Trần Thùy Mai đã viết về họ, thế giới của họ, cuộc đời của họ, tâm tình của họ qua góc nhìn đồng cảm của một người phụ nữ - một nhà văn nữ Điều đó đem l i giá tr đặc biệt cho những sáng
Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, Nội dung khoá luận gồm 3 chư ng:
Chư ng 1: Nhà văn Trần Thuỳ Mai trong bối cảnh truyện ngắn nữ Việt Nam sau năm 1975
Chư ng 2: : Thế giới nhân vật truyện ngắn Trần Thuỳ Mai qua hai tập truyện
“Onkel yêu dấu” và “Một mình ở Tokyo”
Chư ng 3: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai qua hai tập truyện “Onkel yêu dấu” và “Một mình ở Tokyo”
N VĂN ẦN THUỲ MAI TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU 1975
Bối cảnh truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975
1.1.1 Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 – bước chuyển mình mạnh mẽ
Sau năm 1975, đất nước trở l i hoàn cảnh sống bình thường ở cả miền Bắc lẫn miền Nam, nhưng đối với một dân tộc có gần ba mư i năm chiến tranh thì tất nhiên cuộc chiến vẫn sẽ làm ảnh hưởng tới tâm thức của con người Việt Nam Chiến tranh kết thúc, cả nước r i vào tình tr ng khủng hoảng kinh tế, không có lư ng thực Hậu quả chiến tranh làm cho nông nghiệp không phát triển, tất cả các ho t động kinh tế khác đều trì trệ Do hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính tr , tư tưởng nên khoảng năm 1980, người dân ở Miền Nam ồ t đi vượt biên, t o nên sự xáo động, ảnh hưởng đến tinh thần ở cả miền Nam lẫn miền Bắc Trong hoàn cảnh đất nước như vậy, đời sống vật chất khiến con người ta phải suy ngẫm
Văn học bao giờ cũng là tấm gư ng phản chiếu thời đ i và tất nhiên trong bối cảnh thời đ i sau 1975 có nhiều sự thay đổi, xáo động như thế, các thể lo i văn học cũng phải thay đổi theo cho phù hợp Nói đến truyện ngắn đư ng đ i là nói đến truyện ngắn giai đo n từ 1975 – nay Đây được xem là mốc đánh dấu sự phát triển của truyện ngắn, thể hiện sức trẻ của ngòi bút, sự cách tân táo b o và bất ngờ cả về phư ng diện nội dung và nghệ thuật Chiến thắng năm 1975, thống nhất đất nước cũng là một mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của thể lo i truyện ngắn
Trước năm 1975, văn học có nhiệm vụ là phục vụ kháng chiến, phản ánh cuộc đấu tranh vĩ đ i của dân tộc Chiến tranh đòi hỏi con người cần có ý chí, sức m nh để thực hiện cách m ng, vì thế văn học giai đo n này tập trung cổ vũ động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của con người Các sáng tác văn học thời chiến đa phần có khuynh hướng sử thi, mang âm hưởng hào hùng, ngợi ca Đề tài xuyên suốt trong các sáng tác thời kì này là vận mệnh dân tộc, cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và niềm tin tất thắng Nhân vật xuyên suốt trong văn học kháng chiến là người anh hùng đấu tranh bảo vệ tổ quốc Cảm hứng sáng tác là cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của dân tộc Vì nhiệm vụ phục vụ kháng chiến của văn học nên đề tài viết về số phận cá nhân con người, về những mảnh đời tư, những tâm sự riêng, những khát khao h nh phúc cá nhân…không được khai thác
Sau năm 1975, hoà bình lập l i, cả dân tộc bước sang thời kì đổi mới và văn học cũng từng bước chuyển mình để bắt k p sự đổi mới của thời đ i Văn học giai đo n này ngày càng gần gũi với hiện thực đời sống h n và đi sâu phản ánh cuộc sống con người Chủ đề thế sự đời tư trở thành chủ đề xuyên suốt trong sáng tác của các nhà văn Số phận cá nhân, con người cá nhân được các nhà văn đặt lên hàng đầu Cuộc sống muôn màu muôn vẻ với các tr ng thái khác nhau: cao cả, thấp hèn, ánh sáng, bóng tối… đều được ph i bày một cách chân thực, rõ nét Giai đo n này, do có những chuyển biến, đổi mới về quan niệm nghệ thuật và nội dung nên cảm hứng nghệ thuật thay đổi Cảm hứng nghệ thuật bây giờ không còn ngợi ca mà nó chuyển sang cảm hứng đời tư, cảm hứng thế sự, chú ý tới cái nhìn giải thiêng, nó quan tâm tới đời sống của con người cá thể, quan tâm tới cái sự vận động của con người Nhân vật trong văn xuôi hành động trở nên đa chiều, với nhiều suy nghĩ, ngẫm ngợi, trăn trở Bên c nh đó hình tượng cuộc sống cũng có những sự thay đổi m nh mẽ Đó là hình tượng cuộc sống thật, cuộc sống với nhiều phức t p, với nhiều mâu thuẫn, cần được giải quyết không chỉ trên bề mặt mà cả ở chiều sâu Truyện ngắn Việt Nam sau 1975, hoà vào dòng chảy chung của thời cuộc, cũng mang trong mình tất cả những đặc điểm của văn xuôi Việt Nam hiện đ i
1.1.2 Nhà văn nữ thế hệ sau năm 1975 – sự khởi tạo của dòng văn học nữ quyền
Trong l ch sử văn học Việt Nam, dường như ít bóng dáng các cây bút nữ, đặc biệt là ở thể lo i truyện ngắn Bởi xã hội phong kiến có nhiều luật lệ hà khắc nên đã h n chế khả năng sáng t o của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật Tuy nhiên bước sang những năm 60 của thế kỉ XX, một số nhà văn nữ đã khẳng đ nh v thế trên văn đàn, dẫu vẫn chưa trở thành một lực lượng chủ yếu Đặc biệt, ở bộ phận văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn tượng ở số lượng cũng như chất lượng Dẫu còn nhiều chỗ cực đoan, sai lệch, nhưng văn học miền Nam Việt Nam đư ng thời ghi nhận sự đóng góp của nữ giới trong thành tựu chung không thể chối cãi Sau 1975, và nhất là sau 1986, số lượng các nhà văn nữ ngày càng nhiều, thực sự nở rộ Một lo t cây bút nữ xuất hiện và dần khẳng đ nh v trí, tài năng của mình như: Y Ban, Nguyễn Th Thu Huệ, Trần Thuỳ Mai, Ph m Th Ngọc Liên, Võ
