1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào CaiĐánh giá và giải pháp nhằm nâng cao công tác Đội và phong trào Thiếu nhi ở Huyện Đoàn Sóc Sơn.

50 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của đề tài được chia làm ba chương chính: Chương 1: Khái quát về người H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai Chương 2: Vai trò của phụ nữ H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai đối với quá trình sản xuất và sử dụng bộ trang phục truyền thống. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ H’mông trong việc bảo tồn trang phục truyền thống hiện nay ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài báo cáo, ngoài việc nỗ lực của bản thân, và nhận được

sự giúp đỡ của thầy cô trong khoa Văn Hóa Dân Tộc thiểu số Đặc biệt em xin bày

tỏ tấm lòng biết ơn đến Giảng viên - người đã trực tiếp hướng dẫn trong quá trìnhthực hiện đề tài

Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng Văn hóa huyện Si Ma Cai ,các cán bộ , người dân trong xã đã nhiệt tình cung cấp thông tin và số liệu cho

Do hạn chế về nhiều mặt, chắc chắn bài báo cáo còn nhiều thiếu sót.Vậy mong nhận được sự đống góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài báo cáođược đầy đủ hơn

Xin chân thành cảm ơn

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

1.1 Đặc điểm tự nhiên

1.2 Đặc điểm xã hội

1.3 Khái quát về người H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

1.3.1 Nguồn gốc lịch sử

Trang 2

1.3.2 Cấu trúc và phân bố dân cư

1.3.3 Tập quán mưu sinh

1.3.4 Xã hội truyền thống

1.3.5 Đặc điểm văn hóa vật chất

1.3.6 Đặc điểm văn hóa tinh thần

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ H’MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI,TỈNH LÀO CAI ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG BỘTRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG

2.1 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình sản xuất nguyên liệu dệt

2.2 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình dệt, nhuộm

2.3 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình may và trang trí hoa văn

2.4 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình sử dụng bộ trang phục

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦAPHỤ NỮ H’MÔNG TRONG VIỆC BẢO VỆ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNGHIỆN NAY Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

3.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về bảo tồn Văn hóa truyền thống

3.2 Thực trạng về quá trình sản xuất và sử dụng bộ trang phục truyền thốngcủa người H’Mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

3.3 Nguyên nhân của sự biến đổi trang phục truyền thống của người H’Mông

ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

3.4 Vai trò hiện nay của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thốngcủa người Hmông ở huyện Si Ma Cai

3.5 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ H’mông ở Si

Ma Cai trong việc bảo tồn trang phục truyền thống

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người Hmông là một trong 54 tộc người đang sống trên lãnh thổ ViệtNam Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Hmông sáng tạo ra những giá trịvăn hóa vô cùng đặc sắc, góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú

Về mặt ý nghĩa khoa học, dưới góc độ văn hóa, lịch sử nghiên cứu trangphục sẽ góp phần làm sáng tạo thêm những nét đặc trưng người và các mối quan hệliên quan Từ đó có thêm những cứ liệu khoa học, làm cơ sở vững chắc cho việcbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa H’mông ở huyện Si Ma Cai

Về ý nghĩa thực tiễn, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập quốc tế, sự biến đổi kinh tế kéo theo những biến đổi về mặt vănhóa và lối sống, nếp sống trong đó, biến đổi về trang phục đang diễn ngày cangmạnh mẽ Xu hướng hòa đồng về lối sống, đặc biệt về trang phục ngày càng tăng.Đây là vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với việc nghiên cứu về trang phục của dân

Trang 4

tộc nói chung và dân tộc H’mông ở Si Ma Cai nói riêng, có ý nghĩa thực tiễn lớnlao nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống của người Hmông ở Si Ma Cai trong bốicảnh giao lưu và hội nhập ngày nay.

Là một sinh viên ngành Văn hóa dân tộc thiểu số kiến tập tại huyện Si MaCai tôi nhận thấy sự biến đổi trang phục của dân tôc H’mông ngày một bị biến đổi

và mất dần Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai” với mong muốn góp phần giới thiệu về một nét văn hóa về dân tộc H’mông

và góp phần bảo tồn vào việc bảo tồn văn hóa truyền thống thông qua trang phụccủa người Hmông ở huyện Si Ma Cai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang phục truyền thống của người H’mông đã được đề cập trong một sốcông trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả như: Văn hóa các dân tộc thiểu sốvùng Tây Bắc của Trần Bình

Tuy nhiên, riêng trang phục của người Hmông ở huyện Si Ma Cai thì từtrước tới nay chưa có công trình hoặc bài viết nào đi sâu vào miêu tả một cánh cụthể, chi tiết Vì thế, đây cũng là một trong những lý do khiến em chọn đề tài này vàđịa điểm để nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm tìm hiểu hiểu thực trạng biến đổi trang phục và sự suy giảm

về việc mặc trang phục truyền thống của H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Caicũng như vai trò của người phụ nữ H’mông trong việc bảo tồn trang phục truyềnthống hiện nay Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp phát huy hơn nữa vai trò củaphụ nữ Hmông ở huyện Si ma Cai trong việc bảo tồn trang phục truyền thống

Trang 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trangphục của người phụ nữ H’mông cũng như các hoạt động liên quan đến ngườiH’mông

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

5.Phương pháp nghiên cứu

Trong bài viết này, phương pháp thực hiện được đề tài sử dụng chủ yếu làphương pháp điền dã Dân tộc học, điều tra, điền dã thực địa, quan sát, phỏng vấn,phân tích, quan sát, thu âm, ghi chép,

Để bổ sung thêm tư liệu cũng như để so sánh đối chiếu, tác giả có sử dụngviệc nghiên cứu thư tịch (sách, báo, tư liệu trên internet )

6.Đóng góp của đề tài

Đề tài đóng góp về mặt tư liệu trong việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữH’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai trong việc bảo tồn trang phục truyềnthống

Chỉ ra được những giá trị truyền thống tốt đẹp về trang phục của ngườiH’mông tại địa bàn nghiên cứu cần được bảo tồn và phát huy

Từ những kết quả nghiên cứu đạt được đề tài sẽ cung cấp những luận cứ khoahọc cho việc đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn và phát huynhững giá trị văn hóa tốt đẹp về trang phục truyền thống của người H’mông

Trang 6

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ H’môngtrong việc bảo tồn trang phục truyền thống hiện nay ở huyện Si Ma Cai, tỉnh LàoCai.

