1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế

18 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 31,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, tập trung kinh tế tại Việt Nam diễn ra ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Đây là xu hướng tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới xu hướng này diễn ra rất mạnh, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Tập trung kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Mặt khác, tập trung kinh tế cũng tiềm ẩn nguy cơ hình thành độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh trên thị trường, gây hại cho môi trường kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả nền kinh tế nói chung. Trước bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 đã được Quốc hội ban hành nhằm kiểm soát tập trung kinh tế bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, duy trì trật tự cạnh tranh.Với những lý do trên, em xin chọn đề 06: “Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế” để đi sâu vào nghiên cứu.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I Những vấn đề lý luận chung về tập trung kinh tế 3

1 Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế 3

2 Các hình thức tập trung kinh tế 3

II Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế 5

1 Quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế 5

2 Thực trạng thực hiện pháp luật về tập trung kinh tế 9

III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cạnh tranh và nâng cao hiệu quả về tập trung kinh tế 13

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, tập trung kinh tế tại Việt Nam diễn ra ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau Đây là xu hướng tất yếu khách quan của nền kinh

tế thị trường, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới xu hướng này diễn ra rất mạnh, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Tập trung kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Mặt khác, tập trung kinh tế cũng tiềm ẩn nguy cơ hình thành độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh trên thị trường, gây hại cho môi trường kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả nền kinh tế nói chung Trước bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 đã được Quốc hội ban hành nhằm kiểm soát tập trung kinh tế bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, duy trì trật tự cạnh tranh

Với những lý do trên, em xin chọn đề 06: “Thực trạng pháp luật cạnh tranh

Việt Nam về tập trung kinh tế” để đi sâu vào nghiên cứu.

Trang 3

NỘI DUNG

I Những vấn đề lý luận chung về tập trung kinh tế

1 Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế

Dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 không quy định thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế (TTKT) Theo đó, khoản 3 Điều 3 Luật này khẳng định TTKT thuộc nhóm các hành vi hạn

chế cạnh tranh và Điều 16 quy định: “Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp, các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật”

Như vậy, dù được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, TTKT vẫn có 3 đặc điểm cơ bản sau:

- Chủ thể của TTKT là các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường Các doanh nghiệp tham gia TTKT có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan;

- Hành vi TTKT được thể hiện dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật;

- TTKT đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường

2 Các hình thức tập trung kinh tế

Theo pháp luật về cạnh tranh, các hình thức tập trung kinh tế bao gồm: tập trung kinh tế theo chiều ngang, tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế theo đường chéo (tập trung kinh tế hỗn hợp) Luật Cạnh tranh quy định có 4 hình thức tập trung kinh tế cơ bản tại Điều 16 và Điều 17 như sau:

Trang 4

- Sáp nhập doanh nghiệp: khoản 1 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” Theo quy định này, sáp

nhập doanh nghiệp là một hình thức TTKT nên bị kiểm soát nhằm ngăn ngừa khả năng hình thành doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường có thể dẫn đến thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh

- Hợp nhất doanh nghiệp: khoản 2 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định: “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” Như vậy,

sau khi đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt tồn tại, doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các doanh nghiệp bị hợp nhất

- Mua lại doanh nghiệp: khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” Có một số ý kiến cho rằng mua lại toàn bộ doanh

nghiệp là hình thức sáp nhập doanh nghiệp bởi khi mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản của doanh nghiệp, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh nghiệp đó Về bản chất, việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ chức giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại Ngoài ra, khoản 1 Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, còn quy định trường hợp mua lại doanh nghiệp khác không bị coi là tập trung kinh tế

Trang 5

- Liên doanh giữa các doanh nghiệp: khoản 4 Điều 17 Luật Cạnh tranh quy định: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới” Có thể thấy, hành vi liên doanh có một sự

khác biệt cơ bản so với hành vi hợp nhất doanh nghiệp đó là sau khi các doanh nghiệp góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới thì địa vị pháp lý của các doanh nghiệp đó vẫn còn tồn tại

Như vậy, có thể hiểu bản chất của tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan Các hành vi này được thực hiện dưới các hình thức nhất định theo quy định của pháp luật như: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp

II Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế

1 Quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế

 Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế:

Luật Cạnh tranh năm 2004 có nhiều điều khoản quy định tạo hành lang pháp lý cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế Cụ thể là:

- Mô hình TTKT hoàn toàn tự do: Luật Cạnh tranh đã sử dụng tiêu chí thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan để kiểm soát TTKT Khoản 1 Điều 20 của Luật này quy định các doanh nghiệp có quyền tự do thực hiện TTKT trong hai trường hợp sau:

+ Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT thấp hơn 30% trên thị trường liên quan thì không bị cấm và không có nghĩa vụ phải thông báo

Trang 6

+ Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan cũng không bị cấm và không phải thông báo, nếu sau khi thực hiện TTKT vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật;

- Mô hình TTKT phải thông báo: Tại khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh quy

định: “Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế” Trong

trường hợp này, các doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh sau khi đã hoàn tất thủ tục thông báo và được cơ quan quản

lý cạnh tranh chấp thuận;

- Mô hình TTKT bị cấm và miễn trừ đối với TTKT bị cấm: Tại Điều 18 Luật

Cạnh tranh quy định: “Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan” Quy

định như vậy xuất phát từ thực tế cho thấy những vụ việc TTKT có thị phần kết hợp của doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh, dẫn đến hình thành một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan, đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lại trên thị trường đứng trên bờ phá sản Tại Điều 19 Luật Cạnh tranh quy định cụ thể về trường hợp miễn trừ đối với TTKT bị cấm Có thể thấy, pháp luật về cạnh tranh của nước ta dựa trên những tình huống về TTKT

đã diễn ra trên thực tế để dự liệu trường hợp miễn trừ này Các quy định từ Điều 35 đến Điều 38 Luật Cạnh tranh quy định về trình tự và thủ tục xin hưởng miễn trừ TTKT được thực hiện thay cho thông báo TTKT và tương tự như thủ tục xin miễn trừ cấm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

 Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế:

- Thủ tục thông báo TTKT: Trình tự xem xét một vụ TTKT ở Việt Nam theo quy định của Luật Cạnh tranh bao gồm các bước: Doanh nghiệp nộp hồ sơ thông

Trang 7

báo TTKT -> Cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý hồ sơ thông báo TTKT -> Cơ quan quản lý cạnh tranh trả lời thông báo TTKT Luật Cạnh tranh đã quy định cụ thể về thủ tục thông báo TTKT, trong đó đề cập cụ thể các vấn đề như: đối tượng

áp dụng; trách nhiệm của các doanh nghiệp; thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh và quy định về thời hạn trả lời thông báo tập trung kinh tế

- Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ TTKT: Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ được quy định tại Mục 4 Luật Cạnh tranh và chi tiết tại Mục 6 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP Mà theo đó, quy trình thực hiện miễn trừ TTKT như sau: Nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ -> Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ -> Yêu cầu bổ sung hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ và cung cấp thông tin từ các bên liên quan -> Ra quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận cho hưởng miễn trừ -> Thực hiện TTKT -> Bãi bỏ quyết định cho hưởng miễn trừ (nếu thực hiện trong các trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Cạnh tranh) -> Khiếu nại quyết định liên quan đến việc cho hưởng miễn trừ

 Tố tụng cạnh tranh đối với vụ việc tập trung kinh tế:

Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh gồm: cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh Tuy nhiên Luật Cạnh tranh đã tách hai chức năng điều tra và xử lý vụ việc tập trung kinh tế cho hai cơ quan này:

- Cơ quan quản lý cạnh tranh: thụ lý, điều tra các vụ việc liên quan đến cạnh tranh và kiểm soát quá trình tập trung kinh tế là Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương;

- Hội đồng cạnh tranh: xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, xử lý, giải quyết khiếu nại đối với vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh

Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về TTKT) ở Việt Nam như sau: Khiếu nại

về vụ việc cạnh tranh -> Thụ lý hồ sơ khiếu nại -> Điều tra vụ việc cạnh tranh

Trang 8

(Điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng

cơ quan quản lý cạnh tranh) -> Mở phiên điều trần

 Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế:

Việc xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh tập trung xử lý các vi phạm trong những trường hợp tập trung kinh tế bị cấm hoặc tập trung kinh tế mà không thông báo khi thuộc những trường hợp phải thông báo Hoạt động điều tra, xử lý được thực hiện theo quy trình tố tụng cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh bao gồm các hành vi sau:

- Hành vi sáp nhập doanh nghiệp bị cấm (Điều 23);

