Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có cấu trúc gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát về lễ hội Chử Đồng Tử Tiên Dung tại đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử Tiên Dung. Chương 3: Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử Tiên Dung.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC.
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương I Khái quát về lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 6
1.1 Khái quát về huyện Khoái Châu và Đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 6
1.1.1 Khái quát về huyện Khoái Châu 6
1.1.2 Khái quát về đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 11
1.2 Khái quát về lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung 16
1.2.1 Lý do tổ chức lễ hội 16
1.2.2 Tiến trình lễ hội 17
Chương II Thực trạng bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung 20
2.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung 20
2.1.1 Thực trạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội 20
2.1.2 Thực trạng quản lý tài chính của lễ hội 22
2.1.3 Thực trạng quản lý an ninh - xã hội của lễ hội 23
2.1.4 Thực trạng quản lý và bảo vệ môi trường tại lễ hội 26
2.1.5 Thực trạng quản lý, bảo vệ không gian thiêng và cơ sở thờ tự của lễ hội 26
Trang 22.2 Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên
Dung 27
2.2.1 Những ưu điểm của công tác bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử -Tiên Dung 27
2.2.2 Những hạn chế của công tác bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử -Tiên Dung 30
Chương III Một số đề giải pháp phần bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung 32
3.1 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục những quy định của pháp luật liên quan đến lễ hội truyền thống 32
3.2 Nhanh chóng nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành theo hướng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn 32
3.3 Quản lý chặt chẽ việc quy hoạch, sắp xếp các hoạt động dịch vụ, vui chơi giải trí hợp lý 33
3.4 Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về tổ chức, quản lý và bảo tồn lễ hội 33
3.5 Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải tiến hành đúng quy định của Nhà nước, của ngành 33
3.6 Củng cố, kiện toàn các ban chỉ đạo, ban tổ chức lễ hội tại địa phương theo đúng quy trình, thủ tục 34
3.7 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động lễ hội 35
3.8 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh các hành vi tiêu cực, phi văn hóa, hoạt động mê tín dị đoan, tình trạng lộn xộn tại các khu vực dịch vụ trên địa bàn tổ chức lễ hội 35
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 38
Trang 3MỞ ĐẦU.
1 Lý do chọn đề tài.
Lễ hội là cuộc sống của cộng đồng dân cư được tái hiện dưới hình thức tế lễ
và hội Hai phần tế lễ và hội có quan hệ mật thiết với nhau, không thể thiếuphần nào trong trình tự diễn ra một lễ hội Phần tế lễ phải trang trọng, tônnghiêm, còn phần hội phải thực sự hào hứng, thoải mái, đem lại sự phấn khởicho những người tham gia hòa vào niềm vui của cộng đồng
Lễ hội cổ truyền là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang tính tổnghợp cao, biểu đạt những sáng tạo văn hóa được tích lũy và trao truyền quanhiều thế hệ, in dấu trong các nghi lễ, nghi thức tôn giáo tín ngưỡng, phongtục tập quán, văn chương nghệ thuật, lễ phục, ẩm thực cúng tế, các trò chơi,trò diễn dân gian, Lễ hội cổ truyền được coi như một bảo tàng sống, tồn tạiđồng hành và tạo nên ký ức văn hoá của dân tộc, có sức sống lâu bền và lantoả trong đời sống nhân dân, thể hiện nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ nhữnggiá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư
Lễ hội cổ truyền hội tụ nhiều giá trị như: cố kết cộng đồng và biểu dươngsức mạnh cộng đồng, hướng về cội nguồn, cân bằng đời sống tâm linh, sángtạo và hưởng thụ văn hóa, bảo tồn và trao truyền văn hóa,… Việc tổ chức lễhội cổ truyền nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, tinh thần của người dân, giúpcon người trở về với cội nguồn, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, tiếp xúc, traođổi, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, làm gia tăng tính cố kết cộng đồng.Chính vì thế, lễ hội có vai trò quan trọng trong việc bảo lưu và truyền bá cácgiá trị văn hóa truyền thống, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóadân tộc Đối với một số địa phương, lễ hội cổ truyền còn trở thành nguồn lựcquan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện hữu hiệu đểquảng bá, giới thiệu văn hóa, con người và vùng đất với bạn bè trong nước vàquốc tế
Trang 4Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung là một trong những lễ hội cổ truyền lớn
nhất cả nước, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một tình yêu
đầy lãng mạn giữa chàng trai nghèo họ Chử và con gái Vua Hùng thứ 18 Lễhội Chử Đồng Tử - Tiên Dung là một lễ hội mang giá trị văn hoá sâu sắc, làbức tranh về đời sống hết sức phong phú, sinh động của người Việt cổ vùngđồng bằng, trung du Bắc bộ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sôngHồng từ hàng ngàn năm về trước Đây không chỉ là huyền thoại về tình yêu
mà còn là bài ca về lòng hiếu thảo, về đạo làm người, là minh chứng của nềnvăn minh lâu đời của dân tộc Việt Nam Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung -
lễ hội tình yêu độc đáo nhất cả nước, không chỉ là nơi thờ cúng tâm linh màcòn là điểm du lịch tham quan không thể thiếu của du khách trong tua du lịchđồng bằng sông Hồng Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy lễ hội này là mộtcách để lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của cư dân vùng đồngbằng, trung du Bắc Bộ, đồng thời phát huy tác dụng của những giá trị đótrong đời sống đương đại Đặc biệt, khi nước ta đang bước vào thời kỳ côngnghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cùng với những thay đổi trong chínhsách tôn giáo, tín ngưỡng, các hoạt động tổ chức lễ hội cổ truyền đã đượcphục hồi và phát triển nhanh chóng Việc bảo tồn và phát huy những giá trịquý báu trong di sản văn hóa lễ hội nói chung và lễ hội Chử Đồng Tử - TiênDung nói riêng là việc làm đúng đắn và rất cần thiết, tuy nhiên những biếntướng và sự phát triển thái quá, vượt tầm kiểm soát của nó cũng đang khiếngiới chuyên môn, báo chí và người dân lo ngại, bất bình Đây cũng chính là
lý do lựa chọn nghiên cứu đề tài: Bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đổng Tử Tiên Dung tại Đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khái Châu, tỉnh Hưng Yêncủa tôi
Trang 5-2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
- Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại Đền Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tháng 1 năm 2014
3 Mục đích nghiên cứu.
- Đề tài được triển khai nhằm làm sáng tỏ công tác bảo tồn và phát huy lễ
hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện KhoáiChâu, tỉnh Hưng Yên trong thời gian gần đây Từ đó đề xuất những giải phápnhằm hoàn thiện công tác bảo tồn và phát huy lễ hội này tại địa phương đểngày càng thu hút đông đảo khách trong và ngoài nước đến với lễ hội cũngnhư về với quê hương Hưng Yên
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tư liệu.