Trang 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

1.1 Đặc điểm tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí

Si Ma Cai là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Đông Bắc của tỉnhLào Cai và được bao bọc bởi dòng sông Chảy, thị trấn huyện Si Ma Cai cách trungtâm tỉnh Lào Cai khoảng 100 km về phía Nam

Phía Bắc giáp với huyện Mã Quan-Vân Nam-Trung Quốc

Phía Tây giáp với huyện Bắc Hà

Phía Nam giáp với huyện Mường Khương

Phía Đông giáp với huyện Xín Mần (Hà Giang) và huyện Bắc Hà (Lào

Trang 8

Si Ma Cai là huyện có lượng mưa trung bình thấp so với các vùng trên địa bàntỉnh Lào Cai, lượng mưa thay đổi qua các năm từ 1.300 – 2.000mm, lượng mưachủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 các tháng còn lại trong năm mưa ít, cường

độ không tập trung Nhìn chung lượng mưa trung bình thấp, cường độ mưa khôngđều, hiện trạng tài nguyên rừng ít nên hiện tượng xói mòn, sụt lở, rửa trôi vẫn cònxẩy ra khá nghiêm trọng

Với nền nhiệt độ thấp, lượng mưa lớn đã tạo điều kiện khí hậu và thời tiết phùhợp để phát triển các loại cây trồng và một số loại cây công nghiệp khác.Tuy nhiên

do các hiện tượng như khí hậu lạnh giá, sương mù dày đặc nên đã gây ảnh hưởngđến sản xuất và sinh hoạt của người dân

1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên.

Tài nguyên nước :

Hệ thống thuỷ văn của huyện Si Ma Cai bao gồm:

- Sông Chảy, bắt nguồn từ huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, chảy sát biếngiới Việt- Trung, qua địa phận huyện Si Ma Cai với tổng chiều dài 43km SôngChảy tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện Mã Quan - Trung Quốc và huyện Si

Ma Cai, lòng sông hẹp, sâu, nhiều thác ghềnh, ít có tác dụng trong giao thông vậntải, trong sản xuất và dân sinh do lượng phù sa thấp, tốc độ dòng chảy lớn, có tiềmnăng phát triển thủy điện

- Hệ thống suối nhỏ, do ảnh hưởng của địa hình chia cắt, độ cao lớn, hìnhthành trên địa bàn huyện Si Ma Cai khá nhiều suối nhỏ Tất cả các con suối đều bắtnguồn từ các dãy núi cao chảy xuống thung lũng, thường khô kiệt vào những thángmùa khô Đây là nguồn nước chính để phục vụ dân sinh cũng như mở rộng đấtcanh tác sản xuất của cộng đồng các dân tộc huyện Si Ma Cai Tuy nhiên về mùamưa, hệ thống khe thường xuyên có lũ quét, gây trở ngại lớn cho sản xuất và giaothông

Trang 9

Tài nguyên đất:

Tổng diện tích tự nhiên của Si Ma Cai là 23.493,83 ha, trải qua quá trìnhFeralit, bào mòn, rửa trôi, bồi tụ, hình thành mùn, trên địa bàn huyện Si Ma Cai cócác loại đất sau: Đất mùn đỏ vàng trên đất đá biến chất, loại đá mẹ Firit (Hs), tầngdầy 50 -120cm, có tổng diện tích khoảng 5.324 ha phân bố rộng trên khắp lãnh thổ;Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fs), có khoảng 1.570 ha phân bố phần thấp ven sôngChảy, loại đất này có tầng dày từ 50 -100cm; Đất đỏ mùn trên đá sét (Hs), diện tíchkhoảng 2.150 ha, thành phần cơ giới thịt nặng; Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa(Fl), chiếm tỷ lệ không đáng kể; Đất thung lũng dốc tụ trồng lúa (Dl); Đất phù sa,sông suối (Py); Đất mòn, trơ sỏi đá

Tài nguyên rừng:

Theo số liệu thống kê, đến 01/1/2010 diện tích rừng trên địa bàn huyện Si MaCai là 6.266 ha chiếm 26,67 % diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó rừng sảnxuất 1.905 ha, rừng phòng hộ 4.361 ha Về khả năng đất đai phát triển rừng củahuyện trong giai đoạn tới còn khoảng trên 2.000 ha Diện tích rừng của Si Ma Caichiếm tỷ lệ còn quá thấp so diện tích tự nhiên; đa phần là rừng nghèo, trữ lượngthấp, thực vật đa dạng chỉ còn tập trung ở một số vùng ở các xã: Lùng Sui, QuanThần Sán, Bản Mế, Thào Chu Phìn

Do rừng ở đây chiếm khoảng ½ là rừng núi đá nên động thực vật phát triểnphong phú.Động vật cũng khá đa dạng và phong phú như : chim, sóc, mèo hoang,khỉ …và nuôi nhiều loại cá

Về cảnh quan môi trường rất hữu tình, có con suối rất nên thơ, có nhiều ghềnhthác đẹp và đồng thời cũng là nơi để xây dựng các khu du lịch sinh thái với quy môtương đối lớn và đồng thời cũng là để giữ gìn, phát triển và bảo vệ môi trường nơiđây

Trang 10

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội.

1.2.1 Đơn vị hành chính.

