1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế chung cư Hoàng Gia

104 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Chung Cư Hoàng Gia
Tác giả Lưu Nguyễn Thành Công
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hai
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 563,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết kế chung cư Hoàng Gia Thiết kế chung cư Hoàng Gia Thiết kế chung cư Hoàng Gia luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 ĐĂT VẤN ĐỀ

Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, khí hậu nhiệtđới nóng và ẩm của Việt Nam thuận lợi cho sự pháttriển của cây trồng nhưng cũng thuận lợicho sự phát sinh,phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màn Dovậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đểphòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữvững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện phápquan trọng và chủ yếu Cùng với phân bón hóa học,thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninhlương thực cho loài người

Ngoài mặt tích cực là tiêu diệt các sinh vật gây hạimùa màng, thuốc BVTV còn gây nhiều hậu quả nghiêmtrọng như: phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng,gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường sống vàảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng và cảcho người sản xuất

Vì vậy, việc tìm hiểu mức độ sử dụng hóa chất bảovệ thực vật ở Việt Nam, ảnh hưởng của thuốc bảo vệthực vật đến môi trường sống nhằm bổ sung những kiếnthức đã học và nâng cao nhận thức trong việc bảo vệmôi trường sống cho cộng đồng là rất cần thiết đối vớinhững sinh viên ngành môi trường

1.2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng hóa chất bảo vệthực vật và vấn đề ô nhiễm các chế phẩm hóa học sửdụng trong nông nghiệp Việt Nam

Trang 2

Đề xuất và biện pháp khắc phục.

1.3 NỘI DUNG KHÓA LUẬN

- Giới thiệu chung về thuốc BVTV và phân hóa học

- Aûnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học

- Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại ViệtNam

- Một số kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc trừsâu và phân bón hóa học ở vùng trồng rau của thànhphố Hồ Chí Minh

- Kết luận và kiến nghị

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với thời gian và phạm vi của một khóa luận tốtnghiệp, đề tài chủ yếu là thu thập tổng quan tài liệuvà điều tra bổ sung thêm tình hình sử dụng thuốc trừ sâuvà phân bón hóa học trên một vài cây trồng tại thànhphố Hồ Chí Minh

Việc điều tra tiền hành bằng cách phỏng vấn nôngdân và ghi lại số lần phun thuốc, loại thuốc, thời giancách ly của thuốc trên các loại cây trồng

Trang 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN

2.1.1 Sự ra đời của thuốc bảo vệ thực vật

2.1.1.1 Khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc BVTV là những hợp chất độc nguồn gốc tựnhiên hoặc tổng hợp hóa học được dùng để phòng vàtrừ sâu, bệnh, cỏ dại, chuột… hại cây trồng và nôngsản (được gọi chung là sinh vật gay hại cho cây trồng).Thuốc bảo vệ thực vật gồm nhiều nhóm khác nhau, gọitheo tên nhóm sinh vật hại, như thuốc trừ sâu dùng đểtrừ sâu hại, thuốc trừ bệnh dùng để trừ bệnh cây… trừmột số trường hợp còn nói chung mỗi nhóm thuốc chỉcó tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc nhóm đó.Thuốc BVTV nhiều khi còn gọi là thuốc trừ hại (Pesticide)và khái niệm này bao gồm cả thuốc trừ các loại ve, rệphại vật nuôi và trừ côn trùng hại cây, thuốc điều hòasinh trưởng cây trồng

2.1.1.2 Trên thế giới

Khi con người bắt đầu canh tác nông nghiệp và có sựđấu tranh với dịch hại để bảo vệ mùa màng thì một số

Trang 4

biện pháp phòng trừ dịch hại đã hình thành Chính vì vậy,lịch sử của thuốc BVTV có từ rất lâu đời (cách đâykhoảng 10.000 năm).

Vào thời kỳ năm 2500 BC (trước Công nguyên), hợpchất lưu huỳnh được sử dụng để diệt côn trùng và nhện.Năm 1500 BC, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà.Năm 1200 BC, Trung Quốc đã có thuốc xử lý hạt giống.Năm 900 AD (sau Công nguyên), người ta dùng arsenicsulfides để trừ côn trùng trong vườn

Thế kỷ thứ IV, người ta đã biết xử lý hạt lúa bằngArsen trắng

Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX là thời kỳcách mạng nông nghiệp ở châu Âu Sản xuất nôngnghiệp tập trung và năng suất cao hơn, đồng thời tình hìnhdịch hại càng nhiều hơn xảy ra trong phạm vi toàn thếgiới Một số thuốc trừ sâu, dịch hại, diệt hại phổ biến

ở cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chủ yếu là chất vô cơnhư Arsen, Selenium, Antimony, Sulfur… hoặc một số chấtthảo mộc vốn có chất độc Song thời bay giờ chưa ai biếtđược đến độc hại của nó

Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện một biện pháp trừ sâuhại tích cực hơn và hiêu quả hơn Đó là sự ra đời củ DDTthuộc nhóm Clor hữu cơ vào năm 1939, và liên tục sauđó ra đời nhiều các hợp chất hóa học khác Đây là hợpchất đầu tiên trong chuỗi thuốc trừ sâu được khám phá,nó tiêu diệt được một số lượng lớn côn trùng Trong suốt

25 năm sau đó, nó được xem như là vị cứu tinh của nhânloại, giúp diệt trừ côn trùng và tăng sản lượng nôngsản Chu trình sản xuất cũng tương đối rẻ nên nó đượcáp dụng phổ biến rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới

Trang 5

- Năm 1940, người ta tổng hợp nên các hợp chất cóhốc lân hữu cơ.

- Năm 1947, người ta tổng hợp nên hóa chát Carbamate

- Năm 1970 phát triện được các loại thuốc Pyrethroide.Hiện nay, thuốc trừ sâu tồn tại 3 thế hệ, tính độc hạicủa thế hệ sau thường thấp hơn thế hệ trước

Thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất thường là thuốc chiếttừ chất Nicotin, hay Pyrethrum chiết từ một loại cúc khô,những chất vô cơ như phèn xanh, thạch tín…

Thuốc trừ sâu thế hệ thứ 2 là tổng hợp các chấthữu cơ: DDT, 666, Wofatox… (xuất hiện vào thập niên 40).Thuốc trừ sâu thế hệ thứ 3, xuất hiện vào nhữngnăm 70 và 80 như gốc lân hữu cơ, Cardbamate và sự rađời của Pyrethroide, thuốc sinh học

2.1.1.3 Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, việc sử dụng thuốc BVTV chỉ phổ biến từthế kỷ thứ XIX Trước đó, việc việc diệt trừ sâu, bệnhchủ yếu bằng phương pháp bắt sâu hay

biện pháp mang tính mê tín, bùa phép

Đầu thế kỷ 20, khi nền nông nghiệp Việt Nam bắt đầuphát triển đến một mức nhất định, hình thành nên cácđồn điền, trang trại nông nghiệp lớn thì việc sử dụngthuốc bảo vệ thực vật bắt đầu gia tăng Trong thời kỳnày, Việt Nam cũng sử dụng chủ yếu các hợp chất hóahọc vô cơ như các nước trên khu vực và trên thế giới.Từ những năm 50, Việt Nam chỉ sử dụng một số thuốcbảo vệ thực vật như DDT, Lindan, Oarathion-ethyl,Polyclorocamphene…

Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam có nhữngbước chậm hơn so với các nước phát triển Thập niên 70

Trang 6

và 80 Việt Nam còn sử dụng hợp chất hóa học gốc Clorhay gốc phosphor hữu cơ (DDT thuộc nhóm clor hữu cơ, MetylParathion, Monocrophos thuộc nhóm lân hữu cơ, Furadanthuộc nhóm Carbamate) thì các nước phát triển đã ngưngsử dụng các loại hợp chất này Ví dụ như ở Mỹ đã cấmsử dụng DDT từ năm 1992, mãi đến năm 1993 Việt Nammới có lệnh cấm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cónhóm Clor hữu cơ.