- Đề tài có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu lễ hội
nói chung và lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung nói riêng
- Các giải pháp đưa ra trong đề tài có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phầnbảo tồn và phát huy những giá trị của lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung trongđời sống hiện nay
Đề tài giúp cho việc quảng bá di tích đền Đa Hòa, lễ hội Chử Đồng Tử Tiên Dung nhằm phát triển giá trị du lịch của lễ hội
-6 Bố cục của đề tài.
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có cấu trúcgồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền Đa Hòa,
xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên
Dung
Chương 3: Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy lễ hội Chử
Đồng Tử - Tiên Dung
Trang 6N I DUNG ỘI DUNG
Ch ương I: ng I:
Khái quát v l h i Ch Đ ng T - Tiên Dung t i đ n ề lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền ễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền ội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền ử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền ồng Tử - Tiên Dung tại đền ử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền ại đền ề lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền
Đa Hòa, xã Bình Minh, huy n Khoái Châu, ện Khoái Châu, t nh H ng ỉnh Hưng ư
Khoái Châu là vùng đất cổ, thuộc quốc gia Văn Lang – nhà nước sơ khai
từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc Vào thời trước Hùng Vương, phù sa
sông Hồng đã bồi tụ nên vùng đất này, nhưng chỉ có một số gò đống nổi lên
giữa một vùng ngập nước Người việt cổ đã đến đây cư trú, sinh sống chủ yếubằng nghề đánh bắt cá và khai hoang, thau chua, rửa mặn, bắt đầu gieo cấylúa nước
Từ thủa các Vua Hùng dựng nước, vùng đất Khoái Châu đã được khai mở
và cùng với tiến trình phát triển của lịch sử, nơi đây đã trải qua nhiều sự thayđổi về địa giới hành chính với nhiều tên gọi khác nhau Tuy nhiên dù ở thời
kỳ nào, người dân Khoái Châu cũng luôn phát huy bản chất cần cù, sáng tạo,chung sức đồng lòng chế ngự thiên nhiên, bám làng giữ đất, xây dựng quêhương ngày thêm giàu đẹp
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâmlược Đảng bộ và nhân dân huyện Khoái Châu đã góp sức người, sức của chotiền tuyến, hàng vạn thanh niên lên đường tòng quân cứu nước, hàng ngànngười con của Khoái Châu đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc
Trang 7Thời kỳ đổi mới, nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn,Khoái Châu đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo được sự khởi sắcmới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Sau nhiều lần chia tách, sátnhập đến ngày 1/9/1999, thực hiện Nghị định số 60/CP ngày 24/7/1999 củaChính phủ về việc điều hành địa giới hành chính, huyện Khoái Châu chínhthức được tái lập có 25 đơn vị hành chính trực thuộc (24 xã, 1 Thị trấn)
Dù trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, trải qua những biến cố thờigian, song vùng đất Khoái Châu vẫn giữ gìn và phát huy những giá trị truyềnthống lịch sử - văn hóa lâu đời gắn liền với quá trình hình thành, phát triểncủa tỉnh Hưng Yên nói riêng và của cả nước nói chung Khoái Châu ngày nay
là một trong mười huyện của tỉnh Hưng Yên Khoái Châu đang có bước tiếnmới về kinh tế, văn hóa, xã hội Toàn huyện ra sức thi đua xây dựng nếp sốngvăn minh, văn hóa Cùng với quá trình phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạtầng, huyện Khoái Châu còn tiến hành các hoạt động bảo vệ các di sản vănhóa của địa phương, phục dựng nguyên gốc các lễ hội truyền thống gắn vớiphát triển du lịch trên địa bàn toàn huyện
1.1.1.2 Vị trí địa lý
Khoái Châu là một huyện đồng bằng Bắc Bộ, nằm trên bờ tả ngạn củasông Hồng, là huyện phía Tây tỉnh Hưng Yên, phía Nam và Đông Nam giápcác xã Thọ Vinh, Đồng Thanh, Vĩnh Xá, Toàn Thắng của huyện Kim Động,góc phía Đông giáp xã Xuân Trúc của huyện Ân Thi, phía Đông Bắc và Bắcgiáp các xã Minh Châu, Yên Hoà, Hoàn Long, Yên Phú, Lý Thường Kiệt củahuyện Yên Mỹ, phía Tây Bắc giáp Mễ Sở, Tân Tiến, Liên Nghĩa củahuyện Văn Giang Phía Tây giáp các xã nằm trong các huyện của Hà Nội : xã
Tự Nhiên, Thống Nhất, Vạn Điểm, Lê Lợi của huyện Thường Tín (ở chínhphía tây) và Văn Nhân, Thuỵ Phú, Hồng Thái của huyện Phú Xuyên (ở phíaTây Nam), ranh giới là sông Hồng
Trên địa bàn huyện còn có sông Bần chảy xuôi từ Bần Yên Nhân, qua Yên
Mỹ, Khoái Châu, sang Kim Động Đầm Dạ Trạch, nằm tại các xã Bình Minh,
Trang 8Dạ Trạch, Hàm Tử, Tứ Dân, Đông Kết, đây vốn là một khúc của sông Hồngtrước kia, nay do đổi dòng sang hướng Tây mà tạo thành.
1.1.1.3 Điều kiện tự nhiên
Địa hình:
Là huyện có địa hình đặc trưng của khu vực đồng bằng sông Hồng, đượcbồi tích phù sa, Khoái Châu có địa hình khá phức tạp, cao thấp xen kẽ nhau.Vùng ngoài bãi có địa hình bán lòng chảo dốc dần từ dải cao ven bối xuồngvùng trũng ven đê Vùng nội đồng nhìn chung có hướng dốc từ bắc xuốngnam và từ tây sang đông
Khí hậu:
Khoái Châu có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từtháng 5 đến tháng 10, đặc trưng là nóng ẩm, mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11đến tháng 4 năm sau thường lạnh, đầu mùa khí hậu tương đối khô, nửa cuối
quân là 1.730 giờ Lượng mưa hàng năm từ 1800mm đến 2500mm, phân bốcho một số tháng như sau: tháng 5 mưa từ 90-150mm, tháng 6,7 mưa khoảng300mm, tháng 8 mưa từ 280 - 330mm Độ ẩm trung bình năm là 86%
Tài nguyên – khoáng sản:
+ Tài nguyên đất: Khoái Châu có diện tích đất tự nhiên là 13091,55km2,trong đó đất nông nghiệp có 8.779 ha chiếm 67,09% (đất canh tác là 7.280,9
ha chiếm 82,94% đất nông nghiệp), đất chuyên dùng 2.526,3 ha chiếm19,31% đất ở có 1.046,9 ha chiếm 8%, đất chưa sử dụng 733,83 ha chiếm5,61%
+ Tài nguyên sinh vật: Vốn là một huyện đồng bằng, không có núi và biển,
sự đa dạng sinh vật của huyện Khoái Châu còn nghèo nàn Thực vật thống kêđược có 500 loài, trong đó có 254 loài có giá trị kinh tế Tuy đa dạng loài cònnghèo nhưng những loài có giá trị kinh tế cao lại được nuôi trồng với số
Trang 9lượng lớn để đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và các địa phương khác Trong toànhuyện đã trồng được nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như: chuối TiêuHồng, các loại cây cảnh, cây làm thuốc,… Về động vật, huyện đã nuôi đượccác loại gia súc như: trâu, bò, lợn,…Các loài chim thường gặp như: chim sẻ,chim khuyên, chim chào mào,…còn có một số loại gia cầm như: gà, vịt,ngan,…Cá tự nhiên và cá nuôi trồng có giá trị kinh tế cao.