Toàn huyện Si Ma Cai có 13 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm các xã: Si

Ma Cai, Thào Chư Phìn, Bản Mế, Sán Chải, Lùng Sui, Mản Thẩn, Cán Hồ, SínChéng, Lử Thẩn, Quan Thần Sán, Cán Cấu, Nàn Sín, Nàn Sán

Có 3 xã giáp biên giới là các xã: Si Ma Cai, Nàm Sán, Sán Chải, với tổngchiều dài đường biên giới là 12,2 km giáp huyện Mã Quan - tỉnh Vân Nam - TrungQuốc

Trong đó có 12 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình

135 giai đoạn II là các xã: Thào Chư Phìn, Bản Mế, Sán Chải, Lùng Sui, Mản

Thẩn, Cán Hồ, Sín Chéng, Lử Thẩn, Quan Thần Sán, Cán Cấu, Nàn Sín, Nàn Sán 1.2.2 Đặc điểm về dân số, dân tộc, lao động:

Năm 2009, huyện Si Ma Cai có 5.677 hộ với 31.149 người, trung bình 5,49người/hộ; mật độ dân số trung bình 133 người/ km2 Tốc độ tăng dân số củahuyện bình quân 3%/ năm, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân2,4%/năm, (bằng 1,3 lần tỷ lệ tăng tự nhiên chung toàn tỉnh) Nhìn chung, Si MaCai có mật độ và tỷ lệ tăng dân số cao so các huyện khác trong tỉnh

Si Ma Cai có 11 dân tộc anh em chung sống, trong đó chủ yếu là dân tộc thiểu

số, chiếm 96,3%, tổng dân số của huyện

Tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn huyện thời điểm cuối năm 2009

là 16.117, chiếm gần 52% dân số của huyện, bằng 5% số lao động toàn tỉnh Hầuhết số lao động có khả năng làm việc đều có việc làm Về cơ cấu lao động trongcác ngành kinh tế, đến năm 2009: tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp cònchiếm quá cao (83,2%), lao động công nghiệp, xây dựng chiếm 4,2% và trong dịch

vụ có 12,6% Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ 2005- 2009 diễn ra rất chậm đếnnăm 2009 so sánh với năm 2005: lao động nông, lâm nghiệp giảm 2% (cả tỉnhgiảm 3%), lao động dịch vụ tăng 1,8% và công nghiệp, xây dựng tăng 0,2%

Trang 11

Về chất lượng nguồn nhân lực còn thấp và chưa đồng đều Số dân là đồng bàodân tộc ít người chiếm tỷ trọng cao Cơ cấu lao động còn nhiều bất hợp lý Trình

độ văn hoá và trình độ tay nghề của người lao động thấp, chủ yếu là lao động phổthông, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất còn thấp

1.3 Khái quát về người Hmông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.

1.3.1 Nguồn gốc của người Hmông ở Si Ma Cai.

Theo các nhà sử học, các nhà nghiên cứu họ khẳng định rằng người Hmông

có nguồn gốc từ Trung Quốc.Trong lịch sử Hán học người Hmông vẫn xuất hiệntrong các thời kỳ, triều đại Trung Quốc với tên gọi tộc người “ Miêu ” hay ngươi

“Miao” và xuất hiện sớm nhất ở lưu vực sông Hoàng Hà Một nhà nghiên cứu khảo

cổ học Trung Quốc cũng nhấn mạnh và phân tích ý nghĩa của từ “Miêu” Đâykhông phải là từ măng ý nghĩa chỉ con Mèo (con vật) mà ‘Miêu” mang ý nghĩa chỉ

về một tộc người trồng lúa nước đầu tiên ở lưu vực sông Hoàng Hà Do nhiều lầnxảy ra tranh chấp đất đai giữa người Mông và người Hán ở lưu vực sông Hoàng

Hà nên người Mông phải chạy lên núi ở ẩn (Hồ Bắc, Hồ Nam, Qúy Châu, TứXuyên, Vân Nam, Quảng Tây) và từ đó người Hmông trở thành một dân tộc thiểusố

Do chính sách cai trị của nhà Hán làm cho người Hmông không chịu khuấtphục nên đã nổi dậy đấu tranh và đã bị nhà Hán dàn áp dã man nên người Mông đã

di tảng xuống phía Nam và tràn vào Si Ma Cai (Lào Cai) theo 2 thời kỳ :

Thời kỳ đầu: Cách đây 300 năm (từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII) trong cuộcnổi dậy chống chính sách “cải thổ quy lưu” kéo dài từ thời nhà Minh đến thời nhàThanh tại Qúy Châu Người Mông đã di cư đến mảnh đất Đồng Văn (Hà Giang) vàmột bộ phận khác đã di cư đến Si Ma Cai - Bắc Hà (Lào Cai) Đây là những nơingười Hmông đã di cư vào sớm nhất

Thời kỳ thứ hai:Cách đây khoảng 120 năm đến 160 năm hàng vạn ngườiHmông (phần lớn từ Qúy Châu,Vân Nam-Trung Quốc đã di cư vào Si Ma Cai

Trang 12

( Lào Cai ) và một số tỉnh lân cận Đây là thời kỳ gắn với sự kiện người Hmông nổidậy hưởng ứng phong trào “Thái Bình Thiên Quốc” từ 1840 đến 1868 chống nhàMãn Thanh Thời gian sau đó người Hmông di cư rải rác vào Việt Nam.

- Phạm vi phân bố :

Người Hmông ở Si Ma Cai phân bố hầu hết tại 13 xã của huyện (Cán Cấu,SiMaCai, Sán Chải, Quan Thần Sán, Lùng Sui, Lử Thẩn, Sín Chéng, Mản Thẩn,Thào Chư Thìn, Bản Mế, Cán Hồ, Nàn Sán, Nàn Sín) , cả huyện gồm 32.762 nhânkhẩu với 15 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 78,85% tổng dân số

- Phân loại :

Cùng là một dân tộc Hmông chung sống với nhau tại mảnh đất Si Ma Cainhưng tiếng nói lại phát âm không giống nhau nên đã dựa theo các ngữ điệu đó đểphân loại thì người Hmông ở Si Ma Cai được chia làm 4 loại chính:

Mông Hoa (Hmôngz Lênhl)

Mông Trắng (Hmôngz Đơưz)

Mông Xanh (Hmôngz Ntsuaz)

Mông Đen ( Hmôngz Đuz)