Th Hảo, D Ngân, Lý Lan, D Ngân, Đoàn Minh Phượng, Võ Th Xuân à… Các tác phẩm của họ đo t giải thưởng trong các cuộc thi truyện ngắn là minh chứng cho điều đó Tiêu biểu là các cây bút nữ như: Phan Th minh Thư (Có một đêm như thế) – đo t giải nhất năm 1981 cuộc thi truyện ngắn của t p chí Văn nghệ Quân đội; Lê
Th Thanh Minh (Cha con) – đo t giải năm 1984; Y Ban (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ,
Chuyện một người đàn bà) – đo t giải nhất năm 1990; Nguyễn Th Thu Huệ (Hậu thiên đường, Mùa đông ấm áp) – đ t giải cuộc thi năm 1992 – 1994 của Văn nghệ
Quân đội Và liên tiếp các năm 1996, 1999, 2001 , 2002, các tác giả nữ đã nhận được danh hiệu cao nhất như: Trần Thanh à, Đỗ Bích Thuý, Thuỳ Linh, Nguyễn Ngọc Tư…
Bên c nh những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn t i một mảng văn học nữ, mang đến một sức sống mới, với những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm riêng của nữ giới Sự lên tiếng của những người viết văn nữ đã làm nên một diện m o khác, riêng so với nam giới Tiếng nói nữ giới trong văn chư ng có khi còn trấn áp cả tiếng nói của nam giới (tiếng nói của nhà văn nam, của nhân vật nam) Ban đầu, cũng có không ít ý kiến cho rằng văn chư ng phụ nữ, chuyện của phụ nữ chẳng bao giờ có tầm Song, cuộc sống không chỉ được dệt nên bởi những điều lớn lao mà h i thở cuộc sống l i thường nằm ở những chi tiết, những câu chuyện nhỏ nhất mà chỉ trái tim nh y cảm của phụ nữ mới có thể phát hiện, trân quý và níu giữ Tiếng nói của giới nữ trong văn học khiến độc giả phải nghĩ khác về bộ phận văn học nữ Không còn đi bên lề, văn xuôi nữ dần sóng đôi với văn xuôi của các nhà văn nam giới Trong sáng tác của mình, các cây bút nữ đã thể hiện những thế m nh riêng, đó là sáng t o dựa trên những linh cảm nh y bén của mình để khám phá nhân vật Đồng thời việc sử dụng những tình huống tâm lý, miêu tả chiều sâu nội tâm nhân vật cộng với bút pháp trữ tình đã trở thành một nét thi pháp trong cấu trúc truyện ngắn nữ giới hiện nay Bên c nh đó cũng có những cây bút thể hiện cách viết tự do, khoáng đ t, hiện đ i, tinh tế mà cũng không kém phần nữ tính Bởi thế mà họ đã khẳng đ nh v trí của mình và t o nên diện m o mới cho văn học Việt Nam đư ng đ i
Sự xuất hiện các cây bút nữ đã trở thành một trào lưu và đồng thời cũng t o nên một nguồn m ch mới làm tiền đề cho sự ra đời của dòng văn học nữ quyền Văn học nữ quyền là dòng văn học mà nội dung của các sáng tác đó liên quan đến việc bảo vệ, bênh vực quyền sống của người phụ nữ, giải phóng phụ nữ Văn học luôn phản chiếu thời đ i và tâm hồn con người, vì thế các nhà văn nữ đã tìm đến văn chư ng như là n i để chia sẻ tâm sự, thể hiện những khát khao trong tình yêu, h nh phúc và đó cũng là một trong những tiếng nói m nh mẽ đòi quyền bình đẳng giới trong xã hội hiện đ i Sự phát triển về số lượng lẫn chất lượng sáng tác của đội ngũ các nhà văn nữ đã k p thời phản ánh những vấn đề bức xúc của xã hội Các nhà văn nữ dường như không bỏ sót một mảng hiện thực nào trong cuộc sống Tuy nhiên đề tài được các nhà văn nữ quan tâm thể hiện nhiều nhất là những đề tài gần gũi với cuộc sống thường nhật như: vấn đề đ o đức thế sự, đời tư, vấn đề về tình yêu hôn nhân gia đình Khi viết về các đề tài này, họ thường bày tỏ thái độ chủ động, đấu tranh tìm kiếm, khao khát được yêu, tìm h nh phúc cho bản thân Những cây bút này đến với văn học thật tự nhiên và họ càng viết ngày càng say mê Các tác giả nữ với trái tim nhân hậu, đa cảm và nh y bén đã bắt nh p được sự thay đổi của cuộc sống trong từng chi tiết nhỏ nhất Họ đã chia sẻ cho nhân vật của mình một phần kinh nghiệm sống từ những thử thách trải nghiệm trong đời Họ thường hướng ngòi bút vào những hiện tượng đang diễn ra trước mắt Đề tài chiến tranh ít xuất hiện trong sáng tác của họ Phần lớn các tác giả nữ thường tập trung vào những đề tài thường nhật, những đề tài gần gũi diễn ra trong cuộc sống hàng ngày gắn bó với những con người hiện đ i Điều đáng nói là khi viết về những đề tài này, các tác giả nữ đã thể hiện được cá tính phụ nữ độc đáo của mình, vừa táo b o quyết liệt l i vừa mềm m i trong sáng Có thể nói, con người hiện lên trong tác phẩm của các nhà văn
Hành trình sáng tác của nhà văn Trần Thuỳ Mai
đ t những vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật Quả thật sự xuất hiện của các nhà văn nữ đã góp phần thay đổi diện m o nền văn học sau 1975
1.2 Hành trình sáng tác của nhà văn rần Thuỳ Mai
1.2.1 Từ người phụ nữ truyền thống của đất kinh kì…