+ Nguồn nước: Khoái Châu nằm trong hệ thống sông Hồng là hệ thốngsông lớn nhất ở miền Bắc, do có nguồn nước phù sa bồi đắp đáp ứng nhu cầu
về phát triển kinh tế và dân sinh của huyện Từ độ sâu 50 - 110m, huyện cónguồn nước ngầm khá tốt Đây là điều kiện thuận lợi đảm bảo cho việc pháttriển các ngành kinh tế của huyện
+ Khoáng sản: Khoáng sản chính của Khoái Châu chỉ có nguồn cát vensông Hồng và một số đất sét sản xuất gạch ngói có thể phát triển khai thácphục vụ nhu cầu xây dựng Theo các tài liệu thăm dò địa chất, tại vùng đồngbằng sông Hồng trong đó có Khoái Châu tồn tại trong lòng đất một mỏ thannâu rất lớn nằm trong lớp trầm tích Nioxen với trữ lượng dự báo hàng trăm tỷtấn, nhưng ở độ sâu 300 - 1.700m Hiện nay, các nhà địa chất đang bắt tayvào khai thác loại khoáng sản quý giá này
1.1.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư:
Tính đến cuối năm 2013, dân số trung bình của huyện Khoái Châu là204.000 người, mật độ dân số là 1573 người / km², trong đó dân số nôngnghiệp là 170.685 chiếm 91,05 % Số lượng người trong độ tuổi lao động củahuyện có 93.535 người, chiếm 52,30 % dân số toàn huyện Lao động đanglàm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 91.571 người, chiếm 97,36 %lao động trong độ tuổi Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ chủ yếu (trên 80
%), còn lại là lao đông trong các ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại
Kinh tế và xã hội:
Trang 10Trong những năm qua, kinh tế của huyện Khoái Châu có mức tăng trưởngkhá Giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng trung bình của huyện từ 12,8– 12,20% tạo sự chuyển đổi rõ rệt về cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa - hiện địa hóa, trong đó giảm tỷ trọng của các ngành nông nghiệp vàtăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ
Tỷ lệ phát triển dân số giữ ổn định 1%, đảm bảo việc làm ổn định cho 95%lao động, trong đó số lao động được đào tạo chiếm 35 - 40%; 100% số xã, thịtrấn được phổ cập THCS, 90% phòng học kiên cố cao tầng Toàn huyện cótrên 70 làng văn hóa, 87% số trạm y tế xã, thị trấn có bác sĩ đạt tiêu chuẩn vàcấp nước sạch cho 100% dân cư trong toàn huyện
Cơ cấu kinh tế của huyện năm 2013 là:
Nông nghiệp: 37,67%
Thương mại và dịch vụ: 36,81%
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: 25,52%
Phấn đấu phát triển vững chắc công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làm độnglực cho phát triển nông nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực khác, đồng thời thúcđẩy quá trình tăng trưởng nhanh và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện theohướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDPngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng trên địa bàn đạt33,93% năm 2014
Về nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 đạtbình quân khoảng 8% Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp,tạo bước chuyển biến căn bản nền nông nghiệp của huyện theo hướng hiệnđại hóa, đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn
Về thương mại và dịch vụ: phát triển kinh tế dịch vụ theo hướng mở rộngngành nghề phục vụ sản xuất và đời sống, đồng thời giải quyết lao động tạichỗ Tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân gai đoạn 2006 – 2010 đạt khoảng35%, nâng tỷ trọng của ngành lên đáng kể
1.1.1.5 Điều kiện văn hóa
Trang 11Trên địa bàn toàn huyện Khoái Châu có rất nhiều di tích lịch sử - vănhóa và di vật quý mang dấu ấn của văn hóa tín ngưỡng bản địa Toàn huyện
có 139 di tích, trong đó có 74 di tích lịch sử - văn hóa, 34 di tích đã được xếphạng (23 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 11 di tích xếp hạng cấp tỉnh) với
92 lễ hội lớn nhỏ Đặc biệt là lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung ở đền Đa Hòa,
xã Bình Minh và đền Hóa – Dạ Trạch, xã Dạ Trạch nằm trong tuyến du lịchchính trên sông Hồng( sông Hồng – Phố Hiến) Đây là cụm di tích lịch sử -văn hóa mang đậm tín ngưỡng dân gian, có sự gắn kết chặt chẽ giữa tínngưỡng dân gian và văn hóa nông nghiệp lúa nước
Khoái Châu xưa cũng là đất học, toàn huyện có 23 nhà khoa bảng Ngàynay, truyền thống hiếu học của ông cha vẫn được lớp con cháu gìn giữ vàphát huy Nhiều người con Khoái Châu đã trở thành kỹ sư, bác sĩ, nhà khoahọc, nhà báo, sĩ quan cao cấp trong quân đội, cán bộ chủ chốt trong các cơquan của Bộ, Trung ương,… luôn tâm huyết đóng góp sức mình cùng cán bộ
và nhân dân Khoái Châu xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn
Nơi đây vẫn còn tồn tại một số làng nghề thủ công cổ truyền như: nghềmây tre đan, đóng thuyền, nghề mộc, nghề rèn, đúc đồng,…Các nghề thủcông thể hiện sự khéo léo của người dân, đồng thời qua một số nghề tiêubiểu, chúng ta còn nhận thấy một nét văn hóa sông nước rất đặc trưng củavùng
Về văn hóa ẩm thực, có thể kể đến như: bánh khúc, bánh tẻ, bánh trứngcốm, đậu phụ, chả gà Tiểu Quan, ếch om Phượng Tường, tương Bần, gàMạnh Hoạch,…
Các phong tục, tập quán, nghệ thuật cổ truyền ( hát chèo, hát trống quân,hát chầu văn,…) vẫn được nhân dân gìn giữ và bảo lưu theo hướng có chọnlọc, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội
1.1.2 Khái quát v đ n Đa Hòa, xã Bình Minh, huy n Khoái Châu, t nhề huyện Khoái Châu ề huyện Khoái Châu ện Khoái Châu ỉnh
H ng Yên.ưng Yên
1.1.2.1 Lịch sử hình thành
Trang 12Đền Đa Hòa còn gọi là đền Chính Đa Hòa hay Đa Hòa chính từ được xâydựng trên một khu đất cao, rộng, bằng phẳng hình chữ nhật có diện tích18.720 mét vuông, mặt quay hướng chính Tây, xưa thuộc tổng Mễ, huyệnĐông Yên, phủ Khoái Châu, nay thuộc xã Bình Minh, huyện Khoái Châu,tỉnh Hưng Yên.
