Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước và cách bảo vệ nguồn nước

- Đặc điểm, tính chất của không khí

- Sự cần thiết của nó với cuộc sống con người, con vật và cây cối

- Cách bảo vệ nguồn không khí trong sạch

Trang 25

* Đất, đá, cát, sỏi:

- Khám phá một vài đặc điểm, tính chất của đất, đá, cát, sỏi

1.4 Một số vấn đề lí luận về sử dụng trò chơi thí nghiệm nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.4.1 Đặc điểm trò chơi thí nghiệm cho trẻ 5 – 6 tuổi

Để có thể hiểu rõ hơn về biện pháp TCTN em xin đưa ra một số đặc điểm của TCTN như sau:

- TCTN nhằm mô phỏng các hiện tượng, cung cấp tri thức cho trẻ về sự thay đổi của các sự vật hiện tượng xung quanh một cách cụ thể khách quan

- Các bài tập thí nghiệm được tổ chức dưới dạng trò chơi nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ

- TCTN có thể cô thực hiện cho trẻ quan sát hoặc cô cho trẻ tự thực hiện

- TCTN hấp dẫn trẻ tham gia hoạt động bởi trẻ được tự mình trải nghiệm

và được tham gia những trò chơi mới lạ Do đó nó có khả năng phát huy tinh tich cực của trẻ

- Để tiến hành TCTN, đòi hỏi giáo viên cần phải biết mọi yếu tố trong thí nghiệm đó Nắm chắc được yêu cầu, quy trình thí nghiệm để đạt được kết quả chính xác nhất

1.4.2 Cấu trúc tiến hành tổ chức trò chơi thí nghiệm cho trẻ mầm

non

a) Lập kế hoạch tổ chức

Để lập kế hoạch tổ chức TCTN cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non thì công việc đầu tiên của người giáo viên là phải xác định được mục đích của TCTN Mục đích của TCTN được cụ thể hoá bằng nhiệm vụ của TCTN Nhiệm vụ TCTN thường do giáo viên đặt ra hoặc giáo viên cũng có thể giúp

Trang 26

trẻ tự xác định nhiệm vụ Nhiệm vụ TCTN phải rõ ràng, đƣợc xác định theo trình tự nhất định Việc giải quyết nhiệm vụ nhận thức đòi hỏi sự tìm tòi tích cực: phân tích, đối chiếu cái đã biết với cái chƣa biết, đƣa ra kết luận về nguyên nhân của hiện tƣợng, lựa chọn biện pháp giải quyết, các điều kiện và

- Trong quá trình xác định các điều kiện thí nghiệm, cần khuyến khích trẻ tham gia bàn bạc và chuẩn bị Giáo viên có thể tiến hành đàm thoại với trẻ

về việc xác định điều kiện thí nghiệm; khuyến khích trẻ tham gia tích cực vào việc chuẩn bị TCTN

- Trong khi tiến hành TCTN: TCTN có thể diễn ra trong thời gian ngắn hoặc dài nhƣ quan sát Nếu nhiệm vụ đƣợc giải quyết trong quá trình tham gia trò chơi, quan sát, việc thảo luận kết quả quan sát cũng diễn ngay sau đó Giáo viên cùng trẻ phân tích điều kiện tiến hành thí nghiệm, so sánh kết quả và rút

ra kết luận Khi tiến hành TCTN phải đảm bảo tác động tích cực lên đối tƣợng thí nghiệm, làm thay đổi đối tƣợng theo đ ng mục đích đặt ra

- Kết thúc TCTN: Thời điểm cuối của TCTN là rút ra kết luận trên cơ sở các kết quả đã thu nhận đƣợc sau khi tham gia TCTN Giáo viên cũng cần khuyến khích trẻ độc lập rút ra kết luận

c) Tổ chức môi trường hoạt động

Trang 27

Việc tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ là rất quan trọng, nó giúp cho trẻ hứng th hơn với TCTN cũng như tạo điều kiện tốt cho TCTN được thực hiện thành công Để TCTN được tổ chức hiệu quả thì giáo viên cần lưu ý:

- Chuẩn bị môi trường hoạt động cho trẻ bao gồm chuẩn bị không gian chơi và việc trang bị, sắp xếp, bố trí các vật liệu chơi

- Dựa vào kế hoạch đã được đề ra, giáo viên cần chuẩn bị không gian để tiến hành TCTN Đó có thể là trong lớp học, trong sân trường hay ở vườn trường nhưng nhất thiết cần phải đảm bảo an toàn, vệ sinh và có đủ không gian cho hoạt động diễn ra một cách thuận lợi nhất

- Vật liệu, đồ dùng: Giáo viên chuẩn bị vật liệu, đồ dùng phù hợp phục

vụ cho nội dung thí nghiệm, số lượng đủ cho trẻ tiến hành và phải đảm bảo an toàn, vệ sinh

- Ngoài ra, giáo viên bố trí các góc khoa học ở trong lớp cũng như ngoài trời nhằm cho trẻ quan sát ngoài tiết học mọi lúc Những đồ dùng, đồ chơi đó ngoài việc bố trí hợp lí còn cần phải đảm bảo an toàn cho trẻ

1.5 Vai trò của trò chơi thí nghiệm trong việc khám phá thiên nhiên vô sinh của trẻ 5 – 6 tuổi

Nhà tâm lý học Vưgotxki cho rằng “trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người” Mỗi trò chơi gi p trẻ học mỗi cách khác nhau TCTH giúp trẻ học được cách sử dụng các giác quan và các thao tác trí tuệ vào quá trình hình thành các biểu tượng mới về thế giới xung quanh nói chung và biểu tượng toán học nói riêng ở trẻ

- TCTN được tổ chức dưới hình thức “học mà chơi, chơi mà học” nên

nó có khả năng phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ trong quá trình KPKH Việc sử dụng TCTN để tổ chức cho trẻ học giúp lôi cuốn, thu hút trẻ tham gia hoạt động chính bởi vì trẻ được tự mình trải nghiệm thực tế những điều mình chưa biết, tự trẻ thực hiện và giải quyết vấn đề

Trang 28

- TCTN giúp trẻ khắc sâu những kiến thức căn bản về sự vật hiện tượng xung quanh trẻ như: Đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng cũng như mối quan hệ, sự tương tác của các sự vật hiện tượng đó Từ đó, trẻ có thể vận dụng những kiến thức mình đã biết vào trong cuộc sống của mình

- Không chỉ vậy, qua quá trình thực hiện TCTN còn góp phần phát triển các quá trình tâm lí của trẻ: ch ý, tư duy, tưởng tượng, quan sát…

- Trong quá trình tham gia TCTN các vận động cơ bản của trẻ dần được hoàn thiện, rèn luyện khả năng khéo léo, tỉ mỉ của đôi tay, sự phối hợp của các bộ phận trên cơ thể nhịp nhàng hơn

- Qua TCTN, hình thành kĩ năng hoạt động nhóm ở trẻ, trẻ biết hợp tác,

gi p đỡ bạn trong khi chơi, phát triển khả năng giao tiếp của trẻ khi giao tiếp với bạn và cô giáo

- Phát triển tính tích cực, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá của trẻ

Trang 29

Tiểu kết chương I

Trong thời đại phát triển hiện nay, mỗi người chúng ta phải không ngừng học hỏi và hoàn thiện Đối với trẻ mầm non cũng vậy, nhu cầu tìm hiểu, khám phá của trẻ rất cao Hoạt động KPKH của trẻ ở trường mầm non không chỉ nhằm cung cấp vốn tri thức cho trẻ mà còn hình thành những nét nhân cách cho trẻ như: Tính ham hiểu biết, ham học hỏi, thích khám phá, trải nghiệm, biết yêu quý mọi vật xung quanh mình…