2.1.2 Sự ra đời của phân bón hóa học

Hơn một trăm năm qua người ta tổng kết thấy rằngnăng suất cây trồng tăng vọt lên nhờ phân bón đạttrên 50% Vai trò của phân bón bằng tất cả các biệnpháp khác cộng lại như thời vụ trồng, làm đất, luân canh,giống, tưới tiêu Nước ta ở vùng nhiệt đới đới, nhiềuánh sáng, nhiệt độ cao, mưa nhiều do đó bón phân làbiện pháp cơ bản để tăng năng suất cây trồng và độphì nhiêu của đất

2.1.2.1 Trên thế giới

Trong những năm qua, sự tiêu thụ PBHH trên thế giớităng rất nhanh Trong đó, tăng nhiều nhất là đạm, kếđến là phân lân, phân kali tăng chậm hơn so với các loạikhác

Năm 1973 mức tiêu thụ phân đạm là 38,9 triêutấn/năm, đến năm 1981 tăng

60,3 triệu tấn/năm (bình quân hằng năm tăng 5,6%)

Năm 1973, mức tiêu thụ phân lân trên toàn thế giớilà 24,2 triệu tấn; năm 1983 là 31,9 triệu tấn (bình quânmức tiêu thụ hằng năm tăng 2,8%)

Trang 7

Mức tiêu thụ phân kali trong những năm gần nay tăngchậm, năm 1973 tiêu thụ 120,75 triệu tấn (bình quânhằng năm tăng 2,2%).

Tổng lượng PBHH tiêu thụ tăng từ khoảng 69 triệu tấnnăm 1970 lên khoảng 146 triệu tấn năm 1990, nghĩa làtăng gấp 2 lần Tỷ lệ tiêu thụ ở các nước đang pháttriển cao hơn nhiều (360%) so với nước phát triển (61%),thế nhưng lượng phân bón sử dụng cho 1 ha ở các nướcphát triển lại cao hơn so với nước đang phát triển

Trong sử dụng phân bón thì số lượng và tỷ lệ N, P, Kgiữa các khu vực có sự khác nhau rõ rệt Các nước pháttriển năm 1982 sử dụng bình quân 51 kg N; 31 kg P2O5, 28 kg

K2O (tổng số là 110 kg phân bón nguyên chất cho 1 hađất canh tác) Tỉ lệ N: P: K sử dụng là 1: 0,6: 0,54 cácnước đang phát triển bình quân bón 33 kg N, 12 Kg P2O5, 4 Kg

K2O, tỉ lệ sử dụng N: P: K là 1: 0,36: 0,12 (tổng số phânbón cho 1 ha đất canh tác là 49 Kg phân bón nguyênchất)

2.1.2.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là nước nông nghiệp trồng lúa nước, nhưngmãi đến những năm 50 của thế kỷ này thì mới bắt đầulàm quen với PBHH Tuy vậy, độ sử dụng PBHH ở Việt Nammỗi năm mỗi tăng Năm 1980 cả nước sử dụng 500.000tấn phân đạm (qui về đạm tiêu chuẩn) và trên 200.000tấn phân lân (qui về super photphat đơn); đến năm 1990đã sử dụng 2,1 triệu tấn phân đạm và 650.000 phân lân.Mức sử dụng chất dinh dưỡng cho cây trồng là thấp vàkhông cân đối, mức sử dụng phân lân và phân kali khá

ít, tỷ lệ trung bình dinh dưỡng của thế giới hiện nay là N:

Trang 8

P2O5: K2O = 1: 0,47: 0,36; đối với các nước đang phát triểnhiện nay tỷ lệ này là 1: 0,37: 0,17; còn Việt Nam mới đạt1: 0,23: 0,04 Mức độ sử dụng phân bón khác nhau theocác địa giới hành chánh nên năng suất cây trồng củaViệt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực.

Bảng 2.1: Tiêu thụ phân hóa học ở Việt Nam

2.2 PHÂN LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN

2.2.1 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật

Năm tiêu thụ N + P2O5 + K2O

Trang 9

Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng và phong phú về cảchủng loại và số lượng, tuy nhiên có thể phân loại thuốcBVTV theo các hướng sau

2.2.1.1 Phân loại theo nhóm chất hóa học

- Gốc Clor hữu cơ:

Thành phần hóa học có chất clo là những dẫn xuấtClorobenzen (DDT), Cyclohexan (BHC) hoặc dẫn xuất đa vòng(Aldrin, Dieldrin) Các loại thuốc thuộc nhóm này đã đưavào danh mục các loại bị cấm sử dụng ở Việt Nam vì tínhđộc hại của nó rất cao

- Gốc phosphor hữu cơ (lân hữu cơ):

Từ những năm 40 và 50 các thuốc BVTV có gốc lânhữu cơ bắt đầu được sử dụng Dẫn xuất từ các acidphosphoric, trong công thức có chứa P, C, H, O, S… có khảnăng diệt trừ các loại sâu bệnh và một số thiên địch

- Carbamate:

Các Cardbamate là dẫn xuất của axit cabamic, tác dụngnhư lân hữu cơ ức chế men cholinesterase Thuốc có 2 đặctính tốt là ít độc (qua da và miệng) đối với động vật có

Trang 10

vú và khả năng tiêu diệt côn trùng rộng rãi NhiềuCarbamate là lưu dẫn dễ hấp thụ qua lá, rễ, mức độphân giải trong cây cây trồng thấp, tiêu diệt tuyếntrùng mạnh mẽ Nhìn chung nhóm này có độc chất thấp,

cơ thể cũng có thể phục hồi nhanh hơn nếu bị nhiễmđộc

- Pyrethroid và Pyrethrum (Cúc tổng hợp):

Pyrethrum được chiết xuất từ cây hoa cúc, công thứchóa học phức tạp, diệt sâu chủ yếu bằng đường tiếpxúc và vị độc tương đối nhanh, dễ bay hơi, tương đối mauphân hủy trong môi trường và thường không tồn tại trongnông sản Rau màu và cây ăn trái khi phun Perythrum cóthể dùng được vài ngày hôm sau

2.2.1.2 Phân loại theo nguồn gốc

2.2.1.3 Phân loại theo con đường xâm nhập

- Các thuốc lưu dẫn: Furadan, Aliette…

- Các thuốc tiếp xúc: Sherpa, Cypermethrin, Sumialpha…

- Các thuốc công hơi: Methyl Bromide, Chloropicrin…

Tuy vậy vẫn còn nhiều thuốc có một đến ba conđường xâm nhập

2.2.1.4 Phân loại theo tính độc của thuốc

Trang 11

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức Nông LươngThế giới (FAO) trực thuộc Liên Hợp Quốc phân loại độctính của thuốc như sau:

Bảng 2.2: Phân loại độc tính thuốc bảo vệ thực vật của tổ chức Y tế thế giới và tổ chức Nông Lương Thế

Chất lỏng Chất rắn

Chất lỏng

II: Độc vừa 50-500 200-2.000 100-1.000 400-4.000 III: Độc nhẹ >500 >2.000 >1.000 >4.000

IV Loại sản phẩm không gây độc cấp khi sử dụngbình thường

(Nguồn: Asian Development Bank,1987)

2.2.1.5 Đặc tính sinh, hóa học của một số nhóm thuốc bảo vệ thực vật

a Nhóm Clo hữu cơ

Nhóm Clo hữu cơ bao gồm những hợp chất hóa học rấtbền vững trong môi trường tự nhiên đất và nước, vớithời gian bán phân hủy rất dài, được xếp vào loại độctính loại I và loại II Các chất này tích lũy trong chuỗi thứcăn của hệ sinh thái, trong các mô dự trữ của sinh vậtvà rất ít được đào thải ra ngoài Hợp chất này rất bềnvững trong tự nhiên như kim loại nặng Trong nhóm Clo hữu

cơ có các nhóm thuốc sau:

- Nhóm DDT và các chất liên quan

Trang 12

Nhóm này có các đại diện như DDT, DDD (TDE),Methoxychlor, Ethylen, Dicofol, Chorobenzilate Hai đặc tính cơbản của DDT và chất chuyển hóa của nó DDE là:

Bền vững trong môi trường, không bị phân hủy bởi visinh vật, men, nhiệt, và UV

Tích lũy và phóng đại sinh học trong chuỗi thực phẩm,chủ yếu tích lũy trong mô mỡ động vật

Các thuốc nhóm này có tính độc thần kinh, phá hủysự can bằng muối và kali trong sợi trục tế bào thần kinh,làm chúng không chúng không còn dẫn truyền thần kinhđược nữa Trong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấmsử dụng DDT và hạn chế Dicofol (Kenthal) vào tháng 5 năm1996

- Hecxachlorcyclohexan (HCH)

Hecxachlorcyclohexan (HCh, 666) hay còn gọi làBenzenhexachloride (BHC) được biết tới từ nằm 1825, nhưngmãi đến name 1940 mới được dùng như thuốc diệt côntrùng Chất này có nhiều đồng phân (alpha, beta, gamma,delta, epsilon) Trong hỗn hợp bình thường của các đồngphân, gamma BHC chiếm 12% Về sau,

người ta chế tạo được Lindane với 99% BHC

Thuốc BHC thường lưu lại mùi trên sản phẩm nhưng dogiá rẻ nên vẫn còn được sử dụng ở các nước thuộcThế giới thứ 3 Lindane không mùi, bay hơi nhanh, gay độcthần kinh, gây run rảy, co giật và cuối cùng là suy kiệtTrong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấm sử dụngLindane và BHC vào thánh 5 năm 1996

- Các Cyclodiens

Các thuốc trong nhóm Cyclodien được chế tạo vàonhững năm Thế chiến thứ II gồm có: Chlodan (1945);

Trang 13

Aldrin, Dieldrin (1948); Heptachlor (1949); Endrin (1951); Merix(1954); Endosulfan (1956); và Chlordecone (1958) Còn có mộtsố khác ít quan trọng hơn như: Isodrin, Alodan, Bromodan,Telodrin.