Trần Thuỳ Mai sinh ngày 08/09/1952, trong một bệnh viện t i đất Hội An, Quảng Nam; nhưng quê gốc của ch l i ở làng An Ninh Thượng, xã ư ng Long, huyện ư ng Trà (nay là phường ư ng Long, Thành phố Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế
Trần Thuỳ Mai bắt đầu được các b n trẻ yêu thích văn chư ng ở Huế biết đến khi đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng Tốt nghiệp
Tú tài 2 từ 1972, ch thi đậu thủ khoa môn văn Đ i học Sư ph m Huế Sau năm
1975, ch học tiếp Đ i học Sư Ph m Năm 1977, sau khi tốt nghiệp, Trần Thuỳ Mai được giữ l i trường, làm công tác giảng d y và nghiên cứu môn Văn học dân gian Năm 1987, ch quyết đ nh chuyển sang làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Thuận Hoá Với lối rẽ này, Trần Thuỳ Mai đã chọn nghiệp viết làm con đường đi cho riêng mình Thời điểm ấy gia tài chữ nghĩa của Trần Thuỳ Mai chỉ mới vỏn vẹn có tập truyện đầu tay “Cỏ hát”, in chung cùng Lý Lan và “Bài th về biển kh i”, tập truyện đầu tiên Quyết đ nh từ giã bục giảng, thời ấy được xem là thánh đường, n i sôi động và tràn đầy năng lượng với các thế hệ sinh viên để về c quan xuất bản ho t động thầm lặng h n, thu mình h n, quả là táo b o Nhất là với một phụ nữ Huế, thường dễ bằng lòng, thậm chí mang đậm màu sắc nhẫn nh n, có phần cam ch u trong cuộc sống Phải chăng, cá tính văn chư ng của Trần Thuỳ Mai phần nào đã được thể hiện ở chính quyết đ nh xê d ch này? Bên c nh đó Trần Thuỳ Mai còn là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, hội viên Hội nhà văn Việt Nam và hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
Trần Thuỳ Mai đã có h n ba mư i năm trong nghề cầm bút Với ch , văn chư ng là một công việc nghiêm túc, vất vả thậm chí cực nhọc nhưng không mệt mỏi, vì đó là niềm yêu thích của ch Văn chư ng đã cho ch được là chính mình, được có thêm nhiều b n bè, nhất là những b n gái, họ đến và kể cho ch nghe những tâm tình của mình Ảnh hưởng của hai thành phố cổ th mộng, hiền hoà với tất cả cảnh vật, con người, văn hoá vật chất, tinh thần…sau này, qua sự quan sát, cảm nhận, chiêm nghiệm thấm thía của nhà văn đã đi vào sáng tác của ch rất tự nhiên, dung d , nhẹ nhàng, khó quên Trần Thuỳ Mai là một phụ nữ không trọn vẹn trong tình yêu, l i gặp không ít khó khăn trong cuộc sống đời thường, nhưng văn chư ng với ch vẫn là niềm đam mê, vì thế ch đã thoả sức dành cho nghệ thuật viết văn của mình, ch xem nghề viết là máu th t, nó cũng là con người và cũng là cuộc sống của ch Bằng một hành trình cuộc sống nhiều đa đoan và một tình yêu thư ng lớn lao cho con người, ch đã khiến bao thế hệ người đọc say mê trước những trang văn giàu ngh lực mà đầy nhân văn của mình
1.2.2 …đến nữ nhà văn dấn thân hết mình vào nghiệp viết
Hành trình sáng tác của nhà văn Trần Thuỳ Mai bắt đầu từ những bước đi từ thuở còn là một cô nữ sinh trường Đồng Khánh Năm 1975, khi ch 22 tuổi, Trần Thuỳ Mai đã có truyện ngắn đầu tiên đăng báo Văn nghệ và sự nghiệp văn chư ng của ch bắt đầu từ đó
Dần dần, Trần Thuỳ Mai trưởng thành cùng thế hệ với Lý Lan, Nguyễn Th Minh Ngọc ở Sài Gòn, những người cầm bút đầu tiên sau chiến tranh Có thể nói, đây chính là thế hệ dò đường đi tìm những đề tài hậu chiến Tính từ truyện ngắn đầu tay “Một chút màu xanh” in trên T p chí Sông ư ng đến nay, nữ nhà văn người Huế này đã có trên 30 năm cầm bút với hàng trăm tác phẩm truyện ngắn được nhiều thế hệ b n đọc yêu mến Trong đó, một số truyện ngắn nổi tiếng như: “Gió thiên đường”, “Thập tự hoa”, “Quỷ trong trăng”, “Th trấn hoa quỳ vàng”…của ch đã được d ch sang tiếng Anh, tiếnh Pháp và tiếng Nhật…
Trần Thuỳ Mai là một trong những nhà văn nữ viết khoẻ, khá đều tay Những truyện ngắn của ch rất đa d ng, phảng phất không khí đất trời xứ Huế, quan tâm đến mọi mặt của cuộc sống, nhất là lớp trẻ và nhìn họ với một con mắt đầy yêu thư ng và hy vọng Trong khoảng 10 năm trở l i đây, Trần Thuỳ Mai viết nhiều về những đề tài về nhân vật l ch sử, đặc biệt là những nhân vật nữ in bóng l ch sử triều Nguyễn, gắn liền với Kinh thành Huế
Không ồn ào vội vã ch y theo những th hiếu tầm thường, Trần Thuỳ Mai lặng lẽ, kiên trì t o được những bước đi vững chắc trong làng truyện ngắn Ch viết chắc và khá đều đặn và cho ra đời tập truyện ngắn đầu tay, tập “Bài th về biển kh i” (1983) Sau đó một năm, “Cỏ hát”, tập truyện thứ hai của ch (in chung với
Lý Lan) ra đời Với ngọn lửa của lòng đam mê được yêu, được viết, được cùng sống với mỗi số phận nhân vật mà mình sáng t o, Trần Thuỳ Mai liên tiếp cho ra đời các tập truyện ngán để l i dấu ấn sâu đậm, có sức sống lâu bền trong lòng người đọc Năm 1994, tập truyện ngắn “Th trấn hoa quỳ vàng” ra mắt b n đọc và sau đó, gần như đều đặn hàng năm ch đều có tác phẩm xuất bản: “Trò ch i cấm” (1998) – Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh; “Người khổng lồ núi B c” (2002) – Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh; “Đêm tái sinh” (2003) - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế; “Thập tự hoa” (2003) - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế; “Biển đời người” (2003) - Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; “Thư ng nhớ Hoàng Lan” (2003) - Nhà xuất bản Văn Mới; “Mưa đời sau” (2005) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh; “Mưa ở Trasbourg” (2007) - Nhà xuất bản Phụ Nữ,