1.3.2 Tập quán mưu sinh

Canh tác nương rẫy

Do điều kiện địa hình nên người Hmông ở Si Ma Cai chủ yếu canh tác trênđất dốc bằng khai thác ruộng bậc thang và làm nương Cây trồng truyền thống làlúa, nương, ngô, kê, đỗ nương, rau cải… Lương thực thu về đối với gia đình nhiềuruộng, đất thì của cải có thể dự trữ để ăn từ hai năm đến ba năm mà không tích lũybằng tiền và những giá trị khác bằng kim loại Việc trao đổi, mua bán bằng nhữngnông sản, vật dụng tự làm ra.Vì vậy người Hmông quan niệm ruộng nương là tàisản cố định truyền đời

Chăn nuôi

Trang 13

Ở đây địa hình đồi núi cao thoáng nên thuận lợi về chăn nuôi trâu bò và giasúc, gia cầm Mỗi gia đình có ít nhất tầm năm đến bảy con trâu bò, ngựa, chăn nuôitrâu bò ở đây được mọi gia đình chú trọng vì ‘‘con trâu là đầu cơ nghiệp’’ Do điềukiện nơi đây hầu như là đồi núi nên sức cày kéo, vận chuyển trong nông nghiệp làrất quan trọng

Không chỉ vậy mà các hộ gia đình còn chăn nuôi gà vịt, ngan, lợn rất nhiều,nhiều gia đình đã chuyển từ nghề làm nông sang nghề chăn nuôi và trồng cây ănquả và giờ đây hầu như chăn nuôi gần như là nguồn thu nhập chính của họ

Thủ công nghiệp

Tộc người Mông ở nơi đây không chỉ có một kho tàng văn hóa mà còn cónhiều nghề như đan lắt, trồng đay dệt vải, nhiều bản làng vẫn còn giữ nguyên nghềthủ công như dệt thổ cẩm là phổ biến nhất

Thủ công nghiệp của tộc người Mông rất phong phú, hầu mọi dụng cụ tronggia đình là tự chế để dùng Như nghề đan mây tre, rèn, đúc…dệt thổ cẩm, không ítgia đình biết đan các loại như nong, nia, sàng, chiếu, hoặc đan những chiếc rương

để đựng quần áo Họ chủ yếu sử dụng những nguyên liệu tự nhiên như tre nứa,song, mây, không chỉ đan cho gia đình sử dụng mà còn mang ra chợ trao đổi muabán Ngành dệt thổ cẩm ở đây còn thu hút nhiều khách thập phương mua với giácao

Bên cạnh sản xuất lương thực, thực phẩm là nghề chính, người Mông cònthạo đan lát đồ dùng chắc bền ( địu, rổ, mẹt, ghế ngồi, bàn ăn cơm…), rèn đúcnông cụ sắc bén (dao, rìu, cuốc, xẻng, xà ben…) và thiêu may thổ cẩm tinh xảođược coi là ngành phụ

1.3.3 Đặc điểm văn hóa vật chất

Nhà cửa.

Đồng bào tộc người Mông ở đây do định cư trên các sườn đồi nên nhà ởthường là rất thấp, đáng lưu ý là người Mông thường đáp tường nhà bằng đất, máy

Trang 14

lập bằng danh hoặc vỏ cây, nhưng ngày nay hầu như là lập bằng tấm lập Nhà chủyếu là nhà cát sét ba gian hoặc bốn gian và hai máy Tổ tiên, bàn thờ đặt ở giangiữa đối diện với của chính Ở trên là hai gắc để sếp ngô hoặc thóc và một số nôngphẩm khác Bếp lửa của tộc người Mông thường để ở hai đầu nhà, bếp chính để ởbên trái, hoặc có nhà thì họ làm nhà bếp riêng, bếp trong nhà to chỉ đẻ tiếp khách.

Phụ nữ Hmông còn dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngựcgiữa và cửa ống tay áo Phía sau gáy thường được đính miệng và trang trí hoa văndày đặc bằng chỉ ngũ sắc Váy phụ nữ Hmông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng,khi xòe ra có hình tròn Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệtcác nhóm Hmông (Hóa, Xanh, Trắng, Đen )

Trang phục nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thânhẹp, ống tay hơi rộng Aáo nam có hai loại: năm thân và bốn thân Loại bốn thân

xẻ ngực, hai túi trên, hai túi dưới Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông Loạibốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằnngang trên ống tay Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộctrong khu vực Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính nhữnghình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi không mang

Ẩm thực.

Trang 15

Trước kia người Hmông ở đây ăn mèn mén làm từ ngô là chủ yếu, ngày nay

họ ăn cơm tẻ làm từ ruộng, nương, một số gia đình do mất mùa hay năng suất thấp

họ thường trộn gạo với sắn nấu thành cơm Thực phẩm dùng trong bữa ăn hàngngày chủ yếu được chế biến từ các nông sản do họ làm ra và những sản phẩm hoạtđộng săn bắt, hái lượm trong tự nhiên

Ngày nay lương thực trong tự nhiên ngày càng khan hiếm, đồng bào nơi đây

đã cải thiện bữa ăn bằng các loại rau quả, củ được chăm sóc trong vườn như: raucải, rau bí, các loại đậu đỗ Thịt chủ yếu được lấy từ các đàn gia cầm, gia súc nuôitrong gia đình như: gà, vịt, lợn, cá Ngoài ra thức ăn còn được mua ở các quán,chợ tại các dịch vụ buôn bán

Đồ uống chủ yếu uống nước lã, ngày nay họ cũng uống nước chè, hoặc nướcnấu với các loại rễ và lá cây rừng, nước đun sôi để nguội Bữa ăn hằng ngày cũngnhư trong dịp lễ tết họ không thể không thiếu rượu, họ uống rượu nấu từ các loạinông sản như: rượu ngô, rượu gạo…

Đồ hút: Trước kia họ hút thuốc phiện nhưng từ khi nhà nước cấm trồng câythuốc phiện thì họ chuyển sang hút thuốc lá, thuốc lào…

Phương tiện vận chuyển.

Ngày xưa người H'mông chủ yếu sử dụng gùi, ngựa để thồ hoặc đi lại, sứckéo của trâu bò Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật họ chuyểnsang sử dụng các loại phương tiện như xe máy để vận chuyển

1.3.4 Đặc điểm văn hóa tinh thần

Tín ngưỡng , tôn giáo.