Từ xa xưa, tại bến Đa Hòa nơi nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên bên kia sôngHồng, dân chài lưới lập một hành đài thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung Cácnhà buôn mỗi lần đi qua đây để lên Kẻ Chợ hoặc xuống Phố Hiến cất hàng,bán hàng đều dừng thuyền lên đền thờ vọng này thắp hương khấn cầu ChửĐồng Tử - Tiên Dung phù hộ Và các quan đại thần được cử về đền Hóa – DạTrạch dâng hương, có năm không vào được đền , tổ chức lễ dâng hương ngaytại hành đài này Ngôi đền nhỏ, cheo leo trên bờ sông dốc đứng nhưng ngàyđêm rực rỡ hương đăng, tấp nập khách thập phương lễ bái
Chính trên cơ sở ngôi đền này, năm 1894, tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, ngườilàng Phú Thị, tổng Mễ Sở đã xuất thần nảy ra ý tưởng xây dựng hành đài trởthành một ngôi đền lớn, đền chính Chu Mạnh Trinh khiêm tốn khắc vào bia
đá rằng đây chỉ là một sự tiếp nối, trùng tu, thực ra, ông đã thiết kế chỉ huyxây dựng một ngôi đền hoàn toàn mới, lớn và đẹp hơn hẳn đền cũ, với ý đồtáo bạo nhằm biến nơi này thành một thắng cảnh, di tích lịch sử đồng thời làmột nơi mở hội rước, thỏa mãn nhu cầu văn hóa dân gian
Hiện nay, đền Đa Hòa tọa lạc tại thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện KhoáiChâu, tỉnh Hưng Yên Từ Hà Nội có thể đi xuôi dòng sông Hồng khoảng 20
km, tới bãi Tự Nhiên, bến Bình Minh hoặc có thể đi đường bộ, qua cầuChương Dương, rẽ phải đi theo đường đê khoảng 25 km là tới đền
1.1.2.2 Kiến trúc
Đền Đa Hòa được chia làm 3 khu vực chính gồm: khu ngoài, khu giữa vàkhu trong
Khu ngoài: Rộng 7.200 mét vuông, khoáng đạt, không có tường rào bao
quanh Kiến trúc chủ yếu của khu ngoài là nhà bia Đây là một cái lầu, cửa
Trang 13trổ ra tất cả bốn hướng, hai tầng, tám mái, mang những thông số dịch học.Nhà bia dựng ngay trên kè đá sát mép bờ sông dốc cao Cửa tây của nhà bia
nhìn thẳng ra mặt sông, tự tay Chu Mạnh Trinh viết ba chữ đại tự “Trấn Giang Lâu” Nhưng sở dĩ người dân thường nôm na gọi là nhà bia vì tại đây
có dựng bia đá trùng tu đền Đa Hòa nhưng là một áng văn tuyệt tác ghi lạicuộc nhân duyên kỳ ngộ trên cát cỏ của Chử Đồng Tử - Tiên Dung
Từ nhà bia, một con đường lát gạch rộng 8m dẫn thẳng vào trong đền, haibên là hai hàng cây thiêng, loại cây gạo thân trắng bạc, mọc vút cao Đặc biệtvào ngày 10 tháng 2 âm lịch, ngày đền mở hội, cây trút sạch lá, nở đầy cànhnhững bông hoa rực lửa như hai hàng đèn treo ngang trời, như những mâm lễvật dâng tiến Những cây gạo này đều có tuổi thọ ngang tuổi ngôi đền
Khu giữa: Rộng 3.400 mét vuông Khu giữa được mở ra từ cổng đền là
hai cột trụ cao, xây thẳng vút, trên mỗi đỉnh cột là một con nghê ngoảnh mặtvào lối đi, ngày đêm canh gác ngôi đền
Dọc hai cột trụ là hai câu đối có ý nghĩa như câu mở đầu một bài ĐườngThi, như lời giới thiệu trước khi du khách bước vào thế giới tâm tưởng:
"Phượng giá hồng sơn kim đỉnh đan thành phong vũ dạ
Hạc quy hoa biểu ngọc tuyết linh bí thủy vân gia"
Từ cổng đền, con đường lát gạch rộng 8m, chia khu giữa thành hai khunhỏ với những tán đa, vòm nhãn xanh đậm, hai bên lối đi có lầu chuông ởbên phải và gác khánh ở bên trái
Chuông đền Đa Hòa đúc bằng đồng, cao 1.5m Khánh bằng đá, chiềungang 1.2m Lầu chuông và gác khánh đều được xây một kiểu giống nhà bia,nhấn đậm lần nữa tư duy triết học Dịch Một năm chỉ có vài lần chuông,khánh đền Đa Hòa ngân nga Nghe trống tế giục giã, nghe chuông, khánh dậpdìu, trai gái hai bờ sông Hồng đổ về dự hội đền, xem rước Ngày hội tan, các
cụ già chống gậy lên đê ngồi nghe chuông, khánh đền Đa Hòa vang vọng tiễnThánh về trời
Trang 14Khu trong: Đây mới là khu trung tâm, là kiến trúc đặc sắc chủ yếu của
thắng cảnh Đa Hòa
Mở đầu là Ngọ Môn cao, rộng, gồm ba gian, ba cửa Cửa chính chỉ mởtrong những ngày đại lễ Cổng Ngọ môn treo bức đại tự bốn chữ lớn sơn son
thiếp vàng "Bồng lai cung khuyết " Bước qua Ngọ môn là bước vào thế giới
của tâm tưởng, của Tiên, của Đạo
Toàn bộ cung điện thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung bao gồm 18 nóc đềntượng trưng cho 18 đời vua Hùng Các nóc đều hình con thuyền, mũi cong,chia từng khoang đều đặn Từ dưới sông nhìn lên, từ trên đê nhìn xuống đềuthấy các mái đền nối tiếp nhau như một đoàn thuyền đang nhấp nhô ẩn hiện Qua sân Đại là nhà Đại tế, tiếp đến sân Chầu, tòa Thiên Hương bấy giờmới tới cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam và Hậu Cung Nối liền các nóc là thảo xá,thảo bạt, nhà ngựa, nhà pháo đối diện nhau qua sân Đại, sân Chầu Đây làkiến trúc kiểu cung đình thời nhà Nguyễn, thế kỷ 19, lại biểu hiện rất rõ sựdung hợp hài hào giữa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, đậm đà màu sắc dântộc Việt Nam
Nét độc đáo của khu đền là tòa Thiên Hương (hương trời) Một lần nữatác giả công trình nhấn đậm tiết lý Dịch học với tám mái cong, hai tầng, támcột gỗ vuông đỡ ở bốn góc Các đấu kê xà ngang, xà dài được đẽo gọt hình
"con vác" mặt rồng, mình sư tử Còn các búp sen đều nghiêng xuống nhưTrời đang ban hương xuống cho chúng sinh Tòa Thiên Hương treo bức đại
tự ba chữ lớn, sơn son thiếp vàng: Giao Quang Các (nơi ánh sáng hội
tụ) Một đôi câu đối, chỉ với 36 từ nhắc lại mối nhân duyên kỳ ngộ ngàn nămtrước của Chử Đồng Tử - Tiên Dung:
"
Hóa cảnh thị hà miên, tự nhiên vi châu, nhất dạ thành trạch
Kỳ duyên khoáng thiên cổ, nhân gian phu phụ, thiên thượng thần tiên ".