Nhìn chung, các cyclodien là những chất bean vững trongđất và khá bean trước tác động của UV và ánh sángnhìn thấy Do đó, chúng được dùng phổ biến ở dạngthuốc xử lý vào đất để trừ mối và các côn trùng đấtcó giai đoạn ấu trùng ăn phá rễ non Các thuốc nhómnày rẻ, khả năng tiêu diệt bền bỉ nên được ưa chuộngtrước nay Tuy nhiên, hiện nay côn trùng đất đã phá triểntính kháng thuốc với chúng, do đó mức tiêu thụ sau đó ítdần Riêng ở Mỹ, từ năm 1975 – 1980 cơ quan Bả-o vệMôi Trường đã cấm dùng nhóm này Riêng Aldrin vàDieldrin còn tiếp tục dùng trừ mối thì đến năm 1984 cũngđưa vào danh mục cấm, riêng Chlordane và Heptaclor cũng

bị cấm từ năm 1998

Các thuốc cyclodien gay độc thần kinh tương tự DDT vàHCH, chúng cũng làm rối loạn sự cân bằng muối và kalitrong các nơ-ron nhưng theo một cách khác so với DDT vàHCH Trong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấm sửdụng Aldrin, Dieldrin, Endrin Chlordane, Heptachlor, Isodrin, vàhạn chế Endosulfan vào tháng 5 năm 1996

- Các Polycholorterpene

Nhóm Polychlorterpene chỉ có 2 chất là Toxaphene (1947)và Strobane 1951)

Trong nông nghiệp, Toxaphene được dùng rất nhiều, dùng

ở dạng đơn độc hoặc phối hợp với DDT hoặc MetulParathion Toxapehe là hỗn hợp gồm 177 chất dẫn xuấtclohoa1 của hợp chất 10 cardbon Thành phần cực độc của

Trang 14

hỗn hợp Toxaphene này là Toxacant A, chỉ chiếm 3% tronghỗn hợp kỹ thuật Chất này độc gấp 18 lần trên chuột,

6 lần trên ruồi và 36 lần trên cá vàng so với hỗn hợpToxaphene kỹ thuật

Các loại thuốc này lưu lại trong đất nhưng không bằngCyclodiene, và thường biến mất khỏi bề mặt thực vật saukhi phun thuốc hai hay ba tuần Sự mất đi chủ yếu là dobay hơi hơn là do biến dưỡng hoặc quang phân giải Thuốcdễ bị biến đổi trong cơ thể động vật hoặc loài chim,không tồn lưu trong mô mỡ Tuy ít độc cho côn trùng,động vật có vú và chim, thuốc lại rất độc đối với cá(tương tự như Toxaphene) Cơ chế gay độc cũng tương tự nhưCylodiene

Ở Mỹ, Toxanphen đã bi cấm vào năm 1993 Trong nhómnày, Việt Nam đã cấm sử dụng Toxphene và Strobane vàotháng 5 năm 1996

b Nhóm Phospho hữu cơ

Nhóm thuốc trừ sâu này gây tác động đến hệ thầnkinh và ngộ độc cấp tính rất mạnh mẽ, làm ngăn cản sựhình thành của các men cholinestera làm thần kinh hoạtđộng kém, teo cơ, gây choáng váng và tử vong Phosphorhữu cơ có độ phân giải rất nhanh, không tích lũy trong cơthể sinh vật nhưng ngược lại có thể gây ngộ độc cấp tínhvà nguy hiểm, dễ dàng gây tử vong đối với người khi bịnhiễm thuốc với liều lượng nhỏ và nhất là đối với mộtsố loài chân đốt và các loài thủy sinh như cá, loài hữunhũ, chim…

Nhóm này dễ bị thủy phân hơn nhóm clor hữu cơnên khó xác định được tồn tại của nó trong môi trườngnước Phosphor hữu cơ được sử dụng nhiều nhất (90% khối

Trang 15

lượng, trong khi đó Clor hữu cơ chỉ chiếm có 5%) Các chấtnày được xếp vào loại độc Ia và Ib độc tính nhất làSystox kế đến là Thinoc, Wofatox Thiphos Wofatox được đánhgiá là độc hơn so với DDT (gấp hàng chục lần) Nôngdân thường dùng Methamidophos để phòng trừ sâu cuốnlá, sâu phao, sâu keo và sâu đục thân.

Trong những năm gần đây, các loại Methyl Parathon,Azodrin,Dichlorvos, Methamidophos (Monitor), Monocrotophos,DIcrotophos, Phosphamidon cũng đã được đưa vào danh mụccấm sử dụng Do độc tính cao, với mức dư lượng cao thuốctrừ sâu nhóm phosphor hữu cơ thường gây ra các vụ ngộđộc do sử dụng thực phẩm, rau màu…

Các thuốc phosphor hữu cơ được chia làm 3 nhóm dẫnxuất: Aliphatic, Phenyl và Heterocylic:

- Các dẫn xuất của Aliphatic

Tất cả các dẫn xuất của Aliphatic là những dẫnxuất của acid phosphoric mang chuỗi cacbon thẳng Chấtphospho hữu cơ đầu tiên được dùng trong nông nghiệp từnăm 1946 là TEPP Loại thuốc này dễ thủy phân trongnước và biến mất sau khi phun từ 12-24 giờ Malathion làchất được dùng nhiều nhất, bắt đầu từ năm 1950 Ngoàiphạm vi nông nghiệp, Malathion còn được dùng trong nhà,trên súc vật và thậm chí trên con người để trừ các loạiký sinh Malathion thường được trộn với đường để làm bảtiêu diệt côn trùng

Monocrotophos là phosphor hữu cơ aliphatic chứa nitrogen.Đó là loại thuốc lưu dẫn, có độc tính cao đối với độngvật máu nóng Thuốc này hiện vẫn nằm trong danh mụchạn chế sử dụng của Việt Nam

Trang 16

Trong số các dẫn xuất aliphatic có nhiều chất khác lưudẫn trong cây như: dimethoate, dicrotophos, oxydemetonmethylvà disulfoton Các loại này, ngoại trừ dicrotophos bị hạnchế sử dụng, đều có thể dùng trong vườn nhà với dạngloãng thích hợp.

Dichlorvos là dẫn xuất aliphatic có áp suất hơi lớn, hiện

bị hạn chế sử dụng

Mevinphos là một phospho hữu cơ rất độc nhưng rất mauphân hủy, dùng tốt cho sản xuất rau thương phẩm.Thuốc này có thể dùng một ngày trước khi thu

hoạch mà không để lại dư lượng trên rau thu hoạch ngàysau

Methamidophos (hiện đã bị cấm sử dụng) và Acephatelà hai phospho hữu cơ được dùng nhiều trong nông nghiệp,đặc biệt là côn trùng trên rau Ngoài ra, còn có cácthuốc khác cùng loại là Phosphamidon (Dimecron), Naled(Dibrom) và Propretamphos (Saprotin)

Sebutos (Apache, Rugby) là loại diệt côn trùng và tuyếntrùng hiệu quả trên bắp, đậu phòng, mía và khoai tây.Nhìn chung, các dẫn xuất aliphatic đều có cấu trúc đơngiản, độ độc thay đổi rất nhiều, khả năng hòa tan trongnước cao, có tính dẫn lưu tốt Một số trong nhóm nàyhiện bị hạn chế hoặc cấm sử dụng ở Việt Nam

- Các dẫn xuất Phenyl

Các thuốc nhóm này có một phenyl gắn vào phân tửacid phosphoric, các vị trí còn lại của phân tử acidphosphoric thường mang các nhóm Cl, NO2,CH3,CN hoặc S.các phospho phenyl thường bean hơn các phosphor hữu cơAliphatic, do đó dư lượng trong môi trường cũng cao hơn

Trang 17

Parathion là một phospho hữu cơ phenyl quen thuộc nhấtvà là chất phosphor hữu cơ thừ nhì được đưa vào dùngtrong nông nghiệp từ năm 1947 (sau TEPP) Ethyl Parathion làdẫn xuất phenyl đầu tiên được sử dụng rộng rãi nhưng doquá độc nên đã bị cấm sử dụng ở Việt nam từ tháng 5năm 1996 (ở Mỹ cấm từ năm 1991).

