1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng áp dụng cho sản phẩm da giày của công ty TNHH Hài Mỹ nhà máy Sài Gòn huyện Thuận An tỉnh Bình Dương

151 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng áp dụng cho sản phẩm da giày của công ty TNHH Hài Mỹ nhà máy Sài Gòn huyện Thuận An tỉnh Bình Dương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng áp dụng cho sản phẩm da giày của công ty TNHH Hài Mỹ nhà máy Sài Gòn huyện Thuận An tỉnh Bình Dương Nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng áp dụng cho sản phẩm da giày của công ty TNHH Hài Mỹ nhà máy Sài Gòn huyện Thuận An tỉnh Bình Dương luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Sự bùng nổ các sản phẩm hữu cơ, thân thiện với môitrường hiện nay không còn là một cơn sốt mà hứa hẹn sẽlà ngành kinh doanh đầy tiềm năng Điều đó mở ra rấtnhiều cơ hội lớn cho những doanh nhân quan tâm tới môitrường và kinh doanh bền vững vì theo ước tính trong thế kỷnày, ngành công nghiệp xanh đã, đang và sẽ phát triểnmột cách nhanh chóng

Từ những năm 1990, người tiêu dùng, đặc biệt là ngườitiêu dùng từ các nước Châu Âu và Mỹ đã bắt đầu quantâm tới vấn đề môi trường khi đã ra quyết định mua mộtsản phẩm nào đó, và họ bắt đầu đặt ra yêu cầu về cácsản phẩm mang tính “thân thiện với môi trường” Chính nhucầu này đã thúc đẩy các nhà sản xuất chú tâm đếnviệc tạo ra các sản phẩm “xanh” và dấy lên làn sóngnhãn sinh thái trên toàn thế giới

Ngày nay, người tiêu dùng ở Mỹ đã có thói quen đọc danhmục thành phần dinh dưỡng khi mua sắm thực phẩm Cũnggiống như các nhãn thực phẩm khác, nhãn sinh thái giúpngười mua sắm phân biệt các sản phẩm trên kệ siêu thịvà cho phép họ có những sự lựa chọn dựa trên thông tinsản phẩm Nhưng, nhãn sinh thái khác với danh mục thànhphần dinh dưỡng, mà trong đó là thông tin cho người tiêudùng về quá trình tạo ra sản phẩm và các vấn đề xã hội

∼ 1 ∼

Trang 2

ngoài các thuộc tính của sản phẩm Và giống như con dấu

“Good housekeeping”, nhãn sinh thái hoạt động như một condấu kiểm duyệt Nhãn sinh thái xác định rõ sản phẩmđược sản xuất theo quy trình cụ thể

Hiện nay, do sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên gaygắt, các yếu tố môi trường đang có nguy cơ bị lợi dụng đểlàm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế Vấnđề nhãn môi trường đã được thảo luận tại cuộc họp củaTổ chức thương mại thế giới (WTO) tại Singapore năm 1997 vềvấn đề thương mại và môi trường Nhiều thị trường xuấtkhẩu lớn của Việt Nam trong đó có Cộng đồng các quốcgia Châu Âu (EU), trên thực tế đã yêu cầu có nhãn sinhthái đối với hàng nhập khẩu

Chính vì vậy, việc hiểu biết sớm về nhãn sinh thái là vôcùng quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam, bởi nó sẽgiúp cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩunắm bắt được các thách thức về thương mại tại các thịtrường nhập khẩu để có chiến lược kinh doanh thích hợp vànhất là khắc phục các khó khăn tiềm tàng xảy ra trongtương lai có liên quan đến nhãn môi trường

Theo các chuyên gia, cùng với việc xây dựng hệ thốngquản lý môi trường (ISO 14001), nên sử dụng hệ thốngnhãn môi trường để đạt được lợi ích tối đa cho công ty Nắmbắt được nhu cầu cấp thiết này, tỉnh Bình Dương đã, đangvà sẽ xúc tiến việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng ápdụng nhãn sinh thái cho một số ngành công nghiệp ưu tiên,cơng nghiệp mũi nhọn, trong đó có ngành da giày

∼ 2 ∼

Trang 3

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng tứgiác kinh tế trọng điểm phía Nam (Bình Dương – Đồng Nai – BàRịa Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh), là một trong nhữngtỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển côngnghiệp năng động của cả nước Đẩy mạnh chuyển dịch cơcấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển côngnghiệp, dịch vụ Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinhtế cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam, hoàn thành sự nghiệp công nghiệphóa và tạo sự phát triển cân đối, bền vững giai đoạn sau

năm 2015 Từ những yêu cầu thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu đề xuất

tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng áp dụng cho sản phẩm da giày của Công ty TNHH Hài Mỹ – Nhà máy Sài Gòn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương” được thực

hiện nhằm gĩp phần nâng cao uy tín, khẳng định thương hiệu cho cơng ty Hài Mỹ nĩiriêng và tạo tiền đề cho việc áp dụng đại trà cho các doanh nghiệp khác cĩ cùng loạihàng của ngành da giày trên địa bàn tỉnh Bình Dương Đồng thời, tạo sự thành cơngtrong sự nghiệp cơng nghiệp hĩa, phát triển kinh tế bền vững của tỉnh Bình Dương nĩiriêng và của cả nước nĩi chung

2 Mục tiêu đề tài

Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựngtiêu chí và đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái chosản phẩm da giày nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việcđăng ký xin cấp nhãn sinh thái của các doanh nghiệp khinhà nước tiến hành đánh giá chứng nhận Xa hơn nữa lànhằm nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu của các công

ty nói riêng và của tỉnh Bình Dương cũng như Việt Nam trênthị trường thế giới, giúp tạo lợi thế cạnh tranh trên thị

∼ 3 ∼

Trang 4

trường trong và ngoài nước Đồng thời góp phần vào côngcuộc bảo vệ môi trường nói chung.

3. Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần phải thực hiệnnhững nội dung sau:

- Tổng hợp, tham khảo, kế thừa các nghiên cứu, tài liệucó liên quan về công cụ nhãn sinh thái và đánh giávòng đời sản phẩm

- Đánh giá vòng đời sản phẩm cho sản phẩm đốitượng

- Đề xuất các tiêu chí đánh giá

- Khảo sát thực tế và thu thập dữ liệu về Công ty đốitượng và đánh giá thử nghiệm theo tiêu chí đã đưa ra

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các số

liệu, tài liệu có liên quan từ các sách, giáo trình,nghiên cứu, báo cáo khoa học, trang thông tin điện tử…

Phương pháp quan sát: Khảo sát thực tế tại nhà

máy sản xuất để đánh giá vòng đời sản phẩm

Phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm: Từ

việc khảo sát nhà máy sản xuất và tham khảo tàiliệu từ đó tiến hành việc đánh giá vòng đời sảnphẩm

Phương pháp phân tích dòng vật chất: dùng phương

pháp này để trả lời các câu hỏi: ở đâu, tại sao vàbao nhiêu lượng nguyên nhiên vật liệu biến đổi thànhsản phẩm cuối cùng, chất thải và năng lượng tổnthất

∼ 4 ∼

Trang 5

Phương pháp phân tích tổng hợp: Sau khi tiến hành

việc khảo sát thực tế để thu thập số liệu cụ thể vàphân tích tổng hợp các số liệu, tài liệu đã thu thậpđược từ đó đánh giá khả năng xây dựng chương trìnhdán nhãn sinh thái cho sản phẩm

Phương pháp trao đổi ý kiến với chuyên gia: Trao

đổi ý kiến với các chuyên gia có kinh nghiệm vềnhãn sinh thái, tham khảo ý kiến của giáo viên hướngdẫn