Trong dạy học có rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau và mỗi phương pháp đều có những ưu điểm khác nhau Việc cho trẻ học dưới hình thức thí nghiệm đã đem lại những hiệu quả nhất định đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Ngày nay, thí nghiệm đã dần đi vào các giờ KPKH của trẻ ở trường mầm non, hàng loạt các công trình nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm cũng đã nói lên được ý nghĩa của việc sử dụng thí nghiệm trong hoạt động KPKH của trẻ mầm non, đặc biệt là dưới hình thức vui chơi hay còn gọi là TCTN

Trò chơi học tập ngoài mục đích kích thích sự hứng thú của trẻ trong hoạt động học mà nó còn giúp trẻ khắc sâu những kiến thức mình đã học, trẻ tiếp nhận kiến thức một cách thoải mái, thích thú Sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của trẻ ở trường mầm non là sự kết hợp giữa trò chơi học tập và thí nghiệm Bản thân thí nghiệm đã mang lại sự hứng thú ở trẻ, nhưng khi kết hợp giữa chơi và thí nghiệm thì lại càng kích thích sự hứng thú tham gia hoạt động khám phá của trẻ

Như vậy đối với trẻ mầm non, sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH ở trường mầm non có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển toàn diện của trẻ Từ những cơ sở lí luận đã nghiên cứu và những tìm hiểu về thực tế, em nhận thấy rằng, sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non có hiệu quả rất tốt trong sự phát triển toàn diện của trẻ

Trang 30

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI THÍ

NGHIỆM NHẰM GIÚP TRẺ 5 – 6 TUỔI KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN VÔ SINH

2.1 Mục đích nghiên cứu điều tra

Em tiến hành nghiên cứu thực tiễn nhằm tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng TCTN nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi Trên cơ sở

đó, nghiên cứu thêm về những trò chơi thí nghiệm mới và đề xuất cách thức

sử dụng một số TCTN nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi 2.2 Nội dung điều tra

- Nhận thức của giáo viên mầm non về việc sử dụng TCTN cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCTN

- Thực trạng sử dụng TCTH nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ

5 - 6 tuổi

- Thực trạng mức độ nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi trong TCTN

2.3 Thời gian điều tra thực trạng

- Từ ngày 20/3 đến ngày 15 tháng 4 năm 2018

2.4 Phương pháp điều tra

Để tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trung tâm mầm non Tuổi Thơ, chúng em tiến hành phát phiếu điều tra cho 15 GVMN ở các trường trên địa bàn TPĐN gồm có 1 trường tư thục trên địa bàn nội tỉnh

Trong quá trình nghiên cứu, em đã sử dụng các phương pháp khác nhau cho

từng đối tượng nghiên cứu

Trang 31

2.4.1 Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến

Phương pháp này được sử dụng nhằm điều tra:

- Nhận thức của giáo viên về việc tổ chức TCTN nhằm dạy trẻ khám phá thiên nhiên vô sinh

- Mức độ thường xuyên về việc tổ chức TCTN nhằm dạy trẻ khám phá thiên nhiên vô sinh

- Thực trạng tổ chức TCTN nhằm dạy trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh

2.4.3 Phương pháp đàm thoại

động thí nghiệm khám phá thien nhiên vô sinh, em tiến hành đàm thoại, trao đổi ý kiến với các cán bộ quản lý, giáo viên trực tiếp giảng dạy về những nội dung đã có trong phiếu nhằm làm sáng tỏ hơn nhận thức của các giáo viên về TCTN trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh Từ đó tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng

2.4.4 Phương pháp thống kê

thống kê số liệu, từ đó r t ra được mức độ thực hiện và tổ chức thí nghiệm

Trang 32

trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh và kết quả đạt được trên trẻ sau khi tham gia hoạt động

2.5.Tiêu chí và thang đánh giá

Để đánh giá thực trạng sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của trẻ