Năm 1949 Methyl Parathion (hiện đã bị cấm sử dụng)xuất hiện và tỏ ra ưu việt hơn Ethyl Parathion ở chỗ nó ítđộc cho gia súc và người, đồng thời tiêu diệt được nhiềucôn trùng.Độ tồn lưu của nó cũng ngắn hơn EthylParathion Có hai loại dẫn xuất phenyl khác là Profenofos vàSulprofor đều có phổ tiêu diệt rông và hiện nay đượcdùng cho các loại hoa khác nhau

- Các dẫn xuất dị vòng

Trong phân tử, các thuốc dị vòng các cấu trúc vòngcó nhiều carbon bị oxygen

hoặc nito thế chỗ Chất đầu tiên trong nhóm này làDiazinom, xuất hiện năm 1952.Diazinon là một chất tươngđối khá an toàn và có nhiều công dụng Azinphosmethyllà chất thứ hai ra đời sau Diazinon vừa là thuốc diệtnhện Các thuốc khác là Chlorpyrifos, Methidathion, Phosmetvà Pirimiphos, Isazophos, Chlorpyrifos-methyl, azinphod-ethyl,phosalon…

Các phospho hữu cơ dị vòng là những phân tử phứctạp và thường có tính tồn lưu cao hơn so với các phosphorhưu cơ thuộc nhóm aliphatic và phenyl Vì phân tử thuốc dịvòng phức tạp nên khi phân rã sẽ tạo ra nhiều sảnphẩm khó có thể xác định hoàn toàn chính xác

c Nhóm Carbamate

Trang 18

Nhóm này có độ độc cấp tính tương đối cao, khả năngphân hủy tương tự như nhóm phosphor hữu cơ Sự chuyểnhóa của Carbamate trong cơ thể sinh vật chậm và đơn giảnhơn các chất phosphor hưu cơ Các chất trung gian trong quátrình chuyển hóa có độc tính thấp hơn các chất ban đầunhưng cũng có chất độc hơn.

Nhóm này có tác động trực tiếp vào men cholimesteracủa hệ thần kinh Trong đó, có metyl izoxianat (CH2NCO) làchất gây ô nhiễm có thể gây chết người (đã làm chotoàn thế giới chú ý)

Carbaryl lần đầu tiên được sử dụng thành công vàonăm 1956 Thuốc có hại đặc tính tốt là ít độc (qua miệngvà qua da) đối với động vật có vú và tiêu diệt côntrùng rộng rãi Nhiều carbamate là chất lưu dẫn dễ hấpthu qua lá và rễ, mức độ phân giải trong cây thấp Cácthuốc Methomyl, Oxamyl, Aldicarb và Carbofuran (Carbofuranhiện bị hạn chế sử dụng ở Việt Nam) có đăïc tính lưudẫn rất tốt, do đó chúng có khả năng tiêu diệt tuyếntrùng mạnh mẽ.Một số carbamate là: Methiocarb,Trimethacarb (Broot), soprocarb (MIPC,Hytox), Cloethocarb,Carbosulfan (Avantage), Aldoxycarb (Standak),

Promecarb (Carbamult), Mexacarbate và Fenoxycarb (Logic)

d Nhóm Pyrethrum và Pyrethroids

Pyrethrum được ly trích từ hoa cây thủy cúc trồng ờ PhiChâu và Nam Mỹ Thuốc có độc tính đường miệng LD50

khoảng 1500 mg/kg và là thuốc diệt côn trùng xưa nhất.Pyrethrum nhanh chóng làm côn trùng tê liệt, tuy nhiênnếu không trộn với các thuốc hợp lực thì côn trùng sẽhợp lực nhanh chóng Rau và trái cây sau khi phun Pyrethrumxong có thể ăn được liền ngay ngày hôm sau

Trang 19

Pyrethrum ít được dùng trong sản xuất nông nghiệp bởi

vì giá đắt và không bean với ánh sáng Gần nay nhiềuchất lượng tương tự Pyrethrum đã được tổng hợp và gọi làPyrethroid Các Pyrethroid bean với ánh sáng và phổ tiêudiệt côn trùng rộng, sử dụng với liều thấp Cácpyrethroid có 4 thế hệ:

- Thế hệ thứ nhất:

Thế hệ này chỉ có một chất là Allethrin (Pynamin),được thương mại hóa vào 1949 Allethrin là moat chất tổnghộp giống hệt Cinerin I (là một thành phần củaPyrethrum) có các day nhánh tương đối ôn định và bềnhơn Pyrethrum

Thế hệ thứ hai:

Thế hệ thứ hai gồm có Tetramethrin (Neo-Pynamin) ra đờinăm 1965 Thuốc có tác dụng tiêu diệt nhanh hơn Allethrinvà có thể phối hợp dễ dàng với các chất cộng hưởng(synergist) Resmethrin xuất hiện vào năm 1967, hiệu lựchơn Pyrethrum gấp 20 lần (thí nghiệm trên ruồi nhà),Bioresmethrin là một chất đồng phân của Resmethrin hiệulực hơn Pyrethrum gấp 50 lần Cả hai chất này đều bềnhơn Pyrethrum nhưng bị phân hủy nhanh chóng trong khôngkhí và ánh sáng, do đó khó mở rộng sử dụng vào nôngnghiệp Bioallethrin (d-trans-allethrin) được giới thiệu vàonăm 1969, tác dụng mạnh hơn Allethrin và dễ pha trộn vớicác chất hợp lực nhưng không hiệu quả bằng Resmethrin.Chất cuối cùng trong thế hệ này là Phenonthrin(Sumithrin), xuất hiện vào năm 1973, chất này có độclực trung bình và hơi tăng hiệu lực khi trộn với các chấthợp lực

- Thế hệ thứ ba

Trang 20

Thế hệ thứ ba gồm có các Fenvalerate (Pydrin,Tribute) và Permethrin

(Ambush, Dragnet, Pouce, Pramex, Torpedo), xuất hiện vàonăm 1972 – 1973 các chất này dùng nhiều trong nôngnghiệp vì có hoạt tính diệt côn trùng cao và bền với ánhsáng Thuốc không bởi ảnh hưởng UV và ánh sáng, tồntại 4 – 7 ngày trên mặt đá

- Thế hệ thứ tư:

Thế hệ thứ tư hiện nay có nhiều tính độc đáo, chúngcó hiệu lực tiêu diệt với nồng độ chỉ bằng 1/10 các loạithuốc thế hệ thứ ba Gồm có các thuốc sau: Bifenthrin(Talstar), Lamda CYhalothrin (Karate,Force), Cypermethrin (Ammo,Cymbush, Cynoff), Cyfluthrin (Baythroid), Deltamethrin (Decis),Esfenvalerate (Asana XL), Fenpropathrin (Danitol), Flucithrynate(Pay-off), Fluvalinate (Mavrik, Spur), Tefluthrin, Praleethrin (Eto),và Tralomethrin (Scout) Tất cả những chất trên đều bềnvới ánh sáng, rất ít bay hơi nên tồn lưu có thể đến 10ngày trong điều kiện môi trường thuận lợi

Các Pyrethroid có tác dụng tương tự DDT là làm hở cáckênh muối ở màng tế bào thần kinh Các Pyrethroid cóhai loại tác dụng: loại I có hoạt tính độc mạnh ở nhiệt độthấp, loại II có hoạt tính độc mạnh ở nhiệt độ cao

e Nhóm các thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ khác

- Các thuốc lưu huỳnh hữu cơ

Các thuốc lưu huỳnh hữu cơ có phân tử lưu huỳnh trongtrung tâm của phân tử Chúng tương tự như như DDT ở chỗcó vòng phenyl Bột rắc lưu huỳnh có tác dụng trừ nhện,nhấ là vào lúc trời nóng Các lưu huỳnh hữu cơ có ưuthế hơn, vì lưu huỳnh kết hợp với phenyl có độc tính rấtcao với côn trùng