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Sản phẩm của ngành da giày được lựa chọn làm đối tượngcho việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng áp dụng nhãnsinh thái bởi các lý do sau:

- Đây là loại sản phẩm được khá nhiều người biết đếntrên thị trường

- Thương hiệu được gắn nhãn sinh thái sẽ có nhiềuthuận lợi trong quảng bá hình ảnh cho doanh nghiệp vàtăng tính cạnh tranh Dễ dàng hòa nhập thị trường quốctế

6 Tính khoa học, thực tiễn và tính mới của đề tài

Đối với các nước phát triển thì nhãn sinh thái không cònquá xa lạ, nhưng nó là một vấn đề mới đối với các nướcđang phát triển và vẫn còn khá mới mẻ đối với ViệtNam Do đó, nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh tháivà đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái cho sảnphẩm da giày của công ty Hài Mỹ tại tỉnh Bình Dương lànghiên cứu rất mới tạo tiền đề cho các đề tài nghiên cứucho các sản phẩm khác

∼ 5 ∼

Trang 6

Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu giúp sản phẩm của các công ty cóbước chuẩn bị tốt, đáo ứng phần nào các yêu cầu của tiêu chuẩn cấpnhãn sinh thái của cơ quan chức năng nhà nước ban hànhvà đánh giá Các sản phẩm của các công ty dễ dàng đạtđược tiêu chuẩn để được cấp nhãn sinh thái cho sản phẩmcủa mình Đáp ứng được xu thế phát triển chung của thếgiới Điều này giúp các doanh nghiệp tăng thị phần tại thịtrường nội địa, cũng như có thể xâm nhập vào những thịtrường khó tính, họ đòi hỏi các sản phẩm hàng hóa khôngchỉ đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng mà còn phảiđáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, tạo tính cạnh tranhvới các sản phẩm cùng loại của nước ngoài

Các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể tham khảo mô hìnhnày để xây dựng chương trình nhãn sinh thái cho doanhnghiệp của mình

7 Kết cấu đồ án

Gồm 4 chương, phần mở đầu và phần kết luận – kiến nghịChương 1 – Tổng quan về nhãn sinh thái

Chương 2 – Hiện trạng phát triển da giày tại tỉnh Bình Dương –Tổng quan công ty TNHH Hài Mỹ

Chương 3 – Đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái cho sảnphẩm da giày

Chương 4 – Đánh giá tiềm năng dán nhãn sinh thái cho sảnphẩm giày thể thao công ty Hài Mỹ

∼ 6 ∼

Trang 7

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NHÃN SINH THÁI1.1 Quá trình ra đời và phát triển của nhãn sinh thái

Trong những năm gần đây, con người không khỏi lo lắng vềnhững tác động tiêu cực đối với môi trường trong quá trìnhtạo ra sản phẩm như cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiênnhiên, gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí,…và cácvấn đề tiềm ẩn mang tính toàn cầu như mưa axit, lỗ thủngtầng ôzôn ngày càng lớn, sự biến đổi rất lớn của khíhậu mà con người không thể lường trước được Các nhântố này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sức laođộng của con người Đặc biệt là tại các thành phố lớn,số người bị mắc bệnh hô hấp, tuần hoàn, ung thư, strees …tăng lên nhanh chóng

Trong bối cảnh đó, nhiều nhà tiêu dùng đã có nhữnghành động thiết thực để bảo vệ môi trường, làm giảmcác tác động xấu đến môi trường bằng cách đưa ra yêucầu và chỉ mua những sản phẩm mà họ cho rằng ít có hạicho môi trường và không hại đến sức khỏe của họ Điểnhình như, họ không mua các bình xịt CFC vì biết rằng đây làloại khí chủ yếu phá hủy tầng ôzôn, họ chỉ mua hàng cóbao gói có thể tái chế được hoặc có thể phân hủy vềmặt sinh học, họ mua xăng không pha chì, Do vậy, để đápứng cho người tiêu dùng, các hãng sản xuất đã thay đổiphương pháp sản xuất để làm giảm những tác động xấuđến môi trường, thiết kế lại sản phẩm mang tính thânthiện với môi trường hơn và sau đó, giới thiệu, quảng cáo

∼ 7 ∼

Trang 8

với người tiêu dùng về các đặc điểm môi trường củasản phẩm.

Việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm tới người tiêu dùngđược thể hiện dưới hình thức nhãn hiệu trên sản phẩmhoặc trên bao bì Để đảm bảo uy tín, các nhà sản xuấtthường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn.Các nước trên thế giới đã thành lập các chương trình cấpnhãn, chuyên cấp các nhãn hiệu theo nhu cầu này củanhà sản xuất, từ đó, chương trình nhãn sinh thái ra đời

1.2 Khái niệm về nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái là một khái niệm được hiểu theo nhiều cáchkhác nhau, tuy nhiên khi nghiên cứu về những khái niệmliên quan đến tính thân thiện với môi trường sinh thái củahàng hoá và dịch vụ, khái niệm nhãn sinh thái có nhữngcách hiểu tương đối phổ biến như sau:

Theo mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) thì khái niệm

nhãn sinh thái được hiểu như sau:“ Nhãn sinh thái là nhãn

chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm”.

Theo quan điểm của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và

ngân hàng thế giới (WB): Nhãn sinh thái là một công cụ

chính sách do các tổ chức phát hành ra để truyền thông và quảng bá tính ưu việt tương đối về tác động tới môi trường của một sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại”.

Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO): “Nhãn sinh thái là

sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của sản

∼ 8 ∼

Trang 9

phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bảng công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu về sản phẩm”.

Dù hiểu theo phương diện nào, nhãn sinh thái đều cho thấymức độ giảm thiểu tác động xấu của các sản phẩm đếnmôi trường trong suốt vòng đời của sản phẩm, từ lúc khaithác nguyên, nhiên liệu để làm đầu vào cho quá trình sảnxuất đến quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển, sửdụng và loại bỏ sản phẩm đó

1.3 Mục đích của việc áp nhãn sinh thái

1.3.1 Mục đích chung

Nhằm đảm bảo quyền lợi chung của cộng đồng thế giới,tạo nên một môi trường sinh thái trong sạch, lành mạnh, từđó tạo đà cho phát triển sản xuất, nâng cao chất lượngcuộc sống của cộng đồng

1.3.2 Mục đích cụ thể

Nhãn sinh thái cung cấp các thông tin rõ ràng về đặc tínhmôi trường, khía cạnh môi trường cụ thể của các sảnphẩm hoặc dịch vụ Người tiêu dùng có thể sử dụng cácthông tin trên trong việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ Bêncạnh đó, từ những thông tin môi trường giới thiệu, cộngđồng có thể thay đổi nâng cao kiến thức của mình về môitrường, về sự biến đổi thành phần tính chất môi trườngdưới tác động của con người, đến hoạt động của hệ thốngkinh tế, từ đó có những hành động đúng đắn để bảo vệmôi trường dựa trên sự hiểu biết

Bất cứ nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ nào cũngmong muốn nhãn sinh thái sẽ ảnh hưởng đến quyết định

∼ 9 ∼

Trang 10

mua sắm theo hướng có lợi cho sản phẩm hoặc dịch vụ củamình Nếu nhãn sinh thái thật sự có được những ảnh hưởngđó, thị phần của những sản phẩm và dịch vụ này sẽtăng lên Từ đó, nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ sẽcải thiện khía cạnh môi trường trong sản phẩm và dịch vụcủa mình, dẫn đến giảm những tác động xấu đến môitrường.