Tín ngưỡng của người H'mông ở Si Ma Cai chủ yếu là tín ngương nguyênthủy đa thần Do nhận thức hạn chế về thế giới xung quanh cũng như sự bất lựctrứơc nhưỡng chi phối của tự nhiên nên họ phải thờ cúng quanh năm Tất cả nhữnglực lượng siêu nhiên được người Hmông coi là ma Trong các hình thức tín ngưỡngthì việc thờ cúng tổ tiên là quan trọng nhất

Trang 16

Sống hồn nhiên và hòa quyện với thiên nhiên song thiên nhiên vô cùng huyền

bí, lại có thế lực siêu phàm nên người Hmông quan niệm loài người có hồn, cònvan vật đều có ma (đangz), trong đó lại có ma lành (đangz nheenh) và mà mahoang (đangz ku) do vậy nên khi ốm đau, mùa màng, gia sản thất bát thì sẽ mờithầy cúng đi cúng Vì vậy những căng bệnh không rõ nguyên nhân thì được chữabằng cúng; những căng bệnh biết rõ nguyên nhân thì được chữa trị bằng thuốc nam

vô cùng phong phú tại bản địa

Hôn nhân

Hôn nhân của người Hmông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời Nhữngngười cùng dòng họ không lấy nhau Người Hmông có tục "háy pù", tức là trongtrường hợp trai gái yêu nhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, trai gái hòhẹn nhau tại một địa điểm Từ địa điểm đó chàng trai dắt tay cô gái về làm vợ Vợchồng người Hmông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn, cùnglên nương, xuống chợ và đi hội hè

Tang ma.

Theo phong tục truyền thống, lễ tang của người Mông bao gồm rất nhiều nghi

lễ khác nhau Khi gia đình có người thân qua đời, việc đầu tiên là con cháu sẽmang súng kíp ra ngoài nhà bắn ba phát để báo hiệu với bà con trong bản biết làgia đình có người qua đời Con cháu, bà con thôn, bản nghe thấy tiếng súng ở khuvực nào sẽ đổ về gia đình đó để chia buồn, đồng thời xem có việc gì cùng giúpđỡ.Người chết được con cháu lau mặt, mũi, chân tay, thay quần áo mới cho sạch sẽtrước khi về với tổ tiên Sau khi tắm rửa cho người chết xong, họ dùng một chiếcván gỗ đem thi thể người chết đặt giữa nhà rồi người con trai trưởng nhanh chóng

đi mời Dở mủ (thầy cúng chỉ đường) về làm lễ "khai kế" đưa đường chỉ lối cholinh hồn người chết về với tổ tiên

Những lễ tang làm to có mổ trâu thường kéo dài từ 3 - 4 ngày với rất nhiềunghi lễ khác nhau như: lễ "treo sáng đù" (giao lễ vật), "Nùng chàn gì" (lễ hỏi đáp),

Trang 17

"Tiu rìa kềnh", "Gẩu trùng"… mọi người thổi khèn, đánh trống hát thâu đêm đểtiễn biệt người chết.

Văn học dân gian.

Người Hmông cũng có nhiều thể loại văn học dân gian như thần thoại, truyện

cổ tích, ca dao, tục ngữ Hầu hết các loại hình này đựơc lưu truyền bằng phươngthức truyền miệng nhiều nơi đều kể giống nhau

Trong kho tàng văn nghệ dân gian truyền thống ngoài truyện cười, ngụ ngôn,câu đố, ngụ ngôn … còn có những truyện dài kể vài đêm Dân ca có một số chủngloại chính như nghi lễ, hát cưới, truyện ca…với nhiều làng điệu phong phú

Nhạc cụ Hmông nổi bậc nhất là khèn 6 nốt, khi thổi phải bấm hợp âm nhưnggiữ âm chủ gần như đàn piano Những động tác múa khèn phức tạp đều là nhữngbài võ hoặc diễn tài tử Ngoài ra còn có sáo lam, sáo dọc, kèn môi, kèn lá, và kènlaux puaz dùng trong lễ hội

Nghệ thuật dân gian.

Nghệ thuật tạo hình được thể hiện qua trang phục, đồ dùng sinh hoạt nhưngnổi bật nhất là cách trang trí hoa văn trên trang phục, đặc bịêt là trên váy, áo củangời phụ nữ

Lễ hội.

Trong vòng một năm người Hmông có nhiều ngày lễ tết song nổi bậc nhất là

lễ Nào Lồng (naox lôngx) tức là lễ cúng Thần rừng được tổ chức vào ngày 30tháng 1 hoặc 1 -2 tháng 2 (Âm lịch) tùy theo từng nơi; lễ ăn cơm mới và tếtNguyên Đán Riêng tết nguyên đán có 3 ngày quan trọng nhất là tết tất niên, tếtmùng Một bước sang năm mới và tết Rằm gọi là Nả cha (nav chaz) tức là tết Mẹ Ngày tết những gia đình làm ăn thất bát, sinh con, nuôi con khó hoặc nhữnggia đình không có con trai sẽ cùng với xã hoặc huyện đứng ra chủ trì lễ hội GầuTào (gauk taox) cầu mong năm mới làm ăn phát đạt, con cháu đông vui và đồng

Trang 18

thời còn là nơi hội tụ vui chơi, trai gái tìm hiểu nhau cùng với nhiều trò chơi thửthách tài trí.