Trang 21

- Các thuốc Formamidine

Các thuốc Formamidine là những thuốc mới, có nhiềutriển vọng Ba loại thuốc tiêu biểu là Chlordimeform,Formetanate và Amitraz Thuốc có hiệu lực chống lại sâunon và trứng của nhiều loại sâu hại trong nông nghiệp.Năm 1976, Công ty Ciba Geigy đã thôi không sản xuấtChlordimeform vì khả năng gây ung thư trên chuột thínghiệm của thuốc Loại thuốc này có giá trị trong việctiêu diệt các loại côn trùng đã kháng với thuốc phosphorhữu cơ và Carbamate Thuốc ức ch61 men monoamine oxidaselàm tích tụ các hợp chất Amine, nay là một cơ chế tácđộng mới khác với các thuốc cổ điển

- Các thuốc Thiocyanates

Các thuốc Thiocyanates chứa gốc SCN trong cấu trúcphân tử (S = thio; CN = cyanate) Thuốc có cơ chế tácđộng là cản trở sự hô hấp và biến dưỡng tế bào, tiêubiểu là Lathane 384 và Thanite

- Các thuốc Dinitrophenol

Các thuốc gốc Dinitophenol chứa một đến hai phenol.Các thuốc chứa hai phenol có tính độc đối với nhiều sâuhại Các hợp chất này được dùng làm thuốc diệt côntrùng, diệt cỏ, diệt trứng sâu và diệt nấm Tác độngcủa thuốc là chống sự phosphoryl hóa trong quá trình sửdụng năng lượng từ dưỡng chất trong cơ thể Từ năm 1892đã có chất DNOC (3,5-dinitro-o-cresol) được dùng làm thuốcdiệt côn trùng Sau đó DNOC còn được dùng làm thuốcdiệt cỏ, diệt nấm Các thuốc khác là Dioseb, Binapacrylvà Dino Dinoseb có vấn đề về khả năng ảnh hưởng sứckhỏe lâu dài trên người nên đã bị ngưng sản xuất Dino

Trang 22

có mặt từ năm 1949 dùng để diệt nhện và nấm, đã bịngưng sản xuất từ năm 1987.

Nói chung, các Dinitrophenol được dùng rộng rãi làmthuốc diệt côn trùng, diệt nấm nấm, diệt cỏ, diệt trứngcôn trùng, chất tỉa thưa hoa… nhưng do độc tính củadinitrophenol, tất cả các thuốc này đều bị ngưng sảnxuất và sử dụng

Trang 23

tiêu hóa làm sâu không ăn được Ở một số loài bàotử nảy mầm trong ống tiêu hóa và gây độc, sau cùnglà làm cho sâu chết vì nhiễm độc máu.

Nhiều dòng Bacillus thuringienses tiết ra một loại

nucleotide adenine là beta-toxin, trong thời kỳ tăng trưởngmạnh, tuy nhiên các dòng này không được thong mại hóa.Tại Việt Nam chuốc chủ yếu được dùng để trừ sâu sơtrên bắp cải Sản xuất thuốc này trong nước gặp khókhăn do trực khuẩn thường làm hư các mẻ sản xuất

Bacillus thuringiensis là một thuốc diệt côn trùng gốc vi

sinh chỉ có hiệu lực đối với nhiều sâu non bộ Lepidoptera(cánh vảy) Vì thuốc có tác dụng chuyên biệt trên sâunon Lepidoptera và an toàn đối với người và thiên địchcủa nhiều loại côn trùng gây hại, cho nên nay là loạithuốc lý tưởng để quản lý tổng hợp dịch hại Thuốckhông độc đối với cây trồng, không có triệu chứng độccấp tính trên chuột, chó và các loại động vật có vúkhác, kể cả người Trên động vật thí nghiệm thường cóphản ứng ngứa nhẹ do hít phải hoặc tiếp xúc với thuốc

2.2.2 Phân loại phân bón hóa học

Khái niệm: phân bón là chất hữu cơ hay vô cơ có

nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo dùn để bón vào đấtlàm thức ăn cho cây và cải thiện độ phì nhiêu củađất

Chúng ta có thể phân loại thành 3 dạng:

2.2.2.1 Phân hữu cơ

Phân hữu cơ là phân chứa những chất dinh dưỡng ởdạng những hợp chất hữu cơ gồm: phân chuồng (phânheo, trâu, bò, gà), phân xanh, phân than bùn, phụ chế

Trang 24

phẩm nông nghiệp, rác… Tác dụng của phân hữu cơ làgiúp tăng năng suất cây trồng đồng thời chúng nângcao độ ẩm, độ xốp và độ phì nhiêu trong đất.

Phân chuồng: Đây là phân hữu cơ chính, được dùngphổ biến ở các nước trồng luau và những nước côngnghiệp hóa học vẫn xem phân chuồng là loại phân quý,không chỉ làm tăng năng suất cây trồng mà còn làmtăng hiệu lực phân hóa học, đặc biệt là cải tạo đất vìphân chuồng chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cho câynhư: đạm, lân, kali và cả những yếu tố vi lượng như Bo, Mo,Cu,Mn,Zn, các kích thích tố như Auxin, Heteroauxin và nhiềuloại Vitamin

Phân xanh: là loại phân hữu cơ sử dụng các loại lácây tươi bón ngay vào đất mà không qua quá trình ủmục Do đó, phân xanh chỉ dùng để bón lout vào lầncày đầu tiên để các chất hữu cơ có thời gian phân hủythành các dạng dễ tiêu cho cây và đất hấp thụ Câyphân xanh thường được dùng là cây họ đậu, cây muồng,bèo hoa dâu…

Phân vi sinh: Có nguồn gốc là chế phẩm vi khuẩn bóncho đất để làm tăng độ phì của đất Khi vi sinh vật đượcbổ sung vào đất, nó phân giải chất dinh dưỡng khó tiêucho đất hoặc hút đạm khí trời để bổ sung dinh dưỡng chođất và cây Hiện nay loại phân này đang được khuyếnkhích sử dụng để hạn chế ô nhiễm môi trường

Các loại phân hữu cơ khác: là tro, bùn ao, phân giacầm, phân dơi, phân thỏ, xác mắm, khô dầu…

2.2.2.2 Phân vô cơ

Trang 25

Phân đạm: đạm là chất dinh dưỡng cơ bản nhất, tham

gia vào thành phần chính của protenin, tham gia vào quátrình hình thành các chất quan trọng như tạo clorophil, protit,pep1tit, các amino axit, men và nhiều Vitamin cho cây Ngoài

ra, phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng,đặc biệt là giai đoạn tăng trưởng mạnh, can cho các loạicây ăn lá Moat số loại đạm thông dụng như ure (CO(NH)2),đạm amôn nitrat (NH4NO3), đạm sunfat (còn gọi là phân SA)(NH4)2SO4, đạm clorua NH4Cl

Phân lân: Đóng vai trò quan trọng trong đời sống của

cây trồng vì nó có trong thành phần của protit tạo nênnhân tế bào, can cho việc tạo nên một bộ phận mớicủa cây Tham gia vào thành phần các men, tham gia tổnghợp acid amin, kích thích phát triển rễ, giúp cây đẻ nhiềuchồi, ra hoa kết quả và tăng khả năng chống chịu củacây như chống rét, hạn, nóng, chua đất Có 2 loại phânlân là phân lân tự nhiên (Apatire, boat phosphorit(Ca3(PO4)2) ) và phân lân chế biến (super lân, phân lânnung chảy còn được gọi là lân Phosphat canxi magie,Tecmophotphat, cao ôn lân)

Kali: là tên gọi chung của các phân đơn cung cấp kali cho

cây Kali đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóanăng lượng trong quá trình đồng hóa của cây Phân Kaligiúp tăng khả năng đề kháng của cây, tăng khả năngchịu úng, chịu han, chịu rét cho cây, tăng phẩm chất vàtăng năng suất nông sản khi thu hoạch cũng như làmgiàu đường trong quả, màu sắc đẹp hơn, thơm, dễ bảoquản Một số loại phân kali đang được người ta sử dụngnhư Kali Clorua (KCl), Kali Sunfat (K2SO4), Kali nitrat (KNO3)

Trang 26

Phân hỗn hợp: là loại phân được chế biến qua tác

động của những phản ứng hóa học để tạo thành mộtphức hợp, chẳng hạn như một số loại phân NPK với tỉ lệ