1.4 Phân loại nhãn sinh thái

Dựa vào tiêu chuẩn quốc tế ISO, nhãn sinh thái được chialàm ba loại, gọi tắt là loại I, loại II, loại III với các yêu cầucụ thể được nêu trong tiêu chuẩn ISO 14024 :1999, ISO14021:1999, ISO 14025:2000

1.4.1 Chương trình nhãn sinh thái loại I – ISO

14024

Chương trình nhãn sinh thái loại I, là chương trình tự nguyện, domột bên thứ ba cấp giấy chứng nhận nhãn sinh thái trênsản phẩm biểu thị sự thân thiện với môi trường dựa trêncác nghiên cứu vòng đời sản phẩm Bảng 1.1 sau đây cungcấp thông tin về chương trình nhãn sinh thái loại I đang đượcáp dụng tại một số nước trên thế giới

∼ 10 ∼

Trang 11

Bảng 1.1: Một số nước trên thế giới áp dụng chương trình

nhãn sinh thái loại I

hành

2 Canada Sự lựa chọn của môi

6 Thụy Điển Sự lựa chọn tốt cho

môi trường

1990

châu Âu

Nguồn: www.ecolabelindex.com

1.4.2 Chương trình nhãn sinh thái loại II – ISO 14021

Nhãn môi trường kiểu II là giải pháp môi trường do cácnhà sản xuất, nhập khẩu, hoặc bất cứ ai khác được lợinhờ các công bố môi trường không có sự tham gia của cơquan chứng nhận Đây là một sự tự công bố về môitrường mang tính doanh nghiệp

1.4.3 Chương trình nhãn sinh thái loại III – ISO

14025

Chương trình nhãn sinh thái kiểu III là chương trình tự nguyện

do một ngành công nghiệp hoặc một tổ chức độc lập xâydựng nên, trong đó có việc đặt ra những yêu cầu tối

∼ 11 ∼

Trang 12

thiểu, lựa chọn các loại thông số, xác định sự liên quan củacác bên thứ ba và hình thức thông tin bên ngoài.

 Điểm chung của cả ba loại này là đều phải tuân thủcác nguyên tắc được nêu trong tiêu chuẩn ISO 14020:1998(TCVN ISO14020:2000), trong đó điểm mấu chốt là các thôngtin đưa ra phải khoa học, chính xác và dựa trên kết quả củaquá trình đánh giá vòng đời sản phẩm, các thủ tục phảikhông cản trở cho hoạt động thương mại quốc tế

Trong cả ba kiểu nhãn sinh thái như đã nêu trên, thì nhãnmôi trường kiểu I có ưu thế hơn cả, do có khả năng phổbiến rộng rãi, minh bạch và độ tin cậy cao, dễ tạo ra thúcđẩy việc bảo vệ môi trường dựa trên thị trường lớn Trongthực tế, nhãn kiểu I ngày càng chiếm ưu thế và được rấtnhiều quốc gia trên thế giới sử dụng

1.5 Phương pháp đánh giá tác động chu trình

sống của sản phẩm

1.5.1 Khái quát đánh giá chu trình sống của sản

phẩm (LCA) – các tiêu chuẩn thuộc nhóm TCVN ISO14040

LCA là kỹ thuật để đánh giá các khía cạnh môi trường vàcác tác động tiềm tàng kèm theo với một số sản phẩm,bằng

- việc thu thập số liệu kiểm kê đầu vào và đầu ra tươngứng của một hệ thống sản phẩm

- việc diễn giải kết quả của sự phân tích kiểm kê và cácgiai đoạn đánh giá tác động trong mối quan hệ của đốitượng nghiên cứu

∼ 12 ∼

Trang 13

LCA gồm có bốn giai đoạn: xác định mục tiêu và phạm vi,phân tích kiểm kê chu trình sống, đánh giá tác động củachu trình sống và diễn giải kết quả chu trình sống, xem hìnhbên dưới:

∼ 13 ∼

Trang 14

Hình 1.1: Các giai đoạn đánh giá chu trình sống

Một số thuật ngữ và định nghĩa

thống nghiên cứu, đã được khai thác từ môi trường nhưngtrước đó chưa bị con người làm biến đổi

Vật liệu hoặc năng lượng đưa ra khỏi hệ thống nghiên cứu,được thải vào môi trường và sau đó không bị con ngườilàm biến đổi

phẩm được sử dụng như là một đơn vị chuẩn nghiên cứuđánh giá chu trình sống

nhau của hệ thống sản phẩm, từ việc thu thập cácnguyên liệu thô hoặc các tài nguyên thiên nhiên đếnviệc thải bỏ cuối cùng

∼ 14 ∼

Khuôn khổ đánh giá chu

trình sống (ISO 14040)

Xác định mục tiêu và

phạm vi (ISO 14041)

Phân tích kiểm kê (ISO 14041)

Đánh giá tác động (ISO 14042)

Diễn giải(ISO 14043)

Ứng dụng trực tiếp:

- thiết kế và cải tiến sản phẩm

- Xây dựng kế hoạch chiến lược

- Xây dựng chính sách cộng đồng

- Tiếp thị

- Các ứng dụng khác

Trang 15

Đánh giá chu trình sống: Thu thập và đánh giá đầu vào,

đầu ra và các tác động môi trường tiềm ẩn của hệthống sản phẩm trong suốt chu trình sống của nó

trình sống để hiểu và đánh giá qui mô, tầm quan trọngcủa các tác động môi trường tiềm ẩn của hệ thốngsản phẩm

trình đơn vị

vị

trong đó các phát hiện của các phân tích kiểm kê hoặccác đánh giá tác động hoặc cả hai, được kết hợp mộtcách nhất quán với mục tiêu và phạm vi đã được xácđịnh để đưa ra các kết luận và kiến nghị

trình sống bao gồm việc thu thập và lượng hóa các đầuvào và đầu ra đối với hệ thống sản phẩm được địnhtrước trong suốt chu trình sống của nó

vị được kết nối với nhau về nguyên vật liệu và nănglượng để thực hiện một hoặc nhiều chức năng xác định

sử dụng để sản xuất ra sản phẩm

phẩm mà từ đó các dữ liệu được thu thập khi thực hiệnđánh giá chu trình sống

∼ 15 ∼

Trang 16

Chất thải: Bất cứ đầu ra nào bị thải bỏ từ hệ thống

a Phương pháp định hướng theo vấn đề

Trong phương pháp này thì các dòng vật chất được phân loạitheo các vấn đề môi trường mà chúng có thể gây nên.Các vấn đề bao trùm lên hầu hết các vấn đề nghiêncứu đánh giá chu trình sống sản phẩm gồm:

- Hiệu ứng nhà kính (thay đổi khí hậu)

- Suy giảm tầng ozon

- Axit hóa

- Phú dưỡng hóa

- Tạo sương mù

- Suy giảm tài nguyên thiên nhiên

- Gây độc hệ thủy sinh

- Gây độc cho con người

Phương pháp định hướng theo vấn đề giúp làm đơn giảnhóa tính phức tạp của hàng trăm dòng vật liệu đi vào mộtsố giới hạn khu vực môi trường đang nghiên cứu

b Phương pháp định hướng theo tổn hại

Phương pháp này cũng bắt đầu từ việc phân chia cácdòng vật liệu của hệ thống thành các chủ đề môitrường khác nhau nhưng tạo mô hình tổn hại của từng chủ