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ HMÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG BỘ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG

2.1 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình sản xuất rạng nguyên liệu dệt

2.1.1 Chọn đất trồng lanh

Theo quan niệm của đồng bào, nương là một khoảnh đất được phát - đốt, dọn

cỏ cây tự nhiên rồi trồng lên đó một loại cây phục vụ cuộc sống của con người thìđược gọi là nương Điều đó có nghĩa là chỉ cần phát được một khóm nhỏ chưaphải là một khoảnh rừng, thậm trí chỉ cần tra được một hốc ngô xuống cũng đượcgọi là nương

Theo kinh nghiệm dân gian của người H’mông ở Si Ma Cai, muốn cho câylanh mọc khoẻ, đồng bào thường chọn những chỗ đất màu mỡ, thích hợp cho việccanh tác Đó thường là những khu đất bằng phẳng, ở những nơi cao ráo nên đóthường là những đám nương dưới chân núi hay gần khu vực chân núi, hoặc cũng

có thể là nương ở sườn núi hoặc ven sườn núi, ưu tiên cho cây lanh được trồngnhững mảnh nương mới phát, mới gieo trồng vụ đầu tiên

Lanh là loại cây ưa ánh sáng nên mảnh đất trồng lanh phải được phát quanglàm cho xung quanh thoáng đãng, không có cây to che bóng Để lợi dụng nhữngyếu tố thuận lợi và tránh những yếu tố tiêu cực của tự nhiên, người H’mông ở Si

Ma Cai đã căn cứ vào điều kiện địa hình thành các dạng đồi thoải lượn sóng hoặcphân bậc của địa hình mà lựa chọn địa điểm trồng lanh ở sát cạnh những sườn dốcchắn gió hướng Đông Bắc Những mảnh đất ấy thường là tương đối bằng phẳng

Trang 19

2.1.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc lanh

2.1.2.1 Thời vụ trồng lanh.

Để tránh mưa nhiều, gió rét và các hiện tượng thời tiết đặc biệt sảy ra theochu kỳ đều đặn hàng năm ở đây như dông, mưa đá, mưa phùn, sương mù và sươngmuối… gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sợi lanh, người H’mông ở

Si Ma Cai thường trồng lanh từ giữa tháng 2 đến tháng 3 âm lịch, tuỳ theo thời tiếthàng năm, sau khi trồng ngô xong

2.1.2.2 Lựa chọn và bảo quản hạt giống.

Hạt lanh giống phải chắc và mẩy Để lấy hạt làm giống, người H’môngthường để lại các cây lanh cao to mọc xung quanh các đám nương lanh, hay xungquanh các đám nương ngô, hoặc trồng riêng ở những nơi sườn đồi có độ dốc caonhưng phải gieo thật thưa để cho cây phát triển to nhiều nhánh mới cho nhiềuhạt… Những cây lanh ấy do không bị chen lấn, đất nhiều chất dinh dưỡng nuôicây, quả, nên thường to lớn lại có nhiều cành, nhánh, không dùng để tước sợi màchỉ để lấy quả, hạt làm giống Lượng hạt giống cho một nương lanh rộng khoảng

100 m2 là 5 ống, tương đương 5 kg

Khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch, sau khi thu hoạch ngô 1 tháng là thời điểmngười H’mông ở Si Ma Cai thu lấy hạt lanh giống Người ta chặt bỏ những cành cóhạt, đập lấy hạt lanh ngay tại nương, đem về cho vào bao tải treo trên gác bếp hoặcbất cứ chỗ nào khô ráo cũng được, vì hạt lanh có nhiều dầu nên không sợ bị mọt

Để giữ cho hạt giống được tốt, người H’mông thường giữ riêng, không để hạtgiống tiếp xúc lẫn với bất cứ thứ gì Xưa nay, hạt lanh giống chỉ để dùng cho một

vụ, tức là chỉ bảo quản trong vòng một năm là phải sử dụng hết, không để tới vụthứ hai nếu không khả năng nảy mầm của hạt sẽ kém và chất lượng cây trồng cũngkhông cao

2.1.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc lanh.

Trang 20

Do đặc điểm bề mặt địa chất ở Si Ma Cai đất mùn lẫn dăm sạn, trơ sỏi đá và

vỏ phong hoá vụn bở nên để tăng độ phì cho đất, trên những khoảnh đất trồng lanh,người ta bao giờ cũng phải làm đất rất kỹ Đất trồng lanh sau khi đã được cày xới,phơi ải và bừa qua, người ta dùng cuốc đập đất cho tơi nhỏ và nhặt sạch cỏ Sau

đó, người ta gieo trồng Trước khi gieo hạt, người H’mông ở Si Ma Cai thườngkhông chọn ngày tốt như khi làm nương ngô, nương lúa Tuy nhiên, một số ngườicẩn thận thì vẫn chọn ngày để mong cho cây mau lớn và khoẻ mạnh, chống chịuđược những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết Theo đó, ngày được chọn để trồnglanh thường vào ngày con rồng, ngày con mèo bởi theo quan niệm của họ thì đó lànhững ngày tốt, trồng vào những ngày này cây sẽ lớn khoẻ, lớn nhanh, cho nhiềusợi

Gieo hạt xong, người ta dùng cuốc cào một lớp đất dầy khoảng 0,5 – 1

cm phủ lên trên hạt giống để giữ độ ẩm đủ cho hạt nảy mầm

Hạt lanh thường nảy mầm trong điều kiện thời tiết thuận lợi chỉ sau ba ngàynhững lá mầm đầu tiên đã nhô khỏi mặt đất

Kỹ thuật gieo lanh của người H’mông Si Ma Cai là kỹ thuật gieo vãi hạt Khigieo, người ta vãy hạt lanh khá dày, như thế các cây lanh mọc xen khít vào nhau,không có cành nhánh, nên vỏ lanh khi thu hoạch sẽ không có mấu, chạc, thuận lợicho việc se sợi, dệt vải Tuy nhiên, nếu gieo dầy quá cây lanh sẽ còi, sợi mỏng, cònnếu gieo thưa quá cây lanh sẽ mọc nhiều cành phụ không dùng để làm sợi được,nên thông thường mỗi gốc lanh cách nhau một chiều khoảng 1,4 – 1,6 cm và chiềukia khoảng từ 1,5 – 1,8 cm để cây thoáng và dễ hấp thu ánh sáng mặt trời

Từ khi bắt đầu gieo hạt cho đến lúc thu hoạch, người ta gần như không làm

cỏ, bón phân, tưới nước cho lanh lần nào Chỉ trừ những trường hợp cây lanh quácòi cọc họ mới dùng nước giải trộn với tro để tưới Đến khoảng tháng 5, tháng 6

âm lịch là thời điểm cây lanh đang trong thời kỳ phát triển tốt nhất, chất lượng lanhkhoẻ nhất; và đây cũng chính là thời điểm thu hoạch lanh