văn hoa hàm súc, khẳng định vị trí thần thánh của Chử Đồng Tử - Tiên Dung:
"Nam Hải dị nhân ", "Hộ quốc an dân ", "Danh cao thiên cổ ", Ở đây có bàn
Trang 15thờ thân phụ, thân mẫu Chử Đồng Tử, ban thờ Công Đồng, hai dãy ban thờhướng vào chính diện trên để 8 bát nhang thờ thành hoàng 8 xã của tổng Mễ
Sở xưa Ngày hội, các xã rước kiệu thành hoàng làng mình về đây, làm lễthánh
Hiện nay đền Chính Đa Hòa còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như:
- Đôi lọ Bách thọ: là hai chiếc lọ gốm cổ, nhiều màu sắc, vân hoa nổi 100chữ thọ, mỗi chữ một kiểu, một nét khác nhau Đôi lọ gốm này có từ thời nhàLý
- Hai đôi câu đối cao khoảng 80 cm, ghi: "Mễ Sở hương, thái úy Trần Ngô Lương bái tiến " và " Mễ Sở hương đội trưởng Trần Dư bái tiến ".
- Các ngai thờ, công trình điêu khắc gỗ thế kỷ 17, 18
- Văn bia, bút tích của Chu Mạnh Trinh
- Tại ban thờ nhà thơ Chu Mạnh Trinh, công trình sư đền Đa Hòa, là thần
hộ đền, có cây đàn thập lục sinh thời ông từng gảy
- Các kiệu bát cống, thất cống, khám, ngai, ỷ thờ, hạc đồng, đỉnh đồng
Và đặc sắc nhất, trong hậu cung là tượng thờ Chử Đồng Tử Tiên Dung Nội Trạch Tây Cung các pho tượng có độ cao, ngang bằng nhau, ngồi trênngai sơn son thiếp vàng, trạm bong kênh rất tinh sảo Điều đáng kể ở đây cónhững 6 pho tượng, đều là tượng đức thánh Chử và Nhị vị phu nhân, ba photượng bên trong bằng đồng, ba pho tượng bên ngoài bằng gỗ Hiện nay cả 6pho tượng đều đặt trong khám thờ ở Hậu Cung đền Đa Hòa
-Với những giá trị tiêu biểu hiện hữu, đền Đa Hòa đã được nhà nước côngnhận là di tích “ Lịch sử kiến trúc nghệ thuật ” cấp quốc gia năm 1962
1.1.2.3 Ý nghĩa của đền Đa Hòa
Cảm động trước mối tình bất tử giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung côngchúa, đền thờ hai người được nhân dân xây dựng ở nhiều nơi trên địa bànvùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, chủ yếu là các làng ven sông Hồng, như-
ng đền thờ chính, nổi tiếng nhất là đền Đa Hoà thuộc xã Bình Minh, huyệnKhoái Châu, Hưng Yên Đền không chỉ là một di tích lưu truyền và lan toả về
Trang 16một thiên tình sử hàng ngàn năm nay mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp mà còn
có giá trị đặc biệt về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Nguyễn, do tiến sĩChu Mạnh Trinh người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủKhoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên)đứng ra vận động nhân tài, vật lực của nhân dân Tám thôn tổng Mễ cùng thậpphương công đức để xây dựng, tôn tạo năm 1894 trên nền một ngôi đền cổ.Ngôi đền càng được tôn thêm vẻ đẹp cổ kính, rêu phong với sông nước bao
la, cổ thụ bốn mùa xanh tốt Cây cối nơi đây cũng được chọn lọc để tập trungvào khẳng định sự bất tử của Đức thánh Chử Đồng Tử cũng như mối tìnhtuyệt mỹ của ngài với công chúa Tiên Dung Xen vào đó là những lời hay, ýđẹp và tình yêu bất tử của con người thể hiện qua mỗi lời, mỗi chữ trênnhững bức hoành phi, câu đối của những bậc cao nhân, mặc khách mọi thời
1.2 Khái quát về lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung.
1.2.1 Lý do tổ chức lễ hội
Chử Đồng Tử đi vào tâm thức dân gian không chỉ là người con hiếu thảo,nhân ái, thuần hậu, chinh phục được lòng người, mà còn là biểu tượng chochí hướng phát triển của cả cộng đồng Sau khi nên vợ nên chồng, Chử Đồng
Tử và Tiên Dung công chúa đã cùng nhân dân cải tạo vùng đầm lầy, lau sậybạt ngàn thành những cánh đồng tươi tốt, cùng làm ăn, sinh sống Đức thánhChử Đồng Tử còn được tưởng nhớ là ông tổ nghề buôn, thông thương, giaolưu buôn bán với nước ngoài và còn có công truyền đạo Phật cho nhân dân.Công chúa Tiên Dung đã dạy nhân dân cách trồng lúa, trồng dâu, nuôi tằm,ươm tơ dệt vải và hát Trống Quân Hàng năm, trong những ngày diễn ra lễhội, những nghệ nhân thường hát Trống Quân để tưởng nhớ công ơn của các
vị thánh Sau khi Chử Đồng Tử se duyên với Tây Sa công chúa – một ngườirất giỏi về bùa chú, phép thuật, cả ba vị cùng nhau đi khắp nơi chữa bệnhgiúp đời
Tưởng nhớ công lao to lớn của Đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phunhân là Tiên Dung công chúa và Tây Sa công chúa, rất nhiều nơi đã lập đền
Trang 17thờ và tổ chức lễ hội hàng năm như một lời nhắc nhở lớp con cháu luôn phấnđấu xây dựng quê hương đất nước ngày thêm giàu đẹp, xứng đáng với côngsức gây dựng của cha ông.