Hà Nội; “Lửa hoàng cung” (2008) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội (2010); “Một mình ở Tokyo” (2008) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh; “Onkel yêu dấu” (2010) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh; “Trăng n i đáy giếng” (2010) - Nhà xuất bản Thanh Niên
Bên c nh sự nghiệp sáng tác văn chư ng, Trần Thuỳ Mai còn tham gia nghiên cứu “Truyện kể dân gian Bình Tr thiên” (1986) – sưu tầm, biên khảo, so n chung với Trần Hoàng, Ph m Bá Th nh – Sở Văn hoá Thông tin Bình Tr Thiên;
“Ca dao, dân ca Bình Tr Thiên” (1989) - sưu tầm, biên khảo, so n chung với Ph m
Bá Th nh, Đinh Th Hựu - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế; “Dân ca Thừa Thiên Huế” (2004) - sưu tầm, biên khảo - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế Trần Thuỳ Mai tham gia d ch thuật “Bên trong” (2010), tập truyện ngắn của tác giả nữ Nhật Bản, d ch từ tiếng Anh – Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế Nhiều truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai đã được chuyển thể k ch bản sân khấu hoặc được dựng thành phim như:
“ ãy khóc đi em” (2005), “Gió thiên đường”, “Thập tự hoa” (2005), “Trăng n i đáy giếng” (2009)
Các tác phẩm của Trần Thuỳ Mai đã giúp nữ nhà văn đ t được nhiều giải thưởng lớn như: Giải B, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ hai, (1998) cho Tập truyện ngắn “Th trấn hoa quỳ vàng” Giải C, Giải thưởng Văn học thiếu nhi “Vì tư ng lai đất nước” của Nhà xuất bản Trẻ (2002) cho truyện dài thiếu nhi
“Người khổng lồ núi B c” Giải B, Hội Nhà văn Việt Nam (2002, không có giải A) và Giải A, giải thưởng Văn học Cố đô lần thứ ba (2005), cho tập truyện ngắn “Quỷ trong trăng” Giải thưởng Uỷ ban Toàn quốc Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2003) và Giải A, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ tư
(2008) cho tập truyện ngắn “Thập tự hoa” Giải thưởng của Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (2008), cho tập truyện ngắn “Một mình ở Tokyo” Giải cống hiến vì cộng đồng năm 2011 do Uỷ ban kết nghĩa thành phố San Francisco –
Ế GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THUỲ MAI QUA HAI TẬP TRUYỆN “ONKEL YÊU DẤU” V “MỘT MÌNH Ở OKYO”
Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai
Xuyên suốt hai tập truyện ngắn “Một mình ở Tokyo” và “Onkel yêu dấu” là hình tượng của những người phụ nữ dám sống vì tình yêu, một tình yêu trong sáng và lãng m n…Tình yêu trong hai tập truyện không phải là triết lý mà là chân lý, một chân lý được chính những nhân vật gọi là cứu rỗi cuộc sống Vì duyên phận mà đã gắn bó với một người chồng khô khan, gia trưởng, trong khi nỗi niềm của họ luôn khao khát hướng tới sắc màu d u dàng âu yếm của tình yêu Nhưng rồi, những cái phút giây ngoài chồng, ngoài vợ ấy cũng chẳng đem l i h nh phúc đích thực Những mẩu chuyện trong hai tập truyện của Trần Thuỳ Mai sẽ đưa người đọc đến những lắng sâu đồng cảm, sẻ chia với những thân phận tình yêu, những tâm sự sâu kín nhất, những góc khuất dù không lý giải được nhưng vẫn vô cùng huyền nhiệm của tình yêu
Nói đến bi k ch trong tác phẩm văn học hiện đ i là nói đến một tr ng huống tâm lí, một đặc điểm số phận con người của thời đ i Đó chính là tr ng huống mâu thuẫn đến cùng cực, là sự đau đớn, mất mát, là cảm giác bất mãn của con ngừời trong cuộc đời đầy biến động và phức t p
“Nhân vật bi k ch” được hiểu là tổng thể, phức hợp của những mâu thuẫn, xung đột, những nỗi đau không thể giải quyết, điều hoà trước tác động của hiện thực Nó là một tr ng huống tâm lí đầy mâu thuẫn của một con người cụ thể, số phận đau đớn, bất h nh của một con người cụ thể giữa cuộc sống đời thường
Bi k ch hầu như không xuất hiện trong văn học chính thống Việt nam 1945-
1975 Luồng gió đổi mới đã đưa văn học về quỹ đ o phổ quát của nó: nghiền ngẫm nỗi đau thân phận con người Cùng với sự đổi mới m nh mẽ quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực, các nhà văn không ngần ng i đi sâu vào những sắc thái muôn vẻ của nỗi buồn nhân thế, thể hiện cảm nhận sâu sắc về những mất mát của con người Trần Thuỳ Mai nói riêng và các nhà văn sau 1975 nói chung cũng không ngo i lệ
Nhân vật bi k ch là kiểu nhân vật phổ biến và chủ chốt trong hai tác phẩm truyện ngắn “Một mình ở Tokyo” và “Onkel yêu dấu” của Trần Thuỳ Mai Nữ nhà văn đặc biệt quan tâm đến bi k ch trong tình yêu, hôn nhân gia đình Đề tài về tình yêu, h nh phúc trong gia đình là mảng hiện thực khá sinh động Trần Thuỳ Mai đã nhìn nhận và lý giải nó theo những sắc thái khác nhau Nhân vật trong các tác phẩm đều được nếm trải hầu như tất cả những dư v khác nhau của tình yêu Ngọt ngào có, cay đắng có, xót xa có Họ hiện lên trong tình yêu với nhiều cung bậc khác nhau từ nhẹ d đến m nh mẽ, chủ động, già dặn, từng trải