∼ 16 ∼

Trang 17

đề môi trường đến sức khỏe, hệ sinh thái và nguồn tàinguyên thiên nhiên Thí dụ, axit hóa thường liên quan đếnmưa có thể làm tổn hại đến hệ sinh thái, nhưng cụng gây

hư hại nhà cửa, cao ốc, tượng đài Thực chất của phươngpháp này nhằm trả lời câu hỏi: Vì sao chùng ta cần phải lolắng đến sự thay đổi khí hậu hoặc suy giảm tầng ozon.EcoInsicator 99 là một ví dụ về phương pháp đánh giá tácđộng theo định hướng tổn hại Còn tồn tại nhiều khó khănvề vấn đề khoa học đối với phương pháp định hướng theotổn hại và do đó đối với phương pháp này việc định giácũng cần phải được thực hiện cẩn thận

1.6 Các nguyên tắc cấp nhãn sinh thái

Khi tiến hành một chương trình dán nhãn môi trường cho mộtsản phẩm, cần phải đảm bảo theo các nguyên tắc chunglà:

 Chương trình cấp nhãn sinh thái phải được xây dựng vàquản lý theo nguyên tắc tự nguyện

 Công bố môi trường và nhãn môi trường phải chínhxác có thể kiểm tra xác nhận được, thích hợp khônghiểu lầm

 Nhãn sinh thái không được gây hiểu nhầm hoặc khóhiểu Do đó, nhãn sinh thái phải đơn giản, dễ hiểu,những điểm về nội dung khi được công bố phải rõràng, biểu tượng, biểu đồ không được phức tạp

 Thủ tục và các yêu cầu của nhãn môi trường vàcông bố môi trường không được soạn thảo, chấp nhậnhoặc áp dụng theo cách thức mà có thể tạo ra trởngại không cần thiết trong thương mại quốc tế

∼ 17 ∼

Trang 18

 Nhãn môi trường và công bố môi trường phải dựatrên phương pháp luận khoa học hoàn chỉnh để chứngminh cho các công bố và tạo ra các kết quả chính xác,có thể tái lặp.

 Thông tin liên quan đến thủ tục, phương pháp luậnvà chứng cứ dùng để chứng minh các nhãn môitrường và công bố môi trường phải sẵn có và đượccung cấp theo yêu cầu của các bên hữu quan

 Khi xây dựng các công bố môi trường và nhãn môitrường cần phải tính đến tất cả các khía cạnh có liênquan của chu trình sống của sản phẩm

 Nhãn môi trường và công bố môi trường khôngđược kìm hãm việc tiến hành đổi mới mà sự đổi mớiđó duy trì hoặc có tiềm năng để cải thiện hiệu quảcủa môi trường

 Cần phải giới hạn ở mức cần thiết các yêu cầumang tính chất hành chính hoặc các nhu cầu thông tinliên quan đến môi trường và công bố môi trường đểthiết lập sự phù hợp với chuẩn cứ được áp dụng vàcác tiêu chuẩn của công bố hoặc nhãn môi trườngđó

 Quá trình xây dựng công bố môi trường và nhãnmôi trường cần phải mở rộng, có sự tham gia tư vấnrộng rãi với các bên hữu quan cần phải cố gắng đểđạt được một thoả thuận trong quá trình đó

 Bên đưa ra nhãn môi trường hoặc công bố môitrường phải sẵn có cho khách hàng về khía cạnh môi

∼ 18 ∼

Trang 19

trường của sản phẩm và dịch vụ tương ứng với nhãnmôi trường hoặc công bố môi trường đó.

Bảng 1.2: Nhãn sinh thái của một số nước trên thế

Tên nhãn

S tt

Logo nhãn

Quốc gia

Tên nhãn

Thiênthầnxanh

13

ĐàiLoan

Nhãnxanh

Sự lựachọncủa môitrường 1

4

HongKong

Nhãnxanh

sinh thái

Nhãnsinhthái

xanh

15

NhậtBản

Nhãnsinhthái5

INCLUDEPI

Croatia Nhãn

môitrường

16

TrungQuốc

Nhãnmôitrường

∼ 19 ∼

Trang 20

HànQuốc

Nhãnsinhthái

7

LiênMinhChâuÂu

Nhãnhoa

18

ẤnĐộ

Nhãnsinhthái

8

5 nướcBắcÂu

Thiênngatrắng

19

Philippine

Sự lựachọnxanh

9

NewZealand

Sự lựachọncủa môitrường

20

Singapore

Nhãnxanh

∼ 20 ∼

Trang 21

10 Pháp

Nhãnmôitrường

21

TháiLan

Nhãnxanh

Nhãnmôitrường

2

Sự lựachọnxanh

12

ThụyĐiển

Sự lựachọn tốtcho môitrường

2

Nhãnxanh

Nam

Nhãnxanh

Nguồn: www.ecolabelindex.com

1.7 Tình hình áp dụng nhãn sinh thái

1.7.1 Trên thế giới

Vào những năm 90, những người tiêu dùng trên thế giới,đặc biệt người tiêu dùng ở nước Mỹ và các nước châuÂu ngày càng quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trườngvà họ bắt đầu có nhu cầu về các sản phẩm xanh, cácsản phẩm được quảng bá là thân thiện với môi trường.Điều này làm cho các nhà sản xuất quan tâm hơn đến các

∼ 21 ∼

Trang 22

sản phẩm xanh Từ đó, nhãn sinh thái phát triển rộngkhắp thế giới.

Hình 1.2: Các quốc gia trên thế giới có nhãn sinh thái

(Nguồn www.ecolabelindex.com)

Năm 1999, trên 52% người tiêu dùng ở nước Mỹ mua cácsản phẩm được quảng bá là “an toàn môi trường” Con sốnày khá ấn tượng, tuy nhiên, số lượng người mua vẫn thấphơn số lượng người quan tâm về sản phẩm thân thiện môitrường, bởi vì người tiêu dùng vẫn hoài nghi, không tintưởng vào một số nhãn tự công bố và không được kiểmsoát

Hiện nay, ở Mỹ có khoảng 69 nhãn sinh thái cấp cho hànghóa và dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường, trong đó chỉcó chương trình nhãn sinh thái với tên gọi “ Con dấu xanh”thực hiện việc cấp nhãn cho nhiều sản phẩm và dịch vụkhác nhau

∼ 22 ∼

Trang 23

“Con dấu xanh” là chương trình của một tổ chức độc lập vàphi lợi nhuận, với mục tiêu làm cho môi trường trong lànhvà sạch hơn thông qua việc xác định và thúc đẩy nhữngsản phẩm và dịch vụ ít thải ra chất thải độc hại, tiết kiệmtài nguyên và bảo vệ môi trường.

Tại châu Âu

Thị trường châu Âu có tiềm năng rất lớn về sản phẩmxanh, vì họ rất quan tâm đến việc quảng bá cũng như cungcấp các thông tin, kiến thức về môi trường cho người dâncủa họ nói chung và người tiêu dùng nói riêng Theo kếtquả nghiên cứu có khoảng 40% người tiêu dùng tại châuÂu trung thành với sản phẩm xanh và 75% người tiêu dùngsẵn sàng trả thêm chi phí cho sản phẩm xanh Cũng giốngnhư nước Mỹ, người tiêu dùng châu Âu cũng không tintưởng nhiều về nhãn sinh thái hay những nhãn được côngbố là thân thiện với môi trường, vì sản phẩm có nhãnsinh thái tràn ngập trên thị trường mà người tiêu dùng thìkhông biết nhãn nào thật sự là nhãn thân thiện với môitrường, không gây tác động xấu đến môi trường

Tháng 12 năm 1991, hội đồng bộ trưởng môi trường của EUđã thông qua chương trình cấp nhãn sinh thái EU theo quyếtđịnh số 880/92(EEC) của hội đồng pháp luật để thúc đẩyviệc thiết kế, sản xuất, bán và sử dụng sản phẩm xanh,là những sản phẩm có những tác động đến môi trườngđược giảm nhẹ trong toàn bộ vòng đời sản phẩm và cungcấp cho người tiêu dùng thông tin về những sản phẩmxanh này Chương trình thu hút sự tham gia của 18 nước, trongđó có 15 nước là thành viên của EU bao gồm: Bỉ, Đức,

∼ 23 ∼

Trang 24

Pháp, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Đan Mạch, Ireland, Vương quốcAnh, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Aùo, PhầnLan và 3 nước Nauy, Iceland, Liechtenstein Trong đó Đức lànước đầu tiên trên thế giới khởi xướng việc dãn nhãnsinh thái vào năm 1977.