Theo thông lệ, hằng năm lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung (hay còn gọi là
lễ hội Đa Hòa - Dạ Trạch) được tổ chức từ ngày 10 đến hết ngày 12 tháng 2
âm lịch ở hai ngôi đền lớn là đền Chính Đa Hòa (xã Bình Minh) và đền Hóa– Dạ Trạch (xã Dạ Trạch), huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Nếu là lễ hộihàng tổng (tổng Mễ xưa có 9 làng) thì được tổ chức 3 năm một lần với quy
mô lớn
1.2.2 Ti n trình l h i.ến trình lễ hội ễ hội ội
Sáng sớm ngày 10 tháng 2 âm lịch, tại 8 ngôi đền ở 8 thôn, nhân dânđịa phương tập hợp chuẩn bị rước thành hoàng làng của thôn mình về dự hộiđền Chính Đa Hòa Cuộc rước kiệu của 8 thôn xuất phát từ nhiều hướng theo
đê sông Hồng tiến về đền Đa Hòa Đoàn rước của 8 thôn gặp nhau đều cónghi lễ chào Khi tới điểm quy định, đoàn rước của thôn Đa Hòa ( nơi có đền
Đa Hòa) ra nghênh đón, nhập vào thành một đoàn rước lớn tiến về đền làm
lễ Thứ tự đoàn rước như sau: Hoàng Trạch, Đồng Quê, Bằng Nha, Phú Thị,Phúc Trạch, Thiết Trụ, Nhạn Tháp, Đa Hòa và cuối cùng là Mễ Sở Đoànrước của 9 thôn thuộc hai xã Bình Minh và Mễ Sở lần lượt tiến vào đền tế lễtrong niềm hân hoan của khách hành hương trẩy hội Những năm không phải
lễ hội hàng Tổng, chỉ có ba thôn trong xã Bình Minh (Đa Hòa, Thiết Trụ,Bằng Nha) tham gia lễ hội Sau khi an vị thánh tại bàn thờ các tôn thần, kiệucùng các đồ rước tập kết tại nơi quy định, thành viên các đoàn rước và kháchhành hương ra sân Đại tế làm lễ khai hội Đại diện ban tổ chức lễ hội đọcdiễn văn khai mạc và cùng nhân dân ôn lại mối thiên duyên giữa Chử Đồng
Tử, Tiên Dung công chúa và Tây Sa công chúa
Tiếp đến là nghi thức “rước nước”, tức là lấy nước từ sông Hồng mang vềđền lễ thánh Theo tụ lệ, nước dùng để cúng và tắm tượng phải là nước được
Trang 18lấy ở giữa sông Hồng Người đại diện cho dân làng lấy nước là một cụ già cóđức độ trong làng Dâng nước là hình thức tâm linh, cầu nguyện một nămmưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, bội thu Lực lượng tham gia nghi thứcnày gọi là “giai nô”, có tới hàng trăm người được biên chế theo các đội như:đội tế nam gồm các vị trung niên trở lên; đội múa sinh tiền gồm các thiếu nữtuổi khoảng 13 – 14; ban nhạc lễ; đội múa rồng; đội khiêng kiệu long đình,kiệu chóe nước, kiệu đặt nón và gậy, kiệu rước ba vị Thánh, lực lượng chèothuyền,… Đi đầu đám rước là con rồng vàng lộng lẫy, uy nghi được hơn chụcthanh niên khỏe mạnh thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi khiến cuộcrước thật tưng bừng Dẫn đầu đoàn rước kiệu là các bà, các chị trang phục đủmàu sắc rực rỡ, tay cầm cờ hội, miệng nhai trầu bỏm bẻm Sau đám rướcrồng là ban nhạc lễ , kiệu Thánh có lọng che hai bên cùng bát bửu, chấp kích
do trai thanh, gái lịch trong làng rước Kiệu chóe bằng sứ có bệ đỡ, có lọngche treo trên bốn dải lụa buộc dưới đáy chóe, luôn được hai cụ già đi hai bêngiữ cho cân bằng Hàng đoàn người trong trang phục ngày hộ nối tiếp nhautheo đám rước tới bờ sông Bên kia sông, trên bãi cát Tự Nhiên – nơi ChửĐồng Tử và Tiên Dung gặp nhau cũng cờ xí rợp trời Chiếc thuyền mangchóe bắt đầu ra giữa sông để lấy nước Những gáo nước múc giữa dòng đượcđựng vào chóe cho đến khi đầy và được đậy nắp cẩn thận Xong việc, đoànthuyền quay vào bờ trong tiếng trống, chiêng, tiếng mái chèo làm náo động
cả làng người Sau khi lấy được nước từ sông Hồng, các kiệu trở về đền lễThánh Đám rước lại tiến hành theo thứ tự lúc đi, theo sau hai con rồng trở vềđền Nước được mang về, một phần dùng để cúng, phần còn lại để rửa các đồ
tế lễ và tắm cho tượng thánh Người ta gọi nghi lễ này là lễ “mộc dục” hay lễtắm tượng Sau khi lễ tắm tượng kết thúc, một nghi lễ khác được tiến hành đó
là lễ tế gia quan, tức là lễ mặc áo và đội mũ cho tượng thánh
Tiếp đó là lễ dâng hương, được cử hành trước ban thờ lớn Dân làng chọn
ra một cụ ông và một cụ bà đẹp lão, có uy tín trong làng dẫn đầu đoàn dânghương Sau hai cụ là một nhóm các bà biết tụng kinh niệm phật, thuộc kinh
Trang 19kệ trong những chiếc áo dài màu sắc sặc sỡ đồng thanh đọc bài “Quang Minh
tu đức”, “ Nam mô Chử Đồng Tử tiên ông chí đức đại tiên thiên ngọc bệhạ”, Tiếp đó là đội múa sinh tiền do các em gái từ 13 – 14 tuổi trong trangphục màu sắc rực rỡ thực hiện, trên vai mỗi em vắt một chiếc khăn lụa dài cótua ở hai đầu Khi múa, dải lụa phất phơ như hình cánh tiên Bé gái đi đầu,đặt trên vai hai bầu nước và đầu đội một đĩa cau trầu trong tiếng nhạc sinhtiền rộn rã Người dân trong vùng gọi điệu múa này là múa tiên hay múa cánhtiên cũng bởi lẽ đó
Sau lễ dâng hương, các trò chơi dân gian diễn ra sôi nổi tại sân đền, thu hútđông đảo người tham gia như: bịt mắt bắt dê, đánh cờ người, chọi gà, đậpniêu, đi cầu kiều,…Các trò chơi này được kéo dài trong suốt ba ngày diễn ra
lễ hội Ngoài các trò chơi dân gian, trong lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dungcòn có các hoạt động diễn xướng dân gian, văn nghệ quần chúng như: hátTrống Quân, hát Chèo, Tuồng,… có năm còn tổ chức thi thơ Cụ thể, mỗithôn sẽ tự thành lập những đội văn nghệ của thôn mình và tổ chức tập luyệncác tiết mục văn nghệ để trình diễn trong lễ hội Bên cạnh đó, Ban quản lý lễhội còn tổ chức các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao như: đua thuyền, đấuvật, múa rồng, bơi chải, cầu lông,…đáp ứng nhu cầu hưởng thụ những giá trịvăn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư Từ đó giáo dục các thế
hệ sau biết cách giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống quý báu củadân tộc
Kết thúc hội là lễ giã đám hay lễ “xuất tịch” Đây là một buổi đại tế cuốicùng Ban tổ hức sẽ tiến hành lễ tạ thánh, thu dọn các đồ tế lễ và trang phục,sau đó quét dọn và đóng cửa đền
Trang 202.1.1 Th c tr ng qu n lý, t ch c ho t đ ng c a l h i.ực trạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ổ chức hoạt động của lễ hội ức hoạt động của lễ hội ạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ội ủa lễ hội ễ hội ội.