Yêu là sự pha lẫn của dư v ngọt bùi và đắng cay Tình yêu như một liều thuốc xoa d u tâm hồn mỗi con người và giúp nuôi dưỡng những niềm tin, những động lực Để từ đó chúng ta biết yêu và biết hi sinh vì người mình yêu Nhưng không phải sự hi sinh nào cũng nhận được cái kết viên mãn Có những sự hi sinh, đánh đổi cho tình yêu nhưng cuối cùng cũng chỉ nhận l i bi k ch là sự phản bội sau ngần ấy thời gian vì nhau Nhân vật Tý trong truyện ngắn “Lên phố” thuộc tập truyện “Onkel yêu dấu” là một trong những điển hình cho bi k ch nói trên Tý - một cô gái đáng thư ng cũng giống như bao nhiêu người khác, dành cả thời tuổi trẻ, hết lòng hy sinh vì người yêu, để rồi chỉ trong tích tắc mối tình nhiều năm gắn bó được thay thế nhanh chóng bằng người thứ ba Tình yêu bắt nguồn từ những chiếc bánh tiêu, từ sự giúp đỡ chân thành của Tý trong những ngày khó khăn Dũng học đ i học và những hứa hẹn của Dũng trong những ngày đầu hai con người đồng hư ng gặp l i nhau n i phố th bắt đầu những cảm xúc tình yêu với nhau Cứ tưởng những điều tốt đẹp ấy sẽ mang đến cái kết h nh phúc cho Tý, nhưng đâu ai biết trước được Dũng l i là con người bội b c đến thế Tý một nhân vật r i vào bi k ch tình yêu của chính mình, sau từng ấy năm bán bánh tiêu lấy tiền phụ giúp Dũng học đ i học đến nỗi b người ta d ngh : “Ở ngoài làng họ xầm xì, nói mi vô đây buôn bán không phải để nuôi em mà là nuôi thằng Dũng ăn học.” [6, tr.151] Sự hi sinh qua từng năm tháng của Tý giành cho Dũng không sao kể hết Tý đã rất buồn khi nhìn Dũng gầy đi: “Dạo này Tý rất buồn Buồn vì Dũng càng ngày càng gầy rộc đi, râu mọc lấm chấm đầy cằm không cạo Càng ngày càng thầm lặng Tý có gặng hỏi cũng chỉ lắc đầu, không hỏi Tý cố gặng hỏi cũng chỉ lắc đầu, không nói…” [6, tr.152] Tý cũng đã từng h nh phúc phát hờn lên khi được Dũng hứa hẹn sẽ tiến tới hôn nhân:
“Thương thầm nhiều năm rồi, vậy mà giờ đây nghe Dũng nói Tý cứ thấy kiến bò râm ran khắp người.” [6, tr.151] Nhưng cô gái đáng thư ng ấy l i r i vào nỗi thất vọng khi có người thứ ba xuất hiện là Kiều Nga - một cô gái có xuất thân khá giả Khoảnh khắc cô nhận ra sự có mặt của người thứ ba tim cô như thắt l i: “Tý lặng nghe, bất giác như có luồng hơi chạy khắp người, có hòn đá đè lên tim không sao nhấc lên nổi” [6, tr.152] Sau bao nhiêu quan tâm, lo lắng, cố gắng bư n chải vì người mình yêu, Tý vẫn không giữ chân được chàng trai ấy Thứ mà cô gái đáng thư ng đó nhận l i chỉ là sự bội b c của người mình hết lòng yêu thư ng Đáp trả l i sự thầm lặng hi sinh bao năm tháng của Tý với Dũng chỉ là n nghĩa: “Anh nhớ ơn Tý cả đời, sẽ tìm cách trả ơn Tý cả đời.” [6, tr.153] Tý đã dùng thanh xuân của mình để đánh đổi cho tình yêu, cô luôn hi sinh và tin tưởng rằng sẽ có kết thúc tốt đẹp cho câu chuyện tình ấy Nhưng sự chờ đợi không phải bao giờ cũng có kết quả như ý muốn: “Ừ thì Tý chờ, nhưng anh đã không chờ nổi” [6, tr.153]
Tình yêu vốn dĩ là một thứ tình cảm đẹp thuần khiết, là sự gắn chặt giữa hai trái tim, hai tâm hồn đồng điệu, là sự ch u đựng, là cùng nhau đi qua những ngày giông bão cuộc đời, ấy thế mà, nhiều người vẫn không biết trân trọng từng khoảnh khắc quý giá ấy Để rồi dẫn tới những mâu thuẫn khó hàn gắn, sự phản bội lừa dối ngày một đánh mất đi người mình yêu thư ng B phản bội chính là một trong những bi k ch đáng thư ng nhất cho một chuyện tình
Là phụ nữ, ai chẳng mong muốn có một cuộc sống gia đình h nh phúc và bình an bên những người thân yêu, nhưng trong một xã hội, chẳng có gì là hoàn hảo vuông tròn Phụ nữ đ n thân sinh con và nuôi con không phải vì ai mà vì chính họ và chắc chắn khi quyết đ nh sinh con, họ cũng xác đ nh trách nhiệm làm mẹ dù phải đư ng đầu với vô vàn khó khăn vất vả Chấp nhận làm mẹ đ n thân, người phụ nữ phải ch u đựng đau đớn, khó khăn, áp lực dư luận xã hội gấp nhiều lần so với người khác
Nhân vật Thắm trong truyện ngắn “Oan gia ngõ hẹp” của tập truyện “Onkel yêu dấu” là một trong những điển hình cho bi k ch nói trên Mở đầu câu chuyện, tác giả đã cho người đọc thấy được sự nghèo khó, khổ cực, nỗi cam ch u của Thắm và cha mẹ Thắm khi có đứa con chửa hoang mà không chồng Năm ngoái, xã mới xây cho cái nhà tình thư ng, năm nay c n bão đi qua, nhà sập tan chỉ còn l i cái nền xi măng nứt nẻ Cha mẹ Thắm thì được người anh ruột cho trú dưới cái bếp Riêng Thắm thì không được vô nhà, thành thử Thắm không còn chỗ trú thân Bụng thì đã gần ngày đẻ Cũng may, c n lụt đã tấp về ngay trong sân một cái mui đò và nó trở thành chỗ nằm sau này của Thắm cùng với con Ngày chuyển bụng, Thắm lên tr m xá sinh rồi về nằm trong “nhà đò” ai đầu mui, bác Mèn gái chất củi để chắn bớt gió Những hôm mưa nhiều, nước thì lênh láng dưới chân chõng, không gian thì l nh ngắt, ướt nhẹt, nằng nặc mùi nước tiểu trẻ s sinh Thắm phải cố gắng ch u đựng, vì không ở nhà đò thì Thắm ở đâu? Trong xã hội bấy giờ, mọi người luôn kì th , xa lánh, chửi mắng những người phụ nữ không có chồng mà có con: “Có điều riêng con Thắm thì không được vô nhà, mụ vợ tôi nhất định không chịu…” [6, tr.119], “Ở trong mui đò là đứa con gái chửa hoang, không ai cho vô nhà Mình đem tiền tới hoá ra khuyến khích người ta chửa hoang à?” [6, tr.125] Chấp nhận làm mẹ đ n thân, Thắm mặc nhiên chấp nhận mọi thứ Lý do vì sao Thắm l i có bầu? Thắm là một cô gái miền quê nông thôn, hiền lành, chất phát, khi lên thành phố, b gã đàn ông tên o dụ dỗ Tốt bụng tin tưởng về những lời hứa sẽ quay l i giúp đỡ nên giờ Thắm phải hứng ch u nỗi nhục cả về thể xác lẫn tinh thần Phải khẳng đ nh một điều rằng trong truyện ngắn này, nhân vật Thắm là điển hình cho số phận bi k ch, đau đớn, bất h nh của một kiếp phụ nữ bé mọn giữa đời thường Tác giả Trần Thuỳ Mai đã xây dựng tình huống truyện éo le giống như tên truyện là