N, P, K khác nhau ví dụ như NPK 16-16-8, NPK 20-20-15

2.2.2.3 Phân vi lượng

Nguyên tố vi lượng là nguyên tố cần thiết (khôngkém so với phần đa lượng) cho cây trồng nhưng với sốlượng rất ít Nếu thiếu một trong những nguyên tố vilượng, cây sẽ không thể sinh trưởng và phát triển bìnhthường Có 6 loại nguyên tố vi lượng: là sắt (Fe), kẽm (Zn),mangan (Mn), đồng (Cu), borit (Bo), molipden (Mo) Các nguyêntố vi lượng cũng góp phần nâng cao năng suất nôngsản, mang lại hiệu quả kinh tế cao vì bón ít Các nguyêntố vi lượng thường có sẵn trong các loại phân đa lượng,cây thiếu vi lượng sẽ phát triển mất cân đối Ngoài ra,các nguyên tố vi lượng cũng thường có trong tàn dư thựcvật, trong phụ phẩm nông nghiệp, trong xác các độngvật, trong phân chuồng, phân trộn ủ… Ngoài ra, trongmột số trường hợp người ta cũng sản xuất phân vi lượngđể bón cho cây

Trang 27

2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC

2.3.1 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật

2.3.1.1 Con đường phát tán của thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường:

Môi trường thành phần như đất, nước, không khí lànhững môi trường chính nhưng có sự tương tác và tươnghỗ lẫn nhau Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ gâytác động đến môi trường xung quanh

Hình 2.1: Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi

trường

Các thuốc trừ sâu khi phun rải lên nông sản, lúa, hoamàu, cây ăn trái… chịu tác động của nhiều yếu tốmôi trường làm giảm hiệu lực và thất thoát Một phần

Trang 28

thuốc bị phân hủy do tác động của các yếu tố vô sinh (độ ẩm, ánh sáng, oxy ) Và yếu tố sinh học như tácđộng của của vi sinh vật trong đất, thực vật và đi vàomôi trường, một phần bị tồn lưu trong cơ thể sinh vật,sâu hại Con đường phát tán thuốc BVTV trong môi trườngđược trình bày theo hình 2.1.

Thuốc trừ sâu có thể khuếch tán bằng nhiều conđường khác nhau Khi di chuyển đi xa, các nhóm clo hữu cơkhông dễ tan trong nước nên tích tụ nhanh chóng ở lớptrầm tích dưới đáy các vũng nước, ao hồ… Do thuốc trừsâu có chứa trong khí quyển nên ta thấy trong nước mưacó nồng độ bằng hoặc cao hơn nồng độ cao nhất tìmthấy trong nước sông

Thuốc trừ sâu có thể khuếch tán bằng nhiều conđường khác nhau

Trong môi trường không khí: khi phun thuốc trừ sâu vàomôi trường không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dướitác dụng của ánh sáng, nhiệt độ, gió… và tính chấthóa học, thuốc trừ sâu có thể lan truyền trong không khí.Lượng tồn lưu trong không khí sẽ khuếch tán và có thể dichuyển xa đến nơi khác

Trong môi trường nước: Ô nhiễm môi trường đất dẫnđến ô nhiễm nguồn nước Thuốc trừ sâu trong đất, dướitác động của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy, lắng đọngtrong lớp bùn đáy ở sông, hồ, ao… sẽ làm ô nhiễmnguồn nước thuốc trừ sâu có thể phát hiện trong cácgiếng, ao, hồ, suối cách nơi sử dụng thuốc trừ sâu vàikm

Thuốc trừ sâu phun lên cây trồng thì trong đó có đếnkhoảng 50% rơi xuống đất, sẽ tạo thành lớp mỏng trên

Trang 29

bề mặt, một lớp lắng gọi là dư lượng gây hại đáng kểcho cây trồng Sự lưu trữ của thuốc trừ sâu trong đất làyếu tố quan trọng để đánh giá khả năng gây ô nhiễmmôi trường và trồng.

2.3.1.2 Dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật trong nước.

Theo chu trình tuần hoàn các hóa chất BVTV, thuốc tồntại trong môi trường đất sẽ rò rỉ ra sông ngòi theo cácmạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn đất

bị nhiễm thuốc trừ sâu Mặt khác, khi sử dụng hóa chấtBVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề donông dân đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất,nước súc rửa… Điều này đặc biệt có ý nghĩa nghiêmtrọng khi các nông trường, vườn tược lớn nằm gần kềsông xịt xuống ao

Trong nước, thuốc BVTV có thể tồn tại ở các dạngkhác nhau và đều có thể ảnh hưởng đến tác động củanó đối với sinh vật đó là: hòa tan, bị hấp thụ bởi cácthành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồnnước hoặc lắng tụ xuống đáy và tích tụ trong cơ thể sinhvật

Thuốc BVTV tan trong nước có thể tồn tại bền vững vàduy trì được đặt tính lý hoá của chúng trong khi di chuyểnvà phân bố trong môi trường nước Các chất bền vữngcó thể tích tụ trong môi trường nước đến mức gây độc.Thuốc BVTV khi xâm nhập vào môi trường nước chúngphân bố rất nhanh theo gió và nước

Bảng 2.3 Tính tan của hóa chất bảo vệ thực vật trong

môi trường nước

Trang 30

Ngoài nguyên nhân kể trên do thiên nhiên và ý thứccũng như hiểu biết của người dân, một trong nhữngnguyên nhân mà thuốc BVTV xâm nhập thẳng vào môitrường nước đó là do việc kiểm soát cỏ dại dưới nước,tảo, đánh bắt cávà các động vật không xương sống vàcôn trùng độc mà con người không mong muốn.

a Nguồn nước mặt

Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm củanước ta khoảng 847 km3, trong tổng lượng ngoài vùng chảy vàolà 507 km3 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm40% và chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông

trên thế giới (Trần Thanh Xuân, 2004) Tài nguyên nước mặt

là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội

của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia.

Nguồn nước mặt đã bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hóa chất BVTV Theo kết quả phân tích hóa chất BVTV nước Biển Hồ tỉnh Gia Lai,

Hồ Lắc tỉnh Đăk Lăk của Bùi Vĩnh Diện và Vũ Đức Vọng (2006)nước Biển Hồ có chứa dư lượng 2 - 3 loại trong 15 loại hóa chấtchuẩn gốc Chlor hữu cơ, hàm lượng trung bình 0,05 - 0,060 mg/l.Như vậy việc sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp, lâm

Loại thuốc Tính tan trong

nước (mg/l)

Loại thuốc

Tính tan trong nước (mg/l)

Trang 31

nghiệp là nguồn gốc sinh ra lượng tồn lưu trong môi trường đất,nước dẫn đến nguồn nước ô nhiễm.

Nước Hồ Lăk dư lượng thuốc BVTV gốc Chlor hữu cơ, cómặt 4 loại hóa chất trong tổng số 15 hóa chất chuẩn.Kết quả phân tích trên là chứng minh khoa học nguồnnước mặt Biển Hồ tỉnh Gia Lai, Hồ Lắc tỉnh Đăk Lăknhiễm thuốc BVTV, trải qua thời gian sử dụng thuốc BVTVlâu dài và nó thấm dần vào nguồn nước ngầm Chính vìvậy khi nguồn nước mặt hay ngầm nhiễm thuốc BVTV thìnguồn nước sinh hoạt đều gây hại cho sức khỏe conngười

Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp là chính nên nguồnnước ô nhiễm thuốc BVTV không chỉ ở một nơi nhiều nơi kháccũng đã bị ô nhiễm Như lưu vực nước sơng Cầu tỉnh Bắc Ninh, tạicác vùng thâm canh rau tỷ lệ lượng thuốc BVTV được sử dụngcao gấp 3 - 5 lần các vùng trồng lúa (Hoa Xuong Rong, 2006).Nguồn nước nhiễm HCBVTV không chỉ bởi nông dân trồng lúamà tất cả các nông hộ trồng các loại cây rau, lâm nghiệp,cây công nghiệp sử dụng thuốc BVTV làm ô nhiễm nguồn nước

b Nguồn nước ngầm

Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trongcác lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bộtkết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất,có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người

Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc BVTV là hiện tượngphổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp Trong quátrình sử dụng thuốc BVTV, một lượng đáng kể một lượngthuốc sẽ không được cây trồng tiếp nhận, chúng sẽ lantruyền và tích lũy trong đất thấm thấu vào nguồn nướcngầm, làm cho nước ngầm nhiễm các thuốc BVTV Nguồn

Trang 32

nước giếng đào, nước ngầm nông, nguồn nước mạch lộthiên tại Thành Phố Buôn Ma Thuột có nhiễm thuốc BVTV,với giếng đào có dư lượng thuốc BVTV gốc Chlor hữu cơvà có 11 trong tổng số 15 loại hóa chất chuẩn, có hàmlượng 0,01 - 0,558 µg/l Nguồn nước mạch lộ thiên có dưlượng thuốc BVTV gốc hữu cơ 6 trên tổng số 15 loại hóachất, tuy ở nồng độ 0,002 - 0,084 µg/l dưới tiêu chuẩn chophép (Vũ Đức Vọng và Bùi Vĩnh Diên, 2006)