Nhãn sinh thái châu Âu (hay còn gọi là nhãn sinh thái EUhoặc Nhãn Hoa) là một nhãn hiệu sinh thái chính thức củachâu Âu, cấp cho những hàng hóa và dịch vụ, không baogồm thực phẩm, đồ uống và dược phẩm Các sản phẩmcó gắn biểu tượng hình bông hoa là dấu hiệu nhận biếtsản phẩm mà những tác động đến môi trường được giảmhơn so với các sản phẩm cùng loại do những sản phẩmnày đã đáp ứng được tập hợp các tiêu chí môi trườngđược công bố bởi các quốc gia thành viên EU

Càng ngày, mọi người càng quan tâm đến việc tiêu thụcác sản phẩm và bao bì thân thiện với môi trường, nhưngviệc xác định các sản phẩm nào thật sự mang bản chất

“xanh” thì hoàn toàn không dễ dàng chút nào Nhãn môitrường với mục đích đem lại thông tin tốt hơn đến người tiêudùng, các doanh nghiệp và các xí nghiệp vừa và nhỏ ởcác quốc gia đang phát triển, chương trình dùng sản phẩmxanh nhằm thu hút các ngành công nghiệp khác áp dụngvào chương trình này

Ở Crotia, cộng hoà Czech, Estonia, Hungary, Latvia, Romaria đãáp dụng chương trình cấp nhãn sinh thái cấp nhãn môitrường nhưng kết quả không khả quan lắm.Trong khi đó, cácquốc gia thuộc ECC lại nhanh chóng đạt được tốc độ pháttriển của chương trình Cộng hoà Czech là một nước đượccông nhận thực hiện việc áp dụng chương trình cấp nhãn

∼ 24 ∼

Trang 25

môi trường đạt tiêu chuẩn nhất Có 19 loại hàng hoá cóhơn 50 nhãn sinh thái được cấp vào năm 1997 đem lại tổngsố nhãn được cấp cho cộng hòa Czech là 220 nhãn.

Tại Nhật

Gần đây, người tiêu dùng ở nước Nhật nhận thức rất caovề sự phát thải các chất thải vào môi trường, vì thế nhucầu về sản phẩm có nhãn sinh thái có xu hướng tăng cao.Theo thống kê, có khoảng 60% người tiêu dùng có ý thứcvề việc bảo vệ môi trường và nhiều công ty đã sử dụngsản phẩm xanh hay nhãn sinh thái để tạo hình ảnh tốt chocông ty của mình

Tại Canada

Năm 1988, Canada bắt đầu một chương trình gọi là “Biểutrưng sinh thái” Chính phủ nước này đã lựa chọn các loạisản phẩm quan trọng dành cho việc đánh giá môi trường.Tiêu chuẩn cho các nhóm sản phẩm này được xây dựngbởi ngành công nghiệp, các cơ quan của chính phủ và cáctổ chức của môi trường Tiêu chuẩn được xây dựng đảmbảo cho các sản phẩm giảm được sự ảnh hưởng xấu đếnmôi trường ở mức tối thiểu Để có được “Biểu trưng sinhthái”, các sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn màchương trình đã đề ra

Tại Úc

Hiệp hội cấp nhãn môi trường Úc đã xây dựng chươngtrình chứng nhận môi trường bao gồm cấp nhãn môi trườngvà dịch vụ định giá sản phẩm với xu hướng tăng lợi nhuậnthị trường cho các loại hàng hoá thân thiện với môitrường Khẩu hiệu của chương trình: “Khuyến khích nhu cầu

∼ 25 ∼

Trang 26

tiêu thụ và cung cấp hàng hoá nhằm giảm bớt áp lực chomôi trường cho toàn bộ vòng đời sản phẩm”

Nhiều nhà máy cùøng chịu trách nhiệm đến người tiêudùng - những người có quan tâm đến môi trường Ví dụ như:phải có tiền bồi thường hợp chất hoá học được sử dụngcho các thiết bị làm lạnh và nó có khả năng phá huỷtầng Ozon bao quanh trái đất, từ đó làm ảnh hưởng đếnviệc bảo vệ con người khỏi những tia bức xạ của mặt trời

Tại Thái Lan

Chương trình “Nhãn sinh thái xanh” do hội đồng Doanh nghiệpphát triển bền vững của Thái Lan thành lập tháng 10 năm

1993 và đến tháng 4 năm 1994, Viện môi trường Thái Lanhợp tác với Bộ Công Nghệ tiến hành thực hiện chươngtrình

Chương trình nhãn xanh Thái Lan áp dụng cho những sảnphẩm và dịch vụ (không bao gồm những lĩnh vực thựcphẩm, nước uống và dược phẩm) đạt được các tiêu chuẩnđề ra

∼ 26 ∼

Trang 27

Tại Singapore

Chương trình “Nhãn xanh” của Singapore do bộ thương mạiSingapore thực hiện, bắt đầu từ tháng 5 năm 1992 Hiện nay,Singapore đã chọn được 21 sản phẩm để cấp nhãn xanh theocác tiêu chuẩn tương ứng

Tại Indonesia

Chính phủ Indonesia cũng đã thực hiện việc cấp nhãn sinhthái nhằm thông tin cho người tiêu dùng về những sảnphẩm ít gây ô nhiễm môi trường Viện sinh thái quốc giaIndonesia chỉ thực hiện việc cấp nhãn sinh thái cho nhữngsản phẩm từ gỗ, những sản phẩm còn lại do cơ quan quảnlý của EU cấp

1.7.2 Tại Việt Nam

Sự quan tâm của người tiêu dùng đối với nhãn sinh thái

Theo kết quả điều tra gần đây của một số tác giả [6] và[8] cho thấy sự quan tâm của người tiêu dùng đối với nhãnsinh thái còn rất ít (10%: biết rõ, 54%: chưa biết) Điều nàycó thể lý giải là do trên thị trường Việt Nam các sảnphẩm có dán nhãn môi trường hầu hết được nhập từ cácnước châu Âu và châu Mỹ, các sản phẩm có dán nhãnkhông được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đạichúng Mặt khác, do mức sống ở nước ta còn thấp mớiđược nâng lên trong vài năm gần đây nên khi mua sảnphẩm, họ quan tâm về chất lượng (38%) và giá cả (31%) làtrên hết Tiêu chí lựa chọn sản phẩm xanh của người tiêudùng có chiều hướng như sau: sản phẩm không có thànhphần hóa chất độc hại chiếm 37%, sản phẩm làm từnguyên vật liệu thân thiện môi trường chiếm 34% ý kiến,

∼ 27 ∼

Trang 28

ý kiến giảm tác động môi trường trong sử dụng chiếm20%, còn lại 9% là ý kiến về bao bì đóng gói sản phẩmphải là bao bì tái chế.