“Oan gia ngõ hẹp” Tình huống này giúp Thắm gặp l i o Thế nhưng khi gặp l i ch chỉ biết gào thét lên với biết bao uất ức tủi nhục mà mình phải ch u đựng chứ không làm gì cả: “Chú nói cháu cứ về quê rồi chú thu xếp ra liền, sao bây giờ chứ mới ra?”, “Em đẻ, cực quá, nhục quá, cũng may là đẻ được thằng cu.” [6, tr.126]
Tưởng chừng Thắm sẽ bắt gã ta phải có trách nhiệm với mẹ con mình, thế nhưng một lần nữa Thắm l i để hắn ra đi dễ dàng chỉ với lời một lời nói “Ông ấy hứa sẽ quay lại, sẽ giúp đỡ…” [6, tr.127] Cả cuộc đời ch vẫn tin, vẫn hy vọng người đàn ông đó sẽ quay l i giúp đỡ mẹ con ch , rồi ch khóc mãi, khóc no Qua truyện ngắn, ta thấy bi k ch cuộc đời Thắm là do d i dột mà ra nhưng bi k ch càng trở nên thê thảm h n khi chính ch l i là người t o nên bi k ch cho mình
Bi k ch trong hôn nhân gia đình, tuy vậy, không phải lúc nào cũng do người đàn ông, người chồng gây ra, mà ở một khía c nh khác, chính nhân vật nữ, người vợ là người t o ra bi k ch cho chính bản thân mình
Chẳng h n, truyện ngắn “Bức tranh cuối cùng” đã phản ánh bi k ch hôn nhân của rất nhiều gia đình trong xã hội hiện nay Nhân vật tôi là một người vợ suốt đời sống nhẫn nh n, vâng lời chồng, cưng con, chiều lòng được cả họ Vậy mà trong cuộc sống hôn nhân gia đình ch l i không có được h nh phúc trọn vẹn: “Anh tẩy chay tôi đến thế chỉ vì cái tội dạy con” [6, tr.51] Cuộc hôn nhân của ch trở nên l nh nh t h n, hai vợ chồng ít nói với nhau, rồi hai vợ chồng ở riêng hai phòng suốt
6 năm Cuộc hôn nhân nào cũng đến vì tình yêu, nhưng muốn duy trì h nh phúc thì yếu tố tình dục có vai trò quyết đ nh nhất Là một người yêu chồng, tận tụy vì chồng, thế nhưng mỗi lúc chồng gần ch , chẳng hiểu sao một nỗi ghê sợ tự thâm tâm làm ch chùn l i, như con ốc thu mình vào vỏ cứng: “Hồi mới cưới, mỗi lần ôm tôi vào lòng anh thường trêu tôi, bảo tôi trên giường trông thật giống cô bé không thuộc bài bị gọi lên bục giảng Sau nhiều năm, mỗi lần cố thức đợi tôi, anh không còn nụ cười âu yếm chế giễu ấy nữa…” [6, tr.52] Biết rõ điều đó, nhưng ch không thể nào thay đổi được bản thân mình Nguyên do đó đã làm nên bi k ch gia đình ch Chồng ch vì khát khao quan hệ vợ chồng nên đã tìm đến người phụ nữ khác và có con Người phụ nữ đó chính là nguồn cảm hứng sáng tác trong các tác phẩm của anh mà anh cất giữ trong căn phòng riêng đến tận khi anh ra đi Ch biết rõ chồng mình như thế nào nhưng bản thân ch vẫn luôn cố gắng dối lòng, lừa dối chính bản thân mình chỉ để giữ anh ở l i bên c nh mình Cuối cùng ch đau khổ hối hận khi người chồng ch ra đi và không bao giờ quay trở l i nữa: “Vậy là cuối cùng anh đã quay về với tôi, không phải để sống mà để chết.” [6, tr.53]
Nghệ thuật xây dựng nhân vật
2.2.1 Tạo dựng tình huống truyện
Vấn đề tình huống đã được giới nghiên cứu quan tâm từ rất sớm Thế kỷ thứ XIX nhà triết học, mỹ học lỗi l c người Đức Hêghen (1770 – 1831), trong công trình Triết học về Mỹ học đã dành nhiều trang bàn về tình huống trong nghệ thuật
Tình huống chính là t o hành động cho nhân vật của mình Các nhà văn coi trọng việc lựa chọn tình huống đặc thù cho các nhân vật Các tình huống truyện không mở ra cái thế, thúc đẩy hành động thông thường cho nhân vật phát triển mà nhằm thúc đẩy một hành động khác – hành động tâm lý Tóm l i, tình huống là cái
“khoảnh khắc cốt yếu”, khi nhân vật đặt trong hoàn cảnh đó, nhất đ nh phải bộc lộ tính cách chủ yếu của mình, tính cách ấy chi phối cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử, đường đi nước bước và cả số phận của cuộc đời mình
Trong các truyện ngắn, Trần Thuỳ Mai đã xây dựng một thế giới nhân vật có tính cách, số phận riêng khá độc đáo Quả thật, nhân vật của Trần Thuỳ Mai luôn gây cho chúng ta day dứt, ám ảnh khi đọc xong tác phẩm Phần lớn những nhân vật trong tác phẩm của ch đều là những kiếp người bình thường nhỏ bé Trần Thuỳ Mai đặt họ trong các tình huống “có vấn đề” để các nhân vật tự bộc lộ bản chất, tính cách của mình Nếu coi tình huống là một sự kiện có ý nghĩa bộc lộ mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, bộc lộ phẩm chất, tính cách nhân vật thì truyện ngắn Trần
Thuỳ Mai đã xây dựng được những kiểu lo i tình huống như thế, nhằm làm nổi bật bản chất nhân vật cũng như quan niệm nghệ thuật của tác giả về con người và cuộc đời