Hoạt động của lễ hội thường gồm 2 dạng hoạt động chính là hoạt độngthuộc phần lễ và hoạt động thuộc phần hội
Các hoạt động thuộc phần lễ của lễ hội thường gồm: các nghi lễ, nghi thức
tế, lễ rước, dâng hương, dâng lễ, Một số lễ hội còn có các sinh hoạt tínngưỡng mang tính riêng như: hầu đồng, phát ấn
Các hoạt động thuộc phần hội của lễ hội thường gồm: các diễn xướng dângian và đương đại, các trò chơi, trò diễn, các chương trình nghệ thuật
Quản lý và tổ chức hoạt động của lễ hội tốt là vừa đảm bảo được tínhthiêng của các nghi lễ cổ truyền, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp, tínhnghiêm cẩn, thiêng liêng của lễ hội, đồng thời tránh được những biểu hiệncủa mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lừa đảo, Bên cạnh đó, phải làmsao cho các hoạt động hội hè đáp ứng được nhu cầu sáng tạo và hưởng thụvăn hóa của người dân, vừa phải là những sinh hoạt văn hóa phong phú, hấpdẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, vừa đảm bảo tính giáo dục, nhân văn
và lành mạnh
Trang 212.1.1.1 Quản lý và tổ chức các hoạt động thuộc phần lễ của lễ hội.
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại đền Đa Hòa chịu sự quản lý của Ủyban Nhân dân xã Bình Minh, và trực tiếp là Ban quản lý lễ hội xã Bình minh,huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Theo ông Đỗ Nhiệt Tình - Trưởng Banquản lý lễ hội xã Bình Minh cho biết: trong những năm qua, các nghi lễ vànghi thức trong lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung được thực hiện đầy đủ,trang trọng và thành kính để tưởng nhớ công lao to lớn của Đức thánh ChửĐồng Tử và Nhị vị phu nhân
Nghi lễ rước Thành hoàng làng của các thôn vào đền lễ thánh, lễ tắmtượng và lễ dâng hương được tổ chức đều đặn mỗi dịp lễ hội nhằm bày tỏlòng thành kính của nhân dân đối với ba vị thánh, đồng thời còn thể hiện sựđồng lòng, đoàn kết của các thôn trong việc tổ chức lễ hội
Nghi thức “rước nước” là một biểu hiện của tín ngưỡng cầu nước của cưdân nông nghiệp Thể hiện mong ước của người dân về một năm mưa thuậngió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nghi thức này vẫnđược thực hiện với đầy đủ các bước theo quy định truyền thống
2.1.1.2 Quản lý và tổ chức các hoạt động thuộc phần hội của lễ hội
Đại diện Ban quản lý lễ hội, ông Đỗ Nhiệt Tình còn cho biết thêm: Bêncạnh việc duy trì các nghi thức và nghi lễ truyền thống, các trò chơi dân giantrong lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung cũng được tổ chức đều đặn hàng năm,
có chọn lọc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm nhằm tạo bầu khôngkhí vui tươi, thoải mái, hứng khởi cho nhân dân địa phương cũng như kháchhành hương tham dự lễ hội Các trò chơi như: bịt mắt bắt dê, đập niêu, chọi
gà, đi cầu kiều,… thu hút chủ yếu là thanh niên và thiếu nhi tham gia với mụcđích giải trí, rèn luyện sức khỏe, thể hiện sự khéo léo, nhanh nhẹn của ngườichơi để giành được phần thắng cũng như giải thưởng của mỗi trò chơi Mặtkhác, các trò chơi như: đánh cờ người, đấu vật,… lại nhằm mục đích thi tàihay thi sức là chủ yếu, cùng với đó cũng là để giải trí, khích lệ các kỹ năngnhư: sức mạnh, sự dẻo dai và trau dồi kiến thức cho người chơi Những
Trang 22người tham gia trò chơi này chủ yếu là bậc cao niên, trung niên, và một sốthanh niên trong làng với sự hiểu biết khá rõ về trò chơi Ban tổ chức các tròchơi dân gian trong lễ hội thường là những người am hiểu về thể lệ chơi, đốitượng tham gia, số lượng người tham gia,… và họ cũng chính là người đặt raphần thưởng cho người thắng cuộc trong mỗi trò chơi Các trò chơi dân giantrong lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung được tổ chức theo đúng thể lệ chơinhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch và tạo cảm giác hứng thú, cho ngườichơi.