Hình 1.4: Tiêu chí lựa chọn sản phẩm của người tiêu

dùng (Nguồn: [8])

∼ 28 ∼

Hình 1.3: Biểu đồ thông tin về nhãn sinh

thái (Nguồn:[6])

Trang 29

Hình 1.5: Tiêu chí lựa chọn sản phẩm Xanh của người

tiêu dùng (Nguồn: [8])

Sự quan tâm của Doanh nghiệp

Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê, đã có gần 500 tổ chức doanh nghiệp được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 14001: 2004, nhưng khái niệm “nhãn môi trường” vẫn còn quá xa lạ với người sản xuất và người tiêu dùng

Hình 1.6: Số lượng doanh nghiệp đạt ISO 14001 qua các

năm

∼ 29 ∼

Trang 30

Sự quan tâm và chính sách của Nhà nước

- Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị Ban chấp

hành Trung ương Đảng ban hành chỉ thị 36/CT-TW về “Tăng

cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quán triệt quan

điểm chỉ đạo của Đảng và cam kết của Chính Phủ

∼ 30 ∼

Trang 31

Chiến lược quốc gia bảo vệ môi trường đến năm 2010và định hướng đến năm 2020 được phê duyệt tại quyếtđịnh số 256/2003 QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2003 củathủ tướng Chính Phủ Trong mục tiêu phấn đấu đến năm

2020 thì có 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh được cấp giấychứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 14001 Đồng thời, 100%sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và 50% hàng hóa nộiđịa phải được ghi nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO14024

Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, trong đó có

EU, đã yêu cầu có nhãn sinh thái đối với hàng nhậpkhẩu

- Ngày 5/3/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường raquyết định số 253/QĐ-BTNMT về Chương trình cấp nhãn sinhthái hay Chương trình nhãn môi trường xanh Việt Nam (gọitắt là Nhãn xanh Việt Nam)

- Ngày 13 tháng 12 năm 2010, Bộ tài nguyên vàmôi trường đã ra quyết định số 2322/QĐ-BTNMT về việcphê duyệt tiêu chí nhãn xanh Việt Nam cho nhóm sảnphẩm: Bột giặt (mã tiêu chí: NXVN 01:2010), Bóng đènhuỳnh quang (mã tiêu chí: NXVN 02:2010) và Bao bì nhựa tựphân hủy sinh học dùng gói hàng khi mua sắm (mã tiêuchí: NXVN 03:2010) Việc ban hành này đã tạo thuận lợi chocác doanh nghiệp sản xuất những nhóm sản phẩm nàysớm xúc tiến để thực hiện đăng ký và lấy chứng nhậnnhãn xanh Việt Nam, cũng như tạo tiền đề thực hiện chocác nhóm ngành hàng sản phẩm khác

- Cho đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã cĩ 2 doanhnghiệp được cấp thí điểm “Nhãn xanh Việt Nam” Đĩ là sản phẩm: bột giặt Tide của

∼ 31 ∼

Trang 32

Cơng ty P&G và bĩng đèn huỳnh quang của Cơng ty Điện Quang đã được tổ chức

bố quyết định cấp thí điểm “Nhãn xanh Việt Nam” vào ngày 27/1/2011 tại Hà Nội

“Nhãn xanh Việt Nam” của hai cơng ty này cĩ giá trị đến ngày 18/01/2014

(Nguồn: http://www.sggp.org.vn/moitruongdothi/2011/1/249637/)

Ngoài ra, ở Việt Nam đang xúc tiến xây dựng chương trìnhnhãn sinh thái đó là:

Nhãn Bông sen xanh:

Vụ Khách sạn (Tổng cục Du lịch) đã lập dự án Chương trìnhNhãn sinh thái “Bông sen xanh” cho các cơ sở lưu trú tại ViệtNam và đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phêduyệt ngày 16/10/2009

Chương trình Nhãn sinh thái “Bông sen xanh” thực hiện việcphê duyệt đề cương Chương trình cho các khách sạn ở ViệtNam, triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức và kiếnthức của các khách sạn ở Việt Nam trong quản lý và bảovệ môi trường, xây dựng và ban hành các tiêu chí vềnhãn sinh thái, hệ thống văn bản pháp lý đánh giá,chứng nhận và cấp nhãn… Tiếp đến, sẽ lựa chọn mẫumột số khách sạn hạng từ 3 - 5 sao ở 3 miền Bắc – Trung -Nam để thí điểm thực hiện Theo kế hoạch, đến năm 2011,sẽ triển khai áp dụng rộng rãi việc cấp Nhãn sinh thái chocác khách sạn ở Việt Nam

Bên cạnh đó, Vụ sẽ phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu vềhệ thống các khách sạn được cấp nhãn sinh thái, liên kếtdữ liệu chính thức với một số trang web về môi trườngxanh của một số nước, tổ chức trong khu vực và trên thếgiới, đồng thời, thực hiện chương trình tuyên truyền, quảngbá trên các ấn phẩm, báo chí, phổ biến lợi ích Nhãn sinh

∼ 32 ∼

Trang 33

thái cho khách du lịch và tham gia mạng lưới Nhãn sinh tháiquốc tế vào năm 2012 [9]

Nhãn tiết kiệm năng lượng:

Bộ Công nghiệp ban hành thông tư 08/2006/TT-BCN ngày16/11/2006 về việc hướng dẫn trình tự,thủ tục dán nhãn tiết kiệm năng lượng(TKNL) đối với các sản phẩm sử dụngnăng lượng và tiến hành dán nhãn thí

sáng, động cơ điện ,

Theo đó, khuyến khích doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩucác thiết bị gia dụng, như: thiết bị chiếu sáng, máy lạnh, tủlạnh, máy giặt, nồi cơm điện, quạt điện… dán nhãn nănglượng tự nguyện trước ngày 1/7/2011 Đến ngày 1/1/2013 thìviệc dán nhãn này là bắt buộc Nếu sản phẩm có hiệusuất năng lượng thấp hơn mức tối thiểu quy định sẽ khôngđược lưu thông

Đối với các thiết bị văn phòng và thương mại như máyphotocopy, bộ nguồn máy tính, tủ giữ lạnh thương mại vàcác thiết bị tiêu thụ năng lượng khác được khuyến khíchdán nhãn năng lượng trước ngày 1/1/2014 và dán nhãn bắtbuộc từ 1/1/2015

Nhãn năng lượng là nhãn cung cấp thông tin về mức tiêuthụ năng lượng, hiệu suất năng lượng… giúp người tiêudùng đánh giá mức tiết kiệm năng lượng của các thiếtbị

Đối với việc tự công bố sự thân thiện với môi trường chỉmới dừng lại ở tính tự phát nhằm đáp ứng tiềm năng tiêudùng, chưa trở thành một nhãn hiệu thực sự, độ tin cậy

∼ 33 ∼

Trang 34

chưa cao như rau sạch, trái cây sạch, … hiện chưa cơ quan nàochứng nhận.

1.8 Lợi ích của việc áp nhãn sinh thái

1.8.1 Lợi ích đối với môi trường

Việc áp dụng nhãn sinh thái đã phản ánh những lợi ích đốivới môi trường gắn với quá trình sản xuất phân phối, tiêudùng và loại bỏ sản phẩm Điều này thể hiện ở chỗ,nhãn sinh thái cho phép tạo điều kiện phát triển nguyênliệu thân thiện hơn với môi trường và quá trình phân phối,tiêu dùng sẽ tự loại bỏ những sản phẩm chưa dán nhãn,góp phần làm cho môi trường ngày càng cải thiện hơn Nhãn sinh thái chính là một thông điệp (có nhiều quanđiểm cho rằng đó cũng là một hàng rào phi thuế quan)gây nên sự khó khăn trong việc thâm nhập thị trường củanhững sản phẩm chưa dán nhãn Nhưng xét trên khía cạnhbảo vệ môi trường thì lại là một biện pháp có thể chấpnhận được

1.8.2 Lợi ích đối với chính phủ

Chính phủ, với tư cách là một chủ thể tiêu dùng đặc biệttrong nền kinh tế cũng có những lợi ích do việc dán nhãnsinh thái mang lại Đối với qui định mua sắm của chính phủphải đáp ứng yêu cầu “xanh”, thì việc áp dụng nhãn sinhthái đối với các sản phẩm sẽ giúp việc thực hiện cácchương trình mua sắm của chính phủ được thực hiện hữu hiệuvà dễ dàng hơn

Trường hợp khác, khi chính phủ với tư cách là một cơ quanhành pháp hay là môït cơ quan pháp lý nhà nước, thì việcdán nhãn có ý nghĩa rất lớn Nó giúp chính phủ quản lý

∼ 34 ∼

Trang 35

tốt hơn về vấn đề môi trường quốc gia, quản lý tình hìnhlưu thông phân phối hàng hoá và dịch vụ trên thị trường,theo dõi việc chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, thực hiệntốt các mục tiêu mà nhà nước đề ra.