Trang 21

Chất lượng vải lanh phụ thuộc nhiều vào chất lượng sợi; đồng thời tính đồng

bộ của sợi lanh cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chất lượng vải.Tính đồng bộ đó được thể hiện ở chiều cao cũng như độ mập của thân cây và độdầy của vỏ cây Vì vậy, người ta thường phân loại lanh ngay từ khâu thu hoạchTheo kinh nghiệm dân gian, các cây lanh to (cao trên dưới 2m; chu vi gốc khoảng4,4 – 5 cm) được gọi là lanh bố được bó riêng Sợi của loại lanh này được dùng đểbện dây buộc hoặc dệt vỏ bao đựng Các cây lanh nhỏ (cao 1,3 – 1,6 m; chu vi gốckhoảng 3 – 3,5 cm) được gọi là lanh con dùng để dệt may trang phục và các sảnphẩm may mặc khác Lanh nhỏ sau đó lại được phân chia thành các loại có độ dàingắn bằng nhau để các sợi lanh có chiều dài tương đối bằng nhau rồi mới bó lại.Sau khi đã róc bỏ hết lá, người ta phơi nắng 3 – 4 ngày theo cách ngày phơi,tối cất Trước khi tươc sợi, cây lanh lại được phơi sương khoang 2 đến 3 tiếng vàobuổi tối lúc này lanh có thể tước lấy sợi

2.1.3 Kỹ thuật và các công đoạn chế biến lanh thành sợi.

Trong toàn bộ quy trình dệt thì việc làm sợi là mất thời gian nhất và tốn khánhiều công sức Việc phân công lao động trong quá trình tạo nguyên liệu cho nghềdệt của người H’mông ở Si Ma Cai diễn ra theo giới tính và lứa tuổi Thôngthường, người đàn ông tham gia làm đất, gieo trồng và thu hoạch lanh, còn tất cảquá trình tạo sợi đều do những người phụ nữ trong gia đình đảm nhiệm

2.1.3.1 Tước vỏ lanh.

Sau khi thân cây lanh đã được phơi nắng, phơi sương đủ độ, lanh được tướclấy vỏ Công thức tước vỏ lanh áp dụng cho cả lanh bố và lanh nhỏ được thực hiệnnhư sau:

Vị trí tước vỏ đầu tiên được thực hiện bắt đầu từ giữa thân về phía ngọn Sau

đó, sợi lại tiếp tục được tước từ giữa thân cây về phía gốc Theo công thức đó,người phụ nữ H’mông dùng hai đầu ngón tay trỏ và ngón tay cái của cả hai bàn tay

vê và lắc nhẹ đoạn giữa thân cây cho dập rồi luồn móng tay cái của một bàn tay bất

Trang 22

kỳ (với những người mới làm thì người ta thường dùng bên bàn tay thuận) luồnvào giữa lớp vỏ và thân cây để tách sợi Và vẫn với móng tay ấy, người ta sẽ tướcđều theo dọc thân lanh vỏ sau khi tước ra phải to đều, không bị rách, không bị sơ,chạy đều suốt từ đầu đến cuối là được Thông thường, với một cây lanh, người ta

có thể tước được 4 sợi, mỗi sợi sau đó lại được tước làm 2 – 3 phần cho kết quảcuối cùng là 8 – 12 sợi/cây Chiều dài của sợi lanh phụ thuộc vào chiều cao củathân cây lanh cho sợi

2.1.3.4 Xe sợi.

Trang 23

Sau khi xe và nối sợi bằng tay, sợi được đưa lên guồng xe tiếp một lần nữa.

Để khỏi bị đứt, các cuộn sợi này được nhúng vào nước từ 15 đến 20 phút trước khi

xe cho mềm, tăng độ dẻo dai

Cấu tạo guồng xe sợi của người Hmông cho phép mỗi lần xe sợi, người ta sẽđưa đồng thời được sợi từ 4 cuộn sợi vào 4 con suốt chỉ Khi xe sợi, người ta đặt 4cuộn sợi nằm dàn hàng ngang trên một miếng gỗ phẳng (hoặc cũng có thể đặt vàothùng hay chậu), cách trục đỡ 1,2 m Sợi được đưa lên vắt ngang một thanh tre caocách mặt đất 1,5 m Từ đây, sợi được dẫn thẳng đến suốt cuốn sợi Người ta sẽdùng tay cuộn mồi một đoạn khoảng 50 – 60 cm vào con suốt (đầu mỗi cuộn sợicuốn vào 1 con suốt) Mỗi con suốt được cắm vào một lỗ cắm suốt trên giá đỡ trục.Xong những việc đó là hoàn thành công đoạn mắc sợi và người ta có thể tiến hành

xe sợi

Người xe sợi ngồi trên một chiếc ghế cao khoảng 50 cm (độ cao này có thểthay đổi tương ứng với chiều cao của trục đỡ bánh xe và trục đỡ cần đạp) Hai chânngười xe sợi để trên cần đạp - một chân đặt ở phía trong, một chân đặt ở phía ngoàitrục đỡ cần Hai tay người xe sợi cầm hai đoạn thân cây tre nhỏ hoặc gỗ tròn(đường kính khoảng 2,5 – 3 cm) Đoạn cây bên tay trái dài khoảng 20 – 25 cmđược luồn xuống dưới tuyến đi của sợi 4 sợi chạy qua đoạn cây này được luồn qua

4 kẽ ngón tay của người xe sợi có tác dụng như một sự phân luồng) Đoạn cây bêntay phải dài tầm 1,2 m đặt ở trên và luôn được dìm xuống hay thả lỏng cho cácđường sợi dâng lên nhịp nhàng theo từng vòng quay có tác dụng làm cho sợi khicuốn vào suốt được phân chia đều đặn ở các vị trí trong - giữa – ngoài của consuốt Nói cách khác, cả hai đoạn cây này đều có tác dụng can thiệp vào tuyến đicủa sợi (lái sợi) trong lúc vận hành sao cho 4 dòng sợi không bị vướng vào nhaulàm rối sợi và để sợi đánh vào suốt được đều theo ý muốn của người xe sợi

Khi vận hành, hai chân người xe sợi đạp vào cần đạp với nhịp đạp thay đổiđều đặn giữa hai chân, lúc nhấn mạnh đoạn phía trong, lúc nhấn mạnh đoạn phía

Trang 24

ngoài sẽ làm cho bánh xe chuyển động theo vòng tròn kéo theo sự chuyển độngcủa suối chỉ Hai tay người xe sợi luôn luôn can thiệp vào đường chuyển động củasợi và đôi mắt phải luôn luôn theo dõi sự can thiệp ấy.