5-6 tuổi ở trường mầm non, em thực hiện đánh giá trên 2 mặt: mức độ sử dụng

và hiệu quả sử dụng TCTN của giáo viên

2.5.1 Đánh giá mức độ sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên

Mức độ sử dụng TCTN của giáo viên trong hoạt động KPKH được đánh giá trên 2 tiêu chí cơ bản sau: Khả năng sử dụng TCTN của giáo viên và mức

độ thường xuyên sử dụng TCTN của giáo viên

a) Tiêu chí 1: Đánh giá khả năng sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên

- Mức độ 1: Tốt (3 điểm)

Các TCTN giáo viên sử dụng đáp ứng được mục tiêu giáo dục, nội dung

dễ hiểu, phong phú, phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ 5-6 tuổi

- Mức độ 2: Trung bình (2 điểm)

Các TCTN của giáo viên vẫn đáp ứng được mục tiêu giáo dục Tuy nhiên chưa mới mẻ và phong phú Nhiều TCTN chưa rõ về nội dung

- Mức độ 3: Yếu (dưới 1 điểm)

Các TCTN không đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu của giáo dục Nội dung không phù hợp với lứa tuổi

b) Tiêu chí 2: Đánh giá mức độ thường xuyên sử dụng trò chơi thí nghiệm trong hoạt động KPKH của giáo viên

- Mức độ 1: Thường xuyên- 1 lần/ tuần (3 điểm)

Trang 33

Giáo viên thường xuyên tổ chức các TCTN sử dụng trong hoạt động KPKH

- Mức độ 2: Thỉnh thoảng- 1 đến 2 lần/ tháng (2 điểm)

Giáo viên ít tổ chức các TCTN sử dụng trong hoạt động KPKH

- Mức độ 3: Không tổ chức (1 điểm)

Giáo viên không tổ chức TCTN sử dụng trong hoạt động KPKH

Dựa trên tổng điểm của cả 2 tiêu chí đánh giá đối với mỗi giáo viên, mức

độ sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của giáo viên được đánh giá theo thang điểm sau:

+ Từ 5-6 điểm: Tốt

+ Từ 3-4 điểm: Khá

+ Từ 2 điểm trở xuống: Trung bình

2.5.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên

Hiệu quả của việc giáo viên sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của trẻ được đánh giá trên 2 tiêu chí cơ bản sau: Mức độ hứng thú nhận thức của trẻ và mức độ nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ

Biểu hiện: Trẻ tỏ vẻ không chú ý và không muốn tham gia

b) Tiêu chí 2: Mức độ nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ

Trang 34

Như vậy, hiệu quả việc giáo viên sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của trẻ được đánh giá theo thang điểm tổng của cả 2 tiêu chí trên như sau: + Từ 5-6 điểm: Đạt hiệu quả

+ Từ 3-4 điểm: Hiệu quả chưa cao

+ Từ 2 điểm trở xuống: Chưa hiệu quả

Tiêu chí và thang đánh giá này được dùng trong phần quan sát trên trẻ trong các giờ hoạt động KPKH ở trường mầm non

2.6 Phân tích kết quả

* Đôi nét về đối tượng điều tra:

Trong 5 giáo viên điều tra, 100% số GV đều đang trực tiếp phụ trách các lớp MG 5 – 6 tuổi và đều có trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo yêu cầu của bậc học GDMN Trong đó, có 100% giáo viên đều tốt nghiệm từ Đại học chính quy Đa số GVMN thuộc diện điều tra đều có trình độ chuyên môn và

kỹ năng chăm sóc trẻ và công tác cao, phụ trách lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trang 35

2.6.1 Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi thí nghiệm

nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi

* Kết quả nhận thức của GVMN về vai trò của việc sử dụng TCTN nhằm gi p cho trẻ 5 - 6 tuổi khám phá TNVS được em tổng hợp ở bảng dưới đây

sử dụng TCTN nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5-6 tuổi

sẽ là nền tảng cũng như ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành ý thức, cũng như kế hoạch hành động cho việc thiết kế và sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 - 6 tuổi của GV