1.8.3 Lợi ích đối với các ngành

Khi áp dụng nhãn sinh thái, doanh nghiệp có được uy tín vàhình ảnh tốt về việc thân thiện với môi trường, có tráchnhiệm với môi trường

Thông qua việc áp dụng nhãn sinh thái doanh nghiệp có thểquảng bá được những khía cạnh, lợi ích môi trường của sảnphẩm

Hiện nay khách hàng ngày càng quan tâm và có nhiềuhiểu biết tới môi trường các sản phẩm có nhãn sinh tháisẽ được ưu tiên lựa chọn so với những sản phẩm cùng loạimà không đáp ứng hay không có nhãn sinh thái

1.8.4 Lợi ích đối với người tiêu dùng

Nhãn sinh thái chính là một nguồn cung cấp thông tin mớicho khách hàng, giúp họ có những nhận biết, hiểu biết hơnvề môi trường, về những lợi ích do việc sử dụng sản phẩmcó nhãn sinh thái mang lại Thông qua đó, họ dần có thể ýthức được rằng, những sản phẩm không in ấn họa tiết cầukỳ lại mang những ý nghĩa lớn lao đối với môi trường, đốivới sức khỏe con người

∼ 35 ∼

Trang 36

CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DA GIÀY TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG –TỔNG QUAN CÔNG TY TNHH HÀI MỸ 2.1 Tình hình phát triển ngành da giày tại tỉnh Bình Dương

Kể từ năm 2001 đến nay, ngành cơng nghiệp Bình Dương cĩ bước phát triển nhanh,hình thành nên một ngành cơng nghiệp đa dạng về ngành nghề và quy mơ với mức tăngtrưởng ổn định và đạt gần 34%/năm

Số liệu thống kê cho thấy, giá trị sản xuất cơng nghiệp của tỉnh Bình Dương đạt 66.000

tỷ đồng vào cuối năm 2007, tăng gấp 5 lần so với năm 2001 và tăng kỷ lục so với mứcgần 4.000 tỷ đồng đạt được trong năm đầu tiên khi tỉnh vừa tái lập Điều này chứng tỏBình Dương cĩ nền cơng nghiệp trẻ phát triển đúng hướng, qua đĩ tạo ra hơn 20 chủngloại sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Trong đĩ, cơng nghiệp dagiày là một trong những ngành cơng nghiệp then chốt của tỉnh Bình Dương, bên cạnhdệt may, chế biến gỗ, hĩa chất, cơ khí, và điện tử

Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn bộc lộ trong quá trình phát triển của nền cơng nghiệpBình Dương Trước hết là cơng nghệ sản xuất ở một số ngành hàng vẫn ở cấp độ trungbình nên khĩ cĩ thể đa dạng hĩa được các chủng loại sản phẩm để đáp ứng với nhiều thịtrường Hơn nữa, các ngành hàng cĩ tốc độ tăng trưởng nhanh như may mặc, giày da,chế biến gỗ, sản xuất thép đã nhập khẩu từ 60 - 90% nguyên phụ liệu để sản xuất dẫnđến giá trị gia tăng xuất khẩu thấp Cụ thể, ngành da giày đạt được giá trị sản xuất vàxuất khẩu gần 700 triệu USD trong năm 2007, nhưng giá trị gia tăng mới chỉ đạt gần

300 triệu USD

Theo nhận xét từ ngành chức năng, nguyên nhân cĩ tình trạng trên là ngành cơng nghiệpphụ trợ, cơng nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu của địa phương và của cả nước chưa pháttriển đồng bộ với ngành cơng nghiệp chế biến Mặt khác, các ngành may mặc, da giày,

gỗ lại đang sử dụng lượng lao động quá lớn do trong quá trình phát triển mới chỉ chútrọng phát triển bề rộng, chưa quan tâm đầu tư chiều sâu về cơng nghệ nên năng suất laođộng chưa đạt tối ưu Điều này rất dễ bị tác động khi lao động biến động về số lượng

∼ 36 ∼

Trang 37

Nguồn nhân lực cĩ trình độ cao ở một số ngành vẫn cịn thiếu Đáng lo nữa là việc xâydựng thương hiệu ở tầm quốc tế chưa được chú trọng, bởi lẽ nhiều doanh nghiệp maymặc, da giày vẫn cịn gia cơng hàng hĩa cho các tập đồn nước ngồi nên khơng thể chủđộng phát triển thương hiệu.

Theo đánh giá của Viện nghiên cứu da giày: Hiện nay các sản phẩm da giày của nước tachủ yếu xuất khẩu vào các thị trường chủ lực như EU, Nhật Bản và Mỹ

∼ 37 ∼

Bảng 2.1: Một số mặt hàng xuất khẩu sang các thị

trường có chương trình nhãn sinh thái

Trang 38

2 Dệt may

Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Bỉ, TâyBan Nha, Italy, Đan Mạch, PhầnLan, Ireland, Luxembourg, Hy Lạp,Bồ Đào Nha, Mỹ Nhật Bản, ĐàiLoan

3 Dầu thô

Australia, Trung Quốc, Singapore,Mỹ, Nhật Bản, Indonesia,Malaysia

4 Giày, dép, da

Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Bỉ, Tây Ban Nha, Italy, Mỹ, Nhật Bản.

7 Cà phê

Hà lan, Pháp, Đức, Anh, Bỉ, TâyBan Nha, Italy, Mỹ, Nhật Bản,Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore,Thụy Điển

8 Hạt điều Mỹ, Trung Quốc, Hà Lan,

Australia, Anh

9 Hạt tiêu Mỹ, Singapore, Hà Lan, Đức,

Pháp, Tây Ban Nha

10 Cao su

Trung quốc, Singapore, Hàn Quốc,Đài Loan, Đức, Malaysia, Mỹ,Nhật

11 Thủ công mỹ

nghệ

Hàn quốc, Pháp, Đức, Hà Lan,Anh, Bỉ, Tây Ban Nha, Italy, Mỹ,Nhật Bản, Đài Loan, Singapore,Thụy Điển

Trang 39

(Nguồn: Tổng hợp trên trang web của Bộ Thương mại)

Trong số các thị trường xuất khẩu nêu trên, thị trường EU,Mỹ, Nhật Bản,… có yêu cầu rất cao về nhãn sinh thái,đặc biệt là thị trường EU

Theo dự thảo sơ bộ của đề án định hướng phát triển các ngành cơng nghiệp ưu tiên,cơng nghiệp mũi nhọn trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2007-2020, da giày đượcxác định là một trong các ngành cơng nghiệp ưu tiên của tỉnh Bình Dương đến năm

2020, bên cạnh các ngành cơng nghiệp dệt may, chế biến nơng sản, thép, hĩa dược.(Nguồn: http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/infotv.vn/Binh-Duong-Uu-tien-phat-trien-nganh-cong-nghiep-giay-da/3281591.epi)