Tác giả đã đặt nhân vật của mình vào những tình huống bất ngờ, gay gắt để nhân vật bộc lộ sâu sắc tính cách, tình cảm Đó là tình huống trong “Lời hứa” khi nhân vật Miên đang h nh phúc chờ đón người yêu trở về làm đám cưới: “lòng Miên tưng bừng vui, cô lau dọn căn nhà nhỏ, mua thức ăn chất đầy tủ lạnh rồi dạo phố sắm cho mình vài bộ cánh mới Lần này không phải quá e dè nữa, có thể để Bent về đây ăn cơm với mình, anh có vẻ thích hợp với cơm Á Đông, món vả chua anh còn xơi được cả dĩa nữa là” [5, tr.82], đã như đột ngột r i xuống vực thẳm khi hay tin người yêu âm thầm trở về chuẩn b cưới cô gái khác trẻ đẹp h n T o nên tình huống bất ngờ cho Miên, đặt Miên tự xoay trở trong tình huống đó, Trần Thuỳ Mai đã cho ta thấy được trọn vẹn những diễn biến tâm lý bất ngờ cũng như bọc lộ sự đồng cảm thư ng xót cho thân phận của người phụ nữ khát khao tình yêu h nh phúc: “dù vẫn còn khản giọng, sưng mắt, trán còn chưa hết mùi dầu gió, Miên cũng mặc chiếc áo đầm mới mua đi dự tiệc” [5, tr.83] Miên đã trải qua thời gian khó khăn, đau khổ, hụt hẫng; nhưng cuối cùng cô vẫn kiên cường đối mặt: “Dù sao đi nữa, cũng đến để chúc mừng Bent quả thực đã được “nhiều hơn mơ ước”, bởi dù sao, anh đã giữ lời, anh không hề nói dối khi bảo Miên: “Hãy chờ xem tương lai…”[5, tr.83] Tuy hụt hẫng, đau đớn nhưng cô vẫn chọn sống v tha, bởi v tha và nhân hậu chính là gốc rễ của h nh phúc Trong “Oan gia ngõ hẹp”, để người đọc thấy được bản chất lư ng thiện, ngây th , tốt bụng, d i dột của Thắm, tác giả đã t o tình huống để cô gặp l i H o Gặp l i rồi nhưng cô chỉ biết nhẫn nh n và một lần nữa để hắn trốn thoát Trong “ ải đường tăng”, vì hận v hôn phu đã thoái hôn nên trong lòng Xuyến lúc nào cũng đau đáu tìm cách trả thù, bằng mọi cách phải làm cho anh ta thân b i danh liệt Niềm phẫn uất ấy cứ luôn trỗi dậy bên trong Xuyến mỗi ngày một lớn h n “Hai mươi năm trước, cũng vì ngần ngừ đúng giây phút phải quyết định mà mình đã vuột mất ông ta Lần này…không bao giờ như thế nữa” [5, tr.154] Tác giả đã t o tình huống bất ngờ, k ch tính cho nhân vật, khi b v hôn phu kéo ra đứng trước vực sâu: “mồ hôi Xuyến chảy ròng ròng theo sống lưng” [5, tr.163], Xuyến cảm thấy sợ Nhưng rồi tác giả l i đưa người đọc tới tình huống bất ngờ h n khi cả hai người ngồi l i uống trà: “Bây giờ bà hãy kể hết tội của tôi và tôi cũng kể hết tội của bà Mỗi chén trà là một tội Người nào nhiều tội hơn là thua cuộc…” [5, tr.164] Trần Thuỳ Mai đã đưa nhân vật của mình cũng như người đọc đến với tình huống này, rồi tình huống khác hấp dẫn h n, để bản chất của nhân vật được bộc lộ rõ ràng Với Xuyến, giờ đây, nàng đã biết sợ trước vực sâu, và đã trút được hết lửa bỏng trong lòng Bây giờ nàng biết quý sinh m ng mình Lúc trước lửa hận trong nàng đang cháy lớn, nàng làm mọi thứ chỉ để trả thù mà không biết yêu bản thân mình Giờ đây, lửa hận d u rồi thì tâm hồn nàng mới phẳng lặng như cánh đồng êm ả để chờ gieo những h t giống mới “Xuyến bước đi Nàng co rúm lại khi bước qua trước cặp mắt kinh ngạc của những tăng sinh đang quét lá trong sân chùa, không kịp hiểu rằng giờ đây nàng biết sợ, biết hối tiếc, biết ngượng là bởi trong tâm hồn nàng sự sống đang trở lại.” [5, tr.165]
Con người là một thực thể đầy sinh động và bất ngờ Nếu như người thợ nhiếp ảnh được phép thu hình ảnh con người qua một khoảnh khắc, nhà điêu khắc được quyền t o dựng nhân vật trong một tư thế bất biến…thì nhà văn l i không thể nào sao chép thực tiễn một cách cứng nhắc Trong tác phẩm văn học, con người phải được thể hiện trong đa d ng các mối quan hệ của nó, qua lời ăn tiếng nói, qua suy nghĩ, hành động… Bởi lẽ đó, xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học chính là một nghệ thuật mang những nét đặc thù riêng
Yếu tố đầu tiên hình thành diện m o nhân vật là nghệ thuật miêu tả ngo i hình Tục ngữ có câu “Trông mặt mà bắt hình dong”, tức là tự bản thân mỗi người đã tự bộc lộ một điều gì đó qua chân dung của mình Ngo i hình là một khái niệm chỉ dáng vẻ, tác phong, diện m o, trang phục, cử chỉ…nói chung là tất cả những gì t o nên hình dáng bên ngoài của nhân vật Có lẽ do tâm đắc với điều đó nên Trần Thuỳ Mai đã rất hứng thú trong việc phác ho l i hình ảnh khuôn mặt con người Đọc “Tàu ngầm xuyên đ i dư ng”, ta dễ dàng bắt gặp cái khuôn mặt đầy thoả mãn của người chồng “ánh đèn lờ mờ cho tôi thấy khuôn mặt anh giãn ra, miệng cười thoả mãn, trông như đứa bé bú no” [6, tr.7] ay trong “Một mình ở Tokyo”, Kyoko là cô gái trẻ, xinh và rất dễ thư ng Vẻ đẹp của cô thanh tú và dáng dấp cao quý nhưng khuôn mặt của nàng “như đang mang vác cái gì đó rát nặng, rất nặng, mỗi ngày trong suốt cuộc đời” [5, tr.31] Khác với lối miêu tả tỉ mỉ đi vào chi tiết của văn học hiện thực, Trần Thùy Mai chỉ tái dựng chân dung nhân vật thông qua những đường phác họa c bản nhất Tuy vậy, nhờ những phác thảo thoáng qua đó, người đọc vẫn cảm nhận được sâu sắc tính cách cũng như số phận của các nhân vật