Trang 36

* Kết quả trả lời câu hỏi: “Trong quá trình thiết kế và sử dụng trò chơi thí nghiệm trong hoạt động làm quen với toán chị có hướng đến việc phát triển hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để khám phá TNVS không?” Với câu hỏi này thì kết quả điều tra cho thấy: Hầu hết ( 86%) số GV

sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi Còn lại (14%) số

GV vẫn chưa thấy được ưu thế của TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 -

6 tuổi Qua trao đổi, trò chuyện, chúng em nhận thấy hầu hết GV đã đánh giá được tầm quan trọng của việc nhận thức MTXQ – khám phá TNVS cho trẻ cũng như tầm quan trọng của việc sử dụng TCTN trong quá trình khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi

* Kết quả trả lời câu hỏi về mức độ thiết kế và sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS cho trẻ 5 – 6 tuổi của GV được chúng em tổng hợp ở bảng dưới đây

Kết quả thể hiện ở bảng 2.2 cho thấy, đa số giáo viên đã thường xuyên tổ chức TCTN trong hoạt động KPKH nhằm cho trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên

Trang 37

nhiên vô sinh Số GV thường xuyên tổ chức TCTN chiếm 33.33 % Như vậy, mức độ sử dụng TCTN có sự chênh lệch khá nhiều, điều này cho thấy phần lớn giáo viên đã tổ chức TCTN có trong các tài liệu tham khảo Chiếm tới 66.67% giáo viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng TCTN vào một số hoạt động cụ thể (như trong hoạt động củng cố kiến thức, hoạt động vui chơi…), theo họ thì không nên lạm dụng sử dụng quá nhiều TCTN vào hoạt động dạy trẻ (đặc biệt là hoạt động dạy kiến thức mới) Họ cũng cho rằng, việc thiết kế và sử dụng TCTN, ngay cả những TCTN có sẵn cũng không đơn giản, bởi nó đòi hỏi phải có sự phù hợp với đặc điểm riêng của từng lứa tuổi, với điều kiện vật chất của trường MN và với nội dụng bài học cũng như hứng th chơi của trẻ… Nhưng theo ch ng em, cách

lí giải như vậy phần lớn xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan về phía GV còn thiếu năng lực Ở đây em xin nói về vấn đề mục đích đặt ra trong từng thí nghiệm của GV ở chỗ một số người chỉ xây dựng thí nghiệm và dừng ở mức độ xảy ra phản ứng chứ họ không đi vào việc làm thế nào để kích thích và duy trì sự hứng thú của trẻ, họ không trả lời được câu hỏi “ tại sao lại cho ra phản ứng này?” hay “ thí nghiệm này mang lại mục đích gì cho trẻ?”

Về khung thời gian bố trí việc sử dụng TCTN không hợp lí và GV còn thiếu sự linh hoạt khi vận dụng TCTN vào các hoạt động hàng ngày của trẻ, đặc biệt là nguyên nhân khách quan thời điểm xảy ra chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” là rơi vào tầm tháng 4-5 trong thời điểm này các giáo viên đang gấp rút tiến hành sổ sách để chuẩn bị báo cáo cuối năm học của trẻ và nhà trường

và về vấn đề chi phí cho mỗi thí nghiệm và quá cao và vượt mức cho phép của

GV mầm non mà không có nguồn chi phí nào từ nhà trường để hỗ trợ cho GV trong hoạt động KPKH – khám phá TNVS… Vì vậy, một số ít GV khi thiết kế

và sử dụng TCTN nhằm khám phá TNVS còn nhiều hạn chế, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nhận thức, hứng th của trẻ trong quá trình hình