Việc sử dụng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp làm hóa chấtthấm vào đất đến nguồn nước ngầm, làm cho nước ngầm nhiễmthuốc bảo vệ thực vật, với lưu lượng tồn động như vậy gây ảnhhưởng đến sức khỏe cộng đồng xung quanh rất cao

Kết qủa phaân tích dư lượng HCBVTV trong đất tại huyệnCẩm Khê, Phú Thọ cho thấy hàm lượng DDT trong đấtbằng 1,56 mg/kg, Ở Thanh Sơn, Phú Thọ là 30 mg/kg, huyệnDiễn Châu, Nghệ An vượt ngưỡng tới mức từ 15 đến2.800 mg/kg (JA Ming, 2006) Sự tích tụ hóa chất này trongđất thấm vào nguồn nước ngầm làm cho nguồn nướcgiếng nhiễm thuốc BVTV ảnh hưởng đến nguồn nướcsinh hoạt và đây cũng là một trong những nguyên nhânlàm gây bệnh ung thư tại các làng xã tỉnh Hà Tĩnh,Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang

Tại Tiên Lãng, Vĩnh Bảo nguồn nước giếng khoan, giếng đàođã có 70% mẫu nước lấy từ các giếng bị ô nhiễm bởi chất sắt,asen và dư lượng thuốc BVTV (Nhân Dân, 2006) Từ trên chothấy nhiều nơi nguồn nước ngầm đã nhiễm thuốc BVTV, ở đâu cósản xuất nông nghiệp thuốc BVTV vượt mức quy định làm chonguồn nước ô nhiễm và nó sẽ gây khó khăn đến nguồn nướcsinh hoạt cho cộng đồng xung quanh Vì vậy chúng ta cần cónhững biện pháp khắc phục để nông dân sử dụng thuốc BVTV

Trang 33

một cách hợp lí Đặc biệt nguồn nước ngầm, khi nguồn nước ngầm bịnhiễm thuốc trừ sâu, nó khộn có khả năng tự làm sạch nhưnguồn nước mặt Dòng chảy trong nguồn nước ngầm rất chậm các

dư lượng thuốc trừ sâu không pha loãng hay phân tán được, dovậy nó tồn tại trong khoảng thời gian rất lâu có thể hàng trămnăm để làm sạch những chất ô nhiễm

2.3.1.3 Aûnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường đất

Đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng thuốc BVTV Đấtnhận thuốc BVTV từ các nguồn khác nhau Tồn lượng thuốc BVTVtrong đất đã để lại các tác hại đáng kể trong môi trường.Thuốc BVTV đi vào đất do các nguồn : Phun xử lí đất, các hạt thuốcBVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất

Hình 2.2: Con đường duy chuyển của thuốc bảo vệ

trong môi trường đất

Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tời50% số thuốc rơi xuống đất một phần được cây hấp thụ, phần còn lạithuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dầnđược phân giải qua hoạt đông sinh học của đất và qua tácđộng của các yếu tố hóa, lý

Trang 34

Lượng thuốc BVTV tồn dư trong đất gây hại đến sinh vậtđất (các sinh vật làm nhiệm vụ phân hủy, chuyển hóachất hữu cơ thành chất khoáng đon giản hơn cần cho dinhdưỡng cây trồng) là một cách gián tiếp tác động tiêucực đến cây trồng.

2.3.1.4 Tác động của thuốc BVTV đến hệ sinh thái nông nghiệp

a Những tác động có lợi

Vai trò của thuốc BVTV đã khẳng định rõ ràng đối vớingành trồng trọt ngay từ buổi đầu của lịch sử phát triểnngành hóa BVTV Nhìn chung, thuốc BVTV có những tácđộng có lợi lớn đối với cây trồng như sau:

Việc sử dụng thuốc BVTV tuân theo bốn đúng (đúnglúc, đúng liều, đúng loại và đúng kỹ thuật) sẽ nay lùidịch hại, diệt cỏ dại và tạo điều kiện cho cây trồng tậndụng được những điều kiện phát triển tối ưu của kỹthuật thâm canh, giúp cho cây trồng phát triển thuận lợi,đạt năng suất cao, chất lượng nông sản cao

Cho hiệu quả kinh tế cao, ít tốn công chăm sóc, ít cựcnhọc cho nông dân

Ngăn chặn kịp thời những đợt dịch hại lớn xảy ra

Một số thuốc BVTV còn có tác dụng kích thích giúp câytrồng phát triển tốt, khỏe mạnh hơn (2,4 – D dùng xịt cỏcòn giúp lúa đẻ nhánh mạnh hơn)

Dễ dàng cho công việc cơ giới hóa ngành nông nghiệp(thuốc làm ruing bông, khô thân khoai tây… được sử dụngtrước khi thu hoạch bằng cơ giới…)

b Những tác hại của việc dùng thuốc BVTV cho cây trồng

Trang 35

Về cơ bản thuốc BVTV được sử dụng để bảo vệ vụmùa chống lại sâu bệnh và cỏ dại, nhưng đôi khi chúnglàm hại cây trồng Đó là trong các trường hợp sau:

Liều lượng quá cao kiềm chế sự phát triển của câytrồng

Thuốc BVTV ảnh hưởng đến các loại cây trồng xungquanh loại cây mà nó bảo vệ

Dư lượng thuốc diệt cỏ ảnh hưởng đến cây trồng luâncanh hoặc kiềm chế sử phát triển của cây

Dư lượng thuốc BVTV tích tụ trên cây trồng quá nhiềukhiến người ta phải tiêu hủy sản phẩm

Khi phun thuốc lên cây, xử lý hạt giống và đất bằngthuốc hóa học, có trường hợp thuốc gây độc trực tiếpcho cây Ở nước ta, việc sử dụng các thuốc trừ nấmchứa đồng, thuốc trừ nấm chứa thủy ngân hữu cơ phuncho khoai tây, cà chua, lúa nếu pha chế không đúngcách hoặc dùng liều lượng quá cao, có thể làm cho lávà những chồi, chỉ sau một ngày phun thuốc, cây vàchồi có thể bị héo và đen, thời tiết càng nóng, ẩm tácđộng của thuốc đối với cây trồng càng thể hiện nhanh.Tác hại của thuốc BVTV đối với cây trồng có trườnghợp không thể hiện ngay sau đợt phun thuốc Ở California,trước đây thường dùng các loại dầu khoáng để phun trừcác loại rệp trên cây ăn quả Một số vườn cam, sau vàinăm thường xuyên được phun các loại dầu, đã dần dần

bị úa vàng., lá cây bị rụng, nhiều cây chết khô Giảiphẩu những bộ phận bị hại, người ta quan sát thấy, saukhi phun trên lá, một phần dầu đã nhanh chóng xâmnhập qua biểu bì của mặt trên lá hoặc qua các khí khổngcó mặt trên lá Dầu được tích ở các gian bào, nếu phun

Trang 36

nhiều lần liên tiếp, từ lá dầu sẽ dịch chuyển theo mạchgỗ, làm cho than và cành dần bị khô, chết, như vậy,phải sau vài năm sử dụng tác hại của dầu đối với câycam mới thực sự rõ ràng (Balachowski S.S., 1951).