Trong thế giới nghệ thuật truyện ngắn Trần Thùy Mai, nhân vật từ trẻ đến già, ai cũng là những số phận bất h nh nhưng khi phác thảo ngo i hình nhân vật, tuyệt nhiên Trần Thuỳ Mai đã không để đặc điểm nhân vật trùng lẫn với nhau Diễm trong “Cố nhân” là một cô gái “tuổi trạc ba mươi, chân dài, đẹp cỡ hoa hậu nhưng trông cô có dáng ngoan hiền và thơ dại của một nhà thơ hơn là một nhân viên kinh doanh năng nổ Ánh mắt cứ lạc loài như con nai vàng ngơ ngác…” [6, tr.82] Với ngo i hình ấy Diễm đã rất thành công trong việc quyến rũ những người đàn ông giàu có để ó thể bước đi trên con đường danh vọng và quyền lực mà cô đã chọn Hay nàng Tấm trong “Thần nữ đi chân không” là “con gái nhà họ Tống lâu nay đã được xem là đứa con gái dở hơi, chẳng giống nhau” [5, tr.37]…Nói là dở h i, nhưng nàng l i là một cô gái rất nhân hậu, biết giúp đỡ người khác khi họ gặp n n Nhờ Tấm cưu mang mà nhà vua mới thoát được kiếp n n
Như vậy, việc miêu tả ngo i hình trước hết là để khắc ho một cách sinh động những con người bình thường trong cuộc sống bằng những nét chân thực, h n nữa, nó đã góp phần cá tính hoá nhân vật trong truyện ngắn Trần Thùy Mai
2.2.3 Khắc hoạ tính cách thông qua hành động
Bên c nh miêu tả ngo i hình, để người đọc có thể thấy được rõ nét tính cách nhân vật, Trần Thuỳ Mai còn rất chú ý trong việc mô tả hành động nhân vật Hành động là những sự việc làm cụ thể của nhân vật trong các quan hệ ứng xử với các cá nhân vật khác nhau của cuộc sống ành động được xem như là kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức, quá trình tâm lý, quá trình tình cảm Qua hành động, Trần
Thuỳ Mai muốn để cho nhân vật của mình nói lên những suy nghĩ, tư tưởng, tr ng thái diễn biến trong nhân vật Đọc “Onkel yêu dấu” người đọc không thể nào quên được hành động nhân vật “tôi” vội vã tung chăn, ch y vào phòng tắm cho nước vòi sen xối ào ào lên người Vào phòng, ngồi trước ảnh vợ con, như người ta nguyện ngắm và sám hối trước ảnh Chúa Qua hành động ấy, người đọc như thấy được nỗi sợ của nhân vật, nhân vật sợ mình phản bội l i những đ o lý làm người, sợ cái bản năng, dục vọng chi phối mà phản bội l i vợ con mình “lúc ấy tôi cảm thấy sợ, sợ lắm Sợ nhiều hơn là ăn năn” [6, tr.22] Cùng với hành động li d với người chồng là lời tự sự của Hằng trong “Chờ nhau ở cuối đường”:“Tôi mà nghĩ là có lỗi thì tôi đã không làm
Tình yêu đối với tôi không phải là mảnh vải vụn đem chắp vào chiếc áo hôn nhân không lành lặn Tình yêu với tôi là tín ngưỡng, là danh dự, biết rằng lời nói gió bay nhưng tôi cũng khônh dùng lời nói mà xúc phạm đến tín ngưỡng của lòng tôi, như những tín đồ không bao giờ chịu giẫm chân lên thánh giá” [6, tr.174], khiến ta thấy được được sự kiên đ nh, bản lĩnh của Hằng Cô không bao giờ cho phép mình quay l i với cuộc hôn nhân không tình yêu, bởi lẽ tình yêu đối với cô là tín ngưỡng, cô không thể nào phản bội nó chỉ vì phục vụ cho mục đích, quyền lợi của ai đó ành động của Hằng ở cuối tác phẩm đã để l i dấu ấn sâu sắc cho b n đọc khi “Anh về rồi, tôi mở gói: một chai Coco Chanel nhỏ bằng hai ngón tay út Tôi lại cười một mình Dù sao, cũng gọi là nhớ Tôi mở chai nước hoa, vẩy quanh phòng cho đến giọt cuối cùng Một mùi thơm dịu dàng toả lan khắp nơi, vu vơ mà thăm thẳm, như thể bay về từ quá khứ” [6, tr.178] Qua chi tiết đó, ằng hiện lên là một người phụ nữ bản lĩnh, dám nhớ, dám quên, dám đo n tuyệt với những quá khứ hư vô, đo n tuyệt với những người đàn ông tồi, những người đàn ông luôn ch y theo danh vọng và quyền lực mà phản bội những người yêu thư ng mình
Mỗi nhân vật khi làm bất cứ một điều gì, hành động như thế nào đều đã thể hiện một phần tính cách của mình Mô tả hành động của nhân vật, ngoài để góp phần thúc đẩy cốt truyện, Trần Thuỳ Mai còn khéo léo thể hiện tính cách nhân vật, góp phần xây dựng nhân vật trong tính hoàn chỉnh của nó
Trong văn xuôi, đặc biệt là trong truyện ngắn, qua những lời đối tho i của nhân vật mà chúng ta hiểu được tâm lí, tính cách, bản chất nhân vật; cũng như dự đoán được diễn biến của cốt truyện Sở dĩ như vậy là vì lời đối tho i gắn liền với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào nhau Đối tho i trong truyện ngắnTrần Thuỳ Mai được sử dụng rất nhiều Chẳng h n như trong truyện “Oan gia ngõ hẹp”: “Chú nói cháu cứ về quê rồi chú thu xếp ra liền, sao bây giờ chú mới ra? Không kìm được nước mắt, Thắm nức nở: “Em đẻ cực, cực quá, nhục quá, cũng may là đẻ được thằng cu” Ông Hạo tái mặt: “Em nói nhỏ thôi, từ từ để tôi tính Bây giờ không tiện…” [6, tr.126] Qua đó ta thấy được sự hy vọng, mong chờ của cô Thắm với người đàn ông xấu xa làm cô có bầu, những uất ức, những tủi nhục mà cô kìm nén bấy lâu nay có d p tuôn trào ra Tưởng chừng khi gặp l i Thắm sẽ bắt hắn ta ch u trách nhiệm với mẹ con mình Nhưng không, cô l i để hắn đi Bác Mèn gái nổi giận, nhưng không thể làm gì được, chỉ thấy tội, thấy thư ng cho cái số của con gái mình: “Chi mà khóc mãi rứa Khóc mà no được à? Bác mắng con gái Thắm sụt sịt: “Ông ấy hứa sẽ quay lại, sẽ giúp đỡ…” [6, tr.127]