Trang 38

thành biểu tượng về thế giói xung quanh của trẻ trong các hoạt động tại trường

MN

2.6.2 Thực trạng mức độ sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên

nhằm khám phá thiên nhiên vô sinh cho trẻ 5 – 6 tuổi

a) Mức độ thường xuyên sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên

Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của trẻ 5-6 tuổi, các giáo viên của trường mầm non Tuổi thơ đã có những TCTN hay, lí th được lồng ghép trong các kế hoạch hoạt động Những TCTN đó nhằm mục đích cung cấp cho trẻ những kiến thức cơ bản về đối tượng thí nghiệm, những kĩ năng đơn giản khi làm thí nghiệm, khi chơi các TCTN, không những thế TCTN còn nhằm mục đích phát huy tính tích cực, hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động

Tuy nhiên, việc sử dụng TCTN còn chưa được thực hiện nhiều Các TCTN được tổ chức cho trẻ cũng chỉ là những TCTN cực kì đơn giản, không mất nhiều thời gian, công sức cũng như tiền bạc Đối với những trò chơi phức tạp hơn, sáng tạo hơn thì không được tổ chức, và nếu có thì các TCTN cũng chỉ là những TCTN có luật đơn giản, trẻ cũng chỉ được tham gia vào các trò chơi đơn giản, dễ nhận biết Có thể thấy rõ mức độ thường xuyên sử dụng tổ chức của giáo viên trong bảng sau:

trong hoạt động KPKH ở trường mầm non Tuổi Thơ

Mức độ thường xuyên

sử dụng

Giáo viên

Thường xuyên (3 điểm)

Thỉnh thoảng (2 điểm)

chức (1 điểm)

Trang 39

Trương Ánh Ngọc x

Biểu đồ 1: Mức độ thường xuyên thường sử dụngTC TN của giáo viên

Từ kết quả khảo sát có thể thấy mức độ thường xuyên sử dụng TCTN trong hoạt động KPKH của giáo viên còn rất thấp Tỉ lệ giáo viên thường xuyên tổ chức chỉ khoảng 1 giáo viên ( 17%) Trong khi tỉ lệ giáo viên không

sử dụng TCTN lại lên đến trên 50 % Có thể thấy rõ giáo viên tuy đã biết được những hiệu quả mà biện pháp TCTN mang lại trong hoạt động KPKH,

Trang 40

nhưng giáo viên vẫn chưa sử dụng TCTN vào trong công tác giảng dạy của mình

Thật ra theo quan sát và điều tra thì một số GV tổ chức TCTN chỉ dựa trên việc hình thức làm cho có, mọi sự kết quả đưa ra đều không mang tính xác thực về năng lực của trẻ trong hoạt động KPKH đặc biệt là lượng kiến thức và hứng thú nhận thức của trẻ là một ẩn số GV chỉ cho trẻ lên nhìn ngắm và chụp ảnh đưa về cho phụ huynh chứ chính bản thân trẻ chưa từng qua một thao tác nào

Ngay cả trên sân trường nơi được xây dựng dựa trên nền tảng châm ngôn

“ lấy trẻ làm trung tâm” – giữa những thứ bạt ngàn về đất cát nước – nơi màu

mỡ cho sự trải nghiệm và sáng tạo thì chỉ là một vùng đất mà trẻ chỉ có thể ngắm từ xa, nơi đó chỉ có thể dựng lên để làm cảnh cho những lần kiểm tra của bộ giáo dục và ngay chính bản thân của giáo viên cũng ngại khi tổ chức

sử dụng TCTN ngay tại khuôn viên đó chỉ vì lí do ngại dọn dẹp – có quá nhiều thứ trong lớp mà một GV cần phải làm cho nên họ lơ là đi nhiệm vụ phát triển hứng thú nhận thức và theo cách tự nhiên họ bó hẹp lối tư duy và sức sáng tạo của trẻ Nhiều trẻ chưa thỏa mãn bản thân mà đành phải lùi bước lại

b) Mức độ sử dụng trò chơi thí nghiệm của giáo viên

Dựa vào thang tiêu chí và mức độ thường xuyên sử dụng TCTN của 6 giáo viên ta có bảng kết quả về mức độ sử dụng TCTN của 6 giáo viên trường mầm non Tuổi Thơ như sau:

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w