- Hành vi hợp nhất doanh nghiệp bị cấm (Điều 24);

- Hành vi mua lại doanh nghiệp bị cấm (Điều 25);

- Hành vi liên doanh doanh giữa các doanh nghiệp bị cấm (Điều 26);

- Hành vi không thông báo về tập trung kinh tế (Điều 27)

Các hình thức và mức độ xử lý vi phạm pháp luật về TTKT được quy định, bao gồm: phạt tiền; có thể bị buộc thực hiện chia tách các doanh nghiệp đã hợp nhất, sáp nhập; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc bị buộc bán tài sản đã mua… (Từ Điều 23 đến Điều 27 Nghị Định số 71/2014/NĐ-CP)

 Kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài:

Về vấn đề kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài, Luật Cạnh tranh hiện hành chưa quy định cụ thể điều chỉnh các khía cạnh của một vụ việc TTKT có liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các quy định của pháp luật cạnh tranh mới chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh về thủ tục chung khi tiến hành TTKT với nhà đầu tư nước ngoài và điều chỉnh việc mua cổ phần doanh nghiệp Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Điều 13 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ, hướng dẫn chi tiết thi hành một

Trang 9

số điều của Luật Doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

có quyền góp vốn và mua cổ phần không hạn chế tại doanh nghiệp Như vậy, các quy định của pháp luật cạnh tranh về TTKT đối với nhà đầu tư nước ngoài còn rất hạn chế và đây đang là một lỗ hổng của pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam

2 Thực trạng thực hiện pháp luật về tập trung kinh tế

 Kết quả đạt được:

Hơn 12 năm thực thi Luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh đã tích cực triển khai theo dõi, giám sát hoạt động tập trung kinh tế đối với nhiều ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế và đã đạt được những kết quả nhất định Theo Báo cáo thống

kê của Bộ Công thương về số vụ việc thông báo tập trung kinh tế và vụ việc tham vấn về tập trung kinh tế cả trước và trong quá trình các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế, tính đến hết năm 2016, Việt Nam đã thụ lý 32 vụ việc thông báo tập kinh tế, 45 vụ việc tham vấn tập trung kinh tế, cụ thể:

Thống kê số vụ việc tập trung kinh tế1

Năm

2005

-2007

200 8

200 9

201 0

201 1

201 2

201 3

201 4

201 5

201 6

Tổn g

Số vụ

việc

thông

báo

TTK

T

Số vụ

việc

tham

vấn

TTK

T

Trang 10

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động tập trung kinh tế có xu hướng diễn ra ngày càng nhiều Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế nhưng chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài Số vụ việc cạnh tranh được phát hiện, điều tra, xử lý trong thời gian qua còn khiêm tốn, nhưng xét trong bối cảnh chung của nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, thách thức, nguồn nhân lực và kinh nghiệm thực tiễn của cơ quan quản lý cạnh tranh còn nhiều hạn chế, môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều hành vi tập trung kinh tế có tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh nhất

là trong những lĩnh vực có quy mô lớn hoặc đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh

tế như phân phối, bán lẻ, năng lượng, dược phẩm, vận tải, du lịch, … thì quy định

về kiểm soát tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh đã dần phát huy tác dụng Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn nhưng trong thời gian qua, việc thực thi các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế của Việt Nam đã ngăn chặn

và giảm thiểu tác động tiêu cực đến thị trường, môi trường kinh doanh và quyền lợi của người tiêu dùng Thông qua quá trình điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh đã đưa ra một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp về việc tuân thủ quy định pháp luật về tập trung kinh tế, tránh thực hiện các hành vi vi phạm trong tương lai

 Hạn chế, bất cập:

- Thứ nhất, quy định về tiêu chí để kiểm soát tập trung kinh tế chưa đầy đủ

và chưa phù hợp với thực tiễn Cụ thể:

+ Bất cập khi sử dụng thị phần làm tiêu chí để đánh giá vụ việc TTKT Khó khăn đối với doanh nghiệp khi sử dụng thị phần làm tiêu chí để thông báo Quy định nghĩa vụ phải thông báo chính xác về thị phần của các bên tham gia TTKT là một khó khăn cho doanh nghiệp Trên thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể biết và chịu trách nhiệm về doanh số của mình mà không có nghĩa vụ phải nắm được doanh số của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường (căn cứ để tính toán thị phần của các bên

Ngày đăng: 10/05/2021, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w