Sau khi được xe, sợi đã chuyển từ dạng dẹt và mỏng của vỏ cây sang dạngtròn và xoắn bện của sợi

2.1.3.5 Thu sợi.

Sợi sau khi được xe đã đạt được độ mềm mượt, dẻo dai, tròn, xoắn bện và bềnchắc cần thiết nhưng lúc này sợi mới chỉ được cuốn vào từng suốt nhỏ Muốn thựchiện được các công đoạn tiếp sau, người ta phải thu sợi thành những bó lớn bằngguồng thu sợi

Để thu sợi, người ta cho các con suốt sợi được vào một vật chứa (rổ đan,thùng gỗ, gùi…) đặt ở một góc nhà Mỗi “mẻ” thu sợi, người ta mắc lên guồng 10 -

12 con sợi (tương ứng với 10 con suốt sợi) Đầu của các con sợi này được buộcgắn với 1 thanh chốt chặn bất kỳ Sau đó, người ta lần sợi mắc vòng quanh guồng 1vòng làm mồi rồi mới bắt đầu tiến hành khởi động vòng guồng từ trái qua phảihoặc từ phải qua trái tuỳ theo ý muốn của người thu sợi

Khi guồng quay đã hoạt động trơn tru, người thu sợi ngồi ở một góc nhà bất

kỳ (trừ góc nhà có đặt vật chứa các con suốt sợi và dùng tay tác động vào các đầuthanh cuộn từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái theo vòng khởi động tạo ra mộtlực đẩy vào thanh cuộn Lực đẩy này sẽ được truyền đến trục làm cho trục quay

Để tránh không cho rối sợi, người ta không bao giờ quay nhanh quá và đặc biệt làphải quay đều tay Mỗi khi sợi bị rối, người ta phải dừng guồng rồi ra gỡ trước khitiếp tục cho trục quay Mỗi khi các con suốt hết sợi, người ta lại phải ra nối tiếp sợi

từ các con suốt khác vào các đầu chỉ từ các con suốt vừa hết Vì vậy, để đỡ mệtmỏi khi thực hiện công đoạn này, thông thường người ta làm việc này 2 người: mộtngười chuyên quay guồng và một người chuyên gỡ và nối sợi Khi mỏi, hai ngườinày có thể đổi vị trí thao tác cho nhau

Trang 25

2.1.3.6 Luộc - ủ - giặt sợi.

Công đoạn này có tác dụng làm trắng sợi Để luộc và ủ sợi, người ta cần phải

có tro bếp Những bó sợi sau khi được tước, xe và thu thành từng bó sợi lớn sẽđược ngâm với nước tro bếp rồi luộc chín cho bong hết vỏ xanh Mỗi mẻ luộc,người ta sẽ thực hiện từ 4 – 5 cuộn sợi, thời gian luộc cho mỗi mẻ khoảng 30 – 60phút thì vớt ra Thông thường các gia đình người H’mông chỉ cần luộc một đêm làhết số sợi Chỉ gia đình nào đông con gái, sợi nhiều mới cần thêm một ngày hômsau

Sau mỗi lần luộc sợi, người ta sẽ ủ sợi bằng cách rắc một lớp tro nguội lên trobếp còn nóng ở đáy chảo (lượt rắc dày khoảng 1 – 2 cm) Sau đó, người ta dùngmột mảnh vải lanh hoặc một chiếc váy lanh cũ trải lên trên, đặt các cuộn sợi nàyvào đó, dùng một tấm vải khác phủ lên sợi, rồi rải thêm một lớp tro nữa lên trên(với độ dày tương đương với lớp tro ở đáy chảo) để ủ sợi trong 5 ngày Sau đó mớimang giặt cho sạch và cho lên guồng thu sợi phơi khô Tiếp theo, sợi còn đượcluộc và ủ tro thêm 3 lần nữa, những lần sau chỉ cần ủ trong một ngày một đêm.Riêng lần luộc sau cùng, người ta còn cho thêm một ít sáp ong cho sợi trắng, mịn

và dai chắc Thứ sợi lanh đã được làm xoăn, trắng và sạch như thế người Mông gọi

là “Xur”

2.1.3.7 Lăn sợi.

Để làm cho sợi mềm, bóng, các đầu nối sợi mỏng ra và phẳng, không lộ ra cácmối nối, người ta còn dùng một dụng cụ để lăn sợi Đó là một khúc gỗ tròn làmtrục lăn, một phiến đá đẽo phẳng nhẵn hoặc một tấm ván gỗ, chiều dài khoảng 1 m,chiều rộng khoảng 0,3 m Người ta đặt sợi lên khúc gỗ tròn, lấy phiến đá hoặc tấmván đặt lên trục gỗ rồi đứng trên phiến đá, vịn hai tay vào tường, chân đẩy lúc sangtrái, lúc sang phải làm cho trục gỗ chuyển động lăn đi lăn lại miết xuống sợi lanh

2.1.3.8 Tháo sợi.

Ngày đăng: 10/05/2021, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Bình, (2007), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, trường Đại học Văn hóa Hà Nội Khác
3. Vương Duy Quang, Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam truyền thống và hiện tại, Nxb Văn hóa -Thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội Khác
4. Hồng Thảo, (1997), Âm nhạc dân tộc Hmông, nxb Văn hóa tộc người Hà Nội, 2005 Khác
5. Trần Hữu Sơn, (1996) , Văn hóa Hmông , Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội Khác
8. Cừ Hòa Vân, Hoang Nam, (1994), Dân tộc Hmông ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Khác
9. Viện Dân tộc học (1997), Các dân tộc it người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), nxb Khoa học xã hội Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w