Ở nước ta, Nguyễn Trần Oánh và Ngô Xuân Trung(1978) đã dùng thuốc bảo thấm nước 50% TMTD hòaloãng ở nồng độ 0,5% chế phẩm tưới vào đất vườn ươmtrước khi gieo hạt thốc lá với lượng 30.000 l/ha Thuốckhông ảnh hưởng đến tỷ lệ mọc của hạt, đã hạn chế

một số cây bị đốm vi khuẩn do Pseudomonas tabaci gây

hại, nhưng ảnh hưởng xấu đến cây trồng, làm giảm sốcây đủ tiêu chuẩn đem trồng

Thuốc BVTV còn gây hại cho cây trồng thông qua sựtồn tại lâu của chúng trong đất trồng trọt Trên đất cátpha ven sông Đáy ở Hà Nội, dug2 Simazin và Atrazin phuncho ngô với lượng 4 – 5kg/ha, thuốc đã có tác dụng trừcỏ tốt, không ảnh hưởng gì đến sinh trưởng và năngsuất của cây ngô Sau khi thu hoạch ngô, làm đất để gieođỗ tương, đỗ vàng hoặc mạ thì cá loại cây này bị hạinặng Các loại đậ bị chết hoàn toàn sau khi ra lá that 2 –

3 ngày, mạ ra ba lá that thì bắt đầu úa vàng, cây lúa rađến lá thứ 9 – 11 thì bị lụi và chết Cũng trên đất này,nếu cấy lúa, cây sẽ không chết nhưng sinh trưởng chậmvà năng suất giảm Kết quả nói lên thuốc BVTV có thểtồn tại khá lâu trong đất và gây hại cho các loại câytrồng vụ sau

c Tác hại của thuốc đối với đa dạng sinh học và côn trùng có ích trên đồng ruộng

Thuốc BVTV khi sử dụng được phun vào cây trồng mụcđích là tiêu diệt những vi sinh vật có hại cho cây trồng,

Trang 37

nhưng số lượng thuốc tiêu diệt sinh vật gây hại chỉ 50%lượng thuốc sử dụng, còn lại 50% là rơi vãi trên mặt đất,sau đó thuốc sẽ hòa tan vào đất, vào nguồn nước mặt.Lượng 50% thuốc BVTV này rất khó kiểm soát do đó gây

ra ảnh hưởng cho môi trường đặc biệt là ảnh hưởng đếnnhững sinh vật sống trong môi trường đó, tác động hàngloạt côn trùng có ích bắt mồi, ký sinh, thụ phấn chocây… và các động vật có ích khác cùng sống trongruộng lúa đó (cua, ếch, cá…) Hậu quả của thuốc BVTVđã gây ra những xáo động trong hệ sinh thái Tùy trườnghợp, các thuốc BVTV có thể tác động ở những mức độkhác nhau

Các loại thuốc BVTV đã và đang là những nguyên nhânđóng góp vào công việc làm giảm số lượng nhiều loàisinh vật có ích, làm giảm tính đa dạng sinh học Dư lượngthuốc BVTV tồn dư trong đất, gây hại đến các vi sinh vật,côn trùng có ích trong đất, chúng làm nhiệm vụ phânhủy, chuyển hóa các hóa chất bảo vệ thực vật, chấthữu cơ thành khoáng chất đơn giản, thành các dinhdưỡng cần thiết cho cây trồng Đặc biệt dư lượng củamột số chất có độc tính cao như: DDT, Lindan, Monitor,Marathion, Wofatox, Validacin

Một hệ sinh thái đa dạng, bao gồm nhiều chủng loại sinhvật thường có năng suất sinh học cao và tương đối ổnđịnh Trong một hệ luôn luôn có những quan hệ cạnhtranh, ký sinh, đối kháng có tác dụng kìm hãm sự pháttriển quá mức, sự bùng nổ về số lượng của một loài

Do vậy, tránh được những bệnh dịch lan tràn trên nhữngvùng rộng lớn Hệ sinh thái luôn có mắc xích và chuỗithức ăn đan xen với nhau để tạo ra mối cân bằng trong

Trang 38

hệ Nhưng do một yếu tố nào đó bên ngoài tác độngvào thì sẽ làm xáo trộn can bằng của hệ đang duy trì.Trong hệ sinh thái nông nghiệp luôn bị tác động luôn bịtác động của con người làm xáo động, đặc biệt là việcsử dụng thuốc BVTV.

Khi sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ côn trùng không íttrường hợp người ta quan sát thấy ở những vùng màdùng thuốc BVTV chẳng những suy giảm về số lượng cáthể trong các loài sinh vật, mà còn có thể làm suy giảmsố lượng loài ở nơi đó Thuốc BVTV càng được sử dụngnhiều lần trong một vụ, thời gian dùng thuốc càng kéodài, quy mô dùng thuốc càng rộng, nguy cơ tạo ra mộtvùng “sa

mạc sinh học” càng lớn

Có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đãcho thấy, các thuốc trừ sâu, trừ bệnh và trừ cỏ khi đượcsử dụng lâu dài đều có thể làm cho thành phần loài ởđịa phương suy giảm, rõ nhất là thiên địch

Vũ Công Hậu, Nguyễn Văn Khổn và Nguyễn Duy Trang,(1969) đã nhận xét, sâu non xanh ở Định Tường bị mộtloài ong lưng cong ký sinh nhưng những ký sinh này ngàycàng ít thấy Mật độ sâu xanh ngày càng nhiều, tác hạicủa sâu xanh càng trở nên nghiêm trọng do việc dùngthuốc hóa học để phòng trừ ngày càng tăng

Nhìn chung, thuốc BVTV thường tác động mạnh đến cácloài côn trùng, nhện ký sinh và bắt mồi

d Tác động của thuốc BVTV đến những động vật không xương sống cư trú trong đất:

Trang 39

Trong đất canh tác, tập toàn những động vật khôngxương sống đã đóng góp phần đáng kể vào việc duy trìđộ màu mỡ của đất Nhiều loại côn trùng thuộc Bộđuôi bật, một số loài bét, rết râu chẻ, tuyến trùng…chuyên sống bằng những tàn dư trên mặt đất và tronglớp đất mặt đã đóng vai trò quan trọng trong việc nghiềnnhỏ xác thực vật, tạo điều kiện tốt cho các vi sinh vậtđất hoạt động tốt, cung cấp dồi dào chất dinh dưỡng chocây trồng Thiếu chúng lớp lá, cành trên mặt đất, lớpđất mặt sẽ bị chặt, vi sinh vật đất sẽ không thể pháttriển được.

Đáng quan tâm nhất là loài giun đất sống trong đấtvới số lượng rất lớn Ngoài tác dụng làm đất được tơixốp, thoáng, giun đất còn cùng với các loại động vậtkhác tạo nên một sinh khối lớn trong đất, góp phầnđáng kể trong việc duy trì độ màu mợ trong đất trồngtrọt

Theo nghiên cứu của Sheals J.G, (1957) thuốc trừ sâu

666 bón vào đất trồng cỏ với lượng 13 kg/ha, đã làmgiảm tới 2/3 số lượng Bọ đuôi bật

Karg W.,(1961) nghiên cứu với thuốc trừ sâu Lindan vớiliều lượng 2,5 kg/ha

cũng làm cho một số loài côn trùng thuộc bộ Bọ đuôibật giảm mạnh, tác động này kéo dài đến 3 năm

Brett C.H và CTV, (1946) đã dùng thuốc 666 bón vào đấtvới lượng 5 – 5,5 kg/ha cũng rất độc đối với những côntrùng bắt mồi thuộc họ Chân Chạy, Hổ trùng và Kiến.Abdellatif M.A và Reynolds H.T (1967) đã dùng thuốcDisulfoton ở dạng hạt, khi bón vào đất với lượng 2,2 kg/ha

Trang 40

để trừ reap cho bông đã làm giảm 95% số lượng Bọ ĐuôiBật, và kéo dài đến 3 tháng sau.

Voronoval L.D., (1968) dùng thuốc trừ sâu Cacbamate vớilượng 5kg/ha đã làm cho côn trùng thuộc họ sâu bộ BọĐuôi Bật và họ Chân Chạy trong đất giảm tới 90% kéodài trong cả năm

e Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến hệ sinh thái đất:

Khu hệ vi sinh vật đất hết sức phức tạp, bao gồm vikhuẩn nấm, xạ khuẩn, tảo, nguyên sinh động vật Sốlượng của chúng trong đất vô cùng lớn Mỗi gam đất cókhoảng một trăm triệu vi khuẩn, mười triệu xạ khuẩn,mười vạn đến một triêu bào tử nấm, một đến 10 vạntế bào tảo và động vật nguyên sinh Chúng là tácnhân chủ yếu của các quá trình chuyển hóa vật chấttrong đất Có thể nói số lượng và thành phần vi sinh vậtphản ánh độ phì nhiêu của đất và có quan hệ mậtthiết với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng

Tác động của thuốc trừ sâu đến hệ sinh vật đất:

Các thuốc trừ sâu nói chung ít gây ảnh hưởng đến tậpđoàn sinh vật đất Trộn đất với nồng độ 10ppm, Diazinontuy có ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm mốcnhưng tác động này cũng chỉ kéo dài trong khoảng mộttuần lễ Thuốc trừ sâu lân hữu cơ ức chế hoạt độngcủa vi sinh vật thường xảy ra khi đất bị nhiễm thuốc ởliều lượng cao Sau một buổi phun thuốc, lượng thuốc dưthừa trong bình phun thường được đổ vào đất, vì vậy cókhi đất chứa tới 50.000 ppm Parathion, khiến cho hệ vi sinhvật đất bị giảm sút trong trong thời gian dài (WolfeH.R.,1973)

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w