Trong quá trình diễn ra lễ hội, Ban quản lý lễ hội còn tổ chức các hoạtđộng diễn xướng dân gian như: hát Trống Quân, hát chèo,…, có năm tổ chứcthi thơ; các chương trình ca nhạc, văn nghệ quần chúng Năm 2013, hưởngứng năm du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng – Hải Phòng, Ban tổ chức lễhội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật:
“Chử Đồng Tử - Tiên Dung thiên tình ca bất tử”; các hoạt động thể dục thểthao như: đua thuyền, bơi chải, đấu vật, cầu lông, múa rồng,…nhằm tạo sự đadạng trong các hoạt động lễ hội và tạo không khí mới mẻ cho lễ hội
2.1.2 Th c tr ng qu n lý tài chính c a l h i.ực trạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ủa lễ hội ễ hội ội
Quản lý tài chính của lễ hội thường gồm hai hoạt động chính:
Thứ nhất: hoạt động tiếp nhận các khoản thu từ lễ hội và huy động cácnguồn vốn xã hội hóa như: tiền công đức, tiền hương đèn; nguồn thu từ cácloại dịch vụ và các nguồn vốn xã hội hóa khác,
Thứ hai: hoạt động quản lý việc sử dụng, chi tiêu, phân bổ các nguồn vốnthu được từ lễ hội sao cho hiệu quả và không xảy ra các tiêu cực, lãng phí,không minh bạch,…
2.1.2.1 Quản lý và tổ chức hoạt động tiếp nhận các khoản thu từ lễ hội vàhuy động các nguồn vốn xã hội hóa
Theo ông Đỗ Nhiệt Tình - Trưởng Ban quản lý lễ hội xã Bình Minh, kinhphí tổ chức lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung được lấy chủ yếu từ nguồn tiềncông đức và một phần là nguồn thu từ các loại dịch vụ trong lễ hội Ban tổ
Trang 23chức lễ hội thành lập một tiểu ban tài chính, có nhiệm vụ quản lý nguồn côngđức trong suốt thời gian diễn ra lễ hội nhằm đảm bảo sự chính xác, minhbạch và công khai Vào ngày thường, tại đền Đa Hòa – nơi diễn ra lễ hội, mộtban quản lý tài chính riêng có nhiệm vụ trông coi, kiểm kê, bảo quản hòmcông đức Số tiền thu được sẽ do Ban quản lý tài chính cất giữ để phục vụcông tác chuẩn bị tổ chức lễ hội.
Bên cạnh khoản thu chính từ nguồn công đức, Ban tổ chức lễ hội còn huyđộng các nguồn vốn xã hội hóa khác như: cho thuê địa điểm kinh doanh cácloại hình dịch vụ, hàng hóa trong lễ hội như: ăn uống, trò chơi giải trí, quàlưu niệm, các mặt hàng nông sản của địa phương,…; vận động nhân dân cácthôn đóng góp ,… để tổ chức lễ hội
2.1.2.2 Quản lý và tổ chức hoạt động sử dụng, chi tiêu, phân bổ các nguồnvốn
Tiểu ban quản lý tài chính do Ban tổ chức lễ hội thành lập còn có nhiệm vụquản lý và tổ chức hoạt động sử dụng, chi tiêu, phân bổ các nguồn vốn thuđược từ lễ hội Công việc này được thực hiện theo một quy trình thống nhất,chặt chẽ và hợp lý sao cho nguồn vốn đó được sử dụng hiệu quả, không lãngphí, tiêu cực Nguồn vốn được sử dụng vào việc chuẩn bị tổ chức lễ hội như:sửa sang đền; đồ tế lễ, trang phục của các thánh; tượng thánh, kiệu, ngai thờ,chóe đựng nước; chiêng, trống, cờ và các đồ dùng, dụng cụ phục vụ các nghi
lễ và trò chơi dân gian trong lễ hội
2.1.3 Th c tr ng qu n lý an ninh- xã h i c a l h i.ực trạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ạng quản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội ội ủa lễ hội ễ hội ội
Lễ hội thường là nơi thu hút rất đông nhân dân và du khách thập phương,
từ hàng vạn đến hàng nghìn người, do đó rất dễ xảy ra chen lấn, xô đẩy, mấttrật tự an ninh, ùn tắc giao thông, tai nạn; dễ diễn ra các hiện tượng tiêu cựcnhư: móc túi, lừa đảo, bắt chẹt khách, cờ gian bạc lận, bói toán,
Quản lý tốt vấn đề an ninh - xã hội của lễ hội là đảm bảo an ninh trật tự, antoàn giao thông, phòng chống cháy nổ, trông coi phương tiện đi lại, Bên
Trang 24cạnh đó, lễ hội cũng là nơi dễ dẫn đến các vấn đề về vệ sinh, an toàn thựcphẩm, rất cần tới công tác kiểm tra, giám sát vệ sinh và y tế,
2.1.3.1 Quản lý an ninh trật tự và an toàn giao thông tại lễ hội
Vấn đề an ninh trật tự và an toàn giao thông luôn được Ủy ban nhân dân xãBình Minh chú trọng và quan tâm đúng mức Đặc biệt, trong thời gian diễn ra
lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung vấn đề an ninh trật tự và an toàn giao thôngđược chính quyền xã thực hiện nghiêm ngặt Lực lượng công an, an ninh xã,đội dân quân tự vệ là những người trực tiếp thực hiện công việc này Trưởngcông an xã là một thành viên trong ban quản lý di tích đền Đa Hòa Banngày, lực lượng công an và an ninh xã được bố trí khắp các con đường dẫnđến lễ hội có nhiệm vụ đảm bảo các phương tiện lưu thông ổn định, tránhhiện tượng ùn tắc và tai nạn giao thông; đồng thời xử lý kịp thời nhữngtrường hợp vi phạm Luật giao thông như: lạng lách, đánh võng, vượt đèn đỏ,không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, Một bộ phận cùng vớiđội dân quân tự vệ xã có mặt tại đền Đa Hòa – nơi diễn ra lễ hội để đảm bảo
an ninh trật tự, tránh hiện tượng xô xát, đánh nhau, cướp giật đồ, móc túi,…Buổi tối, lực lượng này vẫn hoạt động liên tục và có thêm một bộ phận tuầntra xung quanh khu vực diễn ra lễ hội và khu dân cư trong khi lễ hội diễn racũng như sau khi kết thúc để đảm bảo an toàn cho người dân địa phương vàkhách hành hương đễn lễ hội Ngoài ra còn có bộ phận địa chính và các cụtrong đền tham gia hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự giúp lễ hội được diễn rathành công Đây là điều khiến khách hành hương cũng như nhân dân địaphương thấy hoàn toàn yên tâm khi tham dự lễ hội Chử Đồng Tử - TiênDung
2.1.3.2 Quản lý phòng chống cháy nổ tại lễ hội
Phòng chống cháy nổ tại lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung do tiểu banphòng chống cháy nổ thuộc Ban quản lý lễ hội xã Bình Minh quản lý Côngviệc này được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Tại đền Đa Hòa có các điểmđặt bình cứu hỏa, lực lượng phòng cháy chữa cháy thường xuyên túc trực để