Tỉnh Bình Dương hiện cĩ 105 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giày 8 tháng đầunăm 2003, nếu như kim ngạch xuất khẩu tồn Tỉnh đạt 891,95 triệu USD, thì riêngngành Giầy đã chiếm 187,9 triệu USD (21%), ngành hàng Dệt-May đạt khoảng 142triệu USD, cao su chỉ đạt khoảng 39 triệu USD, hạt điều khoảng 33 triệu USD) Sảnphẩm của các doanh nghiệp ngành Giầy được xuất khẩu 100% sang thị trường các nướcchâu Âu, Bắc Mỹ, Hoa Kỳ, Nhật Bản Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong ngành GiầyBình Dương đang phải đối mặt với một số khĩ khăn chưa thể tạo dựng được thươnghiệu cho mình

Đa số các doanh nghiệp ngành Giầy đều cĩ quy mơ sản xuất khá lớn Trong số 105doanh nghiệp thì 12 doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư nước ngồi, với tổng vốn 127 triệuUSD Doanh nghiệp thành lập lâu nhất là 10 năm, ít nhất là 1-2 năm Một số doanhnghiệp cĩ vốn đầu tư lớn: Liên doanh Chí Hùng, Hài Mỹ – Sài Gịn, King Maker (từ 12đến 25 triệu USD) Đa số các doanh nghiệp đều dừng lại ở chỗ gia cơng cho các hãnggiày nổi tiếng trên thế giới, như: Adidas, Nike, Puma, Fila Cũng cĩ nghĩa là cả đầuvào (máy mĩc thiết bị, cơng nghệ, nguyên vật liệu và cả đầu tư (thị trường tiêu thụ) đều

do đối tác lo Doanh nghiệp chỉ lo đầu tư nhà xưởng, tuyển cơng nhân và điều hành sảnxuất Do yêu cầu chất lượng hàng xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển, hầu hếtthiết bị, cơng nghệ của các doanh nghiệp ngành Giầy đều đạt trình độ tiên tiến, hiện đạitrên thế giới Doanh nghiệp đầu tư càng về sau càng cĩ trình độ hiện đại hơn Và để

∼ 39 ∼

Trang 40

cạnh tranh tốt hơn, các doanh nghiệp đi trước cũng tăng cường đầu tư thay thế dầnnhững máy móc, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu

Hiện Việt Nam đứng thứ tư trong 10 nước xuất khẩu giày dép hàng đầu trên thế giới,sản phẩm da giày Việt Nam xuất khẩu sang 50 nước chủ yếu là giày thể thao, giày vải,giày da nam, nữ và dép các loại Tuy nhiên, 70% doanh nghiệp da giày Việt Namchuyên làm hàng gia công là chính, trong đó 70% nguyên phụ liệu da, giày, đế, chỉ…vẫn phải nhập khẩu Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu chủ yếu tập trung vào 50 doanhnghiệp lớn có quy mô lao động 10.000 người trở lên, dây chuyền công nghệ hiện đại và

có lượng khách hàng lớn

Do xuất khẩu 100% sang thị trường châu Âu, ngành Giầy Bình Dương không bị ảnhhưởng gì khi Việt Nam hội nhập AFTA, song đây cũng là dịp để ngành Giầy tự nhìn lạimình và tự cảnh tỉnh: Có đến hàng trăm doanh nghiệp giầy trong Tỉnh, nhưng có mấythương hiệu Giầy Bình Dương có danh trên trường quốc tế

Để góp phần trong công cuộc tạo dựng thương hiệu cho doanh nghiệp thì việc chủtrương đề xuất tiêu chí và đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái cho ngành hàng dagiày của tỉnh là một chủ trương đúng của Sở khoa học và công nghệ Bình Dương Có ýnghĩa lớn khi thực hiện kết hợp với dự án CSR

CSR có thể được hiểu là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển bền vữngthông qua việc cân bằng ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường Hành vi này được gọi

là phương pháp tiếp cận ba yếu tố, nhằm đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và xã hội.Tuy nhiên, nhận thức trong các vấn đề về người lao động và môi trường đang tăngnhanh do những nỗ lực của Chính phủ, các dự án cũng như những yêu cầu khắt khe hơn

từ những đối tác nước ngoài Nhưng việc phát triển bền vững không chỉ dựa trên hai vấn

đề đó Để đạt được sự cân bằng về kinh tế, xã hội và môi trường, còn phải xem xét tất cảcác vấn đề khác có liên quan

Gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhìn nhận việc tiếp cận những thị trườngmới, nâng cao giá trị gia tăng hay cắt giảm chi phí bằng việc thuê nhân công giá rẻkhông còn là tiêu chí số một Tuy nhiên, nhận thức và khả năng để nhìn nhận, thực hiệntốt những vấn đề còn tồn tại cần được cải thiện đáng kể

∼ 40 ∼

Ngày đăng: 10/05/2021, 18:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam (2002), Hệ thống quản lý môi trường, NXB. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quảnlý môi trường
Tác giả: Tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam
Nhà XB: NXB. Hà Nội
Năm: 2002
[2] Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu:http://www.globalecolabelling.net/[3] Pepsico:http://www.pepsico.com/annual09/human_sustainability.html[4] CocaCola: http://www.thecoca-colacompany.com/citizenship/index.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.pepsico.com/annual09/human_sustainability.html"[4] CocaCola:" http://www.thecoca-
[5] Huỳnh Châu Quí, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Đánh giá hiệu quả của nhãn sinh thái tại thị trường thành phố HCM và đề xuất qui trình dán nhãn sinh thái cho hàng nông sản VN, ẹH KTCN TP. Hồ Chớ Minh , 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệuquả của nhãn sinh thái tại thị trường thành phố HCM vàđề xuất qui trình dán nhãn sinh thái cho hàng nông sản VN,ẹH KTCN TP. Hồ Chớ Minh
[6] Nguyễn Thị Minh Trâm, Nghiên cứu xây dựng nhãn sinh thái cho trà Oolong Tâm Châu, Thị xã Bảo Lộc, Tỉnh Lâm Đồng nhằm phục vụ hội nhập kinh tế thế giới, Đồ án tốt nghiệp đại học, Trường ĐH KTCN TP. Hồ Chí Minh, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng nhãn sinhthái cho trà Oolong Tâm Châu, Thị xã Bảo Lộc, Tỉnh LâmĐồng nhằm phục vụ hội nhập kinh tế thế giới
[7] Vũ Thị Xen, Sản phẩm thaân thiện với môi trường – xu thế tất yếu trong tiêu dùng hiện đại và hướng đi mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, Đồ án tốt nghiệp đđại học, Trường ĐH Ngoại Thương, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm thaân thiện với môi trường – xu thế tất yếutrong tiêu dùng hiện đại và hướng đi mới cho các doanh nghiệpViệt Nam
[8] Toồng cuùc du lũch: http://www.vietnamtourism.com/v_pages/news/index.asp?loai=2&uid=11073 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.vietnamtourism.com/v_pages/news/index.asp
[9] Website: http://www.ecolabelindex.com/, http://www.greenglobe.com/, http://www.greenbiz.vn/ Link
[10] Viện kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường, Ngiên cứu nhãn sinh thái và áp dụng thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, Uûy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Khác
[11] Sở Khoa học công nghệ, báo cáo nghiệm thu đề tài: Xây dựng sách xanh cho một số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dượng, 2009 Khác
[11] Quyeỏt ủũnh soỏ 2322/Qẹ-BTNMT veà Pheõ duyeọt tieõu chớ Nhãn xanh Việt Nam, ban hành ngày 13 tháng 12 năm 2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w